Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay, với sự phân công và hợp tác lao động diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, liên kết kinh tế giữa
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHÙNG LÊ DUNG
LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ HỘ NÔNG DÂN
Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2021
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHÙNG LÊ DUNG
LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ HỘ NÔNG DÂN
Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 9 31 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS NGUYỄN THỊ NHƢ HÀ
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Phùng Lê Dung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN VẤN ĐỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG LÃNH THỔ 7
1.1 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả có liên quan đến vấn đề liên kết kinh tế 71.2 Khái quát kết quả của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu phát triển 28
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ HỘ NÔNG DÂN 31
2.1 Khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc và vai trò của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân 312.2 Nội dung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân 482.3 Kinh nghiệm của một số vùng lãnh thổ trong nước về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân và bài học rút ra cho vùng Đồng bằng sông Hồng 71
Chương 3: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH
NGHIỆP VÀ HỘ NÔNG DÂN Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG GIAI ĐOẠN 2015 - 2019 80
3.1 Cơ hội và thách thức trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng 803.2 Tình hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2015 - 2019 90
Trang 53.3 Đánh giá chung về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
ở vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2015 - 2019 110
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT
KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ HỘ NÔNG DÂN Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐẾN NĂM 2030 130
4.1 Quan điểm về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng 1304.2 Giải pháp tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng 133
KẾT LUẬN 153 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 155 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156 PHỤ LỤC 168
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của các
tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng năm 2015 - 2019 80Bảng 3.2: Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của các tỉnh,
thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng năm 2015 - 2019 81Bảng 3.3: Số lượng và sản lượng chăn nuôi qua các năm tại các tỉnh,
thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng 84Bảng 3.4: Tỷ lệ liên kết trực tiếp giữa doanh nghiệp và hộ nông dân theo
chuỗi giá trị và theo từng khâu 91Bảng 3.5: Tỷ lệ hộ nông dân liên kết gián tiếp giữa doanh nghiệp so với
tổng số hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng 92Bảng 3.6: Cơ cấu liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân xét
theo thời gian 111
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Sản lượng một số loại nông sản chính ở vùng Đồng bằng sông
Hồng năm 2019 83Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ đầu tư cho liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ
nông dân 94Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ xung đột và giải quyết xung đột giữa doanh nghiệp và
hộ nông dân 102Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ áp dụng trình độ công nghệ trong sản xuất, chế biến và
tiêu thụ hàng nông sản 113Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ tiêu chuẩn chất lượng trong quy trình sản xuất của liên
kết kinh tế 114Biểu đồ 3.6: Nhận thức của doanh nghiệp và hộ nông dân về hợp đồng
liên kết kinh tế 128
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Tỷ lệ tiêu thụ hàng nông sản trong liên kết kinh tế giữa doanh
nghiệp và hộ nông dân 95Hình 3.2: Ý kiến của hộ nông dân về tiêu chuẩn chất lượng doanh nghiệp
đề ra 97Hình 3.3: Cơ cấu giá mua nông sản giữa doanh nghiệp và hộ nông dân 98Hình 3.4: Tỷ lệ phương thức thanh toán giữa doanh nghiệp và hộ nông dân 99Hình 3.5: Tỷ lệ phương thức giao nhận nông sản giữa doanh nghiệp và hộ
nông dân 100Hình 3.6: Tỷ lệ doanh nghiệp hỗ trợ nông dân khi gặp rủi ro 101
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay, với
sự phân công và hợp tác lao động diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở Việt Nam nói chung và vùng Đồng bằng sông Hồng nói riêng đã trở thành xu hướng tất yếu trong phát triển nông nghiệp, bước đầu đã có hiệu quả hơn so với hình thức sản xuất nhỏ lẻ, phân tán Những kết quả tích cực của việc liên kết trong sản xuất nông nghiệp
có thể kể đến như: góp phần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và chế biến; nâng cao năng suất, chất lượng nông sản; mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, đa dạng hóa nông sản xuất khẩu; tạo ra sự chuyên môn hóa mạnh mẽ trong phát triển nông nghiệp Từ đó, tăng cường hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản trên thị trường, góp phần thúc đẩy tái cơ cấu ngành hướng đến phát triển sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở tăng cường mối liên kết kinh tế trong sản xuất nông nghiệp ở tất cả các khâu
Vùng Đồng bằng sông Hồng có trình độ dân trí cao so với mặt bằng chung cả nước, sản xuất hàng hóa cũng phát triển hơn các vùng khác Do đó, thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư liên kết với các hộ nông dân Đã có một số doanh nghiệp đầu tư vào các dự án nông nghiệp công nghệ cao của vùng, tạo thành một chuỗi phát triển như: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Toản Xuân (Nam Định), công ty TNHH MTV Minh Dương (Nam Định), Công ty Dabaco (Bắc Ninh), Công ty CP đầu tư Organica (Hà Nội), Công ty Marphavet, Công ty cổ phần Thủy sản Trung Sơn, Hòa Phát,… Điều này đã góp phần bù đắp những “khoảng trống” về vốn, kỹ thuật, thị trường trong phát triển nông nghiệp của vùng Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng sẽ cùng lúc giải quyết được hai bài toán của ngành
nông nghiệp Thứ nhất, bài toán các hộ nông dân lo sợ mất đất, cũng như tình trạng lãng phí đất “bờ xôi ruộng mật” Thứ hai, bài toán doanh nghiệp thuê
Trang 11đất sản xuất nông nghiệp nhưng thực chất là gom đất giá rẻ rồi chuyển đổi, đầu tư bất động sản, sử dụng đất sai mục đích Về lâu dài, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân sẽ góp phần quyết định vào sự phát triển nông nghiệp của vùng Đồng bằng sông Hồng Đồng thời, đây cũng là yếu tố “đột phá”, là đòn bẩy để đưa một nền sản xuất nông nghiệp truyền thống lên nền sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, chất lượng cao
Tuy nhiên, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng còn gặp nhiều khó khăn như: hạn chế về số lượng và chất lượng; quy mô liên kết chưa lớn; mô hình liên kết kinh tế theo chuỗi giá trị nông sản và theo hướng trang trại hạt nhân còn ít; ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và sơ chế, chế biến còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường;… Số lượng các doanh nghiệp liên kết với hộ nông dân còn thấp, chỉ chiếm chưa đến 1% tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động trong vùng Đồng bằng sông Hồng Nguyên nhân chính là do tranh chấp về lợi ích trong liên kết, chính sách khuyến khích liên kết còn nhiều bất cập, tư liệu đất đai không ổn định để đầu tư sản xuất lâu dài, hợp đồng liên kết còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ, công tác xúc tiến thương mại, định vị thương hiệu nông sản còn yếu,… Chính những điều này đã ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển nền sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn
Vì vậy, việc nghiên cứu liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
ở vùng Đồng bằng sông Hồng là vấn đề cần thiết, cấp bách, cần được nghiên cứu
hoạt động liên kết của các chủ thể Xuất phát từ những lý do đó, đề tài “Liên kết
kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng”
được lựa chọn để làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa và làm rõ một số lý luận cơ bản về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân; nghiên cứu kinh nghiệm vấn đề này của các
Trang 12vùng kinh tế trong nước Trên cơ sở đó để phân tích, đánh giá thực trạng và
đề xuất quan điểm, giải pháp tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và
hộ nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng trong những năm tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
- Tham khảo, kế thừa các công trình khoa học; thu thập các tài liệu để xây dựng khung lý luận về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số vùng lãnh thổ về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân để làm bài học cho vùng Đồng bằng sông Hồng
- Phân tích thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân của vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2015 - 2019 Đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế đối với việc liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân của vùng Đồng bằng sông Hồng
- Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp (có liên quan đến sản xuất kinh doanh nông nghiệp) và hộ nông dân với tư cách là quan hệ kinh tế đặc thù trong sản xuất nông nghiệp hiện đại (tiếp cận từ góc độ kinh tế chính trị)
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Luận án nghiên cứu liên kết kinh tế giữa hai chủ
thể là doanh nghiệp và hộ nông dân trong quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp (từ khâu sản xuất đến khâu chế biến, tiêu thụ nông sản)
- Phạm vi về thời gian: Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng được giới
hạn trong giai đoạn năm 2015 đến năm 2019; quan điểm và giải pháp được nghiên cứu đến năm 2030
Trang 13- Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu tập trung trong phạm vi
các chủ thể kinh tế ở vùng Đồng bằng sông Hồng của Việt Nam, trong đó
chọn điểm đại diện ở một số tỉnh, thành phố có tỷ lệ hộ nông dân cao
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận
- Về lý luận: Luận án nghiên cứu lý luận dựa trên nền tảng lý luận của
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách Nhà nước và các lý thuyết kinh tế tiêu biểu về liên kết kinh
tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
- Về thực tiễn: Luận án dựa vào thực tiễn liên kết kinh tế giữa doanh
nghiệp và hộ nông dân trên lãnh thổ vùng để phân tích thực trạng và xu hướng vận động của liên kết kinh tế làm cơ sở đề xuất giải pháp
- Có kế thừa một số kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học Kinh tế chính trị Đó là phương pháp trừu tượng hóa khoa học (tức là gạt bỏ những
của liên kết kinh tế trong phạm vi giữa doanh nghiệp và hộ nông dân) và phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp giữa logic và lịch sử ở các chương của luận án
Đồng thời, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế trong quá trình nghiên cứu, phân tích các vấn đề thực tiễn, như:
- Phương pháp thu thập tài liệu và số liệu: Luận án kế thừa thông tin,
số liệu về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân của Việt Nam nói chung và của vùng Đồng bằng sông Hồng nói riêng được công bố trong các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước; Văn kiện, Nghị quyết của Đảng bộ các tỉnh và vùng Đồng bằng sông Hồng; các công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ; sách chuyên khảo, tạp chí,
Trang 14các báo cáo của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng;
số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng Tất cả các số liệu đều được chọn lọc, chỉ rõ nguồn trích dẫn giúp cho việc phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, xử lý số liệu: Luận án phân tích, so
sánh các số liệu để hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề chung nhất về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân; đánh giá khách quan các
mô hình về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng Bên cạnh đó, luận án cũng phân tích những căn cứ lý thuyết
và thực tiễn để đề xuất các giải pháp tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân của vùng trong tình hình hiện nay
- Phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn chuyên gia: Luận án
chọn mẫu khảo sát điển hình và ngẫu nhiên với 300 mẫu phiếu phỏng vấn doanh nghiệp và hộ nông dân, hợp tác xã đóng vai trò liên kết trung gian giữa doanh nghiệp và hộ nông dân Cụ thể:
+ Các hộ nông dân thuộc 12 HTX nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng (Hưng Yên, Nam Định, Quảng Ninh, Hà Nội, Ninh Bình…) Các hộ nông dân liên kết với doanh nghiệp không qua HTX ở Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương,…
+ 8 doanh nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng: có liên kết kinh tế với các hộ nông dân ở Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình,…;
Luận án có phỏng vấn các chuyên gia ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn của một số tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng; chủ nhiệm, xã viên một số HTX; lãnh đạo một số doanh nghiệp liên kết điển hình và các nhà khoa học nhằm cung cấp thêm các minh chứng để phân tích các vấn đề về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
Trang 155 Ý nghĩa khoa học của Luận án
- Về mặt lý luận:
Xây dựng khung phân tích liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
- Về mặt thực tiễn:
+ Từ kinh nghiệm của một số vùng lãnh thổ trong nước về liên kết kinh
tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân, rút ra bài học về liên kết kinh tế giữa
doanh nghiệp và hộ nông dân cho vùng Đồng bằng sông Hồng
+ Phân tích, đánh giá thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 2015 - 2019 và chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
ở vùng Đồng bằng sông Hồng nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng, hướng đến một nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững
+ Đây có thể là tài liệu tham khảo có ích cho việc xây dựng các chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn, hiện đại
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trên địa bàn vùng lãnh thổ
- Chương 2: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
- Chương 3: Thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2015 - 2019
- Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ HỘ NÔNG DÂN
TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG LÃNH THỔ
Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân nói chung và liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở các vùng lãnh thổ là vấn đề được nghiên cứu từ lâu, phong phú, đa dạng dưới hình thức đề tài các cấp, hội thảo, luận án tiến sĩ, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí… trong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề này dưới nhiều góc nhìn khác nhau về những khía cạnh xung quanh vấn đề liên kết kinh tế, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân, những thuận lợi cũng như những rào cản, khó khăn của mối liên kết này,…
Điển hình là các công trình sau:
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU CỦA CÁC TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ LIÊN KẾT KINH TẾ
1.1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan về vấn đề liên kết kinh tế nói chung
1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả nước ngoài về vấn đề liên kết kinh tế
A.Smith (2003), The Wealth of Nations (Của cải của các dân tộc),
Bantam Classics [101] Trong cuốn sách này của mình, ông nói rằng những cải
tiến lớn nhất trong sức sản xuất của lao động nằm trong sự chuyên môn hóa và phân công lao động Bằng cách tăng năng suất, sự phân công lao động, chuyên môn hóa cũng làm tăng sự giàu có của một xã hội, làm tăng mức sống thậm chí của những người nghèo nhất Đây là một minh chứng cho sự liên kết không chỉ của những người lao động làm việc trong ngành sản xuất, mà là của tất cả các ngành thương mại Và chính liên kết kinh tế ngày càng phát triển đã thúc đẩy phân công lao động và chuyên môn hóa để tăng năng suất lao động Thị trường
Trang 17càng lớn, giao thông càng thuận tiện thì liên kết kinh tế càng cao, mức độ phân công lao động và chuyên môn hóa càng được phân chia một cách hiệu quả Bởi
vì năng suất lao động tăng với sự chuyên môn hóa, phân công lao động cần một thị trường để tiêu thụ các sản phẩm mà sự liên kết ấy tạo ra
D.Ricardo đã tiếp tục phát triển lý thuyết của A.Smith, ông đưa ra lý
chuyên môn hóa quốc tế sẽ có lợi cho tất cả các quốc gia Trong trường hợp một bên sản xuất hàng hóa kém hơn và hầu như không có khả năng cạnh tranh thì sự chuyên môn hóa chỉ tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế cũng giúp họ có được lợi ích tốt hơn, vì họ đã tiết kiệm được một khoản phí để tìm kiếm cơ hội cho các hoạt động khác nhau Theo ông, chuyên môn hóa chính là cách thức tạo ra những lợi ích tiềm ẩn của sự hợp tác Đây được coi là một bước tiến trong nghiên cứu của D.Ricardo Nhưng điểm hạn chế của ông là chưa chỉ rõ được lợi ích cụ thể mà mỗi bên thu được Đó là vấn
đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu kinh tế cận đại
C.Mác và PhĂnghen (1993), Toàn tập, tập 23 [11] Ông đã phân tích
kỹ về phân công lao động và chuyên môn hóa trong chủ nghĩa tư bản giai
động và chuyên môn hóa là điều kiện tồn tại và phát triển của nền sản xuất hàng hóa, khiến những người sản xuất cần phụ thuộc vào nhau, có mối quan
hệ kinh tế với nhau Mặt khác, sự phân công, hiệp tác tạo ra năng suất, hiệu quả cao hơn Nhưng sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất mới là cơ sở, là điều kiện đủ của nền sản xuất hàng hóa, chính điều
đó, lại trở thành tiền đề cho sự liên kết trong sản xuất và kinh doanh
V.I.Lênin (1979), Toàn tập [86] Ông đã chỉ ra chính phân công lao
động và tăng năng suất lao động là cơ sở để có nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, phân công lao động càng sâu sắc thì quy mô thị trường càng được
mở rộng Không dừng lại ở đó, khi bàn đến chủ nghĩa tư bản độc quyền, Lênin đã chỉ ra đặc điểm cơ bản nhất của giai đoạn này là tập trung sản xuất
Trang 18và các tổ chức độc quyền Độc quyền tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, phát triển từ thấp đến cao, từ một ngành đến nhiều ngành Đây chính là các hình thức của liên kết kinh tế Cụ thể là: Buổi ban đầu, các liên minh hình
những doanh nghiệp trong cùng ngành Sau đó, mới xuất hiện sự liên kết dọc,
quan về kinh tế và kỹ thuật thì liên kết với nhau Sau này xuất hiện liên kết đa ngành, vừa bao gồm liên kết ngang và liên kết dọc, hình thành những
cônglômêrat hay consơn khổng lồ thâu tóm nhiều công ty, xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệp rất khác nhau, đồng thời bao gồm cả vận tải, thương mại, ngân hàng và các dịch vụ khác, v.v… Như vậy, các hình thức liên kết kinh tế trên đi vào nắm giữ các mạch máu của nền kinh tế, đi vào mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh với đủ mọi phương pháp Vì vậy mà có sức mạnh vô cùng to lớn, chi phối nền kinh tế Chủ nghĩa đế quốc Hơn nữa, Lênin còn chỉ ra sự liên kết giữa các nước tư bản phát triển với các nước nghèo bằng con đường xuất khẩu tư bản với mục đích “Bình phương hóa giá trị thặng dư” Điều này, một phần tạo việc làm, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước nghèo, nhưng chủ yếu là khiến chủ nghĩa tư bản ngày càng trở nên giàu có, mở rộng phạm vi bành trướng trên quy mô quốc tế Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin cũng bàn đến hình thức liên minh công nông để phát triển một nền kinh tế mạnh và bền vững
Albert Hirschman Otto (1958), Strategy of economic development
(Chiến lược phát triển kinh tế) [94] Ý tưởng nghiên cứu của Albert Hirschman
Otto xuất phát từ việc ông nhận thấy các nước nghèo thường khan hiếm nguồn tài chính, khoa học công nghệ,… Do vậy, bằng cách liên kết, hợp tác với các nước giàu, các quốc gia này có thể huy động được nguồn lực mình cần, đặc biệt là sự hợp tác trong các ngành công nghiệp và từ đó tạo ra sự tăng trưởng kinh tế Ông cho rằng sự liên kết này là rất cần thiết để phát triển kinh
tế và tập trung làm thế nào để thúc đẩy thị trường đầu vào ở các nước nghèo
Trang 19một cách mạnh mẽ, mục tiêu ông đưa ra là đầu tư vào những ngành công nghiệp có sự liên kết mạnh nhất Theo ông, chính sự liên kết đó sẽ tạo ra sự thay đổi, tăng trưởng và hiệu ứng lan tỏa từ khu vực này sang khu vực khác của nền kinh tế Với cách tiếp cận các mối liên kết ngành và liên ngành như vậy, ông đã đưa ra quan niệm về liên kết xuôi (forward linkages, downstream linkages), liên kết ngược (backward linkages, upstream linkages) để phản ánh mối quan hệ đầu vào và đầu ra của liên kết.Ông cũng chỉ ra: Các hiệu ứng liên kết ngược (backward linkage effects) được sinh ra từ nhu cầu cung ứng đầu vào của một ngành vừa được thành lập; các hiệu ứng liên kết xuôi sinh ra từ nhu cầu sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các ngành khác kéo theo [94] Nghĩa là, bất kỳ một ngành nào được thành lập mới cũng kéo theo các hoạt động sản xuất khác nhằm cung cấp đầu vào cho ngành ấy; và mọi ngành, trừ các ngành sản xuất hàng hóa cuối cùng, đều kéo theo các hoạt động khác sử dụng đầu ra của ngành ấy như đầu vào của mình
Bela Balassa (1961), The Theory of Economic Intergration (Lý thuyết
về liên kết kinh tế) [92] Cuốn sách tập trung vào các vấn đề lý thuyết trong
liên kết của các nền kinh tế độc lập và việc phối hợp các chính sách kinh tế trong một liên kết Cuốn sách cũng đưa ra sự phân biệt giữa các hình thức liên kết khác nhau như khu vực thương mại tự do, thị trường chung, liên minh thuế quan, các liên minh kinh tế và các liên minh trên mọi lĩnh vực… Đồng thời, cuốn sách nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa liên kết và tăng trưởng, điều
mà rất ít học giả thời đó chú ý đến Cuốn sách quan niệm liên kết kinh tế, khác hẳn với hợp tác kinh tế về mặt hình thức cũng như bản chất, là những ràng buộc khiến các nền kinh tế độc lập trở thành một chỉnh thể thống nhất Liên kết kinh tế ở đây, được hiểu như một thể chế kinh tế nhằm xóa bỏ sự phân biệt giữa các nền kinh tế, gắn kết các nền kinh tế với nhau
Michael E.Porter (2009), Chiến lược cạnh tranh, Lợi thế cạnh tranh,
Lợi thế cạnh tranh quốc gia [47] Trong nghiên cứu của mình, ông đã giới
thiệu những công cụ cạnh tranh mạnh mẽ nhất, chỉ ra cơ sở của lợi thế cạnh
Trang 20tranh trong từng doanh nghiệp và trên phạm vi quốc gia Trong đó, ông đưa ra các phân tích về sự cần thiết thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất, chế biến đến phân phối, bán hàng gắn với cấu trúc ngành và cấu trúc tổ chức Ông khẳng định: các liên kết trong chuỗi giá trị có thể đưa đến lợi thế cạnh tranh theo hai hướng là tối ưu hóa hoặc sự điều phối [47] Bên cạnh đó, ông cũng bàn đến các liên minh kinh tế với hai hình thức liên minh cơ bản là liên minh theo chiều dọc và liên minh theo chiều ngang… Ông định nghĩa:
“Liên minh là những hợp đồng dài hạn giữa các doanh nghiệp vượt qua những giao dịch thông thường trên thị trường nhưng không có sự sáp nhập công
không cần mở rộng doanh nghiệp, thông qua hợp đồng với một doanh nghiệp độc lập khác để thực hiện các hoạt động giá trị” [47, tr.100-101] Như vậy, họ
là những doanh nghiệp độc lập với nhau, liên minh vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm đạt lợi thế về chi phí hoặc lợi thế khác biệt hóa từ các liên kết dọc mà không cần tích hợp trên thực tế Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là lợi nhuận thu được từ việc liên minh sẽ chia sẻ như thế nào, điều này phụ thuộc phần lớn vào năng lực đàm phán của mỗi thành viên
1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả trong nước về vấn đề liên kết kinh tế
Dương Bá Phượng (1995), Liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương
mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường [61] Tác giả đã bàn
đến những vấn đề lý luận cơ bản nhất giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, là người tổng kết và phát triển các khái niệm liên kết kinh tế trước đó Ông khẳng định: liên kết kinh tế là biểu hiện của sự phối hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh tế; liên kết kinh tế không chỉ thực hiện một quan hệ kinh tế mà ngày càng xích lại gần nhau để gắn bó chặt chẽ, ổn định, lâu dài với nhau thông qua các thỏa thuận hợp đồng
từ trước giữa các chủ thể Trong đó, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa liên kết kinh tế với quan hệ sở hữu; chỉ ra sự liên kết kinh tế là khâu trung gian để
Trang 21đi đến sáp nhập, hợp nhất, hình thành một doanh nghiệp mới có quy mô lớn hơn Theo đó, liên kết kinh tế chính là quá trình xã hội hóa sản xuất
Trần Thị Lan Hương (2009), Hợp tác phát triển nông nghiệp ở Châu
Phi - đặc điểm và xu hướng [38] Cuốn sách phân tích thực trạng nông nghiệp
châu Phi và thực trạng hợp tác nông nghiệp ở một số nước châu Phi điển hình trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI Từ đó, chỉ ra những ngành, những lĩnh vực, vùng, đối tác… có khả năng hợp tác với châu Phi trên lĩnh vực nông nghiệp đến năm 2020 Các quốc gia, các tổ chức có dự án hợp tác với Châu Phi được nghiên cứu bao gồm: FAO, IFAD, Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc Tuy nhiên, khối lượng lớn dự án này với những hình thức đa dạng như: hỗ trợ cải tạo giống, mở rộng hệ thống tưới tiêu, phát triển kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực,… dường như không đem lại hiệu quả đồng bộ cho nông nghiệp Châu Phi Kết thúc các dự án hợp tác, nông nghiệp Châu phi lại trở lại trạng thái ban đầu là năng suất thấp, canh tác tiểu nông, không đủ lương thực,… Lý do chính là sự thụ động của chính quyền Châu Phi và nông dân trước sự hỗ trợ, hợp tác của các tổ chức, các quốc gia nêu trên
Lưu Đức Khải (2010), Tăng cường năng lực tham gia thị trường của hộ
nông dân thông qua chuỗi giá trị hàng nông sản [41] Cuốn sách phân tích
những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc kết nối người nông dân với thị trường, khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua đẩy mạnh liên kết trong chuỗi giá trị hàng nông sản Mà bản chất của việc nông dân tham gia vào chuỗi giá trị hàng nông sản chính là tiền đề để tạo ra những liên kết kinh tế Khi tham gia liên kết này, người nông dân có những cơ hội cũng như rủi ro nhất định Vì vậy, đối với
hộ nông dân, cần tăng cường năng lực bản thân để có được những hợp đồng tốt Đối với doanh nghiệp, cần tăng cường năng lực quản trị chuỗi giá trị, chủ động xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình thị trường
Bùi Đức Hùng (Chủ biên) (2016), Mô hình tăng trưởng hướng tới tăng
trưởng xanh ở vùng Nam trung bộ hiện nay [37] Từ trước tới nay, Việt Nam
phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào các nguồn lực tự nhiên không tái tạo được;
Trang 22các hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội làm phát sinh nhiều chất gây ô nhiễm môi trường nhưng không được xử lý kịp thời, phát thải khí nhà kính ngày càng nhiều Vì vậy, Việt Nam cần đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh Để thực hiện được điều này, một trong các yêu cầu quan trọng là yếu tố liên kết vùng, đặc biệt là tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực của vùng Nam trung bộ Phương châm của liên kết dựa trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, có thể khai thác tối đa, tiềm năng lợi thế của từng địa phương và toàn vùng Nam trung bộ để cùng phát triển Liên kết không phô trương, hình thức mà cần có mục tiêu, kế hoạch, dự
án cụ thể, rõ ràng để đảm bảo tính hiệu quả Bên cạnh đó, cần mở rộng liên kết ra khỏi phạm vi vùng Nam trung bộ như: liên kết với các địa phương, các vùng khác trong nước và liên kết quốc tế
Phan Thị Dung (2008), “Liên kết kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả trong
hoạt động khai thác hải sản ở khu vực Nam Trung Bộ” [22] Bài báo phân
tích thực trạng các mô hình liên kết trong khai thác hải sản khu vực, hoạt
nối khai thác và tiêu thụ sản phẩm thủy sản nhưng vẫn còn một số hạn chế
Do đó, tác giả đề xuất một số mô hình liên kết kinh tế theo hình thức liên kết dọc, liên kết ngang nhằm góp phần gia tăng giá trị sản phẩm mà không cần gia tăng sản lượng khai thác
Đinh Quang Hải (2007), “Liên kết “4 nhà” - nhà nước, nhà nông, nhà
khoa học và nhà doanh nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay” [26] Bài báo đã chỉ ra các mối liên kết “4 nhà” ở Việt Nam được đưa ra
vào năm 2004, và sau 4 năm thực hiện đã có những kết quả tích cực Trong liên kết này, chủ thể nào cũng có vai trò quan trọng nhưng tác giả cho rằng: mối liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, chế biến, thương mại với nông dân cần được cải thiện; mối liên kết này cùng với nhà khoa học thông qua con đường công nghiệp hóa công nghệ là giải pháp căn bản và bền vững nhất cho phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trang 23Trần Hữu Cường (2009), “Phát triển và liên kết thị trường nông sản:
Cơ sở lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam” [20] Bài báo tiếp cận vấn đề theo
chức năng, theo thể chế, theo tính cạnh tranh và quá trình phát triển thị trường, sử dụng cho nghiên cứu ba trường hợp mẫu: ngành rau an toàn, nông sản miền núi và ngành hàng thịt lợn Từ những phân tích của mình, tác giả nhận định thị trường nông sản Việt Nam vẫn đang nằm giữa giai đoạn sơ khai
và định hình của quá trình phát triển thị trường Các liên kết nông sản dọc và ngang trong sản xuất và tiêu thụ nông sản đã xuất hiện nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt tổ chức, tài chính chưa chặt chẽ đã cản trở sự liên kết này Không những vậy, sự mất cân xứng về tiềm lực giữa các chủ thể tham gia liên kết, tính pháp lý và quan hệ tổ chức trên chuỗi chưa đồng bộ và chưa chặt chẽ
đã dẫn đến hành vi “cơ hội” trong liên kết Do vậy, các cơ quan nhà nước được xem như là tác nhân chính cung cấp sản phẩm công cộng cho thị trường một cách hiệu quả; đồng thời, giúp các tác nhân khác có một “sân chơi” công bằng hơn thông qua các chính sách
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, World Bank Group (2019),
Diễn đàn thúc đẩy sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản Việt Nam Diễn đàn nêu
lên những khó khăn trong liên kết hàng nông sản ở Việt Nam, kinh nghiệm cụ thể của các doanh nghiệp trong chuỗi liên kết như Công ty cổ phần Nafoofs Group, Công ty Vinacafe Bien Hoa, Công ty TNHH Biển Đông DHS, công ty
cổ phần tập đoàn Dabaco Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, trong đó nhấn mạnh giải pháp xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng chất cấm trong sản xuất, tăng cường sự giám sát của nhà nước đối với vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm; đồng thời đẩy mạnh việc xây
dựng thương hiệu hàng nông sản Việt Nam [10]
Võ Hữu Phước (2014), Nghiên cứu ứng dụng mô hình “liên kết bốn
nhà” vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp, nông thôn tỉnh Trà Vinh [60] Luận
án tập trung phân tích vai trò của “bốn nhà” trong phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp, nông thôn là nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà
Trang 24nông; các nhân tố ảnh hưởng đến mối liên kết này, đồng thời, phân tích hiện trạng liên kết “bốn nhà” trong nông nghiệp ở Trà Vinh Trong đó, luận án cũng đề cập đến vai trò quan trọng của doanh nghiệp đối với nông dân trong
chung và các hộ nông dân nói riêng lên một bước cao mới, phù hợp với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế như góp phần đưa nông sản Việt vươn tầm thế giới, cải tiến kỹ thuật sản xuất, thay đổi cung cách làm ăn của hộ nông dân,… Trên cơ sở đó, luận án đưa ra giải pháp về phát huy vai trò của doanh nghiệp trong quan hệ liên kết “bốn nhà” nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp tỉnh Trà Vinh Ở giải pháp này, tác giả đã chỉ ra những tác động tích cực cũng như tác động tiêu cực của mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân Đồng thời, đưa ra giải pháp tăng cường năng lực của doanh nghiệp và hộ nông dân, trong đó khuyến khích doanh nghiệp đưa ra các mô hình trình diễn mới và chú trọng đến vấn đề đổi mới phương thức hợp đồng tiêu thụ nông sản
Phùng Giang Hải (2015), Liên kết trong sản xuất và chế biến tôm
thương phẩm ở tỉnh Cà Mau [27] Luận án đã phân tích khá rõ các quan niệm
về liên kết, các hình thức liên kết như liên kết dọc, liên kết ngang Luận án đã bàn đến tính hiệu quả, hiệu lực và bền vững trong liên kết Điểm nổi bật là tác giả đã đưa ra quan điểm liên kết hiệu quả không chỉ doanh nghiệp, hộ nông dân được lợi hơn về mặt kinh tế mà còn cả trên phương diện xã hội và môi trường so với khi hoạt động đơn lẻ Tuy nhiên, cuốn luận án chủ yếu chỉ tập trung bàn đến những vấn đề của liên kết trong sản xuất và chế biến tôm thương phẩm tỉnh Cà Mau
Đặng Huyền Trang (2018), Liên kết kinh tế giữa sản xuất với chế biến
và tiêu thụ cà phê bền vững - nghiên cứu tại tỉnh Sơn La [82] Luận án đã
phân tích các lý thuyết cơ bản làm cơ sở cho nghiên cứu về liên kết kinh tế giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ cà phê, bao gồm: Lý thuyết về phân
Trang 25công và hiệp tác lao động; Lý thuyết về liên kết công - nông nghiệp; Lý thuyết về chuỗi giá trị ngành hàng Từ đó, luận án đã làm rõ được cơ sở lý luận về liên kết kinh tế giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ cà phê bền vững, làm rõ được các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ cà phê bền vững và đưa ra những giải pháp để thúc đẩy liên kết kinh tế giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ cà phê bền vững ở Sơn
La trong những năm tới
Mai Anh Bảo (2015), Đánh giá tác động của các yếu tố nội sinh đến
kết quả hoạt động của các Hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng [2] Luận án đã đánh giá một số tác động nội sinh có tác
động đến kết quả hoạt động của các Hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng, luận án khẳng định Hợp tác xã chính là cầu nối giữa doanh nghiệp và nông dân, hỗ trợ cả hai bên cùng phát triển Trên cơ sở đó, luận án đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao kết quả hoạt động của hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp tại đồng bằng song Hồng như: nâng
trị của ban chủ nhiệm hợp tác xã; nâng cao sự tham gia vào quản trị hợp tác
xã của các xã viên và một số giải pháp cụ thể đối với từng hoạt động của hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp
Vũ Đức Hạnh (2015), Nghiên cứu các hình thức liên kết trong tiêu thụ
nông sản của hộ nông dân tỉnh Ninh Bình [29] Cuốn luận án đã đưa ra khái
niệm về liên kết kinh tế Đồng thời, phân loại và phân tích hình thức liên kết trong lĩnh vực tiêu thụ nông sản của doanh nghiệp với nông dân với các qui tắc ràng buộc, lợi ích của hai bên Luận án đã phân tích những vấn đề chung nhất về liên kết tiêu thụ sản phẩm ở Ninh Bình Từ đó, đề xuất các giải pháp tăng cường mối liên kết trên, bao gồm 4 nhóm giải pháp: giải pháp về tuyên truyền; giải pháp về lựa chọn hình thức tổ chức liên kết tiêu thụ nông sản của
hộ nông dân; giải pháp về chính sách; giải pháp về hoàn thiện các qui tắc ràng buộc và nâng cao hiệu quả hợp đồng trong liên kết
Trang 261.1.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
1.1.2.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan các tác giả nước ngoài về vấn đề liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
Ola Smith, Marcelino Avila and Nur Abdi (2004), “Strengthening
linkages between Farmers’ Organizations and Agricultural Research Institutions (Tăng cường liên kết giữa các tổ chức của nông dân và các Viện nghiên cứu nông nghiệp) GFAR” [102] Bài báo đã đề cập đến sự cần thiết phải
liên kết kinh tế giữa nông dân với khu vực kinh doanh nông nghiệp, khẳng định liên kết kinh tế chính là sự thể hiện tầm nhìn dài hạn vì một nền nông nghiệp phát triển trong tương lai, tuy nhiên chưa đi vào phân tích chi tiết, cụ thể
Nicholas Minot (2009), Contract farming in developing countries:
Patterns, impact, and policy implications (Hợp đồng nông nghiệp trong sự phát triển của các quốc gia: Mô hình, tác động, và hàm ý chính sách), (in
Book: Case studies in food policy for developing countries: Institutions and
International trade policies) [96] Bài viết nghiên cứu trường hợp các doanh
nghiệp sẵn sàng ký hợp đồng với hộ nông dân quy mô nhỏ, trong đó người nông dân cam kết sản xuất nông sản theo một cách nhất định Thông thường, doanh nghiệp có thể hỗ trợ nông dân về vấn đề kỹ thuật, giống, phân bón,…
và đảm bảo một mức giá đầu ra thỏa đáng Bài viết phân tích hai vấn đề: một
là, liên kết doanh nghiệp và hộ nông dân nhỏ có nhiều lợi ích cho nông dân,
giúp hộ nông dân nhỏ nâng cao năng suất và có định hướng trong sản xuất,
giả cũng chỉ ra mối liên kết này là sự liên kết không cân bằng quyền lực dẫn đến một thỏa thuận không có lợi cho hộ nông dân
Charles Eaton, Andrew W Shepherd (2001), Contract farming -
Partnerships for growth (Hợp đồng nông nghiệp - Hợp tác để phát triển) [93]
Hợp đồng nông nghiệp đã tồn tại từ lâu, là một cách thức sản xuất trong nông nghiệp với quy mô đa dạng Báo cáo này nhằm mục đích tìm những nhân tố ảnh
Trang 27hưởng đến hợp đồng nông nghiệp như thói quen tiêu dùng, tự do hóa marketing
và mở rộng thương mại thế giới trong lĩnh vực nông sản Từ đó đưa ra những chỉ dẫn để cải thiện hoạt động kinh doanh trong liên kết doanh nghiệp và hộ nông dân và lời khuyên cho chính phủ Báo cáo đi sâu vào cơ chế giám sát của các hợp đồng nông nghiệp và nhấn mạnh rằng các hợp đồng nông nghiệp chỉ có thể bền vững khi các chủ thể nhận thấy có thể tham gia liên kết trong dài hạn
Pascal Bergeret (2005), Nông dân, Nhà nước và thị trường ở Việt Nam,
Mười năm hợp tác nông nghiệp trong lưu vực s ông Hồng [56] Cuốn sách đã miêu tả cuộc sống của nông dân vùng lưu vực sông Hồng những năm 1980 -
1990 cũng như phân tích chi tiết về chương trình sông Hồng, một chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Pháp trong lĩnh vực nông nghiệp ở vùng Đồng bằng sông Hồng Trong nghiên cứu các trường hợp của mình, tác giả đã chỉ ra
sự hợp tác giữa hộ nông dân và người thu mua hay doanh nghiệp sản xuất là
Đồng thời, chỉ ra vai trò quan trọng của nhà nước, nhà khoa học trong quá trình “giúp đỡ” người nông dân tiến bộ cũng như góp phần điều phối quan hệ giữa nông dân và các nhà thu mua, nhà sản xuất khác
Sachiko Miyata, Nicolas Minot, Dinghuan Hu (2009), “Impact of
Contract Farming on Income: Linking Small Farmers, Packers, and Supermarkets in China” (Ảnh hưởng của hợp đồng nông nghiệp đến thu
nhập: Liên kết giữa các hộ nông dân sản xuất nhỏ, người đóng gói và các siêu thị tại Trung Quốc) [97] Nghiên cứu này so sánh những hộ nông dân có và
nhập Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Hợp đồng nông nghiệp giúp các hộ nông dân sản xuất nhỏ tăng thêm thu nhập Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng tìm thấy một ít bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp thích liên kết với các trang trại lớn hơn là các hộ nông dân sản xuất nhỏ
Trang 28Ian Scoones, Blasio Mavedzenge, Felix Murimbarimba, Chrispen
Sukume (2016), “Tobacco, contract farming, and agrarian change in
Zimbabwe” (Thuốc lá, hợp đồng nông nghiệp và cải cách ruộng đất ở
Zimbabwe) [99] Bài báo của nhóm nghiên cứu đã phân tích mẫu 220 hộ nông dân ở Mvurwi, Zimbabwe liên kết theo hợp đồng trong ngành thuốc lá Theo đó, các doanh nghiệp liên kết với hộ nông dân hầu hết cung cấp đầu vào bao gồm phân bón, hóa chất,… một số doanh nghiệp hỗ trợ thêm vốn để thuê lao động với điều kiện hộ nông dân chứng minh được quyền sở hữu đất đai, có hồ sơ về trồng thuốc lá trên cơ sở dữ liệu, được nhân viên khuyến nông giới thiệu và phải
là thành viên của một nhóm hợp tác từ 5-11 người để có thể hỗ trợ nhau trong sản xuất Vì vậy, không phải hộ nông dân nào cũng có đáp ứng đủ các tiêu chí để tham gia liên kết Còn những hộ nông dân tham gia liên kết chủ yếu với mục đích tăng quy mô sản xuất Trong đó, có một số hộ nông dân sau một thời gian tham gia hợp đồng nông nghiệp đã lựa chọn bán sản phẩm một cách độc lập
1.1.2.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả trong nước về vấn đề liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
Đặng Kim Sơn (2012), Tái cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng
giá trị gia tăng cao [66] Cuốn sách khái quát nền nông nghiệp Việt Nam sau
gần 30 năm đổi mới, đưa ra những giải pháp chiến lược để phát triển một nền nông nghiệp giá trị gia tăng cao trong tương lai Trong đó, tác giả đã đưa một số
mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân để minh chứng cho kinh nghiệm thành công từ các mô hình sản xuất nông nghiệp trong nước Cụ thể là
mô hình công ty hoa Hasfarm Đà Lạt, mô hình hợp đồng và chế biến nông sản của công ty Vinamit, mô hình “cánh đồng mẫu lớn” sản xuất lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long Trong các mô hình này đều có vai trò đầu tàu, chủ động của các doanh nghiệp như hỗ trợ đầu tư xây dựng vùng chuyên canh, cung cấp giống, vật tư đầu vào, thu mua và chế biến nông sản để góp phần gia tăng giá trị… Các doanh nghiệp tham gia liên kết hầu hết là các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có thị trường trong và ngoài nước Do vậy, các
Trang 29doanh nghiệp tạo được vùng nguyên liệu ổn định, giúp người nông dân ổn định sản xuất, thu được giá trị gia tăng Vì vậy, một trong những giải pháp then chốt được tác giả đưa ra để phát triển nền nông nghiệp theo hướng giá trị gia tăng cao chính là liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân Từ đó, tạo nên các tổ hợp nông - công nghiệp hoạt động theo chuỗi
- bối cảnh, nhu cầu và triển vọng [67] Mặc dù đã có được những thành tựu
nhất định nhưng nông nghiệp Việt Nam vẫn phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức như: năng lực chế biến nông sản chưa bắt kịp với các nước trong khu vực, chất lượng nông sản chưa cao, các nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm, biến đổi khí hậu với những tác động xấu,… Vì vậy, Việt Nam cần đổi mới hệ thống chính sách nông nghiệp để thích ứng với điều kiện mới Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp chưa cao chính là thiếu sự liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân Sự thiếu liên kết này làm cho khâu sản xuất tách rời khâu chế biến dẫn đến tình trạng khâu sản xuất khó mở rộng quy mô còn khâu chế biến thiếu nguyên liệu đầu vào đủ tiêu chuẩn nên việc đầu tư máy móc, ứng dụng công nghệ vào chế biến bị hạn chế
Đỗ Thị Nga, Lê Đức Niêm (2017), Liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp
trong sản xuất và tiêu thụ cà phê ở Tây Nguyên [52] Cuốn sách đã trình bày
khái quát cơ sở lý luận về liên kết doanh nghiệp với hộ nông dân trong sản xuất
và tiêu thụ cà phê, phân tích thực trạng của mối liên kết này, từ đó đưa ra một số giải pháp phát triển mô hình liên kết bền vững hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê ở Tây Nguyên Trong đó nhấn mạnh giải pháp nâng cao năng lực tổ chức sản xuất của hộ nông dân, tăng cường vốn và trang thiết bị phục vụ sản xuất cà phê ở nông hộ và nâng cao năng lực của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cà phê trên các khía cạnh tài chính, nghiên cứu phát
Trang 30triển thị trường; cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng khoa công nghệ và đội ngũ cán bộ kỹ thuật để hỗ trợ có hiệu quả hơn cho hộ nông dân
Phạm S (2014), Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là yêu cầu tất
yếu để hội nhập kinh tế [65] Cuốn sách trình bày chi tiết về những nội dung
liên quan đến ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, trong đó có đề cập đến các mô hình liên kết ứng dụng công nghệ cao Cuốn sách nhấn mạnh vai trò của các mô hình ứng dụng, của sự liên kết giữa doanh nghiệp, nông dân, nhà nước, nhà khoa học, chứng minh vai trò và hiệu quả cao trong thực tiễn của những mô hình này
Đỗ Thị Thanh Loan (2016), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
vùng Đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế [44]
Cuốn sách nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng Đồng bằng sông Hồng từ đó đề xuất các nhóm giải pháp phát triển phù hợp Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân tích tính tất yếu phải hợp tác giữa nông nghiệp - công nghiệp; đồng thời cần đẩy mạnh hợp tác liên doanh với nước ngoài thông qua thành lập các doanh nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp kỹ thuật cao, hợp tác về khoa học công nghệ… nhằm mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, chất
đó, tác giả chỉ ra một nền nông nghiệp công nghệ cao cần dựa trên vai trò liên kết “bốn nhà”, trong đó vai trò các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công
kết, hợp tác, nâng cao hiệu quả giữa các chủ thể kinh tế trong Vùng trên cơ sở
tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi Đó là liên kết giữa nông nghiệp và công nghiệp chế biến, liên kết giữa người sản xuất hàng hóa với các tổ chức dịch
vụ thương mại và hình thành các tập đoàn kinh tế lớn làm hạt nhân thu hút các chủ thể kinh tế khác tham gia liên kết dưới hình thức tổng công ty
Trang 31Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn (2018), Sổ tay hướng dẫn
liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Cuốn sách đề cập
đến những lợi ích khi doanh nghiệp liên kết kinh tế với hộ nông dân; quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia liên kết và những thông tin chung nhất về liên kết Đặc biệt, cuốn sách hướng dẫn chi tiết về cách lập hợp đồng liên kết kinh tế, các điều khoản trong hợp đồng, đưa ra một số hợp đồng liên kết mẫu cho doanh nghiệp và hộ nông dân, đồng thời vạch ra 4 bước tiến hành liên kết bao gồm: Tự đánh giá thực trạng và khả năng liên kết; xác định thị trường tiêu thụ và xúc tiến gặp gỡ, tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng; xây dựng phương
án kinh doanh và tổ chức sản xuất; đánh giá, giám sát sơ tổng kết quá trình liên kết Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đề cập đến một số hỗ trợ của nhà nước
đối với liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân [19]
Đỗ Hoài Nam (2017), Nghiên cứu, đề xuất giải pháp chính sách tăng
cường hợp tác tự nguyện của nông dân trong các mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng [50] Trong báo cáo, tác
giả đã phân tích một số luận điểm cơ bản về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với hộ nông dân trong lịch sử phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại: khái niệm, phân loại liên kết kinh tế tự nguyện giữa doanh nghiệp và hộ nông dân; các hình thức liên kết kinh tế tự nguyện và những yếu tố tác động đến mối liên kết này, khẳng định tính quy luật của liên kết kinh tế tự nguyện giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp Khi đi vào nghiên cứu thực trạng sản xuất lúa tại vùng đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng, tác giả nhận thấy các hộ nông dân có thể liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp thông qua Hợp tác xã, các hình thức liên kết rất đa dạng, từng bước hình thành liên kết theo chuỗi giá trị Tuy nhiên, doanh nghiệp thường chỉ tập trung đầu tư, liên kết với nông dân vào những nơi đã có sẵn hạ tầng; người nông dân thì vẫn giữ thói quen tư duy cũ, không mặn mà với liên kết nên doanh nghiệp dễ nản lòng Thêm vào đó, tình trạng phá vỡ hợp đồng khá phổ biến vì hợp đồng hai bên không có tính pháp lý cao, mỗi
Trang 32bên đều tính toán lợi ích trước mắt của mình Vì vậy, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất lúa ở hai vùng còn hạn chế Một trong những lý do quan trọng nữa là các chính sách của nhà nước để khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn nhiều bất cập, hạn chế Vì vậy, giải pháp mà tác giả đưa ra chính là hoàn thiện các chính sách, phát triển mạnh doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao và thay đổi nếp tư duy của hộ nông dân
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (2011), Báo cáo thường
niên doanh nghiệp Việt Nam 2011 [58] Chủ đề của báo cáo bàn về liên kết
kinh doanh, trong đó tập trung phân tích, chỉ ra thực trạng các liên kết sản xuất và chế biến thực phẩm theo từng phân ngành cụ thể như chế biến các sản phẩm từ thủy sản, chế biến thịt, chế biến sữa và mía đường Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất một số giải pháp nâng cao liên kết kinh doanh giữa các chủ thể kinh tế trong ngành sản xuất và chế biến thực phẩm ở Việt Nam Các giải pháp nhấn mạnh vào việc tổ chức lại sản xuất, cụ thể là tổ chức lại sản xuất theo mô hình liên kết dọc, liên kết ngang và hệ thống “nậu vựa” để phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp chế biến với người sản xuất
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện Chính sách và chiến lược
phát triển nông nghiệp nông thôn (2013), Khuyến khích đầu tư doanh nghiệp
vào khu vực nông thôn của các tỉnh Điện Biên, Lào Cai, Lai Châu, Đăk Lăk và Đăk Nông [9] Báo cáo chỉ ra thực trạng phát triển các doanh nghiệp ở các
tỉnh Điện Biên, Lào Cai, Lai Châu, Đăk Lăk và Đăk Nông, trong đó phản ánh thực trạng liên kết của doanh nghiệp với nông dân hầu như còn lỏng lẻo, yếu kém Bên cạnh đó, doanh nghiệp không nhận được nhiều hỗ trợ từ các “nhà” khác nên gặp nhiều khó khăn Theo đó, báo cáo đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường sự hỗ trợ của “các nhà” đối với doanh nghiệp đặc biệt là nhà nước Giữa doanh nghiệp và nông dân cần có hợp đồng cam kết rõ ràng
Hồ Kỳ Minh (2012), Phát triển liên kết kinh tế giữa hộ nông dân với các
chủ thể khác ở thành phố Đà Nẵng [49] Đề tài đã bàn đến liên kết kinh tế trong
Trang 33nông nghiệp, vai trò của liên kết kinh tế trong phát triển kinh tế xã hội nói chung
và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, cũng như vai trò của nông dân và doanh nghiệp trong mối liên kết này Đề tài cũng chỉ ra một số nhân tố ảnh hưởng đến liên kết giữa nông dân và các chủ thể Trên cơ sở phân tích thực trạng liên kết kinh tế giữa nông dân với các chủ thể ở Đà Nẵng, đề tài đề xuất một số giải phát phù hợp với thành phố Đà Nẵng, nhấn mạnh vào mô hình liên kết dựa trên chuỗi giá trị nông sản và các chính sách khuyến khích liên kết
Trần Văn Hiếu (2002), “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp nhà nước
và hộ nông dân - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [34] Tác giả phân tích
liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp nhà nước và hộ nông dân là một tất yếu khách quan nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp đồng thời nâng cao đời sống kinh tế hộ nông dân Các liên kết được thực hiện từ đầu vào đến đầu ra của quá trình sản xuất dựa trên hợp đồng kinh tế là cơ sở pháp lý quan trọng của các bên Bài báo cũng đưa ra kiến nghị cần tuyên truyền, phổ biến cho hộ nông dân về lợi ích của liên kết kinh tế, cần kịp thời tổng kết các mô hình liên kết kinh tế, tăng cường liên kết “bốn nhà” để phát triển tốt hơn nữa liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp nhà nước và hộ nông dân
Hồ Quế Hậu (2013), “Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện liên
kết doanh nghiệp - nông dân” [31] Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến kết quả liên kết giữa doanh nghiệp với hộ nông dân thông qua hợp đồng nông sản Qua phân tích hồi quy đa biến cho thấy: mức giá mua hợp lý cho nông dân, mức độ tin cậy doanh nghiệp của nông dân và hiệu quả kinh tế của nông dân lần lượt là các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến mối liên kết này Đồng thời, doanh nghiệp và nông dân chỉ phù hợp liên kết đối với những sản phẩm có tính chuyên biệt cao, mới, thị trường tiêu thụ hẹp
Hồ Quế Hậu (2015), “Mối quan hệ giữa chất lượng và sự bền vững
trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân” [32] Bài báo chỉ mối
Trang 34quan hệ giữa chất lượng và sự bền vững trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân có mối quan hệ thuận chiều với nhau Kết quả nghiên cứu của tác giả còn chỉ ra bốn nhân tố tác động tích cực đến sự bền vững của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân là: Phương tiện phục vụ liên kết, độ tin cậy doanh nghiệp của nông dân, độ an toàn và lợi ích của nông dân
và mức hiểu biết và ứng xử với nông dân của doanh nghiệp
Lê Khương Ninh (2015), “Mô hình sản xuất theo hợp đồng giữa nông hộ
và doanh nghiệp: ưu, nhược điểm và giải pháp chính sách” [55] Qua nghiên
cứu của mình, tác giả thấy rằng mô hình liên kết theo hợp đồng giữa nông hộ và doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, mô hình này vận hành chưa thật suôn sẻ để phát huy tối đa hiệu quả của nó Mô hình này có ưu điểm, cũng có nhược điểm Vì vậy, cần có các chính sách của Chính phủ để điều tiết quan hệ liên kết này trên các mặt như: phối hợp hành động của các cơ quan chức năng; chỉ định cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm phối hợp nông hộ và doanh nghiệp để đảm bảo công bằng cho các chủ thể khi tham gia
ký kết hợp đồng; khuyến khích các doanh nghiệp liên kết với nông hộ nhằm tạo áp lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích nông dân và khuyến khích ngân hàng cho vay nông hộ và doanh nghiệp có hợp đồng nông sản
Hồ Quế Hậu (2012), Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông
sản với nông dân ở Việt Nam [30] Luận án đã đề cập đến những vấn đề cơ bản
về liên kết kinh tế như: bản chất, đặc trưng của liên kết kinh tế; các loại hình liên kết kinh tế; các nguyên tắc và các điều kiện hình thành liên kết kinh tế Phạm vi của luận án tập trung chủ yếu viết về hình thức liên kết sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng trong lĩnh vực chế biến nông sản Bên cạnh đó, luận án cũng đề cập đến kinh nghiệm của một số quốc gia như: Trung Quốc, Thái Lan,
Ấn Độ để rút ra bài học kinh nghiệm với Việt Nam Trên cơ sở đánh giá thực trạng liên kết kinh tế trong chế biến nông sản, luận án đưa ra một số giải pháp cơ bản để phát triển liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trong chế
Trang 35biến nông sản Trong đó nhấn mạnh giải pháp về lựa chọn lĩnh vực liên kết phù hợp và hoàn thiện các hình thức tổ chức liên kết giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với hộ nông dân; giải pháp về hoàn thiện các qui tắc ràng buộc cũng như nâng cao công tác quản trị hợp đồng tạo điều kiện cho liên kết phát triển
Trần Văn Hiếu, Liên kết kinh tế giữa các hộ nông dân với các doanh
nghiệp nhà nước (qua khảo sát mô hình nông trường sông Hậu công ty Mê Kông
và công ty mía đường Cần Thơ) [35] Luận án đã đề cập đến cơ sở lý luận của
liên kết kinh tế giữa các hộ nông dân với các doanh nghiệp nhà nước, phân tích thực trạng mối liên kết qua khảo sát các trường hợp điển hình trên hai khía cạnh: thành tựu đạt được và những hạn chế Từ đó, đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả liên kết giữa các nông hộ và doanh nghiệp nhà nước
1.1.2.3 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả trong nước về vấn đề liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng
Nguyễn Tất Thắng (2011), Nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng cường
liên kết giữa nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng [69] Đề tài đã bàn đến
những vấn đề của liên kết: khái niệm liên kết, tính tất yếu, đặc trưng cũng như các nguyên tắc, hình thức và mô hình liên kết Về nội dung liên kết, đề tài đưa ra
3 nội dung trong liên kết sản xuất nông nghiệp: liên kết trong cung ứng nguyên liệu đầu vào, liên kết trong quá trình sản xuất và liên kết trong tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, đề tài cũng bàn đến tác động của liên kết gồm tác động tích cực và tiêu cực Về cơ sở thực tiễn, đề tài chỉ ra kinh nghiệm về mối liên kết doanh nghiệp với nông dân ở một số quốc gia như Mỹ, EU, Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Kenya Ở Việt Nam, tác giả chỉ ra mối liên kết theo các ngành sản xuất đặc trưng như lúa gạo, chè,… Đề tài cũng tổng quan một số chính sách về liên kết trong nông nghiệp, tình hình triển khai thực hiện và rút ra những vấn đề
về chính sách cũng như giải pháp thực hiện Đề tài cũng chỉ ra nhu cầu liên kết của nhà nông, nhà doanh nghiệp, tồn tại, hạn chế của mối liên kết và chỉ ra
Trang 36nguyên nhân Từ đó, đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp, tập trung vào: hoàn thiện công tác quy hoạch ngành nông nghiệp; nâng cao tổ chức thực hiện liên kết; đầu
tư cơ sở hạ tầng; tăng cường năng lực cho nông dân và doanh nghiệp
Nguyễn Vĩnh Thanh (2017), Nghiên cứu mối quan hệ ba bên giữa
doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ gia đình trong phát triển kinh tế thị trường ở nông thôn Đồng bằng sông Hồng hiện nay [70] Trong mối quan hệ ba bên,
tác giả đã bàn đến khái niệm liên kết, các hình thức liên kết và nguyên tắc của liên kết là tự nguyện, không ép buộc Tác giả cũng khái quát sơ lược tiềm năng kinh tế xã hội của vùng Đồng bằng sông Hồng với phát triển thị trường
trên các khía cạnh: số lượng doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn, khẳng định vai trò hạt nhân của doanh nghiệp trong mối liên kết, doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và vai trò của nhà nước trong mối liên kết này Từ đó, tác giả đánh giá chung tình hình liên kết của vùng, thành tựu
và hạn chế, qua đó, rút ra những giải pháp tăng cường mối quan hệ liên kết hiện nay, trong đó có giải pháp đối với doanh nghiệp và hộ nông dân Doanh nghiệp cần nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng liên kết, hình thành chuỗi giá trị nông sản, áp dụng khoa học công nghệ, thực hiện hợp đồng trong nông nghiệp và hỗ trợ nông dân cả trong đời sống KT-XH Người nông dân cần nâng cao nhận thức của mình về vai trò và sự cần thiết của liên kết và nâng cao trình độ nhận thức cũng như trình độ chuyên môn kỹ thuật của bản thân
Bộ Công thương, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2019), Hội nghị
giao thương kết nối cung cầu hàng hóa giữa thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố năm 2019 [5] Hội nghị đề cập đến những vấn đề cấp thiết nhất của
tiêu thụ nông sản ở Hà Nội và các tỉnh, thành phố hiện nay Trong đó, có nhấn mạnh vai trò liên kết kinh tế của các HTX nông nghiệp, các hộ nông dân với doanh nghiệp Đồng thời, nhấn mạnh đến sự hỗ trợ xúc tiến thương mại của các Sở, các tổ chức, các Hiệp hội để ngành nông nghiệp Việt Nam có thể vươn tầm thế giới
Trang 37Trung tâm khuyến nông quốc gia (2019), Diễn đàn khuyến nông trong
nông nghiệp về Hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Diễn đàn tập trung đi sâu vào kinh nghiệm liên kết kinh tế theo chuỗi
theo hướng an toàn, đưa ra kinh nghiệm xây dựng và phát triển cụ thể một số
mô hình sản xuất nông nghiệp theo chuỗi trên địa bàn các tỉnh như Phú Thọ, Lào Cai, Bắc Ninh, Hà Nội,… Đồng thời, diễn đàn cũng nhấn mạnh cần tạo ra thương hiệu cho nông sản, đặc sản vùng miền để từ đó thuận lợi quảng bá thương hiệu ra nước ngoài [83]
Trung tâm khuyến nông quốc gia (2019), Diễn đàn khuyến nông trong
nông nghiệp về liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cây vụ đông vùng Đồng bằng sông Hồng Diễn đàn bàn đến liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cây
vụ đông vùng Đồng bằng sông Hồng, đánh giá các kết quả đạt được của vùng
về liên kết sản phẩm cây vụ đông nói chung và của một số mô hình liên kết nổi bật nói riêng như mô hình liên kết sản phẩm cây vụ đông tại tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, công ty VinEco, HTX nông sản an toàn Liên Hiệp,… Từ đó, diễn đàn nhấn mạnh cần xây dựng và phát triển trung tâm kết nối giữa sản xuất và tiêu thụ, coi đây là chìa khóa cho phát triển sản xuất nông nghiệp hiện đại [84]
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN
1.2.1 Kết luận rút ra từ các công trình khoa học đã công bố về vấn
đề liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
Thứ nhất, các công trình khoa học đã nêu lên cơ sở của việc liên kết,
trong đó có liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản) và hộ nông dân; đặc điểm của liên kết kinh tế nói chung trong nông nghiệp Từ đó, hướng tới mục tiêu phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững, hiện đại
Trang 38Thứ hai, một số công trình khoa học đã đề cập đến thực tế liên kết kinh
tế ở một số vùng, địa phương trong sản xuất và tiêu thụ nông sản; phân tích một số nội dung và các khâu trong quá trình liên kết; phân tích mối quan hệ giữa các chủ thể trong thực hiện sự liên kết kinh tế
Thứ ba, một số công trình nước ngoài nghiên cứu chủ yếu thông qua
các mô hình liên kết kinh tế có sẵn hoặc xây dựng một mô hình liên kết, vận dụng một số lý thuyết kinh tế hiện đại để đánh giá, luận giải các mô hình đó
Như vậy, qua các công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án, cho thấy: các công trình đều nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến nhiều góc độ của luận án, ở các vùng khác nhau song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng dưới góc độ kinh tế chính trị Nội dung lý luận và thực tiễn của các công trình khoa học mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá sơ bộ tình trạng liên kết giữa doanh nghiệp với hộ nông dân ở: Từng tỉnh; Một số mặt hàng nông sản chủ yếu; Một khâu của quá trình liên kết và trong mối liên hệ với các chủ thể khác như: nhà nước, nhà khoa học Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng là khoảng trống chưa được nghiên cứu và làm rõ cả về lý luận và thực tiễn
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, cùng với đó là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, xu hướng quay trở lại của chủ nghĩa bảo hộ thương mại, biến đổi khí hậu ngày càng đe dọa đến đời sống và sản xuất của nhân dân toàn cầu thì liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng là vấn đề quan trọng, là yếu tố, là điều kiện sống còn đối với nền nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả, nâng cao giá trị gia tăng trong từng khâu của quá trình sản xuất, trao đổi và trong toàn chuỗi giá
Trang 39trị của sản xuất nông nghiệp, hướng đến một nền nông nghiệp toàn diện, hiện
đại, bền vững Vì vậy, “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân
vùng Đồng bằng sông Hồng” là đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn
để cung cấp thêm các luận cứ khoa học và thực tiễn phát triển nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng nói riêng và nông nghiệp Việt Nam nói chung theo hướng sản xuất hiệu quả, hiện đại và bền vững
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu phát triển
Từ những kết quả nghiên cứu của công trình khoa học về liên kết kinh
tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân cho thấy: việc nghiên cứu đề tài này ở vùng Đồng bằng sông Hồng cần tiếp tục các vấn đề chưa được nghiên cứu, hoặc có nghiên cứu nhưng chưa có tính hệ thống, chưa sâu, Cụ thể:
- Luận giải rõ hơn sự cần thiết của vấn đề liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trong phát triển nông nghiệp
- Làm rõ được các vấn đề lý luận về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp
và hộ nông dân như: khái niệm, đặc trưng; nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trên địa bàn vùng lãnh thổ trong sự tác động của những vấn đề thời đại như: biến đổi khí hậu, xu hướng quay trở lại của chủ nghĩa bảo hộ thương mại và cách mạng công nghiệp lần thứ tư
- Phân tích thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 2015 - 2019 và chỉ ra những thành tựu, hạn chế cũng như những khó khăn cần giải quyết
- Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng
Trang 40Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ HỘ NÔNG DÂN
2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CÁC NGUYÊN TẮC VÀ VAI TRÒ CỦA LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ HỘ NÔNG DÂN
2.1.1 Cơ sở lý thuyết về liên kết kinh tế
2.1.1.1 Lý thuyết về phân công và hiệp tác lao động
Lý thuyết về phân công và hiệp tác lao động được các nhà kinh tế học nghiên cứu từ rất lâu Nhà kinh tế học tư sản cổ điển Anh, Adam Smith (1776), trong quá trình nghiên cứu về nguồn gốc tạo ra của cải của các dân tộc, về bản chất và nguyên nhân phát sinh của cải của các dân tộc, ông đã có một phát hiện quan trọng Sở dĩ có cải tiến kỹ thuật, có các chuyên gia trình độ cao là do có sự phân công lao động Bởi máy móc, công cụ lao động được cải tiến nhờ các kỹ
sư, các chuyên gia chuyên nghiệp; đồng thời, các kỹ sư, các chuyên gia trở nên chuyên nghiệp khi tập trung vào một vấn đề nhất định [101] Ông chứng minh bằng một ví dụ: Một xưởng chế tạo đinh ghim với 10 công nhân, làm 18 thao tác
đã sản xuất được khoảng 50.000 đinh ghim một ngày Tuy nhiên, một người tự sản xuất đinh ghim, một ngày chỉ có thể làm được một hoặc vài cái đinh ghim [101] Ví dụ này đã cho thấy phân công lao động, chuyên môn hóa có vai trò quan trọng như thế nào trong đời sống kinh tế Đồng thời, Ông cũng khẳng định: Người ta chỉ trao đổi hàng hóa khi nhận thức được chuyên môn hóa sản xuất có lợi cho tất cả các bên [101]; rằng sự phân công lao động vừa làm cho công việc của con người trở nên dễ chịu hơn vì họ sản xuất được nhiều sản phẩm hơn và giá thành rẻ hơn, vừa tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau của các mối quan hệ kinh tế trong xã hội Nghĩa là phân công càng sâu sắc thì mọi người cần tăng cường hợp tác với nhau để đạt được lợi ích mong muốn của mình
C.Mác cho rằng: Phân công lao động xã hội chính là cơ sở chung cho mọi nền sản xuất hàng hóa [11, tr.524] Phân công lao động là tiền đề của hiệp tác