Luận án “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là kết quả của quá trình nghiên cứu trong những năm học vừa qua
Trang 11
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH PHƯƠNG
LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG HỘ TRONG SẢN XUẤT CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN ÁN TIẾN SỸ
HÀ NỘI, NĂM 2020
Trang 22
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH PHƯƠNG
LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ
NÔNG HỘ TRONG SẢN XUẤT CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 934 04 10
LUẬN ÁN TIẾN SỸ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GVHD 1: PGS.TS Vũ Hùng Cường GVHD 2: TS Tuyết Hoa Niê Kdăm
Hà Nội, Năm 2020
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các kết quả nghiên cứu trong luận án là xác thực và chưa từng được công bố trong kỳ bất công trình nào khác trước đó
Tác giả
Nguyễn Thanh Phương
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại Học viện Khoa học xã hội, dưới sự chỉ dạy tận tình của các Thầy, Cô, em đã nghiên cứu và tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích để vận dụng vào công việc hiện tại nhằm nâng cao trình độ năng lực năng lực của bản thân
Luận án “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là kết quả của quá trình
nghiên cứu trong những năm học vừa qua
Em xin dành lời cảm ơn trân trọng nhất tới PGS TS Vũ Hùng Cường, TS Tuyết Hoa Niê Kđăm, những người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình học tập và thực hiện luận án
Em cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô đã thu xếp, hướng dẫn, giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và làm luận án tại học Học viện Khoa học xã hội
Em cũng xin cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và hoàn thành bản luận án này
Hà Nội, ngày 27 tháng 07 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thanh Phương
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
IFAD Quỹ phát triển nông nhiệp quốc tế
KHKTNLN Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp
LKKT Liên kết kinh tế
NMTĐ Nhà máy thủy điện
PTNT Phát triển nông thôn
TKNN Thiết kế nông nghiệp
TLDTLKKT Tỷ lệ diện tích liên kết kinh tế
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSXCCNDN Trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày
TTBQ Tăng trưởng bình quân
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 6iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
5 Dự kiến những kết quả nghiên cứu cần đạt được 8
6 Kết cấu luận án 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN 9
1.1 Các công trình trên thế giới 9
1.2 Các công trình tại Việt Nam 16
Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG HỘ TRONG SẢN XUẤT CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY 29
2.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản về sản xuất cây công nghiệp dài ngày 29
2.2 Một số lý luận cơ bản về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 30
2.2.1 Khái niệm và đặc trưng liên kết kinh tế 30
2.2.2 Khái niệm, đặc trưng và nội hàm cơ chế hoạt động của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 32
2.2.3 Lý thuyết cơ bản làm cơ sở cho nghiên cứu về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 33
2.3 Nội dung nghiên cứu liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 35
2.3.1 Quy mô, hình thức và mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 35
2.3.2 Vai trò và vị thế của các chủ thể trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 38
2.3.3 Động lực của các chủ thể khi tham gia liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 39
2.3.4 Tổ chức thực hiện liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 40
2.3.5 Hiệu quả và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 42
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ 44
2.4.1 Các yếu tố khách quan 44
2.4.2 Các yếu tố chủ quan 50
2.5 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày và gợi mở cho tỉnh Đắk Lắk 52
2.5.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới 52
2.5.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 55
2.5.3 Một số bài học kinh nghiệm gợi mở cho tỉnh Đắk Lắk 58
2.6 Khung phân tích của luận án 61
Trang 7v
Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG HỘ TRONG SẢN XUẤT CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 63
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 63
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 63
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 64
3.1.3 Những đặc thù của vùng Tây Nguyên và tỉnh Đắk Lắk có ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 67
3.1.4 Tình hình sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 67 3.2 Tình hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 70
3.2.1 Quy mô, hình thức và mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 70
3.2.2 Vai trò và vị thế của các chủ thể trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 78
3.2.3 Động lực của các chủ thể khi tham gia liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và 83
3.2.4 Tổ chức thực hiện liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản 84
3.2.5 Hiệu quả liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây 94
3.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thời gian qua 97
3.4.1 Các yếu tố khách quan 97
3.4.2 Các yếu tố chủ quan 110
3.3 Đánh giá chung về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thời gian qua 115
3.3.1 Thành công 115
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 117
Tiểu kết chương 3 122
CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG HỘ TRONG SẢN XUẤT CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 123
4.1 Bối cảnh trong nước, quốc tế đối với sản xuất nông nghiệp tỉnh Đắk Lắk 123
4.2 Dự báo về các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất cây dài ngày của Đắk Lắk 125
4.2.1 Dự báo về biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp 125
4.2.2 Dự báo về quy mô đất nông nghiệp 125
4.2.3 Dự báo thị trường và nhu cầu tiêu thụ 125
4.2.4 Dự báo về các tiến bộ khoa học và công nghệ có thể áp dụng 127
4.3 Quan điểm, định hướng phát triển liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk 128
Trang 8vi
4.3.1 Quan điểm phát triển liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ
trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày 128
4.3.2 Định hướng thúc đẩy liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày ở Đắk Lắk 128
4.4 Một số giải pháp cơ bản để thúc đẩy liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày của Đắk Lắk thời gian tới 129
4.4.1 Giải pháp chung đối với doanh nghiệp và nông hộ 129
4.4.2 Giải pháp đối với nông hộ 132
4.4.3 Giải pháp đối với doanh nghiệp 136
4.4.4 Giải pháp về chính sách 139
4.5 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước cấp Trung ương và chính quyền địa phương 142
4.5.1 Kiến nghị đối chính quyền địa phương 142
4.5.2 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước cấp Trung ương 146
Tiểu kết chương 4 148
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 170
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 0.1 Phân bổ mẫu điều tra theo loại cây, nông hộ - doanh nghiệp – tác nhân trung gian và huyện 6 Bảng 3.1 Quy mô liên kết kinh tế (DN&NH) trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk 71 Bảng 3.2 Mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk 73 Bảng 3.3 Tóm tắt ưu, nhược điểm và hu hướng phát triển của các mô hình liên kết kinh tế giữa DN và NH trong SX cây CNDN tại Đắk Lắk 78 Bảng 3.4 Số lượng doanh nghiệp, hợp tác xã tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2014-2017 79 Bảng 3.5 Đám phán trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây CNDN tại Đắk Lắk 82 Bảng 3.6 Lựa chọn khu vực đối với liên kết kinh tế trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk 85 Bảng 3.7 Tuyên truyền, vận động và lựa chọn đối tác trong liên kết kinh tế trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk 87 Bảng 3.8 Hiệu quả liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk 95 Bảng 3.9 Hiệu quả liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk 97 Bảng 3.10 Chi phí giải quyết tranh chấp và tính hợp lý các phán quyết của Tòa án 103 Bảng 3.11 Tác động của yếu tố “khoa học – công nghệ” đến hiệu quả liên kết kinh tế 108 Bảng 3.12 Mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk 112 Bảng 3.13 Tác động của yếu tố “chất lượng cam kết” đến hiệu quả liên kết kinh tế 114 Bảng 3.14 Tác động của yếu tố “tuân thủ các cam kết” đến hiệu quả liên kết kinh tế 115 Bảng P.1 Hình thức liên kết kinh tế (DN&NH) trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 187 Bảng P.2 Động lực của các chủ thể khi tham gia liên kết kinh tế trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk 188 Bảng P.3 Ràng buộc giữa doanh nghiệp và nông hộ trong liên kết kinh tế đối với sản xuất cây công nghiệp dài ngày ở Đắk Lắk 189 Bảng P.4 Thực hiện nội dung cam kết và xử lý phát sinh đối với liên kết kinh tế trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk 191 Bảng P.5 Cơ chế chia sẻ lợi ích của các chủ thể tham gia liên kết kinh tế trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk 192 Bảng P.6 Vai trò của các chủ thể trong LKKT giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày ở Đắk Lắk phân theo hình thức liên kết 195 Bảng P.7 Diện tích cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk 197 Bảng P.8 Năng suất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk 197
Trang 10viii
Bảng P.9 Sản lượng cà phê, hồ tiêu tại tỉnh Đắk Lắk 197 Bảng P.10 Hiệu quả kinh tế của các mô hình liên kết kinh tế với cây công nghiệp dài ngày 197 Bảng P.11 Vai trò của các chủ thể trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ trong SX cây CNDN tại Đắk Lắk phân theo mô hình liên kết 198 Bảng P.12 Tính bền vững của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk 199
Trang 11ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Khung phân tích vấn đề nghiên cứu 61
Trang 12x
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Diện tích cà phê có chứng nhận tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2014-2018 106 Hình 3.2 Diện tích liên kết sản phẩm cây công nghiệp dài ngày có chứng nhận tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2014-2018 110 Hình 3.3 Năng lực của nông hộ và hiệu quả liên kết kinh tế trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk 113
Trang 131
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Liên kết kinh tế nói chung, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ nói riêng có thể tạo ra nhiều tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp Nhiều quan điểm, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nếu được thực hiện thành công thì liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ không chỉ giúp thay đổi cách thức tổ chức sản
xuất nông nghiệp theo hướng tiến bộ (áp dụng đồng nhất quy trình sản xuất trên
quy mô lớn), mà còn đẩy nhanh quá trình cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp,
nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng năng suất, giảm giá thành từ đó giúp tăng sức cạnh tranh, hiệu quả, vị thế của ngành nông nghiệp trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế Bên cạnh đó, trong bối cảnh kinh tế mới hiện nay, với
sự hạn chế về nguồn lực và năng lực, nông hộ ở Việt Nam đang đối diện với nhiều thách thức có thể làm cho họ bị tụt hậu xa hơn mà bản thân họ không thể tự giải quyết được nếu không có sự hợp tác với doanh nghiệp, đặc biệt là việc áp dụng KHKT hiện đại trong các công đoạn sản xuất, chế biến để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp, tiếp cận được cả thị trường đầu vào và đầu ra theo chuỗi sản xuất Cách đây hơn 10 năm, Dương Đình Giám (2007) [25] đã nhận định rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tế như hiện nay, liên kết kinh tế đang ngày càng trở thành nhu cầu bức thiết
Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm khu vực Tây Nguyên, với nhiều lợi thế
để phát triển nhiều loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cà phê,
hồ tiêu, cao su, điều Hiện nay, giá trị sản xuất cây công nghiệp dài ngày đã chiếm
hơn 60% tổng giá trị ngành trồng trọt của tỉnh (Niên giám thông kê tỉnh Đắk Lắk,
2018) Sản xuất cây công nghiệp dài ngày đang là sinh kế chính của nhiều bộ phận
dân cư đang sinh sống ở các khu vực nông thôn trong tỉnh, là nguồn xuất khẩu mang lại ngoại tệ, “cũng như tạo nguồn đóng góp trên 60%1 tổng thu ngân sách
hàng năm của tỉnh” (UBND tỉnh Đắk Lắk, 2016)
Được sự quan tâm, đầu tư nguồn lực từ nhà nước và người dân, liên kết kinh
tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong các chuỗi giá trị cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk trong thời gian qua đã có nhiều điểm phát triển đáng ghi nhận Liên kết kinh tế để sản xuất, tiêu thụ các nông sản chất lượng cao tiếp tục được hình thành ở hầu hết các vùng sản xuất cây công nghiệp dài ngày của tỉnh; Nhiều mô hình liên kết kinh tế đã góp phần làm tăng thu nhập, lợi ích cho người dân tham gia liên kết
1 Theo Đề án Phát triển cà phê bền vững tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
Trang 142
(chiếm 82,10%); Liên kết kinh tế đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng nông sản (chiếm 19,05%), hay nâng cao hiệu quả của các chuỗi giá trị cây công nghiệp dài ngày (chiếm 94,37%)2… Bên cạnh những điểm tích cực đã đạt được, thì liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong các chuỗi giá trị cây công nghiệp dài ngày hiện nay cũng còn nhiều tồn tại và hạn chế Phần lớn diện tích liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày là liên kết đơn giản (chiếm 80,65%), mức độ hỗ trợ hay bù đắp sự thiếu hụt nguồn lực, kỹ năng cho nhau giữa các chủ thể tham gia liên kết còn hạn chế Nhiều chủ thể liên kết vẫn chưa xem trọng việc sử dụng hợp đồng văn bản để thể hiện các nội dung liên kết, tỷ lệ số trường hợp liên kết sử dụng hợp đồng văn bản chỉ chiếm
có 10,61% Hay vai trò của liên kết kinh tế trong việc thay đổi cách thức tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học – công nghệ của nông hộ chưa đáp ứng được kỳ vọng của
xã hội…
Ngoài ra, mặc dù các nhà nghiên cứu đi trước đã xây dựng được nhiều khía cạnh liên quan đế nội dung cơ sở lý luận về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày, tạo nền tảng cơ sở lý luận vững chắc cho những nhà nghiên cứu sau kế thừa và vận dụng Tuy nhiên, hệ thống cơ sở
lý luận về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày vẫn còn những khoảng trống có thể tiếp tục phát triển
Trước thực trạng trên, nghiên cứu “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và
nông dân trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”
được xem là hoạt động cần thiết, có thể mang lại nhiều ý nghĩa trong việc thúc đẩy hoạt động liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trong thời gian tới, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các chuỗi giá trị cây công nghiệp dài ngày và cải thiện đời sống cho nhiều cộng đồng dân cư đang sinh sống tại các khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của đề tài: Trên cơ sở khung lý thuyết, đề
tài phân tích, đánh giá thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2014-
2018, chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân, xác định các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đến năm 2030
2 Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra
Trang 153
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
+ Góp phần hệ thống hóa hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết kinh
tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày
+ Phân tích, đánh giá thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2014-2018, chỉ ra được những thành công, hạn chế và nguyên nhân
+ Xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
+ Đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
Các câu hỏi nghiên cứu:
Câu hỏi 1: Hệ thống cơ sở lý luận để xây dựng khung phân tích liên kết kinh
tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày gồm những nội dung gì?
Câu hỏi 2: Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thời gian qua đạt được những thành tựu gì, còn những tồn tại, hạn chế nào, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó?
Câu hỏi 3: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk như thế nào?
Câu hỏi 4: Cần có những giải pháp gì để thúc đẩy liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk đến năm 2030?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và
nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày
Trang 164
tố đầu vào với nông hộ sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk Tuy nhiên trong các doanh nghiệp cung ứng các yếu tố đầu vào chỉ giới hạn nghiên cứu ở các doanh nghiệp cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống, còn các doanh nghiệp cung ứng yếu đầu vào khác như máy móc, thiết bị, bao bì sẽ không nghiên cứu, vì tiềm năng phát triển liên kết giữa các doanh nghiệp này với nông hộ thấp
Cây công nghiệp dài ngày của Đắk Lắk hiện nay bao gồm: Cà phê, cao
su, hồ tiêu, điều, chè, mắc ca Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu ở các loại cây công nghiệp dài ngày chính là cà phê, cao su, hồ tiêu và điều Đề tài không nghiên cứu trên cây chè và cây mắc ca bởi vì: 1) Diện tích chè chỉ khoảng 90 ha, chiếm chưa được 1 phần nghìn tổng diện tích cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh và ít
có tiềm năng được mở rộng; 2) Hoạt động trồng cây mắc ca vẫn trong giai đoạn thử nghiệm, chưa xác định được tiềm năng phát triển loại cây này tại tỉnh Đắk Lắk
+ Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2014-2018, đề xuất định hướng và giải pháp đến 2030
+ Phạm vi không gian: Tỉnh Đắk Lắk
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Tiếp cận nghiên cứu
Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ Trong luận án, tác giả thực hiện nghiên cứu theo cách tiếp cận chuỗi giá trị Cơ sở thực hiện nghiên cứu theo tiếp cận chuỗi giá trị của luận án là:
+ Doanh nghiệp cung ứng vật tư, nông hộ, doanh nghiệp sơ chế - chế biến nông sản, doanh nghiệp thương mại hay doanh nghiệp xuất khẩu nông sản đều là những tác nhân trong chuỗi giá trị
+ Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ là một dạng quan hệ kinh tế
giữa các nhóm tác nhân trong chuỗi giá trị nông sản (quan hệ kinh tế giữa các
doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào và nông hộ; quan hệ kinh tế giữa nông hộ và các doanh nghiệp tiêu thụ nông sản)
+ Phát triển liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ sẽ góp phần phát triển chuỗi giá trị nông sản
Quá trình thực hiện nghiên cứu, tác giả tiếp cận trên “góc nhìn” quản lý kinh
tế của các cơ quan quản lý nhà nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
a Phương pháp phân tích nội dung các dữ liệu, văn bản thứ cấp
Trang 17+ Thông tin phục vụ hệ thống hóa cơ sở lý thuyết
+ Thông tin phản ánh nội dung vai trò của Nhà nước về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk
+ Thông tin về kinh nghiệm thực tiễn các nước và một số địa phương về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất nông nghiệp
+ Số liệu về quy mô, sản lượng, năng suất cây công nghiệp dài ngày của tỉnh Đắk Lắk
- Dạng tài liệu thứ cấp: Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk; Sách, nghiên cứu khoa học có liên quan đến liên kết kinh tế; Chính sách có liên quan của Đảng và Nhà nước, các báo cáo, số liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của UBND tỉnh Đắk Lắk, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đắk Lắk, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Lắk, Các phòng kinh tế, Phòng Nông nghiệp & PTNT các đơn vị cấp huyện của tỉnh Đắk Lắk
- Nơi thu thập tài liệu thứ cấp: Thư viện khoa học xã hội, thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện Học viện Khoa học xã hội, Chi cục thống kê tỉnh Đắk Lắk, UBND tỉnh Đắk Lắk, sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đắk Lắk, sở Kế hoạch và Đầu
tư tỉnh Đắk Lắk, các phòng Kinh tế, Phòng Nông nghiệp & PTNT thuộc UBND các huyện, thị xã và thành phố của tỉnh Đắk Lắk, nhà sách, internet
b Phương pháp sử dụng bảng hỏi thu thập thông tin sơ cấp
- Được sử dụng để thu thập các thông tin sơ cấp phục vụ xây dựng luận án Nội dung số liệu sơ cấp cần thu thập bao gồm:
+ Số liệu phản ánh thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk
+ Số liệu phản ánh một phần nội dung vai trò Nhà nước về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk
+ Số liệu phản ánh các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk
- Đối tượng thực hiện khảo sát thu thập số liệu sơ cấp bao gồm: Doanh nghiệp, nông hộ và tác nhân trung gian (hợp tác xã)
Trang 18pq z n
, (n: là số mẫu cần khảo sát, z: là độ tin cậy, : là sai số cho
phép, p: là tỷ lệ xuất hiện của đặc điểm cần nghiên cứu, q = 1-p), với độ sai số cho phép là 5,15%, độ tin cậy 95%, tỷ lệ diện tích cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk
có liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ là 74,57%, ta tính được số mẫu
05 , 0
2572 , 0
* 7428 , 0
* 96 , 1
+ Lượng mẫu khảo sát theo chủ thể tham gia liên kết được xác định như sau:
Do số lượng các doanh nghiệp, tác nhân trung gian tham gia liên kết còn ít nên thực hiện khảo sát tất cả các doanh nghiệp và tác nhân trung gian này Lượng mẫu cần khảo sát còn lại sẽ được phân bổ cho các nông hộ
+ Các địa phương chọn khảo sát là những khu vực sản xuất cây công nghiệp dài ngày chính của tỉnh
+ Mẫu khảo sát được chọn ngẫu nhiên tại các khu vực có sản xuất cà phê, hồ tiêu, điều vào cao su
Bảng 0.1 Phân bổ mẫu điều tra theo loại cây, nông hộ - doanh nghiệp – tác
nhân trung gian và huyện
Đơn vị tính: Mẫu khảo sát
Hồ tiêu
Cao
su Điều Cà
phê
Hồ tiêu
Trang 197
c Phương pháp phỏng vấn sâu
Số liệu sơ cấp dự kiến được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn sâu là một phần số liệu phản ánh thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk
- Cách thức thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ quản lý nhà nước, doanh nghiệp, nông hộ, tác nhân trung gian có liên quan đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk
(Danh sách phỏng vấn sâu được trình bày chi tiết ở phụ lục)
4.2.2 Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu:
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích dùng để: 1) tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố ở chương 1; 2) tổng hợp một số
cơ sở lý luận và lý thuyết cơ bản, kinh nghiệm thực tiễn ở chương 2; 3) tổng hợp và phân tích tình hình thực trạng ở chương 3; 4) tổng hợp các căn cứ, cơ sở khoa học
và thực tiễn từ chương 2 và 3 để đề xuất các giải pháp ở chương 4
+ Phương pháp tổng hợp số liệu: Dựa trên các số liệu thu thập được từ tài liệu thứ cấp, từ các bảng hỏi và phỏng vấn sâu, phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các chỉ tiêu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng báo cáo Phần mềm sử dụng là Microsoft Office
+ Phương pháp phân tích số liệu: Bao gồm thống kê mô tả và thống kê so sánh
Phương pháp thống kê mô tả: Thông qua các chỉ tiêu, thông tin tổng hợp được từ số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp, phương pháp này được dùng để: 1) Mô tả một phần nội dung đánh giá thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk ở chương 3; 2) Mô tả một phần nội dung các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ở chương 3
Phương pháp thống kê so sánh: Thông qua các chỉ tiêu và thông tin tổng hợp được từ số liệu thứ cấp và sơ cấp, phương pháp thống kê so sánh được sử dụng
để phản ánh sự khác biệt về thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ giữa các loại cây công nghiệp dài ngày, giữa các hình thức và mô hình liên kết kinh tế ở chương 3
Trang 208
5 Dự kiến những kết quả nghiên cứu cần đạt được
Những kết quả nghiên cứu đề tài dự kiến cần đạt được gồm:
- Thông qua hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày, xây dựng được khung phân tích của luận án
- Qua phân tích, đánh giá thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2014-
2018, chỉ ra được những thành công, hạn chế và nguyên nhân, làm cơ sở cho các đề xuất giải pháp cơ chế chính sách có căn cứ khoa học và thực tiễn
- Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp
và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk để làm cơ sở cụ thể hóa hơn các đề xuất giải pháp cơ chế chính sách có căn cứ khoa học và thực tiễn
- Các quan điểm, định hướng, các giải pháp đề xuất thúc đẩy phát triển liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Đắk Lắk đến năm 2030 có căn cứ khoa học và giá trị thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo trong nghiên cứu, hoạch định và triển khai chính sách đối với các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, tổ chức nghiên cứu và đào tạo liên quan đến chủ đề của luận án
Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp
và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày
Chương 3 Thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Chương 4 Quan điểm, định hướng, giải pháp thúc đẩy liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk
Trang 219
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN 1.1 Các công trình trên thế giới
Trên thế giới, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ đã có một lịch
sử phát triển lâu dài, chính vì vậy đã có rất nhiều quan điểm, kết quả nghiên cứu liên quan đến vấn đề này được đưa ra:
Phương pháp nghiên cứu:
Phần lớn các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến liên kết kinh
tế giữa doanh nghiệp và nông hộ chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính Tuy nhiên cũng có một số tác giả sử dụng phương pháp định lượng hoặc kết hợp giữa định lượng và định tính như Obasi Igweoscar (2008), An Sokchea and Richard J.Culas (2015), Heckma (1979), Maddaa (1983) Phương pháp định lượng được sử dụng chủ yếu ở nội dung xác định các yếu tố ảnh hưởng và tác động của liên kết kinh tế Các biến số được sử dụng trong các mô hình định lượng ở các nghiên cứu nước ngoài tương đối đa dạng, tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã gặp phải tình trạng là trong mô hình nghiên cứu thiếu nhiều biến số quan trọng và các biến độc lập có quan hệ tuyến tính với nhau (nguyên nhân của hiện tượng đa cộng tuyến)
Vai trò của nhà nước đối với liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và
nông hộ trong SXNN:
Liên quan đến nội dung vai trò của nhà nước về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, một số nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra được một số vai trò và khía cạnh của công tác quản lý nhà nước đối với liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp
và nông hộ Mwikisa L Likulunga (2005) cho rằng, Chính phủ có tác động đến kết quả và hiệu quả hoạt động liên kết kinh tế, trong đó có cả các cơ quan chính quyền địa phương Cụ thể, theo Eaton và cộng sự (2001), các chính sách hỗ trợ phù hợp của Chính phủ là nhân tố tác động tích cực đến sự thành công của liên kết kinh tế Ngược lại, sự hỗ trợ của Chính phủ không căn cứ vào khả năng, nhu cầu doanh nghiệp sẽ không thể tạo ra nhiều tác động tích cực thúc đẩy hoạt động liên kết kinh
tế (GIZ, 2013) Hay sự thiếu hụt các chính sách phù hợp sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động liên kết kinh tế (Ian Kumwenda, Mathews Madola, 2005) Nhấn mạnh đến khung pháp lý, Matthew Warning, Wendy Soo Hoo (2000) cho rằng, yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả thực hiện liên kết chính là khung pháp lý
Mặc dù các nghiên cứu trên thế giới đã đề cập được nhiều khía cạnh về vai trò của nhà nước đối với liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ tuy nhiên ta
Trang 2210
cũng thấy được rằng, khía cạnh khung pháp lý đối với hoạt động liên kết kinh tế chỉ được đề cập một cách chung chung, chưa cụ thể Bên cạnh đó, vấn đề tổ chức bộ máy quản lý nhà nước để phát huy vai trò của nhà nước đối với liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ sao cho hiệu quả cũng còn ít được đề cập
Hình thức và mô hình liên kết và ràng buộc trong liên kết kinh tế giữa
doanh nghiệp và nông hộ trong SXNN:
Liên quan đến các hình thức liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ,
đã có khá nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã đưa ra cách phân loại liên kết kinh
tế Trong đó cách phân loại của Ellman (1986), Glover and Kusterer (1990), Baumamm (2000) and Eaton & cộng sự (2001) là cách được khá nhiều người sử dụng khi nghiên cứu về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ Theo các tac giả trên, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ có thể được chia thành 4 hình thức là: mô hình trang trại hạt nhân, mô hình tập trung, mô hình trung gian, mô hình không chính thức, và đây là hình thức phân loại được khá nhiều nhà nghiên cứu sau này thừa nhận và áp dụng theo như Songsak Sriboonchitta, Aree Wiboonponse, Respikius Martin, Jeff Sharp… Một cách tiếp cận khác, theo Bijman,
2008 được GIZ, 2013 trích dẫn, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ theo hình thức hợp đồng sẽ có 3 hình thức là: hợp đồng tiếp thị, hợp đồng quản lý sản xuất và hợp đồng nguồn cung đầu vào Ngoài ra, theo Respikius Martin và cộng sự (2016), trong liên kết có ba dạng hợp đồng chính là “market specification contract”,
“production management contract” và “resource provision contract” Trong đó,
“market specification contract” là thỏa thuận trước khi thu hoạch giữa người sản xuất và doanh nghiệp với điều kiện điều chỉnh việc bán cây trồng Hợp đồng thường quy định thời gian, địa điểm bán và tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa nông dân cung cấp Theo loại hợp đồng này, người nông dân duy trì hầu hết các quyền quyết định đối với các hoạt động canh tác của mình và chịu phần lớn rủi ro đối với các hoạt động sản xuất của mình “Production management contract” là dạng liên kết nông dân có quyền kiểm soát nhiều hơn các quá trình sản xuất so với dạng hợp đồng ở trên Theo hợp đồng này, người sản xuất đồng ý tuân theo các phương pháp sản xuất một cách chính xác và tuân thủ các loại và số lượng đầu vào cần thiết đã quy định “Resource provision contract” là dạng hợp đồng cung cấp nguồn lực, theo
đó, doanh nghiệp đồng ý cung cấp các đầu vào chính nhưng cũng có thể hoạt động như một đầu ra thị trường cho hàng hóa được sản xuất Chi phí đầu vào được thu hồi khi giao sản phẩm
Trang 2311
Các nhà nghiên cứu nước ngoài đã đề cập nhiều khía cạnh về cách phân loại liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, tuy nhiên chúng ta có thể thấy được rằng, các cách phân loại ở trên đôi lúc gây khó hiểu cho người đọc
Ràng buộc trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong
SXNN:
Về các ràng buộc hay cam kết trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, có rất nhiều nghiên cứu nước ngoài đã đề cập đến nội dung này và theo họ, các ràng buộc phổ biến trong liên kết gồm: thời hạn hợp đồng, yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của người mua, hạn ngạch sản xuất của nông dân, yêu cầu tập quán canh tác của nông dân của doanh nghiệp, tổ chức giao hàng, cách thức xác định giá (giá
cố định tại thời điểm bắt đầu mỗi mùa, giá linh hoạt dựa trên thị trường, giá giao ngay, giá lô hàng, giá chia sẻ), cải tạo tín dụng, bảo hiểm (Eaton & cộng sự, 2001)… Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy được rằng, các cam kết trong liên kết thường được các nhà nghiên cứu, phân tích đề cập một cách chung chung, ít được phân tich sâu
Vai trò của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ:
Đối với nông hộ: Có rất nhiều nghiên cứu ở nước ngoài đề cập đến nội dung vai trò hay tác động của liên kết kinh tế đến nông hộ Các nghiên cứu này đã
đề cập đến rất nhiều khía cạnh liên quan đến “các tác động của liên kết kinh tế” đến nông hộ, bao gồm cả các tác động trực tiếp và các tác động gián tiếp như: 1) Liên kết kinh tế giúp nông hộ cải thiện việc tiếp cận các yếu tố đầu vào như: dịch vụ sản xuất (Eaton & cộng sự, 2001), nguồn lực tài chính (Nigel Key, David Runsten, 1999), hạt giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (ADB, 2015), tiếp cận thông tin
kỹ thuật (IFAD, 2007), được hỗ trợ kỹ thuật (ADB, 2015), từ đó giúp cải tiến kỹ thuật sản xuất, có kinh nghiệm và nâng cao kỹ năng 2) Liên kết kinh tế giúp nông dân có thể tiếp cận với công nghệ mới (Eaton và cộng sự, 2001) từ đó giúp tăng việc áp dụng công nghệ trong quá trình sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường 3) Liên kết giúp nông hộ giảm giảm chi phí sản xuất (ADB, 2015) thông qua việc sử dụng nguồn lực tốt hơn, giảm chi phí đầu vào do mua sắm số lượng lớn, giảm chi phí giao dịch, giảm tổn thất (GIZ, 2013) Tuy nhiên, việc sản xuất theo các tiêu chí bền vững khi tham gia liên kết kinh tế cũng làm tăng chi phí sản xuất (Peter H May, Gilberto C.C Mascarenhas, Jason Potts, 2004) 4) Liên kết kinh tế có thể giúp tăng khả năng tiếp cận thị trường của nông hộ (Phil Simmons, 2003), giúp nông hộ giảm rủi ro về giá (Nigel Key, David Runsten,
Trang 2412
1999), giảm rủi ro thị trường (GIZ, 2013), giảm rủi ro thiên tai (ADB, 2015) Tuy nhiên, khi tham gia liên kết kinh tế, nông dân cũng đối mặt với việc tăng rủi ro sản suất, tăng rủi ro đầu tư (GIZ, 2013), tăng rủi ro về thị trường (Eaton & cộng sự, 2001) hay tăng rủi ro tiếp thị (GIZ, 2013) 5) Theo Obasi I gweoscar (2008), liên kết kinh tế giúp tăng năng suất nông nghiệp Từ đó, có thể làm tăng lợi nhuận, tăng doanh thu và tăng tỷ suất sinh lời cho nông dân (An Sokchea & Richard J.Culas, 2015) Tuy nhiên cũng có kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ suất lợi nhuận giữa người thực hiện hợp đồng và người không thực hiện hợp đồng không có nhiều sự khác biệt (Bharat Ramaswami, Pratap Singh Birthal & P.K Joshi, 2009)…
Đối với doanh nghiệp: Tương tự như trường hợp nông hộ, cũng có rất nhiều nghiên cứu ở nước ngoài đề cập đến nội dung vai trò hay tác động của liên kết kinh tế đến doanh nghiệp Các nghiên cứu này đã đề cập đến rất nhiều khía cạnh liên quan như: 1) Liên kết kinh tế giúp doanh nghiệp tiếp cận được với đất đai (Ian Patrick, 2004), từ đó có thể khắc phục sự thiếu hụt về đất đai, đây cũng là giải pháp tiếp cận lao động nông nghiệp cho doanh nghiệp 2) Theo GIZ (2013), liên kết kinh
tế có thể giúp doanh nghiệp giảm rủi ro trong đầu tư nhờ tài sản cố định ít vì không phải tham gia vào sản xuất nguyên liệu; Giúp doanh nghiệp giảm rủi ro về bệnh cây trồng - thời tiết nhờ sự đa dạng hóa địa lý; Giảm rủi ro marketing nhờ liên kết tốt hơn với nhà cung ứng và yêu cầu của khác hàng; Giảm thiểu rủi ro hoạt động cấp tín dụng bằng cách đa dạng hóa (Ian Patrick, 2004) hay giúp giảm rủi ro về giá cả (GIZ, 2013) Tuy nhiên theo Ian Patrick (2004), liên kết kinh tế cũng có thể làm doanh nghiệp gia tăng rủi ro như rủi ro về giá cả thị trường hay rủi ro do việc mất mùa 3) Liên kết có thể giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí (Ian Patrick, 2004) như: Giảm chi phí đầu tư, chi phí hoạt động sản xuất thông qua việc giảm chi phí giao dịch; Giảm chi phí nhân viên thông qua sản xuất gia công hoặc hợp đồng phụ (GIZ, 2013) hay nhờ tiếp cận được lao động giá rẻ (Ian Patrick, 2004) Tuy nhiên cũng có kết quả nghiên cứu chi ra rằng, hoạt động liên kết sẽ làm doanh nghiệp tăng chi phí liên kết với nông dân sản xuất nhỏ (Nicholas Minot, 2011) hay tăng chi phí
do đầu tư cơ sở hạ tầng (GIZ, 2013) 4) Theo Eaton & cộng sự (2001), liên kết kinh
tế giúp doanh nghiệp tiếp cận với nguồn nguyên liệu đáng tin cậy hơn, chất lượng hơn so với mua ở thị trường, từ đó có được nguồn cung nguyên liệu bền vững hơn, giảm rủi ro nguồn cung so với thị trường giao ngay Khi tham gia liên kết kinh tế, doanh nghiệp sẽ sử dụng hiệu quả hơn năng lực lắp đặt (GIZ, 2013), giúp gia tăng hiệu quả sản xuất (Braja Bandhu Swain, 2008; Bharat Ramaswami, Pratap Singh
Trang 2513
Birthal & P.K Joshi, 2009), cải thiện hiệu suất tổng (GIZ, 2013), đặc biệt là hiệu quả kỹ thuật (Braja Bandhu Swain, 2008), giúp tăng sự cạnh tranh trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm (Oxfam international, 2010) 5) Liên kết kinh tế giúp doanh nghiệp cải thiện uy tín, quan hệ công chúng, từ đó có thể giúp doanh nghiệp phát triển thương hiệu và lòng trung thành của khách hàng (GIZ, 2013)
Ngoài ra, liên kết có thể giúp phát triển một nền văn hóa thương mại thành công (Glover & Kusterer, 1990 được Ian Patrick, 2004 trích dẫn); giúp mạng lưới liên kết các nông hộ được cải thiện (Saichay Phoumanivong, Dusadee Ayuwat, 2013) Liên kết kinh tế có tác động đáng kể với giảm nghèo (Ministry of Planning and Investment…, 2014), đặc biệt là giảm nghèo khu vực nông thôn Tuy nhiên, theo CDC (1989), người nghèo có thể bị bỏ qua trong quá trình liên kết sản xuất theo hình thức hợp đồng
Mặc dù các nghiên cứu nước ngoài đã đề cập rất nhiều vai trò của liên kết kinh tế, tuy nhiên mỗi công trình nghiên cứu thường chỉ đề cập một hoặc một số khía cạnh nhất định, có ít công trình đề cập đồng bộ các vai trò của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ
Các quan hệ và lợi ích giữa các chủ thể trong liên kết kinh tế:
Về quan hệ giữa các chủ thể, Eva-Marie Meemen and Marc F Bellemare (2019) cho rằng, các chủ thể tham gia liên kết chủ yếu là dựa trên nguyên tắc thỏa thuận Và theo nguyên tắc này thì chủ thể chỉ tham gia liên kết khi họ thấy nội dung thỏa thuận sẽ mang lại lợi ích cho họ hoặc lợi ích thu được nhiều hơn chi phí bỏ ra,
họ không bị ép buộc phải tham gia vào liên kết với các chủ thể kinh tế khác Theo Bharat Ramaswami và Pratap Singh Birthal and P.K Joshi (2009), liên kết có thể
giúp nông dân có lợi nhuận cao hơn bởi vì: Liên kết kinh tế có thể tăng do khả năng
tiếp cận thị trường của nông hộ (Eaton and Shepherd 2001 được Ian Patrick (2004) trích dẫn; Liên kết giúp nông dân sản xuất nhỏ tiếp cận được với nguồn tín dụng để
đảm bảo quá trình sản xuất (Phil Simmons (2003); Hay liên kết kinh tế thường làm
tăng năng suất nông hộ Nicholas Minot (2011) Còn đối với doanh nghiệp, liên kết
có thể giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro đầu tư (Bharat Ramaswami và cộng sự, 2009), doanh nghiệp sẽ có nguồn cung nguyên liệu bền vững về số lượng, chất lượng (GIZ, 2013) từ đó sẽ cải thiện được hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh của họ
Trang 2614
Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ trong sản xuất nông nghiệp:
Điều kiện hình thành liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất nông nghiệp:
Một số nghiên cứu ở nước ngoài đã chỉ ra rằng, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ không phải tự nhiên xuất hiện mà sự xuất hiện của nó đòi hỏi phải có những tiền đề ban đầu và chỉ phù hợp với những điều kiện nhất định 1) Ở khía cạnh sản phẩm phù hợp cho liên kết, họ cho rằng, liên kết kinh tế chỉ thích hợp với các cây trồng có giá trị cao (Sachico Miyata, Nicholas Minot, 2009), với sản
phẩm có sự biến đổi chất lượng lớn (Nicholas Minot, 2011), với những sản phẩm
nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường về chất lượng (Goldsmith, 1985 được GIZ,
2013 trích dẫn), với sản phẩm chuyên biệt có giá trị gia tăng lớn (ADB, 2015), với
sản phẩm thị trường sẵn sàng trả giá cao hơn nếu chất lượng sản phẩm cao hơn
(Nicholas Minot, 2011), với cây trồng là nguồn nguyên liệu chế biến (Goldsmith,1985), với cây lâu năm (Goldsmith,1985 được GIZ, 2013 trích dẫn), với
sản phẩm dễ hư hỏng (Nicholas Minot, 2011), với những sản phẩm có sức mạnh
thị trường (Phil Simmons, 2003), với những sản phẩm có thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp nhưng không dễ bán trên thị trường (GIZ, 2013), với sản phẩm xuất khẩu chủ lực (ADB, 2015), với sản phẩm có chi phí đầu vào hay chi phí ban đầu cho sản xuất cao (Nicholas Minot, 2011) hay với sản phẩm khó khăn trong việc trồng trọt hoặc trồng mới (Nicholas Minot, 2011) Trong khi đó những sản phẩm không phù hợp cho hoạt động liên kết kinh tế là: Các sản phẩm có chất lượng không đồng đều, dễ quan sát được; Những sản phẩm mà nông dân đã quen thuộc với các phương pháp sản xuất và yêu cầu thị trường; Những sản phẩm có chi phí giao dịch thấp (GIZ, 2013) hay sản phẩm nhằm mục tiêu tiêu dùng nội địa (Sachico Miyata, Nicholas Minot, 2009) Đối tượng phù hợp với liên kết kinh tế gồm: trà, bông, thuốc lá, nông sản dạng hạt, bò sữa, gia cầm, cao su, cọ dầu (Nicholas Minot, 2011), và cây lương thực ít phù hợp với liên kết (Sachico Miyata, Nicholas Minot, 2009) 2) Ở cách tiếp cận khác, Maddaa (1983) và rất nhiều tác giả khác cho rằng, khả năng tham gia liên kết kinh tế phụ thuộc vào các yếu tố gồm: Trình độ học vấn chủ hộ, kinh nghiệm canh tác, độ tuổi, giới tính, dân tộc, lao động, quy mô diện tích, vốn sản xuất, năng lực thương lượng của nông hộ, tâm lý e ngại rủi ro của nông hộ khi tham gia hợp đồng, khoảng cách đến điểm thu mua của doanh nghiệp,
hạ tầng giao thông vận chuyển
Trang 2715
Mặc dù các nghiên cứu nước ngoài đã đề cập được rất nhiều yếu tố tạo tiền
đề để hình thành liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu này thường chỉ đề cập 1 hoặc một vài yếu tố là điều kiện hình thành liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, ít có nghiên cứu đề cập một cách toàn diện, đầy đủ các yếu tố là điều kiện để hình thành liên kết kinh tế Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu có đề cập yếu tố là điều kiện hình thành liên kết tuy nhiên rất nhiều yếu tố được đề cập là các yếu tố gián tiếp, không phải là yếu tố trực tiếp hình thành liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ
Các yếu tố đảm bảo sự thành công liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và
nông hộ trong sản xuất nông nghiệp:
Các nghiên cứu nước ngoài đã đề cập được rất nhiều yếu tố, khía cạnh đảm bảo sự thành công cho quá trình tổ chức thực hiện liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ:
Theo Ian Kumwenda, Mathews Madola (2005), điều kiện cần để đảm bảo sự thành công của hợp đồng nông sản là chiến lược Tuy nhiên, không có kế hoạch chi tiết nào có thể đảm bảo mọi trường hợp liên kết đều thành công (GIZ, 2013) Quy tắc cơ bản cho việc thiết kế liên kết kinh tế là chia sẻ rủi ro và sự không chắc chắn (Singh, 2005 được tác giả khuyết danh trích dẫn), là sắp xếp hợp đồng canh tác (GIZ, 2013), hay phụ thuộc vào những đổi mới trong việc giới thiệu về vấn đề thiết
kế liên kết (Hongdong Guo, Robert W.Jolly, 2008) Để liên kết kinh tế thành công, khi thiết kế cần sắp xếp rủi ro, cần căn cứ vào tình hình cụ thể các cơ hội thị trường, tình hình cụ thể năng lực của nhà cung cấp (nông dân), tình hình cụ thể dịch vụ phát triển hiện tại (GIZ, 2013), vào môi trường tự nhiên và xã hội (Eaton & cộng sự, 2001), vào quy hoạch địa phương, tình hình cụ thể các điều kiện về quốc tế cho sự phát triển nông nghiệp, kinh doanh nông nghiệp và đầu tư tư nhân (GIZ, 2013) Nếu đánh giá thấp các vấn đề phức tạp trong những cam kết cũng như trong quá trình thực hiện liên kết sẽ dẫn đến thất bại (GIZ, 2013) Ngoài ra, hoạt động hỗ trợ kỹ thuật (Sachico Miyata, Nicholas Minot, 2009) và vận dụng kỹ thuật trong sản xuất (Phil Simmons, 2003) cũng tác động đến sự thành công của liên kết kinh tế Việc chuyển giao công nghệ và đổi mới giúp tăng năng suất cũng là yếu tố chính cho sự thành công của liên kết kinh tế (GIZ, 2013), thiếu công nghệ là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại trong hoạt động liên kết (Martin Prowse, 2012)
Quá trình thực thi các cam kết ảnh hưởng đến kết quả liên kết kinh tế (Mwikisa L Likulunga, 2005), trong đó việc quản lý thực hiện liên kết (Phil
Trang 2816
Simmons, 2003), hoạt động giám sát - phản hồi (GIZ, 2013) và giải quyết xung đột (Phil Simmons, 2003) có vai trò quan trọng đối với sự thành công của liên kết Nếu nông dân sử dụng sai mục đích các hỗ trợ của doanh nghiệp thì liên kết có thể bị thất bại (Martin Prowse, 2012) hay sự nhầm lẫn ngôn ngữ trong hợp đồng cũng là nguyên nhân đến sự thất bại của liên kết (Martin Prowse, 2012; GIZ, 2013) Sự thiếu thông tin trong việc đưa ra quyết định cũng dẫn đến sự thất bại trong hoạt động liên kết (GIZ, 2013), trong đó có vấn đề dự báo giá cả của công ty không chính xác (Martin Prowse, 2012) Ngoài ra, một trong những điều kiện đảm bảo sự thành công của hoạt động liên kết kinh tế là quan hệ đối tác (Ian Kumwenda, Mathews Madola, 2005), là sự tin tưởng (Kurt Sartorius, Johhann Kirsten, 2007) Việc thực hiện minh bạch, các bên tạo dựng được niềm tin lẫn nhau sẽ có tác động tích cực đến quá trình liên kết (ADB, 2015) Trong khi đó, gian lận trong quá trình liên kết kinh tế sẽ tác động tiêu cực đến kết quả liên kết (Ian Kumwenda & Mathews Madola, 2005)
Theo Nigel Key, David Runsten (1999), chi phí giao dịch có tác động tiêu cực đến kết quả liên kết kinh tế Quy mô của hàng hóa ảnh hưởng đến chi phí giao dịch sẽ tác động đến kết quả thực hiện liên kết (Ian Patrick, 2004) Ở cách tiếp cận khác, Mwikisa L Likulunga (2005) cho rằng, sức mạnh tổ chức nông dân có ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả liên kết Việc thành lập các nhóm nông dân sẽ giúp giảm chi phí giao dịch (Nigel Key, David Runsten, 1999)
Ngoài ra, theo Phil Simmons (2003), sự thành công của liên kết kinh tế theo hình thức hợp đồng phản ánh ở khía cạnh lựa chọn thành viên tham gia hợp đồng và phạm vi đàm phán hợp đồng (GIZ, 2013) Trong đó thỏa thuận về giá cả có ảnh hưởng đến kết quả thực hiện liên kết theo hình thức hợp đồng Một trong những chìa khóa để thực hiện có hiệu quả liên kết kinh tế là doanh nghiệp và nông dân phải được cùng hưởng lợi từ quan hệ đối tác (Eaton và cộng sự, 2001)
Tương tự như nội dung các yếu tố tạo tiền đề để hình thành liên kết kinh tế, mặc dù các nghiên cứu nước ngoài đã đề cập được rất nhiều yếu tố bảo đảm sự thành công của quá trình tổ chức thực hiện liên kết Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu này thường chỉ đề cập 1 hoặc một vài yếu tố là điều kiện bảo đảm thành công của liên kết kinh tế, ít có nghiên cứu đề cập một cách toàn diện, đầy đủ các yếu tố bảo đảm sự thành công liên kết được thừa nhận và sử dụng rộng rãi
1.2 Các công trình tại Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề LKKT giữa doanh nghiệp và nông hộ cũng được khá
Trang 2917
nhiều nhà khoa học và học giả quan tâm, đặc biệt là trong thời gian gần đây, cho nên cũng có khá nhiều quan điểm, kết quả nghiên cứu liên quan đến vấn đề này được đưa ra:
Phương pháp nghiên cứu:
Các nghiên cứu tại Việt Nam về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ áp dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng, tuy nhiên số lượng nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng vẫn còn ít Đối với các nghiên cứu định lượng về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ
ở Việt Nam, Hồ Quế Hậu là một trong những tác giả đề xuất khá nhiều mô hình nghiên cứu định lượng Tuy nhiên các mô hình nghiên cứu được các tác giả Việt Nam đề xuất hiện nay vẫn chưa được sự thừa nhận và sử dụng rộng rãi
Khái niệm và đặc trưng của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ trong sản xuất nông nghiệp:
Ở Việt Nam, có khá nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm, quan điểm về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ Theo Vũ Minh Trai (1993), liên kết kinh tế
là một phạm trù biểu hiện sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân, tổ chức, hoặc giữa các quốc gia trong các lĩnh vực khác nhau của hoạt động kinh tế (sản xuất kinh doanh, khoa học – kỹ thuật, bảo vệ tài nguyên môi trường ) nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định với hiệu quả cao nhất Theo Nguyễn Thị Thu Trang (2010), liên kết kinh tế là các quan hệ kinh tế giữa hai hay nhiều chủ thể kinh tế với mục đích đạt được lợi ích kinh tế xã hội của các bên, dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thỏa thuận nhất định, những giấy tờ bằng chứng có tính ràng buộc bằng pháp luật, những cam kết trong hoạt động sản xuất kinh doanh Theo Đỗ Thị Đông (2012), liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động, do các đơn
vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các biện pháp có liên quan đến hoạt động của mình, nhằm thúc đẩy việc kinh doanh phát triển theo chiều hướng có lợi nhất LKKT được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hoặc không thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước Theo Hồ Quế Hậu (2013), liên kết kinh tế là một thể chế kinh tế nhằm thực hiện một kiểu phối hợp hành động giữa các chủ thể kinh tế độc lập tự chủ với nhau, một cách tự nguyện, thỏa thuận, đôi bên cùng có lợi và tin tưởng lẫn nhau; ràng buộc lẫn nhau theo một kế hoạch hoặc qui chế định trước, dài hạn hoặc thường xuyên; nhằm ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế Hay theo Vũ Đức Hạnh (2015), liên kết kinh tế
Trang 3018
là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh nông sản, tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng, mở ra những thị trường mới Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp sự thiếu hụt của mình từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm đem lại lợi ích cho các bên Bên cạnh đó, năm 2013 Hồ Quế Hậu cũng có đưa ra một khái niệm về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân Theo khái niệm này, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân là một bộ phận của liên kết kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, trong đó các bên tham gia là doanh nghiệp chế biến nông sản và nông dân, thực hiện một kiểu liên kết dọc nông - công nghiệp, để ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế Mặc dù ở Việt Nam đã có khá nhiều học giả đã đưa ra khái niệm và quan điểm về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, tuy nhiên hiện tại vẫn chưa có tác giả nào đề xuất được khái niệm về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp
và nông hộ trong sản xuất nông nghiệp mà khái niệm này được thừa nhận và sử dụng rộng rãi
Về nội dung đặc trưng của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ,
ở Việt Nam, Hồ Quế Hậu đã đề cập rất nhiều khía cạnh phản ánh đặc trưng của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản và nông hộ như: Liên kết kinh tế là một quan hệ kinh tế chỉ có thể diễn ra giữa hai hoặc nhiều chủ thể kinh
tế độc lập, tự chủ về kinh tế; liên kết kinh tế là một quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau theo một kế hoạch định trước dài hạn trong tương lai hoặc thường xuyên; liên kết kinh tế là một trong những hình thức phối hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh tế; liên kết kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tế không tồn tại độc lập
mà luôn gắn liền với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cụ thể mang tính đặc thù của liên kết kinh tế để hình thành nên thể chế; mục tiêu mà cũng là tác dụng của liên kết kinh tế là để ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế
Vai trò của nhà nước đối với hoạt động liên kết kinh tế giữa doanh
nghiệp và nông hộ trong SXNN:
Các nghiên cứu tại Việt Nam đã thể hiện được nhiều khía cạnh về vai trò của nhà nước đối với liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất nông nghiệp Theo Trần Quốc Nhân và cộng sự (2012), thể chế thực thi các hoạt động liên kết kinh tế của Chính phủ như các quy định và việc áp dụng các biện pháp chế tài có tác động đến hiệu quả hoạt động liên kết Theo Đinh Quang
Trang 3119
Tuấn (1996), sự quản lý nhà nước có vai trò quan trọng đối với hoạt động liên kết kinh tế, như hoạt động dự báo thị trường của cơ quan quản lý (Nguyễn Ngọc Hải, 2015) hay các chính sách hỗ trợ hoạt động liên kết của Chính phủ Năm
2011, Nguyễn Duy Cần và cộng sự cho rằng, trong mối quan hệ 4 nhà (nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông), nhà nước giữ vai trò quan trọng thứ hai Một trong các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình thực thi hoạt động liên kết sản xuất – tiêu thụ là nhà nước chưa phát huy hết vai trò hỗ trợ của mình (Trần Minh Vĩnh, Phạm Vân Đình, 2014) và nguyên nhân cơ bản phá vỡ các mối liên kết đã được tạo dựng giữa các hộ gia đình với các doanh nghiệp chế biến nông sản thực phẩm là do chính quyền địa phương thiếu quy hoạch vùng nguyên liệu (Nguyễn Hữu Tài, 2006) Để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với liên kết kinh tế, theo tác giả Bảo Trung (2012), Chính phủ cần có hành lang pháp lý và cơ chế giám sát trong việc phân chia thu nhập; Chính phủ cũng cần phải xây dựng hạn ngạch về sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu đường trên cơ sở cân đối cung cầu; Cần xác định cơ quan độc lập giám sát chất lượng và sản lượng bán ra (đối với cây mía), phát triển thể chế nông dân và các nhà máy chế biến
Phân loại liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong SXNN:
Liên quan đến vấn đề phân loại liên kết kinh tế, nhiều nghiên cứu tại Việt Nam đã đề xuất cách phân loại liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ Năm 2011, Lê Hữu Ảnh và cộng sự đã phân loại liên kết kinh tế theo hợp đồng nông sản thành 4 dạng gồm: Công ty hợp đồng với hộ sản xuất nhận khoán trên đất của công ty, công ty hợp đồng với hộ sản xuất về đầu tư và thu mua sản phẩm, công ty hợp đồng với hộ sản xuất về bán vật tư và thu mua sản phẩm, công
ty hợp đồng mua sản phẩm với hộ sản xuất tự do Theo Nguyễn Thị Thu Trang (2010), nội dung của liên kết kinh tế được phân thành: Liên kết trong hoạt động cung ứng đầu vào trong sản xuất, liên kết trong hoạt động ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, liên kết trong hoạt động vay vốn phát triển sản xuất, liên kết trong chế biến sản phẩm, liên kết trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm Căn cứ vào lĩnh vực liên kết, theo Hồ Quế Hậu (2013), các lĩnh vực của một LKKT giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân gồm: Mua bán nông sản, đầu tư cho sản xuất (vốn tín dụng), góp vốn kinh doanh (phi thanh toán) và khoa học công nghệ Căn cứ vào các tác nhân tham gia liên kết tiêu thụ nông sản của hộ nông dân, Vũ Đức Hạnh (2015) cho rằng, các hình thức liên kết trong tiêu thụ sản phẩm của hộ nông dân được phân thành: Liên kết giữa hộ nông dân với người thu
Trang 3220
gom nông sản, liên kết giữa hộ nông dân với người bán lẻ nông sản, liên kết giữa
hộ nông dân với các doanh nghiệp sản xuất chế biến nông sản, liên kết giữa hộ nông dân với hợp tác xã trong tiêu thụ sản phẩm, liên kết trực tiếp giữa hộ sản xuất và người tiêu dùng sản phẩm nông sản Phương thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân gồm: mua bán tự do trên thị trường, thỏa thuận miệng, hợp đồng văn bản (Vũ Đức Hạnh, 2015) Các hình thức hợp đồng liên kết sản xuất gồm: Hình thức đầu tư và tiêu thụ cho nông dân; hình thức đầu tư nhưng không tiêu thụ; hình thức không đầu tư nhưng tiêu thụ (Trần Minh Vĩnh, Phạm Vân Đình, 2014) Ngoài ra, năm 2016, tác giả Đỗ Thị Nga có phân loại các hình thức liên kết kinh tế theo hợp đồng gồm: Hợp đồng mua bán và ký gửi sản phẩm, hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng giao nhận khoán và liên minh sản xuất
Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu ở Việt Nam có đề cập đến cách phân loại liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ tuy nhiên ta thấy được rằng, các cách phân loại ở trên hiện nay vẫn chưa được sử dụng rộng rãi Ngoài ra, hiện nay Chính phủ cũng có đề cập đến việc phân loại các hình thức liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ tại Nghị định 98/2018/NĐ-CP, ngày 05/7/2018, tuy nhiên
do Nghị định này mới được ban hành nên ít có công trình nghiên cứu nào (đã được công bố) áp dụng
Ràng buộc (cam kết) trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ trong SXNN:
Về các ràng buộc (cam kết) trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu sử dụng các ràng buộc đã được nhiều nghiên cứu ở nước ngoài đề cập Những ràng buộc phổ biến mà các nghiên cứu ở Việt Nam sử dụng bao gồm: ràng buộc về thời gian, số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức giao nhận và thanh toán, ràng buộc về thưởng phạt, xử lý rủi
Trang 33 Tác động của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ:
Đối với nông hộ: Tương tự như các công trình nghiên cứu nước ngoài, các nghiên cứu tại Việt Nam cũng đề cập đến rất nhiều về vai trò (hay tác động) của liên kết kinh tế đến nông hộ 1) Liên kết kinh tế giúp nông dân tiếp cận dễ hơn với các yếu tố đầu vào như thông tin về kỹ thuật, dịch vụ sản xuất, kỹ thuật sản xuất mới hay với nguồn vốn tín dụng Liên kết cũng giúp nông dân tiêu thụ nông sản ổn định hơn, đảm bảo về đầu ra, tăng sức mạnh thương thảo trên thị trường (Trần Quốc Nhân và cộng sự, 2012) 2) Liên kết kinh tế là phương thức thiết lập sự ổn định quá trình sản xuất của nông dân, liên kết giúp gia tăng chất lượng và giá trị nông sản, từ đó nâng cao vị thế của các mặt hàng nông sản tham gia xuất khẩu trên thị trường quốc tế, cũng như tăng khả năng cạnh tranh (Hồ Quế Hậu (2013) 3) Liên kết có thể giúp nông hộ giảm rủi ro giá cả, tuy nhiên nó cũng có thể làm gia tăng rủi ro cho nông hộ khi: 1) Phải trang bị những thiết bị sản xuất chuyên biệt theo yêu cầu từ phía doanh nghiệp nhưng lại thiếu sự cam kết lâu dài hay là sự hủy liên kết từ phía doanh nghiệp; 2) Nông dân bắt đầu áp dụng những kỹ thuật mới được chuyển giao từ doanh nghiệp trong khi đó nông dân đã quen với cách làm truyền thống và đôi khi họ không đủ khả năng để áp dụng những kỹ thuật mới đó; 3) Nông dân sản xuất những giống mới do doanh nghiệp cung cấp Liên kết làm gia tăng rủi ro về thị trường khi doanh nghiệp có thể không mua hết sản phẩm như đã ký trong hợp đồng với nông dân vì việc kinh
Trang 3422
doanh kém hiệu quả hay gặp những khó khăn về thị trường (Trần Quốc Nhân và cộng sự, 2012) Ngoài ra, theo Đinh Quang Hải, 2007, liên kết cho phép nông dân giảm giá thành, giúp nông dân đạt hiệu quả kinh tế cao hơn so với nông dân sản xuất tự do Tuy nhiên, theo Trần Quốc Nhân, Đỗ Văn Hoàng (2013), liên kết cũng làm cho chi phí đầu tư của nông dân sản xuất theo hình thức hợp đồng cao hơn so với nông dân sản xuất tự do, đặc biệt về chi phí lao động
Đối với doanh nghiệp, các nghiên cứu tại Việt Nam đã đề cập được rất nhiều nội dung phản ánh vai trò (hay tác động) của liên kết kinh tế đến doanh nghiệp 1) Nhờ liên kết, doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định hơn (Nguyễn Thị Thu Trang, 2010), chất lượng tốt hơn hơn (Vũ Đức Hạnh, 2015) thông qua việc kiểm soát quy trình sản xuất của nông hộ (Trần Quốc Nhân và cộng
sự, 2012) và truy xuất được nguồn gốc sản phẩm (Trần Quốc Nhân và cộng sự, 2012) 2) Liên kết giúp doanh nghiệp tiếp cận được nguồn lực sản xuất từ bên ngoài (Hồ Quế Hậu, 2013), cải thiện hạn chế về nguồn lực đất đai sản xuất (Trần Quốc Nhân và cộng sự, 2012), khắc phục những bất lợi về quy mô (Đỗ Thị Đông, 2012) và thông qua hoạt động liên kết, hình ảnh thương hiệu và phạm vi ảnh hưởng của doanh nghiệp cũng được nâng lên trong khu vực (Vũ Đức Hạnh, 2015) Ngoài ra, theo Trần Quốc Nhân và cộng sự (2012), liên kết giúp doanh nghiệp giảm chi phí giao dịch, từ đó góp phần làm tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp tham gia
Bên cạnh các tác động đến doanh nghiệp và nông hộ, các nghiên cứu tại Việt Nam cũng có đề cập đến một số tác động khác mà liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ tạo ra được Theo Đinh Quang Hải (2007), liên kết góp phần xóa đói giảm nghèo, góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ Còn theo Hồ Quế Hậu (2013), liên kết kinh tế là một trong những động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Mặc dù các nghiên cứu ở Việt Nam đã đề cập được rất nhiều khía cạnh phản ánh vai trò của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chỉ thể hiện được một hoặc một vài khía cạnh của vấn đề này
Số lượng nghiên cứu thể hiện được tương đối đầy đủ vai trò của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ là không nhiều
Nội dung các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế:
Các nghiên cứu ở Việt Nam đã đề cập được rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến
Trang 35Liên quan đến các yếu tố thị trường và môi trường kinh doanh, theo Đinh Quang Tuấn (1996), yếu tố thị trường có ảnh hưởng đến hoạt đông liên kết kinh tế
Cụ thể, yếu tố đặc điểm của thị trường (Nguyễn Thị Thu Trang, 2010), trình độ phát triển của thị trường (Trần Quốc Nhân và cộng sự, 2012) và sự biến động của thị trường (Trần Quốc Nhân và cộng sự, 2012) đều có tác động đến hoạt động liên kết kinh tế Trong khi đó, Vũ Đức Hạnh (2015) lại cho rằng, yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân là điều kiện cơ sở hạ tầng Ngoài ra, các tổ chức xã hội cũng có tác động đến liên kết kinh tế (Hồ Quế Hậu, 2013) Nguyễn Thị Bích Hồng (2008) cho rằng, hoạt động LKKT giữa doanh nghiệp và nông hộ thông qua một tổ chức đại diện có tư cách pháp nhân sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động liên kết Tổ chức của nông dân sẽ có tác động tích cực đến liên kết kinh tế (Nhậm Phong Tuân, 2012)
Ở khía cạnh yếu tố đặc điểm sản phẩm, theo Nguyễn Thị Bích Hồng (2008), yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động liên kết kinh tế là đặc điểm sản phẩm Những sản phẩm phù hợp với việc thực hiện liên kết kinh tế là hàng hóa có giá trị cao hoặc có một số đặc điểm kỹ thuật đặc biệt (Nhậm Phong Tuân, 2012), sản phẩm có tính chuyên biệt cao hay sản phẩm mới có thị trường tiêu thụ hẹp (Hồ Quế Hậu, 2013)
Trang 3624
Liên quan đến khâu tổ chức và quản lý quá trình liên kết kinh tế, Đinh Quang Tuấn (1996) cho rằng, vấn đề tổ chức liên kết có tác động đến hiệu quả hoạt động liên kết kinh tế Cụ thể, các cam kết trong liên kết (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008), hình thức giao dịch của các chủ thể trên thị trường (Nguyễn Thị Ngân Loan, 2011), cơ chế thanh toán trong hợp đồng (Vũ Đức Hạnh, Nguyễn Mậu Dũng, 2013), giá thu mua nông sản (Nhậm Phong Tuân, 2012) có thể tác động đến kết quả của quá trình liên kết Việc áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
sẽ ảnh hưởng tích cực đến liên kết (Bùi Thị Hoa, 2009) Mức hiểu biết về nông dân của doanh nghiệp, cách ứng xử với nông dân và mức độ tin cậy của doanh nghiệp đối với nông dân cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình liên kết (Hồ Quế Hậu, 2015) Các ưu đãi, hỗ trợ của doanh nghiệp cho nông dân cũng ảnh hưởng đến hiệu quả liên kết (Nhậm Phong Tuân, 2012) Hay nông dân người nông dân lúng túng trong định hướng sản xuất nông sản là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả liên kết kinh tế thấp (Nguyễn Ngọc Hải, 2015) Ngoài ra, quy mô sản xuất của nông dân cũng có ảnh hưởng đến hoạt động liên kết kinh tế (Vũ Đức Hạnh, 2015), trong đó sản xuất manh mún, quy mô nhỏ là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động liên kết chưa cao (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008) Về công tác quản lý, Vũ Đức Hạnh (2015) cho rằng, công tác quản lý tình hình thực hiện liên kết, công tác giám sát tình hình thực hiện liên kết cũng tác động đến hiệu quả hoạt động liên kết kinh tế Theo Đặc Đình Long và cộng sự (2015), liên kết kinh tế
sẽ thành công khi nông dân cung ứng sản phẩm chất lượng Và một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả liên kết chưa cao là sản lượng cung ứng của nông dân trên thị trường thiếu đồng nhất (Nguyễn Ngọc Hải, 2015) Ngoài ra sự tín nhiệm (Lưu Tiến Dũng, Phạm Văn Trinh, Văn Nữ Thùy Linh, 2015), đạo đức kinh doanh (Nguyễn Thị Ngân Loan, 2011) cũng ảnh hưởng đến quá trình liên kết và việc các bên đơn phương phá vỡ hợp đồng mỗi khi có biến động giá trên thị trường
là nguyên nhân làm hiệu quả liên kết chưa cao (Nguyễn Ngọc Hải, 2015)
Cũng có quan điểm nhấn mạnh về sự ảnh hưởng của việc thống nhất và chia sẻ rủi ro Theo khía cạnh này, liên kết kinh tế thành công khi đạt được sự thống nhất trong chia sẻ rủi ro (Đặng Đình Long và cộng sự, 2015) và lợi ích kinh tế mang lại cũng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ (Trần Quốc Nhân và cộng sự, 2012)
Mặc dù, các nghiên cứu tại Việt Nam đã đề cập được rất nhiều yếu tố, khía cạnh ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, tuy nhiên ta
Trang 3725
thấy được rằng, phần lớn các nghiên cứu chỉ đề cập được một hoặc một số yếu tố ảnh hưởng, hầu hết các nghiên cứu tại Việt Nam chưa phân biệt rõ đâu là điều kiện để hình thành liên kết, đâu là yếu tố bảo đảm sự thành công quá trình thực hiện liên kết kinh tế
Kế thừa và khoảng trống nghiên cứu
- Những điểm kế thừa từ các công trình nghiên cứu có liên quan: Kế thừa
một số nội dung lý luận về cách phân loại liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, tổ chức thực hiện liên kết, cách đánh giá hiệu quả liên kết kinh tế, các yếu
tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế của các nghiên cứu đã được công bố
- Khoảng trống nghiên cứu của đề tài:
+ Chưa có nghiên cứu phân loại liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày theo 7 hình thức của Nghị định 98/2018/NĐ-CP
+ Chưa có nghiên cứu chỉ rõ yếu tố ảnh hưởng nào là điều kiện để hình thành liên kết, yếu tố nào là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện liên kết
+ Chủ đề “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” được nghiên cứu với cách tiếp cận đầy đủ hơn về liên kết kinh tế trong bối cảnh hội nhập
Trang 38Tiểu kết chương 1
Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ là một nội dung quan trọng của quá trình sản xuất nông nghiệp cho nên đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này được thực hiện Các nghiên cứu về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ đã được thực hiện khá đa dạng, đề cập đến rất nhiều khía cạnh của vấn đề liên kết Từ cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, khái niệm, đặc trưng, hình thức, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng, vai trò của nhà nước cho đến hiệu quả liên kết Các nghiên cứu được thực hiện đã tạo được nền tảng vững chắc về cơ
sở lý luận và thực tiễn để các nhà nghiên cứu đi sau có thể kế thừa, phát triển và nghiên cứu Tuy nhiên, kết quả tổng quan cũng cho thấy rằng, cơ sở lý luận về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ vẫn còn những khoảng trồng có thể tiếp tục phát triển, hoàn thiện Ngoài ra, chủ đề “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là vấn
đề chưa được học giả nào nghiên cứu, không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu
trước đây
Trang 3929
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH
TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG HỘ TRONG SẢN XUẤT CÂY
CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY
2.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản về sản xuất cây công nghiệp dài ngày
Khái niệm cây công nghiệp dài ngày: Theo Bộ Nông nghiệp & PTNT
(2016), cây công nghiệp dài ngày được định nghĩa là loại cây trồng một lần, sinh trưởng và cho thu hoạch trong nhiều năm, sản phẩm được dùng để làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp hoặc phải qua chế biến mới sử dụng được như cây cao su, ca cao, cà phê, chè, điều, hồ tiêu
Đặc trưng cơ bản của hoạt động sản xuất cây công nghiệp dài ngày:
So với các loại cây trồng khác, cây công nghiệp dài ngày có một số đặc trưng cơ bản như sau:
+ Chu kỳ của các cây công nghiệp dài ngày và thường phần thành hai giai đoạn: 1 Giai đoạn kiến thiết cơ bản; 2 Giai đoạn kinh doanh Trong đó, giai đoạn thiết kế cơ bản là giai đoạn cây chưa cho sản phẩm thu hoạch (nếu có cũng rất ít) và cây chỉ cho sản phẩm rộ khi bước vào giai đoạn kinh doanh
+ Chu kỳ kinh doanh của các cây công nghiệp dài ngày tương đối dài, bao gồm thời gian của giai đoạn kiến thiết cơ bản và thời gian của giai đoạn kinh doanh Chu kỳ kinh doanh của các cây công nghiệp dài ngày có thể kéo dài đến vài chục năm
+ Lượng vốn đầu tư cho cây công nghiệp dài ngày tương đối lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, bởi vì phải cần đầu tư nhiều năm trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, đến giai đoạn kinh doanh cây mới bắt đầu cho sản phẩm, người sản xuất mới bắt đầu thu hồi vốn
+ Kinh doanh cây công nghiệp dài ngày có rủi ro cao Thứ nhất, lượng vốn đầu tư ban đầu để hình thành vườn cây lớn (hình thành tài sản cố định), người sản xuất sẽ chịu tổn thất lớn nếu chuyển đổi sang các loại cây trồng khác trong trường hợp gặp bất lợi về thị trường Thứ hai, phải mất vài năm sau cây công nghiệp dài ngày mới cho thu nhập, người sản xuất khó dự báo chính xác giá cả nông sản vào thời điểm cây cho thu hoạch, có thể rơi vào trường hợp lúc trồng cây thì giá nông sản cao nhưng đến lúc thu hoạch thì giá nông sản thấp Thứ ba, sản xuất cây công nghiệp dài ngày chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ các rủi ro từ điều kiện thời tiết khí hậu như ngập úng, hạn hán, dịch bệnh…
+ Sản phẩm cây công nghiệp dài ngày chủ yếu được sử dụng làm nguyên liệu cho hoạt động sơ chế và hoạt động chế biến Sau khi trải qua công đoạn sơ
Trang 40chế, chế biến, giá trị sản phẩm cây công nghiệp dài ngày sẽ được tăng lên Hoạt động sơ chế, chế biến sẽ làm tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm cây công nghiệp dài ngày
2.2 Một số lý luận cơ bản về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông
hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày
2.2.1 Khái niệm và đặc trưng liên kết kinh tế
Khái niệm liên kết kinh tế:
Liên kết kinh tế bắt nguồn từ tiếng latinh (integration) với ý nghĩa kết hợp, hòa hợp và hợp nhất (Đặng Huyền Trang, 2018, tr.31) Hiện nay, có khá nhiều tác giả đã đưa ra quan điểm hay định nghĩa về liên kết kinh tế:
Theo Vũ Minh Trai (1993, tr.4), liên kết kinh tế là một phạm trù biểu hiện sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân, tổ chức, hoặc giữa các quốc gia trong các lĩnh vực khác nhau của hoạt động kinh tế (sản xuất kinh doanh, khoa học – kỹ thuật, bảo
vệ tài nguyên môi trường ) nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định với hiệu quả cao nhất
Nguyễn Thị Thu Trang (2010, tr.7), liên kết kinh tế là các quan hệ kinh tế giữa hai hay nhiều chủ thể kinh tế với mục đích đạt được lợi ích kinh tế, xã hội của các bên, dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thỏa thuận nhất định, những giấy tờ bằng chứng có tính ràng buộc bằng pháp luật, những cam kết trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Đỗ Thị Đông (2012, tr.7-8), liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động, do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề
ra các biện pháp có liên quan đến hoạt động của mình, nhằm thúc đẩy việc kinh doanh phát triển theo chiều hướng có lợi nhất Liên kết kinh tế được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hoặc không thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước
Hồ Quế Hậu (2013, tr.21), liên kết kinh tế là một thể chế kinh tế nhằm thực hiện một kiểu phối hợp hành động giữa các chủ thể kinh tế độc lập tự chủ với nhau, một cách tự nguyện, thỏa thuận, đôi bên cùng có lợi và tin tưởng lẫn nhau; ràng buộc lẫn nhau theo một kế hoạch hoặc qui chế định trước, dài hạn hoặc thường xuyên; nhằm ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế
Vũ Đức Hạnh (2015, tr.9-10), liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh nông