ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HOÁ CỦA NGÔN NGỮ BÀI CHÒI BÌNH ĐỊNH - PHÚ YÊN Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HOÁ CỦA NGÔN NGỮ BÀI CHÒI BÌNH ĐỊNH - PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60220240
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Công Đức
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tế luôn cho thấy, sự thành công nào cũng đều gắn liền với sự hỗ trợ, giúp đỡ của những quý nhân trong cuộc đời mỗi chúng ta Trong suốt thời gian
từ khi bắt đầu viết luận văn này, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm, hướng
dẫn, hỗ trợ hết lòng từ phía thầy cô, gia đình và bạn bè
Chúng tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô giáo, cán bộ nhân viên của Ban chủ nhiệm Bộ môn Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã cùng dùng hết tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt kiến thức và kĩ năng cho chúng tôi suốt thời gian quý báu được học tập tại trường, đồng thời, hỗ trợ nhiệt tình trong quá trình chúng tôi hoàn thành luận văn
Đặc biệt, với tấm lòng biết ơn vô cùng sâu sắc, chúng tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành nhất đến PGS.TS Nguyễn Công Đức, người đã hướng dẫn khoa học một cách tận tình cho luận văn này của chúng tôi
Lời cám ơn không bao giờ là đủ để đền đáp ân tình Chúng tôi xin hứa sẽ dùng ngọn lửa này để tiếp tục cố gắng, cống hiến trong học tập và lao động Một lần nữa, chúng tôi xin chân thành cám ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 1 tháng 10 năm 2018
Học viên
Nguyễn Đặng Tường Vi
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 1 tháng 10 năm 2018
Học viên
Nguyễn Đặng Tường Vi
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3 Phương pháp nghiên cứu 7
4 Nguồn ngữ liệu 7
5 Lịch sử vấn đề 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Bố cục 10
Chương 1 MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN 11
1.1 Nghệ thuật bài chòi 11
1.1.1 Bài chòi là gì? 11
1.1.2 Con bài 12
1.1.3 Cái chòi 15
1.1.4 Cách đánh bài trên chòi 16
1.2 Một số vấn đề về ngôn ngữ - văn hóa 19
1.2.1 Khái niệm văn hóa 19
1.2.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 21
1.3 Một số khái niệm ngôn ngữ học 23
1.3.1 Phương ngữ và phương ngữ Nam 23
1.3.2 Khẩu ngữ 27
1.3.3 Từ tục 28
1.3.4 Đơn vị cấu tạo từ 28
1.3.5 Phương thức cấu tạo từ 28
1.3.6 Chiến lược giao tiếp 31
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN TỪ BÀI CHÕI BÌNH ĐỊNH – PHÚ YÊN……… ………34
2.1 Phân loại từ theo cấu tạo 34
Trang 62.1.1 Từ đơn 34
2.1.2 Từ phức 37
2.1.2.1 Từ ghép 37
2.1.2.2 Từ láy 38
2.1.3 Cụm từ cố định có tính thành ngữ 40
2.2 Phân loại theo nguồn gốc 43
2.2.1 Từ thuần Việt 43
2.2.1.1 Từ địa phương 43
2.2.1.2 Khẩu ngữ, từ tục 56
2.2.2 Từ và ngữ Hán Việt 60
2.2.2.1 Từ Hán Việt 60
2.2.2.2 Điển cố 63
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VĂN HÓA BÀI CHÕI VÙNG BÌNH ĐỊNH - PHÖ YÊN THỂ HIỆN QUA MỘT SỐ CHIẾN LƯỢC GIAO TIẾP……… 68
3.1 Chiến lược tạo hàm ngôn 68
3.1.1 Lối nói mơ hồ 68
3.1.2 Lối nói vòng vo 70
3.2 Cách thiết lập và duy trì mối quan hệ trong giao tiếp 73
3.2.1 Dùng từ ngữ xưng hô phù hợp từng hoàn cảnh, đối tượng giao tiếp 73
3.2.2 Lựa chọn hành động ngôn từ 79
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 1 98
NGỮ LIỆU BÀI CHÕI BÌNH ĐỊNH - PHÚ YÊN 98
PHỤ LỤC 2 136
BÀI HÔ CỦA NGHỆ NHÂN BÌNH THẢN (BẢY THẢN) (Phú Yên) 136
PHỤ LỤC 3 142
BẢNG THỐNG KÊ TỪ ĐƠN 142
PHỤ LỤC 4 145
BẢNG THỐNG KÊ TỪ GHÉP 145
Trang 7PHỤ LỤC 5 175
BẢNG THỐNG KÊ TỪ LÁY 175
PHỤ LỤC 6 179
BẢNG THỐNG KÊ THÀNH NGỮ 179
PHỤ LỤC 7 180
BẢNG THỐNG KÊ PHƯƠNG NGỮ 180
PHỤ LỤC 8 183
BẢNG THỐNG KÊ KHẨU NGỮ 183
PHỤ LỤC 9 187
BẢNG THỐNG KÊ TỪ HÁN VIỆT 187
PHỤ LỤC 10 191
MỘT SỐ HÌNH ẢNH 191
SINH HOẠT BÀI CHÕI Ở BÌNH ĐỊNH - PHÖ YÊN HIỆN NAY 191
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Mô hình chòi cái – chòi con……… 15
Bảng 1.2 Mô hình không có chòi cái……….……… 16
Bảng 2.1 Kết quả phân loại từ dựa trên 2 ngữ liệu Bình Định và Phú Yên ….………34
Bảng 2.2 Thành ngữ ……… 40
Bảng 2.3 Bảng thống kê từ địa phương chỉ hoạt động, tính chất, trạng thái 44
Bảng 2.4 Bảng thống kê từ địa phương chỉ sự vật, hiện tượng……… 48
Bảng 2.5 Bảng thống kê từ địa phương- Từ xưng hô và từ chỉ người……… 50
Bảng 2.6 Bảng thống kê từ địa phương – từ chỉ lượng, từ tình thái… …… 54
Bảng 2.7 Bảng thống kê khẩu ngữ - từ xưng hô……… ………… 59
Bảng 2.8 Bảng thống kê điển cố……… …… 64
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc bảo tồn các hình thức văn hoá, nghệ thuật dân gian hiện nay gặp không ít vấn đề khủng hoảng Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo tồn nét đẹp của các làn điệu dân ca là một vấn đề cần được quan tâm
Xưa nay, kho tàng văn học bình dân phong phú của Việt Nam đã được nhiều học giả sưu tầm và nghiên cứu Các công trình sau đó được công bố một cách rải rác hoặc có hệ thống Nhưng với bài chòi - thể loại dân ca mà phạm vi địa lí nó ảnh hưởng chỉ thu hẹp ở một khu vực, những công trình nghiên cứu về nó có vẻ còn khá
ít ỏi Mà trong những làn điệu dân ca của dân tộc, không thể không nhắc đến bài
chòi – một loại hình nghệ thuật rất gần gũi với tầng lớp nông dân ở nông thôn ngày
trước
Cũng như các thể loại dân ca khác như hò khoan, hò giã gạo, hò đối đáp… bài chòi từng có chỗ đứng khá riêng biệt trong dòng văn học bình dân Bài chòi trong dân gian vừa là một lối ca hát của người bình dân, vừa chỉ một trò chơi gần giống với bài bạc, nhưng không phải là cờ bạc Ngày trước, hô – tấu bài chòi diễn ra hoặc
có tổ chức, hoặc lẻ tẻ, mục đích chung là giải trí mua vui Theo thời gian, hô – tấu bài chòi đã phần nào bị biến dạng bởi sức tấn công của nhiều loại hình nghệ thuật khác, hoặc đã mai một dần Ngày nay, khi số lượng và phạm vi người hiểu biết về bài chòi ngày càng thu hẹp, hô – tấu bài chòi chỉ còn diễn ra ở các lễ hội được tổ chức rải rác ở các địa phương vào mỗi dịp lễ tết Không còn nhiều người biết đến cách hô, cách đánh bài chòi
Có nhiều ý kiến cho rằng bài chòi có nhiều khúc, nhiều đoạn thô thiển, dung
tục của tầng lớp nông dân thấp kém, không đáng để lưu tâm, nghiên cứu, phổ biến
Tuy vậy, bài chòi đã tồn tại và phát triển khá phổ biến qua một thời gian dài ở vùng
Trang 10văn hoá rộng lớn từ Quảng Bình đến Bình Thuận Ít nhiều, bài chòi cũng mang nét đẹp dân gian, và tiêu biểu cho truyền thống ở cả một khu vực văn hoá của nước ta Nghệ thuật bài chòi trong quá trình phát triển, đã có thời gian chững lại vì nhiều nguyên nhân như đã nói trên Chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng này một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc Hiện nay, bài chòi đang được
xã hội quan tâm phục hồi, chấn hưng và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào ngày 7/12/2017 Mặt khác, hiện nay bài chòi vẫn được đông đảo công chúng hai vùng Bình Định, Phú Yên nói riêng và công chúng miền Trung nói chung mến mộ
Từ lâu, người ta đã nhận thức được vai trò to lớn của ngôn ngữ trong việc hình thành và phát triển nền văn hóa dân tộc và để tâm nghiên cứu sự ảnh hưởng qua lại giữa chúng P0Tuy nhiên, cho đến nay, những công trình nghiên cứu về đối tượng này còn khá ít
Việc nghiên cứu về đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của bài chòi Bình Định, Phú Yên góp phần làm rõ thêm những đặc trưng về ngôn ngữ, về văn hóa và mối quan
hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, đồng thời hy vọng sẽ đóng góp trong nỗ lực phục dựng thể loại bài chòi Với những lý do trên, cùng với sự yêu mến dành cho thể loại bài chòi, trong khả năng và lĩnh vực chuyên môn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của ngôn ngữ bài chòi Bình Định – Phú Yên”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu “Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của ngôn ngữ bài chòi Bình Định – Phú Yên” nghiên cứu đối tượng bài chòi Bình Định, Phú Yên dưới góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa học Trong đó, chúng tôi làm rõ đặc trưng ngôn từ bài chòi chủ yếu ở bình diện từ vựng – ngữ nghĩa; qua đó góp phần làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa của thể loại bài chòi
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là bình diện ngôn ngữ - văn hóa của diễn ngôn bài chòi ở Bình Định và Phú Yên dưới hình thức lễ hội bài chòi
Trang 113 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai nghiên cứu và hoàn thành luận văn, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được dùng để miêu tả cách tổ chức của các sự vật, hiện tượng nhằm chỉ rõ mỗi sự vật, hiện tượng được tạo ra bởi yếu tố nào, quan hệ giữa chúng ra sao và chúng có đặc điểm gì Phương pháp miêu tả được chúng tôi sử dụng
để mô tả các đặc điểm ngôn ngữ của bài chòi
Phương pháp điền dã ngôn ngữ học
Phương pháp điền dã ngôn ngữ học được chúng tôi sử dụng như cách thức
quan trọng để thu thập ngữ liệu
Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn đươc chúng tôi sử dụng trong việc gặp gỡ một số chuyên gia trong ngành văn hoá, văn học, âm nhạc, nghệ thuật,…, các nghệ nhân chuyên biểu diễn bài chòi và những người am hiểu về bài chòi ở các tỉnh thuộc vùng Bình Định, Phú Yên để trao đổi, học hỏi thêm những kiến thức về bài chòi
Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu được chúng tôi sử dụng để phân tích trên một số bài
Từ những đặc điểm và tính chất của mẫu ta có thể suy ra được đặc điểm và tính chất của cả tổng thể
4 Nguồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu của luận văn là những công trình sưu tầm của các nhà nghiên cứu đi trước:
- Cuốn Bài chòi và dân ca Liên khu 5 của Hoàng Chương và Nguyễn Có
- Cuốn Bài chòi của Đoàn Việt Hùng
- Cuốn Bình Định quê tôi: Tập bài chòi, Văn nghệ dân gian Bình Định
của Hoàng Lê
Trang 12- Cuốn Văn học dân gian Phú Yên của các tác giả Nguyễn Định (chủ
biên), Dương Thái Nhơn và Lý Thơ Phúc
- Cuốn Ca dao dân ca trên vùng đất Phú Yên của Nguyễn Xuân Đàm
- Cuốn Trên vùng đất Phú Yên của Hội Văn nghệ dân gian và Văn hoá
các dân tộc Phú Yên
- Cuốn Bình Định quê tôi: Tập bài chòi, Văn nghệ dân gian Bình Định
của Hoàng Lê
Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng những tài liệu dưới dạng băng đĩa có các đoạn quay phim về các hình thức diễn xướng ngôn từ của nghệ thuật bài chòi Cuối cùng, thông qua việc điền dã, chúng tôi cũng thu thập được nhiều ngữ liệu quan trọng cho việc nghiên cứu
5 Lịch sử vấn đề
Những công trình nghiên cứu về bài chòi chưa nhiều, chủ yếu là các công trình
có tính chất sưu tầm Những công trình nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ bài chòi càng ít ỏi Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu để làm luận văn, chúng tôi đã tiếp cận một số công trình như sau:
- Cuốn tham luận Các tham luận tại hội thảo khoa học nghệ thuật bài
chòi do Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc phát hành
- Cuốn Bài chòi và dân ca Liên khu 5 của Hoàng Chương và Nguyễn Có
- Cuốn Bình Định quê tôi: Tập bài chòi, Văn nghệ dân gian Bình Định
của Hoàng Lê
- Cuốn Bốn mươi năm đoàn ca kịch bài chòi Bình Định do Sở Văn hoá –
Trang 13- Cuốn Văn học dân gian Phú Yên của các tác giả Nguyễn Định (chủ
biên), Dương Thái Nhơn và Lý Thơ Phúc
- Cuốn Ca dao dân ca trên vùng đất Phú Yên của Nguyễn Xuân Đàm
Các công trình trên chủ yếu sưu tầm, hệ thống lại những bản ghi chép các tác phẩm bài chòi ở nhiều giai đoạn lịch sử và ở từng tiểu loại Tiếp đó, phải kể đến các công trình nghiên cứu về nguồn gốc, các giai đoạn phát triển của bài chòi
Đó là các công trình:
- Cuốn Bài chòi của Đoàn Việt Hùng
- Cuốn Ca kịch bài chòi – Những vấn đề nghệ thuật do Hoàng Chương
chủ biên
- Cuốn Lịch sử ca kịch và âm nhạc bài chòi của Hoàng Lê
Ngoài các công trình đã in sách trên đây, trong những năm qua, còn có một số luận văn, luận án nghiên cứu về bài chòi như sau:
- Nghệ thuật hô – tấu bài chòi với việc phát triển sân khấu ca kịch bài
chòi, Luận văn thạc sĩ của Trần Đức Hùng, Đại học Văn hoá Hà Nội, 1998
- Hội bài chòi trong đời sống cư dân Bình Định ngày nay, Luận án của
Phạm Thị Thu Hà, Viện Khoa học Xã hội Việt nam, Hà Nội, 2010
- Bài chòi dưới góc nhìn văn hoá học, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị
Ái Hoa, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, 2014
Trong những công trình nghiên cứu nói trên, hầu hết nội dung đều bàn
về nguồn gốc, lịch sử phát triển và vấn đề bảo tồn, chấn hưng nghệ thuật bài chòi Trong đó, có vài công trình có phân tích nghệ thuật bài chòi ở cách chơi, cách hô – tấu, các điệu thức cơ bản của bài chòi và mối liên hệ giữa bài chòi với ca dao Thế nhưng, chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của ngôn ngữ bài chòi Bình Định, Phú Yên
6 Đóng góp của luận văn
Trang 14Như đã phân tích trên đây, ngôn ngữ bài chòi là một lĩnh vực khá mới mẻ của Việt ngữ học Xưa nay, khi nghiên cứu về bài chòi, các nhà nghiên cứu chủ yếu
đi sâu vào lĩnh vực văn hoá – nghệ thuật Đề tài của chúng tôi hi vọng sẽ có được những tìm hiểu bước đầu về đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của nghệ thuật bài chòi Qua đó, chúng tôi mong được đóng góp phần nào vào việc lưu giữ, bảo tồn và phát triển nghệ thuật bài chòi
7 Bố cục
Chương 1 MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN
Trong chương này, chúng tôi trình bày khái niệm, nguồn gốc và lịch sử phát triển của nghệ thuật bài chòi; một số đặc điểm về địa lí, dân cư và lịch sử hình thành, phát triển của hai vùng đất Bình Định, Phú Yên; một số khái niệm ngôn ngữ
có liên quan và một số vấn đề ngôn ngữ - văn hóa
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN TỪ BÀI CHÕI BÌNH ĐỊNH - PHÚ YÊN
Trong chương 2, chúng tôi trình bày đặc điểm ngôn ngữ của ngôn từ bài chòi Bình Định – Phú Yên thông qua việc phân loại từ theo cấu tạo và theo nguồn gốc
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HÓA BÀI CHÕI VÙNG BÌNH ĐỊNH - PHÚ YÊN THỂ HIỆN QUA MỘT SỐ CHIẾN LƯỢC GIAO TIẾP
Trong chương 3, chúng tôi trình bày một số đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của bài chòi Bình Định – Phú Yên thông qua một số chiến lược giao tiếp: Chiến
lược tạo hàm ngôn và cách thiết lập, duy trì mối quan hệ trong giao tiếp,
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN
1.1 Nghệ thuật bài chòi
1.1.1 Bài chòi là gì?
Văn chương dân gian mà ca dao, dân ca – trong đó có bài chòi – là một bộ phận quan trọng gắn chặt với đời sống vật chất và tinh thần của đại chúng, được sáng tạo trên cơ sở cảm hứng về cuộc sống cần lao và đấu tranh không ngừng của nhân dân lao động Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu diện mạo tâm hồn, tình cảm, các trạng thái sinh hoạt của người bình dân trong đời sống cộng đồng Là tiếng nói của tâm hồn, của tư tưởng được cộng đồng ghi lại, phát triển và lưu truyền bằng hình thức truyền miệng, nó là tài sản tinh thần được tích lũy lâu dài thông qua
sự thưởng thức, rung cảm, sàng lọc của đông đảo quần chúng từ thế hệ này sang thế
hệ khác Không chỉ là một bộ phận của văn học dân gian và văn hóa dân gian, ca dao dân ca, mà bài chòi là một bộ phận, cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc
Khi tìm định nghĩa về “bài chòi”, có nhiều ý kiến khác nhau Trong cuốn “Bài chòi xứ Quảng”, tác giả Đinh Thị Hựu và Trương Đình Quang chỉ viết: “Bài chòi là một hình thức sinh hoạt vui chơi vừa đánh bài vừa ca hát của nhân dân, phổ biến ở
miền Trung, nhất là vào dịp xuân về, tết đến Thuật ngữ bài chòi dùng để chỉ một
trò chơi dân gian có kèm theo hát dân ca” [45;11]
Nhà nghiên cứu Đoàn Việt Hùng viết: “Bài chòi hiểu theo nghĩa thông thường, vừa chỉ một lối ca hát của người bình dân, vừa chỉ một trò chơi gần giống với bài bạc, nhưng không phải là cờ bạc” [44;15]
Như vậy, trước hết, cần xác định bài chòi vừa là một trò chơi dân gian, vừa là một thể loại dân ca Bài chòi là một trò chơi dân gian có kèm theo hát dân ca
“Bài chòi” là một từ thuần Việt, gồm hai từ ghép lại: bài (những tấm thẻ mỏng dùng làm quân trong trò chơi đánh bài) [75;26], chòi (nhà nhỏ xây trên cổng một số
Trang 16công đường thời trước hoặc cất sơ sài trên cột, trên cây cao) [75;167] Trò chơi đánh bài chòi là một sản phẩm văn hóa có từ lâu đời của Bình Định và Phú Yên
Để hiểu về bài chòi, có thể tóm gọn bằng công thức sau:
Bài chòi = Con bài + Cái chòi
1.1.2 Con bài
Bộ bài dùng để đánh bài chòi là bộ bài tổ tôm Tuy nhiên, trò chơi bài tổ tôm đối với người bình dân thì có nhiều rắc rối Vì vậy, họ nghĩ cách thay đổi lối chơi sao cho giản dị hơn Từ bộ bài tổ tôm, họ chuyển thành bộ bài tới, chơi như lối chơi bài tam cúc
Ở mỗi địa phương, tên của con bài được thay đổi, cải tiến tùy vào phương ngữ vùng đó hoặc sự sáng tạo của nghệ nhân
Ví dụ: Phương ngữ vùng Bình Định – Phú Yên thường biến âm “ât” thành
“ưt”, nên con Nhất trò thường được gọi là Nhứt trò
Nhưng nhìn chung, xét về nghĩa, tên các con bài vẫn thống nhất với nhau Bộ bài được đem ra đánh bài chòi gồm 30 cặp (quân) cải tiến từ bộ bài tam cúc, chia làm ba pho:
Pho Vạn gồm 9 cặp: Nhất trò (Nhứt trò), Nhì bí , Tam quăng, Tứ ghế (Tứ móc), Ngũ trợt, Lục trạng (Lục chạng), Thất vung, Bát bồng, Cửu chùa
Pho Văn gồm 9 cặp: Nhất gối (Chín gấu), Nhì bánh (Tráng hai, Trắng hai), Ba bụng, Tứ tượng, Ngũ rốn (Ngũ rún, Đổ ruột), Sáu xưởng (Sáu ghe, Sáu mập), Bảy liễu, Tám miếu (Tám miểng), Chín cu
Pho Sách gồm 9 cặp: Nhất nọc (Nhứt nọc), Nhì nghèo, Ba gà, Tứ xách (Tứ cẳng), Ngũ dụm, Sáu hường (Sáu nhỏ), Bảy thưa (Bảy hội), Tám dây (Tám dừng), Cửu điều
Ngoài ba pho nói trên, trong bộ bài của Bình Định còn có ba cặp yêu: Lão, Thang, Chi Trong đó, Lão có Ầm trơn, Thang có Thái tử, Chi có Bạch huê (Lá
Trang 17lồn) Ba cặp này được xếp chung vào ba pho nói trên trong bộ bài của Phú Yên: Lá Thái tử trong bộ bài của Phú Yên có tên là Tử cẳng (hoặc Tứ cẳng) nằm trong pho Sách, lá Bạch Huê nằm trong pho Vạn, lá Ầm trơn nằm trong pho Văn
Quan sát kỹ tên các con bài ta thấy:
- Về thứ bậc có: Nhứt, nhì, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu
- Về người có: Ông, anh, con, bà, chị, thằng, cô, thầy, thầy chùa, học trò,…
- Về động vật, đồ vật có: Ngà, gà, voi, bụng, cẳng (chân), mái, cồ, nọc (cọc), cái, con rắn, cái vung, cái móc, lưỡi câu, cái bánh, lá liễu, cái hầm, cái gối, ghe, bè, xách, đùm, túm, ve trà, bình tích, dần, sàng, hạt tấm, gạo, màn, trướng, chim cu, cái chùa v.v…
Nhìn vào hình con bài ta khó đoán, ngay như các nghệ nhân bảy tám mươi tuổi cũng khó biết con gì, chỉ nhìn vào chữ quốc ngữ mới hiểu Bộ bài và cách chơi có lẽ
ra đời từ lâu
Trong số 30 con bài này có hai con gây chú ý nhiều nhất, đó là con Nọc đượng
và Bạch Huê Trong cuộc chơi khi anh hiệu rút trúng con Nọc đượng (một số nơi thì cải biến thành quân Nhất nọc) Với ý nghĩa đố tục, anh Hiệu có thể hô:
Năng cường, năng nhược
Năng khuất, năng sanh
Nó thiệt cục gân
Ngồi gần con gái trân trân chẳng xìu
Nội dung lời hô nghe có vẻ sống sượng, thô lỗ nhưng khi nghe, nghĩ kỹ chúng
ta sẽ thấy đấy chính là dấu vết một cách nhìn của một con người trước thế giới tự nhiên mang dấu ấn phồn thực Người Chàm xưa có tục thờ Lin-ga (tượng trưng cho dương vật) và Y-o-ni (tượng trưng cho âm vật) việc thờ phụng này bắt nguồn từ tục thờ đá rất xưa ở hải đảo và khắp vùng Đông Nam Á Đấy là một sự tin tưởng và sùng bái các thần linh mang lại sự sống, năng lực sinh tồn, sự phồn thịnh của mọi loài sinh - thực vật trên địa cầu Lin-ga là một cột đá gồm ba phần: đầu tròn, thân
Trang 18tám cạnh và một chân đế hình vuông Y-o-ni là một chậu đá hình vuông hay chữ nhật, có một rãnh nước thoát gần tựa như phần dưới của một cối đá xay bột Trong văn hóa của người Việt, có nhiều dấu ấn của Lin-ga và Y-o-ni Do
đó, chúng ta không ngạc nhiên khi những hình ảnh này xuất hiện trên bộ bài chòi
Hình vẽ của con Bạch Huê trên hình ảnh của các bộ bài chòi xưa ít nhiều
đã gợi cho chúng ta hình ảnh của âm vật, còn con Nọc đượng thì không thấy Hình vẽ của con Nọc đượng trông khá lạ so với tên gọi của nó Hình vẽ như một mái nhà sàn Tây Nguyên dốc cao mà trên đỉnh mái nhà là đầu một con chim, không rõ là chim gì Hình ảnh con chim này rất gần gũi với cách gọi dương vật là “chim” của người miền Trung Ngày nay, hình ảnh các con bài không còn được vẽ lại có tính biểu tượng như xưa Các nghệ nhân đa số chỉ viết tên con bài lên các thẻ bài bằng tre, gỗ
Đối với con Nọc đượng và con Bạch Huê, nếu Nọc đượng là biểu tượng của dương vật thì Bạch Huê chính là biểu tượng của âm vật, là vật tổ Y-o-ni của Chăm-pa cổ được tái hiện theo một cách khác Khi gặp con bài Bạch Huê, anh Hiệu có thể hát một bài thơ lục bát tuy dân dã nhưng cũng pha chút văn chương bác học:
Hoa phi đào phi cúc
Sắc phi lục phi hồng
Trơ như đá vững như đồng
Ai xô ai ngã, ngọn gió lồng không xao
Mỉa mai cụm liễu cửa đào
Ong vô muốn đậu, bướm vào muốn bu
Bốn mùa đông, hạ, xuân, thu
Khi búp, khi nở, khi xù, khi trương
Chúa xuân ngó thấy mỉm cười
Sắc hay vương vấn mấy người tài danh
Có bông, có cuốn, không cành
Trang 19Ở trong có nụ, bốn vành có tua
Nhà dân cho chí nhà vua
Ai ai có của cũng mua để dành
Tử tôn do thử nhi sanh
Bạch Huê mỹ hiệu xin phành ra coi
Hình ảnh được vẽ trên con bài Bạch Huê cổ ít nhiều cũng gợi cho ta những ý tưởng ấy Từ một vòng xoáy tròn như cái rốn ở phía trên quân bài đến một nhành lá liễu ngay giữa hình vẽ Qua cách nhìn của người bình dân, những điều vốn dĩ bình thường, giản dị trở nên muôn hình muôn vẻ
1.1.3 Cái chòi
Đối với bài chòi thì cái chòi là vật thể quyết định cho trò chơi Giống như cái tên “bài chòi”, cái chòi là linh hồn của bài chòi, nó tạo nên thể loại này Bộ bài tổ tôm chơi dưới chiếu trên đất lâu đời rồi, nhưng đưa bộ bài này lên đánh trên chòi là một sáng tạo mà cả nước chưa có mô hình thứ hai
Bảng 1.1 Mô hình chòi cái – chòi con
Khi đi thực tế, chúng tôi nhận thấy ở một số nơi, không có chòi cái, mà chỉ
có nhà trệt Khi đó, mô hình các chòi được giản lược lại thành hai dãy chòi đứng đối mặt vào nhau
Trang 20Bảng 1.2 Mô hình không có chòi cái
Nhà trệt – nơi chỉ đạo cuộc chơi
Cấu trúc cái chòi:
- Chòi cái (còn gọi là chòi trung ương) là nơi cầm cái cuộc chơi Trong chòi cái gồm các Hiệu và các vị chức sắc trong làng
- Chòi con: Thường được đặt tên theo thiên can (canh, tân, nhâm, quý, giáp,
ất, bính, đinh, mậu, kỷ) chứ không đánh số Ở các sơ đồ trên, chúng tôi đánh số để
dễ hiểu Chòi con là nơi người chơi ngồi chơi
1.1.4 Cách đánh bài trên chòi
Hình thức đánh bài chòi khá đơn giản Người hô bài chòi và điều khiển trò chơi được gọi là “anh Hiệu” Những người mua thẻ chơi bài ngồi trong các chòi để lắng nghe câu hát của anh Hiệu trên cơ sở tên của những con bài Trong lời ca có xuất hiện các tiếng có trong tên của con bài
Ví dụ: Quan sát bài sau:
“Ngó lên hòn núi Chóp Vung
Thấy bảy cô gái nằm chung một giường”
Trong bài ca xuất hiện từ vung và từ bảy (thất) Nghe xong bài hô này, người
chơi có thể đoán ra tên con bài muốn nhắc đến là con Thất vung
Bài chòi là một trò chơi dân gian gần giống với bài bạc, vì vậy, khi vào cuộc chơi, mỗi chòi sẽ có một khoản tiền cá cược Sau tiếng trống chầu báo hiệu cuộc
Trang 21chơi bắt đầu, anh Hiệu cầm ống bài tỳ lắc một lúc rồi rút ra một con Cầm con bài dán trên thẻ tre, anh Hiệu chưa công bố tên con bài ngay, mà hô một câu thai (câu đố) ám chỉ con bài Người chơi qua đó đoán tên con bài Nếu đúng là con bài mình đang có thì chòi ấy gõ ba tiếng mõ tre báo hiệu người chơi đã “ăn” Anh Hiệu công
bố tên con bài và cầm đến giao cho chòi “ăn” Chòi nào “ăn” đủ ba con trước thì chòi ấy đánh một hồi mõ tre báo hiệu thắng cuộc Anh Hiệu đến nhận bài kiểm tra xong, hô lớn:
“Chòi… ăn một con… một con… tới con… rõ ràng!”
Hoặc nhiều cách hô khác
Chòi cái hoặc người chỉ đạo cuộc chơi đánh một hồi trống Tất cả các chòi đánh mõ Chờ khi anh Hiệu “trình làng” các con bài xong thì chòi cái đánh một hồi trống chầu, công nhận chòi ấy thắng cuộc Làng lấy tiền thưởng đặt lên khay kèm theo một lá cờ chéo con màu đỏ Anh Hiệu hát:
“Hiệu hoang mang lãnh lấy khay tiền
Lên tráng mã điện cờ đệ nhất”
Và mô phỏng động tác leo lên ngựa, bưng khay tiền đến cho chòi thắng cuộc, còn gọi là chòi “tới” Chòi thắng cuộc nhận số tiền thưởng và gửi lại cho chòi cái một khoản nhỏ để làm chi phí cho việc tổ chức trò chơi Vì thường diễn ra vào dịp Tết hoặc tại các lễ hội, nên Hiệu thường hát những bài hát có nội dung là lời chúc khi trao khay tiền thưởng Tùy vào độ tuổi, giới tính của người chiến thắng mà Hiệu
có bài hát phù hợp
Ví dụ: Khi người chiến thắng là một phụ nữ trẻ, Hiệu hát:
“Đây li rượu đậm đà tình nghĩa
Chúc cho em/chị trẻ mãi không già
Đẹp xinh như một bông hoa
Dưới sông cá lặn, chim sa trên trời
Trang 22Nếu như vẫn còn đơn gối
Chúc năm nay sẽ kết duyên
Ví như ván đã đóng thuyền
Chúc cho bền đẹp mối duyên châu trần”
Nếu người thắng cuộc là một bé gái thì bài hát trao tiền thưởng sẽ như sau:
“Lời này cô chúc con gái gặp tại hội bài chòi
Chúc con mạnh mẽ, vui tươi
Chúc con đạt được điểm mười
Chúc con học tập siêng năng
Con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan của ông bà”
Còn nếu là một bé trai thì bài hát sẽ như sau:
“Lời này cô chúc con trai
Học hành thật giỏi để mai nên người
Như chim bằng ngược biển khơi
Đại bàng của bầu trời bao la
Đáp đền ơn của mẹ cha
Thầy cô dạy dỗ cho ta nên người”
Anh Hiệu hô từ những câu ngắn, dần dần tiến lên những câu dài hơn, làn điệu gia tăng, động tác phong phú hơn để tạo nên tính hấp dẫn cho người xem Câu hát
có khi là câu đố, có khi là một câu hát bình thường, có các tiếng trùng với tên con bài Trong diễn xướng bài chòi, phần xướng là chủ yếu (trừ hình thức sân khấu ca kịch bài chòi)
Xướng bài chòi bao gồm: Nói lối, xuống hò, hát
Trang 23Phần diễn tuy không quan trọng bằng phần xướng, nhưng anh Hiệu cần có những màn diễn để vừa pha trò tạo tiếng cười vui vẻ đầu xuân, kết nối người chơi với nhau, thu hút nhiều người tham gia vào lễ hội; lại vừa diễn tả phần nào nội dung
lá bài Bài chòi thuộc dân ca sinh hoạt
1.2 Một số vấn đề về ngôn ngữ - văn hóa
1.2.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hòa của tất cả các khía cạnh của đời sống Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hóa Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống nhau, nhưng nếu xem xét
kỹ thì lại có những điểm riêng biệt
Văn hóa không phải là ý thức của cá nhân mà thuộc về con người một cách tự nhiên Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Theo chúng tôi, văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ có văn hóa, con người trở nên độc đáo và khác biệt những con vật khác trong thế giới động vật Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa”, đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau
Các công trình nghiên cứu từ xưa đến nay đã đưa ra những quan niệm khác nhau về khái niệm văn hóa Trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy”, E.B Tylor đã đưa
ra định nghĩa: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [22;13] Đây được xem là định nghĩa đầu tiên về văn hóa Sau đó, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các định nghĩa khác
Trần Ngọc Thêm đã đưa ra khái niệm về “văn hóa” như sau: “Văn hóa là một
hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [86;20]
Trang 24Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những gì con người sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [29;431] Văn hóa, theo cách hiểu này, là toàn bộ những gì con người sáng tạo và phát minh ra
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài thường vận dụng định nghĩa “văn hóa” do UNESCO đưa ra năm 1994 Nó được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, “văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình , xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, truyền thống, tín ngưỡng ” Như vậy, theo nghĩa hẹp, văn hoá được hiểu dưới hai dạng khác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể:
Thứ nhất, văn hoá được dùng với nghĩa là trình độ học vấn của một cá nhân
nào đó
Thứ hai, văn hoá được dùng với nghĩa hàm chỉ một thái độ ứng xử trong quan
hệ giao tiếp với nhau Theo nghĩa này, văn hoá được đặt trong mối quan hệ tương tác mang tính xã hội giữa các thành viên của cộng đồng dựa trên những tập quán, thói quen đã được xác lập qua nhiều đời và được củng cố thành ý thức xã hội tồn tại trong chiều sâu tư duy của dân tộc
Văn hoá ở khía cạnh này được hiểu là hành vi ứng xử trong quan hệ giữa con người với con người qua quá trình tiếp xúc hàng ngày hoặc trong giao tiếp ngôn
ngữ được thể hiện bằng những câu nói mang tính chuẩn mực đảm bảo tính lịch sự
cho một quá trình nói năng
Trang 25Thứ ba, văn hoá được dùng với nghĩa là có truyền thống về lịch sử và văn
minh Với nghĩa này, từ "văn hoá" thường đi sau một số danh từ chỉ đơn vị hành
chính với chức năng làm định ngữ mở rộng giải thích cho danh từ đứng trước
Ví dụ: Khu phố văn hoá, thủ đô văn hoá, gia đình văn hóa…
Thứ tư, văn hoá được dùng với nghĩa là đặc điểm sử dụng ngôn ngữ mang tính
thẩm mỹ, lịch thiệp
Ví dụ: - Văn hoá ngôn ngữ
- Văn hoá ngôn từ
- Văn hoá lời nói
Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển Đây là ý nghĩa mang tính thuật ngữ đang được sử dụng trong nghiên cứu của nhiều lĩnh vực thuộc khoa học xã hội và nhân văn Bất cứ cái gì có gắn với sự sáng tạo của con người trong quá trình lao động đều được coi là sản phẩm của văn hoá Trong cách hiểu như vậy, văn hoá được chia ra làm hai loại:
Văn hoá vật thể: bao gồm những di sản như đình, chùa, miếu mạo, cung điện, trống đồng, các đồ gốm sứ…
Văn hoá phi vật thể (còn gọi là văn hoá tinh thần): bao gồm những sản phẩm như văn học, âm nhạc, hội hoạ, hoa văn, kiến trúc, múa, sân khấu, điện ảnh
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong quá trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách của từng tộc người Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác, và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng
1.2.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Trang 26Văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời Ngôn ngữ
là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ luôn đi song song với sự biến đổi và phát triển của văn hóa Vậy muốn nghiên cứu sâu văn hóa, ta phải nghiên cứu ngôn ngữ, và ngược lại, muốn đi sâu vào ngôn ngữ, phải chú tâm đến văn hóa
Biểu hiện bên trong của ngôn ngữ và văn hoá
Ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ với nhau Mối quan hệ này có thể được biểu hiện ra bên ngoài thành những phương tiện vật chất cụ thể, cũng có thể biểu hiện qua mối quan hệ bên trong Mối quan hệ bên trong này được hình thành từ một trong những chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ, đó là chức năng tư duy Không có ngôn ngữ, con người không thể tư duy Nói một cách khác, mọi hoạt động tư duy của con người đều thực hiện trên chất liệu của ngôn ngữ
Từ phương diện này, chúng ta nhận thấy, xét về bản chất, ngôn ngữ bao giờ cũng tham gia vào cả hai loại văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể, tuy cách biểu hiện của nó rất khác nhau Nhìn về mặt hình thức, ở các di sản văn hoá vật thể, người ta khó nhận thấy dấu ấn của ngôn ngữ Nói một cách khác, quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá không nổi lên trên bề mặt mà ẩn sâu ở quan hệ bên trong giữa chúng Ngôn ngữ không chỉ là công cụ của tư duy, là linh hồn cho sự sáng tạo ra các vật thể mang tính văn hoá mà còn là một phương tiện lưu giữ thông tin, truyền
bá những kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác
Biểu hiện bên ngoài của mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Nói tới mặt biểu hiện bên ngoài của mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ là nói tới khả năng quan sát được những sự liên quan giữa văn hoá và ngôn ngữ trên
cơ sở những dấu hiệu, ký hiệu cụ thể
Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu được hình thành từ những phản xạ không
có điều kiện Hệ thống ký hiệu này chính là các phương tiện tạo nên các sản phẩm văn hoá mang giá trị tinh thần, gọi là văn hoá phi vật thể Trong văn học, sân khấu, điện ảnh… ngôn ngữ là phương tiện trực tiếp cấu thành tác phẩm Nó tham gia vào
Trang 27việc diễn đạt tư tưởng của nhà văn thông qua việc sử dụng từ, việc đặt câu và xây dựng văn bản nghệ thuật Trong âm nhạc, với các ký tự được cụ thể hoá thành các nốt nhạc, người nghệ sĩ có thể tạo ra muôn vàn các bản nhạc khác nhau Như vậy,
dù ở đâu thì giữa ngôn ngữ và văn hoá vẫn có một mối quan hệ không thể tách rời Ngôn ngữ, trong đó có bài chòi, là bộ phận cấu thành của nền văn hóa dân tộc Nghiên cứu về bài chòi là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa tác động lên nhau
1.3 Một số khái niệm ngôn ngữ học
1.3.1 Phương ngữ và phương ngữ Nam
1.3.1.1 Phương ngữ là gì?
Phương ngữ là một khái niệm phức tạp của ngôn ngữ học Thuật ngữ này tồn tại song song với một số từ ngữ khác ít mang tính thuật ngữ hơn như: phương ngôn,
tiếng địa phương, giọng địa phương… Theo Hoàng Thị Châu thì: “Phương ngữ là
một thuật ngữ của ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân và là biến thể của ngôn ngữ này ở một vài địa phương cụ thể với những nét khác biệt của
nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [7;29] Phương ngữ
được chia ra thành phương ngữ lãnh thổ và phương ngữ xã hội Các phương ngữ có
sự khác biệt về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn diễn ra ở hai mặt cấu trúc và chức năng Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngôn ngữ, sự phát triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi
về ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp Phương ngữ là nơi thể hiện kết quả của
sự biến đổi ấy
Nói tóm lại, phương ngữ là một hiện tượng phức tạp của ngôn ngữ không chỉ
ở mặt hệ thống cấu trúc cũng như phương tiện để thể hiện mà bản thân nó cũng là
sự phản ánh của nhiều mối quan hệ xã hội và lịch sử trong và ngoài ngôn ngữ
1.3.1.2 Vấn đề phân chia các vùng phương ngữ
Việc phân chia các vùng phương ngữ tiếng Việt hiện nay tồn tại hai quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Vương Hữu Lễ,
Trang 28Hoàng Thị Châu chủ trương chia làm ba vùng phương ngôn tương ứng với ba khu vực địa lí: Bắc, Trung, Nam Quan điểm thứ hai của một số tác giả lại chia thành bốn hoặc năm vùng phương ngữ Mỗi quan điểm đều có những ưu điểm và xuất phát từ những cơ sở, căn cứ nhất định Tuy nhiên, phần lớn đều theo quan điểm thứ nhất chia tiếng Việt thành ba vùng: Bắc - Trung - Nam Song mỗi vùng lại có những đặc điểm riêng biệt về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Sau đây, chúng tôi xin trình bày
sự khác biệt ở phương diện từ vựng – phương diện chúng tôi sẽ bàn đến ở chương 2:
Về từ vựng tiếng Việt
Từ vựng tiếng Việt có những biến đổi theo các vùng phương ngữ có thể là phụ
âm đầu, nguyên âm, âm cuối hay thanh điệu Vì vậy, tìm hiểu về từ vựng tiếng Việt của vùng phương ngữ góp phần làm tiếng Việt thêm phong phú và giàu đẹp
- Những từ có phụ âm đầu khác với ngôn ngữ văn học có thể tìm thấy ở phương ngữ Bắc nhưng không nhiều hiện tượng như phương ngữ Trung
- Những từ khác nguyên âm thể hiện quá trình biến đổi từ nguyên âm đơn sang nguyên âm đôi bằng hai khuynh hướng:
+ Nguyên âm đôi mở dần trong các phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam:
e/ei, a/ươ, o/uo
Trang 29+ Nguyên âm đôi mở dần trong các phương ngữ khác: i/iê, u/uô, …
- Những từ khác phụ âm cuối biểu hiện ở một số thổ ngữ Thanh Hóa: phụ âm cuối -n biến thành -j
* Từ khác gốc (không có quan hệ ngữ âm)
Có phương ngữ có hai hay nhiều từ khác hẳn nhau nhưng lại đồng
nghĩa như trái và quả, bông và hoa,… Những từ này do xuất phát từ những
nguồn gốc khác nhau Có thể thấy, các từ này tập trung chủ yếu vào một loại
Về lịch sử, Nam Bộ là vùng đất được hình thành muộn nhất trong lịch sử
mở nước của Việt Nam Kể từ khi chúa Nguyễn Hoàng vượt Hoành Sơn vào Đàng Trong bắt đầu một thời kì Nam tiến mở mang bờ cõi, cư dân Việt
từ miền Bắc và miền Trung Việt Nam bắt đầu di cư vào Do điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và văn hóa (tiếp xúc với cư dân bản địa), tiếng Việt ở khu
vực này dần thay đổi Cách phát âm thay đổi nhiều: hoạch thành quạch, âm v thành âm d, au thành ao, an thành ang Nhiều từ đã bị đọc chệch đi do húy kị của các vua chúa nhà Nguyễn: hoành thành huỳnh, cảnh thành kiểng, kính thành kiếng, hoa thành huê…
Về đặc điểm, vùng phương ngữ Nam được chia thành các vùng nhỏ hơn:
Trang 30- Vùng phương ngữ Quảng Nam - Quảng Ngãi: vùng này khác hẳn các
nơi khác ở sự biến động đa dạng của âm a và ă trong kết hợp các âm cuối
khác nhau
- Vùng phương ngữ Quy Nhơn đến Bình Thuận mang đặc trưng chung nhất của phương ngữ Nam Tuy khác nhau nhưng cùng nhau góp phần làm nên bản sắc văn hóa Nam Bộ độc đáo
Như vậy, phương ngữ Nam là vùng phương ngữ khá đặc biệt và đạt sự thống nhất cao so với hai vùng phương ngữ Bắc và Trung Phương ngữ Nam là ngôn ngữ khu vực được sử dụng rộng rãi hơn một phần ba dân số cả nước Trong đó có vùng Bình Định – Phú Yên mà chúng tôi đang khảo sát
Từ địa phương
Có rất nhiều ý kiến xoay quanh việc định nghĩa về từ địa phương Song, theo Nguyễn Thiện Giáp: “Từ địa phương là từ được dùng hạn chế ở một hoặc một số địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hằng ngày ở bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ” [23,466]
Đây là định nghĩa khái quát rõ nét sắc thái phong cách của từ địa phương, Đặc biệt là ý nghĩa của việc đưa từ địa phương vào sáng tác văn học
1.3.1.4 Đặc điểm một số kiểu từ địa phương
Theo giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu chúng ta
có hai loại từ địa phương:
* Từ địa phương không có sự đối lập với ngôn ngữ toàn dân
Đó là những từ biểu thị sự vật, hiện tượng, hoạt động, cách sống chỉ có
ở địa phương đó chứ không phổ biến đối với toàn dân Do đó, không có từ tương ứng với ngôn ngữ toàn dân, như ở miền Nam có các từ đặc trưng không xuất hiện ở
Trang 31các vùng khác: sầu riêng, chôm chôm, măng cụt,… Ở luận văn này chúng tôi gọi là
từ địa phương dân tộc học
* Từ địa phương có sự đối lập với từ toàn dân
- Thứ nhất, từ địa phương có sự đối lập về nghĩa Những từ này về ngữ
âm giống với từ toàn dân, nhưng nghĩa của chúng hoàn toàn khác nhau
- Thứ hai, từ địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm gồm hai loại:
+ Từ địa phương có hình thức ngữ âm khác hoàn toàn với từ ngữ tương ứng ngôn ngữ toàn dân
+ Từ địa phương có hình thức ngữ âm khác bộ phận với từ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân
Như vậy, từ địa phương và từ toàn dân có mối quan hệ qua lại lẫn nhau Sự phân chia ranh giới giữa hai lớp từ này có thể thay đổi phụ thuộc vào vấn đề sử dụng của chúng
1.3.2 Khẩu ngữ
Khẩu ngữ là lời ăn tiếng nói hằng ngày, không nghi thức, kiểu cách Người ta thường cân nhắc lựa chọn từ ngữ thích hợp với bối cảnh có tính nghi thức như: viết nghiên cứu khoa học, giảng dạy, hội họp… nhưng khi trở lại giao tiếp trong bối cảnh sinh hoạt hằng ngày hoặc giao tiếp sinh hoạt ở các hội nhóm có tính bình dân thì thường không có ý thức lựa chọn từ ngữ Hầu hết ở những bối cảnh này từ ngữ thường mộc mạc, giản dị, thoải mái và có khi ở mức suồng sã Từ ngữ lúc này chỉ cốt yếu làm sao để những người cùng giao tiếp dễ hiểu và cảm thấy gần gũi nhất
Đó là khi người ta dùng khẩu ngữ
Trước đây các nhà ngôn ngữ học quan tâm nhiều đến trạng thái ngôn ngữ có tính nghi thức nhưng gần đây khẩu ngữ cũng được nhiều người xem là đối tượng nghiên cứu Vì thực tế khẩu ngữ cũng đã tồn tại với những hình thức, cách thức nhất định Nó xứng đáng được nghiên cứu vì những giá trị mà bản thân nó đã mang
Trang 32lại Và trong luận văn này chúng tôi cũng xem khẩu ngữ trong ngôn từ bài chòi là một phương diện cần nghiên cứu
1.3.3 Từ tục
Từ tục là một bộ phận từ nằm trong khẩu ngữ Từ tục là những từ có ý nghĩa tục tĩu Ví dụ như những từ dùng để chửi: đếch, đéo, đĩ… những từ chỉ bộ phận cơ thể có tính địa phương như lồn, cặc, mo, đít… và cả những từ chỉ hành động có ý nghĩa tục như: ỉa, đái…
1.3.4 Đơn vị cấu tạo từ
Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là tiếng Tiếng của tiếng Việt có giá trị
tương đương như hình vị trong các ngôn ngữ khác, và người ta cũng gọi chúng là
các hình tiết (morphemesyllable) - âm tiết có giá trị hình thái học
- Về hình thức, nó trùng với âm đoạn phát âm tự nhiên được gọi là âm tiết (syllable)
- Về nội dung, nó là đơn vị nhỏ nhất có nội dung được thể hiện Chí ít nó cũng
có giá trị hình thái học (cấu tạo từ) Sự có mặt hay không có mặt của một tiếng trong một "chuỗi lời nói ra" nào đó, bao giờ cũng đem đến tác động nhất định về
mặt này hay mặt khác Ví dụ: đỏ - đo đỏ - đỏ đắn - đỏ rực - đỏ khé - đỏ sẫm vịt -
chân vịt - chân con vịt [20;142 - 152]
1.3.5 Phương thức cấu tạo từ
Một số nhà ngiên cứu dùng tên gọi khác để gọi khái niệm hình vị Nguyễn Kim Thản gọi đó là “từ tố” và định nghĩa "từ tố là yếu tố có nghĩa (từ vựng) nhỏ nhất của ngôn ngữ" Hồ Lê (2003) thì gọi đó là “nguyên vị” và chia ra thành nguyên
vị chính và nguyên vị trung gian
Còn theo Đỗ Hữu Châu (1981), ông đã đưa ra ba phương thức tạo từ trong tiếng Việt là từ hóa hình vị (từ đơn), ghép hình vị (từ ghép) và láy hình vị (từ láy) như sau:
Trang 33a Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt ngữ nghĩa của chúng, không lập thành hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung
b Từ láy - một trong hai tiểu loại của từ phức - là những từ được cấu tạo theo phương thức lập lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của một hình vị hay đơn
vị có nghĩa Xét về mặt ngữ nghĩa Hoàng Văn Hành chi từ láy làm 3 loại:
- Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản: từ tượng thanh (róc rách, tí tách)
- Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu: từ biểu thị sự vật, từ biểu thị tính chất, trạng thái, quá trình
- Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa Đây là loại
từ láy mà nghĩa của nó có thể giải thích được không chỉ nhờ vào nghĩa của tiếng gốc
mà còn nhờ vào giá trị tạp nghĩa của sự hòa phối ngữ âm trong cấu tạo của nó
c Từ ghép - một trong hai tiểu loại của từ phức - được tạo ra do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị hay đơn vị cấu tạo tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau Từ ghép được chai thành ba tiểu loại nhỏ:
- Từ ghép phân nghĩa: là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị hay đơn vị theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng loại Loại từ ghép này có tính hệ thống rất cao thể hiện ở tác dụng phân chia các loại lớn thành những loại
nhỏ độc lập Ví dụ như: xe đạp, xe hơi, vui lòng, vui tính, khó tính, khó chịu
- Từ ghép hợp nghĩa: là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị và chúng biểu thị ở những loại rộng hơn, bao trùm sơn so với loại của từng hình vị tách riêng Mối quan hệ giữa hai hình vị đó tương đương với quan hệ đẳng lập hay song song trong cú pháp Loại từ ghép này cũng có tính hệ thống rất cao và tác dụng hợp nghĩa
của chúng khá thuần nhất, ví dụ như: bạn hữu, đêm ngày, trên dưới, Ngoài ra, loại
từ ghép hợp nghĩa được chia làm ba tiểu loại nhỏ như: từ ghép hợp nghĩa tổng loại,
từ ghép hợp nghĩa chuyên chỉ loại và từ ghép hợp nghĩa bao gộp
- Từ ghép biệt lập: là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị và mỗi từ là
Trang 34một trường hợp riêng rẽ Đặc trưng ngữ nghĩa của một từ không lặp lại ở những từ
khác, chúng là sự kiện biệt lập Ví dụ như: (con) thiêu thân, (tính) ba phải, (cái)
thắt lưng
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2000) thì phân định từ trong tiếng Việt gồm có bốn loại: từ đơn, từ ghép, từ láy và từ ngẫu hợp Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc bằng cách dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo lối nào đó [20;142 - 152]
a Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ
đơn tiết) Vậy từ đơn ở đây được hiểu là từ được cấu tạo từ một tiếng Ví dụ: tôi,
bác, người, nhà, cây, trâu, ngựa, đi, chạy, cười, vui, buồn, hay, đẹp, vì, nếu, đã, đang, à, ừ, nhỉ, nhé
b Phương thức tổ hợp (ghép) các tiếng lại, mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có quan hệ về nghĩa với nhau, sẽ cho ta những từ gọi là từ ghép Dựa vào tính chất của mối quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ ghép tiếng Việt như sau:
- Từ ghép đẳng lập: Đây là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ bình
đẳng với nhau về nghĩa Ví dụ: chợ búa, bếp núc, đường sá, tre pheo, cỏ rả, sầu
muộn, chó má, gà qué, cá mú, xe cộ, áo xuống
- Từ ghép chính phụ: Những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ Thành tố phụ có vai trò
phân loại, chuyên biệt hóa và sắc thái hóa cho thành tố chính Ví dụ: tàu hỏa, đường
sắt, sân bay, hàng không, nông sản, cà chua, máy cái, dưa hấu, cỏ gà xấu bụng, tốt mã, lão hóa xanh lè, đỏ rực, ngay đơ, thẳng tắp, sưng vù
c Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hòa phối ngữ âm cho ta các từ láy (còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm) Một từ sẽ được coi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại; nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp)
vừa có biến đổi (còn gọi là đối) Ví dụ: đỏ đắn: điệp ở âm đầu, đối ở phần vần Vì thế, nếu chỉ có điệp mà không có đối, chẳng hạn như: người người, nhà nhà, ngành
Trang 35ngành thì ta có dạng láy của từ chứ không phải từ láy
- Láy hoàn toàn Ví dụ: rề rề, lăm lăm, khăng khăng, kìn kìn, lù lù, lâng lâng,
đùng đùng, hây hây, gườm gườm, đăm đăm
- Láy bộ phận Những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu, hoặc điệp ở -
phần vần thì được gọi là láy bộ phận Ví dụ như: bập bềnh, cò kè, ho he, thơ thẩn,
đẹp đẽ, làm lụng, ngơ ngác, say sưa, xoắn xuýt, vồ vập, hấp háy
- Từ láy ba bốn tiếng Được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại dựa trên
cơ chế láy bộ phận là chủ yếu Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, dửng dừng dưng,
trơ trờ trờ, ; đủng đà đủng đỉnh, lếch tha lếch thếch, linh tinh lang tang, vội vội vàng vàng
d Từ ngẫu hợp: Đây là lớp từ mà hiện nay không thấy giữa các thành tố cấu tạo của chúng có quan hệ gì về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa Vì vậy, từ góc độ phân loại, chúng được tách ra và gọi là từ ngẫu hợp với ngụ ý các tiếng tổ hợp với nhau một cách ngẫu nhiên Ví dụ như:
- Những từ gốc thuần Việt: bồ câu, bồ hòn, bồ nông, mồ hóng, mồ hôi, kì
nhông, cà nhắc, mặc cả…
- Những từ vay mượn gốc Hán: mâu thuẫn, hi sinh, trường hợp, kinh tế, câu
lạc bộ, mì chính, tài xế, vằn thắn, lục tàu xá…
- Những từ vay mượn gốc Ấn – Âu qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ
như: a-xít, mít tinh, sơ mi, tùng bê, mùi xoa, xà phòng…
1.3.6 Chiến lược giao tiếp
Chiến lược giao tiếp là một trong những vấn đề của ngữ dụng học Trong đời sống hằng ngày và cả trong văn chương các cuộc giao tiếp hầu như đều có những chiến lược rất riêng nhằm hướng đến những mục đích giao tiếp khác nhau Trong số
đó chiến lược tạo hàm ngôn, chiến lược sử dụng hành động tại lời gián tiếp và chiến lược thiết lập, duy trì mối quan hệ giao tiếp là những chiến lược thường thấy nhất
Trang 36Hàm ngôn là cái người nói muốn nói nhưng không tường minh, còn suy ý là cái người nghe rút ra Người nói tạo ra hàm ngôn, còn người nghe giải mã hàm ngôn, tức là hàm ngôn là do người nói có chủ ý tạo ra trong quá trình phát ngôn, còn để hiểu được nó thì người nghe phải suy luận Hai quá trình này thực chất chỉ
là hai mặt của một vấn đề
Hành động ngôn ngữ gián tiếp theo Đỗ Hữu Châu là “Hiện tượng người giao
tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành
vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành động ngôn ngữ theo lối gián tiếp” [4;146]
Sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp là hiện tượng người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác
Tiểu kết
Chương 1 của luận văn đã giới thiệu khái quát một số khái niệm ngôn ngữ - văn hóa có liên quan Trong đó chúng tôi đã miêu tả khá kĩ về nghệ thuật bài chòi từ khái niệm cho đến cách thức chơi Điều này đã hệ thống lại một cái khái quát về nghệ thuật bài chòi, hệ thống lại các khái niệm mang tính cơ sở Đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa để từ đó làm cơ sở lí luận cho các chương tiếp theo
Chương này cũng đã giới thiệu sơ nét về vùng đất Bình Định và Phú Yên Bài chòi ở Bình Định phát triển mạnh hơn cả Bài chòi ở Phú Yên hầu như cũng không có nét gì nổi bật hơn, đa phần cũng là sự tiếp nối bài chòi Bình Định Có khác chăng là ở phương ngữ và các địa danh được nhắc đến trong bài
Cơ sở lí luận mà chúng tôi xem là nòng cốt chính là phần miêu tả các khái niệm ngôn ngữ học Bám sát cơ sở này chúng tôi từng bước làm bật lên đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của ngôn từ bài chòi
Trang 37Một điểm cần lưu ý trong chương 1 nữa là phần miêu tả phương ngữ Phương ngữ là đặc điểm ngôn ngữ quan trọng mà chúng tôi sẽ trình bày ở chương 2
Ở đây cần thống nhất và nhấn mạnh lại phương ngữ vùng Bình Định – Phú Yên thuộc phương ngữ Nam Bộ Điều này có ảnh hưởng nhiều đến quá trình khảo sát và nghiên cứu Tính phương ngữ trong ngôn từ bài chòi được thể hiện như thế nào và
có ý nghĩa ra sao sang chương 2 chúng ta sẽ rõ hơn
Trang 38Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN TỪ BÀI CHÒI BÌNH ĐỊNH – PHÚ YÊN
2.1 Phân loại từ theo cấu tạo
Chương 1 đã giới thuyết các vấn đề về đơn vị từ và phương thức cấu tạo từ, ở đây, chúng tôi phân loại từ theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu Theo đó, từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo sẽ bao gồm: từ đơn và từ phức (từ ghép, từ láy)
Bảng 2.1 Kết quả phân loại từ dựa trên 2 ngữ liệu Bình Định và Phú Yên:
Từ phân theo cấu tạo Số lượng từ Tần suất
“tui” (99 lần), “anh” (89 lần), “em” (79 lần), “chàng” (31 lần), “nàng” (13 lần),
“ông” (19 lần), “chồng” (41 lần)
Có thể thấy đại từ xưng hô “tôi” – “tui” được lặp lại nhiều nhất Đây là đại từ xưng hô dùng nhiều trong sinh hoạt hằng ngày và cả trong những lối sinh hoạt mang tính khoa học, chính trị Vì đại từ xưng hô này thể hiện đậm tính cá nhân, thể
Trang 39hiện sự mạnh mẽ khi xưng hô Và vì vậy nó thường xuyên xuất hiện trong các cuộc giao tiếp Ở đây cũng vậy các bài hô chứa đại từ “tôi - tui” rất nhiều
“Tui làm ăn cũng dụng đồng tiền
Bà con có thưởng, thưởng riêng ít đồng
Bà con có của tôi lại có công
Nếu mà trợt lớt đừng có hòng ở yên”
(Ngũ trợt)
“Ở dưới tôi lên tôi cũng gặp chị
Ở trên tôi xuống tôi cũng gặp chị
Người ta đồn mộng đồn mị
Đồn tôi với chị là hai vợ chồng
Từ xưa rày xa cách lông bông
Bây giờ hỏi thiệt trong lòng chị ra sao?
[….]”
(Lục trạng)
Ngoài đặc điểm trên kết quả thống kê còn đem đến một điểm thú vị là các từ xưng hô được lặp lại nhiều là những từ xưng hô chỉ nam giới Chúng tôi đặt ra câu hỏi liệu có sự phân biệt giới tính trong ngôn từ bài chòi? Rõ ràng là như thế, trong khi “chàng” lặp lại 31 lần thì “nàng” chỉ có 13 lần, “ông” 19 lần thì “bà” chỉ 3 lần,
“chồng” 41 lần thì “vợ” chỉ 21 lần Có thể lí giải vấn đề này như sau: Chất liệu ngôn
từ của bài chòi lấy từ ca dao mà ca dao xét về mặt lịch sử - xã hội thì đã có từ rất lâu Nó là một trong những thể loại có lịch sử lâu đời của văn học dân gian Trong
xã hội phong kiến xưa, trọng nam khinh nữ là một tư tưởng phổ biến và cố hữu Chính vì vậy khi đi vào văn học, tư tưởng này cũng được thể hiện rất rõ nét Có thể thấy qua việc ca dao dùng từ xưng hô chỉ nam chiếm ưu thế hơn Và cũng vì vậy mà
Trang 40ta thấy ngôn từ bài chòi cũng nhiều từ xưng hô chỉ nam giới Nhiều bài dùng từ xưng hô chỉ nam giới nội dung thường là ca ngợi sự học, ca ngợi con đường công danh của quân tử Có thể dẫn ra một số bài tiêu biểu như sau:
“Hai tay nâng chén quỳnh tương
Mời người quân tử em thương trọn đời
Cố công đèn sách chàng ơi
Danh đề bảng hổ rạng ngời tổ tông”
(Nhất trò)
“Mẹ sai xách chén mua tương
Thấy anh ngồi học trong trường dòm ra
Vội về mua lụa đậu ba
Cắt áo cổ giữa mà tra nút vàng
Mong sao kết nghĩa đá vàng
Để em hôm sớm cho chàng học thi”
(Nhất trò)
Ngoài ra khi nói về nam giới thì nội dung bài chòi còn có cả những bài châm biếm Ví như bài ca châm biếm thói nghiện rượu của các ông chồng:
“Đụng anh chồng nghiền như ông tiên nho nhỏ
Đến cữ nghiền đèn đỏ hơn sao
Tay cầm gươm bạc như Triệu Tử huơ đao
Miệng ngậm ống như Trương Phi ngậm tửu
Mắt liếc đèn như Lưu Bị nhìn sao
Cẳng tréo hoe như Khổng Minh ngồi xem sách
Lâm cuộc nghiền hữu mạch tắc thông vô mạch