Trước thực trạng như vậy, công tác bồi thường GPMB là một trong những công việc hết sức khó khăn, phức tạp và được xã hội đặc biệt quan tâm, bồi thường GPMB không chỉ ảnh hưởng trực tiếp
Trang 1VŨ ĐÌNH PHÙNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
GIAI ĐOẠN 2017 - 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - 2020
Trang 2VŨ ĐÌNH PHÙNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
GIAI ĐOẠN 2017 - 2019
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Lợi
Thái Nguyên - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, các giải pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi “Hội đồng Đánh giá luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý đất đai”
Tác giả luận văn
Vũ Đình Phùng
Trang 4
DANH TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nội dung từ viết tắt
GPMB Giải phóng mặt bằng
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới TS Nguyễn Thị Lợi, Khoa Quản lý tài Nguyên, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn sự góp ý, giúp đỡ chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa quản lý tài nguyên, Phòng đào tạo, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và tập thể cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê; Ban Bồi thường GPMB&QLDA huyện Nam Trực đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, đồng nghiệp và bạn bè
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân thành cảm ơn !
Tác giả luận văn
Vũ Đình Phùng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu đề tài 3
1.1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài 9
1.2.1 Chính sách giải phóng mặt bằng của một số nước trên thế giới 10
1.2.2 Công tác giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội huyện Nam Trực 28
2.2.2 Đánh giá kết quả của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại 02 dự án 28
2.2.3 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và giải pháp 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.3.2 Phương pháp so sánh, tổng hợp, xử lí, đánh giá và phân tích số liệu 30
Trang 7CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Nam Trực 31
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Nam Trực 39
3.1.3 Tình hình sử dụng đất của huyện Nam Trực 41
3.2 Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại 02 dự án trên địa bàn huyện Nam Trực 45
3.2.1 Đánh giá tổng quát về tình hình chung của việc thực hiện giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Nam Trực 45
3.2.2 Đánh giá thực trạng trạng công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ tái định cư tại 02 dự án 46
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Nam Trực) 47
3.3 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, tồn tại và giải pháp đối với công tác GPMB khi nhà nước thu hồi đất đối với 02 dự án 64
3.3.1 Thuận lợi 64
3.3.2 Một số tồn tại, khó khăn 65
3.3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện Nam Trực 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Nam Trực năm 2019 42
Bảng 3.2 Tổng hợp diện tích đất thu hồi giai đoạn 2015 - 2019 45
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích đất thu hồi ở Dự án 1 47
Bảng 3.4 Tổng hợp diện tích đất thu hồi ở Dự án 2 48
Bảng 3.5 Xác định đối tượng được bồi thường của 2 dự án 49
Bảng 3.6 Xác định diện tích đất được bồi thường của 2 dự án 50
Bảng 3.7: Tổng hợp ý kiến cá nhân, tổ chức về đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và không được bồi thường, hỗ trợ 51
Bảng 3.8 Giá bồi thường về đất ở 53
Bảng 3.9 Giá đất nông nghiệp, lâm nghiệp 53
Bảng 3.10: Tổng hợp ý kiến của người bị thu hồi đất về giá đất tính bồi thường 54
Bảng 3.11: Tổng hợp đơn giá bồi thường về tài sản, công trình hoa màu gắn liền trên đất 55
Bảng 3.12: Tổng hợp ý kiến của người bị thu hồi đất về giá bồi thường tài sản, công trình hoa màu gắn liền trên đất 57
Bảng 3.13: Tổng hợp số hộ gia đình, cá nhân được hưởng chính sách hỗ trợ của dự án bị thu hồi đất 58
Bảng 3.14: Tổng hợp ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ 60
Bảng 3.15: Mục đích sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của người dân bị thu hồi đất 61
Bảng 3.16: Những ảnh hưởng của việc bị thu hồi đất và tình hình hỗ trợ việc làm đến đời sống của người dân bị thu hồi đất tại dự án I và dự án II 62
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia và không thể thay thế được trong đời sống, trong quá trình sản xuất của con người Trong những năm gần đây nền kinh tế phát triển mạnh mẽ cùng với áp lực về
sự gia tăng dân số làm cho diện tích đất đai ngày càng bị thu hẹp, đồng thời quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh làm cho đất đai ngày càng có giá trị kinh tế cao và nhu cầu về mặt bằng lớn để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh Để có mặt bằng thực hiện các dự án chúng ta phải thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất đai
Trước thực trạng như vậy, công tác bồi thường GPMB là một trong những công việc hết sức khó khăn, phức tạp và được xã hội đặc biệt quan tâm, bồi thường GPMB không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các
tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đất bị thu hồi mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương sau khi tái định cư cho người dân Bồi thường GPMB là lĩnh vực nhạy cảm và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện như thương lượng giá đền bù hợp lý với người dân, tái định cư và giải quyết hậu quả sau giải phóng mặt bằng Do vậy cần
áp dụng linh hoạt các quy định của pháp luật vào điều kiện thực tế của địa phương Trước những khó khăn như vậy, việc đánh giá công tác GPMB để đưa ra những phương án khả thi giải quyết những khó khăn khi bồi thường GPMB đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết của xã hội
Xuất phát từ thực tế đó, được sự nhất trí của Khoa Quản lý Tài nguyên, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của
cô giáo TS Nguyễn Thị Lợi, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: "Đánh giá công
tác bồi thường, giải phóng mặt bằng một số dự án trên địa bàn huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định giai đoạn 2017 -2019”
Trang 102 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của các dự án, tìm
ra những thuận lợi, khó khăn trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của các dự án Từ đó đề xuất các giải pháp có tính khả thi cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của địa phương trong thời gian tới góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả và bền vững
- Xác định và đánh giá những ảnh hưởng của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đến đời sống của người dân trong khu vực giải phóng mặt bằng, nhằm giúp các dự án sớm được triển khai thực hiện hiệu quả, ổn định cuộc sống của người dân thuộc diện giải phóng mặt bằng, góp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện
3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Ý nghĩa khoa học
+ Sử dụng kiến thức đã học áp dụng vào thực tế nâng cao tính thực tiễn, chiều sâu của kiến thức ngành học cho bản thân
+ Nghiên cứu vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn để tìm ra cái mới cho lý thuyết từ đó quay trở lại áp dụng cho thực tiễn
- Ý nghĩa thực tiễn
Giúp địa phương nắm được thực trạng công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn, nêu bật những hạn chế
và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến công tác GPMB Từ đó có những định hướng trong Quản lý Nhà nước về đất đai cũng như ban hành những chính sách, quy định hợp lý mang tính hiệu quả trong thực tế
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Một số khái niệm giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới
Quá trình giải phóng mặt bằng (GPMB) được tính từ thời điểm bắt đầu hình thành hội đồng GPMB đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới Đây là quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự
án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia và cả của xã hội
Công tác GPMB mang tính quyết định đến tiến độ của các dự án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án
Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất
và tài sản bị thiệt hại với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất
Đền bù trả bằng tiền hoặc hiện vật thay thế cho các thiệt hại về đất đai, tài sản thu nhập và các tài sản khác liên quan do tác động của dự án."Bồi thường" hay “đền bù” có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác Bồi thường
về đất khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất
Có 2 loại bồi thường: bồi thường thiệt hại về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản
+ Bồi thường thiệt hại về đất là biện pháp để phân bố lại tài nguyên trên
Trang 12quan điểm lấy bao nhiêu bù bấy nhiêu
+ Bồi thường thiệt hại về tài sản gồm: nhà, công trình, vật kiến trúc, cây cối hoa màu, công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật gắn với đất đai bị thu hồi
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới Chính sách này thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với người dân trong khu vực giải tỏa, đặt con người vào vị trí then chốt trong quá trình thực hiện, góp phần tích cực đẩy nhanh tốc độ GPMB, thời gian thi công được đảm bảo
1.1.1.2 Các yếu tố tác động đến công tác giải phóng mặt bằng
Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập và vướng mắc, đã tác động không nhỏ tới công tác
BT, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ các mục tiêu quốc gia Vấn đề đặt ra ở đây đó chính là phải tích cực đẩy manh công tác quản lý Nhà nước về đất đai, nâng cao năng lực pháp lý, tăng cường thể chế là những nội dung hết sức quan trọng trong việc giải quyết các mối quan hệ về đất đai Điều này ảnh
Trang 13hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện công tác GPMB, BT khi nhà nước thu hồi đất
1) Việc ban hành văn bản và thực hiện các văn bản
Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 đến nay, Chính Phủ đã bốn lần trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai năm 1998, 2001, 2003 và 2013 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước Theo đó, chính sách bồi thường, GPMB cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai Với những đổi mới về pháp Luật Đất đai, đã cơ bản đáp ứng được tính ổn định, thống nhất của pháp Luật Đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, GPMB
Việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc
tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy:
- Nhận thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế; trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt
- Nhận thức pháp luật của một số người dân còn hạn chế, cùng với đó là việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến
độ GPMB
2) Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai là tài nguyên không tái tạo được và là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển Quy hoạch sử dụng đất được xem là giải pháp tổng thể định hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của
Trang 14nền kinh tế Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá trình phát triển đang đặt ra
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để
tổ chức việc bồi thường, GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng
mà Nhà nước đóng vai trò tổ chức Bất kỳ một phương án bồi thường GPMB nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất Quy hoạch sử dụng đất không chỉ là công cụ cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội hoá về công bằng, dân chủ, văn minh trong bồi thường GPMB và cũng là công việc mà hoạt động quản lý Nhà nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường GPMB trên hai phương diện:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất, từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường
3) Công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định của Luật Đất đai, người sử dụng đất phải đăng ký quyền
sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan tới quyền
Trang 15sử dụng đất Trong công tác bồi thường GPMB, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là căn cứ để xác định loại đất, diện tích đất, đối tượng tính bồi thường Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thì công tác bồi thường GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn
4) Yếu tố giá đất và định giá đất
Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường, GPMB hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi
Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành thì giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây:
- Do UBND các tỉnh, huyện (gọi chung là UBND cấp tỉnh) quy định (căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung gia đất do Chính phủ quy định) và được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm
- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất
- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có những hiểu biết về định giá đất Định giá đất đó là những phương pháp kinh
tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi chúng tham gia trong một thị trường nhất định Hay nói cách khác, định giá đất được hiểu là sự ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích cụ thể đã được xác định tại một thời điểm xác định
Khi định giá đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại đất tại thời điểm định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một số phương pháp truyền thống như các nước trên thế giới thực hiện, đó là phương
Trang 16pháp so sánh trực tiếp và phương pháp thu nhập
Tình hình phổ biến hiện nay là giá đất cho các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc
về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy trong 17.480 đơn tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có tới 12.348 trường hợp là khiếu nại về bồi thường GPMB chiếm 70,64% Trong các trường hợp khiếu nại về bồi thường, GPMB thì có tới 70% là khiếu nại về giá đất nông nghiệp bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường hoặc giá đất ở được giao tại nơi TĐC lại quá cao so với giá đất ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi
Như vậy, nếu công tác định giá đất để bồi thường GPMB không được làm tốt sẽ làm cho công tác GPMB ách tắc, dẫn tới không có mặt bằng đầu tư,
làm chậm tiến độ triển khai dự án hoặc làm lỡ cơ hội đầu tư
5) Thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản là nơi giải quyết quan hệ về cung - cầu bất động sản trong một thời gian và không gian nhất định Việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch trên thị trường, đồng thời người bị thu hồi đất có thể
tự mua hoặc thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách bồi thường và TĐC
Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác động tới giá đất tính bồi thường
1.1.1.3 Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Mỗi dự án liên quan đến giải phóng mặt bằng có một đặc điểm riêng, liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội GPMB là quá trình mang tính đa dạng và phức tạp
Trang 17- Tính đa dạng
Mỗi dự án được thể hiện trên một địa điểm khác nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, trình độ dân trí nhất định Do đó, giá trị của đất và các tài sản gắn liền với đất ở các khu vực khác nhau là khác nhau dẫn đến công tác BT, GPMB sẽ có những nét đặc trưng riêng, nhất định cho từng vùng, từng khu vực
- Tính phức tạp
Thứ nhất, do tình hình GPMB luôn gặp nhiều khó khăn vì giá cả thị trường luôn biến động do đó giá bồi thường ở mỗi thời điểm có khác nhau Thực tế cho thấy một số dự án đã tiến hành xong khâu kiểm định nhưng không thực hiện tiếp được vì thiếu vốn Chính những yếu tố trên khiến người dân luôn có một tâm lý hoang mang khi được bồi thường Mặt khác trong quá trình thực hiện thường hay xảy ra các vấn đề bất cập như: số hộ phát sinh, người dân xây mới các công trình trên đất đang thực hiện công tác GPMB
đã gây trở ngại cho tiến độ thực hiện dự án
Thứ hai, đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế -
xã hội nên khi GPMB cũng gặp nhiều khó khăn GPMB được thực hiện chủ yếu ở các khu dân cư có đời sống kinh tế và trình độ dân trí chưa cao nên rất phức tạp, tâm lý của người dân là không muốn di chuyển đi nơi khác
Thứ ba, tính phức tạp còn gặp phải khi thực hiện công tác GPMB là do nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau, giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất chưa đầy đủ, hợp pháp
1.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài
- Nghị định số 43/2014/NĐ - CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ Quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013
- Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 15/05/2013 của Chính phủ Quy định
về giá đất;
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy
Trang 18định về thu tiền sử dụng đất khi thi hành Luật Đất đai năm 2013
- Nghị định số 47/2014/NĐ - CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số: BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
23/2014/TT Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số: 24/2014/TT23/2014/TT BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về hồ sơ địa chính
24/2014/TT Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số: 25/2014/TT24/2014/TT BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về bản đồ địa chính
25/2014/TT Nghị định số 104/2014/NĐ25/2014/TT CP ngày 14/11/2014 của Chính phủ Quy định về khung giá
- Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLTBTP-BTNMT ngày 23 tháng 6 năm
2016 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
- Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về đất đai của Chính phủ
- Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất
- Thông tư 37/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1 Chính sách giải phóng mặt bằng của một số nước trên thế giới
Đối với mọi quốc gia trên thế giới, đất đai là nguồn lực cơ bản, quan trọng nhất đối với mọi hoạt động trong đời sống KT-XH Vì vậy, nhiều nước trên thế giới đang cố gắng không ngừng trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai, trong đó có chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC của cơ
Trang 19quan quản lý Nhà nước Dưới đây là một số kinh nghiệm trong công tác quản
lý Nhà nước về đất đai của một số nước trên thế giới, đồng thời giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng (Trương Ánh Tuyết, 2002)
* Trung Quốc
Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể nông dân lao động Theo quy định của Luật Đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng (cấp đất), giao đất có thu tiền sử dụng đất (xuất nhượng đất) và cho thuê đất (Đặng Thái Sơn, 2002)
Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có thẩm quyền thu hồi đất Quốc vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với các loại đất khác Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu nhà nước
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật Trung Quốc quy định, người nào
sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng 442.000 - 2.175.000 nhân dân tệ/ha
Về phương thức đền bù thiệt hại: Nhà nước thông báo cho người sử
Trang 20dụng đất biết trước việc họ sẽ thu hồi đất trong thời hạn một năm, người dân
có quyền lựa chọn các hình thức đền bù thiệt hại bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới Tại Thủ đô Bắc Kinh và Thành phố Thượng Hải, người dân thường lựa chọn đền bù thiệt hại bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với nơi làm việc của mình
Về giá đền bù thiệt hại, tiêu chuẩn và giá thị trường: Mức giá này cũng được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác động điều chỉnh lại thị trường đó Đối với đất nông nghiệp, đền bù thiệt hại theo tính chất của đất và loại đất (tốt, xấu)
Về tái định cư: Các khu TĐC và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ
và kịp thời, thường xuyên đáp ứng nhu cầu nhiều loại căn hộ với nhu cầu sử dụng khác nhau Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền chú ý điều kiện về làm việc, đối với các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước
có chính sách riêng (Website:http://www.tapchicongsan.org.vn)
* Hàn Quốc
Bắt đầu từ những năm 1962, để thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đất nước xứ sở Kim chi đã liên tục đúc rút kinh nghiệm và hoàn thiện công tác giải phóng mặt bằng Bộ luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc được thực hiện theo 3 giai đoạn:
- Thứ nhất tiền bồi thường đất đai sẽ được giám định viên công cộng đánh giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng Giá quy định không dựa vào những lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự khách quan trong việc bồi thường
- Thứ hai pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có quyền sử hữu đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất Quy trình chấp nhận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng chấp nhận thu hồi
Trang 21- Thứ ba biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng Chế độ này được Nhà nước hỗ trợ tích cực về mọi mặt chính sách bảo đảm sự sinh hoạt của con người, cung cấp đất đai cho những người phải chuyển nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng cần thiết của Nhà nước
(Website:http://www.tapchicongsan.org.vn)
* Australia (Úc)
Luật đất đai của Úc quy định: đất đai thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu
tư nhân Luật đất đai bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhương, thế chấp, thừa kế theo
di chúc mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích lũy đất đai (Mai Mộng Hùng, 2008)
Luật đất đai năm 1989 của Úc quy định, có hai loại thu hồi đất:
- Thu hồi đất bắt buộc
- Thu hồi đất tự nguyện
Thu hồi đất tự nguyện được nước Úc tiến hành khi chủ đất cần được thu hồi đất Trong thu hồi đất tự nguyện không có quy định đặc biệt nào được
áp dụng mà việc thỏa thuận đó là nguyên tắc cơ bản nhất Chủ có đất cần được thu hồi vốn và người thu hồi đất sẽ thỏa thuận giá bồi thường đất trên tinh thần đồng thuận và căn cứ vào thị trường
Thu hồi đất bắt buộc được nước Úc tiến hành khi Nhà nước có nhu cầu
sử dụng đất cho các mục đích công cộng và các mục đích khác Thông thường, Nhà nước có được đất đai thông qua đàm phán
Trình tự thu hồi đất bắt buộc được thực hiện như sau:
- Nhà nước gửi cho các chủ đất một văn bản trong đó nêu rõ mục tiêu thu hồi đất vì các mục đích công cộng Văn bản này gồm các nội dung chính như cơ quan muốn thu hồi đất, miêu tả chi tiết mảnh đất, mục đích sừ dụng đất sau khi thu hồi và các giải thích vì sao mảnh đất đó phù hợp với mục tiêu công cộng đó
Trang 22- Chủ sở hữu mảnh đất có thể yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tài chính và quản
lý xem xét lại vấn đề thu hồi đất Nếu chủ sở hữu vẫn chưa hài lòng thì có thể tiếp tục yêu cầu trọng tài phúc thẩm hành chính phán xử Trọng tài phúc thẩm hành chính không thể xem xét tính đúng đắn về quyết định của Chính phủ nhưng có thể xem xét các vấn đề liên quan khác
- Nhà nước thông báo rộng rãi quyết định thu hồi đất và chủ sở hữu đất phải thông báo cho bất kỳ ai muốn mua mảnh đất đó về quyết định thu hồi đất của Chính phủ Sau đó, Nhà nước sẽ ban hành quyết định thu hồi đất và thông báo trên báo chí
- Chủ sở hữu đất nhận được thông báo tiến hành các thủ tục yêu cầu bồi thường Ngay sau khi có quyết định thu hồi đất, chủ đất có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường
Nguyên tắc của BT của quốc gia này đó là công bằng và theo giá thị trường Theo đó, các yếu tố sẽ được tính toán trong quá trình bồi thường đó là giá thị trường, giá đặc biệt đối với chủ sở hữu, các chi phí liên quan như phí
di chuyển, chi phí TĐC (Mai Mộng Hùng, 2008)
* Nhận xét, đánh giá về chính sách GPMB của một số nước trên thế giới
Việc xây dựng và phát triển các công trình xây dựng, công trình dân dụng đều cần có đất Do đất đai có hạn, vì thế mọi Nhà nước đều phải sử dụng quyền lực của mình để thu hồi đất hoặc trưng thu của người đang sở hữu, đang sử dụng để phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia Ở mỗi quốc gia, quyền lực thu hồi, trưng thu đất được ghi trong hiến pháp hoặc tại Bộ luật đất đai hoặc một bộ luật khác Nếu việc thu hồi, trưng thu đã phù hợp với quy định của pháp luật mà người sở hữu hoặc sử dụng đất không thực hiện thì Nhà nước có quyền chiếm hữu đất đai Việc thu hồi đất, trưng thu đất và bồi thường thiệt hại về đất tại mỗi quốc gia đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước đó quy định
(Website:http://www.tapchicongsan.org.vn)
Trang 23Qua tìm hiểu chính sách bồi thường GPMB của một số nước trên thế giới, nước ta cần học hỏi một số kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường GPMB
1.2.2 Công tác giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay
Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển KT-XH ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Với những đổi mới tích cực, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường, GPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển KT-XH nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai hiện nay
Trong năm 2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp với
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức hội thảo đánh giá tình hình thu hồi đất để thực hiện CNH-HĐH
* Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các KCN, đô thị
và các công trình công cộng
Trong 5 năm qua, từ năm 2010-2015, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4% tổng diện tích đất nông nghiệp cả nước) Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các KCN
và CCN là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha
Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20,38 ha), Hà Nội (77,76 ha), Quảng Nam (11,82 ha)…Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích thổ cư chiếm 11%
Trang 24Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là dưới 0,5%
Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ
lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung vào một số huyện, xã có mật độ dân số cao Diện tích bình quân đầu người thấp,
có xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70-80% diện tích đất canh tác
* Về đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất
Theo báo cáo cho thấy việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm qua đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình với khoảng 959.000 lao động và 2,5 triệu người Trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng có số hộ
bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ khoảng 108 nghìn hộ, số hộ bị thu hồi đất ở các vùng khác thấp hơn: Tây Nguyên chỉ có trên 138.291 hộ Mặc dù quá trình thu hồi đất, các địa phương
đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ tái định cư,…Tuy nhiên trên thực tế có tới 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định.( Lê Du Phong, 2007)
Như vậy nông nghiệp vẫn là chỗ dựa của phần lớn số hộ bị mất đất Số lao động bị mất việc làm do mất đất nhiều như Hà Tây 37.703 người, Vĩnh Phúc 22.880 người, Nam Định 4.130 người,… Thực trạng này dẫn đến 53%
số hộ dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm so với trước đây, chỉ có khoảng 13% số hộ có thu nhập cao hơn trước
Kết quả kiểm tra thi hành Luật đất đai năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy việc thu hồi đất ở phần lớn các địa phương đang ách tắc,
Trang 25làm chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, gây nên những bức xúc cho cả người sử dụng đất, nhà đầu tư và cơ quan chính quyền có tránh nhiệm thu hồi đất
* Kết quả thực hiện chính sách bồi thường GPMB tại các địa phương ở nước ta:
- Người nhận đền bù cảm thấy thỏa đáng, tình trạng khiếu kiện, khiếu
nại dần ít đi và việc cản trở công tác giải phóng mặt bằng cải thiên rõ rệt
- Người dân sau khi tái định cư đã ổn định về đời sống và sản xuất, dần
trở lại với cuộc sống bình thường trước đây và có thể khôi phục lại tài sản bị mất
- Sức ép cho các cơ quan hành chính trong quá trình thu hồi đất đã
được giảm đi nhiều
- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường,
tái định cư đạt hiệu quả, giảm thiểu nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình giải phóng mặt bằng,bồi thường và tái định cư
- Đã giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự
án, nhất là xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế,
ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi
* Nguyên nhân của thành công
- Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác
định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao
- Mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị
thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước
- Việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần
đất với người sử dụng đất
- Trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư đã giải quyết
Trang 26được nhiều khúc mắc trong thời gian qua
- Nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất
phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức,
về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước
ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi (Tạp chí Cộng sản, 2007)
* Những mặt thiếu sót, yếu kém và vướng mắc
- Vấn đề giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất thực hiện chưa tốt, đặc biệt là đối với những người dân không còn hoặc còn rất ít đất để sản xuất và những người dân không còn việc làm sau khi chuyển tới nơi ở mới
- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đất với người có đất bị thu hồi Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ứng gay gắt của những người có đất bị thu hồi
- Một số trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trong nhiều trường hợp không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương đương hoặc nhà
ở mới tại khu tái định cư
- Việc xác định tính hợp thức về quyền sử dụng đất để tính toán mức
Trang 27bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đang là một vấn đề nổi cộm trong thực tế
- Nhiều dự án chưa có khu TĐC đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung các địa phương chưa coi trượng việc lập khu TĐC chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu TĐC đã lập nhưng không đảm bảo điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, có trường hợp người có đất bị thu hồi phải đi thuê nhà ở 4 năm nay mà vẫn chưa được bố trí vào khu TĐC (Hoàng Thị Nga, 2010)
* Nguyên nhân của tồn tại
- Vấn đề bồi thường, hỗ trợ tái định cư là lĩnh vực vô cùng phức tạp phát sinh do cơ chế, chính sách của Nhà nước tới nay dù đã sửa đổi, thay thế liên tục nhưng nhìn chung vẫn chưa hợp lý Việc sửa đổi thường xuyên các quy phạm pháp luật cũng vẫn chưa bao quát hết mọi vấn đề của nền kinh tế thị trường, trong đó đất đai được coi là hành hóa đặc biệt nên đã tạo ra nhiều khoảng trống, thậm chí bất hợp lý trong việc điều tết các quan hệ đất đai
- Việc thu hồi đất được tiến hành theo dự án, công trình khi đã được Nhà nước phê duyệt thì người bị thu hồi đất, nhất là đất nông nghiệp lại coi đất đang sử dụng như đất phi nông nghiệp (là loại hàng hóa thị trường) theo
dự án đang triển khai Nhưng trong quá trình xây dựng cơ chế, chính sách, các
cơ quan nhà nước lại quá nhấn mạnh tính chất hàng hóa liên quan đến đất đai, chủ trương định giá đất đền bù sát giá thị trường mà quên đi tính chất hết sức đặc biệt, đặc thù của đất đai
- Trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, nhà đầu tư thường phải làm việc với nhiều đối tác để thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ… Bên cạnh đó, việc thu hồi đất để thực hiện những
dự án như xây dựng nhà ở sinh thái, nhiều địa phương cũng không ưu tiên trả bằng đất mà trả bằng tiền làm cho người dân mất thêm thời gian đi tìm, mua đất để định cư nên cũng gặp nhiều khó khăn
- Khi thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm thực hiện các dự án, công trình như: mở rộng đường giao thông thuộc khu dân cư; xây
Trang 28dựng nhà ở để kinh doanh,v.v… thì thường xảy ra trường hợp có người đang
sử dụng đất ở vị trí thuận lợi nay bị thu hồi toàn bộ phải tái định cư phải ở nơi khác, thì cũng khó có thể mua được một mảnh đất như cũ để định cư Hoặc ngược lại
- Trong quá trình thu hồi đất cho nhiều dự án, công trình còn mang nặng cơ chế bao cấp, cho nên nhà quy hoạch không đưa yếu tố kinh tế vào việc làm quy hoạch (Hoàng Thị Nga, 2010)
1.2.2.1 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Hà Nội
Năm 2009, công tác GPMB ngoài mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, bảo đảm tiến độ các công trình trọng điểm, còn góp phần thiết thực trong việc thực hiện các nhóm giải pháp kích cầu của Chính phủ Với những nỗ lực và giải pháp đồng bộ, kịp thời, năm
2009 thành phố đã hoàn thành toàn bộ và phân kỳ công tác GPMB của 428 dự
án, bàn giao 1.987 ha đất, chi trả hơn 5.911 tỷ đồng và bố trí tái định cư cho 2.681 hộ, trong đó có nhiều dự án còn tồn đọng qua nhiều năm như đường vành đai 3, đường 32, khu liên cơ Vân Hồ, đường Láng Hoà Lạc, quốc lộ 3 mới Hà nội - Thái Nguyên, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lào Cai, mở rộng khu xử lý rác thải Nam Sơn Trong 5 năm (2005-2010) thành phố Hà Nội đã GPMB 5.567 ha của 1.217 dự án, chi trả số tiền hơn 17.679 tỷ đồng cho gần 161 nghìn tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bố trí tái định cư cho
11.722 hộ dân
Năm 2010, trên địa bàn thành phố còn có chín dự án trong danh mục các công trình trọng điểm chào mừng Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội chưa đủ điều kiện triển khai thu hồi đất GPMB Thành phố đặt mục tiêu tiếp tục quán triệt trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị xã hội trong thực hiện nhiệm vụ GPMB, coi nhiệm vụ này là tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, bình xét thi đua, đánh giá cán bộ (Nguyễn
Duy Thạch, 2007)
Trang 291.2.2.2 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Thành phố Hồ Chí Minh
Vẫn còn rất nhiều vướng mắc trong công tác tái định cư, tình trạng thiếu nhà ở, đất ở tái định cư hoặc thiếu nguồn vốn dành cho việc xây dựng các khu tái định cư Chất lượng các khu tái định cư chưa bảo đảm, đặc biệt đối với các nhà ở tái định cư là chung cư Đây là một vấn đề nhức nhối đáng báo động đối với công tác quản lý việc xây dựng các khu tái định cư không chỉ ở TP Hồ Chí Minh mà trên cả nước ta hiện nay Ngoài ra, vấn đề giải quyết việc làm cho người dân tái định cư vừa khó khăn đối với người dân, vừa là bài toán khó đối với các cấp chính quyền nhằm ổn định cuộc sống cho người dân sau tái định cư Đáng lưu ý, tình trạng mua bán suất tái định cư còn diễn ra khá phổ biến, nhất là các khu bố trí tái định cư bằng nhà ở thì tình trạng mua bán suất tái định cư đáng báo động Tiến độ lập hồ sơ, thẩm định phương án và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn chậm
so với yêu cầu Điều này gây nên bức xúc trong dư luận quần chúng Việc lập
hồ sơ bồi thường, giải phóng mặt bằng của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở một số dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị ở TP Hồ Chí Minh còn chậm, không đầy đủ, làm đối phó cho qua Một số trường hợp việc xác định nguồn gốc sử dụng đất không chính xác nên không có cơ sở để thẩm định Những hậu quả xã hội sau thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư như việc làm, sử dụng tiền bồi thường đúng mục đích, lối sống văn hóa còn nhiều bất cập, hạn chế, khác xa so với kế hoạch ban đầu (nguồn: trang
thông tin tcdcpl.moj.gov.vn)
1.2.2.3 Thực trạng công tác giải phóng mặt bằng ở Quảng Ninh
Vài năm trở lại đây tỉnh Quảng Ninh là một trong những điểm sáng trên nhiều lĩnh vực, trong đó tiêu biểu là việc thu hút các dự án đầu tư vào địa bàn
Để có được kết quả đó, cấp uỷ, chính quyền các cấp xác định rõ công tác đền
bù, giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch thu hút các nhà đầu tư chiến lược là nhiệm vụ hết sức quan trọng Tính riêng trong năm 2016, tỉnh Quảng Ninh đã
Trang 30giải phóng mặt bằng để thực hiện 64 dự án, tổng diện tích đền bù 291.094,8
ha, ảnh hưởng tới 12.036 hộ dân - đây là con số đền bù, giải phóng mặt bằng lớn nhất từ trước đến nay ở địa phương
Để triển khai được nhiệm vụ trên, thời gian qua địa phương cũng gặp không ít trở ngại, khó khăn Đặc biệt là chế độ, chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng thường xuyên thay đổi; một bộ phận người dân hiểu biết về chính sách còn hạn chế, vì thế đòi hỏi mức đền bù vượt mức quy định của Nhà nước; một số hộ vì lợi ích cá nhân, mặc dù đã có thông báo thu hồi đất nhưng vẫn cố tình lấn chiếm, mở rộng đất đai, xây dựng công trình, trồng cây cối, hoa màu làm cho việc kiểm đến gặp nhiều trở ngại Với quyết tâm cao nhất để hoàn thành tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án, tỉnh Quảng Ninh đã thành lập các Ban Chỉ đạo để phối hợp với chủ đầu tư làm tốt công tác kiểm đếm, xây dựng phương án đền bù, hỗ trợ Các cơ quan chức năng của tỉnh cũng chủ động bố trí cán bộ có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức tham gia công tác kiểm đếm, lập danh sách các hộ ảnh hưởng Cùng với đó, UBND tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo tổ chức tốt các hội nghị để công khai quy hoạch và triển khai công tác đền bù, giải phóng mặt bằng đến các hộ dân Năm 2016, tỉnh đã tổ chức 91 hội nghị về công tác này; tiến hành 265 cuộc đối thoại, tuyên truyền, vận động, giải thích cho các hộ bị chiếm dụng đất Kết quả là đã tổ chức chi trả gần 3.313 tỷ đồng cho các hộ dân bị ảnh hưởng, cơ bản hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng thuộc các
dự án Tiêu biểu nhất là Dự án đường nối TP Hạ Long với đường cao tốc Hạ Long - Hải Phòng đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng toàn bộ phần đường và hạng mục mặt bằng cầu vượt, nút giao thông và công trình phụ trợ trên toàn tuyến dài 20,6km, diện tích thu hồi 171,41ha với 1.150 hộ dân, 5 tổ chức bị ảnh hưởng, số tiền chi trả trong năm 2016 là 105 tỷ đồng
Năm 2017, trên địa bàn tiếp tục triển khai nhiều dự án trọng điểm Do
đó, để phát huy những thành tích đạt được trong công tác đền bù, giải phóng
Trang 31mặt bằng, tỉnh Quảng Ninh đã và đang tập trung công bố công khai các quy hoạch, đồng thời xây dựng phương án vận động, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao của nhân dân đối với các dự án sắp triển khai (Quang Minh)
1.2.2.4 Những nghiên cứu và kết quả về giải phóng mặt bằng ở thành phố Thanh Hóa
Thành phố Thanh Hóa có tốc độ hút đầu tư phát triển công nghiệp mạnh nhất của tỉnh Thanh Hóa Việc đưa thành phố Thanh Hóa trở thành một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa phát triển trong tương lai là nhiệm vụ hết sức to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương trong việc thu hút đầu tư, phát huy nguồn lực từ bên ngoài; một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công đó, là những nỗ lực của địa phương, đặc biệt là ngành Tài nguyên và Môi trường trong công tác bồi thường GPMB phục vụ phát triển công nghiệp, đồng thời có những chính sách xã hội nhằm giúp đỡ các hộ dân có đất thu hồi ổn định cuộc sống, sản xuất
Thực tế cũng như các địa phương khác, công tác GPMB của Thành phố Thanh Hóa gặp phải không ít khó khăn Một trong những khó khăn lớn nhất
đó là nhân dân có tâm lý trông chờ về giá (không đồng tình với đơn giá bồi thường, hỗ trợ của Nhà nước) Hầu hết các doanh nghiệp đầu tư vào Thành phố Thanh Hóa là lĩnh xây dựng cơ sở hạ tầng, còn lại là vực khai thác, chế biến khoáng sản, việc tuyển chọn nhân công tại địa phương với trình độ thấp không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp cũng gây rất nhiều khó khăn cho thành phố Thanh Hóa trong công tác bồi thường GPMB Ngoài ra, để thuận lợi cho công tác GPMB, một số doanh nghiệp tự ý thoả thuận về giá đất với người dân (cao hơn khung giá của tỉnh) cũng như hỗ trợ không đồng bộ cũng gây những khó khăn không nhỏ trong công tác bồi
Theo Phạm Văn Hùng (2015) cho thấy: Công tác GPMB trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa vẫn còn chậm so với tiến độ đề ra với nhiều nguyên nhân
Công tác quản lý Nhà nước về đất đai còn buông lỏng, nhiều vướng
Trang 32mắc còn tồn đọng khá dai dẳng nhưng không kịp thời giải quyết Không ít các trường hợp Nhà nước phải mặc nhiên công nhận quyền sử dụng đất cho các chủ sử dụng không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai Việc điều tra, đo đạc, lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính còn nhiều hạn chế Những hạn chế của công tác này làm ảnh hưởng đến công tác xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Những nơi chưa có quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, công tác quản lý đất đai yếu kém, số liệu không đảm bảo độ tin cậy, việc khoanh định các loại đất, định hướng sử dụng không sát với thực tế thì ở đó công tác GPMB gặp nhiều khó khăn phức tạp, hiệu quả thấp Các văn bản pháp lý liên quan đến vấn đề quản lý nhà nước về đất đai nói chung, trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nói riêng thiếu tính thực tế, không ổn định và chưa thực sự hoàn chỉnh Chính quyền các cấp không có đầy đủ hồ sơ quản lý, không cập nhật biến động thường xuyên và không quản lý được những vụ việc mua bán, chuyển nhượng đất đai trái phép Chính điều này gây khó khăn cho người thi hành đồng thời làm mất lòng tin trong dân Là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
sự chậm trễ, ách tắc trong công tác giải quyết các mối quan hệ đất đai nói chung và GPMB nói riêng
Việc giao đất, cho thuê đất trái thẩm quyền, tình trạng quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, diện tích thực tế chênh lệch nhiều so với diện tích ghi trong giấy tờ quyền sử dụng đất và các hiện tượng tiêu cực trong giao đất, thuê đất
đã làm ảnh hưởng đến việc đền bù chưa hợp lý Đây là một trong những nguyên nhân gây khiếu kiện trong dân khi tiến hành GPMB Cấp Giấy CNQSD đất còn chậm và thiếu chính xác vì vậy, việc xem xét tính pháp lý đất đai khi giải phóng mặt bằng gặp không ít khó khăn
Việc xác định loại đường, vị trí để áp giá các loại đất trên cơ sở khung giá của UBND tỉnh của UBND cấp huyện là nguyên nhân gây nên sự tuỳ tiện trong việc xác định giá đất, không phù hợp với giá chuyển nhượng thực tế
Trang 33Hậu quả là người dân không tự giác di dời làm chậm tiến độ thi công;
Một số người làm công tác GPMB không được đào tạo nghiệp vụ, không nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, họ thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là dựa vào khả năng cá nhân và kinh nghiệm công tác Đây là nguyên nhân dẫn đến những sai sót trong công tác lập phương án bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư; Bên cạnh đó mô hình tổ chức bộ máy thực hiện công tác giải phóng mặt bằng và cơ chế phối hợp chưa đáp ứng được yêu cầu và tiến độ của các chủ đầu tư, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trì trệ trong việc lập và xây dựng phương án cũng như việc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện
1.2.3 Tình hình chung về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại tỉnh Nam Định
Trong thời gian qua, UBND tỉnh Nam Định đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất theo đúng quy định của Luật Đất đai và các Nghị định cua Chính phủ như: Quyết định số 24/2009/QĐ-UBND ngày 27/11/2009 của UBND tỉnh Nam Định về ban hành cụ thể một số nội dụng về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định, Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 24/3/2015 của UBND tỉnh Nam Định về việc ban hành quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định
Công tác bồi thường GPMB và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu TĐC, quy hoạch dân cư tạo quỹ đất sạch luôn được Tỉnh uỷ, HĐND, UBND Tỉnh quan tâm chỉ đạo sát sao Trước đây, việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Tỉnh Nam Định được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 116/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính, Thông tư số 14/2009/TT-
Trang 34BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường; nay được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 37/2014/TTBTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Để thực hiện tốt công tác GPMB,UBND tỉnh Nam Định đã ra những văn bản, liên quan đến công tác, bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, thể hiện đúng tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước, phù hợp với Luật đất đai hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan của Chính phủ.Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng được giao cho Trung tâm Phát triển Quỹ đất thực hiện đúng theo quy trình, trình tự thủ tục của pháp luật và đảm bảo công khai dân chủ bên cạnh đó công tác tuyên truyền cũng được sự thống nhất từ chính quyền cấp địa phương và các ban nghành đoàn thể thực hiện sâu rộng trong nhân dân, do vậy đã đạt được những hiệu quả nhất định
* Thuận lợi: Giải phóng mặt bằng là bước quan trọng của sự phát triển
kinh tế vùng, các văn bản từ Trung ương đến địa phương đều được quy định
cụ thể về trình tự thủ tục thu hồi đất cũng như chính sách về bồi thường hỗ trợ
và tái định cư, mặt khác đều được ủng hộ của người dân về chủ trương, chính sách thu hồi đất của nhà nước nhằm phát triển kinh tế của địa phương
* Khó khăn: Để có mặt bằng xây dựng dự án thì công việc bồi thường,
giải phóng mặt bằng là bước đầu gặp nhiều khó khăn từ công tác phổ biến chính sách của nhà nước chưa sát với chính sách của người dân Mặt khác phải đảm bảo cuộc sống cho người dân sau khi thu hồi đất có cuộc sống tốt hơn trước
Trang 35xu hướng phát triển của đất nước Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trong những năm gần đây đã có nhiều điểm đổi mới khắc phục những bất cập về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Tuy vậy, vẫn còn một số tồn tại, bất cập chủ yếu như:
- Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự
án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm Tình trạng khiếu kiện về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, TĐC vẫn là chủ yếu
- Từ thực tế tình hình quản lý Nhà nước và các chính sách bồi thường hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất qua các thời kỳ và hiện tại, chúng tôi nhận thấy rằng việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất là cần thiết nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ GPMB, hạn chế thấp nhất khiếu nại, tố cáo về bồi thường, hỗ trợ tái định cư,
ổn định an ninh chính trị, bảo đảm đời sống nhân dân
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng bồi thường, giải phóng mặt bằng được áp dụng trên địa huyện Nam Trực
- Các hộ dân bị thu hồi đất chịu sự ảnh hưởng của quá trình thu hồi đất dự án tại 02 dự án: Dự án xây dựng khu dân cư tập trung tại xã Nam Tiến, huyện Nam Trực và Dự án xây dựng tuyến đường trục trung tâm phía nam thành phố Nam Định đoạn đi qua địa phận xã Nam Mỹ, huyện Nam Trực
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
- Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện đề tài từ năm 2015 đến năm 2019
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội huyện Nam Trực
- Điều kiện tự nhiên;
- Tình hình phát triển kinh tế xã hội;
- Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai của huyện Nam Trực
2.2.2 Đánh giá kết quả của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại
02 dự án
- Giới thiệu khái quát hai dự án nghiên cứu
- Kết quả bồi thường đất đai, tài sản, vật kiến trúc, cây trồng trên đất của hai dự án
- Đánh giá kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ
- Đánh giá thông qua phiếu điều tra
Trang 372.2.3 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và giải pháp
- Những thuận lợi
- Những khó khăn, tồn tại và nguyên nhân
- Một số giải pháp khắc phục
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nam Trực tại các Phòng, Ban chức năng, UBND huyện; Các văn bản, chính sách có liên quan đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở các
dự án như: giá đất; đơn giá bồi thường tài sản, vật kiến trúc, cây trồng; chế độ chính sách bồi thường, hỗ trợ, biên bản xét duyệt nguồn gốc đất, nhân khẩu tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban GPMB huyện, UBND xã Nam Mỹ,
xã Nam Tiến nơi triển khai 2 dự án
2.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Trong quá trình khảo sát, ngoài việc thu thập thông tin từ phỏng vấn còn dùng phương pháp quan sát và ghi chép để chọn các hộ điều tra phù hợp với nội dung nghiên cứu và có tính đại diện cao
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và phiếu điều tra để thu thập thông tin từ cán bộ làm công tác BT&GPMB và người dân
- Phỏng vấn bằng phiếu điều tra ngẫu nhiên các hộ dân bị ảnh hưởng của 02 dự án Do đối tượng điều tra ở đây là hộ dân bị thu hồi đất và số hộ dân bị thu hồi đất tại mỗi dự án là không nhiều nên tôi lựa chọn phương pháp điều tra ngẫu nhiên, trực tiếp một số hộ gia đình cá nhân bị thu hồi đất Tổng
số phiếu điều tra là 70 hộ, trong đó: Dự án xây dựng tuyến đường trục trung tâm phía nam thành phố Nam Định đoạn đi qua địa phận xã Nam Mỹ liên quan đến 73 hộ dân nên tiến hành điều tra 45 hộ và dự án xây dựng khu dân
Trang 38cư tập trung tại xã Nam Tiến, huyện Nam Trực liên quan đến 35 hộ dân nên tiến hành điều tra 25 hộ
Tiêu chí để xác định:
+ Mức độ hợp lý về giá bồi thường về đất và tài sản trên đất;
+ Mục đích sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ;
+ Việc công khai, dân chủ;
+ Mức bồi thường hỗ trợ đã đảm bảo ổn định đời sống chưa;
+ Đơn thư trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
+ Một số nội dung khác
2.3.2 Phương pháp so sánh, tổng hợp, xử lí, đánh giá và phân tích số liệu
Phương pháp xử lí số liệu: Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập
được, dùng phần mềm xử lý số liệu Excel, thống kê theo nhóm số phiếu điều tra, xử lý số liệu điều tra
Phương pháp phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu: Việc phân tích
đánh các nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp trên cơ sở so sánh đối chiếu, số liệu được phân tích sát sao, đúng đắn khoa học đảm bảo minh bạch chính xác
Phương pháp so sánh: So sánh giá thị trường, giá bồi thường, hệ số
chênh lệch, so sánh việc thực hiện với chính sách Nhà nước quy định để qua
đó đưa ra các đánh giá cụ thể về các nội dung nghiên cứu
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUVÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Nam Trực
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Nam Trực là cửa ngõ phía Nam thành phố Nam Định, có vị trí như sau:
- Phía Bắc giáp với thành phố Nam Định;
- Phía Đông giáp với huyện Vũ Thư (tỉnh Thái Bình);
- Phía Tây giáp với huyện Vụ Bản, huyện Nghĩa Hưng và huyện Ý Yên;
- Phía Nam giáp với huyện Trực Ninh;
Huyện Nam Trực có diện tích tự nhiên 16.388,96 ha Dân số năm 2018
có 194.082 người, Mật độ dân số bình quân 1.184 người/km2 gồm 20 đơn vị hành chính 19 xã và 1 thị trấn Thị trấn Nam Giang là trung tâm chính trị kinh
tế văn hóa của huyện;
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình Nam Trực rất thuận lợi cho sự phát triển của ngành nông nghiệp Phía bắc và phía nam là vùng trũng, thuận lợi cho việc trồng lúa nước, vùng giữa huyện từ tây sang đông, dọc theo con đường Vàng thuận lợi cho việc phát triển các loại hoa màu và cây công nghiệp Vùng đồng bãi chạy dọc theo đê sông Đào dài 15 km phía tây huyện và theo đê sông Hồng 14 km phía đông huyện thuận lợi cho việc phát triển rau màu và nghề trồng dâu nuôi tằm Chạy dọc từ bắc xuống nam là sông Châu Thành cùng với các nhánh sông khác, thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển giao thông đường thuỷ; sông Hồng, sông Đào là nguồn cung cấp nước chính phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên địa bàn huyện
3.1.1.3 Khí hậu và thuỷ văn
Nam Trực mang đầy đủ những đặc điểm của tiểu khí hậu vùng đồng
Trang 40bằng sông Hồng, là khu vực nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông);
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23-25oC, số tháng có nhiệt
độ trung bình lớn hơn 20oC từ tháng 8 đến tháng 9 Mùa đông, nhiệt độ trung bình là 19,2oC, tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1 năm sau Mùa hạ, nhiệt
độ trung bình là 29oC, tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7;
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình trong năm từ
80-85%, giữa tháng có độ ẩm lớn nhất và nhỏ nhất không chênh lệch nhiều,
tháng có độ ẩm cao nhất 90% là (tháng 4), tháng có độ ẩm thấp nhất 76% là
(tháng 11);
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.700-1.800 mm,
phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của huyện Lượng mưa phân bố không đều trong năm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm, các tháng mưa nhiều là tháng 7, 8, 9 Do lượng mưa nhiều, tập trung nên gây ngập úng, làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhất là khi mưa lớn kết hợp với triều cường, nước sông lên cao Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 20% lượng mưa cả năm Các tháng ít mưa nhất là tháng 12 và tháng 1, 2 năm sau, có tháng hầu như không có mưa Tuy nhiên, có những năm mưa muộn ảnh hưởng đến việc gieo trồng cây vụ đông và mưa sớm ảnh hưởng đến thu hoạch vụ chiêm xuân;
Điều kiện khí hậu Nam Trực rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, việc gieo trồng có thể tiến hành quanh năm
- Thủy văn:
Chế độ thuỷ văn của huyện chịu ảnh hưởng chính của các sông: sông Hồng, sông Đào và chế độ thuỷ triều Nam Trực có hệ thống sông ngòi khá dầy đặc với mật độ mạng lưới sông ngòi vào khoảng 0,7- 0,9 km/km2 Hiện tại sông Hồng, sông Đào là nguồn cung cấp nước chính phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên địa bàn, qua các cống dưới đê như: cống Vị Khê