Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay.Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay.Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay.Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay.Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THANH SANG
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CẤP XÃ
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THANH SANG
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CẤP
XÃ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực và cónguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học trong luận án chưatừng được ai công bố ở bất kỳ công trình bào khác
Tác giả luận án
Trần Thanh Sang
Trang 41.3 Tổng quan các kết quả nghiên cứu và những vấn đề cần tập trung
Chương 2: CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CẤP XÃ Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
2.1 Các tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Cửu Long; các xã, phường,
2.2 Đào tạo, bồi dưỡng và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ởđồng bằng sông Cửu Long - khái niệm, chương trình, nội dung, hình thức và
Chương 3: CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CẤP XÃ Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN
3.1 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở đồng bằng
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CẤP
4.1 Dự báo các yếu tố tác động đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
4.2 Những giải pháp chủ yếu tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
Trang 5BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ ChíMinh, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm đến đội ngũ cán bộ Người khẳng định: “Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc” [123, tr 309]; “công việc thành công hoặc thất bại
đều do cán bộ tốt hay kém” [123, tr 313] Trong Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, Đảng ta
nhấn mạnh: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền vớivận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xâydựng Đảng” [61, tr 66] Đội ngũ cán bộ cơ sở, trong đó đội ngũ cán bộ xã, phường,thị trấn (cấp xã), có vai trò rất quan trọng, vì họ là những người gần dân nhất, lãnhđạo, quản lý, thực hiện những nhiệm vụ chính trị tại cơ sở - nơi các đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước được triển khai, hiện thựchóa trong cuộc sống; là lực lượng chủ yếu, nòng cốt trực tiếp quyết định kết quảthực hiện nhiệm vụ chính trị của từng xã, phường, thị trấn
Chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã (CBCX) được hình thành bằng nhiều conđường khác nhau, trong đó đào tạo, bồi dưỡng (ĐT, BD) là con đường quan trọnghàng đầu Vì vậy, để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCX phải chăm locông tác ĐT, BD cán bộ, trong đó vấn đề chất lượng ĐT, BD là điều kiện quantrọng góp phần thực hiện thắng lợi công tác ĐT, BD cán bộ nói chung, công tác ĐT,
BD đội ngũ CBCX nói riêng Hồ Chí Minh khẳng định: “Huấn luyện cán bộ là côngviệc gốc của Đảng” [123, tr 309] Kết luận của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hànhTrung ương (BCHTW) Đảng khóa X khẳng định: “Tạo chuyển biến sâu sắc trongcông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch, theo tiêu chuẩn chức danh cán
bộ, chú trọng bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, coiđây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ trong giaiđoạn mới” [65, tr 275] Quy định số 164-QĐ/TW ngày 01-02-2013 của Bộ Chínhtrị “về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cáccấp” xác định: “Bồi dưỡng, cập nhật thông tin, kiến thức mới và kỹ năng nghiệp vụnhằm nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực công táccho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị, đáp ứng yêucầu, nhiệm vụ của Đảng
Trang 7trong tình hình mới” [26, tr 1] Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 của BộChính trị “về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lýluận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý” đã khẳng định: “Tạo sự chuyển biếnmạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị,góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chất chínhtrị, đạo đức và năng lực, phong cách làm việc hiệu quả đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [27, tr 3].
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), hay còn được gọi là vùng Tây Nam
bộ, có vị trí chiến lược quan trọng của cả nước, là vùng có nhiều tiềm năng về kinh
tế và tính đặc thù về dân tộc, tôn giáo Toàn vùng có 01 thành phố Cần Thơ và 12tỉnh trực thuộc Trung ương (An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Đồng Tháp,Long An, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long);
có 134 đơn vị hành chính cấp huyện, 1.624 đơn vị hành chính cấp xã (trong đó có1.293 xã, 211 phường, 120 thị trấn), với 16.984 CBCX Dân số 17,66 triệu người,trong đó có khoảng 1,4 triệu người dân tộc Khmer Trong thời gian qua, được sựquan tâm của Trung ương và của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, độingũ CBCX trong khu vực đã có bước trưởng thành đáng kể, phát huy tốt vai trò và
là nhân tố quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), giữ vững ổnđịnh chính trị, an ninh và quốc phòng ở ĐBSCL Tuy nhiên, đội ngũ CBCX ở cáctỉnh, thành phố thuộc khu vực này còn nhiều hạn chế, yếu kém, chất lượng chưa đápứng được yêu cầu của nhiệm vụ chính trị mới đặt ra
Trong những năm qua, công tác ĐT, BD CBCX đã được các cấp, các ngành
ở đồng ĐBSCL rất chú trọng, do vậy trình độ lý luận chính trị (LLCT), chuyên mônnghiệp vụ của đội ngũ CBCX, được nâng lên một bước Nhận thức của đội ngũ cán
bộ, công chức (CB, CC) cơ sở nói chung, CBCX nói riêng đã có sự chuyển biến rõnét; họ coi việc tham gia ĐT, BD là trách nhiệm, nghĩa vụ và là yêu cầu bắt buộc.Bên cạnh đó, nhiều loại hình ĐT, BD như tập trung, vừa làm vừa học, dài hạn, ngắnhạn, với nhiều nội dung lồng ghép đa dạng được mở ra tạo điều kiện thuận lợi chođội ngũ CBCX tham gia học tập một cách phù hợp
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác ĐT, BD đội ngũCBCX của các tỉnh, thành phố ở ĐBSCL vẫn còn nhiều hạn chế Các chủ trương,chính sách cho ĐT, BD CBCX chậm đổi mới Công tác quy hoạch, lựa chọn CBCXđưa đi ĐT, BD chưa hợp lý, thiếu khoa học, một số cấp ủy thậm chí còn buônglỏng công tác
Trang 8này Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, cơ sở ĐT, BD thiếu nhịp nhàng, thậmchí còn chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm, lấn sân lẫn nhau Chương trình, nội dungcòn nhiều trùng lắp, thậm chí lỗi thời, không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn; nộidung còn nặng về lý thuyết, thiếu kiến thức kỹ năng, tác nghiệp, chú trọng nhiềuvào tổng quan, thiếu tính cụ thể, đặc thù Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên tham gia
ĐT, BD còn hạn chế; một số thiếu kiến thức thực tiễn, trong giảng dạy còn nặng về
lý thuyết, thiếu truyền thụ kỹ năng, nghiệp vụ Việc xây dựng đội ngũ giảng viên,báo cáo viên LLCT ở ĐBSCL có được chú trọng, nhưng còn chắp vá, không thườngxuyên; nhiều giảng viên, báo cáo viên thiếu chuẩn theo yêu cầu mới Đội ngũ cán
bộ quản lý, phục vụ hoạt động ĐT, BD trình độ chuyên môn hóa chưa cao; cơ sở vậtchất - kỹ thuật phục vụ ĐT, BD CBCX còn nhiều thiếu thốn Một số CBCX tuy cóbằng cấp, nhưng không đúng chuyên môn với vị trí công tác; một bộ phận CBCXcòn tâm lý e ngại tham gia ĐT, BD; một số có tham gia học tập, nhưng tư tưởng cònđối phó, học cốt để có bằng chứ không cần kiến thức; một số CBCX không chútrọng việc tự học, tự rèn, nhất là về chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạođức, lối sống Công tác kiểm tra, giám sát, tổ chức rút kinh nghiệm trong ĐT, BDkhông thường xuyên Chế độ chính sách cho công tác ĐT, BD CBCX của các tỉnh,thành phố ở ĐBSCL không thống nhất, chậm đổi mới, chưa tạo động lực choCBCX tham gia ĐT, BD Khâu bố trí, sử dụng CBCX sau đào tạo và việc phát huynăng lực sau bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức, làm cho không ít CBCXchán nản, thậm chí nghỉ việc Xuất phát từ thực tế nêu trên, tác giả chọn đề tài
“Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay” làm luận án nghiên cứu của mình.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác ĐT, BD CBCX,luận án đề xuất các giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượngcông tác ĐT, BD CBCX ở ĐBSCL
2.2 Nhiệm vụ
-Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Làm rõ các khái niệm và nội dung có liên quan về công tác ĐT, BD CBCX;nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác ĐT, BD CBCX
Trang 9- Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng công tác ĐT, BDCBCX ở ĐBSCL, phân tích nguyên nhân và rút ra các kinh nghiệm về công tác này.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng công tác ĐT, BD CBCX ở ĐBSCL đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác ĐT, BD CBCX ở ĐBSCL
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và vậndụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: lịch sử và lôgíc, tổng kết thựctiễn, khảo sát, phương pháp chuyên gia, phân tích và tổng hợp, so sánh
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
5.1 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
-Làm rõ các khái niệm có liên quan đến công tác ĐT, BD CBCX ở ĐBSCL
-Chỉ ra tính đặc thù trong công tác ĐT, BD CBCX ở ĐBSCL
-Rút ra một số kinh nghiệm trong công tác ĐT, BD CBCX ở ĐBSCL
- Đề xuất hai giải pháp mang khả thi góp phần nâng cao chất lượng công tác
ĐT, BD CBCX ở ĐBSCL: một là, đổi mới cách thức tổ chức, quản lý ĐT, BD CBCX; hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên làm nhiệm vụ
ĐT, BD CBCX
Trang 105.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm cứ liệu khoa học cho cáccấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, ban tổ chức, sở nội vụ, trường chính trị (TCT)của các tỉnh, thành phố ở ĐBSCL trong việc xác định các chủ trương, giải phápthực hiện công tác ĐT, BD CBCX có hiệu quả
Luận án còn có thể góp phần bổ sung và hoàn thiện chủ trương, chính sáchcủa Đảng, Nhà nước đối với công tác ĐT, BD đội ngũ CB, CC nói chung và độingũ CBCX nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong giai đoạnhiện nay Luận án cũng có thể phục vụ việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy ở Học
việnChính trị quốc gia (CTQG) Hồ Chí Minh, các trường chính trị (TCT) tỉnh, thànhphố, các trung tâm bồi dưỡng chính trị (TTBDCT) cấp huyện ở ĐBSCL
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các công trình khoa học của tác giả đã công bốliên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận ángồm 4 chương, 9 tiết
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Công tác ĐT, BD cán bộ nói chung và công tác ĐT, BD CBCX nói riêngtrong thời gian qua đã có rất nhiều công trình khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ,ngành, địa phương, nhiều đề tài luận án tiến sĩ và nhiều bài viết của các học giả đềcập đến công tác ĐT, BD cán bộ không chỉ trong nước, mà cả ở nước ngoài Tuynhiên, tùy theo đối tượng và phạm vi nghiên cứu mà từng công trình khoa học, từngbài viết có góc độ tiếp cận, giải quyết các vấn đề riêng có liên quan đến đề tàinghiên cứu
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Trung Quốc
- Phùng Đại Minh, Quản lý hiệu năng và quản lý tự chủ trong nhà trường một cơ chế để phát triển [127] Tác phẩm chỉ ra rằng, cải cách giáo dục cần quan
-tâm phát triển giáo viên, trong đó nhấn mạnh: khuyến khích cá nhân giáo viên cóthêm động cơ và hăng say công tác; giúp đỡ giáo viên phát triển chuyên môn vàtiềm năng, tăng kiến thức, kỹ năng và sở trường
-Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung
Quốc, Xây dựng đảng cầm quyền - kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc [105] Nhiều bài tham luận của các học giả Trung Quốc đã tập trung vào kinh
nghiệm về xây dựng đội ngũ cán bộ, công tác ĐT, BD cán bộ như:
Tác giả Hạ Quốc Cường cho rằng: một trong những yếu tố quan trọng xâydựng đảng cầm quyền thành công là xây dựng đội ngũ cán bộ có tố chất cao, tậptrung xây dựng được đội ngũ nhân tài, vì thế phải “không ngừng nâng cao trình độlãnh đạo và trình độ cầm quyền, tăng cường năng lực chống tha hóa, phòng biếnchất và chống rủi ro”
Theo học giả Tôn Hiển Quần, cần “tăng cường xây dựng ban lãnh đạo, cốgắng hình thành tầng lớp lãnh đạo hăng hái, sôi nổi, phấn đấu thành đạt” Muốn đạtđược điều đó phải kiên trì học tập, nghiên cứu lý luận và rèn luyện thực tế; đồngthời, phải chú trọng việc chọn, dùng người theo tiêu chuẩn khoa học, cải tiến tácphong, thắt
Trang 12chặt liên hệ máu thịt với quần chúng nhân dân, ngăn ngừa và khắc phục chủ nghĩahình thức, quan liêu.
Giả Cao Kiến cho rằng: “Phát huy đầy đủ vai trò của trường Đảng, làm tốtcông tác giáo dục và đào tạo cán bộ”, cần thực hiện phân tầng cương vị lãnh đạo,nhằm vào nhu cầu nhậm chức của cán bộ mà đào tạo phù hợp
Bài viết “Xuất phát từ đại cục, hướng tới lâu dài, cố gắng xây dựng một độingũ cán bộ dự bị tố chất cao” của Chu Phúc Khởi cho thấy: Đảng Cộng sản TrungQuốc xem đội ngũ cán bộ dự bị là “nguồn quan trọng của ban lãnh đạo đạo cáccấp”, vì thế xây dựng đội ngũ cán bộ dự bị là nhiệm vụ chiến lược quan trọng liênquan đến đại cục, lâu dài Theo tác giả, để xây dựng đội ngũ cán bộ dự bị tố chấtcao gồm ba khâu: tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và quản lý cán bộ dự bị Cách làm
cụ thể: một là, xây dựng quy hoạch thiết thực, khả thi đội ngũ dự bị; hai là, chế độ
hóa, quy phạm hóa chặt chẽ về tiêu chuẩn, quy trình và yêu cầu đối với các khâu
của công tác cán bộ dự bị; ba là, mở rộng dân chủ trong tuyển chọn; bốn là, đào tạo
đa dạng, theo nguyên tắc “thiếu gì bù nấy”; năm là, quản lý động thái, đảm bảo số lượng và chất lượng cán bộ; sáu là, kiên trì dự trữ, kết hợp với sử dụng, kịp thời tuyển chọn cán bộ dự bị chín muồi vào ban lãnh đạo; bảy là, nắm đầu nguồn, tuyển
cán bộ dự bị từ sinh viên tốt, tốt nghiệp đạt loại giỏi ở các trường đại học và caođẳng, sau đó đào tạo, rèn luyện ở cơ sở một cách có kế hoạch
Triệu Lý Văn có bài “Lý luận và tực tiễn công tác giáo dục cán bộ của Đảng
Cộng sản Trung Quốc” Tác giả đã khái quát 5 nguyên tắc giáo dục, đào tạo (lấy
con người làm gốc, đào tạo theo nhu cầu; đào tạo toàn bộ, đảm bảo chất lượng; pháttriển toàn diện, chú trọng năng lực; liên hệ thực tế, học để sử dụng; tiến tới cùng
thời đại, cải cách sáng tạo), 4 mặt của chương trình giảng dạy (nền tảng lý luận; nhãn quan thế giới; tư duy chiến lược; tu dưỡng tính đảng), 3 định hướng cải cách
tư duy giảng dạy (chia loại, chia tầng nấc - tùy theo tính chất giáo dục, đào tạo và
tầng nấc cán bộ để bố trí lớp và xác định nội dung; đào tạo theo nhu cầu; học viên làchủ thể) Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến những vấn đề có liên quan đến công tác
ĐT, BD cán bộ như: chú trọng cải cách nội dung, phương pháp giảng dạy; đặc biệtcoi trọng việc bồi dưỡng năng lực cho cán bộ ở những vị trí nổi bật; việc thử nghiệmgiảng dạy kiểu mô phỏng Những khái quát kinh nghiệm trên được tác giả đúc kết
từ quá trình tiến hành công tác giáo dục, đào tạo cán bộ của Trung Quốc
Trang 13- Diêm Kiệt Hoa, Nghiên cứu tiến trình phát triển giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác ở Trung Quốc [86] chỉ ra: Trung Quốc là một nước xã hội chủ nghĩa (XHCN)
kiên trì lấy chủ nghĩa Mác làm tư tưởng chỉ đạo, tiến hành giáo dục lý luận chủnghĩa Mác Từ góc độ tiến trình phát triển của giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác, tácgiả nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện việc giáo dục lý luậnchủ nghĩa Mác, rút ra bài học kinh nghiệm từ việc giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác,qua đó thúc đẩy tốt hơn sự phát triển của giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác ở TrungQuốc
-Charlotte P Lee, “Training the Party: Party adaptation and elite training
in reform-era China”, (tạm dịch: “Đào tạo Đảng: Sự chỉnh đốn Đảng và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đứng đầu ở Trung Quốc thời kỳ cải cách”) [42] Tác giả
đã trình bày các nghiên cứu về trường đảng, chủ yếu chia thành hai dòng nghiên
cứu: một là, những nhiệm vụ, chức năng của trường Đảng Trung ương Trung Quốc; hai là, hệ thống trường đảng bên ngoài Bắc Kinh Ban giám hiệu các trường này
phải theo đuổi nhiều phương thức tăng thu nhập khác nhau Trong số đó có nhữngphương thức tồn tại thuần túy vì mục tiêu lợi nhuận và có cả những phương thứckhác vừa giúp nâng cao thu nhập, vừa tăng chất lượng đào tạo của nhà trường Sựphong phú, đa dạng trong hoạt động của trường đảng chứng tỏ sự phong phú vềphương cách thích nghi của tổ chức trong cơ chế thị trường có cạnh tranh Cáctrường đã tự điều chỉnh, tự thích ứng trước hai mục tiêu ra là phải tối đa hóa nguồnthu trong bối cảnh kinh tế thị trường và phải cập nhật, đổi mới nội dung ĐT, BD cán
bộ xứng tầm trong nền kinh tế thị trường
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
- Xỉnh Khăm Phom Ma Xay, Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước Lào trong giai đoạn hiện nay, [202] Luận
án đã luận giải đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế trong quá trình hình thành
và phát triển nền kinh tế hàng hóa ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân (CHDCND) Làohiện nay; phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế của Đảng vàNhà nước Lào và tình hình công tác ĐT, BD đội ngũ cán bộ này trong thời gian qua,chỉ ra những thành tựu và hạn chế cùng những nguyên nhân Trên cơ sở đó, luận án
đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng công tác ĐT, BD cán bộ lãnh đạoquản lý kinh tế của Nhà nước Lào Những giải pháp cần chú ý là: nghiên cứu xácđịnh một
Trang 14cách đúng đắn mục tiêu ĐT, BD cán bộ phù hợp với tình hình của CHDCND Làohiện nay và những năm tới; xây dựng tốt công tác quy hoạch ĐT, BD đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế; đẩy mạnh phong trào tự học tập nâng cao trình độ,năng lực và rèn luyện đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ của Lào; xây dựng
và kiện toàn hệ thống trường, lớp và hoàn thiện các chế độ, chính sách về ĐT, BDđội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế; đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế về
ĐT, BD đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế; kết hợp chặt chẽ giữa ĐT, BD vàquản lý, sử dụng có hiệu quả những người đã qua ĐT, BD; bảo đảm những điềukiện cần thiết để tăng cường công tác ĐT, BD đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinhtế
- Khăm Phăn Phôm Ma Thắt, Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới, [111] Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận
về công tác ĐT, BD cán bộ theo quan điểm mácxít, đồng thời phân tích, đánh giáthực trạng công tác ĐT, BD cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản
lý ở nước CHDCND Lào trong thời gian qua Trên cơ sở đó, luận án đề xuất nhữngphương hướng và giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác ĐT, BD cán
bộ chủ chốt ở nước Lào trong thời gian tới
- Khăm Phăn Vông Pha Chăn, Đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào hiện nay, [112] Tác giả khẳng
định: cán bộ lãnh đạo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH Đất nướcLào có phát triển nhanh hay không một phần rất lớn phụ thuộc vào đội ngũ cán bộlãnh đạo có tài và đức trong hệ thống chính trị (HTCT) Vì vậy, việc đào tạo đội ngũcán bộ lãnh đạo của HTCT là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nướcCHDCND Lào hiện nay Đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo của HTCT ở CHDCNDLào là nói đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ giữ những chức vụ nhất định trongHTCT với các hoạt động đào tạo cụ thể, biểu hiện chủ yếu ở nội dung, chương trình
và phương thức đào tạo nhằm đáp ứng những đòi hỏi về chất lượng cán bộ đảm bảothực thi quyền lực chính trị của nhân dân Luận án đánh giá, trong những năm gầnđây ở CHDCND Lào, việc đào tạo cán bộ lãnh đạo trong HTCT đã được Đảng vàNhà nước Lào quan tâm, đổi mới cả về mặt nội dung, chương trình và phương thứcđào tạo, đáp ứng được một số yêu cầu về chất lượng cán bộ cho sự nghiệp đổi mới ởLào Tuy nhiên, công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo của HTCT còn nhiều hạn chế,chưa có bước đột phá và nâng cao hiệu quả đáp ứng
Trang 15các đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn yêu cầu chất lượng cán bộ lãnh đạo thời kỳ mới Đểnâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo của HTCT đáp ứng với yêucầu của sự nghiệp đổi mới ở Lào hiện nay, tác giả đề xuất cần thực hiện đồng bộ cácgiải pháp sau: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với côngtác đào tạo; gắn đào tạo với quy hoạch và sử dụng cán bộ; đổi mới nội dung, chươngtrình, phương thức ĐT, BD; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các cơ sởđào tạo; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho các cơ sở đàotạo; xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ đối với người dạy và học, đồng thời đẩymạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo.
-Kham Bay Malasing, Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ
sở và những người có uy tín ở thôn bản trong phát triển cộng đồng ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, [109] Tác giả đã phân tích vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo
quản lý cấp cơ sở và những người có uy tín ở thôn bản trong phát triển cộng đồng ởCHDCND Lào, trong đó yếu tố tuổi tác động mạnh nhất Luận án cũng cho thấy, sựtham gia của khối cán bộ lãnh đạo, quản lý về các nội dung phát triển cộng đồngcòn có sự khác nhau nhất định, trong đó khối cán bộ chính quyền thôn, bản thường
có vai trò tích cực nhất Tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằmnâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở và những người có
uy tín ở thôn, bản trong phát triển cộng đồng trong thời gian tới, trong đó có giảipháp nâng cao công tác ĐT, BD đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở
- Sai Kham Moun Na Ni Vong, Vấn đề giáo dục lý luận Mác - Lênin cho học viên hệ cao cấp ở các trường chính trị và hành chính nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào hiện nay, [139] Tác giả khẳng định: giáo dục lý luận Mác - Lênin cho học
viên hệ cao cấp là bộ phận rất quan trọng trong hệ thống giáo dục, đào tạo cán bộlãnh đạo, quản lý của các TCT - Hành chính ở Lào, hình thành thế giới quan khoahọc, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa và trang bị phương pháp luận khoa học,biểu hiện chủ yếu ở nội dung, chương trình và phương thức đào tạo nhằm đáp ứngnhững đòi hỏi về chất lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở CHDCND Lào hiện nay.Luận án đánh giá những vấn đề đặt ra đối với giáo dục lý luận Mác - Lênin cho họcviên hệ cao cấp ở các TCT
- Hành chính nước CHDCND Lào hiện nay: một là, mâu thuẫn giữa yêu cầu phải có
đội ngũ giảng viên chuyên nghiệp giỏi chuyên môn, có phương pháp sư phạm tốt
với thực tế đội ngũ này còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng; hai là, mâu
thuẫn giữa
Trang 16yêu cầu phải có chương trình, nội dung giáo dục lý luận Mác - Lênin đa dạng, linhhoạt, phù hợp thực tiễn Lào với hiện trạng chương trình, nội dung còn nhiều bất
cập; ba là, mâu thuẫn giữa đòi hỏi tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo trong
học tập của đội ngũ học viên hệ cao cấp với thực tế còn chưa tích cực, tự giác, chủ
động và sáng tạo trong học tập; bốn là, mâu thuẫn giữa lý tưởng trong giáo dục lý
luận Mác - Lênin với đời sống thực tế còn nhiều trái ngược Luận án đề xuất bốn
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho học viên hệ cao cấp là: một là, tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý luận Mác - Lênin và nâng cao nhận
thức về vai trò của giáo dục lý luận Mác - Lênin cho học viên hệ cao cấp; hai là,
từng bước xây dựng đội ngũ giảng viên các bộ môn khoa học Mác - Lênin đủ về số
lượng, bảo đảm về chất lượng; ba là, đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình,
phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin và tăng cường đầu tư về cơ
sở vật chất cho công tác giáo dục lý luận Mác
- Lênin; bốn là, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học viên trong việc tự
giáo dục lý luận Mác - Lênin
-Kouyang Sisomblong, Chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy ở các trường chính trị - hành chính tỉnh Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, [115] Tác
giả chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy ở
các TCT - hành chính tỉnh ở CHDCND Lào giai đoạn hiện nay: một là, số lượng và
cơ cấu đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; hai là, phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; ba là, trình độ chuyên môn và năng lực nghiên cứu, giảng dạy của từng cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; bốn là, kết
quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy Nguyên nhân củanhững hạn chế trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy
ở các TCT - hành chính tỉnh CHDCND Lào giai đoạn hiện nay: một là, một số cán bộ
lãnh đạo cấp trên cũng như cán bộ lãnh đạo các nhà trường chưa quan tâm, chăm lo
ĐT, BD năng lực cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; hai là, trình độ hiểu biết
và việc tiếp thu khoa học, công nghệ hiện đại của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng
dạy còn hạn chế; ba là, vốn đầu tư và kinh phí còn hạn chế; bốn là, do thiếu quy hoạch, cơ chế tuyển chọn, ĐT, BD, bố trí và sử dụng; năm là, một số chế độ, chính
sách chưa thật hợp lý Luận án đã đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy ở các TCT - hành chính tỉnh CHDCND
Lào giai đoạn hiện nay: một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đảng ủy và ban
giám hiệu các nhà trường về sự cần thiết, tầm quan trọng về
Trang 17nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; hai là, đổi mới các khâu trong xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; ba là, phát huy tính tự giác của
đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong việc tu duỡng rèn luyện phẩm chất chínhtrị, đạo đức cách mạng và nâng cao trình độ mọi mặt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ dược
giao; bốn là, đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp ĐT, BD đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; năm là, tăng cường đầu tư kính phí, cơ sở vật chất và đổi mới chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; sáu là, tăng cường sự
lãnh đạo, chi đạo, giúp đỡ của tỉnh ủy, chính quyền tỉnh và Học viện Chính trị - Hànhchính quốc gia Lào trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng
dạy; bảy là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước; thường
xuyên giao lưu và phối hợp với các cơ quan chức năng tồ chức các cuộc thi giảng viêngiỏi giữa các TCT - hành chính tỉnh ở Lào
-Vilay Philavong, Giáo dục pháp luật cho công chức hành chinh ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào hiện nay, [196] Tác giả cho rằng: công chức
hành chính là người đại diện cho Đảng và Nhà nước thực hiện các quyền và nghĩa
vụ cụ thể trong quan hệ với nhân dân Công chức hành chính là đối tượng giáo đụcpháp luật đặc biệt, bởi vì họ vừa là đối tượng giáo dục, vừa là chủ thể giáo dục Vìthế, cần coi trọng công tác giáo dục pháp luật cho công chức hành chính nhằm đạt
ba mục tiêu như: về nhận thức, về thái độ tình cảm, về hành vi Luận án chỉ ra những hạn chế, yếu kém của công tác nêu trên: một là, chủ thể giáo dục pháp luật chưa được quan tâm, vừa thiếu vừa yếu; hai là, công chức hành chính chưa nhận
thức đầy đủ, đúng mức về việc trang bị cho mình những kiến thức hiểu biết pháp
luật, chưa có ý chí tự phấn đấu, thái độ học tập chưa nghiêm túc, tinh thần trách nhiệm chưa cao; ba là, nội dung chương trình giáo dục pháp luật chưa đáp ứng
được yêu câu thực tiễn, việc thể chế hóa pháp luật còn chậm, quy định không rõ
ràng, chồng chéo mang tính đơn lẽ, manh mún chậm đổi mới; bốn là, công tác tổ
chức thực hiện giáo dục pháp luật chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp trao đổi kinhnghiệm, phương pháp chưa khoa học Để bảo đảm được chất lượng giáo dục phápluật cho công chức hành chính ở nước Lào hiện nay, tác giả đưa ra 9 giải pháp giải
pháp: một là, tăng cường trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền về công tác giáo dục pháp luật cho công chức hành chính; hai là, tăng cường công lác ĐT, BD pháp luật cho công chức hành chính; ba là, đổi mới, hoàn thiện, nội dung, chương
trình giáo dục pháp luật cho công chức
Trang 18hành chính; bốn là, đa dạng hóa hình thức giáo dục pháp luật cho công chức hành chính; năm là, tăng cường giáo dục pháp luật cho công chức hành chính ở Lào kết hợp với các hình thức giáo dục khác; sáu là, nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất
đội ngũ giảng viên, báo cáo viên trong giáo dục pháp luật cho công chức hành
chính; bảy là, phối hợp giữa hệ thống các cơ quan Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa
-Thông tin và truyền thông, Đài Truyền hình, Đài Phát thanh xây dựng hệ thống tưliệu thông tin, tạo điều kiện cho công chức hành chính tiếp cận với pháp luật một
cách kịp thời, chinh xác; tám là, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện,
tài chính và thường xuyên tổng kết rút kinh nghiệm về giáo dục pháp luật đối với
công chức hành chính; chín là, tăng cường công tác quan hệ quốc tế trong việc giáo
dục pháp luật cho công chức hành chính
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.2.1.Những nghiên cứu về hệ thống chính trị và cán bộ, công chức cấp xã
- Huỳnh Văn Long, Xây dựng đội ngũ bí thư huyện ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân huyện ở đồng bằng sông Cửu Long ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, [118] Luận án phân tích thực trạng đánh giá đội ngũ bí
thư huyện ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) huyện vùng ĐBSCL từ năm 1996đến năm 2003 Trong đó, tác giả khẳng định: trên cơ sở đổi mới quan điểm đánh giáđội ngũ bí thư huyện ủy, chủ tịch UBND huyện, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSCL đãđánh giá đội ngũ này không đơn thuần căn cứ vào quá trình công tác, học vị, lý lịch,thành phần xuất thân, vị thế xã hội, mà chủ yếu căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ, vàohiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng thời còn căn cứ vào mức độ tín nhiệmcủa nhân dân Các ban tổ chức tỉnh ủy đã phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy ở cơ sởnơi cán bộ sinh hoạt và bản thân từng đồng chí tự đánh giá Các cấp ủy lãnh đạochặt chẽ, nghiêm túc quy chế đánh giá, bảo đảm chế độ tự phê bình và phê bình,nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, kết luận rõ ràng theo đa số Luận án đãtrình bày tiêu chuẩn chức danh bí thư huyện ủy, chủ tịch UBND huyện trong thời kỳmới Luận án nhấn mạnh một số tiêu chuẩn về bản lĩnh chính trị qua lời nói và việclàm cụ thể trên cương vị đứng đầu huyện ủy và UBND huyện; kiên định đường lốiđổi mới theo đúng mục tiêu đã định và thể hiện gương mẫu bằng hành động cụ thểcủa bản thân, gia đình, thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách củaTrung ương và của tỉnh trên địa bàn huyện; có ý chí, quyết tâm và năng lực làmgiàu cho huyện, biến ý chí đó thành ý chí
Trang 19của đảng bộ và nhân dân huyện; có tầm nhận thức sâu sắc đối với những diễn biếnchính trị, có tinh thần cảnh giác cao, nhanh nhạy giải quyết mọi tình huống chínhtrị Luận án khẳng định và đề xuất những vấn đề có tính nguyên tắc và quy trìnhxây dựng đội ngũ bí thư huyện ủy, chủ tịch UBND huyện ở ĐBSCL.
-Nguyễn Thái Hòa (Chủ nhiệm), Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer ở cơ sở xã, phường, thị trấn khu vực Tây Nam bộ, [89].
Đề tài nhận định: trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đấtnước trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, hộinhập kinh tế quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền, cần tiếp tục nâng cao về sốlượng và chất lượng đội ngũ cán bộ dân tộc người Khmer, nhất là cán bộ đang côngtác ở cơ sở xã, phường, thị trấn Mặt khác, mở cửa, hội nhập quốc tế, sự chống phácủa các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo kích động ly khai… cũng tácđộng đến đồng bào và đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer ở vùng đất Tây Nam bộ
Vì vậy, bảo đảm sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội để phát triển, chăm lo xâydựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở từ cơ sở là một trong nhữngcông việc rất cấp thiết Đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộngười dân tộc Khmer trong HTCT ở cơ sở xã hiện nay, qua đó chỉ ra được điểmmạnh, điểm yếu, nguyên nhân và bài học từ thực tiễn; từ đó, xây dựng mô hình cán bộngười dân tộc Khmer phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra; đề ra phương hướng vàgiải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ này theo tiêu chuẩn của từng chức danh, nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ đó ở Tây Nam Bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ởtừng địa phương trong giai đoạn mới
-Hội thảo khoa học, Hệ thống chính trị cấp cơ sở các tỉnh, thành khu vực Tây Nam bộ - thực trạng và giải pháp, [92] Hội thảo đã đề cập tổng quát về HTCT
cấp cơ sở các tỉnh, thành phố khu vực Tây Nam bộ và những giải pháp khả thi đểnâng cao chất lượng của HTCT cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hìnhmới, trong đó có công tác ĐT, BD đội ngũ cán bộ ở cơ sở
-Nguyễn Huy Kiệm, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cơ sở vùng đồng bằng sông Cửu Long, [114] Sau khi thống kê những có số tác giả đi đến
đánh giá: hiện nay đội ngũ CB, CC xã, phường, thị trấn ở các tỉnh, thành phố trongvùng ĐBSCL nhìn chung còn yếu kém, bất cập về nhiều mặt, phần lớn chưa đượcđào tạo một cách bài bản, chính quy về chuyên môn, nghiệp vụ, tỷ lệ đạt chuẩn cònthấp so với yêu cầu Năng lực quản lý điều hành chưa ngang tầm với nhiệm vụ Nhậnthức trong đội ngũ CB, CC
Trang 20không đồng đều Bên cạnh sự thiếu hụt, bất cập về số lượng và yếu kém về chấtlượng, việc xây dựng quy hoạch ĐT, BD CB, CC chưa được các địa phương trongvùng quan tâm chỉ đạo một cách thỏa đáng Xuất phát từ nhiều nguyên nhân dẫn đến
sự yếu kém nêu trên, để nâng cao chất lượng đội ngũ CB, CC cơ sở nhằm đáp ứng vớitình hình, nhiệm vụ phát triển KT-XH của vùng, tác giả đã đưa ra 7 giải pháp tập trungvào công tác ĐT, BD CB, CC cơ sở
- Bùi Công Tường, Mấy suy nghĩ và kiến nghị về đội ngũ cán bộ cơ sở,
[167] Tác giả đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém của đội ngũ cán bộ cơ sở và nhucầu cần có bước “đột phá” trong việc ĐT, BD nâng cao năng lực cho đội ngũ này.Những nội dung bài báo có thể tham khảo, vận dụng, kế thừa: những kiến nghị củatác giả về đẩy mạnh ĐT, BD đội ngũ cán bộ cơ sở thông qua việc mở các khóa huấnluyện ngắn ngày theo từng chuyên đề, từng nghiệp vụ cụ thể, đồng thời cung cấpsách “cẩm nang” về các mặt công tác đảng và quản lý nhà nước (QLNN) cho cán bộ
cơ sở
- Đinh Ngọc Giang, Chuẩn hóa chủ tịch ủy ban nhân dân xã các tỉnh đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay, [77] Tác giả đưa ra quan điểm: chuẩn hóa chủ
tịch UBND xã các tỉnh đồng bằng sông Hồng là tổng thể các hoạt động của cấp ủy,
tổ chức đảng, các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy, các tổ chức trong HTCT
từ tỉnh đến cơ sở xã và các cơ quan có liên quan trong việc cụ thể hóa tiêu chuẩnchủ tịch UBND xã và tiến hành những công việc cần thiết để những chủ tịch UBND
xã chưa đạt tiêu chuẩn và những cán bộ trong quy hoạch chủ tịch UBND xã đạt tiêuchuẩn đã đề ra, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Chuẩn hóa chủ tịch UBND xã làmột bộ phận rất quan trọng của công tác cán bộ đối với chủ tịch UBND xã Để thựchiện mạnh mẽ chuẩn hóa chủ tịch UBND xã các tỉnh đồng bằng sông Hồng cần tậptrung giải quyết những vấn đề chủ yếu như: phát huy mạnh mẽ trách nhiệm, tínhchủ động của các cấp ủy trong thực hiện chuẩn hóa kết hợp chặt chẽ với việc tạođiều kiện thuận lợi để cán bộ thực hiện quy trình chuẩn hóa và động viên họ tựchuẩn hóa; hạn chế những tác động tiêu cực của quan hệ huyết thống, truyền thốnglàng xã và tâm lý truyền thống cho rằng chủ tịch UBND xã phải là người của xã đó,
để luân chuyển mạnh mẽ, thực hiện có hiệu quả chuẩn hóa về năng lực tổ chức thựctiễn đối với những cán bộ trong quy hoạch chủ tịch UBND xã; nâng cao chất lượnghoạt động của các TCT tỉnh, các cơ sở ĐT, BD cán bộ
Trang 21- Hồ Ngọc Trường, Xây dựng phong cách chủ tịch ủy ban nhân dân xã ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay, [163] Tác giả đã nêu lên khái niệm
xây dựng phong cách chủ tịch UBND xã ở ĐBSCL là toàn bộ hoạt động của banthường vụ cấp ủy cấp ủy, các tổ chức, lực lượng có liên quan và của bản thân từngchủ tịch UBND xã về ĐT, BD, giáo dục, quản lý, kiểm tra, giám sát việc hình thành,phát triển phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách sinh hoạt của chủtịch UBND xã ở ĐBSCL giai đoạn hiện nay, đảm bảo cho chủ tịch UBND xã thựchiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao Tác giả cũng đã chỉ ra 5 kinh nghiệm vềxây dựng phong cách chủ tịch UBND xã ở ĐBSCL, trong đó có kinh nghiệm: đẩymạnh công tác đào tạo, đào tạo lại chủ tịch UBND xã và thường xuyên bồi dưỡng,cập nhật kiến thức cho chủ tịch UBND xã; tăng cường quản lý quá trình tự học, tựrèn luyện của chủ tịch UBND xã Từ đó tác giã đã đề xuất những giải pháp quantrọng xây dựng phong cách chủ tịch UBND xã ở ĐBSCL, trong đó giải pháp hàngđầu, mang tính chất chi phối toàn bộ là: tạo bước chuyển biến căn bản về tạo nguồn,công tác quy hoạch, để có nguồn nhân lực và tố chất mới xây dựng phong cách chủtịch UBND xã trong giai đoạn hiện nay
- Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, [165] Cuốn sách gồm
03 chương, đi sâu phân tích tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ; quanđiểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước;đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ Trên cơ
sở phân tích các nội dung này, cuốn sách đề cập việc tiếp tục đổi mới đồng bộ cáckhâu trong công tác cán bộ, nhấn mạnh việc tập trung thực hiện có chất lượng, hiệuquả từng khâu, sự đổi mới mang tính đột phá, tạo bước chuyển căn bản về công táccán bộ trong giai đoạn hiện nay: xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; đánh giá cán bộ; quyhoạch cán bộ; cán bộ; chính sách đãi ngộ cán bộ Đồng thời, cuốn sách đề cập việcnghiên cứu khoa học, xây dựng tổ chức và con người làm công tác tổ chức, cán bộvới việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học tổ chức, công tác tổ chức và con người làmcông tác tổ chức, cán bộ của Đảng giai đoạn hiện nay Cuốn sách đề cập khá sâu sắcphương pháp, cách thức tiến hành các khâu trong công tác cán bộ, đây là tài liệu
tham khảo tốt để tác giả luận án nghiên cứu thực hiện đề tài.
-Phạm Phi Hùng (Chủ nhiệm), Cán bộ chủ chốt hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn ở thành phố Cần Thơ - thực trạng và giải pháp, [107] Đề tài đã
khảo sát,
Trang 22điều tra, phân tích, tổng hợp thực trạng cán bộ chủ chốt của HTCT cơ sở xã,phường, thị trấn thành phố Cần Thơ, cụ thể hóa được tiêu chuẩn các chức danh bíthư đảng ủy, chủ tịch UBND, chủ tịch ủy ban MTTQ và người đứng đầu các tổchức chính trị
- xã hội ở cơ sở, đồng thời đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ chủchốt của HTCT cơ sở
1.2.2.Những công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
-Hoàng Ngọc Hòa, Công tác giáo dục đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học ở các trường đảng Trung Quốc [88] Tác giả đã nghiên cứu về công tác giáo
dục, đào tạo cán bộ tại trường Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vàmột số trường đảng tỉnh, thành phố, trong đó nhấn mạnh: mục đích thực tiễn củacông tác giáo dục, đào tạo được xác định ngay trong nội dung, chương trình sát hợpvới đối tượng học viên của từng loại lớp, đảm bảo sự nhất quán trong các khâu: từbiên soạn giáo án đến tổ chức giảng dạy - học tập - nghiên cứu, trao đổi kinhnghiệm, vận dụng lý luận vào thực tiễn, bố trí, sử dụng cán bộ; nội dung giáo dục,đào tạo luôn đổi mới, bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tiễn phát triển củacông cuộc cải cách, mở cửa đã thúc đẩy nghiên cứu khoa học phát triển
- Trần Ngọc Uẩn (chủ nhiệm), Phương thức đào tạo cán bộ ở các trường chính trị tỉnh, thành phố trong thời kỳ mới, [168] Đề tài đã tập trung phân tích
những phương thức đã và đang được áp dụng trong việc đào tạo cán bộ ở các TCTtỉnh, thành phố ở nước ta hiện nay, bao gồm đào tạo tập trung và đào tạo tại chức;đồng thời xác định những ưu điểm và hạn chế trong từng phương thức đào tạo này.Trên cơ sở những phân tích đó, đề tài đề xuất các phương hướng và giải pháp chủyếu khắc phục những hạn chế trong công tác đào tạo cán bộ ở các trường chính trịtỉnh, thành phố
- Nguyễn Hữu Cát, Mai Hoàng Anh, Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ chính trị chủ chốt trong hệ thống trường đảng ở Trung Quốc hiện nay [41] Bài viết đã xác
định: chấn hưng đất nước bằng khoa giáo, trong đó hệ thống trường đảng đóng vai tròchủ chốt Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có nghị quyết về tăng cường vàcải tiến công tác trường đảng, tạo nên bước đột phá mới trong công tác giáo dục - đàotạo cả về nội dung và hình thức, trong đó đề cập nội dung về đào tạo đội ngũ làm côngtác lý luận, giáo dục chủ nghĩa Mác chất lượng cao
Trang 23-Lê Hanh Thông, Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã các tỉnh khu vực Nam Bộ (qua khảo sát một số trường chính trị trong khu vực), [149] Luận án đã đi sâu phân tích vai trò và những
nét đặc thù của giáo dục LLCT đối với cán bộ chủ chốt cấp xã ở các tỉnh khu vựcNam bộ hiện nay Tác giả đã đề xuất những giải pháp tập trung đổi mới nội dung,phương pháp, hình thức giáo dục LLCT đối với các TCT tỉnh khu vực Nam bộtrước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước
- Trần Hậu Thành (chủ nhiệm), Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay (qua khảo sát ở một số tỉnh, thành phố phía Bắc nước ta, [144] Đề tài đi sâu tìm hiểu những động lực của ĐT,
BD LLCT của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã qua việc khảo sát, phân tích,đánh giá thực trạng, nhu cầu ĐT, BD LLCT của đội ngũ cán bộ này Trên cơ sởnhững phân tích đó, đề tài đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm đáp ứngnhu cầu ĐT, BD LLCT của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã ở nước ta hiệnnay
- Huỳnh Thanh Quang, Đào tạo cán bộ người dân tộc Khmer ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, [132] Theo tác giả, vừa qua công tác đào tạo cán bộ người
Khmer ở các tỉnh ĐBSCL còn mang tính chắp vá, hiệu quả chưa cao Do đó, tỷ lệ cán
bộ là người dân tộc Khmer, nhất là trong cấp ủy các cấp, chưa đạt theo quy định Tácgiả đưa ra một số giải pháp chủ yếu để xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộcKhmer ở các tỉnh ĐBSCL, trong đó đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng đào tạo cán
bộ người dân tộc Khmer ở các tỉnh ĐBSCL, coi trọng công tác tạo nguồn cán bộ làngười dân tộc; có chính sách ưu đãi đối với cán bộ là người dân tộc Khmer
- Cầm Thị Lai, Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị - hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc giai đoạn hiện nay, [117] Tác
giả khẳng định: ĐT, BD lý luận chính trị - hành chính (LLCT - HC) cho đội ngũ cán
bộ chuyên trách cấp xã các tỉnh Tây Bắc nước ta hiện nay là quá trình trang bị kiếnthức cơ bản và cập nhật, bổ sung những kiến thức mới về LLCT - HC cho nhữngcán bộ này, nhằm nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành và thựcthi công vụ, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, từng bước xây dựng độingũ cán bộ chuyên trách cấp xã chuyên nghiệp, có phẩm chất và năng lực đáp ứngtốt yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương Từ đó, tác giả rút ra bốn kinh nghiệm
và đề cập hai giải pháp quan trọng đẩy mạnh ĐT, BD LLCT, HC cho đội ngũCBCX ở các tỉnh Tây Bắc đến năm
Trang 242020: một là, có chủ trương, chính sách và tạo môi trường thuận lợi cho công tác
ĐT, BD cho cán bộ ở các tỉnh Tây Bắc, gồm: bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chấtphục vụ cho công tác ĐT, BD cán bộ chuyên trách cấp xã; nâng cao chất lượng củađội ngũ giảng viên ở các TCT tỉnh; thực hiện đồng bộ các chế độ, chính sách đối
với đội ngũ CBCX; hai là, đề cao việc tự ĐT, BD, rèn luyện của mỗi CB, CC cấp
xã gồm: đẩy mạnh phong trào tự học tập nâng cao trình độ, năng lực và rèn luyệnđạo đức cách mạng trong đội ngũ CB, CC cấp xã; phát huy vai trò tiền phong,gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên về tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện gắn vớicuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
-Lê Công Quyền, Nên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo nhu cầu công tác, [137] Tác giả đã chỉ ra những hạn chế về công tác ĐT, BD CB, CC như:
nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp ĐT, BD còn chưa đáp ứng yêucầu thực tiễn lãnh đạo, quản lý, nhất là trong lĩnh vực QLNN Một số chương trình
ĐT, BD còn nặng về lý luận, dàn trải, thiếu sự liên thông, kế thừa, còn trùng lặp vềnội dung, thiếu tính thiết thực, chưa đi sâu vào rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ côngtác cho CB, CC… Chính việc ĐT, BD với những nội dung, chương trình không sáthợp đã phát sinh lãng phí, kém hiệu quả, người học không hứng thú, vì nội dungkhông đáp ứng nhu cầu công việc Mặc dù đã được ĐT, BD, một số CB, CC vẫncòn lúng túng trong việc thực hiện nhiệm vụ, năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành,giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầunhiệm vụ trong giai đoạn mới Những nội dung có thể tham khảo, vận dụng, kếthừa: những hạn chế, yếu kém trong công tác ĐT, BD cán bộ gây ra nhưng hậu quảrất nghiêm trọng trong sử dụng, đánh giá cán bộ; chất lượng cán bộ không đúng vớibằng cấp yêu cầu của ĐT, BD Giải pháp đưa ra là ĐT, BD CB, CC cần phải xuấtphát và gắn liền với nhu cầu công tác của CB, CC nhằm khắc phục sự lãng phí, kémhiệu quả
- Vĩnh Trọng, Sóc Trăng quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc Khmer, [160] Bài viết phản ánh, là tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer, nên công
tác củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT cơ sở nơi có đông đồng bàodân tộc, nhất là việc xây dựng lực lượng cốt cán trong đồng bào dân tộc, xây dựngđội ngũ cán bộ, đảng viên là người dân tộc Khmer, luôn được cấp ủy các cấp củatỉnh Sóc Trăng quan tâm Theo tác giả, việc đào tạo cán bộ người dân tộc Khmercũng gặp không ít khó khăn Tác giả đề xuất một số giải pháp để nâng cao chấtlượng ĐT, BD cán bộ là
Trang 25người dân tộc Khmer, trong đó tập trung quan tâm xây dựng lực lượng cốt cán, thựchiện tốt công tác quy hoạch, ĐT, BD, sử dụng cán bộ người dân tộc Khmer là nhân
tố quyết định trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước về công tác dân tộc, công tác tôn giáo
-Phạm Huy Kỳ (chủ biên), Lý luận và phương pháp nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị, [116] Tác giả trình bày một số vấn đề lý luận chung về nghiên cứu,
giáo dục LLCT và phương pháp nghiên cứu, giáo dục LLCT Cuốn sách nhấn mạnhvai trò của phương pháp giảng dạy LLCT mà người giảng viên LLCT cần quan tâmnhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục LLCT của Đảng Những yêucầu, các nguyên tắc và phương pháp giáo dục LLCT đề cập trong cuốn sách cho tácgiả nhiều gợi ý đối với xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT ở các TCT
- Trần Thị Anh Đào (chủ biên), Công tác tư tưởng và vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác tư tưởng, [58] Cuốn sách đã làm rõ một số nội dung, khái niệm liên
quan đến công tác tư tưởng; những yếu tố tác động đến công tác tư tưởng cũng nhưgiải pháp cơ bản nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng hiện nay.Đặc biệt, công trình đã đề cập đến vấn đề nâng cao phẩm chất và năng lực cán bộlàm công tác tư tưởng
- Phạm Thị Hạnh, Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay, [84] Trên cơ sở làm rõ bản
chất, đặc trưng, tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộlãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở và từ thực trạng trình độ LLCT cũng như công tác đàotạo nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ này, tác giả đã đưa ra một số giảipháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốtcấp cơ sở, trong đó nhấn mạnh giải pháp rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, tưtưởng, đạo đức cho đội ngũ giảng viên và chú trọng chế độ, chính sách đối với đội ngũcán bộ làm công tác giáo dục LLCT, từng bước đổi mới, hiện đại hóa cơ sở vật chấtnhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục LLCT
- Trần Ngọc Hiên, Nâng cao chất lượng đào tạo lý luận chính trị - những vấn đề cần đổi mới, [85] Tác giả đã chỉ ra những tiêu chí hợp thành chất lượng đào tạo LLCT phù hợp: một là, chất lượng LLCT làm cơ sở cho việc soạn giáo trình giảng dạy; hai là, chất lượng của học viên được đào tạo thành giảng viên LLCT; ba
là, chất lượng của hoạt động quản lý đào tạo giảng viên LLCT nhằm tạo ra môi
trường chủ động,
Trang 26sáng tạo, tự giác của những người học và người dạy, cũng như đánh giá chất lượngđào tạo để kịp thời nâng cao kết quả đào tạo Tác giả đặc biệt nhấn mạnh: chấtlượng các thày, cô giáo tham gia đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến công tác đào tạoLLCT.
- Đinh Ngọc Giang, Vũ Khánh Hoàn, Công tác tuyển dụng, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức hiện nay, [78] Bài viết đánh giá thực trạng công tác tuyển
dụng và đào tạo CB, CC, viên chức Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải phápđào tạo CB, CC, viên chức
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia của Đại học Sư phạm Hà Nội, Nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị trong xu thế toàn cầu hóa, [60] Kỷ yếu kết cấu gồm ba phần Phần một, nghiên cứu và giảng dạy các môn LLCT hiện nay: thực
trạng và giải pháp Các tác giả đã đánh giá những ưu điểm, hạn chế, khó khăn,vướng mắc trong giảng dạy LLCT ở các trường cao đẳng, đại học hiện nay, đồngthời đề ra những giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy
LLCT gắn với Nghị quyết Đại hội XII của Đảng Phần hai, nghiên cứu và giảng
dạy các môn LLCT hiện nay - những vấn đề phương pháp Trong phần này các nhàkhoa học đã đi sâu bàn về các phương pháp nhằm đạt hiệu quả nhất trong giảng dạy
LLCT trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Phần ba, nghiên cứu và giảng
dạy các môn LLCT hiện nay - những vấn đề đào tạo giảng viên Trong phần này,các tác giả đã đưa ra những ý kiến thiết thực bàn về vị trí, vai trò của giảng viênLLCT, những yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo giảng viên, xây dựng nội dung, chươngtrình đào tạo giáo viên, phát triển năng lực của giảng viên theo xu thế mới hiện nay
- Lương Ngọc Vĩnh, Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ tư tưởng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, [197] Tác giả đã gợi mở một số giải pháp khắc phục những hạn chế về chất lượng đào tạo cán bộ tư tưởng: một là,
định hướng mục tiêu đào tạo sang coi trọng việc phát triển toàn diện phẩm chất và
năng lực nghề nghiệp; hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo
hướng tinh giản lý thuyết, tăng thực hành, phục vụ mục tiêu bồi dưỡng phẩm chất
và kỹ năng nghề nghiệp cho người học, ba là, ứng dụng mạnh mẽ phương pháp dạy học mới vào quá trình đào tạo, bốn là, kiện toàn đội ngũ giảng viên đủ về số lượng
và mạnh về chất lượng, năm là, tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường và cơ quan
tuyên giáo các cấp trong đào tạo cán bộ tuyên giáo
Trang 271.2.3 Những công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay
- Huỳnh Minh Đoàn, Phương hướng xây dựng trường chính trị tỉnh ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ mới, [74] Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của TCT tỉnh Đồng
Tháp trong ĐT, BD LLCT cho đội ngũ cán bộ của tỉnh, từ đó đặt ra yêu cầu cần xâydựng TCT tỉnh Đồng Tháp xứng đáng hơn với chức trách và nhiệm vụ được giao Tácgiả chỉ ra những nội dung cần quan tâm: cần có quyết tâm mới, trách nhiệm mới đểnâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, xứng đáng vị thế của TCT Tăng cường côngtác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển lý luận, đáp ứng yêucầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Tập trung xây dựng trường, lớp khang trang, kiểumẫu, xây dựng môi trường sư phạm chuẩn mực, tiêu biểu
- Nguyễn Thế Vịnh, Đinh Ngọc Giang (đồng chủ biên), Tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở, [198] Cuốn sách đã tập trung
phân tích những vấn đề lý luận về CB, CC và chế độ, chính sách đối với CB, CC cơsở; thực trạng về chế độ, chính sách đối với CB, CC cơ sở; quan điểm, giải pháphoàn thiện chế độ, chính sách đối với CB, CC ở cơ sở
- Lại Đức Vượng, Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay, [200] Luận án đã hoàn thiện khái niệm công chức
hành chính và các khái niệm liên quan tới nội dung, phương pháp QLNN về ĐT,
BD công chức hành chính Luận án cũng đã tập trung phân tích có hệ thống về sựhình thành và phát triển công tác ĐT, BD công chức hành chính và đánh giá thựctrạng QLNN về ĐT, BD công chức hành chính, qua phân tích đã hình thành hệthống số liệu để các nhà lãnh đạo và CB, CC quản lý ĐT, BD hoạch định cơ chế,chính sách và triển khai thực hiện các nội dung QLNN về ĐT, BD công chức hànhchính Tác giả đã đề ra những nguyên tắc, giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu lực,hiệu quả QLNN về ĐT, BD công chức hành chính đáp ứng yêu cầu quản lý côngtrong tình hình mới
- Nguyễn Văn Đệ, Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học, [73] Trên cơ
sở đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên và phát triển đội ngũ giảng viên cáctrường đại học ở vùng ĐBSCL tác giả đã đề ra 5 nhóm giải pháp phát triển đội ngũgiảng viên của các trường đại học ở vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới giáodục như:
Trang 28một là, liên kết đội ngũ giảng viên giữa các trường đại học ở vùng ĐBSCL tạo thành mạng lưới; hai là, phát triển số lượng đội ngũ giảng viên; ba là, nâng cao phẩm chất
và năng lực đội ngũ giảng viên; bốn là, điều chỉnh cơ cấu đội ngũ giảng viên; năm
là, tạo động lực làm việc cho đội ngũ giảng viên.
-Trần Minh Tuấn (chủ nhiệm), Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, [166] Đề tài đã tập trung giải quyết các vấn đề: luận giải yêu cầu cấp thiết
hiện nay về ĐT, BD cán bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh; công tác ĐT, BD cán
bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh tại Học viện từ 2005 đến nay - thực trạng vànhững vấn đề đặt ra; quan điểm và những giải pháp nâng cao chất lượng công tác
ĐT, BD cán bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh tại Học viện Một số giải pháp cầnchú ý: xác định đối tượng và mục tiêu đào tạo; đổi mới chương trình đào tạo theomục tiêu và quan điểm đã xác định, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Học viện và đápứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn; trong tổng thể chương trình ĐT, BD phảiphân định rõ các chương trình đào tạo và các chương trình bồi dưỡng; mỗi chươngtrình ĐT, BD phải hướng tới một loại đối tượng xác định, phải hướng tới từng chứcdanh đào tạo nhất định; chương trình ĐT, BD phải đa dạng, mang tính “mềm”;chương trình ĐT, BD phải tiến tới theo nhu cầu của người học và sát với từng chứcdanh đào tạo Nội dung ĐT, BD cán bộ tại Học viện phải gắn lý luận với thực tiễn,học đi đôi với hành; hạn chế đến mức thấp nhất sự trùng lắp kiến thức không cầnthiết giữa các chức danh, các hệ lớp; phù hợp và góp phần thúc đẩy việc áp dụngphương pháp dạy và học tích cực; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy vànghiên cứu khoa học Cần tăng cường và nâng cao chất lượng mời giảng viên, báocáo viên kiêm chức; đổi mới quá trình dạy và học theo hướng tích cực, lấy ngườihọc làm trung tâm, nâng cao hiệu quả ĐT, BD; hiện đại hóa công tác quản lý ĐT,BD; nâng cao chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quá trình dạy - học;thường xuyên tiến hành công tác khảo sát, đánh giá chương trình đào tạo và hiệuquả sau đào tạo
-Lê Đình Lý, Chính sách tạo động lực cho cán bộ, công chức cấp xã (nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An), [121] Tác giả đã chỉ rõ những hạn chế của một số chính sách hiện hành chưa tạo động lực cho CB, CC cấp xã Cụ thể: một là, chính sách
bố trí, sử dụng, chưa phát huy tốt năng lực, sở trường của từng CB, CC; hai là, chính
sách đánh giá cán bộ chưa chú trọng đúng mức thành tích, kết quả công tác và mức
độ hoàn thành
Trang 29nhiệm vụ của CB, CC; ba là, chính sách đào tạo và phát triển, chưa tạo được nhiều cơ hội cho CB, CC cấp xã được đào tạo và phát triển; bốn là, chính sách khen thưởng, chưa căn cứ nhiều vào kết quả và thành tích công tác của CB, CC; năm là, chính sách
tiền lương chưa căn cứ vào khối lượng và chất lượng công việc thực hiện của CB, CC,
mức lương thấp; sáu là, điều kiện, môi trường làm việc chưa được quan tâm đúng
mức Những hạn chế, bất cập của các chính sách nêu trên chính là nguyên nhân khôngtạo đông lực làm việc cho CB, CC cấp xã Một trong những giải pháp mà tác giả tậptrung để tạo động lực cho CB, CC cấp xã là phải chú trọng chính sách đào tạo và pháttriển cán bộ
- Đỗ Thị Ngọc Oanh, Quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ chính quyền cấp xã trong bối cảnh hiện nay, [131] Luận án đã xác định rõ được các
nội dung của quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ chính quyền cấp
xã theo quan điểm tăng cường năng lực thực hiện trong tình hình mới Tác giả cũngchỉ ra những yêu cầu khách quan phải đổi mới quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ hànhchính cho chính quyền cấp xã Luận án đánh giá thực trạng các nội dung quản lý bồidưỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ chính quyền cấp xã, chỉ rõ những nguyênnhân của sự yếu kém, từ đó đề xuất những giải pháp quản lý bồi dưỡng nghiệp vụhành chính cho cán bộ chính quyền cấp xã trong bối cảnh hiện nay theo quan điểmtăng cường năng lực thực hiện
- Phan Thị Thúy Vân, Thực hiện chính sách cán bộ đối với cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị phường ở khu vực Tây Nam bộ giai đoạn hiện nay, [192].
Tác giả đề xuất,để thực hiện tốt chính sách cán bộ đối với cán bộ chủ chốt củaHTCT phường ở khu vực Tây Nam bộ đến năm 2020 cần thực hiện những giảipháp: nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa chính sáchcán bộ của Đảng, Nhà nước đối với cán bộ chủ chốt của HTCT phường ở khu vựcTây Nam bộ; vận dụng phù hợp ba nội dung cơ bản của chính sách cán bộ đối vớicán bộ chủ chốt của HTCT phường khu vực Tây Nam bộ để giải quyết những vấn
đề bức xúc, cụ thể trong thực tiễn công tác cán bộ; phát huy vai trò của Ban Chỉ đạoTây Nam bộ, tăng cường sự phối hợp giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực, đảmbảo sự thống nhất trong quá trình thực hiện chính sách cán bộ đối với cán bộ chủchốt của HTCT phường ở các địa phương
- Nguyễn Văn Biết, Vượt qua thách thức, trở ngại đối với giảng viên trường chính trị, [20] Tác giả đã chỉ ra một số khó khăn mà giảng viên TCT phải khắc phục
để
Trang 30vượt qua trước xu thế phát triển hiện nay như: công tác lý luận chưa theo kịp thực tiễncuộc sống, sự vô hạn của tri thức trong thời đại bùng nổ thông tin, những giới hạn củachính giảng viên và những bất cập của môi trường làm việc.
- Đỗ Minh Cương, Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, [55] Tác
giả đánh giá thực trạng công tác ĐT, BD LLCT trong hệ thống trường đảng, từ đó
đề ra giải pháp đổi mới giáo dục LLCT: một là, đổi mới nhận thức về vị trí, tác dụng của LLCT và mục tiêu công tác đào tạo LLCT; hai là, cần nghiên cứu, so sánh, xây
dựng lại chương trình đào tạo cao cấp LLCT trong bối cảnh, điều kiện mới để thực
hiện có hiệu quả hơn; ba là, đổi mới cơ chế quản lý hoạt động ĐT, BD LLCT theo
nguyên tắc chủ thể quản lý vĩ mô độc lập với chủ thể quản trị cơ sở đào tạo và chức
năng quản lý thống nhất các nhiệm vụ, chương trình đào tạo; bốn là, đổi mới phương
thức ĐT, BD theo nguyên tắc lấy người học làm trung tâm, trọng tâm của hoạt độngdạy là phát triển khả năng tự học và giải quyết vấn đề của người học; thực hiện kiểmđịnh chất lượng độc lập các chương trình đào tạo
-Hội thảo khoa học quốc gia, Nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay, [18] với gần 100 bài tham luận của các nhà
khoa học ở Việt Nam chuyên nghiên cứu về vấn đề này Hội thảo đã tập trung vào
các vấn đề: một là, vị trí, vai trò, phẩm chất và năng lực của đội ngũ giảng viên: các
tác giả đã làm rõ vị trí, vai trò, nhu cầu về đội ngũ giảng viên LLCT ở các cơ sở đàotạo hiện nay, từ đó làm rõ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực đặc thù củagiảng viên LLCT, những tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo giảng viên, các nhân
tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo giảng viên LLCT hiện nay; hai là, thực trạng và
những vấn đề đặt ra đối với công tác ĐT, BD giảng viên LLCT hiện nay Các bàiviết về vấn đề này đã đi sâu đánh giá thực trạng mọi mặt về hoạt động ĐT, BDgiảng viên LLCT, những hạn chế, bất cập trong nội dung, chương trình ĐT, BD,phương pháp giảng dạy, phương thức tổ chức và quản lý cơ sở vật chất phục vụ ĐT,
BD… ở các trường cao đẳng, đại học, TCT tỉnh, thành phố hiện nay; ba là, những
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ĐT, BD giảng viên LLCT hiện nay Các thamluận đã bàn kỹ về quan điểm, chủ trương, cơ chế, chính sách đối với đội ngũ giảngviên LLCT, về phẩm chất cần có và những giải pháp thực hiện đào tạo đội ngũgiảng viên thật sự có đủ phẩm chất và năng lực, đổi mới các nội dung liên quan đếncông tác ĐT, BD giảng viên LLCT hiện nay
Trang 311.3 TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu các công trình có liên quan đề tài
Một là, về HTCT, đội ngũ cán bộ cơ sở.
Đây là vấn đề được nhiều tác giả, nhà khoa học nghiên cứu Những côngtrình đã làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về củng cố, xây dựng hệ HTCT ở
cơ sở, về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở Các công trình đã nêu khái niệm HTCT,
về cán bộ cơ sở, vai trò và tầm quan trọng của củng cố, xây dựng HTCT, về tạonguồn cán bộ cơ sở; củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; kinh nghiệmtrong xây dựng củng cố đội ngũ cán bộ cơ sở
Ha là, về quan điểm, chủ trương, chính sách ĐT, BD cán bộ.
Nhiều công trình đã hệ thống hóa những quan điểm, chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về ĐT, BD cán bộ trong thời kỳ đổi mới, chỉ ra được sự vậndụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác ĐT, BD cán bộ gắnliền với từng vùng, từng địa phương; xác định rõ sự cần thiết phải tăng cường côngtác ĐT, BD cho đội ngũ CB, CC ở cơ sở; thực hiện sự gắn kết giữa công tác ĐT,
BD với công tác quy hoạch và sử dụng từng loại CB, CC cơ sở; xây dựng cơ sởpháp lý về ĐT, BD CB, CC của HTCT cấp xã
Ba là, về chủ thể, chương trình, nội dung, hình thức, điều kiện cơ sở vật chất
cho công tác ĐT, BD
Các công trình nghiên cứu đã cho thấy: các cơ sở ĐT, BD cán bộ cơ sở chủyếu là TCT, các trường cao đẳng, đại học, các học viện trong và ngoài khu vực Cácchương trình tùy từng đối tượng, loại hình đào tạo có nội dung phù hợp Nội dung
ĐT, BD CB, CC chính quyền cấp xã gồm: nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lýcông tác ĐT, BD; đổi mới nội dung, chương trình ĐT, BD; tiếp tục sắp xếp và kiệntoàn hệ thống các cơ sở ĐT, BD, hình thành một mạng lưới ĐT, BD CB, CC chínhquyền cấp xã thống nhất, ổn định; xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũgiảng viên
Bốn là, những kinh nghiệm trong công tác ĐT, BD cán bộ.
Các trình khoa học trong và ngoài nước, các sách, tạp chí đã đề cập rất nhiềukinh nghiệm trong công tác ĐT, BD cán bộ Kinh nghiệm của nước ngoài bao gồmkinh nghiệm ĐT, BD theo chức danh; vấn đề ĐT, BD cán bộ, tiến cử, lựa chọn, bổnhiệm, sử dụng và nhận xét, đánh giá và quản lý cán bộ hiện nay ở Trung Quốc;kinh
Trang 32nghiệm ĐT, BD cán bộ ở CHDCND Lào Kinh nghiệm ĐT, BD cán bộ trong nướcđược đề cập gồm: bám sát mục tiêu, đối tượng đào tạo để hoàn thiện chương trình
ĐT, BD, đặc biệt là ĐT, BD theo chức danh; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoahọc, nghiên cứu thực tiễn phục vụ cho công tác ĐT, BD; thường xuyên tiến hànhcông tác khảo sát, đánh giá chương trình đào tạo và hiệu quả sau đào tạo để cónhững thay đổi, cải tiến phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn; tiếp tụcđổi mới nâng cao chất lượng quản lý đào tạo Không ngừng mở rộng quy mô ngànhnghề đào tạo với nỗ lực tự thân và tăng cường khả năng hợp tác, liên kết; đa dạnghóa loại hình đào tạo, thường xuyên đổi mới hình thức và phương pháp đào tạonhằm thích ứng với nhu cầu của thực tiễn
Năm là, những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác ĐT, BD CB, CC.
Tập trung đổi mới chương trình, nội dung, hình thức ĐT, BD cán bộ cơ sởtheo hướng phù hợp với từng chức danh cán bộ; công tác ĐT, BD phải gắn với quyhoạch cán bộ, kết hợp với sử dụng cán bộ và quản lý cán bộ cơ sở; ĐT, BD cán bộ
phải gắn với chế độ chính sách cán bộ; xác định đúng nguồn để đưa vào quy hoạch
cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ cơ sở; tăng cường công tác đào tạocán bộ theo kế hoạch của các địa phương; phân công, bầu cử, bổ nhiệm cán bộ đúngnăng lực, sở trường sau ĐT, BD; tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng cấp trên
cơ sở trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở
Các công nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập khá nhiều vấn đề có liênquan đến công tác ĐT, BD cán bộ Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào nghiêncứu có hệ thống công tác ĐT, BD CBCX Vấn đề đó đặt ra cho tác giả là cùng vớiviệc kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình trên, phải kếthợp với việc nghiên cứu có hệ thống những quan điểm, chủ trương, chính sách củaĐảng, Nhà nước về ĐT, BD CBCX, đồng thời qua khảo sát thực tế, nghiên cứu thực
tiễn công tác ĐT, BD CBCX ở ĐBSCL để thực hiện tốt đề tài “công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay”.
1.3.2 Những vấn đề cần tập trung nghiên cứu
Một là, nghiên cứu có hệ thống những luận cứ khoa học, những chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước cấp Trung ương, chủ trương của các cấp ủy đảng,chính quyền ở ĐBCSL về công tác ĐT, BD CBCX ở ĐBSCL
Trang 33Hai là, nghiên cứu các khái niệm, vị trí, vai trò của CBCX, của công tác ĐT,
BD CBCX Trong đó, tập trung hệ thống hóa chương trình, nội dung, hình thức ĐT,
BD CBCX ở ĐBSCL
Ba là, chỉ ra đặc điểm của cấp xã ở ĐBSCL, đánh giá đúng thực trạng công
tác ĐT, BD CBCX ở ĐBSCL, phân tích nguyên nhân và rút ra các kinh nghiệm vềcông tác này
Trang 34Chương 2 CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CẤP XÃ
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG; CÁC XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN VÀ CÁN BỘ CẤP XÃ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1.1 Khái quát về các tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Cửu Long
2.1.1.1 Về đặc điểm tự nhiên
ĐBSCL là vùng đất nằm ở phần cuối của bán đảo Đông Dương, ở tây cựcNam của Tổ quốc và được thường gọi là miền Tây Nam bộ, gồm 12 tỉnh và 01thành phố trực thuộc Trung ương ĐBSCL có diện tích tự nhiên 40.816 km2, chiếm12,2% diện tích tự nhiên của cả nước ĐBSCL nằm ở hạ lưu sông Mê kông, cóđường bờ biển dài trên 740 km với khoảng 100 đảo lớn nhỏ, có 360.000 km² khuvực đặc quyền kinh tế Phía Tây Bắc giáp Campuchia, phía Đông Bắc tiếp giápthành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Đông giáp biển Đông, phía Namgiáp Thái Bình Dương, phía Tây giáp vịnh Thái Lan Đây là vị trí thuận lợi trongviệc phát triển kinh tế biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản phục vụ cho nhu cầusản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Nằm trong tiểu vùng sông Mêkông và tiếp giáp với biển, ĐBSCL ở vị trítrung tâm của khu vực ASEAN, thuận lợi cho giao thương quốc tế, trước hết là vớiđất liền và trên biển Vị trí địa lý thuận lợi này cùng với sự ưu đãi của thiên nhiên
đã biến BĐSCL thành vùng kinh tế nông nghiệp, vựa lúa và nông sản lớn nhấtnước ĐBSCL là một vùng đất mang đặc điểm sinh thái đặc thù, với hệ thống sôngngòi, kinh rạch chằng chịt, có tổng chiều đài khoảng 28.000 km, trong đó 13.000km
có khả năng khai thác vận tải, chiếm 70% chiều dài đường thủy nội địa, tạo ra một
ưu thế lớn về giao thông thủy và một ưu thế, tiềm năng trong xây dựng và phát triểncác đô thị xanh, sinh thái
ĐBSCL là khu vực có nông - lâm nghiệp - thủy sản trù phú nhất trong hệthống các vùng sinh thái của đất nước ta ĐBSCL được xem là vùng sản xuất nôngnghiệp, thủy sản lớn nhất nước, với khoảng 3,5 triệu ha chuyên canh sản xuất nôngnghiệp đang được sử dụng, chiếm 35% đất nông nghiệp cả nuớc và 1.100.000 ha cókhả năng
Trang 35nuôi trồng thủy sản, chiếm 55% diện tích này của nước ta, nên ĐBSCL có tầm quantrọng chiến lược bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, hằng năm đóng góp khoảng90% sản lượng gạo và trên 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ra thịtrường quốc tế Ngoài vai trò là vựa lúa lớn nhất của nước ta, ĐBSCL còn có thếmạnh về nhiều loại nông sản khác, 70% sản lượng trái cây có giá trị xuất khẩu manglợi nhuận kinh tế cao như các loại cây ăn quả: bưởi, cam, quít, sầu riêng, xoài, nhãn,dừa, chôm chôm, măng cụt, thanh long
Bên cạnh đó, ĐBSCL còn giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốcphòng, an ninh, với 202,6 km biên giới trên bộ giáp Campuchia, vùng hải phậnrộng lớn tiếp giáp nhiều nước trong khu vực, kết hợp với thành phố Hồ Chí Minh,miền Đông Nam Bộ, cực Nam Trung bộ, Nam Tây Nguyên cùng hệ thống vòngcung đảo vả quần đảo tiền tiêu như Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du, Bà Lụa, Hải Tặc,Côn Đảo, Trường Sa tạo cho ĐBSCL có một vị trí chiến lược quốc phòng trongthế thuận lợi và trọng yếu Với đặc điểm này, sự phát triển KT-XH ở ĐBSCL làđiều kiện quan trọng đảm bảo an ninh biên giới và chủ quyền quốc gia, nâng caotiềm lực quốc phòng, giữ vững ổn định xã hội
2.1.1.2 Về đặc điểm kinh tế - xã hội và dân cư
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân toàn vùng giai đoạn 2006-2016 đạt8,1%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển địch theo hướng tích cực, năm 2016 tỷ trọngnông
- lâm - ngư nghiệp trong GDP của vùng là 36,7%; công nghiệp, xây dựng 30,4%;dịch vụ 32,9%; xuất khẩu khoảng 6-7 triệu tấn gạo/năm Tốc độ tăng trưởng xuấtkhẩu bình quân giai đoạn 2006 -2016 đạt 12,3% Tổng kim ngạch xuất nhập khẩuđạt hơn 17,2 tỷ USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội gần 300.000 tỷ đồng; tổng mức bán
lẻ và doanh thu dịch vụ đạt trên 600.000 tỷ đồng; thu ngân sách trên 40.000 tỷ đồng.Tốc độ đổi mới công nghệ đạt bình quân 8-10%/năm; thu nhập bình quân đầu ngườinăm 2016 đạt 42,5 triệu đồng, tương đương 1.950 USD
Toàn vùng hiện có 20 khu công nghiệp và 177 cụm công nghiệp đang hoạtđộng Ðến nay, vùng ÐBSCL có hơn 53.000 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trênlĩnh vực chế biến nông, thủy sản, phát triển đô thị, giao thông vận tải, thương mại -dịch vụ - du lịch , giải quyết việc làm cho hơn 2 triệu người lao động Những nămgần đây, tốc độ thu hút các dự án FDI ở ÐBSCL tăng khá nhanh, tính đến đầu năm
2017 toàn vùng thu hút 1.205 dự án FDI với tổng vốn đăng ký khoảng 18 tỷ USD
Thương mại, dịch vụ, du lịch, thông tin và truyền thông phát triển mạnh, đáp ứng
Trang 36nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân Kinh tế nhà nướcvẫn giữ vai trò chủ đạo, chi phối, các mặt hàng chiến lược như: ximăng, xăng dầu,phân bón Hạ tầng thương mại dịch vụ được các tỉnh, thành phố ở ĐBSCL rất quantâm đầu tư: hệ thống dịch vụ bản lẻ, vận tải, du lịch; đầu tư xây dựng các chợ xã,phường, thị trấn (1.800 chợ, chiếm 21,7% tổng số chợ cả nước), các chợ đầu mối (21chợ), 65 siêu thị và 10 trung tâm thương mại Đã hình thành được trung tâm thươngmại cấp vùng ở thành phố Cần Thơ Về du dịch, các tỉnh, thành phố đã chú trọng pháthuy tiềm năng, thế mạnh của từng tỉnh, thực hiện tốt sự liên kết chặt chẽ với thành phố
Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong việc khai thác, phát huy lợithế vùng sông nước, phát triển đa dạng, phong phú các loại hình du lịch sinh thái, sôngnước miệt vườn; đầu tư tạo ra nhiều tuyến, điểm du lịch mới, thực hiện liên kết tỉnh,thành để phát triển du lịch cũng như các dịch vụ thương mại, kinh tế khác Những địađiểm du lịch được đầu tư phát triển như: Ninh Kiều (thành phố Cần Thơ); Phú Quốc,
Hà Tiên (Kiên Giang); Đất Mũi, Hòn Đá Bạc (Cà Mau); Điện Gió, Nhà Mát (BạcLiêu); Chùa Dơi, Chùa Đất Sét, Chùa Chén Kiểu (Sóc Trăng); tuyến du lịch SócTrăng - Côn Đảo đã góp phần làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu du lịch, dịch vụtrong vùng
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng có bước phát triển Toàn vùng cơ bản hoànthành mục tiêu xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lụt, các đô thị đượcđầu tư, nâng cấp ngày càng khang trang, hiện đại Hạ tầng giao thông có nhiềuchuyển biến rõ nét đã góp phần giảm ách tắc giao thông liên vùng, liên tỉnh Hệthống giao thông quanh đảo, xuyên đảo, tuyến quốc lộ 1A - trục chính Bắc - Nam,sân bay Cần Thơ, sân bay Phú Quốc (Kiên Giang), cảng Cần Thơ, cảng biển SócTrăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang đều được tập trung đầu tư xâydựng, nâng cấp ngày càng hiện đại, đáp ứng bước đầu phát triển và ổn định kinh tế,văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh toàn vùng
ĐBSCL có số dân 17,66 triệu người, chiếm gần 22% dân số cả nước, trong
đó có khoảng 1,3 triệu người dân tộc Khmer Ở vùng này hình thành rõ nét cáccộng đồng dân cư, trong đó dân tộc Kinh chiếm số đông, cùng với dân tôc Khmer,Hoa, Chăm sinh sống lâu đời, hình thành cộng đồng các dân tộc với những nét vănhóa đặc thù của vùng sông nước Đồng thời, đồng bào các dân tộc ở BĐSCL cùngchung sống lâu đời, nên có sự giao thoa về văn hóa, có sự lai chủng về dân tộc, vaymượn và sử dụng lẫn nhau về tiếng nói Ở ĐBSCL có các tôn giáo như: Đạo Phật(Nam
Trang 37Tông và Bắc Tông); Công giáo, Tin Lành, Islam, ngoài ra còn có nhiều tôn giáokhác như: Cao Đài, Hòa Hảo và nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian khác ỞĐBSCL, các tập tục, lễ hội, lễ nghi tôn giáo, tín ngưỡng không ảnh hưởng, tác độngbất lợi tới việc tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtNhà nước, nhân dân có ý thức tôn trọng pháp luật cao Nhân dân trong vùng cótruyền thống cách mạng kiên cường qua các cuộc kháng chiến trường kỳ của dântộc Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện Tuynhiên, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực ĐBSCL cao, năm 2006 là 18,2% Được sự quantâm của Trung ương, các tỉnh, thành phố trong khu vực đã thực hiện rất thành côngchiến lược xóa đói, giảm nghèo: năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 8,9%, đến cuốinăm 2014 còn 5,48%, đến cuối năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng giảm cònkhoảng 3,54% (cả nước còn dưới 4,5%) Trong đó, có 8/13 tỉnh, thành phố trongvùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp (dưới 5%); một số tỉnh có mức giảm tỷ lệ hộ nghèo đạtcao như Sóc Trăng (khoảng 4,5%), Bạc Liêu (khoảng 4,5%), Trà Vinh (khoảng3,3%).
Đồng bào các dân tộc ở ĐBSCL có truyền thống văn hóa đặc sắc, độc đáo,hình thành nên cốt cách, phong cách văn hóa ứng xử đặc trưng của người dân Nam
bộ Nét nổi bật trong đời sống văn hóa của nhân dân vùng ĐBSCL là văn hóa củađồng bào Khmer
Giáo dục - đào tạo và dạy nghề là lĩnh vực có sự quan tâm đầu tư góp phầnđưa trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực của vùng phát triển Đã thành lậpmới và mở rộng, nâng cấp nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp,các cơ sở đào tạo nghề Trường Đại học Cần Thơ là trường trọng điểm quốc gia cấpvùng Cuối năm 2015 có 100% xã, phường, thị trấn đã hoàn thành xong phổ cậptrung học cơ sở; xây dựng, sửa chữa mới 25.300 phòng học, không còn tình trạnghọc ba ca Đối với các tỉnh, huyện có đông đồng bào Khmer điều có trường dân tộcnội trú Công tác dạy nghề có bước tiến bộ, đặc biệt là thực hiện nghiêm túc Quyếtđịnh số 1956/QĐ-TTg ngày 27-11-2009 của Thủ tướng Chính phủ về “phê duyệt Đề
án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” và Quyết định TTg ngày 30-6-2011 của Thủ tướng Chính phủ “về phát triển giáo dục, đào tạo vàdạy nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2011-2015” Trong thời gianqua, hệ thống dạy nghề vùng ĐBSCL đã hình thành mạng lưới đa dạng, với tổng số
1033/QĐ-364 cơ sở Đặc biệt, 119/131 đơn vị cấp huyện có cơ sở dạy nghề công lập đóngtrên địa bàn Công tác xã hội hóa dạy nghề
Trang 38cũng được đẩy mạnh, với 39 cơ sở dạy nghề ngoài công lập, chiếm 22,16%; cónhiều mô hình dạy nghề đa dạng, sáng tạo như dạy nghề tại các doanh nghiệp, dạynghề tại các khu công nghiệp… Trong giai đoạn 2011-2015, tổng số tuyển sinh họcnghề là 1.238.643 người, trong đó cao đẳng nghề là 29.120 người (chiếm 2%), trungcấp nghề là 58.917 người (chiếm 5%), sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng là1.150.606 người (chiếm 93%), số lao động nông thôn học nghề là 794.147 người.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của vùng năm 2015 ước đạt 35,2%, đã tăng so vớinăm 2010 (23,5%) Năm 2016 đã giải quyết việc làm cho hơn 400.000 lao động,trong đó có 110.000 lao động nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân thời gian qua đã đạt đượcnhững kết quả rất quan trọng Các tỉnh, thành phố trong khu vực có 92 bệnh viện
đa khoa tuyến huyện, 14 bệnh viện đa khoa khu vực, 17 bệnh viện đa khoa tỉnh, 37bệnh viện chuyên khoa, trong đó có 21 bệnh viện phục vụ các chuyên ngành hiếmgồm: lao, phong, tâm thần, giải phẫu bệnh và pháp y Riêng khối y tế dự phòng, cảvùng có 135 trung tâm y tế huyện; 103 trung tâm y tế trực thuộc tỉnh và các tỉnh,thành phố trong vùng đều có trung tâm giám định pháp y và pháp y tâm thần Đến
2016, tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ, y tác phục vụ đạt 100% Hộ nghèo, gia đình cócông, người dân sống vùng khó khăn, xã bãi ngang, xã nghèo, xã đảo đều được hỗ
trợ 100% bảo hiểm y tế
Có thể khẳng định rằng: giáo dục - đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm,xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày được chú trọng, đời sốngnhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số Khmer, Chăm, được cải thiện rõ nét
Các hoạt động văn hóa - xã hội được tổ chức với nhiều hình thức, nội dungphong phú Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ởkhu dân cư”, cuộc vận động “Toàn dân tham gia thực hiện chương trình mục tiêuquốc gia xây dựng nông thôn mới” ngày càng thiết thực, hiệu quả Công tác đền ơn,đáp nghĩa, thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng, các chínhsách an sinh xã hội được chú trọng thực hiện và đem đến kết quả rất tốt Thông quanhiều hình thức vận động khác nhau, các tỉnh, thành phố như: Cần Thơ, Hậu Giang,Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp đã huy động nguồn lực từ xã hội đóng góp hàngchục nghìn tỷ đồng để giải quyết các vấn đề an sinh xã hội
HTCT ở các địa phương trong vùng ĐBSCL được củng cố và có sự đổi mớitrong nội dung, phương thức hoạt động, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH, giữ
Trang 39cơ khí phục vụ nông nghiệp và công nghiệp công nghệ cao chưa phát triển Cácdoanh nghiệp trong vùng hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ Tỷ trọng công nghiệptrong GDP của khu vực còn thấp Thu hút đầu tư chưa nhiều, nhất là đầu tư nướcngoài Về thương mại, dịch vụ, du lịch, hệ thống các trung tâm thương mại hiệnđại còn hạn chế, hệ thống phân phối, bán lẻ hiện đại chỉ mới đáp ứng 25% nhu cầutiêu dùng của người dân ở ĐBSCL.
Kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi vẫn còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứngyêu cầu phát triển Một số công trình trọng điểm về giao thông, bến cảng, sân baynhư: tuyến cao tốc Trung Lương (Tiềng Giang) - Cần Thơ; tuyến đường sắt thànhphố Hồ Chí Minh - Mỹ Tho (Tiền Giang); cầu Đại Ngãi vượt sông Hậu nối liềnquốc lộ 60, giữa hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng; cảng biển Đại Ngãi, Hòn Chông;nâng cấp sân bay quốc tế Cần Thơ chưa được tập trung đầu tư xây dựng đúngmức và kịp thời
Giáo dục - đào tạo, dạy nghề, văn hóa - xã hội còn nhiều hạn chế, yếu kém
so với các vùng, miền khác Chất lượng, hiệu quả giáo dục - đào tạo ở ĐBSCL vẫncòn nhiều yếu kém, chất lượng nguồn nhân lực chưa đạt yêu cầu Tỷ lệ đầu tư chogiáo dục - đào tạo và dạy nghề còn thấp, nếu bình quân cả nước hơn 570 nghìn dân
có một trường đại học thì ở ÐBSCL hơn 1,5 triệu dân mới có một trường đại học
Cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giảng viên ở một số trường đại học, cao đẳng mớithành lập không bảo đảm, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo Có tới 45% số người từ
15 tuổi trở lên ở địa bàn nông thôn vùng ÐBSCL không hoàn thành cấp học nào,32,87% tốt nghiệp tiểu học, 13,51% tốt nghiệp trung học cơ sở và 5,43% tốtnghiệp trung học
Trang 40phổ thông Sinh viên đại học và sau đại học của toàn vùng cũng chỉ chiếm hơn 4%dân số ở độ tuổi từ 20 đến 24 Trang thiết bị đầu tư cho dạy nghề thiếu thốn, lạchậu, giáo viên thiếu về số lượng, chất lượng chưa cao, chủ yếu dạy nghề ngắn hạn.
Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm 83,25%, trong khi đó tỷ lệ chung cả nước74,6% và ÐBSCL xếp thứ bảy trong số tám vùng, miền Xuất khẩu lao động chưađạt kế hoạch cả về số lượng và thu nhập
Xây dựng HTCT còn nhiều hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục Nănglực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức cơ sở đảng ở ĐBSCL còn yếukém; công tác lãnh đạo ở một số nơi còn lúng túng về phương thức và nội dung, chỉđạo thiếu tập trung, dàn trải, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, nhất là công tácquản lý kinh tế, quản lý xã hội Hiệu lực và hiệu quả QLNN chưa cao; kỷ luật, kỷcương chưa nghiêm; việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan và cơ sở từng lúc,từng nơi còn hình thức Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, chất lượng đội ngũ cán
bộ các cấp không cao, vẫn còn tình trạng hẫng hụt cán bộ HTCT cơ sở ở ĐBSCLnhìn chung còn một số yếu kém Việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ là người dân tộc thiểu số trong HTCT còn một số bất cập
2.1.2.Quan niệm, đặc điểm cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long
* Quan niệm về cấp xã
Khoản 1, Điều 110 Hiến pháp năm 2013 quy định:
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namđược phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trungương; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trựcthuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chínhtương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnhchia thành phường và xã; quận chia thành phường Đơn vị hành chính -kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập [Error! Reference source not found., tr 36]
Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định:
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:
1.Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);
2 Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện);
3 Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);