1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng điều kiện lao động, sức khỏe, một số yếu tố liên quan và hiệu quả giải pháp can thiệp ở người chuyên canh vải huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang

168 35 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 6,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, các nghiên cứu về điều kiện lao động, sức khỏe của người lao động trong sản xuất nông nghiệp nói chung đã được nhiều nhà khoa học quan tâm song không thường xuyên và có hệ thố

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

-  -

NGUYỄN HOÀNG QUỲNH

THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG, SỨC KHỎE, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ HIỆU QUẢ GIẢI PHÁP CAN THIỆP Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI

HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN - NĂM 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

-  -

NGUYỄN HOÀNG QUỲNH

THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG, SỨC KHỎE, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ HIỆU QUẢ GIẢI PHÁP CAN THIỆP Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI

2 PGS.TS Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

THÁI NGUYÊN - NĂM 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tôi xin đảm bảo những số liệu

và kết quả trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Hoàng Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Giám hiệu, các khoa, phòng cùng toàn thể các thầy cô giáo của Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Với lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng của tôi, xin bày tỏ lời cảm

ơn chân thành tới GS.TS Đỗ Văn Hàm, PGS TS Phạm Xuân Đà và PGS TS Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, những người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc Sở Y tế Bắc Giang đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi được tham gia học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã, Trạm Y tế xã, nhân viên y tế thôn bản và nhân dân xã Thanh Hải và xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các đồng chí cán

bộ, giáo viên Trường Trung cấp Y tế Bắc Giang và các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành

luận án

Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới Gia đình của tôi, là nguồn động viên, khích lệ và truyền nhiệt huyết cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 19 tháng 4 năm 2021

Tác giả

Nguyễn Hoàng Quỳnh

Trang 6

1.2.1 Thực trạng điều kiện lao động trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới 4 1.2.2 Thực trạng điều kiện lao động trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 7 1.3 Tình hình sức khỏe, bệnh tật của người lao động trong sản xuất nông

nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam

11

1.3.1 Sức khỏe, bệnh tật của người lao động nông nghiệp trên thế giới 11 1.3.2 Sức khỏe, bệnh tật của người lao động nông nghiệp ở Việt Nam 14 1.4 Những yếu tố liên quan đến sức khỏe, bệnh tật của người lao động trong sản xuất nông nghiệp

Trang 7

2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 31

2.4.1 Biến số, chỉ số về đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 35

2.4.3 Biến số, chỉ số về tình trạng sức khỏe, bệnh tật 37 2.4.4 Biến số, chỉ số về các yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc các chứng

bệnh thường gặp ở người chuyên canh vải

37

2.4.5 Biến số, chỉ số về hiệu quả can thiệp chăm sóc sức khỏe 38

3.2 Điều kiện lao động và sức khỏe, bệnh tật của người chuyên canh vải 48 3.3 Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc các chứng, bệnh thường gặp

ở người chuyên canh vải

4.2 Điều kiện lao động và sức khỏe, bệnh tật của người chuyên canh vải 81

Trang 8

4.2.1 Điều kiện lao động của người chuyên canh vải 82 4.2.2 Thực trạng sức khỏe, bệnh tật của người chuyên canh vải 88 4.3 Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc các chứng, bệnh thường gặp

ở người chuyên canh vải

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 118

PHỤ LỤC

Trang 9

HQCT : Hiệu quả can thiệp

KAP : Knowledge Attiute Practice (Kiến thức, thái độ, thực hành) LĐNN : Lao động nông nghiệp

NVYTTB : Nhân viên y tế thôn bản

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

1 DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi theo giới của đối tượng nghiên cứu 47 Bảng 3.2 Thời gian canh tác vải (tuổi nghề) của đối tượng nghiên cứu 48 Bảng 3.3 Thời gian làm việc trong ngày của người chuyên canh vải 48 Bảng 3.4 Thực trạng sử dụng phương tiện bảo hộ lao động của người

chuyên canh vải

50

Bảng 3.5 Thực trạng đảm bảo ATVSLĐ khi sử dụng HCBVTV của

người chuyên canh vải

51

Bảng 3.6 Một số chứng và bệnh thường gặp của người chuyên canh

vải (Khám toàn diện)

55

Bảng 3.7 Các triệu chứng (dấu hiệu) thần kinh, thể chất và thần kinh

thực vật của người chuyên canh vải

55

Bảng 3.8 Các triệu chứng (dấu hiệu) ở mắt, tiêu hóa và ngoài da của

người chuyên canh vải

56

Bảng 3.9 Kết quả định lượng hoạt tính enzym cholinesterase trong

máu của đối tượng nghiên cứu

57

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa nhóm tuổi, giới với nguy cơ mắc

chứng bệnh đau đầu, viêm mũi họng

58

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa nhóm tuổi, giới với nguy cơ mắc bệnh

viêm kết mạc, viêm da

58

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa KAP về ATVSLĐ với nguy cơ mắc

chứng bệnh đau đầu, viêm mũi họng

59

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa KAP về ATVSLĐ với nguy cơ mắc

bệnh viêm kết mạc, viêm da

60

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thời gian làm việc trong ngày với

nguy cơ mắc chứng bệnh đau đầu, viêm mũi họng

61

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thời gian làm việc trong ngày với

nguy cơ mắc bệnh viêm kết mạc, viêm da

61

Trang 11

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa việc sử dụng phương tiện BHLĐ với

nguy cơ mắc chứng bệnh đau đầu và viêm mũi họng

62

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa việc sử dụng phương tiện BHLĐ với

nguy cơ mắc bệnh viêm kết mạc, viêm da

63

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa việc đảm bảo ATVSLĐ khi sử dụng

HCBVTV với nguy cơ mắc chứng bệnh đau đầu và viêm mũi họng

64

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa việc đảm bảm ATVSLĐ khi sử dụng

HCBVTV với nguy cơ mắc bệnh viêm kết mạc, viêm da

66

Bảng 3.20 KAP về ATVSLĐ và dự phòng bệnh tật trước và sau can

thiệp của người chuyên canh vải

Bảng 3.23 Hiệu quả can thiệp đối với việc sử dụng phương tiện BHLĐ

của người chuyên canh vải

70

Bảng 3.24 Kết quả về ATVSLĐ khi sử dụng HCBVTV trước và sau

can thiệp của người chuyên canh vải

71

Bảng 3.25 Hiệu quả can thiệp về ATVSLĐ khi sử dụng HCBVTV của

người chuyên canh vải

72

Bảng 3.26 Kết quả giảm tai nạn lao động và giảm say nắng, say nóng

trước và sau can thiệp của người chuyên canh vải

73

Bảng 3.27 Hiệu quả can thiệp đối với việc cải thiện tai nạn lao động và

giảm say nắng, say nóng của người chuyên canh vải

73

Bảng 3.28 Kết quả khám phát hiện bệnh trước và sau can thiệp của

người chuyên canh vải

74

Bảng 3.29 Hiệu quả can thiệp đối với việc khám phát hiện bệnh của

người chuyên canh vải

75

Trang 12

Bảng 3.30 Tỷ lệ mắc chứng bệnh đau đầu, viêm mũi họng trước và sau

can thiệp của người chuyên canh vải

75

Bảng 3.31 Tỷ lệ mắc bệnh viêm kết mạc, viêm da trước và sau can

thiệp của người chuyên canh vải

76 Bảng 3.32 Hiệu quả can thiệp giảm một số chứng bệnh thường gặp ở

người chuyên canh vải

76

Bảng 3.33 Phân loại sức khỏe trước và sau can thiệp của người chuyên

canh vải

77 Bảng 3.34 Hiệu quả can thiệp đối với sức khỏe của người chuyên canh

vải

77

Bảng 3.35 Hoạt tính enzym cholinesterase trong máu trước và sau can

thiệp ở người chuyên canh vải

78

Bảng 3.36 Hiệu quả can thiệp đối với hoạt tính enzym cholinesterase

trong máu ở người chuyên canh vải

79

2 DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 47 Biểu đồ 3.2 Nhiệt độ trung bình của huyện Lục Ngạn 49

Biểu đồ 3.4 Tốc độ gió trung bình tại huyện Lục Ngạn 50

Biểu đồ 3.5 Thực trạng khám phát hiện bệnh của người chuyên canh vải 53 Biểu đồ 3.6 Thực trạng tai nạn lao động và say nắng, say nóng của

người chuyên canh vải

54

Biểu đồ 3.7 Phân loại sức khỏe của đối tượng nghiên cứu 56

Trang 13

Hộp 3.1 Thời gian, điều kiện an toàn vệ sinh lao động của người

chuyên canh vải

Hộp 3.4 Các giải pháp an toàn và chăm sóc sức khỏe của người

chuyên canh vải

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một nước nông nghiệp với trên 65,6% dân số sinh sống và làm việc liên quan đến chăn nuôi, trồng trọt Cuộc sống và sức khỏe của người lao động gắn bó với môi trường tự nhiên và các điều kiện lao động Trong lao động sản xuất, người dân chịu tác động của phơi nhiễm với các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong sản xuất, chuyên canh Sản xuất nông nghiệp của nước ta đang phát triển với tốc độ cao theo hướng công nghiệp, hàng hoá, năng suất, chất lượng và hiệu quả Tuy nhiên những vấn đề về môi trường, lao động có ảnh hưởng tới sức khỏe, phát triển bền vững và những phát sinh nội tại trong quá trình sản xuất nông nghiệp đang đòi hỏi chúng ta cần quan tâm giải quyết

Quá trình canh tác nông nghiệp nói chung, cây vải nói riêng luôn tồn tại những ảnh hưởng đối với sức khỏe và môi trường sinh thái Người lao động chuyên canh vải không những phải lao động thường xuyên ở ngoài trời, tiếp xúc với các yếu tố vật lý mà còn phải tiếp xúc thường xuyên với nhiều hóa chất độc hại do chính họ đưa vào môi trường bởi nhu cầu, mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế Các sản phẩm như phân bón, HCBVTV và nhiều loại hoá chất có tác dụng đến quá trình sinh trưởng đều có thể có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lao động [112] Phần lớn những hợp chất này rất bền vững, tích lũy lâu dài trong mô mỡ, lipoprotein theo thời gian có thể gây các bệnh như ung thư, bệnh về mũi họng… [44] Những bất cập, ảnh hưởng này đang là vấn đề khó giải quyết đối với các nhà khoa học cũng như cả cộng đồng đặc biệt là sự ảnh hưởng xấu tới môi trường sống và sức khoẻ của con người [28], [30], [102] Điều này đã được nhiều nhà khoa học ghi nhận, đặc biệt là về tỷ lệ bệnh tật của người nông dân khá cao Một nghiên cứu của Ratana Sapbamrer

và Sakorn Nata (2014) ở Thái Lan cho thấy các biểu hiện sức khỏe thường gặp của người nông dân khi tiếp xúc với HCBVTV là đau tức ngực (19,8%), ho (28%), tê bì (41,2%), đau đầu (30,8%), khô họng (23,6%) [102] Nghiên cứu của Trần Văn Sinh (2009) trên người chuyên canh vải tại huyện Lục Ngạn, Bắc

Trang 15

Giang cho thấy người nông dân chuyên canh vải thường mắc các chứng bệnh như đau đầu 32,89%, viêm mũi họng mạn tính 31,35%, mất ngủ 25,65%, viêm kết mạc mắt 22,14%, [36]

Ở nước ta, các nghiên cứu về điều kiện lao động, sức khỏe của người lao động trong sản xuất nông nghiệp nói chung đã được nhiều nhà khoa học quan tâm song không thường xuyên và có hệ thống, đặc biệt là các nghiên cứu về các giải pháp dự phòng [42] Các nghiên cứu cũng chủ yếu tập trung ở người canh tác lúa, rau, cà phê, chè Những nghiên cứu về điều kiện lao động, sức khỏe của người chuyên canh vải còn rất ít [23], [28] Kết quả của một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy, điều kiện an toàn vệ sinh lao động của người lao động trong sản xuất nông nghiệp chưa tốt, đặc biệt là việc tiếp xúc với các yếu tố nguy hại, không đảm bảo an toàn cũng như không sử dụng hoặc sử dụng không đầy đủ các phương tiện bảo hộ lao động [35], [110] Một số nghiên cứu trước đây đã đưa ra một số giải pháp can thiệp nhằm tạo điều kiện an toàn vệ sinh lao động và dự phòng bệnh tật ở người nông dân Tuy nhiên chưa có nghiên cứu đầy đủ nào được thực hiện trên đối tượng người chuyên canh vải

Vùng chuyên canh vải tại Bắc Giang chiếm diện tích lớn nhất cả nước Năm 2015, với tổng diện tích trồng vải toàn tỉnh là trên 31.000 ha, cho sản lượng đạt 195.000 tấn quả tươi Trong đó, huyện Lục Ngạn là vùng chuyên canh vải lớn nhất tỉnh với trên 17.000 ha, đạt sản lượng 118.000 tấn [36]

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng điều kiện lao động, sức khỏe, một số yếu tố liên quan và hiệu quả giải pháp can thiệp ở người

chuyên canh vải huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” với các mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng điều kiện lao động, sức khỏe của người chuyên canh vải huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang năm 2016

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến sức khỏe của người chuyên canh vải

3 Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp chăm sóc sức khỏe người lao động chuyên canh vải huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Một số khái niệm, định nghĩa liên quan

An toàn lao động: là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố

nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động [34]

Vệ sinh lao động: là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại

gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động [34]

Môi trường lao động (working environment): là tập hợp các điều kiện và

hiện tượng bên trong và bên ngoài tại nơi sản xuất có ảnh hưởng tới sức khỏe

và khả năng lao động, sản xuất Theo nghĩa rộng: “Môi trường lao động” là tổng hợp tất cả các nhân tố như không khí, đất, nước, ánh sáng, âm thanh, nhà xưởng, máy móc, phương tiện, cảnh quan, các yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến chất lượng lao động và cuộc sống của con người cũng như tài nguyên cần thiết cho sinh sống, sản xuất của con người Môi trường lao động nông nghiệp (LĐNN) được phân loại theo ba lĩnh vực là ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi

và ngành sơ chế nông phẩm Người lao động nông nghiệp có môi trường lao động chủ yếu làm việc ngoài trời, chịu tác động trực tiếp bởi các yếu tố khí hậu như nắng, mưa, gió và ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện sống, môi trường lao động độc hại, gánh nặng về thể lực mà chủ yếu là lao động thủ công

Điều kiện lao động: là tổng thể các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, kỹ

thuật được thể hiện bằng các công cụ, phương tiện lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, quy trình công nghệ ở trong một không gian nhất định và việc bố trí sắp xếp, tác động qua lại giữa các yếu tố đó với con người, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động Điều

Trang 17

kiện lao động cùng với sự xuất hiện lao động của con người và được phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật Điều kiện lao động còn phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên của từng nơi và mối quan hệ của con người trong xã hội [14], [51]

Yếu tố nguy hiểm: là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử

vong cho con người trong quá trình lao động [34]

Yếu tố có hại: là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người

trong quá trình lao động [34]

Hóa chất bảo vệ thực vật: là danh từ chung để chỉ một chất hoặc một

hợp chất bất kỳ có tác dụng dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sinh vật gây hại kể cả các vector gây bệnh cho người và động vật, các loại côn trùng khác hay động vật có hại trong quá trình sản xuất, chế biến, dự trữ, xuất khẩu, tiếp thị lương thực, sản phẩm trong nông nghiệp, sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc hoặc phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng [16], [32]

Tai nạn lao động: là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức

năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động [6]

Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của

nghề nghiệp tác động đối với người lao động [33, 34]

Phương tiện bảo vệ cá nhân: là những dụng cụ, phương tiện, trang thiết

bị thiết yếu của mỗi người lao động cần sử dụng trong khi làm việc để cơ thể

không bị tác động xấu các yếu tố có hại phát sinh trong môi trường [10]

1.2 Điều kiện lao động trong sản xuất nông nghiệp

1.2.1 Thực trạng điều kiện lao động trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới

Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), nông nghiệp là một trong những ngành nguy hiểm nhất trong tất cả các lĩnh vực kinh tế và nhiều lao động nông nghiệp bị tai nạn lao động và bị bệnh liên quan mỗi năm

Trang 18

Vấn đề sử dụng phương tiện BHLĐ trong lao động nông nghiệp cũng rất đáng quan tâm Kết quả nghiên cứu của của Okoffo E D và cộng sự năm 2016

ở Ghana đã chỉ ra rằng tỷ lệ người nông dân sử dụng phương tiện BHLĐ khá thấp, tỷ lệ sử dụng kính mắt bảo hộ ở người nông dân chỉ chiếm 20,8%, sử dụng khẩu trang là 35,4% [93] Một nghiên cứu của Adesuyi A.A và cộng sự năm 2018 tại Nigeria cho thấy, chỉ có 11% đối tượng nghiên cứu sử dụng đầy

đủ các phương tiện BHLĐ khi làm việc tại nông trại Có đến 84,6% nông dân không mang khẩu trang khi làm việc; 59,6% nông dân không mặc quần áo bảo

hộ, 46,1% nông dân không đeo kính bảo hộ khi làm việc [53] Nghiên cứu của tác giả Sapbamrer R và cộng sự cho thấy, tỷ lệ người nông dân mặc quần áo dài chiếm từ 66,1% đến 71,1%, đội mũ 47,3%, đeo kính 24,3%, đeo găng tay 40,5%, khẩu trang 43,2% [103] Một nghiên cứu ở Mỹ chỉ ra rằng, tỷ lệ người nông dân không mặc quần áo dài khi phun HCBVTV chiếm từ 14 đến 37%, không đeo kính chiếm 70%, không đeo găng tay chiếm 60% [79] Nghiên cứu của tác giả Manyilizu W.B và cộng sự tại Tanzania cho thấy, tỷ lệ người nông dân sử dụng găng tay khi sử dụng HCBVTV chỉ chiếm 8,6%, sử dụng kính chiếm 3,1%, sử dụng mũ chiếm 1,6%, sử dụng khẩu trang chiếm 3,1%, sử dụng mũ chiếm 35,2% [88] Tác giả Priyadharshini, U K và cộng sự chỉ ra rằng, có 71% người nông dân sử dụng một hoặc nhiều hơn các phương tiện bảo hộ cá nhân, như có 65% nông dân sử dụng quần áo bảo hộ, 20% sử dụng khẩu trang khi phun HCBVTV, 5% sử dụng găng tay, 15% sử dụng ủng khi phun HCBVTV [95] Nghiên cứu của tác giả Rakesh P.S và cộng sự cho kết quả, tỷ lệ người nông dân sử dụng găng tay khi phun HCBVTV là 47,9%, sử dụng quần áo bảo hộ là 61,2%, sử dụng khẩu trang là 81,6%, mang ủng là 28,6% Tỷ lệ sử dụng tất cả các phương tiện phòng hộ cá nhân là 27,6%, không

sử dụng bất cứ phương tiện phòng hộ cá nhân nào là 18,4% [97]

Vấn đề sử dụng HCBVTV trong nông nghiệp cũng là một vấn đề báo động Nhiều nghiên cứu cho thấy vấn đề sử dụng, bảo quản HCBVTV của người nông dân còn nhiều bất cập Phần lớn người nông dân không tuân thủ

Trang 19

nghiêm ngặt theo hướng dẫn sử dụng, bảo quản của nhà sản xuất, việc sử dụng các phương tiện bảo hộ lao động khi phun HCBVTV còn chưa được coi trọng,

sử dụng HCBVTV trong điều kiện thời tiết không đúng [75] Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc (2014) cũng cho thấy, có từ 55% - 65% người lao động trong sản xuất nông nghiệp thiếu kiến thức và không sử dụng các thiết bị bảo

hộ khi sử dụng HCBVTV Ngoài ra, có đến 80% người nông dân trong nghiên cứu vứt vỏ HCBVTV ngay tại ruộng Bên cạnh đó, vẫn còn 25% người nông dân cho rằng HCBVTV không ảnh hưởng đến sức khỏe của họ và hơn 30% cho rằng không ảnh hưởng đến môi trường hoặc nguồn nước [110] Một nghiên cứu của tác giả Machiria I và cộng sự năm 2012 cho thấy, hầu hết nông dân trong nghiên cứu (85%) có hành vi sử dụng HCBVTV không đúng, trong

đó, có 23% bảo quản HCBVTV không an toàn, 40% đối tượng nghiên cứu không xử lý vỏ đựng HCBVTV sau khi phun theo quy định, 68% đối tượng nghiên cứu không sử dụng các thiết bị BHLĐ cần thiết tối thiểu, 27% đối tượng nghiên cứu đã phun quá liều HCBVTV [87] Nghiên cứu của tác giả Barron Cuenca và cộng sự (2020) cho thấy, chỉ có 73% người nông dân thay quần áo sau khi phun HCBVTV, có 39% người nông dân cất HCBVTV và dụng cụ phun trong nhà, có 27% vứt vỏ bao bì HCBVTV xuống sông [56] Nghiên cứu của tác Santaweesuk S và cộng sự tại Thái Lan năm 2020 cho thấy, phần lớn nông dân (chiếm 46,6%) không thực hành đúng việc sử dụng HCBVTV Hơn một nửa nông dân (chiếm 59,1%) tắm rửa ngay sau khi phun HCBVTV Có 20,4% nông dân không cất vỏ HCBVTV đúng nơi quy định Có 30,6% nông dân không sử dụng phương tiện bảo hộ cá nhân đúng cách Ngoài

ra, nhiều nông dân sử dụng HCBVTV không phù hợp như pha trộn nhiều loại HCBVTV với nhau, ăn uống trong khi phun, không thay quần áo sau khi phun [101]

Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy điều kiện lao động của người lao động trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới phần lớn chưa đảm bảo ATVSLĐ, đặc biệt là vấn đề sử dụng đầy đủ phương tiện BHLĐ chiếm tỷ

Trang 20

lệ thấp; hành vi sử dụng, bảo quản HCBVTV chưa an toàn và đây là điều rất cần được quan tâm giải quyết

1.2.2 Thực trạng điều kiện lao động trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

Tại Việt Nam, vấn đề ATVSLĐ trong sản xuất nông nghiệp đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Bên cạnh đó, việc sử dụng HCBVTV an toàn sẽ góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao sức khỏe cho người nông dân [1] Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh năm 2012 cho thấy vấn đề thực hành an toàn máy của người nông dân chưa cao Có tới 46,6% các

hộ gia đình (HGĐ) không lắp đặt che chắn cho các bộ phận chuyển động có nguy cơ gây tai nạn; 71,9% các HGĐ không treo các chỉ dẫn an toàn khi vận hành máy; 65,7% HGĐ không được hướng dẫn về an toàn sử dụng HCBVTV; 23,4% người nông dân không được trang bị BHLĐ đủ khi phun thuốc [35] Theo báo cáo của Bộ Lao động -Thương Binh và Xã hội, TNLĐ trong nông nghiệp chiếm 5% số TNLĐ trong nước, với 5,5% số vụ tai nạn chết người và tần suất tai nạn thương tích (không tử vong) khoảng 0,024 So sánh nguy cơ tai nạn thương tích trong các ngành nghề khác, lao động nông nghiệp là ngành có nguy cơ tai nạn thương tích đứng sau ngành xây dựng và khai khoáng và đây là thực trạng đang rất cần được quan tâm [21]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh năm 2010 trên đối tượng người dân chuyên canh chè tại tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ người pha trộn nhiều loại HCBVTV trong một bình phun cao (chiếm 82,3 %) Tỷ lệ người thực hành pha HCBVTV đúng thấp (chiếm 17,4%) Vẫn còn 21,8 % số người sau phun vứt bao bì, chai lọ đựng HCBVTV bừa bãi hoặc sử dụng lại vào việc khác Bên cạnh đó, tỷ lệ người đi phun HCBVTV lần gần đây nhất có sử dụng khẩu trang hoặc khăn che cao (chiếm 92,2 %), nhưng sử dụng khẩu trang chưa đúng kỹ thuật Tỷ lệ thấp nhất là sử dụng kính khi tiếp xúc HCBVTV chỉ chiếm 11,9 %, tỷ lệ sử dụng đầy đủ các loại phương tiện bảo vệ cá nhân cần thiết rất thấp (chiếm 6,5%) [23]

Trang 21

Loại BHLĐ được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu của Trần Văn Sinh (2009) trên đối tượng người chuyên canh vải là khẩu trang, chiếm tỷ lệ 97,58%, tiếp theo là găng tay (51,31%), còn các loại khác tỷ lệ thấp như kính (27,19%); quần áo BHLĐ (32,89%) Bên cạnh đó, số người chuyên canh vải

có thời gian tiếp xúc với HCBVTV >4 giờ/ ngày chiếm 30,3% [36]

Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn năm 2012 cho kết quả nguyên nhân TNTT thường gặp trong lao động trồng chè là do vật sắc nhọn (38,1%), ngộ độc (17,5%), ngã (17,5%) và say nắng/nóng (11,1%) TNTT xảy ra ở tất cả các công đoạn lao động sản xuất chè, thường gặp nhất là công đoạn chăm sóc (39,7%), thu hoạch (20,6%) và vận chuyển (12,7%) Công cụ lao động thủ công gây TNTT chiếm 62,5% và do máy móc sản xuất chè chiếm 37,5% số trường hợp TNTT Một số nguy cơ còn tồn tại trong thực hành an toàn HCBVTV là vỏ chai đựng hóa chất chưa được xử lý hợp lý (43,5%), bảo quản thuốc chưa đúng (68,6%), thuốc để trong bếp (94,9%), trong chuồng gia súc (25,8%), bình phun không treo cao (28,9%) và người sử dụng hóa chất chưa được đào tạo (65,3%) Người lao động có đầy đủ khẩu trang, mũ, kính, găng tay, ủng khi phun thuốc sâu chỉ chiếm 52,4% và 18,8% không sử dụng thường xuyên các phương tiện bảo hộ khi làm việc [47]

Tác giả Hoàng Trung Kiên trong nghiên cứu của mình trên người nông dân tại Thái Nguyên đã chỉ ra rằng, có 7,6% người nông dân không phun HCBVTV xuôi theo chiều gió, có 28,2% người nông dân ăn uống trong quá trình phun HCBVTV, 47,1% người dân để vỏ HCBVTV trong nhà, 12,9% người nông dân không tắm ngay sau khi phun HCBVTV [25]

Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Toàn tại Cần Thơ cho thấy, sau khi được sử dụng phần lớn hộp, chai và vỏ thuốc BVTV bị vứt trực tiếp tại nơi sử dụng Khoảng 70% nông hộ được phỏng vấn vứt bỏ vỏ thuốc sau khi sử dụng ngay tại nơi phun thuốc Rất dễ tìm thấy chai, lọ thuốc đã sử dụng ở ngoài đồng, chẳng hạn như dọc theo các bờ ruộng, dưới kênh hay trong vườn Chỉ một phần nhỏ nông hộ (17%) giữ lại các chai lọ thuốc có thể bán phế liệu Tuy

Trang 22

nhiên, chúng thường được thu gom và cất giữ không an toàn tại ruộng, vườn hay xung quanh nhà [43]

Tỷ lệ người nông dân tuân thủ quy định về số lần phun thuốc BVTV trên

vụ mùa (1-3 lần/vụ mùa) chiếm khá thấp (7,7%) trong nghiên cứu của Trần Bình Thắng năm 2012 Bên cạnh đó, vẫn còn 1,7% nông dân hút thuốc lá khi

đi phun thuốc, 27,0% nông dân mặc áo quần ướt khi pha/phun thuốc và 10,3% nông dân để thuốc BVTV dính vào da khi phun Ngoài ra, vẫn còn 61,0% nông dân vứt bỏ bao bì đựng thuốc BVTV ngoài ruộng vườn, chôn (22,7%), đốt (14,0%) và 2,3% nông dân súc rửa bao bì đựng HCBVTV để tái sử dụng [40]

Một nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thúy Hoa về thực hành sử dụng HCBVTV ở người nông dân trồng cà phê tại Đắk Lắk được tiến hành trên 385 người nông dân vào năm 2016 Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 74,0% đối tượng bảo quản bình phun đúng cách; 63,6% đối tượng pha hóa chất đúng liều lượng, 63,4 % đối tượng phun hóa chất đúng thời điểm và 45,5% đối tượng pha hóa chất đúng cách Tuy nhiên chỉ có 18,2% tổng số đối tượng đọc đầy đủ thông tin trên bao bì khi mua hóa chất; 18,7% quan sát vạch cảnh báo độc hại khi mua hóa chất Tỷ lệ đối tượng xử lý hóa chất thừa sau phun đúng cách chỉ

có 1,3% đối tượng xử lý đúng; 26,2% đối tượng ăn uống/ hút thuốc trong khi phun hóa chất, và chỉ có 27,3% đối tượng sử dụng ≥ 6 loại BHLĐ trong khi phun hóa chất [22]

Tất cả người dân trồng chè trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Bích Yên và Nguyễn Mạnh Duy được hỏi đều cho biết thời gian phun thuốc hợp lý trong ngày với điểm trung bình đạt tối đa 1/1 điểm (100% người dân trả lời đúng), cách sử dụng thuốc BVTV đúng liều, đúng nồng độ và phun đúng thời điểm đạt 0,97/1 điểm, cách lưu trữ HCBVTV đúng đạt 0,68/1 điểm Tuy nhiên người dân trồng chè vẫn còn thường xuyên đổ nước rửa bình ra kênh mương hay ao hồ và thỉnh thoảng vứt bỏ bao bì ra kênh mương hoặc ngay trên vườn [52]

Trang 23

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đăng Giáng Châu và cộng sự được thực hiện trên đối tượng người nông dân trồng rau ở tỉnh Thừa Thiên Huế Kết quả nghiên cứu cho biết rằng, chỉ có 35,7% người dân sử dụng thuốc theo khuyến cáo trên nhãn mác, bao bì, 28,7% theo kinh nghiệm bản thân, 20,2% theo hướng dẫn của người bán thuốc Có 147/155 người có sử dụng đồ bảo hộ lao động, trong đó có 116 người sử dụng khẩu trang, 107 người sử dụng áo dài tay,

có 44 người sử dụng găng tay, 3 người sử dụng kính bảo hộ Ngoài 31% cất ở nhà kho, còn lại là cất ở góc nhà (19,4%), để ở hiên nhà (12%), để lại trên đồng ruộng (3,9%) và để ở nhà bếp (1,6%) Đa số (72,1% người được hỏi) vứt bao bì ở sọt rác, 21,0% vứt trên đồng ruộng để tự phân hủy, 7,0% mang đốt, 4,7% mang chôn [9]

Tác giả Hoàng Thị Giang và cộng sự nghiên cứu trên 410 hộ gia đình tại

Mê Linh, Hà Nội năm 2016 nhằm mô tả thực trạng sử dụng và bảo quản HCBVTV Kết quả cho thấy, có đến 28,1% người sử dụng HCBVTV không đọc thông tin trên bao bì, 71,4% sử dụng theo hướng dẫn của người bán Chỉ

có 18,5% người mang kính và có 5,9% người đi phun không mang phương tiện bảo hộ nào 15,8% người phun không để ý đến hướng gió Về xử lý sau phun HCBVTV của người dân, tỷ lệ người phun HCBVTV vứt bao bì ngay tại chỗ phun chiếm cao nhất (53,4%), rửa bình phun chủ yếu ở mương chiếm 73,2%, tiếp theo là rửa bình tại ruộng chiếm 22,4% Các hộ gia đình có cất giữ bảo quản HCBVTV trong nhà chiếm 55,9%, chủ yếu đựng bằng túi nilon và 15,9% người dân bảo quản ở vị trí không an toàn [13]

Tác giả Trần Thị Ngọc Lan và cộng sự điều tra sử dụng thuốc BVTV của 100 hộ nông dân ở 2 huyện tỉnh Thái Bình cho thấy có đến 80% số hộ vi phạm quy tắc 4 đúng, 70% số hộ thu hoạch sản phẩm không đủ thời gian cách

ly, 50% vi phạm các quy định về bảo hộ lao động, xử lý thuốc thừa và vứt bao

bì không đúng nơi quy định [26]

Từ thực trạng trên cho thấy điều kiện lao động trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam chưa được đảm bảo, việc tuân thủ các quy định về sử dụng

Trang 24

an toàn HCBVTV và máy móc nông nghiệp của người lao động chưa tốt, tỷ lệ

sử dụng phương tiện BHLĐ còn thấp và chưa thường xuyên

1.3 Tình hình sức khỏe, bệnh tật của người lao động trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Sức khỏe, bệnh tật của người lao động nông nghiệp trên thế giới

Người lao động nông nghiệp trên thế giới vẫn còn nhiều nguy mắc bệnh tật, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe Có nhiều nghiên cứu trước đây đã thống kê những bệnh tật mà người nông dân mắc phải liên quan đến sản xuất nông nghiệp

Theo báo cáo, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động và bệnh tật cho người lao động nông nghiệp, nhưng chủ yếu bao gồm những nguyên nhân do làm việc với máy móc, phương tiện, dụng cụ và động vật; tiếp xúc với bụi và những chất hữu cơ, chất hóa học [72] Hàng năm có 335.000 người tử vong do tai nạn lao động, trong đó có đến 170.000 tai nạn liên quan đến người lao động trong sản xuất nông nghiệp [68]

Công tác ATVSLĐ kém trong ngành nông nghiệp cũng là một vấn đề cần phải quan tâm và giải quyết ở châu Âu Theo báo cáo khảo sát về tình hình lao động ở Châu Âu, có khoảng 500 người bị tử vong và 150.000 ca tai nạn không gây tử vong liên quan đến sản xuất nông nghiệp mỗi năm Trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2013, có trung bình 4.174 ca tử vong do tai nạn trong sản xuất nông nghiệp Tỷ suất tử vong trung bình trong sản xuất nông nghiệp ở Châu Âu là 2,05/100.000 người, trong đó tỷ suất tử vong cao nhất là

ở Romania (5,47/100.000 người), tiếp đến là Lithuania (4,64/100.000 người)

và thấp nhất là ở Vương Quốc Anh (0,64/100.000 người) Cũng trong khoảng thời gian này có đến 3,4 triệu ca tai nạn không gây tử vong liên quan đến sản xuất nông nghiệp [80]

Một nghiên cứu tại Mỹ về các vấn đề sức khỏe mà người lao động trong sản xuất nông nghiệp gặp phải cho thấy, ngoài TNTT thì 4 vấn đề sức khỏe

Trang 25

phổ biến nhất mà người nông dân gặp phải đó là các bệnh phổi, các bệnh gây

ra do HCBVTV, các vấn đề về sức khỏe tâm thần và điếc do tiếng ồn quá lớn Cũng theo nghiên cứu đó, các bệnh lý đường hô hấp gặp ở trên 30% người lao động nông nghiệp gồm những bệnh như hen phế quản, COPD, hội chứng nhiễm độc bụi hữu cơ Những bệnh lý do tác động của việc tiếp xúc với HCBVTV thường gặp như ung thư, ngộ độc HCBVTV Một vấn đề sức khỏe nữa cần phải quan tâm đó là điếc do tiếng ồn quá lớn, có đến hơn 50% người nông dân trên 50 tuổi bị điếc do tiếng ồn quá lớn trong sản xuất nông nghiệp [69] Theo thống kê của Trung tâm Quốc gia về sức khỏe NLĐ nông nghiệp

Mỹ, ngã và ngộ độc thuốc trừ sâu là những vấn đề sức khỏe thường gặp Say nắng/nóng cũng là một vấn đề sức khỏe đáng quan tâm ở Mỹ, ước tính tỷ suất

tử vong hàng năm do say nắng/nóng của nông dân Mỹ là 0,39/100.000 Trong thời gian từ 1992-2006, có đến 423 người tử vong do say nắng/nóng Bên cạnh

đó, một số bệnh thường gặp ở NLĐ trong sản xuất nông nghiệp như bệnh về phổi, bệnh về da như nấm da (chiếm 58,6%), cháy nắng (chiếm 58,6%), phát ban (chiếm 42,8%) Bên cạnh đó các bệnh về mắt cũng gặp với tỷ suất khá nhiều 6,9 ca/10.000 NLĐ [92]

Một nghiên cứu ở Anh cho thấy một số bệnh thường gặp ở người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp như đau lưng (41%), các bệnh lý đường hô hấp (40%), các triệu chứng của ngộ độc HCBVTV (15%) Bên cạnh đó, người lao động nông nghiệp ở Anh cũng gặp phải một số bệnh khác như ung thư, viêm da, nấm da, ong đốt [61]

Nghiên cứu về tình trạng nhiễm độc HCBVTV tại một số nước khu vực Đông Nam châu Á cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm độc HCBVTV là khá cao Nghiên cứu của Ratana Sapbamrer và Sakorn Nata (2014) ở Thái Lan cho thấy các biểu hiện sức khỏe thường gặp của người nông dân khi tiếp xúc với HCBVTV là đau tức ngực (19,8%), ho (28%), tê bì (41,2%), chuột rút (39,6%), đau đầu (30,8%), khô họng (23,6%) và yếu cơ là 23,8% [102]

Trang 26

Bên cạnh đó, tình trạng nhiễm độc HCBVTV được thể hiện thông qua giá trị enzyme cholinesterase trong máu của những người nông dân đã sử dụng HCBVTV Prasit Kachaiyaphum và cộng sự (2010) đã đánh giá cholineterase huyết thanh trên 350 nông dân trồng ớt huyện Chatturat, tỉnh Chaiyaphum - Thái Lan cũng cho biết có 32,0% mẫu nghiệm có giá trị cholineterase bất bình thường; có sự liên quan giữa nồng độ cholineterase huyết thanh với những dấu hiệu liên quan đến nhiễm độc mãn tính lân hữu cơ ở nông dân trồng ớt [78]

Một số triệu chứng thường gặp trên người nông dân trồng hành ở Indonesia trong nghiên cứu của tác giả Joko T và cộng sự cho thấy, người nông dân thường hay có các triệu chứng như ù tai (chiếm 74%), mệt mỏi (chiếm 62%), ngứa (chiếm 58%), chóng mặt (chiếm 47%), khó thở (chiếm 51%), giảm thị lực (chiếm 44) [76]

Nghiên cứu của tác giả Bakhsh K và cộng sự trên người nông dân trồng bông cho thấy, người nông dân hay gặp các triệu chứng như đau đầu (90%), viêm da (55%), mất ngủ (54%), ho (51%) sốt (67%), khó thở (23%) [55]

Nghiên cứu của tác giả Juwita D.A và cộng sự cho thấy các triệu chứng thường gặp ở người nông dân do tiếp xúc với HCBVTV khá cao Cụ thể, triệu chứng về mắt chiếm 86%, về da chiếm 95%, về tiêu hóa chiếm 43%, về thần kinh chiếm 71% và triệu chứng về hô hấp chiếm 100% [77]

Kết quả nghiên cứu của tác giả Taghavian F và cộng sự tại thực hiện trên

134 người nông dân, trong đó có 67 người thuộc nhóm có tiếp xúc với HCBVTV và 67 người thuộc nhóm đối chứng, không tiếp xúc với HCBVTV Theo đó, những người nông dân có tiếp xúc với HCBVTV có giá trị trung bình hoạt tính enzyme cholinesterase trong máu có giá trị 5098.82 ± 558.81 U/l, thấp hơn có ý nghĩa thống kê giá trị này ở nhóm đối chứng 397.26 ± 574.05 U/l, p<0.05 [104]

Sự khác biệt về giá trị trung bình của hoạt tính enzyme cholinesterase trong máu của người nông dân trước và sau khi tiếp xúc với HCBVTV trong

Trang 27

nghiên cứu của tác giả Parravan V và cộng sự cho thấy, giá trị trung bình của hoạt tính enzyme cholinesterase trong máu ở người nông dân trước khi tiếp xúc với HCBVTV là 6876 ± 389 U/L cao hơn có ý nghĩa thống kê so với giá trị này sau khi tiếp xúc với HCBVTV 2 ngày (p < 0,05) Ở thời điểm 2 ngày sau khi tiếp xúc với HCBVTV là 4155 ± 275 U/L; ở thời điểm 8 tuần sau khi tiếp xúc với HCBVTV là 6615 ± 392 U/L [94]

Từ những nghiên cứu trên cho thấy, người lao động trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới có rất nhiều vấn đề về sức khỏe, bệnh tật đòi hỏi phải có

sự quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu với từng loại hình chuyên canh, làm giảm nguy cơ gây tai nạn thương tích, nhiễm độc HCBVTV hay giảm tỷ lệ mắc các bệnh nghề nghiệp

1.3.2 Sức khỏe, bệnh tật của người lao động nông nghiệp ở Việt Nam

Tình hình sức khỏe bệnh tật của người lao động trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu Trong nông nghiệp vấn đề hoá chất dùng trong canh tác, bảo vệ cây trồng cũng như các hệ lụy của nó đã được quan tâm nghiên cứu nhiều Ở Việt Nam, số người nông dân tiếp xúc với hoá chất trừ sâu, diệt cỏ và diệt chuột ngày càng nhiều Đồng thời với nó là số người bị ảnh hưởng sức khoẻ do các hoá chất cũng ngày càng gia tăng Độc tính của HCBVTV làm tăng nguy cơ mắc bệnh nguy hiểm đối với người nông dân, nhất là những người làm công việc trực tiếp liên tục trên đồng ruộng [15] Ô nhiễm HCBVTV trong nông nghiệp luôn là vấn đề lớn, trong đó ô nhiễm mẫu đất chiếm 39%, ô nhiễm không khí chiếm 38,2% Hậu quả tất yếu của sự ô nhiễm trên đây là sức khoẻ của người lao động giảm sút, các bệnh nghề nghiệp hay bệnh liên quan đến nghề nghiệp phát sinh và phát triển làm cho tuổi thọ, tuổi lao động giảm đáng kể đối với người lao động [17]

Kết quả nghiên cứu của Đỗ Hàm (2007) cho thấy một số chứng bệnh thường gặp ở người nông dân trồng lúa và trồng rau tiếp xúc với HCBVTV tại Thái Nguyên là mệt mỏi, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, tê bì, kiến bò chiếm tỷ

Trang 28

lệ từ 3,1 - 48,1%, tỷ lệ mắc các bệnh thần kinh, da liễu ở các nhóm nghiên cứu cao, hoạt tính enzym cholinesterase ở các đối tượng giảm [18]

Nghiên cứu của Trần Văn Sinh (2009) trên người chuyên canh vải tại Lục Ngạn, Bắc Giang cho thấy người nông dân chuyên canh vải thường mắc các chứng bệnh như đau đầu 32,89%, viêm mũi họng mãn tính 31,35%, mất ngủ 25,65%, viêm kết mạc mắt 22,14%, [36]

Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh (2010) trên người chuyên canh chè tại Thái Nguyên cho kết quả một số triệu chứng cơ năng chiếm tỷ lệ cao như hoa mắt chóng mặt là 78,4%, mệt mỏi là 77,9%, nhức đầu 73,1%; chứng bệnh

ở một số cơ quan có tỷ lệ cao như bệnh về mắt 84,8%, mũi họng 86,9%, tâm thần kinh 51,1%, cơ xương khớp 63,7%, da liễu 40,1% [24]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Sơn và cộng sự (2012) tại nông trường Đồng Giao Ninh Bình cho thấy tỷ lệ biểu hiện lâm sàng liên quan đến nhiễm độc HCBVTV như: nhức đầu, choáng váng là 38,81%, giảm trí nhớ 16,92%, ngủ kém 26,87% Triệu chứng khác như run tay, chân 23,88%, chuột rút 19,40%, ra mồ hôi chân, tay 25,87%, chảy nước mắt 27,86%, bị ngứa, đỏ mắt 25,37%, thị lực giảm 21,89%, chảy nước mũi 23,38%, khó thở nông 20,4%, dát đỏ trên da 8,95%, ứa nước bọt 11,44%, buồn nôn 19,4% Công nhân làm việc trong điều kiện phải tiếp xúc với HCBVTV có tỷ lệ hiện mắc nhiễm độc HCBVTV là 15,38% [38]

Nghiên cứu của Trần Bình Thắng và cộng sự (2012) về ảnh hưởng của HCBVTV lân hữu cơ và Cacbamat lên sức khỏe nông dân trồng lúa ở Thừa Thiên Huế thể hiện số người có dấu hiệu mệt mỏi, khó chịu chiếm 69%, nhức đầu 44,6%, hoa mắt 42,1%, sẩn ngứa da 40,9%, buồn nôn 23,1%, [40]

Bùi Thị Hồng Loan và cộng sự (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của HCBVTV đến sức khỏe người nông dân tại xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An năm 2012 cho thấy các biểu hiện về thần kinh thường gặp nhiều nhất (77,4%), kế đến là hô hấp, da và niêm mạc Một số dấu hiệu, triệu chứng

Trang 29

chiếm tỷ lệ cao như mệt mỏi 56,4%, nhức đầu 43,1%, hoa mắt chóng mặt 42,1%, ngứa da 42,5%, da đỏ 33,8%, khô họng 43,4%, hắt hơi 42,3%, chán ăn 15,8%, [28]

Nghiên cứu của tác giả Cao Thị Lựu và cộng sự cho thấy, người nông dân sử dụng HCBVTV thường có những triệu chứng thường gặp như triệu chứng toàn thân chiếm 37,4%, triệu chứng trên da, niêm mạc chiếm 12%, triệu chứng hệ tiêu hóa chiếm 13,6%, triệu chứng đường hô hấp chiếm 19,8%, triệu chứng tại mắt chiếm 20,7%, triệu chứng thần kinh chiếm 20,1% [29]

Những con số nêu trên cho thấy người lao động nông nghiệp nói chung

và người chuyên canh vải nói riêng đã và đang phải đối mặt với một số nguy

cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, phát sinh bệnh nghề nghiệp do làm việc trong môi trường không đảm bảo ATVSLĐ, môi trường sống bị ô nhiễm, thiếu phương tiện phòng hộ khi tiếp xúc với HCBVTV,

1.4 Những yếu tố liên quan đến sức khỏe, bệnh tật của người lao động trong sản xuất nông nghiệp

Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật của người lao động nông nghiệp nói chung và người dân chuyên canh vải nói riêng

* Vi khí hậu bất lợi

Môi trường lao động của lao động nông nghiệp chủ yếu ở ngoài trời, do

đó sự tác động của vi khí hậu xấu đến vấn đề sức khỏe và bệnh tật của người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là rất rõ rệt

Vi khí hậu là tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt, vận tốc gió… Nguồn phát sinh từ lò đốt, lò sấy, ánh nắng mặt trời mùa hè, thời tiết lạnh mùa đông Thường gây ảnh hưởng đến sức khỏe như say nóng, say nắng, chuột rút, kiệt sức, mất nước điện giải, mưa lạnh gây viêm đường hô hấp, bệnh viêm da, cháy da do tiếp xúc với ánh nắng mặt trời,… Một nghiên cứu ở Đài Loan đã chỉ ra rằng, nắng nóng (nhiệt độ > 300C) và độ ẩm cao (độ ẩm >74%) ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp

Trang 30

Trong đó, nắng nóng và độ ẩm cao có ảnh hưởng đến 67-71% người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp [85] Một nghiên cứu khác ở Mỹ cho thấy, có đến 94% người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp thường xuyên tiếp xúc với nắng nóng, trong đó có 40% có các triệu chứng của say nắng/nóng [90]

Tác giả Trần Thị Thiên Vân nghiên cứu trên đối tượng nông dân trồng hoa tại Lâm Đồng năm 2018 cho thấy, đa số người nông dân trong nghiên cứu đều phải làm việc trong điều kiện lao động không đạt yêu cầu về các yếu tố vi khí hậu Cụ thể, về nhiệt độ vào mùa nóng có 919/1950 mẫu đo vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP); về nhiệt độ về mùa mưa có 150/1950 mẫu đo vượt TCCP; về độ ẩm vào mùa mưa có 1300/1950 mẫu vượt TCCP; có 1485/1950 mẫu về tốc độ gió vào mùa nắng vượt TCCP và 1038/1950 mẫu về bức xạ vào mùa nắng vượt TCCP [50] Kết quả nghiên cứu của Trần Anh Thành và cộng

sự cho thấy, khu vực nông nghiệp có tỷ lệ mẫu vi khí hậu không đạt TCCP chiếm 63,3% Đối với các yếu tố vật lý, có 27,6% số mẫu đo ánh sáng tại các

hộ làm nông nghiệp là 27,6%, 62,5% số mẫu đo tiếng ồn tại các hộ làng nghề không đạt tiêu chuẩn cho phép [41]

Tại địa bàn nghiên cứu, theo số liệu từ Trạm Khí tượng Thủy văn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cho biết nhiệt độ trung bình hàng năm dao động trong khoảng từ 15,6oC đến 33,5 o

C Trong đó nhiệt độ vào các tháng 5, 6, 7 (mùa thu hoạch vải) là những tháng nắng nóng với nhiệt độ cao nhất trung bình

từ 31,3oC đến 33,5oC, độ ẩm trung bình dao động trong khoảng từ 71% đến 84% Do đặc điểm lao động của người chuyên canh vải hoàn toàn ở ngoài trời nên điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, đặc biệt là nguy cơ bị say nắng, say nóng

* Gánh nặng lao động thể lực lớn

Do tỷ lệ cơ giới hóa thấp, lao động nông nghiệp chủ yếu là lao động chân tay, tạo ra gánh nặng lao động thể lức lớn Thể hiện bởi 3 vấn đề: sự gắng sức lớn; tư thế lao động bất hợp lý như khom cúi, vặn mình; chế độ lao động

Trang 31

và nghỉ ngơi không thích hợp như thời gian làm việc nhiều, thời gian nghỉ ít Một nghiên cứu năm 2015 của Rohan Jadhav và cộng sự chỉ ra rằng thời gian canh tác nông nghiệp càng dài thì nguy cơ bị thương tích và bệnh tật càng tăng Kết quả nghiên cứu cho thấy các lao động nông nghiệp nữ làm 5-8 giờ/ ngày (hoặc ≥ 50 giờ/ tuần) có nguy cơ thương tích, bệnh tật nhiều gấp 3 lần lao động

nữ làm bán thời gian [73] Kết quả nghiên cứu ở Thái Lan (2018) cho thấy có đến 66% người nông dân thường xuyên phải nâng, kéo, đẩy những vật nặng (>20kg) Bên cạnh đó, đa số họ phải vặn người, hoặc khom người trong hầu hết thời gian làm việc (85% thời gian làm việc) và 75% phải sử dụng bàn tay, cánh tay ở tư thế bất thường Cũng trong nghiên cứu này, tỷ lệ người nông dân

bị các bệnh về cơ xương khớp khá nhiều Cụ thể, tỷ lệ người nông dân bị đau

cổ vai gáy chiếm 11-13%, đau lưng (14-22%) và đau khớp gối (15%) [81]

* Bụi trong lao động nông nghiệp

Dù lao động thủ công hay lao động cơ giới thì bụi vẫn có ở những mức

độ khác nhau và người nông dân thường xuyên phải tiếp xúc với bụi trong quá trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản nông sản Điều này khiến cho người nông dân thường xuyên mắc phải các bệnh về mắt như viêm kết mạc, hoặc những bệnh về đường hô hấp như viêm mũi họng, viêm phế quản

* Vấn đề cơ cấu lao động bất hợp lý

Cơ cấu lao động bất hợp lý của lao động nông nghiệp thể hiện ở 3 mặt: Tuổi, giới và học tập nghiệp vụ Điều này thể hiện ở chỗ, không có một độ tuổi nhất định cho những người lao động nông nghiệp và cũng không có chế độ nghỉ theo lứa tuổi Đồng thời, cũng không có sự khác biệt trong chế độ lao động giữa nam và nữ trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, vấn đề học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ trong lao động nông nghiệp ít được tổ chức, ở một số lĩnh vực hầu như không có, khác hẳn với lao động công nghiệp Theo một nghiên cứu ở các trang trại của Mỹ cho thấy, tỷ lệ tai nạn thương tích ở trẻ

vị thành niên hàng năm vào khoảng 8/100.000 người, nghiên cứu cũng chỉ ra

Trang 32

rằng tỷ lệ tai nạn thương tích có tỷ lệ cao và là yếu tố nguy hiểm nhất đối với những người lao động thuộc lứa tuổi 16 - 17 [58] Một nghiên cứu khác của Pyykkonen và cộng sự năm 2012 cũng cho thấy tỷ lệ tai nạn thương tích ở nhóm tuổi 18 - 24 tuổi cao hơn ít nhất 50% so với các nhóm tuổi khác Nghiên cứu đó cũng chỉ ra rằng, có sự khác biệt về tỷ lệ tai nạn nghề nghiệp và bệnh tật giữa nam và nữ Bên cạnh đó, phụ nữ cũng phải đối mặt với những nguy cơ

xa hơn, cụ thể là sức khỏe sinh sản bị ảnh hưởng do tiếp xúc với HCBVTV và các yếu tố sinh học [96]

* Kiến thức, thái độ, thực hành về ATVSLĐ của người lao động nông nghiệp chưa tốt

Kiến thức về đảm bảo ATVSLĐ ở người lao động nông nghiệp chủ yếu đánh giá về kiến thức về sử dụng phương tiện BHLĐ khi canh tác và khi sử dụng, bảo quản HCBVTV Người nông dân có kiến thức chưa tốt dẫn đến việc tuân thủ các quy định ATVSLĐ chưa đảm bảo Bên cạnh đó, lao động nông nghiệp thường là lao động thủ công là chủ yếu, người nông dân ít được tập huấn về ATVSLĐ cũng như các hướng dẫn về sử dụng và bảo quản an toàn HCBVTV Điều này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh thường gặp như viêm mũi họng, viêm kết mạc, bệnh về da Kết quả nghiên cứu của tác giả Aldesuyi A.A

và cộng sự cho thấy việc người nông dân có đủ kiến thức trong việc sử dụng an toàn HCBVCTV như lưu trữ HCBVTV đúng vị trí, kiến thức trong việc sử dụng đầy đủ các phương tiện BHLĐ sẽ làm ngăn ngừa một số bệnh cũng như những dấu hiệu nhiễm độc HCBVTV như đau đầu, chóng mặt [53] Trong nghiên cứu của tác giả Ricco M và cộng sự kiến thức về sử dụng an toàn HCBVTV là yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc các triệu chứng, bệnh như đau đầu, bệnh về mắt, bệnh đường hô hấp và viêm da (p < 0,001) Cụ thể, nếu người nông dân có kiến thức tốt hơn về những yếu tố nguy cơ do phun HCBVTV sẽ có làm giảm tỷ lệ mắc các bệnh nói trên [98]

Thái độ của người lao động nông nghiệp trong việc đảm bảo ATVSLĐ bao gồm thái độ trong việc cần thiết sử dụng các phương tiện BHLĐ, lo lắng

Trang 33

đến sức khỏe của mình, sự cần thiết phải dự phòng bệnh tật và khám sức khỏe định kỳ Người nông dân có thái độ không tốt trong việc đảm bảo ATVSLĐ

sẽ làm giảm sự tuân thủ các quy định an toàn trong lao động nói chung cũng như trong việc thực hành sử dụng và bảo quản HCBVTV Từ đó, nguy cơ mắc các chứng, bệnh thường gặp ở người nông dân tăng lên

Việc thực hành đảm bảo ATVSLĐ có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cũng như nguy cơ mắc một số bệnh ở người lao động nông nghiệp Việc tuân thủ các quy định an toàn trong sử dụng HCBVTV không tốt như ăn uống trong khi phun HCBVTV, phun ngược chiều gió, vứt và xử lý vỏ bao bì HCBVTV không đúng nơi quy định… sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm độc HCBVTV và mắc các bệnh mũi họng, viêm da, đau đầu, Bên cạnh đó, người nông dân thường

ít sử dụng các phương tiện BHLĐ như khẩu trang, kính, găng tay, mũ, quần áo trong quá trình canh tác và sử dụng HCBVTV cũng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh thường gặp Trong nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh, người dân có hành vi thực hành pha và phun HCBVTV không đúng cách sẽ có nguy cơ mắc bệnh viêm mũi họng cao gấp 2,5-2,6 lần và nguy cơ mắc bệnh về mắt cao gấp 2,2-2,3 lần so với những người thực hành đúng Cũng trong nghiên cứu này, sử dụng kính đeo khi phun HCBVTV có mối liên quan chặt chẽ với bệnh viêm kết mạc mắt Nguy cơ do không sử dụng kính khi phun HCBVTV đối với mắc viêm kết mạc tăng gấp 3,27 lần so với có sử dụng kính (p < 0,05) [23] Theo Trần Văn Sinh, tỷ lệ viêm da dị ứng ở nhóm không sử dụng quần áo BHLĐ thường xuyên là 3,92% và nhóm có sử dụng quần áo BHLĐ là 5,33% [36]

1.5 Một số giải pháp can thiệp chăm sóc sức khỏe người lao động trong sản xuất nông nghiệp

1.5.1 Một số giải pháp đã được triển khai trên thế giới

Một kế hoạch hành động toàn cầu giai đoạn 2008-2017 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về các giải pháp cần thiết nhằm nâng cao sức khỏe nghề nghiệp bao gồm sức khỏe nghề nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế,

Trang 34

công nghiệp được đưa ra tại Hội nghị lần thứ 60 của WHO năm 2007 Các giải pháp nhằm nâng cao sức khỏe nghề nghiệp, giảm bệnh tật và tai nạn thương tích cho NLĐ nói chung và NLĐ trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng bao gồm các giải pháp phòng ngừa và các giải pháp can thiệp điều trị Các giải pháp phòng ngừa chia thành 3 cấp độ: phòng ngừa cấp độ 1, cấp độ 2 và cấp

độ 3 Phòng ngừa cấp độ 1 có mục tiêu ngăn ngừa bệnh tật hoặc tai nạn thương tích xảy ra trước khi bắt đầu công việc có thể gây ra bệnh tật hoặc tại nạn thương tích Trong vấn đề sức khỏe nghề nghiệp, các giải pháp phòng ngừa cấp độ 1 có mục tiêu loại bỏ hoặc giảm tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm tới sức khỏe hoặc tạo ra một rào cản làm giảm tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm Trong ngăn ngừa cấp độ 1 tập trung vào 3 lĩnh vực chính bao gồm: môi trường, điều kiện làm việc, các yếu tố thuộc hành vi của NLĐ và các giải pháp thuộc lâm sàng [109] Mô hình của giải pháp phòng ngừa cấp độ 1 được thể hiện rõ trong hình dưới đây:

Hình 1.1 Mô hình các giải pháp phòng ngừa cấp độ 1 về sức khỏe nghề

nghiệp [World Health Organization, 2012 Global Plan of Action on Workers'

Health 2008-2017]

GIẢI PHÁP VỀ MÔI

TRƯỜNG LAO ĐỘNG

- Thay đổi kỹ thuật

- Kiểm soát kỹ thuật

- Giáo dục sức khỏe

- Đào tạo

- Cung cấp thông tin

- Luật định và chính sách

GIẢI PHÁP CAN THIỆP LÂM SÀNG

- Cung cấp vắc xin

- Điều trị

- Tư vấn

- Luật định và chính sách

Hành vi sức khỏe của người lao động

Yếu tố nguy cơ

trong công việc

Bệnh tật, tai nạn thương tích

Trang 35

Các giải pháp này đã được chứng minh hiệu quả trong nhiều nghiên cứu

về việc phòng ngừa các bệnh tật, TNTT trong sản xuất nông nghiệp cũng như trong các lĩnh vực khác Các nghiên cứu này được tổng hợp trong một nghiên cứu tổng quan của Verbeek và cộng sự năm 2013 [108]

Một số giải pháp cụ thể được triển khai và đánh giá hiệu quả nhằm bảo

vệ và nâng cao sức khỏe cho người lao động nông nghiệp Theo Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), sự kết hợp giữa cán bộ y tế

và các tổ chức xã hội ở cộng đồng có thể là phương pháp hiệu quả để phát triển

và thực hiện các hoạt động ngăn ngừa thương tích và bệnh tật đối với người lao động nông nghiệp [60]

Các tổ chức xã hội ở cộng đồng và nhân viên y tế cùng hợp tác để kết hợp những giải pháp và biện pháp phòng ngừa vào trong các công việc hàng ngày để nâng cao sức khỏe và an toàn lao động cho người lao động trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, do hạn chế với thời gian và nguồn lực, các giải pháp giáo dục sức khỏe ngắn hạn nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và hành vi của người lao động trong việc đảm bảo các điều kiện an toàn vệ sinh lao động

và dự phòng bệnh tật nhằm giảm thiểu tai nạn thương tích cũng như bảo vệ và nâng cao sức khỏe người lao động nông nghiệp Giải pháp giáo dục sức khỏe nên được kết hợp với các giải pháp khác để nâng cao hiệu quả trong việc bảo

vệ và nâng cao sức khỏe người lao động trong sản xuất nông nghiệp [84]

Một chương trình can thiệp tại Thái Lan, The Work Improvement in Neighborhood Development (WIND), bao gồm truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh về tác hại của HCBVTV, sử dụng phương tiện bảo hộ lao động cá nhân khi sử dụng các máy móc nguy hiểm và tiếp xúc với HCBVTV

và lợi ích của việc sử dụng phân bón hữu cơ Kết quả của việc thực hiện chương trình đó được thể hiện ở nhiều sự cải thiện trong điều kiện làm việc như tăng cường xây dựng những nơi nghỉ ngơi cho nông dân bằng những vật liệu giá thành rẻ như tre, nứa; xây dựng nhà vệ sinh ở đồng ruộng cho người nông dân Bên cạnh đó, chương trình can thiệp cũng làm cải thiện kiến thức

Trang 36

của người lao động về tác hại của phân bón hóa học và HCBVTV và tăng cường sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ và HCBVTV hữu cơ Ngoài ra, chương trình can thiệp này cũng làm tăng cường kiến thức và sử dụng các phương tiện bảo hộ lao động như ủng cao su, găng tay, quần áo dài, khẩu trang Một đóng góp quan trọng của WIND đó là, có thể tập huấn nâng cao trình độ cho các nhân viên chăm sóc sức khỏe tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu trở thành các tình nguyện viên đến các làng và gặp người nông dân để khuyến khích họ tăng cường các hành vi sức khỏe thường xuyên và chăm sóc sức khỏe cho người nông dân Từ đó, có thể thấy chương trình can thiệp này có hiệu quả trong việc nâng cao sự an toàn vệ sinh lao động cho người lao động trong sản xuất nông nghiệp [54]

Một chương trình đào tạo (AH&M) cho các nhân viên y tế ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu tại các vùng nông thôn nước Úc được tiến hành bởi trường đại học Deakin từ năm 2010-2013 Chương trình đào tạo tập trung vào việc nâng cao kiến thức, kỹ năng của nhân viên y tế tại các vùng nông thông về

dự đoán, chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh nghề nghiệp và tai nạn thương tích cho người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Bên cạnh đó, còn thúc đấy, hỗ trợ, nâng cao kiến thức các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp (các nhà nông học, cán bộ khuyến nông) trong việc năng ngừa bệnh tật và thương tích nghề nghiệp cho người nông dân Chương trình đào tạo diễn ra trong 5 ngày gồm các nội dung về những nguy cơ, bệnh tật, thương tích mà người nông dân có thể gặp phải, cách dự phòng những nguy cơ, bệnh tật, thương tích

đó, và cách chẩn đoán điều trị những bệnh tật thương tích trên Sau khi kết thúc chương trình đào tạo, 91% nhân viên y tế được đào tạo đồng ý rằng khóa học có thể nâng cao khả năng dự phòng, chẩn đoán và điều trị các bệnh nghề nghiệp, yếu tố nguy cơ và tai nạn thương tích cho người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp thuộc nơi họ sinh sống [57]

Một nghiên cứu can thiệp khác ở Ai Cập cũng áp dụng biện pháp giáo dục sức khỏe cho người nông dân sử dụng thuốc trừ sâu Kết quả nghiên cứu

Trang 37

cho thấy, sau can thiệp, kiến thức đúng của người nông dân về thuốc trừ sâu và những triệu chứng ngộ độc thuốc trừ sâu, tác hại của thuốc trừ sâu, các biện pháp bảo hộ tăng lên có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp Điểm trung bình về kiến thức tăng từ 53,95 ± 6,9 (trước can thiệp) lên 55,35 ± 3,2 (sau can thiệp), với p < 0,05 Sau can thiệp, điểm trung bình về thái độ tăng từ 10,65 ± 3,01 lên 11,15± 2,2, với p < 0,05 Điểm trung bình về thực hành cũng tăng từ 18,97 ± 7,64 (trước can thiệp) lên 19,27 ± 2,90 (sau can thiệp), với p < 0,05 Đồng thời tỷ lệ người nông dân có hành vi thực hành đúng trong việc tuân thủ các quy định an toàn về sử dụng và bảo quản thuốc trừ sâu tăng lên có ý nghĩa thống kê ở thời điểm sau can thiệp (p < 0,05) Điều này cho thấy, biện pháp giáo dục sức khỏe làm cải thiện rõ rệt kiến thức, thái độ và thực hành của người nông dân trong việc sử dụng và bảo quản an toàn thuốc trừ sâu [91]

1.5.2 Một số giải pháp đã được triển khai tại Việt Nam

Ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu can thiệp, chăm sóc sức khỏe và dự phòng bệnh tật cho người lao động trong sản xuất nông nghiệp Các nghiên cứu thường được thực hiện cụ thể trên từng đối tượng lao động, mô hình canh tác, sản xuất các loại cây trồng khác nhau, ở các vùng địa lý khác nhau nên các giải pháp, các mô hình can thiệp cũng mang tính đặc thù cho từng mô hình canh tác và có những ưu nhược điểm khác nhau

Năm 2002, Bùi Thanh Tâm và cộng sự đã nghiên cứu mô hình cộng đồng sử dụng an toàn thuốc BVTV tại một huyện đồng bằng và một huyện miền núi phía Bắc Các hoạt động chủ yếu của mô hình dựa vào nguồn lực địa phương, có sự tham gia tích cực của người dân Tổ chức hoạt động của mô hình là: Thành lập ban chỉ đạo (gồm đại diện Đảng ủy, UBND xã, Hợp tác xã nông nghiệp, Hội khuyến nông, Trạm Y tế xã, Đài truyền thanh, Trường THCS, Công an, Quản lý thị trường); toàn thể cộng đồng cùng tham gia, cùng cam kết thực hiện; mọi hoạt động đều được bàn bạc chung, thực hiện theo kế hoạch có giám sát và đánh giá Trên cơ sở phân tích hiện trạng tình hình sử dụng và nhiễm độc HCBVTV tại địa phương, ban chỉ đạo cùng với cộng đồng

Trang 38

thảo luận, xác định vấn đề ưu tiên, lựa chọn giải pháp can thiệp và xây dựng kế hoạch thực hiện Các giải pháp tập trung vào những nội dung như: Giáo dục truyền thông về sử dụng an toàn thuốc BVTV tới từng hộ gia đình; tăng cường năng lực của Trạm Y tế xã trong thực hành phòng và cấp cứu nhiễm độc thuốc BVTV; quản lý người bán thuốc BVTV trên địa bàn xã, thôn; thực hiện an toàn lao động và vệ sinh môi trường trong sử dụng thuốc BVTV Sau gần 2 năm thực hiện, mô hình can thiệp đã góp phần đáng kể nâng cao kiến thức và thực hành sử dụng an toàn thuốc BVTV tại địa phương, kiến thức về sơ cấp cứu trong trường hợp nhiễm độc cũng được tăng cường Mô hình đã đem lại những hiệu quả nhất định cho cộng đồng trong việc phòng ngừa nhiễm độc thuốc BVTV [39]

Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh năm 2010 đã xây dựng và triển

khai giải pháp can thiệp bằng mô hình “Nông - Tiểu - Cán” ở xã Tân Linh -

Đại Từ - Thái Nguyên nhằm làm giảm sự ảnh hưởng của HCBVTV đến sức khỏe của người dân chuyên canh chè Mô hình trên đã gắn kết được mối quan

hệ giữa “Nông dân - Tiểu thương buôn bán HCBVTV - Cán bộ y tế” trong hoạt động bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người nông dân Mô hình đã đem lại lợi ích cho cả ba nhân tố tạo nên mô hình: người nông dân biết cách phòng chống ngộ độc HCBVTV, tự chăm sóc và bảo vệ sức khỏe; Người buôn bán HCBVTV tạo được niềm tin đối với người nông dân; Người cán bộ y tế cơ sở được đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn, hoàn thành kế hoạch chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nông dân Mô hình này nguồn lực không cần nhiều, dễ triển khai và phù hợp với điều kiện kinh tế của khu vực miền núi, vùng cao với tính bền vững cao, có khả năng duy trì và lợi ích lâu dài [23]

Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế đã triển khai thí điểm “Mô hình kết hợp dịch vụ y tế lao động (BOSH & WIND) cho lao động nông nghiệp tại Huế” Nghiên cứu được sự hỗ trợ của Dự án “Bảo vệ sức khỏe người lao động giai đoạn 2009-2011” do Bộ Y tế lao động và phúc lợi Nhật Bản tài trợ, Trung

Trang 39

tâm y tế dự phòng Thừa Thiên Huế tổ chức triển khai thí điểm lồng ghép cung cấp dịch vụ y tế lao động cơ bản và cải thiện điều kiện lao động trong nông nghiệp tại hai xã của huyện Phong Điền - Thừa Thiên Huế năm 2010 Kết quả của hoạt động đã từng bước phát triển cung cấp dịch vụ y tế lao động cơ bản tại 2 xã nghiên cứu nhằm củng cố và tăng cường các hoạt động phòng chống bệnh nghề nghiệp, bệnh liên quan đến lao động và tai nạn lao động cho người lao động nông nghiệp bằng cách tổ chức các lớp tập huấn về nội dung giới thiệu chương trình nâng cao sức khoẻ nơi làm việc; hướng dẫn áp dụng bảng kiểm ATVSLĐ trong nông nghiệp; một số văn bản pháp lý liên quan đến sức khoẻ, an toàn nghề nghiệp trong lao động nông nghiệp; một số bệnh, tai nạn lao động hay gặp trong nông nghiệp và các biện pháp dự phòng Nâng cao năng lực cho cán bộ y tế tuyến xã, thôn và cán bộ quản lý hợp tác xã về an toàn

vệ sinh lao động và phòng chống bệnh nghề nghiệp trong nông nghiệp Áp dụng phương pháp WIND để cải thiện điều kiện lao động nông nghiệp, mỗi học viên tự xây dựng kế hoạch cải thiện điều kiện lao động cho mình và gia đình bao gồm 2 cải thiện ngắn hạn trong 1 - 3 tháng và 1 cải thiện dài hạn trong vòng 3 - 6 tháng với các nội dung: Sắp xếp về vận chuyển nông sản, nơi làm việc và dụng cụ lao động; phòng chống tai nạn do điện và an toàn máy nông nghiệp; an toàn trong sử dụng HCBVTV [11]

Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn năm 2012 về “Thực trạng và giải pháp can thiệp phòng chống tai nạn thương tích trong lao động sản xuất chè tại Thái Nguyên”đã đưa ra mô hình các hoạt động can thiệp được tiến hành

trong một năm với 2 giải pháp là đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ y tế, đặc biệt là đội ngũ NVYTTB, về các kỹ năng truyền thông và sơ cấp cứu ban đầu TNTT Sau đó, thông qua đội ngũ NVYTTB, các kiến thức về TNTT được truyển tải tới các hộ gia đình trồng chè tại địa bàn can thiệp dưới nhiều hình thức như truyền thông trực tiếp, nói chuyện sức khỏe, thảo luận nhóm về các tiêu chí an toàn vệ sinh lao động Các hoạt động can thiệp trong nghiên cứu này đã góp phần giảm thiểu các nguy cơ gây TNTT cho người lao động sản

Trang 40

xuất chè Tuy nhiên so với một số can thiệp khác, hiệu quả đạt được trong nghiên cứu này còn ở mức khá khiêm tốn Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn chỉ tập trung vào hoạt động truyền thông là chính, do đó hiệu quả có thể chưa được như mong muốn Một số nghiên cứu trong nước và trên thế giới cũng đã chỉ rằng, bên cạnh việc truyền thông giáo dục cần có thêm các chế tài liên quan đến hệ thống chính sách chế độ và pháp luật [46]

Nhiều đề tài nghiên cứu về sức khỏe người lao động nông nghiệp đã được tiến hành song vẫn chỉ ở mức thăm dò, thử nghiệm do chưa được đầu tư nhiều về cơ sở vật chất, việc duy trì các mô hình can thiệp sau khi kết thúc đề tài gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh phí, thiếu phương tiện bảo hộ lao động, việc trang bị và cung cấp các phương tiện sản xuất thiếu đồng bộ, ý thức của người lao động chưa cao Các kết quả nghiên cứu thực trạng môi trường sức khỏe của nông dân trồng lúa, trồng rau, trồng chè, cà phê… đã gợi ý nhiều điều cho công tác y học lao động đối với đối tượng này và đã được các cấp chính quyền quan tâm tuy nhiên hiệu quả của các giải pháp can thiệp trong những năm vừa qua vẫn chưa thực sự rõ rệt, đòi hỏi cần phải có thêm những nghiên cứu mới ở nhiều địa phương khác nhau, trên nhiều đối tượng người lao động khác nhau để tìm ra những giải pháp mới thực sự hữu hiệu, khả thi nhằm tạo ra một môi trường lao động nông nghiệp an toàn, bảo vệ tốt nhất sức khỏe của người lao động nông nghiệp [23]

Tác giả Lê Vân Trình đưa ra một số mô hình, giải pháp nhằm chăm sóc sức khỏe người lao động nông nghiệp tại Việt Nam bao gồm làm tốt công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe cho cộng động nhằm nâng cao sự hiểu biết cảu người dân về bảo vệ môi trường và ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất nông nghiệp gây ra tới sức khỏe Bên cạnh đó cần tăng cường sự phối hợp của các đoàn thể quần chúng với chính quyền trong công tác chăm sóc sức khỏe người lao động nông nghiệp [45]

Ngày đăng: 15/04/2021, 06:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w