Nghiên cứu khu hệ chim ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn.Nghiên cứu khu hệ chim ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn.Nghiên cứu khu hệ chim ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn.Nghiên cứu khu hệ chim ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn.
Trang 3nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong công trình này là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Tác giả luận án
Trang 4Đại học, khoa Sinh học và Bộ môn Động vật học đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án Tôi xin cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Lân Hùng Sơn,
TS Nguyễn Cử đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực địa, phân tích số liệu, công bố các công trình khoa học và hoàn thiện luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Đại học Hồng Đức
đã tạo mọi điều kiện trong quá trình công tác cũng như học tập
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học: PGS.TS Lê Đình Thuỷ, PGS.TS Ngô Xuân Tường, PGS.TS Nguyễn Hữu Dực, PGS.TS Đồng Thanh Hải, TS Trần Đức Hậu, PGS.TS Bùi Minh Hồng, PGS.TS Trần Thị Thanh Bình, TS Lê Trung Dũng Tôi xin trân trọng cảm ơn
Cảm ơn PGS.TS Hoàng Ngọc Thảo, TS Đậu Quang Vinh đã hỗ trợ tôi trong quá trình khảo sát thực địa và phân tích số liệu nghiên cứu
Cảm ơn Ban quản lý, các cán bộ Kiểm lâm của KBTTN Pù Luông, lãnh đạo người dân các xã vùng đệm KBT đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Đề tài nghiên cứu được hỗ trợ một phần kinh phí bởi Quỹ Phát triển KHCN
mã số B2017-SPH-26, đề tài cấp cơ sở tại Trường Đại học Hồng Đức mã số Một
số thiết bị thực địa được tài trợ bởi tổ chức Idea Wild (Hoa Kỳ)
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong công tác, học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận án
Tôi xin được tỏ lòng biết ơn tới gia đình và người thân đã hết lòng động viên, chia sẻ công việc gia đình để tôi có thể hoàn thành đề tài này
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ
Hoàng Ngọc Hùng
Trang 5MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu chim ở vùng Bắc Trung Bộ và khu vực nghiên cứu 4
1.2 Khái quát điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 11
1.2.1 Vị trí địa lý 11
1.2.2 Địa hình, địa mạo 12
1.2.3 Đặc điểm địa chất 13
1.2.4 Khí hậu và thủy văn 13
1.2.5 Hệ thực vật 14
1.2.6 Hệ động vật 17
1.3 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội các xã vùng đệm và trong ranh giới KBTTN Pù Luông 18
1.3.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 18
1.3.2 Hoạt động kinh doanh - sản xuất 20
1.3.3 Cơ sở hạ tầng 20
CHƯƠNG 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Phương pháp điều tra đa dạng thành phần loài chim 26
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu sự phân bố chim theo sinh cảnh, tầng tán rừng và các mùa trong năm 29
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu, đánh giá các mối đe doạ tác động đến khu hệ chim KBTTN Pù Luông và đề xuất một số giải pháp bảo tồn 29
2.2.4 Phương pháp xác định khu vực ưu tiên giám sát và bảo tồn khu hệ chim ở KBTTN Pù Luông 30
2.2.5 Phân tích, xử lý số liệu 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Đa dạng thành phần loài chim KBTTN Pù Luông 32
3.1.1 Thành phần loài 32
Trang 63.1.5 Thông tin ghi nhận một số loài chim có ý nghĩa bảo tồn ở KBTTN
Pù Luông 62
3.1.6 Tính đa dạng và độ phong phú khu hệ chim KBTTN Pù Luông 67
3.1.7 Mối quan hệ khu hệ chim KBTTN Pù Luông với các khu hệ chim nằm trong vùng Bắc Trung Bộ 69
3.2 Đặc điểm phân bố chim ở KBTTN Pù Luông 73
3.2.1 Đặc điểm phân bố chim theo các dạng sinh cảnh chính 73
3.2.2 Đặc điểm phân bố chim theo tầng tán thực vật rừng ở KBTTN Pù Luông 83
3.2.3 Sự biến động thành phần loài chim theo mùa trong năm 92
3.3 Nguyên nhân, các mối đe doạ tác động đến khu hệ chim KBTTN Pù Luông 95
3.3.1 Các mối đe doạ tác động đến khu hệ chim 95
3.3.2 Nguyên nhân gây ra các mối đe doạ 104
3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên chim tại KBTTN Pù Luông 107
3.4.1 Đề xuất các khu vực cần ưu tiên giám sát và bảo tồn 107
3.4.2 Một số loài chim cần ưu tiên giám sát và bảo tồn 109
3.4.3 Một số giải pháp khác nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên chim tại KBTTN Pù Luông 112
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 PHỤ LỤC 1PL
Trang 7(Công ước quốc tế về buôn bán các loài hoang dã nguy cấp)
(Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên)
Trang 8Bảng 1.2 Các dân tộc sinh sống trong ranh giới KBTTN Pù Luông 18
Bảng 1.3 Tình hình dân cư sống trong vùng đệm của KBTTN Pù Luông 19
Bảng 1.4 Tình hình kinh tế của người dân thuộc các xã sống trong ranh giới và vùng đệm của KBTTN Pù Luông 19
Bảng 2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu chim tại KBTTN Pù Luông 22
Bảng 3.1 Thành phần loài chim KBTTN Pù Luông 32
Bảng 3.2 Số lượng giống, loài trong các họ, bộ chim KBTTN Pù Luông 49
Bảng 3.3 Danh sách các loài chim ghi nhận mới cho KBTTN Pù Luông và vùng Bắc Trung Bộ 55
Bảng 3.4 Các loài chim không ghi nhận lại được so với các nghiên cứu trước 58
Bảng 3.5 Các loài chim có giá trị bảo tồn ở KBTTN Pù Luông 59
Bảng 3.6 Số lượng loài chim ở KBTTN Pù Luông và các khu vực lân cận 69
Bảng 3.7 Chỉ số tương đồng thành phần loài chim giữa KVNC với một số VQG và KBTTN vùng Bắc Trung Bộ 71
Bảng 3.8 Sự phân bố về thành phần loài chim theo các dạng sinh cảnh 73
Bảng 3.9 Sự phân bố thành phần loài chim theo tầng tán rừng 83
Bảng 3.10 Thống kê các vụ bắt giữ, xử lý việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở KBTTN Pù Luông 96
Bảng 3.11 Hoạt khai thác tài nguyên rừng của người dân ở KBTTN Pù Luông 97
Bảng 3.12 Một số các loài chim thường bị săn bắt và mục đích sử dụng 100
Bảng 3.13 Tổng hợp điểm đánh giá, xếp loại các khu vực cần ưu tiên giám sát và bảo tồn các loài chim ở KBTTN Pù Luông 107
Bảng 3.14 Các loài chim cần ưu tiên giám sát và bảo vệ tại KBTN Pù Luông 110
Trang 9Hình 1.2 Sơ đồ vị trí dải núi đá vôi Pù Luông - Ngọc Sơn, Ngổ Luông - Cúc Phương 12
Hình 2.1 Bản đồ thảm thực vật và địa điểm nghiên cứu chim ở KBTTN Pù Luông 25
Hình 3.1 Biểu đồ sự đa dạng về họ trong các bộ chim ở KBTTN Pù Luông 52
Hình 3.2 Biểu đồ sự đa dạng về giống trong các họ chim ở KBTN Pù Luông 53
Hình 3.3 Biểu đồ sự đa dạng về loài trong các họ chim ở KBTTN Pù Luông 54
Hình 3.4 Biểu đồ đường cong phát hiện các loài chim tại KBTTN Pù Luông 67
Hình 3.5 Sơ đồ thể hiện sự tương đồng thành phần loài chim giữa KVNC với một số VQG và KBTTN vùng Bắc Trung Bộ 72
Hình 3.6 Biểu đồ phân bố chim theo các dạng sinh cảnh chính ở KBTTN Pù Luông 75
Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện sự phân bố chim theo số lượng sinh cảnh 81
Hình 3.8 Biểu đồ sự phân bố thành phần loài chim theo tầng tán rừng 89
Hình 3.9 Hình vẽ minh họa sự phân bố của chim theo tầng tán rừng ở KBTTN Pù Luông 90
Hình 3.10 Biểu đồ thể hiện sự phân bố chim theo số lượng tầng tán rừng 91
Hình 3.11 Biểu đồ sự biến động thành phần loài chim theo các mùa trong năm 92
Hình 3.12 Sơ đồ các khu vực cần ưu tiên ưu tiên giám sát và bảo tồn 109
Hình 3.13 Sơ đồ tuyến du lịch sinh thái xem chim tại KBTTN Pù Luông 115
Trang 10Thanh Hóa là tỉnh có vùng đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch rừng đặc dụng là 84.682,35 ha [80] Các khu rừng đặc dụng của Thanh Hóa nằm trong khu vực giao nhau của hệ sinh thái rừng nhiệt đới Ấn Độ - Malai với cận nhiệt đới Vân Nam - Trung Quốc và ôn đới núi cao Hymalaya [67] Vì vậy, khu hệ động - thực vật nơi đây phong phú, đa dạng với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm; đây là nơi bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên sinh vật có giá trị cao
KBTTN Pù Luông nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thanh Hóa, trên địa phận hai huyện Quan Hóa và Bá Thước với diện tích quy hoạch 17.171,53 ha [80] Rừng
tự nhiên KBTTN Pù Luông là điểm đầu của hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi Pù Luông - Ngọc Sơn - Ngổ Luông - Cúc Phương và là một trong 16 vùng sinh thái quan trọng (rừng á nhiệt đới Bắc Bộ) Liên khu này tạo ra các khu vực biên giới chung của các tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa [16] Hệ sinh thái rừng tự nhiên nơi đây có giá trị ĐDSH cao, còn tồn tại nhiều loài động, thực vật đặc hữu và
có nhiều cảnh đẹp thiên nhiên kỳ vĩ là hang động, thác nước và các dòng sông ngầm được hình thành do quá trình kiến tạo núi đá vôi [24] Do vậy trong những năm gần đây KBTTN Pù Luông là một trong những điểm DLST dẫn đối với du khách trong
và ngoài nước [7]
KBTTN Pù Luông nằm trong vùng Bắc Trung Bộ là một trong 221 vùng chim đặc hữu của thế giới và là một trong 4 vùng chim đặc hữu (EBA) của Việt Nam [101] KBTTN Pù Luông được đánh giá là nơi có thành phần loài chim đa dạng, phong phú và có nhiều loài đặc trưng cho hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi Cảnh quan KBTTN Pù Luông tạo nên một phần của vùng chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ của Việt Nam [102]
Tuy nhiên, KBTTN Pù Luông vẫn còn thiếu những nghiên cứu mang tính
hệ thống toàn diện về khu hệ chim để làm cơ sở khoa học tin cậy cho việc quy
Trang 113 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài khu hệ chim KBTTN Pù Luông
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của khu hệ chim ở KBTTN Pù Luông; xác định vùng phân bố của một số loài chim quý, hiếm có giá trị bảo tồn
- Nghiên cứu hiện trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến khu hệ chim làm cơ sở
đề xuất các giải pháp quản lí, bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên chim ở khu bảo tồn
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của Luận án cung cấp dẫn liệu khoa học mới về đa dạng khu hệ chim KBTTN Pù Luông đến thời điểm hiện tại Đáng chú ý là sự đa dạng về cấu trúc thành phần loài, đặc điểm phân bố chim theo sinh cảnh, tầng tán rừng, theo mùa trong năm và xác định các loài có giá trị bảo tồn, các mối đe dọa
và áp lực lên khu hệ chim, cùng với những đề xuất liên quan về DLST và quản lý bảo tồn chim ở KBTTN Pù Luông
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm quy hoạch bảo tồn ĐDSH của tỉnh Thanh Hóa, đáp ứng yêu cầu đối với việc thực hiện Chiến lược Quốc gia về ĐDSH của Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030 (Theo Quyết định
số 1250/QĐ - TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ) [28]
Trang 12trong Luận án cũng là cơ sở để đề xuất xây dựng một số tuyến DLST xem chim ở KBTTN Pù Luông góp phần thu hút khách du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân địa phương, qua đó góp phần giáo dục cộng đồng và giảm sức ép lên tài nguyên chim Ngoài ra, Luận án cũng là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác đào
tạo sinh viên ngành Sinh học, Lâm nghiệp
5 Những điểm mới của luận án
Có thể khẳng định đây là lần đầu tiên Khu hệ chim KBTTN Pù Luông, Thanh Hóa được điều tra nghiên cứu, bổ sung và chỉnh lý một cách đầy đủ nhất về cấu trúc thành phần loài cùng với những đặc điểm về phân bố, sinh học và sinh thái học từ trước đến nay:
- Cấu trúc thành phần loài, đặc biệt là các loài mới được bổ sung cho khu hệ chim KBT: Tính đến thời điểm hiện tại đã xác định được ở KBTTN Pù Luông có
252 loài chim, 58 họ và 15 bộ; ghi nhận bổ sung 74 loài cho danh lục chim ở KBT so với những nghiên cứu trước đây và bổ sung 30 loài chim cho vùng Bắc Trung Bộ so với
tài liệu “Danh lục chim Việt Nam” của Võ Quý và Nguyễn Cử (1999) [61]
- Các đặc điểm phân bố và mối quan hệ sinh thái giữa các nhóm loài/chủng quần: Phân tích đánh giá được mối quan hệ sinh thái của quần xã chim ở 5 sinh cảnh sống chủ yếu được xác định cho KBT, gồm: rừng nguyên sinh; rừng thứ sinh; trảng cỏ và cây bụi thứ sinh; rừng trồng; nương rẫy, đồng ruộng và làng bản; phân tích mối quan hệ của quần xã chim theo tầng tán rừng và nhận xét sự biến động số lượng loài chim ở KBTTN Pù Luông theo mùa trong năm
- Xác định các loài và nhóm loài phục vụ chương trình giám sát, đánh giá khu hệ chim và kế hoạch quản lý bảo vệ của KBT sau này, đặc biệt là các loài và nhóm loài quan trọng đối với bảo tồn
- Bổ sung và xác định lại các địa điểm, tuyến DLST kết hợp du lịch xem chim tại KBT: Dựa trên các kết quả điều tra nghiên cứu của Luận án, đề xuất xây dựng 4 tuyến DLST thái kết hợp du lịch xem chim tại KBTTN Pù Luông
Trang 131.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu chim ở vùng Bắc Trung Bộ và khu vực nghiên cứu
Theo Võ Quý và Nguyễn Cử (1999) [61], vùng phân bố chim Việt Nam được chia làm 6 vùng (Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ) Trong đó, vùng Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh Vùng này có ranh giới: Phía Bắc giáp với các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Sơn La; phía Tây là sườn đông dãy Bắc Trường Sơn giáp với Lào; phía Đông hướng ra biển Đông; phía Nam giáp với tỉnh Quảng Bình (Hình 1.1) Theo cách phân chia này thì KBTTN Pù Luông nằm trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa và thuộc vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam
Vùng Bắc Trung Bộ được đánh giá là nơi có nguồn tài nguyên sinh vật đa
chim Bắc Trung Bộ nằm trong vùng chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ, nơi sinh sống
của các loài, phân loài chim có vùng phân bố hẹp như Gà so trung bộ (Arborophila
merlini), Gà lôi lam mào đen (Lophura imperialis), Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis), Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi) và Khướu đá
mun (Stachyris herberti) [45] Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây đã chứng minh
Gà lôi lam mào đen là con lai giữa Gà lôi lam mào trắng và Gà lôi trắng [90]; Gà lôi lam đuôi trắng được coi là một biến thể được tạo ra bởi giao phối cận huyết [91]
Trang 14Hình 1.1 Sơ đồ các tỉnh và vùng phân bố của chim Việt Nam
(nguồn: Nguyễn Cử và cộng sự, 2005)
KBTTN Pù Luông
Trang 15hoạch hệ thống rừng, đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 [30], các VQG, KBT nằm vùng chim Bắc Trung Bộ có diện tích như Bảng 1.1
Bảng 1.1 Danh sách các KBTTN, VQG vùng Bắc Trung Bộ
(Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014)
Nghiên cứu động vật, đặc biệt là chim ở vùng Bắc Trung Bộ cũng như trên lãnh thổ Việt Nam đã được tiến hành từ rất lâu và gắn liền với các mốc sự kiện lịch sử của đất nước Vì vậy, lịch sử nghiên cứu chim ở vùng Bắc Trung Bộ
có thể tóm tắt làm ba giai đoạn chính: (1) trước năm 1945; (2) từ năm 1945 đến năm 1956; (3) từ năm 1957 đến nay
Trước năm 1945, hầu hết những nghiên cứu về chim ở Việt Nam và Đông Dương được thực hiện bởi các nhà khoa học nước ngoài như Linné (1758), Gmelin (1788), Oustalet (1899 - 1903) Đặc biệt, từ năm 1924 đến 1938, Delacour
và cộng sự đã tổ chức 7 đợt sưu tầm chim trên lãnh thổ Đông Dương trong đó có vùng Bắc Trung Bộ Kết quả nghiên cứu được công bố vào năm 1931 trong 4 tập
“Chim Đông Dương”, nội dung mô tả 954 loài và phân loài kèm theo một số dẫn liệu chung về đặc tính sinh học, phân bố của chúng [104], [105], [106], [107]; năm
1940, các tác giả đã bổ sung và xuất bản danh sách đầy đủ về chim Đông Dương gồm 1010 loài và phân loài [108]
Trang 16học trong nước bắt đầu tập trung nghiên cứu ĐDSH, trong đó có chim Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong giai đoạn này gồm:
Sách “Sinh học những loài chim thường gặp ở Việt Nam” xuất bản năm 1971 của Võ Quý [55], nội dung cuốn sách đã mô tả đặc điểm sinh học của 675 loài và phân loài chim ở miền Bắc Việt Nam Năm 1975, Võ Quý tiếp tục xuất bản tập 1 sách “Chim Việt Nam: Hình thái và phân loại” [57] và tập 2 năm 1981 [58] Công trình này đóng góp rất lớn cho nghiên cứu chim của Việt Nam, bao gồm khóa định loại, mô tả đặc điểm hình thái và phân bố của 1.009 loài và phân loài chim Việt Nam, trong đó tác giả đã đề cập đến các loài chim phân bố ở vùng Bắc Trung Bộ
Năm 1995, Võ Quý và Nguyễn Cử xuất bản sách “Danh lục chim Việt Nam”
và được tái bản lần 2 năm 1999, đây được xem Danh lục đầy đủ nhất về chim ở Việt Nam cho đến thời điểm đó là 828 loài thuộc 81 họ và 19 bộ cùng với đặc điểm về phân bố, độ phong phú và đặc tính cư trú của các loài chim [61] Cũng trong năm này, Nguyễn Cử công bố về các loài chim đặc hữu và vấn đề bảo vệ ĐDSH chim tại Việt Nam với danh sách gồm 100 loài và phân loài chim đặc hữu cùng với đặc điểm phân bố và tình trạng bảo vệ của các loài này [34]; Nguyễn Cử và cộng sự kiến nghị
thành lập khu bảo vệ các loài Trĩ gồm Gà lôi lam mào đen (Lophura imperialis) và
Gà lôi lam mào trắng (Lophura hatinhensis) ở khu vực EBA rừng núi thấp miền trung
[37]; Trương Văn Lã thực hiện đề tài nghiên cứu về 12 loài chim Trĩ và đặc điểm
sinh học, sinh thái của Gà rừng tai trắng (Galluss gallus gallus), Trĩ bạc (Lophura
nycthemera nycthemera), Công (Pavo muticus imperrator) ở Việt Nam và biện pháp
bảo vệ chúng”, trong đó có vùng Bắc Trung Bộ [49]
Năm 1999, Nguyễn Cử và Nguyễn Thái Tự Cường nghiên cứu về chim ở khu vực Bắc và Trung Trung Bộ, kết quả đã chỉ ra 82 loài và phân loài đặc hữu cho khu vực, các loài bị đe dọa, sự phân bố và hiện trạng của chúng [36]
Trang 17850 loài, trong đó vùng Bắc Trung Bộ có 370 loài chim thuộc 73 họ và 18 bộ
Năm 2009, Nguyễn Cử đã công bố 52 loài mới bổ sung cho danh lục chim Việt Nam, nâng tổng số loài chim hiện biết lên 880 loài, trong đó ghi nhận được 8 loài mới cho vùng Bắc Trung Bộ [35];
Năm 2011, Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân đã kế thừa kết quả nghiên cứu của Võ Quý và Nguyễn Cử trước đây, chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật thông tin mới về danh lục chim Việt Nam, nâng tổng số loài chim hiện biết ở nước
ta lên 887 loài thuộc 88 họ, 20 bộ [64]; Lê Mạnh Hùng nghiên cứu về chim ăn thịt ban ngày ở Việt Nam và đã ghi nhận được 52 loài thuộc 21 giống và 3 họ, trong đó
có 34 loài phân bố ở vùng Bắc Trung Bộ [47]
Năm 2017, Hoàng Ngọc Thảo và Nguyễn Kim Tiến công bố thành phần loài chim ở khu vực Pu Xai Lai Leng, tỉnh Nghệ An với 147 loài, 34 họ, 13 bộ và sự phân bố của chúng theo độ cao địa hình, sinh cảnh sống [66]
Ngoài ra, tại các KBTTN, VQG nằm trong vùng Bắc Trung Bộ còn có những
dụng, cũng như tăng cường việc quản lý bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên chim Một số công trình nghiên cứu về chim ở các khu rừng đặc dụng vùng Bắc Trung Bộ như:
+ Vườn quốc gia Vũ Quang
Năm 1999, dự án nghiên cứu khả thi thành lập KBTTN Vũ Quang đã điều tra
và lập được danh lục 253 loài chim thuộc 45 họ, 16 bộ, trong đó có 28 loài có giá trị bảo tồn [40] Năm 2000, Vũ Văn Dũng và cộng sự đã thống kê được 273 loài chim và khái quát tình trạng ghi nhận của 19 loài chim có phân bố hẹp hoặc bị đe dọa [44] Năm 2005, Lê Mạnh Hùng và Nguyễn Cử khảo sát chim ăn thịt di cư ở một số khu vực của Việt Nam (trong đó có VQG Vũ Quang), kết quả đã ghi nhận được 21 loài [92]
Trang 18Tordoff A.W và cộng sự đã thực hiện điều tra về chim và một số lĩnh vực liên quan tại KBTTN Kẻ Gỗ Kết quả điều tra được công bố dưới các hình thức khác nhau ở trong và ngoài nước [69] Trong các nghiên cứu, đáng chú ý là kết quả nghiên cứu khả thi thành lập KBTTN Kẻ Gỗ
+ Vườn quốc gia Pù Mát
Nghiên cứu chim tại VQG Pù Mát có Kemp N và cộng sự (1995); Trương Văn Lã, Timmins R J (1998), Round P D (1998, 1999) [41] Kết quả nghiên cứu
đã công bố 295 loài chim và đưa ra một số dẫn liệu về sự phân bố của 43 loài chim Năm 2003, Lê Trọng Trải và cộng sự đã ghi nhận được 185 loài chim, bổ sung 10 loài cho VQG Pù Mát so với các điều tra trước đó [70] Năm 2008, Ngô Xuân Tường, Lê Đình Thuỷ đã công bố thành phần loài chim ở VQG Pù Mát với 317 loài thuộc 49 họ, 14 bộ [76]; năm 2009, các tác giả này đã giới thiệu thành phần loài chim di cư ở VQG Pù Mát với 72 loài thuộc 22 họ, 6 bộ [77] Năm 2012, Ngô Xuân Tường đã ghi nhận đến thời điểm đó ở VQG Pù Mát có 325 loài chim thuộc 45 họ
và 15 bộ [75] Năm 2017, Lý Ngọc Tú và Bùi Tuấn Hải công bố dẫn liệu bước đầu
về thành phần loài chim tại khu rừng Khe Choăng thuộc VQG Pù Mát với 62 loài chim thuộc 53 giống, 30 họ và 10 bộ [74]
+ Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt
So với các VQG, KBT khác trong khu vực, các nghiên cứu về chim tại đây còn rất ít Đáng chú ý nhất là kết quả thực hiện dự án điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng tại KBTTN Pù Hoạt năm 2013 Kết quả đã xác định danh lục chim có 372 loài, 54 họ, 17 bộ [4]
+ Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống
Năm 1996, Kemp N và Dilger M xác định được 148 loài chim [96] Năm
2002, trong báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư xây dựng, Ban quản lý KBTTN Pù Huống đã thống kê có 176 loài chim thuộc 44 họ, 14 bộ [6] Năm 2011,
Trang 19pháp bảo tồn chim ở KBTTN Pù Huống [65]
+ Vườn quốc gia Bến En
Kết quả nghiên cứu chim ban đầu đã xác định tại VQG Bến En có 183 loài chim, 48 họ và 18 bộ Năm 1998, trong đợt điều tra động vật có xương sống của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã bổ sung cho danh lục chim thêm 12 loài, 5 họ, nâng tổng số loài chim lên 195 loài thuộc 53 họ và 18 bộ [103] Năm 2013, Báo cáo kết quả dự án điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng thống kê được 277 loài chim, ghi nhận thêm 16 loài so với các nghiên cứu trước đây, đồng thời xây dựng
bộ mẫu 36 tiêu bản chim [17]
+ Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
Năm 1998, Viện Điều tra Quy hoạch rừng và tổ chức Bảo tồn chim quốc tế BirdLife tại Việt Nam phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành xây dựng nghiên cứu khả thi thành lập KBTTN Xuân Liên Kết quả của đợt điều tra đã công bố 134 loài chim thuộc 30 họ, 12 bộ [86]; Năm 2011, Nguyễn Lân Hùng Sơn và Hoàng Ngọc Hùng công bố dẫn liệu mới về thành phần loài chim ở nơi đây có 189 loài phân bố trong 14 bộ, 53 họ và 132 giống [63] Năm
2015, Ngô Xuân Tường, Lê Đình Thủy và cộng sự công bố kết quả điều tra khảo sát khu hệ chim Xuân Liên với 186 loài thuộc 40 họ của 15 bộ, trong đó có 10 loài cần được ưu tiên bảo tồn [78]
+ Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu
Từ tháng 3/2012 đến tháng 9/2013 dự án điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng ở KBTTN Pù Hu đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên động, thực vật, xác định các loài quý hiếm, các loài có nguy cơ tuyệt chủng và vùng phân bố của chúng, xây dựng được hệ thống tiêu bản các loài động, thực vật rừng Kết quả nghiên cứu được Ngô Xuân Nam, Nguyễn Quốc Huy công bố vào năm 2015 với 186 loài chim thuộc 124 giống, 46 họ và 14 bộ Trong đó, có 161 loài có giá trị bảo tồn [53]
Trang 202013, Dự án điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng KBTTN Pù Luông đã ghi nhận 117 loài chim Đồng thời cũng xác định được 93 loài chim có giá trị bảo tồn
và thu được 24 mẫu tiêu bản chim [10] Bên cạnh những kết quả về điều tra thành phần loài chim, ở KBTTN Pù Luông còn có một số kết quả điều tra, nghiên cứu phục vụ công tác bảo tồn như: điều tra tình hình săn bắt động vật hoang dã trái phép và thu hái lâm sản ngoài gỗ của Hoàng Liên Sơn và cộng sự (2003) [62]; dự án phối hợp quản lý
và bảo tồn - chiến lược quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng tại KBTTN Pù Luông của Apel, U., Maxwell (2002) [1]
Từ những phân tích trên cho thấy các VQG, KBTTN nằm trong vùng Bắc Trung Bộ nói chung và KBTTN Pù Luông nói riêng sau điều tra để lập dự án khả thi thành lập các KBT đều đã ít nhiều tiến hành điều tra bổ sung dữ liệu về thành phần loài chim Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng danh lục loài còn chưa đi sâu vào các nghiên cứu về sinh học, sinh thái của khu hệ chim cũng như phân tích những nét đặc trưng về khu hệ ở khu vực nghiên cứu
1.2 Khái quát điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.2.1 Vị trí địa lý
xã Cổ Lũng, Lũng Cao, Thành Lâm, Thành Sơn huyện Bá Thước; xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân và Phú Nghiêm huyện Quan Hóa Ranh giới KBT: phía Đông giáp huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; phía Tây tiếp giáp phần đất còn lại của các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân huyện Quan Hóa; phía Nam giáp xã Phú Nghiễm huyện Quan Hóa và xã Ban Công, Hạ Trung huyện Bá Thước; phía Bắc giáp huyện Mai Châu, Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình Vị trí KBTTN Pù Luông được thể hiện qua Hình 1.2
Trang 21Hình 1.2 Sơ đồ vị trí dải núi đá vôi Pù Luông - Ngọc Sơn, Ngổ Luông - Cúc Phương
(nguồn: Google earth, 2018; Huong D T et al., 2017)
1.2.2 Địa hình, địa mạo
KBTTN Pù Luông là khu vực rừng núi đá vôi đất thấp lớn nhất còn lại ở miền Bắc Việt Nam và là điểm đầu của hệ sinh thái rừng trên dải núi đá vôi Pù Luông - Ngọc Sơn - Ngổ Luông - Cúc Phương (Hình 1.2) [46] Pù Luông có cấu tạo gồm 2 dãy núi chạy song song theo hướng Tây Bắc -Đông Nam được ngăn cách với nhau bởi một thung lũng rộng lớn ở giữa là nơi tập trung các làng bản và đất nông nghiệp của đồng bào dân tộc Thái và Mường Dãy núi đất nhỏ nằm phía Tây Nam được tạo thành chủ yếu từ Macma phun trào và đá biến chất Dãy núi lớn nằm phía Đông Bắc trên các xã Cổ Lũng, Lũng Cao với địa hình sườn dốc đóng vai trò chủ đạo trong vùng, được hình thành từ những núi đá vôi bị chia cắt mạnh tạo nên nhiều
hệ thống hang động, dòng sông ngầm Khu vực có nhiều đỉnh cao trên 1.000 m, cao nhất là đỉnh Pù Luông có độ cao 1.700 m Thấp nhất là khu vực xã Cổ Lũng có độ cao 60 m Địa thế khu vực nghiêng dần từ Tây Bắc sang Đông Nam Độ dốc bình
[24]
Trang 22có nhiều kiểu địa hình karst nhiệt đới do sự có mặt của nhiều kiểu loại đá vôi khác nhau, tạo nên nhiều dạng địa hình karst và karst-xâm thực, như cao nguyên karst, thung lũng karst-xâm thực, cánh đồng karst, Tuy nhiên, các dạng địa hình xâm thực và kiến tạo như sườn xâm thực, bề mặt san bằng, pediment, rãnh xói phát triển trên các loại đá magma và lục nguyên [24]
Địa chất KBTTN Pù Luông có 60% diện tích là đá vôi, 37% là đá mácma phun trào và chỉ có 3% là đá lục nguyên Núi đá vôi nằm ở phía Đông Bắc của KBT, phân bố độ cao từ 60 - 1.000 m, núi đất được hình thành từ đá macma phun trào và đá biến chất nằm ở phía Tây Nam của KBT, ở độ cao từ 400 - 1.650 m [24]
1.2.4 Khí hậu và thủy văn
- Khí hậu ở KBTTN Pù Luông chịu ảnh hưởng bởi nhiệt đới gió mùa và gió mùa đông bắc (từ tháng 11 đến tháng 02); gió mùa đông nam (từ tháng 03 đến tháng 10) Ngoài ra, từ tháng 04 đến tháng 05 nơi đây còn chịu gió thổi từ nước Lào sang
- Lượng mưa bình quân năm tương đối thấp, từ 1.500 - 1.600 mm, tối thiểu 1.000 mm Mưa tập trung vào tháng 7, 8, 9 chiếm 65 - 68% lượng mưa trong năm [7]
- Hệ thống thuỷ văn: do đặc điểm cấu tạo địa hình có đường yên ngựa nằm giữa các xã Phú Lệ và Thành Sơn nên hệ thống nước chảy nơi đây bị phân theo hai hướng: Phụ lưu Pung (chảy theo hướng Tây Bắc) và Cham (chảy theo hướng Đông Nam) trước khi chảy ra sông Mã Sông Mã bao quanh vùng đệm KBT về phía Tây, phía Nam và Đông Nam Ngoài ra vùng núi đá vôi còn có hệ thống sông ngầm rộng lớn thông với nhau Phần núi, đồi thấp cao trung bình 300 - 800 m, chủ yếu gồm đá carbonat và lục nguyên, tương đối giàu nước với nhiều nguồn nước mặt và nước
Trang 231.2.5 Hệ thực vật
1.2.5.1 Đặc trưng thảm thực vật
Khu BTTN Pù Luông nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, thuộc khu vực
có sinh khí hậu nhiệt đới mưa mùa đan xen giữa các đặc điểm của vùng Bắc Trung
Bộ và Tây Bắc Bộ Mặt khác, do ảnh hưởng của quy luật phân đai địa hình các khu vực có độ cao dưới 700 m có sinh khí hậu là nhiệt đới ẩm mưa mùa; trên 700 m là á nhiệt đới ẩm trên núi Theo nghiên cứu của Averyanov L., Nguyễn Tiến Hiệp, Phan
thực vật KBTTN Pù Luông mô phỏng tại Hình 2.1 và được phân thành các dạng chính như sau:
lá kim hoặc rừng hỗn giao với cây lá rộng trên đỉnh và đường đỉnh ưu thế như Thông
pà cò (Pinus kwangtungensis), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Bi tát (Pistacia
weinmanifolia), Trường mật (Pometia pinnata), Trai lý (Garcinia fagraeoides),…
Rừng nguyên sinh trên núi đất trước đây phân bố từ độ cao 800 - 1700 m thuộc địa phận xã Thành Lâm, Thanh Sơn và Phú Lệ Tuy nhiên do bị ảnh hưởng bởi hoạt động khai thác gỗ của con người, hiện nay kiểu rừng này chỉ còn phân bố ở độ cao trên 1200 m Trên các đỉnh núi, rừng nguyên sinh có cấu trúc dạng rừng lùn điển hình, không phân tầng, sương mù bao phủ quanh năm tạo cho khu rừng có độ ẩm cao
(Eriobotrya bengalensis), Dẻ giáp (Castanopsis armata), Thích bắc bộ (Acer
tonkinense), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus)
Trang 24sinh phân bố ở độ cao 200 - 600 m, nhiều nơi lên đến khoảng 700 m với các loại thực
vật điển hình như Màng tang (Litsea cubeba), Dẻ gai ấn độ (Castanopsis indica), Linh bắc bộ (Eurya tonkinensi), Long não (Cinnamomum spp.), Trai lí (Garcinia
fagraeoides), Xén mủ (Garcinia mackeaniana)…; Trên núi đá vôi, do khả năng giữ
nước kém, bề mặt phong hóa nên vào mùa khô nhiều loài thực vật bị rụng lá, tạo thành
rừng thứ sinh nửa rụng lá, quần xã thực vật Trường mật (Pometia pinnata), Trường vân
(3) Sinh cảnh trảng cỏ và cây bụi
Trảng cỏ cây bụi thường gặp ở vùng giáp ranh giữa rừng với nương rẫy, bản làng, rừng trồng hoặc rừng tái sinh sau khai thác kiệt Sinh cảnh này nằm ở khu vực đồi núi có độ dốc thấp, thảm thực vật chủ yếu là cây có độ cao dưới 10 m, thỉnh thoảng có trảng trống và cây gỗ rải rác mọc xen lẫn cùng với lớp cây bụi thứ sinh Thành phần
thực vật chiếm ưu thế là ở trảng cỏ là các loài Lau (Erianthus arundinaceus), Chít (Thysanolaena maxima), Chè vè (Miscanthus japonica), Cỏ tranh (Imperata
cylindrica), Thao kén (Helicteres angustifolia)… Trảng cây bụi gồm Thành ngạnh
(Cratoxylum cochinchinense), Bọt ếch trung (Glochidion pilosum), Đuôi chồn (Uraria
crinita), Cơm nguội (Ardisia spp.), Hoa dẻ thơm (Desmos chinensis)
(4) Sinh cảnh rừng trồng
Theo thống kê từ Ban quản lý KBTTN Pù Luông, trong diện tích rừng thuộc KBT quản lý ngoài diện tích rừng tự nhiên còn có 220 ha rừng trồng theo quy hoạch Trong đó, rừng Lát hoa xen Trầm đã quy hoạch có 20 ha thuộc địa phận làng Leo, xã Thành Lâm, huyện Bá Thước Rừng Lát hoa xen Keo tai tượng đã quy hoạch có 40
ha tại làng Đanh, làng Cóc, xã Thành Lâm, huyện Bá Thước Rừng thuần Keo tai tượng có 20 ha tại làng Đông, xã Thành Lâm, huyện Bá Thước Rừng Thông đuôi gà
có 20 ha tại thôn Đồng Điểng, xã Thành Sơn, huyện Bá Thước Còn lại khoảng 120
ha rừng trồng được Ban quản lý KBTTN Pù Luông giao cho các hộ gia đình tại địa phương quản lý và họ có quyền lựa chọn loại cây lâm nghiệp phù hợp để trồng và
chăm sóc như Luồng thanh hóa (Dendrocalamus membranaceus), các loài Keo
Trang 25Các thôn, bản và đất canh tác nằm trong KVNC phân bố dọc theo thung lũng
giữa hai dãy núi ở KBT Khu vực này cũng là nơi tập trung dân cư sinh sống và sản xuất nông nghiệp của 2 huyện Quan Hóa và Bá Thước Đất trồng lúa nước của người dân quanh khu bảo tồn có diện tích 583,5 ha nằm tiếp giáp với các khu dân cư Sinh cảnh nương rẫy, cây trồng chính là lúa, ngô, khoai, sắn, mía; khu dân cư người dân
trồng chủ yếu các loài cây như: Dừa (Cocos nucifera), Mít (Artocarpus
heterophyllus), Xoài (Mangifera spp.), Đu đủ (Carica papaya), các loài cam,
chanh và bưởi (Citrus spp.), Chuối (Musa spp.), Mãng cầu (Annona reticulata), Na (Annona squamosa), Vải (Litchi sinensis), Hồng xiêm (Manilkara zapota), Trứng
cá (Muntingia calabura)… cùng một số loài cây trồng khác như Bàng (Terminalia
catappa), Bạch đàn (Eucalyptus spp.), Keo (Acacia spp.), Nứa (Schizostachyum dulloua), Gạo (Bombax anceps), Cọ xẻ (Livistona chinensis)…
1.2.5.2 Cấu trúc phân tầng thực vật
Cấu trúc phân tầng của quần xã thực vật được phân bố theo chiều thẳng đứng tạo thành nhiều tầng cây thích nghi với điều kiện chiếu sáng khác nhau trong rừng Rừng nguyên sinh, thực vật được phân thành 5 tầng (tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và thảm tươi), rừng thứ sinh có cấu trúc 4 tầng như trên nhưng không có tầng vượt tán:
(1) Tầng vƣợt tán: Các loài thực vật điển hình là Gội nước hoa to
(Aphanamixis grandifolia), Đa bắp bè (Ficus nervosa), Dẻ giáp (Castanopsis
armata), Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus yunnanensis) và Kim giao núi đất (Nageia wallichiana) có chiều cao tới 30 - 40 m, nhiều cây có chiều cao từ 40 - 50 m như Thông
lông gà (Dacrycarpus imbricatus) Chò nhai (Anogeissus acuminata), Nghiến (Excentrodendron tonkinense)
(2) Tầng ƣu thế sinh thái: Cấu trúc tầng ưu thế sinh thái có ở rừng
thường xanh cây lá rộng, rừng thứ sinh Rừng thường xanh cây lá rộng, thực vật
ưu thế là Vàng anh (Saraca dives), Lim vàng (Peltophorum dassyrachis), Lòng
Trang 26(3) Tầng dưới tán (tầng giữa): Thành phần thực vật phổ biến gồm Thích
bắc bộ (Acer tonkinense), Bứa xẻ (Garcinia gracili), Giổi (Michelia spp.), Trôm (Sterculia spp.), Sổ bà, Cứt ngựa, Bời lời, Móc, Mạy tèo, Dẻ ấn, Chè, Sòi, Đùng
đình, Bút, Ruối ô rô, Chòi mòi có chiều cao từ 10 - 20 m Tại một số thung lũng
ẩm ướt có những cây đạt 20 - 25 m Ở các sườn dốc, luôn khô hạn có mặt của các loài như cây Lương xương, Thích bắc bộ, Đáng chân chim, Hồi đại, Nhội, Song tử cao 10 - 15 m
(4) Tầng cây bụi: Gồm những cây có chiều cao trung bình từ 2 - 6 m, một số
cây cao đến 10 m Thực vật chiếm ưu thế là Cơm nuội (Ardisia spp.), Đơn (Maesa spp.), Vông đỏ lá thuôn (Alchornea annamica), Bọt ếch trung (Glochidion pilosum), Vông đỏ thuôn (Alchornea annamica), Me (Phyllanthus spp.), Mua rừng (Blastus
spp.), Lấu (Psychotria spp.) và Đỗ quyên răng nhỏ (Rhododendron crenulatum)
(5) Tầng thảm tươi: Loài ưu thế có Vạn niên thanh (Aglaonema spp.), Ráy
(Alocasia macrorrhizos), Riềng hải nam (Alpinia hainanensis), Ráng vệ nữ (Adiantum spp.), Quyển bá (Selaginella spp.), Thông đất (Lycopodiella cernuua),
Sa nhân (Amomum spp.), Cỏ mần trầu (Eleusine indica) Cùng các loài dây leo:
Dị kim cang (Heterosmilax sp.), Xuyên tiêu (Zanthoxylum nitidum), Vót vét (Illigera celebica),… chúng có chiều cao 0,1 - 2 m
1.2.6 Hệ động vật
Năm 2003, tổ chức FFI Việt Nam đã thực hiện Dự án bảo tồn cảnh quan đá vôi Pù Luông - Cúc Phương với các chương trình điều tra đa dạng sinh học đối với các nhóm thực vật, thú, cá, bướm, thân mềm và các loài động vật không xương sống trong hang động Kết quả dự án đã xác định được 84 loài thú [27], trong đó có 24 loài dơi [68]; 55 loài cá [83]; 158 loài bướm [52] Đặc biệt, KBTTN Pù Luông hiện
còn tồn tại quần thể Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) là loài đặc hữu
của Việt Nam với khoảng 40 - 45 cá thể [26]
Trang 27lưỡng cư có 26 loài thuộc 18 giống, 7 họ; bò sát có 40 loài thuộc 30 giống, 14
họ, 2 bộ; chim có 117 loài, 91 giống, 43 họ và 13 bộ; thú có 79 loài thuộc 47 giống, 24 họ và 9 bộ [10]
1.3 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội các xã vùng đệm và trong ranh giới KBTTN Pù Luông
1.3.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Theo báo cáo tham vấn xã hội thuộc dự án hỗ trợ ngành Lâm nghiệp, Quỹ Bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam: KBTTN Pù Luông nằm trong vùng có dân cư sinh sống và bao quanh bởi diện tích đất nông nghiệp Trong ranh giới KBT có 387
hộ dân sinh sống với 1.800 khẩu thuộc hai xã Cổ Lũng và Lũng Cao, huyện Bá Thước [22] Các thôn bản nằm trong ranh giới KBTTN Pù Luông thuộc vùng sâu, vùng xa đầu nguồn sông Mã, dân cư chủ yếu là đồng bào các dân tộc Thái và Mường với tỷ lệ như Bảng 1.2
Bảng 1.2 Các dân tộc sinh sống trong ranh giới KBTTN Pù Luông
thôn/bản
Tổng số hộ (hộ)
Tổng số dân
(nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011)
Vùng đệm với diện tích 28.208,92 ha [81], có 4.850 hộ gia đình với 22.500 nhân khẩu đang sinh sống thuộc 7 xã của 2 huyện Quan Hóa và Bá Thước Ngoài
ra, có khoảng hơn 2.000 hộ, 8.000 dân cư tỉnh Hoà Bình sống liền kề phía Đông Bắc KBTTN Pù Luông [7] Thông tin về các xã nằm trong vùng đệm KBT được thể hiện tại Bảng 1.3
Trang 28(nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011)
Lực lượng lao động chiếm khoảng 40% tổng dân số, nhưng cơ cấu việc làm không đa dạng (chủ yếu là nghề nông theo mùa vụ) Thu nhập của người dân chủ yếu từ nông nghiệp (trước đây còn dựa vào rừng), trong đó sản phẩm chính là lương thực và chăn nuôi Tỷ lệ đói nghèo trên 68%, bình quân lương thực đầu người: 275 kg/người/năm, thu nhập bình quân đầu người 2.500.000 đồng/người/năm [21]
Các xã nằm trong ranh giới KBT và vùng đệm có tỷ lệ hộ dân đói nghèo cao nhất cả nước Tình trạng đói nghèo của các xã nằm trong ranh giới KBT và vùng đệm được tổng hợp tại Bảng 1.4
Bảng 1.4 Tình hình kinh tế của người dân thuộc các xã sống
trong ranh giới và vùng đệm của KBTTN Pù Luông
Hồi Xuân
Phú Nghiêm
Thành Lâm
Thành Sơn
Cổ Lũng
Lũng Cao
Trang 291.3.2 Hoạt động kinh doanh - sản xuất
Sản xuất nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp ở các thôn bản trong KBTTN
Pù Luông là thuần nông, độc canh cây lương thực Các loài cây trồng chủ yếu là lúa, ngô, sắn, dong riềng Phần lớn các hộ dân đều có vườn, quy mô vườn bình
nhu cầu hàng ngày của gia đình, có giá trị kinh tế thấp Về chăn nuôi mặc dù có
đàn gia súc, nhưng chất lượng đạt năng suất thấp [21]
Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích đất lâm nghiệp trong KBT có 26.271,6 ha
Trong đó, rừng đặc dụng có 16.982 ha (chiếm 64,64%); đất lâm nghiệp, rừng sản xuất
có 4.750,9 ha (chiếm 18,80%), rừng phòng hộ có 2.086,2 ha (chiếm 7,94%) [21]
1.3.3 Cơ sở hạ tầng
Giao thông: KBTTN Pù Luông nằm bên cạnh đường Quốc lộ 15C từ đi qua
huyện Bá Thước đến huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Điều này giúp các phương tiện giao thông đường bộ đi lại dễ dàng, tạo điều kiện kết nối du khách từ khu du lịch bản Lác, huyện Mai Châu đến KBTTN Pù Luông Trong KBT, phần lớn đường giao thông liên xã nằm đều có đường cấp phối hoặc trải nhựa Đường nối các thôn bản chủ yếu vẫn là đường đất, chất lượng xấu (đường hẹp, độ dốc lớn, dễ trơn trượt) dẫn đến việc đi lại rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa, ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt và sản xuất của cộng đồng địa phương
Thuỷ lợi: Các xã nằm trong KBT đã có công trình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu
cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên một số thôn, bản nằm trong vùng núi đá vôi rất thiếu nước, nhất là mùa khô Các công trình thủy lợi do xã quản lý, khai thác, sử dụng, nhưng do không có kinh phí duy tu và sửa chữa thường xuyên nên những công trình này đang bị xuống cấp
Điện sinh hoạt và thông tin liên lạc: Trung tâm các xã hầu như đã có điện lưới
quốc gia, các thôn ở xa trung tâm dùng máy thuỷ điện nhỏ, điện năng lượng mặt trời Phần lớn các xã đã có bưu điện văn hoá xã và sóng điện thoại di động đã phủ gần hết các thôn bản, trừ một số bản ở vùng sâu, vùng xa
Trang 30Giáo dục và Đào tạo: Hiện nay tại các xã nằm nằm trong KBT đều đã hoàn
thành phổ cập trung học cơ sở, tuy nhiên tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông lại thấp, sau khi tốt nghiệp phần lớn học sinh ở nhà làm ruộng, nương rẫy hoặc đi làm công nhân tại các khu công nghiệp
Văn hoá xã hội: Người dân sống tại vùng đệm và trong KBT chủ yếu là dân
tộc Thái, Mường Mỗi dân tộc có đời sống văn hoá riêng đặc sắc riêng như lễ hội Cồng chiêng của người Mường, múa xoè của người Thái… Văn hóa bản địa đang thu hút sự quan tâm của nhiều khách du lịch
Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội của KVNC đã tác động không nhỏ đến tài nguyên rừng, trong đó có tài nguyên chim Do vậy, trong quá trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh đã tiến hành thu thập thông tin, tìm hiểu tình hình kinh tế,
xã hội của địa phương làm cơ sở phân tích, xác định những nguy cơ gây suy giảm
đa dạng tài nguyên chim, từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng khu hệ chim KBTTN Pù Luông
Trang 312.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu được bố trí tại 8 khu vực thuộc bản Eo Điếu (xã Cổ Lũng), bản Son - Bá - Mười (xã Lũng Cao), bản Kịt (xã Lũng Cao), bản Mỏ (xã Phú Xuân), bản Eo Kén (xã Thành Sơn), Thung Hang (xã Thành Sơn), bản Pà Khà - bản Báng (xã
Thành Sơn), làng Leo - làng Bầm (xã Thành Lâm) Mỗi khu vực trên có 2 điểm dựng
lán trại nghiên cứu như Hình 2.1
Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trong thời gian 4 năm (từ tháng 10/2014 đến 10/2018) với 14 đợt điều tra, 152 ngày thực địa tại 16 khu vực nghiên cứu Thời gian, địa điểm các đợt nghiên cứu được thống kê tại Bảng 2.1
Bảng 2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu chim tại KBTTN Pù Luông Đợt
nghiên
cứu
Địa điểm nghiên cứu
Thời gian
Số ngày thực địa
Tọa độ địa lý/
độ cao
Đợt 1
Địa điểm 3 (bản Son - bản Mười)
Tháng 12/2014
Độ cao: 765 m Địa điểm 5
Độ cao: 765m Địa điểm 1
Trang 3207/2015 Địa điểm 13
(bản Pà Khà - bản Báng)
Tháng 10/2015
Tháng 02/2016
Địa điểm 4 (bản Son - bản Mười)
Tháng 02/2016
Tháng 07/2016
(làng Leo - làng Bầm)
Trang 3302/2017 Địa điểm 13
(bản Pà Khà - bản Báng)
Tháng 12/2017
Tháng 2,3/2018
(bản Pà Khà - bản Báng)
Trang 34Hình 2.1 Bản đồ thảm thực vật và địa điểm nghiên cứu chim ở KBTTN Pù Luông
(Bản đồ được xây dựng dựa trên nguồn của Viện Điều tra, Quy hoạch rừng)
Trang 35cứu, xử lý mẫu, đánh giá hiện trạng và các tác động lên tài nguyên chim Những
kỹ năng này được tham khảo trong các tài liệu [19], [42], [54], [85]
2.2.1 Phương pháp điều tra đa dạng thành phần loài chim
Phương pháp quan sát chim ngoài tự nhiên
Quan sát chim ngoài tự nhiên được thực hiện tại 16 địa điểm nghiên cứu có tọa độ và độ cao như Bảng 2.1 Mỗi địa điểm lập 2 - 3 tuyến điều tra, mỗi tuyến điều tra có độ dài từ 3 - 5 km Để lựa chọn các địa điểm nghiên cứu và xây dựng các tuyến điều tra chúng tôi dựa trên bản đồ thảm thực vật (Viện điều tra quy rừng, 2015) Các địa điểm và tuyến quan sát/nghiên cứu chim được lựa chọn đại diện cho các dạng sinh cảnh chính ở khu vực nghiên cứu và được thể hiện ở Hình 2.1
Ngoài tự nhiên chim có thể được quan sát trực tiếp bằng mắt thường khi tiếp cận ở cự ly gần hoặc sử dụng ống nhòm, ống field scope để quan sát từ xa Khi quan sát, cần ngụy trang màu sắc quần áo phù hợp với màu sắc của môi trường Khi di chuyển nên đi chậm và chú ý quan sát, lắng nghe; không được gây tiếng động lớn, không để lộ bóng người và không nên quan sát đối diện với mặt trời vì bị lóa mắt
Trong quá trình thực địa chúng tôi còn sử dụng máy ảnh Nikon 70S có gắn tele Nikon 75 - 300 và tele Nikon 400 có gắn ống nối 1,5X; máy ảnh siêu zoom Nikon Coolpix P900 để chụp ảnh chim từ xa Sử dụng máy ghi âm Sony MD có gắn thiết bị thu âm định hướng Telinga parabolic microphone (Thụy Điển) để ghi âm tiếng hót đặc trưng của các loài chim Đặc biệt là các loài khó quan sát tiếng hót thu
âm được so sánh, phân tích với cơ sở dữ liệu của Jelle Scharringa (2005) [98] và
Xeno-canto [111]
Phương pháp bắt - thả chim bằng lưới mờ (mist-nets)
Phương pháp bắt thả chim bằng lưới mờ (mist-nets) là phương pháp thường dùng hiện nay trong nghiên cứu chim Phương pháp này cho phép xác định và định
Trang 36Lưới mờ được sử dụng tại 16 địa điểm dựng trại nghiên cứu Địa điểm lựa chọn dựng trại nghiên cứu đại diện cho những sinh cảnh chính ở KBT Mỗi trại nghiên cứu thường sử dụng từ 10 - 12 lưới, hàng ngày lưới được mở từ 5 - 6 h sáng
và thu lưới từ 17h30 - 18h30 chiều (khoảng thời gian này có thể thay đổi tùy theo mùa và điều kiện thời tiết), trời mưa thì không mở lưới Các lưới được dựng trên hai cọc chống cắt ngang qua sinh cảnh chính ở KBT và được kiểm tra thường xuyên mỗi lần cách nhau khoảng 40 phút Những ngày rét buốt hoặc nắng to, thời gian sau mỗi lần kiểm tra được rút ngắn lại để tránh hiện tượng chim bị tổn thương hoặc có thể bị chết do dính lưới quá lâu
Trong phương pháp lưới mờ, một vấn đề được đặc biệt quan tâm là kỹ thuật
gỡ chim ra khỏi lưới Để gỡ chim trước tiên cần kiểm tra xem chim bay vào lưới từ hướng nào dựa quan sát phần đuôi của chim Đuôi chim nằm ở mặt nào của lưới thì
sẽ là hướng chim bay vào lưới Khi gỡ chim phải gỡ từ từ, tránh làm mạnh tay Nếu mắt lưới dính vào gốc của chóp lưỡi thì cần có dụng cụ để gỡ lưới ra khỏi lưỡi Sau khi gỡ chim ra khỏi lưới, mỗi mẫu chim được giữ trong một túi vải thưa và sau đó tiến hành đo, đếm để xác định các thông số cần thiết, định loại, chụp ảnh và ngay sau đó thả chim trở lại tự nhiên Nếu thấy sức khỏe chim bị đe dọa có thể cho uống thêm nước trước khi thả
Phỏng vấn người dân địa phương
Để bổ sung thêm thông tin cho quá trình điều tra thực địa, việc tiến hành phỏng vấn những người là cán bộ quản lý KBT, cán bộ kiểm lâm, cán bộ thôn xã, người dân trước đây thường đi săn và những người làm nghề đi rừng là cần thiết và
đã mang lại hiệu quả cho quá trình nghiên cứu Đồng thời các ảnh chụp chim của người dân trong quá trình đi rừng cũng như di vật của các loài chim còn lưu giữ trong nhà dân đã giúp bổ sung thêm các tư liệu về sự hiện diện của các loài chim trong KVNC Nội dung phỏng vấn được sử dụng theo mẫu phiếu ở Phụ lục 11, danh sách những người được phỏng vấn được thể hiện ở Phụ lục 12
Trang 37các loài chim ở KBTTN Pù Luông [38], [48], [84], [87], [99]
Danh lục chim KBTTN Pù Luông được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Richard Howard và Alick Moore, được sử dụng trong sách Danh lục chim thế giới
“The Howard and Moore Complete Checklist of the birds of the Word” tái bản lần
4, tập 1 năm 2013 [88] và tập 2 năm 2014 [89] Ngoài ra còn tham khảo thêm tài liệu Sibley C G and Monroe B L (1991) [100]
Tên khoa học, tên phổ thông của các loài chim được sử dụng theo “Danh lục
chim Việt Nam” của Võ Quý và Nguyễn Cử (1999) [61], Nguyễn Lân Hùng Sơn,
Nguyễn Thanh Vân (2011) [64], đồng thời có cập nhật bổ sung
Đánh giá mức độ bị đe dọa của các loài chim trong KVNC
Sử dụng các tài liệu: Danh Lục Đỏ IUCN (2019) [95], Sách Đỏ Việt Nam (2007) [19]; Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ [29]; Nghị định số 06/2019 ngày 22/1/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp [32]; Thông tư số 04/2017/TT-BNNPTNT ngày 24/02/2017 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về các loài có trong danh mục CITES [23]
Phương pháp xác định độ phong phú tương đối (Mackinnon List)
Phương pháp Mackinnon list được sử dụng để hình thành đường cong tích lũy số loài chim và xác định mức độ phong phú tương đối của các loài chim đã được ghi nhận trong khu vực nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng theo tài liệu Colin Bibby và cộng sự (2003) [33] Theo đó, một danh sách các loài chim được lập bằng cách ghi nhận mỗi loài mới cho đến khi đủ số lượng 08 loài Một loài chỉ được ghi nhận một lần trong một danh sách nhưng có thể ghi nhận ở những danh sách kế tiếp Danh sách có 08 loài chim khác nhau này được lập ở các dạng sinh cảnh tại các địa điểm nghiên cứu cho đến khi kết thúc đợt khảo sát (Phụ lục 8)
Trang 382.2.2 Phương pháp nghiên cứu sự phân bố chim theo sinh cảnh, tầng tán rừng và các mùa trong năm
Xác định các dạng sinh cảnh và tầng tán rừng
Phân chia các dạng sinh cảnh chính ở KBT dựa theo các tài liệu của Thái Văn
tán rừng theo Võ Quý (1972) [56]
Điều tra theo tuyến và các địa điểm nghiên cứu
Các tuyến điều tra nghiên cứu chim được xây dựng dựa trên phân tích bản đồ địa hình, bản đồ thảm thực vật rừng, thông tin thu thập được từ kiểm lâm, người dân địa phương ở từng khu vực và được lập trên những đường mòn sẵn có hoặc các tuyến nghiên cứu đã có trước đây Thông tin các loài chim được ghi nhận trong quá trình điều tra theo tuyến ở các dạng: quan sát, chụp ảnh, nghe tiếng hót, di vật và được điều tra lặp lại để ghi nhận tối đa các loài xuất hiện trong KVNC
Xác định phân bố chim theo sinh cảnh, tầng tán và các mùa trong năm
Trên cơ sở điều tra thực địa theo tuyến, kết hợp phỏng vấn và tham khảo các tài liệu về đặc điểm sinh thái, tập tính của các loài chim [38], [48], [55], [56] để xác định sự phân bố của các loài chim trong KVNC theo sinh cảnh và tầng tán rừng
Xác định hiện trạng cư trú của các loài
Để xác định đặc tính cư trú của các loài chim ngoài việc dựa trên kết quả ghi nhận ngoài thực địa, chúng tôi còn tham khảo đặc tính cư trú của loài trong các tài liệu của Võ Quý (1997) [60], Lê Mạnh Hùng (2012) [48]
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu, đánh giá các mối đe doạ tác động đến khu hệ chim KBTTN Pù Luông và đề xuất một số giải pháp bảo tồn
Phương pháp tham khảo và kế thừa tài liệu
Quá trình điều tra nghiên cứu để đánh giá các mối đe doạ tác động đến khu
hệ chim KBTTN Pù Luông và đề xuất một số giải pháp bảo tồn, chúng tôi đã tham
Trang 39Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)
Để thu thập thông tin bổ sung thực tế về các mối đe dọa tác động đến khu hệ chim KBTTN Pù Luông, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn người dân địa phương, cán bộ thôn, xã, cán bộ quản lý khu bảo tồn, cán bộ kiểm lâm, những người dân thường đi săn trước đây và những người thường xuyên đi rừng Phỏng vấn được thực hiện bằng phiếu điều tra tại các thôn bản thuộc 05 xã (Lũng Cao, Cổ Lũng, Thành Lâm, Thành Sơn, Phú Xuân), mẫu phiếu điều tra phỏng vấn, danh sách những người được phỏng vấn tại Phụ lục 11, 12
Phương pháp điều tra hiện trường
Phương pháp điều tra hiện trường được áp dụng để thu thập thông tin thực tế
về hoạt động buôn bán, tàng trữ, săn bắn động vật rừng và khai thác lâm sản trái phép Qua điều tra hiện trường cũng góp phần kiểm chứng tính xác thực của thông tin được người dân cung cấp qua phỏng vấn
2.2.4 Phương pháp xác định khu vực ưu tiên giám sát và bảo tồn khu hệ chim ở KBTTN Pù Luông
Để xác định các khu vực cần ưu tiên giám sát và bảo tồn chim ở KBTTN Pù
Luông, dựa trên tham khảo một số cách đánh giá ưu tiên bảo tồn đối với một số nhóm động vật có xương sống đã thực hiện ở Việt Nam [43], chúng tôi tiến hành đánh giá chấm điểm 8 khu vực nghiên cứu dựa trên 5 tiêu chí chính sau:
(1) Sự đa dạng thành phần loài tính trung bình trên một đơn vị diện tích (ha) (2) Số loài chim đặc hữu, quý, hiếm
(3) Diện tích rừng còn đủ lớn và chất lượng rừng còn tốt
(4) Mức độ tác động của con người làm mất sinh cảnh sống của các loài chim (chặt, phá rừng trái phép)
(5) Mức độ săn bắt chim trái phép
Cách đánh giá các khu vực nghiên cứu:
Trang 40hoặc bằng 5 là khu vực cần ưu tiên bảo tồn Mức độ ưu tiên các khu vực được xếp loại từ cao xuống thấp, dựa trên kết quả phiếu đánh giá xếp loại khu vực ưu tiên giám sát và bảo tồn được thể hiện tại (mẫu phiếu điều tra như Phụ lục 11)
2.2.5 Phân tích, xử lý số liệu
- Các số liệu thu được từ thực địa được nhập vào chương trình Microsoft
Excel để xử lý thống kê số liệu
- Sử dụng phần mềm Past Statistics (Hammer et al., 2001) để xử lí thống kê và xác định các chỉ số đa dạng, chỉ số tương đồng và sai khác cũng như xây dựng “cây quan hệ” và mối quan hệ địa lí động vật giữa các khu vực (số lần lặp lại 1000), chỉ số gốc nhánh thể hiện tỉ lệ % lặp lại trên tổng số lần thực hiện phép toán thống kê [97]
- Phân tích hệ số tương đồng chúng sử dụng chỉ số Sorensen-Dice để so sánh
về thành phần loài chim ở KBTTN Pù Luông với các KBT lân cận theo công thức:
N M
hiện ở cả hai khu vực so sánh; N là tổng số loài chỉ xuất hiện ở một khu vực