1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án khu dân cư đô thị bí trung phường phương đông thành phố uông bí tỉnh quảng ninh

91 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 730,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước thực trạng như vậy, công tác bồi thường GPMB là một trong những công việc hết sức khó khăn, phức tạp và được xã hội đặc biệt quan tâm, bồi thường GPMB không chỉ ảnh hưởng trực tiếp

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGÔ QUỐC HƯNG

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

DỰ ÁN KHU DÂN CƯ ĐÔ THỊ BÍ TRUNG

TẠI PHƯỜNG PHƯƠNG ĐÔNG, THÀNH PHỐ

UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGÔ QUỐC HƯNG

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

DỰ ÁN KHU DÂN CƯ ĐÔ THỊ BÍ TRUNG

TẠI PHƯỜNG PHƯƠNG ĐÔNG, THÀNH PHỐ

UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Ngô Quốc Hưng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu

tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Lợi Cô đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình

nghiên cứu để tôi hoàn thiện luận văn này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa quản lý tài nguyên đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn được tốt hơn

Nhân dịp này, tôi cũng xin cảm ơn Phòng Đào Tạo, Khoa quản lý tài nguyên, Trường đại học Nông Lâm hỗ trợ tôi thực hiện các thủ tục trong quá trình hoàn thành luận văn; lãnh đạo và các anh chị đang công tác tại UBND phường Phương Đông, Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố Uông Bí tạo điều kiện và thời gian cung cấp tài liệu và số liệu cho tôi; các ông bà cán bộ, doanh nghiệp, nhân dân địa phương đã nhiệt tình tham gia trả lời câu hỏi khảo sát trong suốt quá trình nghiên cứu giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa học và bài luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 28 tháng 8 năm 2019

Tác giả luận văn

Ngô Quốc Hưng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu đề tài 4

1.1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 11

1.2.1 Chính sách giải phóng mặt bằng của một số nước trên thế giới 11

1.2.2 Công tác giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay 17

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

2.2 Nội dung nghiên cứu 22

2.2.1 Đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của thành phố Uông Bí 22

2.2.2 Đánh giá kết quả của công tác bồi thường, GPMB bằng án khu dân cư đô thị Bí Trung phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 22

2.2.3 Đánh giá sự ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng bằng của dự án tới đời sống của người dân 22

2.2.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và giải pháp 22

2.3 Phương pháp nghiên cứu 23

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 23

Trang 6

2.3.2 Phương pháp so sánh, tổng hợp, xử lí, đánh giá và phân tích số liệu 23

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Uông Bí 25

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 25

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và cảnh quan môi trường 46

3.1.4 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai của thành phố Uông Bí 48

3.2 Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án khu dân cư đô thị Bí Trung tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí 53

3.2.1 Đánh giá tổng quát về tình hình chung của việc thực hiện giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố Uông Bí 53

3.2.2 Thực trạng trạng công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ tái định cư tại án khu dân cư đô thị Bí Trung tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí 54

3.2.2 Đánh giá việc xác định đối tượng và điều kiện bồi thường, hố trợ 55

3.2.3 Đánh giá kết quả bồi thường và hỗ trợ về đất 56

3.2.4 Kết quả bồi thường tài sản, vật kiến trúc và hoa màu 58

3.3 Đánh giá sự ảnh hưởng của công tác GPMB của dự án đến đời sống của các hộ dân 58

3.3.1 Tác động đến lao động, việc làm và thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất 58

3.3.2 Tác động đến việc phát triển các công trình hạ tầng kĩ thuật, hạ tầng xã hội 60

3.3.3 Tác động đến tình hình an ninh, trật tự xã hội 61

3.3.4 Tác động đến cảnh quan và môi trường sống của người dân 63

3.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, tồn tại và giải pháp đối với công tác GPMB khi nhà nước thu hồi đất đối với dự án 64

3.4.1 Một số thành công 64

Trang 7

3.4.2 Một số hạn chế 65

3.4.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn thành phố Uông Bí 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Đề nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 thành phố Uông Bí 51

Bảng 3.2: Bảng tổng hợp số dự án bồi thường GPMB trên địa bàn thành phố Uông Bí giai đoạn 2013-2018 53

Bảng 3.3: Kết quả tổng hợp thông tin về dự án 55

Bảng 3.4: Kết quả xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường, hỗ trợ 56

Bảng 3.5: Kết quả bồi thường và hỗ trợ về đất 57

Bảng 3.6: Kết quả bồi thường tài sản, vật kiế trúc và hoa màu 58

Bảng 3.7: Thu nhập bình quân của người dân tại dự án nghiên cứu 59

Bảng 3.8: Tình hình thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất Dự án xây dựng khu dân cư đô thị Bí Trung 59

Bảng 3.9: Đánh giá của người dân về cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội sau khi thu hồi đất 60

Bảng 3.10: Tình hình an ninh trật tự xã hội của người dân sau thu hồi đất 61

Bảng 3.11: Quan hệ nội bộ gia đình của các hộ dân sau khi thu hồi đất 62

Bảng 3.12: Tình hình công tác môi trường sau khi thu hồi đất 63

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia và không thể thay thế được trong đời sống, trong quá trình sản xuất của con người Trong những năm gần đây nền kinh tế phát triển mạnh mẽ cùng với áp lực về

sự gia tăng dân số làm cho diện tích đất đai ngày càng bị thu hẹp Đồng thời quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh làm cho đất đai ngày càng có giá trị kinh tế cao và nhu cầu về mặt bằng lớn để phục cho sản xuất, kinh doanh Để có mặt bằng thực hiện các dự án chúng ta phải thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất đai Chính vì vậy công tác giải phóng mặt bằng là một trong những điều kiện tiên quyết của sự phát triển, nó tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý nhà nước về đất đai

Trước thực trạng như vậy, công tác bồi thường GPMB là một trong những công việc hết sức khó khăn, phức tạp và được xã hội đặc biệt quan tâm, bồi thường GPMB không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các

tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đất bị thu hồi mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương sau khi tái định cư cho người dân Bồi thường GPMB là lĩnh vực nhạy cảm và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện như thương lượng giá đền bù hợp lý với người dân, tái định cư và giải quyết hậu quả sau giải phóng mặt bằng Do vậy cần

áp dụng linh hoạt các quy định của pháp luật vào điều kiện thực tế của địa phương Trước những khó khăn như vậy, việc đánh giá công tác GPMB để đưa ra những phương án khả thi giải quyết những khó khăn khi bồi thường GPMB đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết của xã hội

Để nâng cấp cơ sở hạ tầng và phát triển thành một thành phố vững mạnh, thành phố Uông Bí đã và đang thực hiện rất nhiều các dự án trọng điểm, phường Phương Đông là một trong những địa bàn trong những năm vừa qua cũng đã có nhiều dự án triển khai thực hiện, để thấy được những thuận

Trang 10

lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp giúp cho công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn phường Phương Đông cũng như của thành phố Uông Bí đạt hiệu quả nhanh chóng trong thời gian tới, đồng thời góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường, GPMB đạt kết quả tốt và trở thành yếu tố thực sự thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với cơ chế thị trường vừa giải quyết được các vấn đề xã hội Được sự nhất trí của Trường Đại học Nông Lâm, Phòng Đào tạo, Khoa Quản lý Tài nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô

giáo TS Nguyễn Thị Lợi, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: "Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án khu dân cư đô thị Bí Trung phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh”

2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá được kết quả bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án khu dân

cư đô thị Bí Trung tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố Uông Bí trong thời gian tới

- Đánh giá sơ lược tình hình cơ bản của thành phố Uông Bí;

- Đánh giá công tác bồi thường, GPMB dự án khu dân cư đô thị Bí Trung phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh;

- Đánh giá sự ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng của dự án tới người dân;

- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố Uông Bí trong thời gian tới

3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Một số khái niệm giải phóng mặt bằng

Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới

Quá trình giải phóng mặt bằng (GPMB) được tính từ thời điểm bắt đầu hình thành hội đồng GPMB đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới Đây là quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự

án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia và cả của xã hội

Công tác GPMB mang tính quyết định đến tiến độ của các dự án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án

Bồi thường thiệt hại:

Bồi thường thiệt hại là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất và tài sản bị thiệt hại với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất

Đền bù trả bằng tiền hoặc hiện vật thay thế cho các thiệt hại về đất đai, tài sản thu nhập và các tài sản khác liên quan do tác động của dự án."Bồi thường" hay “đền bù” có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác Bồi thường

về đất khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất

Có 2 loại bồi thường: bồi thường thiệt hại về đất và đền bù thiệt hại

về tài sản

+ Bồi thường thiệt hại về đất là biện pháp để phân bố lại tài nguyên trên quan điểm lấy bao nhiêu bù bấy nhiêu

Trang 13

+ Bồi thường thiệt hại về tài sản gồm: nhà, công trình, vật kiến trúc, cây cối hoa màu, công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật gắn với đất đai bị thu hồi

Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi:

Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới Chính sách này thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với người dân trong khu vực giải tỏa, đặt con người vào vị trí then chốt trong quá trình thực hiện, góp phần tích cực đẩy nhanh tốc độ GPMB, thời gian thi công được đảm bảo

1.1.1.2 Các yếu tố tác động đến công tác giải phóng mặt bằng

Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập và vướng mắc, đã tác động không nhỏ tới công tác GPMB khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ các mục tiêu quốc gia Vấn đề đặt ra

ở đây đó chính là phải tích cực đẩy manh công tác quản lý Nhà nước về đất đai, nâng cao năng lực pháp lý, tăng cường thể chế là những nội dung hết sức quan trọng trong việc giải quyết các mối quan hệ về đất đai Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện công tác GPMB khi nhà nước thu hồi đất

1) Việc ban hành văn bản và thực hiện các văn bản

Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 đến nay, Chính phủ đã ba lần trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai năm

1998, 2001 và 2003 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Trang 14

Theo đó, chính sách bồi thường, GPMB cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai Với những đổi mới về pháp Luật Đất đai, đã cơ bản đáp ứng được tính ổn định, thống nhất của pháp Luật Đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, GPMB

Việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy:

- Nhận thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản

lý đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế; trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt

- Nhận thức pháp luật của một số người dân còn hạn chế, cùng với đó là việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ GPMB

2) Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Đất đai là tài nguyên không tái tạo được và là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển Quy hoạch sử dụng đất được xem là giải pháp tổng thể định hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá trình phát triển đang đặt ra

Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để

tổ chức việc bồi thường, GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng

mà Nhà nước đóng vai trò tổ chức Bất kỳ một phương án bồi thường GPMB nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất

Trang 15

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường GPMB trên hai phương diện:

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất, từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường

3) Công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Theo quy định của Luật Đất đai, người sử dụng đất phải đăng ký quyền

sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những thửa đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan tới quyền

sử dụng đất Trong công tác bồi thường GPMB, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là căn cứ để xác định loại đất, diện tích đất, đối tượng tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở thành phố Uông Bí vẫn còn hạn chế, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất Chính vì vậy mà công tác bồi thường, GPMB ở thành phố còn gặp rất nhiều khó khăn Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì công tác bồi thường GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh và hiệu quả hơn

4) Yếu tố giá đất và định giá đất

Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường, GPMB hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi

Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Theo quy

Trang 16

định của pháp luật đất đai hiện hành thì giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây:

- Do UBND các tỉnh quy định (căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung gia đất do Chính phủ quy định) và được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm

- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất

- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có những hiểu biết về định giá đất Định giá đất đó là những phương pháp kinh

tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi chúng tham gia trong một thị trường nhất định

Khi định giá đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại đất tại thời điểm định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một số phương pháp truyền thống như các nước trên thế giới thực hiện, đó là phương pháp so sánh trực tiếp và phương pháp thu nhập

Tình hình phổ biến hiện nay là giá đất cho các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc

về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy trong 17.480 đơn tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có tới 12.348 trường hợp là khiếu nại về bồi thường GPMB chiếm 70,64% Trong các trường hợp khiếu nại về bồi thường, GPMB thì có tới 70% là khiếu nại về giá đất nông nghiệp bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường hoặc giá đất ở được giao tại nơi TĐC lại quá cao so với giá đất ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi

Trang 17

Như vậy, nếu công tác định giá đất để bồi thường GPMB không được làm tốt sẽ làm cho công tác GPMB ách tắc, dẫn tới không có mặt bằng đầu tư,

làm chậm tiến độ triển khai dự án hoặc làm lỡ cơ hội đầu tư

5) Thị trường bất động sản

Thị trường bất động sản là nơi giải quyết quan hệ về cung - cầu bất động sản trong một thời gian và không gian nhất định Việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch trên thị trường, đồng thời người bị thu hồi đất có thể

tự mua hoặc thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách TĐC và bồi thường

Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác động tới giá đất tính bồi thường

1.1.1.3 Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Mỗi dự án liên quan đến giải phóng mặt bằng có một đặc điểm riêng, liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội GPMB là quá trình mang tính đa dạng và phức tạp

- Tính đa dạng

Mỗi dự án được thể hiện trên một địa điểm khác nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, trình độ dân trí nhất định Do đó, giá trị của đất và các tài sản gắn liền với đất ở các khu vực khác nhau là khác nhau dẫn đến công tác bồi thường, GPMB sẽ có những nét đặc trưng riêng, nhất định cho từng vùng, từng khu vực

- Tính phức tạp

Thứ nhất, do tình hình GPMB luôn gặp nhiều khó khăn vì giá cả thị trường luôn biến động do đó giá bồi thường ở mỗi thời điểm có khác nhau Thực tế cho thấy một số dự án đã tiến hành xong khâu kiểm định nhưng không thực hiện tiếp được vì thiếu vốn Chính những yếu tố trên khiến người dân luôn có một tâm lý hoang mang khi được bồi thường Mặt khác trong quá

Trang 18

trình thực hiện thường hay xảy ra các vấn đề bất cập như: số hộ phát sinh, người dân xây mới các công trình trên đất đang thực hiện công tác GPMB

đã gây trở ngại cho tiến độ thực hiện dự án

Thứ hai, đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế -

xã hội nên khi GPMB cũng gặp nhiều khó khăn GPMB được thực hiện chủ yếu ở các khu dân cư có đời sống kinh tế và trình độ dân trí chưa cao nên rất phức tạp, tâm lý của người dân là không muốn di chuyển đi nơi khác

Thứ ba, tính phức tạp còn gặp phải khi thực hiện công tác GPMB là do nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau, giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất chưa đầy đủ, hợp pháp

1.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài

Nhằm cụ thể hóa chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy

định tại khoản 1 Điều 38 Luật Đất đai: “Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng

để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; phát triển kinh tế” và Điều 42 Luật Đất đai: “Nhà nước sẽ phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi để giải phóng mặt bằng”

Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như:

Nghị đinh 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25-5-2007 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, giải quyết khiếu nại về đất đai

Nghị đinh 69/2009/NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27-7-2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16-11-2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và nhiều thông tư hướng dẫn

Trang 19

Nghị đinh 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

Các văn bản pháp luật về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã thể hiện được tính khả thi trong quá trình áp dụng pháp luật vào hoạt động bồi thường, giải phóng mặt bằng của Nhà nước

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Chính sách giải phóng mặt bằng của một số nước trên thế giới

Đối với mọi quốc gia trên thế giới, đất đai là nguồn lực cơ bản, quan trọng nhất đối với mọi hoạt động trong đời sống KT-XH Vì vậy, nhiều nước trên thế giới đang cố gắng không ngừng trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai, trong đó có chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC của cơ quan quản lý Nhà nước Dưới đây là một số kinh nghiệm trong công tác quản

lý Nhà nước về đất đai của một số nước trên thế giới, đồng thời giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng [29]

Về phương thức bồi thường: Nhà nước sẽ thông báo rộng rãi cho người

sử dụng đất biết trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn các phương thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới

Tại thành phố Thượng Hải và một số thành phố lớn khác, người dân lựa chọn bồi thường thiệt hại bằng tiền và được tự lựa chọn chỗ ở mới phù hợp với công việc và điều kiện sống của mình [37]

Trang 20

Về giá bồi thường: tiêu chuẩn để xác định mức giá bồi thường dựa trên mức giá thị trường Mức giá này cũng được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, công trình và tài sản trên đất, đồng thời cũng được điều chỉnh rất linh hoạt để phù hợp với thực tế tình hình tại từng địa phương, khu vực, đây cũng là chính sách của Nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh lại chính thị trường đó Riêng đối với đất nông nghiệp, bồi thường theo tính chất của đất và loại đất đó

Về hỗ trợ và TĐC: các khu TĐC và các khu nhà ở được xây dựng cùng lúc và kịp thời, trước khi quá trình thu hồi đất hoàn thành, nhằm đáp ứng được nhu cầu sử dụng với nhiều loại căn hộ khác nhau Các chủ sử dụng đất phải di chuyển chỗ ở được địa phương chú ý tạo điều kiện về việc làm, trường hợp các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước có chính sách đặc biệt

Qúa trình di dời được thực hiện dựa trên nguyên tắc: nơi ở mới tốt hơn nơi ở cũ Khu TĐC được quy hoạch tổng thể, theo mô hình nhà ở, trường học, chợ,… cân đối được giao thông động và tĩnh

Tại thủ đô Bắc Kinh, tiêu chí để sắp xếp bồi thường di dời nhà hiện nay được thực hiện theo 3 loại:

- Loại 1: Lấy theo giá thị trường của nhà đất đối với nhà bị tháo dời

cộng thêm với “Giá tăng thêm nhân với diện tích xây dựng của ngôi nhà bị tháo dỡ”

- Loại 2: Đổi nhà theo tiêu chuẩn giá trị, bố trí nhà lấy theo giá thị

trường, giá tương đương với giá nhà bị tháo dỡ, di dời

- Loại 3: Bố trí nhà theo tiêu chuẩn diện tích, đây là tiêu chuẩn chính

quyền quận, huyện nơi có nhà di dời lập ra đối với những người có khó khăn

về nhà ở Người bị di dời có thể chọn hình thức bố trí nhà ở cho phù hợp Dựa vào khu vực bố trí nhà ở để tăng thêm diện tích, dựa theo phân cấp từng vùng trong thành phố Càng ra ngoại vi hệ số tăng thêm càng cao, mức tăng thêm

có thể là 70%, 80% hay 100% [27]

Trang 21

* Hàn Quốc

Đất nước Hàn Quốc có tới 70% diện tích đất là đất đồi núi nên đất chuyên dùng được xem là một vấn đề hết sức quan trọng Vì vậy, để sử dụng đất một cách hiệu quả và tiết kiệm thì các quy hoạch và quy chế được coi như một hình thức pháp luật [27]

Luật đất đai của Hàn Quốc được xây dựng dựa trên cơ sở Luật quy hoạch đô thị và Luật quản lý sử dụng đất quốc gia, bao gồm tất cả các đô thị, Nhà nước chỉ định một số khu vực sử dụng để cân bằng sự phát triển đồng bộ

Trong đó, khái niệm cơ bản của luật quản lý sử dụng đất quốc gia công khai rõ ràng về đất đai Đây có ý nghĩa là tách riêng hai phần quyền sở hữu và quyền sử dụng đất để nhấn mạnh tầm quan trọng của đất công cộng trong xã hội Chế độ này giúp việc sử dụng đất một cách hữu dụng bằng cách thúc đẩy quyền sử dụng đất nhiều hơn quyền sở hữu đất Luật bồi thường GPMB của Hàn Quốc được chia ra thành hai thể chế

Một là “đặc lệ” liên quan đến bồi thường GPMB cho đất công cộng đã đạt được theo thủ tục thương lượng của pháp luật

Hai là luật “sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp

Để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế thì cần rất nhiều đất công cộng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích cưỡng chế đất cho nên luật

“sung công đất” đã được thiết lập trước vào năm 1962 Sau đó theo pháp luật ngoài mục đích thương lượng thu hồi đất công cộng thì còn muốn thống nhất việc này trên phạm vi toàn quốc và đảm bảo quyền tài sản của công nên luật này đã được lập vào năm 1975 và dựa vào hai luật trên Hàn Quốc đã triển khai bồi thường cho đến nay Tuy nhiên dưới hai thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật “đặc lệ” thương lượng không đạt được thỏa thuận thì luật

“sung công đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế, nhưng nếu cứ như vậy thì phải lặp đi lặp lại quá trình này và đôi khi trùng lặp cho nên thời gian có thể bị kéo dài hoặc chi phí cho bồi thường sẽ tăng lên Do đó, cho đến nay đã

có nhiều thảo luận thống nhất hai thể chế này thành một

Trang 22

Thực hiện bồi thường theo luật mới của Hàn Quốc thì sẽ thực hiện theo

ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Tiền bồi thường đất đai được các nhân viên công vụ đánh

giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng Mỗi năm Hàn Quốc cho thi hành đánh giá đất trên 27 triệu địa điểm trên toàn quốc và chỉ định 470.000 địa điểm làm tiêu chuẩn và thông qua đánh giá của giám định để dựa theo đó hình thành giá quy định cho việc bồi thường Giá quy định không dựa vào lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự khách quan trong việc bồi thường

Giai đoạn 2: Pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người

có quyền sở hữu đất trong quá trình thương lượng chấp thuận thu hồi đất Quy trình chấp thuận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng, chấp nhận thu hồi

Giai đoạn 3: Biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng Nhà nước

hỗ trợ tích cực về mặt chính sách đảm bảo sự sinh hoạt của con người, cung cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng cần thiết của Nhà nước Đây là công việc có tính hiệu quả cao, thu hút người dân tự nguyện di dời và liên quan rất nhiều tới việc GPMB Theo luật bồi thường, nếu như tòa nhà nơi dự án sẽ được thực hiện có trên 10 người sở hữu thì phải xây dựng cho các đối tượng này nơi cư trú hoặc hỗ trợ 30% giá trị của tòa nhà đó Còn nếu như các dự án xây dựng chung cư nhà ở thì cung cấp cho các đối tượng này chung cư hoặc nhà ở thấp hơn giá thành [37]

Đối với các đối tác kinh doanh để kiếm sống nhưng không có pháp nhân, các đối tác kinh doanh nông nghiệp, gia cầm thì có chính sách mang tính chất ân huệ ngoài biện pháp di dời còn ưu tiên cung cấp cho họ các cửa hàng hoặc khu kinh doanh

Luật bồi thường Hàn Quốc được thực hiện theo ba giai đoạn trên đối với đất đai, bất động sản và các quyền kinh doanh nông nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản… để cung cấp tiền bồi thường và chi phí di dời

Trang 23

Chế độ và luật GPMB: theo luật sung công đất đai thì nếu như đã trả hoặc đặt cọc tiền bồi thường xong nhưng không chịu di dời thì được xem như gây hại cho lợi ích công cộng do đó phải thi hành cưỡng chế giải tỏa được thực hiện quyền thi hành theo luật thực hiện thi hành hành chính và quyền thi hành ngày phải theo thủ tục pháp lệnh cảnh cáo theo quy định [27]

* Australia (Úc)

Luật đất đai của Úc quy định: đất đai thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu

tư nhân Luật đất đai bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhương, thế chấp, thừa kế theo

di chúc mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích lũy đất đai [14]

Luật đất đai năm 1989 của Úc quy định, có hai loại thu hồi đất:

- Thu hồi đất bắt buộc

- Thu hồi đất tự nguyện

Thu hồi đất tự nguyện được nước Úc tiến hành khi chủ đất cần được thu hồi đất Trong thu hồi đất tự nguyện không có quy định đặc biệt nào được

áp dụng mà việc thỏa thuận đó là nguyên tắc cơ bản nhất Chủ có đất cần được thu hồi vốn và người thu hồi đất sẽ thỏa thuận giá bồi thường đất trên tinh thần đồng thuận và căn cứ vào thị trường

Thu hồi đất bắt buộc được nước Úc tiến hành khi Nhà nước có nhu cầu

sử dụng đất cho các mục đích công cộng và các mục đích khác Thông thường, Nhà nước có được đất đai thông qua đàm phán

Trình tự thu hồi đất bắt buộc được thực hiện như sau:

- Nhà nước gửi cho các chủ đất một văn bản trong đó nêu rõ mục tiêu thu hồi đất vì các mục đích công cộng Văn bản này gồm các nội dung chính như cơ quan muốn thu hồi đất, miêu tả chi tiết mảnh đất, mục đích sừ dụng đất sau khi thu hồi và các giải thích vì sao mảnh đất đó phù hợp với mục tiêu công cộng đó

- Chủ sở hữu mảnh đất có thể yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tài chính và quản

lý xem xét lại vấn đề thu hồi đất Nếu chủ sở hữu vẫn chưa hài lòng thì có thể

Trang 24

tiếp tục yêu cầu trọng tài phúc thẩm hành chính phán xử Trọng tài phúc thẩm hành chính không thể xem xét tính đúng đắn về quyết định của Chính phủ nhưng có thể xem xét các vấn đề liên quan khác

- Nhà nước thông báo rộng rãi quyết định thu hồi đất và chủ sở hữu đất phải thông báo cho bất kỳ ai muốn mua mảnh đất đó về quyết định thu hồi đất của Chính phủ Sau đó, Nhà nước sẽ ban hành quyết định thu hồi đất và thông báo trên báo chí

- Chủ sở hữu đất nhận được thông báo tiến hành các thủ tục yêu cầu bồi thường Ngay sau khi có quyết định thu hồi đất, chủ đất có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường

Nguyên tắc của BT của quốc gia này đó là công bằng và theo giá thị trường Theo đó, các yếu tố sẽ được tính toán trong quá trình bồi thường đó là giá thị trường, giá đặc biệt đối với chủ sở hữu, các chi phí liên quan như phí

di chuyển, chi phí TĐC [14]

* Nhận xét, đánh giá về chinh sách GPMB của một số nước trên thế giới Việc xây dựng và phát triển các công trình xây dựng, công trình dân dụng đểu cần có đất Do đất đai có hạn, vì thế mọi Nhà nước đều phải sử dụng quyền lực của mình để thu hồi đất hoặc trưng thu của người đang sở hữu, đang sử dụng để phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia Ở mỗi quốc gia, quyền lực thu hồi, trưng thu đất được ghi trong hiến pháp hoặc tại Bộ luạt đất đai hoặc một bộ luật khác Nếu việc thu hồi, trưng thu đã phù hợp với quy định của pháp luật mà người sở hữu hoặc sử dụng đất không thực hiện thì Nhà nước có quyền chiếm hữu đất đai Việc thu hồi đất, trưng thu đất và bồi thường thiệt hại về đất tại mỗi quốc gia đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước đó quy định [37]

Qua tìm hiểu chính sách bồi thường GPMB của một số nước trên thế giới, nước ta cần học hỏi 1 số kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường GPMB

Trang 25

1.2.2 Công tác giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay

Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển KT-XH ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước Với những đổi mới tích cực, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường, GPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển KT-XH nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai hiện nay

Trong năm 2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp với

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức hội thảo đánh giá tình hình thu hồi đất để thực hiện CNH-HĐH [1]

* Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các KCN,

đô thị và các công trình công cộng

Trong 5 năm, từ năm 2010-2015, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4% tổng diện tích đất nông nghiệp cả nước) Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các KCN

và CCN là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha

Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20,38 ha), Hà Nội (7,776 ha), Quảng Nam (11,82 ha)…Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là dưới 0,5%

Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ

lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung

Trang 26

vào một số huyện, xã có mật độ dân số cao Diện tích bình quân đầu người thấp, có xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70-80% diện tích đất canh tác [1]

* Về đời sống, lạo động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất

Theo báo cáo cho thấy việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm qua

đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình với khoảng 959.000 lao động và 2,5 triệu người Trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng có

số hộ bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ khoảng 108 nghìn hộ, số hộ bị thu hồi đất ở các vùng khác thấp hơn: Tây Nguyên chỉ có trên 138,291 hộ Mặc dù quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ tái định cư,… Tuy nhiên trên thực tế có tới 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định [1]

Như vậy nông nghiệp vẫn là chỗ dựa của phần lớn số hộ bị mất đất Số lao động bị mất việc làm do mất đất nhiều như Hà Tây 37.703 người, Vĩnh Phúc 22,880 người, Nam Định 4,130 người,… Thực trạng này dẫn đến 53%

số hộ dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm so với trước đây, chỉ có khoảng 13% số hộ có thu nhập cao hơn trước [1]

Kết quả kiểm tra thi hành Luật đất đai năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy việc thu hồi đất ở phần lớn các địa phương đang ách tắc, làm chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, gây nên những bức xúc cho cả người

sử dụng đất, nhà đầu tư và cơ quan chính quyền có tránh nhiệm thu hồi đất

* Kết quả thực hiện chính sách bồi thường GPMB tại các địa phương ở nước ta:

- Người nhận đền bù cảm thấy thỏa đáng, tình trạng khiếu kiện, khiếu

nại dần ít đi và việc cản trở công tác giải phóng mặt bằng cải thiên rõ rệt

Trang 27

- Người dân sau khi tái định cư đã ổn định về đời sống và sản xuất, dần trở

lại với cuộc sống bình thường trước đây và có thể khôi phục lại tài sản bị mất

- Sức ép cho các cơ quan hành chính trong quá trình thu hồi đất đã

được giảm đi nhiều

- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường,

tái định cư đạt hiệu quả, giảm thiểu nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình giải phóng mặt bằng,bồi thường và tái định cư

- Đã giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự

án, nhất là xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế,

ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi

- Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng

lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành

có các dự án đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả [11]

* Nguyên nhân của thành công

- Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác

định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao

- Mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị

thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước

- Việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần

đất với người sử dụng đất

- Trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư đã giải quyết

được nhiều khúc mắc trong thời gian qua

- Nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất

phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý, hoạch định

Trang 28

chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức,

về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước

ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi [27]

* Những mặt thiếu sót, yếu kém và vướng mắc

- Vấn đề giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất thực hiện chưa tốt, đặc biệt là đối với những người dân không còn hoặc còn rất ít đất để sản xuất và những người dân không còn việc làm sau khi chuyển tới nơi ở mới

- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đất với người có đất bị thu hồi Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ứng gay gắt của những người có đất bị thu hồi

- Một số trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trong nhiều trường hợp không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương đương hoặc nhà

ở mới tại khu tái định cư

- Việc xác định tính hợp thức về quyền sử dụng đất để tính toán mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đang là một vấn đề nổi cộm trong thực tế

- Nhiều dự án chưa có khu TĐC đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung các địa phương chưa coi trượng việc lập khu TĐC chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu TĐC đã lập nhưng không đảm bảo điều kiện tốt hơn hoặc

Trang 29

bằng nơi ở cũ, có trường hợp người có đất bị thu hồi phải đi thuê nhà ở 4 năm nay mà vẫn chưa được bố trí vào khu TĐC.[11]

* Nguyên nhân của tồn tại

- Vấn đề bồi thường, hỗ trợ tái định cư là lĩnh vực vô cùng phức tạp phát sinh do cơ chế, chính sách của Nhà nước tới nay dù đã sửa đổi, thay thế liên tục nhưng nhìn chung vẫn chưa hợp lý Việc sửa đổi thường xuyên các quy phạm pháp luật cũng vẫn chưa bao quát hết mọi vấn đề của nền kinh tế thị trường, trong đó đất đai được coi là hành hóa đặc biệt nên đã tạo ra nhiều khoảng trống, thậm chí bất hợp lý trong việc điều tết các quan hệ đất đai

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Kết quả của hoạt động bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án khu dân cư đô thị Bí Trung phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Cụ thể:

- Tổng diện tích các loại đất trong dự án;

- Các loại tài sản trên đất bị thu hồi;

- Chính sách hỗ trợ, tái định cư;

- Kinh phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ,…;

- Công tác giải phóng mặt bằng;

- Ý kiến của người dân

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu của đề tài, tôi tiến hành nghiên cứu những nội dung chính sau đây:

2.2.1 Đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của thành phố Uông Bí

- Điều kiện tự nhiên;

- Tình hình phát triển kinh tế xã hội;

- Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai của thành phố Uông Bí

2.2.2 Đánh giá kết quả của công tác bồi thường, GPMB bằng án khu dân

cư đô thị Bí Trung phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 2.2.3 Đánh giá sự ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng bằng của

dự án tới đời sống của người dân

2.2.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và giải pháp

- Những thuận lợi

- Những khó khăn, tồn tại và nguyên nhân

- Một số giải pháp khắc phục

Trang 31

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Uông Bí tại các Phòng, Ban chức năng, UBND thành phố; Các số liệu, tài liệu về tình hình quản lý và sử dụng đất đai của thành phố Uông Bí tại Phòng Tài nguyên & Môi trường, phòng Thống kê, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Uông Bí,…

2.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích thu thập thông tin thông qua

bộ phiếu điều tra ý kiến đánh giá của người dân về dự án Cụ thể:

- Phạm vi điều tra thu thập là các hộ dân có đất bị thu hồi nằm trong dự án;

- Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bộ phiếu câu hỏi có sẵn;

- Đối tượng phỏng vấn là các chủ hộ hoặc lao động chính của hộ;

- Nội dung chính của điều tra phỏng vấn là các vấn đề liên quan đến giá, hình thức bồi thường, hỗ trợ, thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác bồi thường của dự án; ảnh hưởng của dự án đến công ăn việc làm, đời sống của người dân bị mất đất và về vấn đề ảnh hưởng đến môi trường của dự án

- Số phiếu điều tra: 30 phiếu

Tiêu chí để xác định:

+ Mức độ hợp lý về giá bồi thường về đất và tài sản trên đất;

+ Mục đích sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ;

+ Việc công khai, dân chủ của TTPTQĐ;

+ Mức bồi thường hỗ trợ đã đảm bảo ổn định đời sống chưa;

+ Đơn thư trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;

+ Một số nội dung khác

2.3.2 Phương pháp so sánh, tổng hợp, xử lí, đánh giá và phân tích số liệu

Phương pháp xử lí số liệu: Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập

được, dùng phần mềm xử lý số liệu Excel, thống kê theo nhóm số phiếu điều tra, xử lý số liệu điều tra

Trang 32

Phương pháp phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu: Việc phân tích

đánh các nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp trên cơ sở so sánh đối chiếu, số liệu được phân tích sát sao, đúng đắn khoa học đảm bảo minh bạch chính xác

Phương pháp so sánh: So sánh giá thị trường, giá bồi thường, hệ số

chênh lệch, so sánh việc thực hiện với chính sách Nhà nước quy định để qua

đó đưa ra các đánh giá cụ thể về các nội dung nghiên cứu

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Uông Bí

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Thành phố Uông Bí nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ninh cách thành phố Hạ Long 45 km, cách Hà Nội 120 km, cách Hải Phòng 30 km Tổng diện tích tự nhiên là 25546,40 ha chiếm 4,03% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh, Vị trí địa lý của Uông Bí nằm trong khoảng từ 21000’ đến 21010’ Vĩ độ Bắc và từ 106040’đến 106052’ Kinh độ Đông:

- Phía Bắc giáp huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang;

- Phía Nam giáp Thị xã Quảng Yên và thành phố Hải Phòng;

- Phía Đông giáp huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh;

- Phía Tây giáp thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Thành phố Uông Bí nằm cách không xa hai khu trung tâm kinh tế lớn Hải Phòng và Hạ Long, có đường Quốc lộ 18, đường Quốc lộ 10 và tuyến đường sắt Hà Nội - Kép - Bãi Cháy chạy qua đã tạo cho Uông Bí một vị trí thuận lợi trong giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài Uông Bí là một trong những địa bàn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh

* Địa hình, địa mạo

Thành phố Uông Bí nằm trong vòng cung Đông Triều - Móng Cái chạy dài theo hướng Tây - Đông, Kiến tạo địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, Phía Bắc cao nhất là dãy núi Yên Tử, có đỉnh 1,068m; núi Bảo Đài cao 875m; phía Nam thấp nhất là vùng bãi bồi; trũng ngập nước ven sông Đá Bạc, Địa hình chia cắt bởi 8 lạch triều lớn nhỏ từ sông Đá Bạc Theo đặc điểm địa hình Uông Bí có 2/3 diện tích là đất đồi núi dốc nghiêng từ phía Bắc xuống phía Nam và được phân tách thành 3 vùng: vùng cao chiếm 63,04% tổng diện tích

Trang 34

tự nhiên toàn Thành phố; vùng thung lũng chiếm 1,2% tổng diện tích tự nhiên toàn Thành phố và vùng thấp chiếm 35,76% diện tích tự nhiên Thành phố

* Khí hậu

Do vị trí địa lý và địa hình có nhiều dãy núi cao ở phía Bắc và thấp dần xuống phía Nam đã tạo cho Uông Bí một chế độ khí hậu đa dạng, phức tạp vừa mang tính chất khí hậu miền núi vừa mang tính chất khí hậu miền duyên hải

Dãy núi Bình Hương với độ cao 358 - 384m nằm giữa vùng núi Yên Tử

và núi Bảo Đài đã tạo nên dải thung lũng dài, hẹp và vùng đất thấp làm cho khí hậu Uông Bí phân thành nhiều tiểu vùng khác nhau: vùng núi cao phía Bắc đường 18B có khí hậu miền núi lạnh và mưa vừa; vùng núi cao dọc đường 18B có khí hậu thung lũng, ít mưa, mùa hè nóng, mùa đông lạnh; vùng núi nằm giữa phía Nam đường 18B và phía Bắc đường 18 kéo dài đến hạ lưu sông Đá Bạc có tích chất khí hậu miền duyên hải

11 có lượng mưa nhỏ nhất 29,2 mm Lượng mưa trung bình các tháng trong năm là 133,3 mm, Số ngày có mưa trung bình năm là 153 ngày

Với chế độ mưa tập trung và phân hoá theo mùa, cùng với các tác nhân

khác (hoạt động công nghiệp, chặt phá rừng ) đã chi phối mạnh nền sản xuất

nông nghiệp của Thành phố cũng như ảnh hưởng rõ rệt đến môi trường và đời

sống của nhân dân

Trang 35

c Chế độ gió

Có hai hướng gió thịnh hành là hướng Đông Nam thổi vào mùa hè và hướng Đông Bắc vào mùa đông Trong các tháng mùa hè thường chịu ảnh hưởng của mưa bão với sức gió và lượng mưa lớn

Gió bão: Cũng như các huyện thị khác ven biển Bắc Bộ, trung bình mỗi năm có khoảng 2-3 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp tới Uông Bí

d Độ ẩm không khí

Trung bình năm 81%, cao nhất 89,3%, thấp nhất 50,8% Tháng có độ

ẩm cao nhất là tháng 3, có độ ẩm trung bình là 84,8%, thấp nhất là tháng 11,

có độ ẩm trung bình là 76,5%

Nhìn chung, Uông Bí chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu Đông bắc Bắc

bộ mang nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài về mùa đông Với đặc điểm khí hậu như vậy Uông Bí có điều kiện tương đối thuận lợi để phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp Tuy nhiên với lượng mưa bão tập trung, địa hình dốc là những nguyên nhân chính gây nên xói mòn, úng lụt, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp nói riêng, phát triển kinh tế của Thành phố nói chung

400 m, độ sâu lúc thủy triều lên đảm bảo cho tàu 5,000 tấn và xà lan 400 -

500 tấn ra vào cảng; là đường thủy liên tỉnh, tàu bè và thuyền lớn có thể đi lại vận chuyển vật tư, hàng hóa đi Hải Dương, Hải Phòng và ngược lại

Trang 36

Ngoài sông Đá Bạc, Thành phố còn có các con sông khác như Vàng Danh, sông Uông và sông Sinh Sông Vàng Danh là thượng nguồn của sông Uông, là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho Uông Bí Sông Uông được tiếp nối từ sông Vàng Danh, kết thúc ở phần đất phường Quang Trung, là ranh giới giữa vùng nước ngọt và nước mặn, có đập tràn để lấy nước làm mát nhà máy điện Uông Bí, Sông Sinh bắt nguồn từ vùng núi phía tây bắc Uông Bí chảy qua trung tâm Thành phố (giữa phường Yên Thanh và phường Quang Trung), cắt trục đường 18 với chiều dài 15 km, sông này có khả năng cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, Các sông đều xuất phát từ các dãy núi cao chảy qua Thành phố và đổ vào sông Đá Bạc

TP.Uông Bí với địa hình phức tạp, phần lớn diện tích đất rừng là rừng thưa, độ che phủ thấp nên trong mùa mưa, lượng mưa lớn với năng lượng hạt mưa ít bị cản lại dẫn tới dòng nước sông suối chảy xiết, dòng chảy tập trung, gây úng lụt ở vùng phía Nam Thành phố Vào mùa khô hầu hết các sông, suối

bị cạn kiệt, nhiều khe suối không còn nguồn sinh thuỷ, mực nước sông xuống thấp, nước triều lấn sâu vào nội địa làm nhiễm mặn đồng ruộng ở các xã, phường phía Nam như Phương Nam, Phương Đông gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân

Ngoài hệ thống sông suối, Uông Bí còn có hệ thống hồ ao, đáng chú ý là hồ Yên Trung rộng 50 ha, hồ Tân Lập 16 ha, có khả năng cung cấp nước cho sản xuất, và có thể tổ chức thành những điểm nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho khách du lịch Tuy nhiên khả năng cung cấp nước của các hồ này cũng rất hạn chế về mùa khô

* Các nguồn tài nguyên

Trang 37

1 Nhóm đất mặn (Salic fluvisols: FLs): Nhóm này có 1 đơn vị đất phụ:

Đất mặn sú vẹt glây nông (Mm-gl): hình thành từ sản phẩm phù sa

sông, biển được lắng đọng trong môi trường nước biển, phân bố tại các xã, phường như Phương Nam, Phương Đông, Điền Công, Yên Thanh, Quang

Trung và Trưng Vương

2 Nhóm phèn mặn - SM: nhóm này có một đơn vị đất sau:

Đất phèn hoạt động mặn glây nông (SiM-gl): có diện tích 1603,87 ha,

được phân bố tại Điền Công, Phương Nam, Phương Đông, Yên Thanh, Quang Trung và Trưng Vương

3 Nhóm đất phù sa - P: nhóm đất này có 3 đơn vị đất sau:

* Đất phù sa không được bồi có tầng loang lổ: có diện tích 357,98 ha,

được phân bố tại các xã, phường Phương Nam, Phương Đông, Nam Khê, Trưng Vương, Quang Trung, Thanh Sơn, Yên Thanh

* Đất phù sa không được bồi có tầng loang lổ glây nông: có diện tích 374,89 ha,

được phân bố tại các phường Yên Thanh, Trưng Vương, Phương Đông

* Đất phù sa không được bồi có tầng loang lổ glây sâu: có diện tích

53,21 ha, được phân bố tại phường Nam Khê

4 Nhóm đất xám: nhóm đất này có một đơn vị đất sau:

* Đất xám điển hình sẫm màu: có diện tích 413,27 ha, được phân bố tại

Phương Nam, Phương Đông, Thanh Sơn, Yên Thanh

5 Đất đỏ vàng: nhóm đất này có 3 đơn vị đất sau:

* Đất đỏ vàng đá lẫn sâu: có diện tích 10.491,78 ha, được phân bố tại

Thượng Yên Công, Vàng Danh, Bắc Sơn

* Đất vàng nhạt đá sâu: có diện tích 5.351,28 ha, được phân bố tại

Thượng Yên Công, Phương Đông, Thanh Sơn, Quang Trung, Bắc Sơn, Trưng Vương, Nam Khê, Vàng Danh

* Đất vàng nhạt đá lẫn sâu: có diện tích 478,21 ha, được phân bố tại

Phương Đông, Thanh Sơn, Quang Trung

Trang 38

6 Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: nhóm này có một đơn vị đất:

* Đất mùn vàng nhạt trên núi đá nông: có diện tích 319,34 ha, được phân

bố tại dãy núi Yên Tử thuộc xã Thượng Công Yên và phường Vàng Danh

7 Nhóm đất nhân tác:

Chủ yếu hình thành do tác động của con người khai hoang đưa vào sản xuất nông nghiệp nhiều năm, làm cho hình thái tự nhiên ban đầu bị thay đổi Loại đất này ở Thành phố do nhân dân khai hoang làm ruộng trồng lúa nước

- Tài nguyên nước

Tài nguyên nước của Thành phố Uông Bí có từ các nguồn nước mặt, nước ngầm, Chế độ thuỷ văn của Uông Bí chịu ảnh hưởng trực tiếp của biên

độ giao động thuỷ triều trung bình 0,6 m

- Nguồn nước mặt:

Có 4 con sông chính chảy qua địa bàn Thành phố là sông Đá Bạc, sông Vàng Danh, sông Uông, sông Sinh, Ngoài ra còn hệ thống suối, kênh mương

và hồ đập cung cấp nước cho toàn Thành phố

Nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất của Thành phố Uông Bí chủ yếu từ các nguồn sau: Nhà máy nước Lán Tháp công suất thiết kế 5,000m3/ngày đêm lấy nước trên sông Vàng Danh cung cấp cho Uông Bí và Hải Phòng Trước đây hồ Yên Trung là nơi cung cấp nước cho bệnh viện Thụy Điển với công suất 50 m3/giờ, nhưng hiện nay nước hồ bị ô nhiễm không còn khả năng sử dụng, Ngoài ra nguồn nước mặt còn được lấy từ hồ Yên Lập bằng kênh N2 chạy qua phường Nam Khê, Trưng Vương, Quang Trung và Phương Đông

Nhìn chung nguồn nước mặt của Thành phố Uông Bí đang bị cạn dần

và ô nhiễm do nạn phá rừng và khai thác than lộ thiên

- Nguồn nước ngầm:

Do địa hình dốc, nguồn nước ngầm hạn chế, mạch nước sâu Nhìn chung nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp ở Uông Bí rất hạn chế, đặc biệt rất khó khăn vào mùa khô Trong thời

Trang 39

gian tới cần có biện pháp cải tạo, xây dựng các công trình dự trữ nước mưa, phủ xanh đất trống, bảo vệ rừng và đưa nước ngọt từ nơi khác đến để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố

- Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2015 thì Thành phố Uông Bí có diện tích đất lâm nghiệp là 13583,58 ha trong đó: Đất rừng sản xuất là 9684,24 ha; đất rừng phòng hộ là 1504,51 ha; đất rừng đặc dụng là 2394,83 ha

Thảm thực vật rừng của Uông Bí nhìn chung là nghèo, nhỏ và phân tán Động vật rừng ở Uông Bí khá phong phú, đa dạng tập trung chủ yếu ở khu vực rừng Yên Tử, Tổng số loài động vật trên cạn có xương sống là 206 loài, trong đó thú có 40 loài, chim 120 loài, bò sát 25 loài, lưỡng thể 21 loài, nhưng số lượng mỗi loài động vật không nhiều Hiện có 20 loài quý hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ (thú 9 loài, chim 4 loài, bò sát 7 loài)

Rừng ở Uông Bí có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển kinh

tế - xã hội, bảo vệ môi sinh khu vực, giữ nguồn nước, tạo cảnh quan, giữ gìn các di tích lịch sử văn hoá, Vì vậy cần phải có chính sách đầu tư, khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng

- Tài nguyên khoáng sản

Than đá là nguồn khoáng sản lớn nhất của Uông Bí, tổng diện tích dành cho khai thác than khoảng trên 600 ha Trữ lượng của vùng than Đông Triều - Mạo Khê - Uông Bí đạt 1,4 tỷ tấn, chiếm 40% trữ lượng than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (3,5 tỷ tấn) Công nghiệp khai thác than ở Uông Bí đã được thực hiện từ năm 1916, Sản lượng khai thác than hiện nay trên vùng Yên Tử, Vàng Danh đạt hơn 3,85 triệu tấn/năm Đây là ngành công nghiệp chủ đạo đóng góp rất lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố

Ngoài than đá, Uông Bí còn có khả năng khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng (đá, cát, sỏi, xi măng, vôi, gạch, ngói ở các xã, phường như Phương Nam, Thượng Yên Công, Phương Đông, Vàng Danh) cung cấp nhu cầu về vật liệu xây dựng cho địa bàn Thành phố và các vùng lân cận

Trang 40

Đá vôi với trữ lượng 28 - 30 triệu m3 phân bố chủ yếu ở Phương Nam (hiện nay nhà máy xi măng Lam Thạch đã được xây dựng với công suất gần

50 vạn tấn/năm; khai thác đá với quy mô lớn công suất 40 vạn m3/năm); đất sét có trữ lượng gần 600 nghìn tấn ở Bãi Soi - phường Bắc Sơn; tại xã Thương Yên Công có tiềm năng về đất sét với diện tích khoảng 50 ha ở khu Khe Giang, sét ở đây có chất lượng tốt, có thể sản xuất được gạch ngói cao cấp; cát xây dựng trữ lượng 5-10 triệu m3 phân bố chủ yếu ở Thanh Sơn và Phương Đông

- Tài nguyên nhân văn

Người Uông Bí vốn là dân cư của bộ lạc Ninh Hải đã cùng các bộ lạc khác khai sơn phá thạch dựng nên nước Văn Lang của các vua Hùng Dưới triều đại nhà Trần, Uông Bí với Yên Tử là cái nôi của Phật giáo Việt Nam dòng Thiền phái Trúc Lâm, Từ xa xưa, người dân Uông Bí đã có nghề tiểu thủ công mỹ nghệ khá tinh xảo (di chỉ khảo cổ phát hiện ở Vành Kiệu 2 - Phương Nam có những quan tài hình thuyền được chế tạo rất công phu và những hiện vật quý như dao găm đồng, tấm che ngực có đục hoa văn, chiếc xanh đồng hiện nay đang được trưng bầy ở bảo tàng Quảng Ninh)

Chùa Yên Tử được xây dựng vào cuối thế kỷ XI, đạo sĩ An Kỳ Sinh đã

tu hành đắc đạo ở chùa này Cuối thời Lý nhà sư Huyền Quang tu hành ở chùa Phù Vân được vua Trần Thái Tông phong tặng là Phù vân Quốc sư Đến năm 1299 vua Trần Nhân Tông đến chùa Yên Tử tu hành, lấy pháp danh là Điếu Ngự Giác Hoàng, Sau khi ông mất người kế tục ông là Pháp Loa

Ngày nay Thành phố có nhiều dân tộc cùng sinh sống như dân tộc Kinh, Tày, Hoa, Sán Dìu, Nùng, Dao, Thanh Y, Mường, Thổ Trong đó dân tộc Kinh chiếm trên 90%, Nhân dân Uông Bí có truyền thống cùng nhau đoàn kết đấu tranh bảo vệ quê hương

Với truyền thống lịch sử, nguồn nhân lực dồi dào, đội ngũ công nhân được đào tạo có trí, đức và kinh nghiệm sản xuất, có tính cần cù, chịu khó và những tiềm năng sẵn có, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh

Ngày đăng: 15/04/2021, 07:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Chu Quang Kỳ (2014), Đánh giá ảnh hưởng của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013, Luận văn Thạc sỹ Quản lý đất đai, Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh hưởng của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013
Tác giả: Chu Quang Kỳ
Năm: 2014
9. Đào Trung Chính, Đặng Hùng Võ, Nguyễn Thanh Trà (2013), Đánh giá thực tiễn triển khai công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật, Tạp chí khoa học và phát triển 2013, tr. 328-336 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực tiễn triển khai công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật, Tạp chí khoa học và phát triển 2013
Tác giả: Đào Trung Chính, Đặng Hùng Võ, Nguyễn Thanh Trà
Năm: 2013
12. Lê Du Phong (2007), Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội - 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia
Tác giả: Lê Du Phong
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2007
13. Lê Tiến Dũng (2016), Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, Luận văn Thạc sỹ nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 2016
14. Mai Mộng Hùng (2008), ''Tìm hiểu pháp luật đất đai của một số nước trên thế giới'', tạp chí Địa chính số 1, tháng 1/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Tìm hiểu pháp luật đất đai của một số nước trên thế giới''
Tác giả: Mai Mộng Hùng
Năm: 2008
15. Nguyễn Duy Thạch (2007), Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (qua thực tiễn thi hành tại TP Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (qua thực tiễn thi hành tại TP Hà Nội)
Tác giả: Nguyễn Duy Thạch
Năm: 2007
18. Nguyễn Thị Thuận (2012), Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, GPMB tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, TP Hải Phòng. Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐHKHTN - ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, GPMB tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, TP Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Thị Thuận
Năm: 2012
19. Phạm Anh Tuấn, (2013), Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TP Hải Phòng. Luận văn thạc sỹ, Trường ĐHKHTN-ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TP Hải Phòng
Tác giả: Phạm Anh Tuấn
Năm: 2013
27. Tạp chí Cộng sản (2007). Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam, http://www.tapchicongsan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam
Tác giả: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2007
28. Trần Thị Hợi (2008), Nghiên cứu tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất của một số dự án trên địa bàn huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên. Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất của một số dự án trên địa bàn huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Trần Thị Hợi
Năm: 2008
29. Trương Ánh Tuyết (2002), Kinh nghiệm đền bù giải phóng mặt bằng ở một số nước, Thời báo Tài chính Việt Nam, số 131(872), ngày 01/11/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm đền bù giải phóng mặt bằng ở một số nước, Thời báo Tài chính Việt Nam
Tác giả: Trương Ánh Tuyết
Năm: 2002
1. Giá đất: Theo ông bà, giá đất bồi thường hiện nay của tỉnh so với giá đất trên thị trường tại địa phương ?Cao: . Tương đương: Thấp hơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: đất: Theo ông bà, giá "đất bồi thường hiện nay của tỉnh so với giá "đất trên thị trường tại địa phương
3. Giá bồi thường tài sản, hoa màu: Theo ông(bà) đơn giá bồi thườ ng, hoa màu, tài sản do tỉnh quy định hiện nay so với thực tế ?Thấp hơn: Tương đương: Cao hơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: ng, hoa "màu, tài sản do tỉnh quy định hiện nay so với thực tế
37.Website:http://noichinh.vn/ho-so-tu-lieu/201309/kinh-nghiem-thu-hoi-dat-cuamot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-292298/ Link
38.Website:http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/NghiencuuTraodoi/2009/866/Chinh-sach-den-bu-khi-thu-hoi-dat-cua-mot-so-nuoc.aspx Link
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2015), Báo cáo tình hình triển khai công tác thu hồi đất phục vụ CNH-HĐH 5 năm 2010-2015 Khác
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Thông tư 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ TN&MT về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ Khác
3. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai Khác
4. Chính phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
5. Chính phủ (2007), Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về quy định bổ sung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w