Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên trong quan hệ với môi trường xã hội qua hoạt động sản xuất lúa mùa nổi của người Việt ở xã Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang .... Thực hiện đề tài luận
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60220113
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
và được sự hướng dẫn khoa học của TS Đinh Thị Dung
Tất cả nội dung, số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn đều có nội dung chính xác
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 08 năm 2018
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Tố Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại trường, tôi cũng như tất cả các bạn trong lớp đều nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban lãnh đạo khoa, quý thầy cô - khoa Việt Nam học, thầy cô ở các phòng ban của Trường Đại học Khoa học Xã hội Và Nhân văn Quý thầy cô đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian qua Để hoàn thành được luận văn này, công sức không chỉ riêng cá nhân tôi mà
nó được sự trợ giúp của nhiều người Đặc biệt, khi thực hiện đề tài luận văn này đã
có nhiều khó khăn mà tôi tưởng chừng như bỏ cuộc Nhưng nhờ sự động viên, giúp
đỡ tận tâm của người hướng dẫn khoa học - cô TS Đinh Thị Dung đã giúp tôi có thêm động lực, cố gắng hoàn thành được công trình nghiên cứu này Ngoài ra, tôi còn được sự hỗ trợ nhiệt tình của chính quyền địa phương và những người nông dân chân chất tại địa bàn nghiên cứu Họ đã cho tôi ăn, ở và tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện đề tài luận văn này Và nhờ tất cả những anh, chị đồng nghiệp đã hỗ trợ nhiệt tình giới thiệu những tài liệu liên quan đến vấn đề mà tôi tài nghiên cứu
Với kết quả nghiên cứu này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất
cả quý thầy, cô, anh, chị, em đồng nghiệp, những hộ gia đình và chính quyền ở xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, An Giang Và đặc biệt cho tôi gửi lời xin lỗi đồng cảm
ơn đến cô TS Đinh Thị Dung – người hướng dẫn tôi làm khoa học Mọi khó khăn chậm trễ luận văn của tôi đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian quý báu của cô trong suốt thời gian thực hiện
Do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn trong vấn đề nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế Do vậy, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô để được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!
Trân trọng!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 8 năm 2018
Người viết
Trịnh Thị Tố Phương
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp và hướng tiếp cận nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 9
6.1 Ý nghĩa khoa học 9
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 10
7 Bố cục đề tài 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Các khái niệm liên quan 12
1.1.1.1 Văn hóa ứng xử 12
1.1.1.2 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 13
1.1.1.3 Lúa mùa nổi và sản xuất lúa mùa nổi 14
1.1.1.4 Phát triển và phát triển bền vững 15
1.1.2 Lý thuyết tiếp cận 18
1.1.2.1 Lý thuyết vùng văn hóa 18
Trang 61.2.1 Đặc điểm không gian vùng An Giang 20
1.2.1.1 Địa hình 22
1.2.1.2 Thủy văn 23
1.2.1.3 Sinh vật 24
1.2.1.4 Khí hậu 26
1.2.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội vùng An Giang 27
1.2.3 Hoạt động sản xuất lúa ở An Giang hiện nay 31
Tiểu kết chương 1 34
CHƯƠNG 2 SẢN XUẤT LÚA MÙA NỔI CỦA NGƯỜI VIỆT Ở VĨNH PHƯỚC, TRI TÔN, AN GIANG NHÌN TỪ VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 2.1 Tổng quan xã Vĩnh Phước 36
2.2 Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động sản xuất lúa mùa nổi 38
2.2.1 Nguồn gốc xuất hiện lúa mùa nổi 38
2.2.2 Sự thích ứng với mùa nước lũ của người Việt qua sản xuất lúa mùa nổi ở Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang 41
2.2.2.1 Hiện tượng mùa nước lũ ở An Giang 41
2.2.2.2 Phát triển lúa mùa nổi ở xã Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang 42
2.2.2.3 Canh tác lúa mùa nổi tại xã Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang 45
2.3 Sản xuất lúa mùa nổi nhìn từ văn hóa ứng xử với đất và nước của người Việt ở xã Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang 48
2.3.1 Giai đoạn trước khi nước lũ tràn về 52
Trang 72.4 Sản xuất lúa mùa nổi của người Việt ở xã Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang
nhìn từ văn hóa ứng xử với khí hậu, thời tiết 59
2.4.1 Chuẩn bị gieo sạ lúa mùa nổi 60
2.4.2 Quá trình lúa mùa nổi phát triển 61
2.4.3 Thu hoạch lúa mùa nổi 62
2.5 Sản xuất lúa mùa nổi ở xã Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang nhìn từ sự thích ứng sáng tạo của người Việt 63
2.6 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên trong quan hệ với môi trường xã hội qua hoạt động sản xuất lúa mùa nổi của người Việt ở xã Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang 68
Tiểu kết chương 2 70
CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA VÙNG QUA SẢN XUẤT LÚA MÙA NỔI Ở VĨNH PHƯỚC, TRI TÔN, AN GIANG 3.1 Xu hướng phát triển lúa mùa nổi ở xã Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang 74
3.1.1 Mở rộng diện tích trồng lúa mùa nổi 74
3.1.2 Bảo tồn giống lúa mùa nổi 74
3.1.3 Bảo tồn đa dạng sinh học 76
3.1.4 Kết hợp sản xuất lúa mùa nổi với phát triển du lịch nông nghiệp 77
3.2 Đề xuất, kiến nghị và giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sản xuất lúa mùa nổi 78
3.2.1 Những đề xuất 78
3.2.2 Giải pháp 83
Trang 8KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
I Tài liệu sách 88
II Tài liệu tạp chí, bài báo 90
III TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ 91
PHỤ LỤC 1
1 DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN 2
2 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN CÁ NHÂN (1) 3
3 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN CÁ NHÂN (2) 11
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cây lúa là cây lương thực của nhiều quốc gia dân tộc trên thê giới Từ lâu, lúa mùa nổi được xem là cây lương thực truyền thống chính yếu của người Việt ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, việc con người đã và đang tác động quá mức cần thiết vào tài nguyên tự nhiên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hệ sinh thái động thực vật, đồng thời qua nhiều giai đoạn hoàn cảnh lịch sử, xã hội thay đổi khác nhau nên diện tích trồng lúa mùa nổi ngày càng thu hẹp dần và thậm chí có thể bị lãng quên Vậy, chúng ta có nên chăng duy trì cây lúa mùa nổi? Và việc làm này liệu có giúp chúng ta góp phần giữ gìn được hệ sinh thái tự nhiên hay ít nhất là một nét văn hóa đặc trưng của vùng đồng bằng Nam Bộ? Thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi mong muốn giới thiệu quá trình sản xuất lúa mùa nổi, để thấy ngoài việc mang lại những giá trị lợi ích về kinh tế, bảo vệ môi trường tự nhiên mà qua đó còn thể hiện giá trị và phản ánh văn hóa ứng xử đặc biệt là ứng xử với môi trường tự nhiên qua việc sản xuất lúa mùa nổi của người Việt tại xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh
An Giang
Hiện nay, khi khoa học - kỹ thuật càng phát triển thì con người cũng dần không phụ thuộc vào thiên nhiên nữa mà chuyển sang giai đoạn cải tạo thiên nhiên Nhưng ở mức độ nào đó con người vẫn đang dựa vào khoa học kỹ thuật để tận dụng thiên nhiên và chống chọi với thiên nhiên Chính điều đó đã thể hiện rõ nét văn hóa ứng xử của con người đối với thiên nhiên ngày một đi xuống Chúng ta đã biết, thiên nhiên có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của con người Môi trường tự nhiên
là một bộ phận trong môi trường sống của con người nên cách mà con người ứng xử với tự nhiên phần nào sẽ tạo ra giá trị văn hóa ứng xử đặc thù của con người ở một vùng, miền nơi họ sinh sống
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á với khí hậu nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Tuy nhiên,
tỷ lệ dân số ngày càng tăng đã dẫn đến nhiều hậu quả cho cuộc sống và môi trường
Trang 10Vì con người đã tận dụng tối đa tài nguyên đất làm đất bạc màu và sự can thiệp kỹ thuật – khoa học sử dụng nhiều hóa chất phân bón, thuốc trừ sâu,… đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe con người ngày nay Vì kinh tế riêng mà xem nhẹ môi trường chung Chính điều đó là hậu quả của việc ý thức con người đối với con người và đối với thiên nhiên càng giảm Một trong những nguyên nhân là do thiếu sự quan tâm
yếu tố văn hóa trong khi phát triển ở lĩnh vực nào Như quan điểm của Unesco: “Văn hóa là trung tâm của sự phát triển” Yếu tố văn hóa phải được quan tâm trong mọi
lĩnh vực thì mới phát triển bền vững Hay quan điểm của Đảng và Nhà nước ta nhận
định: “Kinh tế và văn hoá gắn bó với nhau hết sức chặt chẽ: kinh tế không tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hoá và văn hoá không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế Phát triển trên cơ sở kết hợp hài hòa kinh tế và văn hoá là sự phát triển
năng động, có hiệu quả và vững chắc nhất” (Báo cáo của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng Võ Văn Kiệt tại kỳ họp thứ X, Quốc Hội khóa VIII) Qua hai quan điểm trên cho thấy tầm quan trọng của yếu tố văn hóa khi phát triển trong bất kỳ lĩnh vực nào,
có như thế thì mới phát triển một cách bền vững
Ở Việt Nam, đã có không ít những công trình nghiên cứu về văn hóa Tây Nam Bộ, văn hóa các dân tộc ở An Giang Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên qua việc sản xuất lúa mùa nổi của cư dân nơi này
Chính những lý do trên, chúng tôi muốn tìm hiểu cách ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên của người Việt trong hoạt động sản xuất lúa mùa nổi của một vùng văn hóa cụ thể Đồng thời, chúng tôi đặt vấn đề cần thiết để bảo tồn
và phát triển bền vững cây lúa mùa nổi Một mặt để giữ gìn cây lúa truyền thống (lúa mùa nổi) vì không phải nơi đâu cũng sản xuất được Mặt khác, để giữ hoạt động sản xuất lúa mùa nổi đã được hình thành từ bao đời nay và góp phần vào việc tìm hiểu các khía cạnh văn hóa ứng xử với tự nhiên hết sức đặc thù của người Việt ở vùng đất
An Giang Do đó, chúng tôi đã chọn đề tài “Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên
của người Việt qua sản xuất lúa mùa nổi ở xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh
An Giang” để làm luận văn tốt nghiệp Cao học ngành Việt Nam học
Trang 112 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong phạm vi tư liệu mà chúng tôi bao quát, có những công trình trong nước đã đề cập những vấn đề từ khát quát đến cụ thể, hay từ gián tiếp đến trực tiếp liên quan đến đề tài Cụ thể, các tài liệu tham khảo được phân loại như sau:
Thứ nhất: những nghiên cứu về văn hóa Việt Nam nói chung bao gồm một
số công trình của các tác giả như: Đào Duy Anh 1938,2006; Phan Hồng Sơn 1983; Chu Xuân 1993; Trần Ngọc Thêm 1999; Phan Ngọc 2001; Nguyễn Thừa Hỷ 2001 Trần Diễm Thúy 2005; Trần Quốc Vượng 1998, 2013; Lại Phi Hùng, Nguyễn Đình Hòa và Vũ Sơn Hằng (đồng chủ biên) 2013; Ngô Đức Thịnh 2014, 2015,…các tác giả đã trình bày văn hóa Việt Nam một cách cơ bản từ những khái niệm cho đến các thành tố văn hóa Việt Nam một cách có hệ thống Trong đó, đều đề cập đến những luận điểm liên quan đến văn hóa ứng xử môi trường tự nhiên của người Việt một cách tổng quát của con người Việt nói chung và được phân theo vùng văn hóa ở đất nước Việt Nam Các công trình trên chưa có tác giả nào trình bày liên quan đến văn hóa ứng xử qua sản xuất lúa mùa nổi Đây là những gợi ý cơ bản giúp chúng tôi vận dụng trong nghiên cứu văn hóa của đề tài
Thứ hai: những công trình nghiên cứu về Nam bộ của các tác giả như: Sơn Nam 1964, 1992, 1993, 2000; Đoàn Giỏi 1975 Các tác giả đã trình bày lịch sử về vùng đất Nam bộ và đưa ra những luận điểm cũng như nhận định về đời sống, kinh
tế của con người và văn hóa của người Việt ở khu vực Nam bộ Ngoài ra, (cố) GS
Phan Huy Lê (chủ biên) (2016), quyển “Vùng đất Nam Bộ: Quá trình hình thành và phát triển” Công trình này được các tác giả nghiên cứu khá toàn diện trên nhiều lĩnh
vực vủa vùng đất phương Nam, từ không gian địa lý, địa bàn hành chính, quá trình người Việt đã đến vùng đất Nam Bộ và phát triển Đây là những công trình giúp chúng tôi có cơ sở lý luận về sự xuất hiện của người Việt ở vùng đất phương Nam
Tính đến hiện tại các công trình nghiên cứu liên quan về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt như:
Trang 12“Văn hóa ứng xử với môi trường sông nước của người Việt miền Tây Nam Bộ” (2006) luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền Qua công trình
nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những luận điểm về đời sống của con người Việt và cách ứng xử của họ đối với môi trường sông nước ở miền Tây Với kết quả nghiên cứu, tác giả đã góp phần làm phong phú giá trị văn hóa vùng Tây Nam Bộ Với công trình này, tác giả tập trung nghiên cứu văn hóa ứng xử của con người nhưng ở đây là đối với môi trường sông nước Tác giả không đề cập gì đến vấn đề sản xuất lúa mùa nổi
“Văn hóa ứng xử với nắng nóng của người Việt” (2007) luận văn Thạc sĩ
của tác giả Phạm Thị Thúy Nguyệt Trong công trình này, tác giả đã trình bày rất chặt chẽ về văn hóa ứng xử, đã thể hiện rất rõ nét về cách ứng xử của người Việt đối với thời tiết nắng nóng Công trình cũng nghiên cứu về văn hóa ứng xử nhưng là ứng xử của người Việt nói chung và đã tập trung vào một khía cạnh đó là văn hóa ứng xử đối với thời tiết nắng nóng Công trình này cũng không đề cập gì đến việc sản xuất lúa mùa nổi
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa ứng
xử với đối tượng khác nhau Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào đề cập liên quan
đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu như: “Tìm hiểu tri thức dân gian của người Việt vùng U Minh qua cách ứng xử môi trường tự nhiên trong đời sống vật chất” (2009) luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Diệp Mai; “Rượu trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam Bộ” (2009), luận văn Thạc sĩ của Phan Minh Tuấn; “Văn hóa ứng xử với biển của người Việt miền Tây Nam Bộ” (2010) luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Nghị; “Văn hóa ứng xử với không gian của người Việt miền Tây Nam Bộ” (2011) luận văn Thạc sĩ Trần Văn Trường; “Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt miền Tây Nam bộ thông qua không gian cư trú” (2012) của tác giả Trương Thị Lam Hà; “Văn hóa ứng xử với rừng của Xtiêng ở Việt Nam” (2012), luận văn Thạc sỹ của Hoàng Thị Lan; “Thái độ ứng xử của người Việt với tự nhiên trong tín ngưỡng thờ Mẫu” (2013) Nguyễn Hữu Thụ; “Văn hóa ứng xử với thiên nhiên qua không gian ở của người Việt” (2013), luận án Tiến sĩ của Võ Thị Thu Thủy; “Văn
Trang 13hóa ứng xử với môi trường của người Hội An” (2014), luận văn Thạc sĩ của Nguyễn
Văn Đề Các tác giả đã mô tả, phân tích và làm sáng tỏ thái độ ứng xử của người Việt trong các công trình nghiên cứu của mình
Ngoài ra, Tác giả Trần Ngọc Thêm chủ biên sách Văn hóa Việt vùng Tây Nam Bộ (2013) và tái bản (2014), tác giả đã đề cập một cách bao quát về văn hóa ứng
xử của người Việt ở vùng Tây Nam Bộ Trong đó tác giả có nhắc đến cây lúa mùa nổi trong văn hóa lúa gạo của người Việt Tuy nhiên, chỉ được nhắc tới một cách sơ lược về nguồn gốc và giải thích tên gọi
Bên cạnh một số công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử với môi trường
tự nhiên thì chúng tôi cũng đã tìm hiểu một số công trình đã nghiên cứu về văn hóa ứng xử với môi trường xã hội như:
“Văn hóa ứng xử trong quan hệ xã hội của người Nghệ Tĩnh qua một số thành ngữ địa phương” của Nguyễn Trí Sơn trong Nghiên cứu Đông Nam Á (1996),
“Văn hóa ứng xử của tộc người Giẻ - Triêng nhìn từ phong tục hôn nhân” (2005), luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Hùng Khu; “Văn hóa ứng xử trong buôn bán của tiểu thương bán hàng thủ công mỹ nghệ tại Bến Thành ở Quận 1 – Thành phố Hồ Chí Minh” (2008), đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) do Nguyễn Thị Trà chủ nhiệm; “Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ” (2010), luận văn Thạc sĩ của Vũ Thị Huyền Ly; “Blog Việt từ góc nhìn văn hóa ứng xử” (2011), luận văn Thạc sĩ của Cù Thị Thanh Huyền; “Văn hóa ứng xử của người Nam Bộ và người
Mỹ qua lời khen và lời hồi đáp khen” (2011), luận án Tiến sĩ của Trần Kim Hằng;
“Văn hóa ứng xử giữa người Việt và người Hàn Quốc trong công ty Hàn Quốc tại Việt Nam” (2013), luận văn Thạc sĩ của Roh Ji Eun
Những công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử với môi trường được liệt
kê trên tuy không gần gũi với đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhưng các công trình
ấy đã giúp chúng tôi tham khảo, hiểu sâu sắc về những lý luận để vận dụng cho nghiên cứu của mình
Trang 14Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu mà trong đó có đề cập đến những yếu tố liên quan đến đề tài luận văn như:
“Văn hóa đương đại ở Nam Bộ” (2013) của tác giả Hồ Bá Thâm, tác giả
trình bày những thách thức về môi trường, biến đổi khí hậu và những quan điểm về nhận thức đúng đắn việc bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững đồng thời xây dựng và giáo dục văn hóa môi trường sinh thái hiện nay ở Nam bộ Đây là những vấn đề giúp chúng tôi có thêm kiến thức và tư liệu về môi trường và sự nhận thức của con người đối với môi trường sinh thái nói chung và vấn đề về phát triển bền vững
mà đề tài chúng tôi sẽ đề cập đến
“Giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và biến đổi” (2014) của tác giả
Ngô Đức Thịnh, tác giả đề cập đến những giá trị văn hóa trong việc thích ứng và khai thác tài nguyên thiên nhiên Tác giả đã trình bày những giá trị văn hóa nói chung ở Việt Nam chứ không phân theo vùng văn hóa nào
Những công trình có liên quan trực tiếp đề tài luận văn: Đề án về “Bảo tồn lúa mùa nổi ở Tri Tôn, An Giang” do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông thôn
thuộc trường Đại học An Giang cùng với chính quyền địa phương và bà con nông dân xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tiến hành xây dựng kế hoạch nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật phục vụ bảo tồn và phát triển hệ thống cây lúa mùa nổi trên địa bàn nghiên cứu giai đoạn 2013 - 2016 Sau khi triển khai dự
án đến nay Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông thôn đã có được một số kết quả nghiên cứu rất khả quan, và đã từng bước chuyển giao cho cộng đồng dân cư trong vùng lúa mùa nổi Vĩnh Phước Đề án này phần lớn nghiên cứu việc bảo tồn và phát triển lúa mùa nổi ở góc độ kỹ thuật của các chuyên gia về nông nghiệp Với công trình này đã có nhắc đến lúa mùa nổi nhưng công trình được tập trung nghiên cứu về loại cây lúa mùa nổi, sự sinh trưởng, kỹ thuật phát triển giống, phân tích đất trồng Với đề tài luận văn, chúng tôi sẽ nghiên cứu ở góc độ về văn hóa Tức là chúng tôi nghiên cứu về con người ở nơi đây nhưng giới hạn ở khía cạnh văn hóa ứng xử của
họ thông qua hoạt động của người dân trong việc sản xuất lúa mùa nổi
Trang 15Tính đến hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa ứng
xử Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào liên quan đến vấn đề văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên qua sản xuất lúa mùa nổi của người Việt ở xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Chính vì vậy, đề tài của chúng tôi làm luận văn là một đề tài nghiên cứu mới mẻ Kết quả nghiên cứu sẽ đem đến một nguồn tư liệu, một cái nhìn mới về văn hóa ứng xử của người Việt nơi đây Tuy nhiên, vì đây
là đề tài mới nên hạn chế về tài liệu tham khảo mà nguồn tư liệu chính là kết quả của việc đi thực tế điền dã và thâm nhập vào cuộc sống của người Việt có sản xuất lúa mùa nổi để chúng tôi khảo sát và phỏng vấn tại địa bàn nghiên cứu Vì vậy, kết quả nghiên cứu đề tài của chúng tôi sẽ là những luận điểm và nhận định từ việc điền dã
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn mong muốn nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:
Nghiên cứu quá trình sản xuất lúa mùa nổi trên một vùng đất với những đặc điểm tự nhiên độc đáo mang bản sắc vùng rõ nét
Tìm hiểu cách ứng xử của người Việt đối với môi trường tự nhiên qua hoạt động sản xuất lúa mùa nổi Từ đó, chúng tôi đưa ra cứ liệu cho thấy ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên có thể góp phần bảo tồn và phát triển bền vững cây lúa mùa nổi, trong vấn đề cấp bách của xã hội cần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái hiện nay và tương lai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu cách ứng xử với môi trường
tự nhiên của người Việt trong sản xuất lúa mùa nổi và đồng thời đưa ra những kiến nghị, giải pháp để phát triển bền vững cây lúa mùa nổi từ góc nhìn văn hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Lúa mùa nổi được trồng phổ biến ở vùng ngập nông và ngập sâu ở vùng Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười có hơn 0,5 triệu
Trang 16hecta, trong đó 50% được trồng ở vùng An Giang Tuy nhiên, diện tích lúa mùa nổi giảm đáng kể khoảng 80% từ năm 1975 đến 1994 do chính sách đổi mới của nhà nước Năm 2012, diện tích lúa mùa nổi chỉ còn 20 hecta ở xã Lương An Trà và 41,2 hecta ở xã Vĩnh Phước, thuộc huyện Tri Tôn, An Giang; Đồng thời xã Vĩnh Phước đang được chính quyền và nông dân tại địa phương kết hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông thôn của Trường Đại học An Giang thực hiện đề án Bảo tồn lúa mùa nổi giai đoạn 2013 – 2016 Đó là điều kiện thuận lợi để chúng tôi chọn xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, An Giang làm không gian nghiên cứu đề tài
- Thời gian nghiên cứu: người Việt di cư đến xã Vĩnh Phước khai hoang
và sản xuất lúa mùa nổi từ năm 1999 nên chúng tôi chọn móc thời gian nghiên cứu vấn đề từ năm 1999 đến nay
5 Phương pháp và hướng tiếp cận nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp định tính làm phương pháp chính
Phương pháp phỏng vấn sâu: chúng tôi đến xã Vĩnh Phước gặp gỡ cộng
tác viên là những người có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài như: người dân sinh sống tại đây có sản xuất lúa mùa nổi và chính quyền địa phương tại địa bàn nghiên cứu Cuộc phỏng vấn được diễn ra bằng việc đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi (có ghi âm) Qua cuộc phỏng vấn, chúng tôi khai thác những thông tin về vấn đề cần nghiên cứu, đồng thời tổng hợp những ý kiến, nhận định xung quanh vấn đề nghiên cứu Kết quả của phương pháp này được chọn lọc với những nội dung phù hợp và sử dụng trong việc trình bày đề tài
Phương pháp quan sát tham dự: chính là sự tiếp cận với người dân để
quan sát và ghi nhận về hoạt động sản xuất lúa mùa nổi nơi đây đồng thời quan sát
về cách ứng xử của họ đối với tự nhiên Áp dụng phương pháp này chúng tôi thường xuyên đến địa bàn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 12 trong năm để quan sát và tiếp cận cùng với người dân về hoạt động sản xuất lúa nổi, thu thập thông tin từ thực tế
Trang 17Hai phương pháp trên được thực hiện nhằm thu thập thông tin, tri thức từ thực tiễn làm cơ sở cho nhận định, đánh giá về văn hóa ứng xử đối với môi trường tự nhiên và việc phát triển bền vững lúa mùa nổi ở xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, An Giang
Phương pháp phân tích tổng hợp: thu thập dữ liệu liên quan và tiến hành
phân tích dữ liệu so sánh – có đối chiếu thực tế Sử dụng phương pháp bằng cách thu thập dữ liệu và những nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học
về lúa mùa nổi Kết hợp với phương pháp quan sát tham dự để so sánh và dự đoán, đưa ra nhận định của bản thân
Phương pháp tiếp cận tư liệu: Để thực hiện đề tài này, chúng tôi không
chỉ tiếp cận với con người liên quan đến vấn đề nghiên cứu qua phương pháp quan sát tham dự mà còn phải tiếp cận những tư liệu, sách, báo,… liên quan từ lịch sử cho đến hiện tại nhằm góp nhặt những tư liệu cần thiết cho đề tài mình nghiên cứu
Phương pháp khai thác văn bản: Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng
phương pháp khai thác văn bản Sử dụng phương pháp này bằng cách, chúng tôi tìm những văn bản có liên quan từ Chính quyền địa phương tại địa bàn nghiên cứu Sau
đó, xử lý thông tin từ văn bản để làm dữ liệu quan trọng cho vấn đề cần nghiên cứu
Hướng tiếp cận nghiên cứu liên ngành: sử dụng hệ thống tri thức, lý
luận và thành quả của nhiều ngành khoa học khác nhau Đối với đề tài này, tôi sử dụng ngành Việt Nam học là ngành nghiên cứu chính và các ngành bổ trợ khác như: văn hóa học, dân tộc học,…
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần làm rõ vai trò, tầm quan trọng của giá trị văn hóa Việt Nam qua việc ứng xử của người Việt trong hoạt động sản xuất lúa mùa nổi ở xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
Trang 18Ngoài ra, đề tài còn mang một ý nghĩa quan trọng là góp phần tìm hiểu đặc trưng sản xuất lúa mùa nổi, như là đặc thù của văn hóa vùng, địa phương Đồng thời, kết quả nghiên cứu sẽ là cứ liệu cho sự phát triển bền vững của việc sản xuất lúa mùa nổi nhìn từ khía cạnh văn hóa Qua đó, công trình nghiên cứu này cho thấy rằng việc phát triển kinh tế phải đồng thời song hành với việc bảo tồn thiên nhiên Đó cũng
là vấn đề cấp thiết hiện nay Qua những dữ liệu thu thập có thể đưa ra những nhìn nhận khách quan về giá trị văn hóa ứng xử của người Việt đối với môi trường tự nhiên
ở địa bàn xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một tài liệu nhỏ đóng góp cho việc giảng dạy về văn hóa vùng Nam bộ, cho những nghiên cứu về lúa mùa nổi Đồng thời góp phần đưa ra những gợi ý tìm hiểu thêm các vấn đề khác như về văn hóa sản xuất, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt ở Nam bộ nói chung, An Giang nói riêng
Ngoài ra, đề tài còn phản ánh những vấn đề nhận thức của con người về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
7 Bố cục đề tài
Luận văn được chia làm 03 chương, ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo – khảo sát, phục lục kèm theo, nội dung gồm:
Chương 1 Cơ sở lý luận và khái quát địa bàn nghiên cứu Ở chương
này, chúng tôi tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết văn hóa vùng, lý thuyết sinh thái văn hóa và lý thuyết phát triển bền vững vì đây là đề tài về ứng xử với môi trường tự nhiên, thể hiện đặc trưng văn hóa vùng, địa phương và mong muốn phát triển, bảo tồn lúa mùa nổi theo hướng bền vững Bên cạnh đó, chúng tôi thao tác hóa các khái niệm được sử dụng trong đề tài; đồng thời giới thiệu khái quát về sự hình thành vùng đất và dân cư An Giang nói chung, Tri Tôn nói riêng để làm cơ sở triển khai cho vấn đề chính của đề tài
Trang 19Chương 2 Sản xuất lúa mùa nổi của người Việt ở xã Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang nhìn từ văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên Bên cạnh miêu
tả, chúng tôi phân tích cách ứng xử của con người đối với môi trường xã hội, con người đối với môi trường tự nhiên qua việc trồng lúa canh tác nhiều vụ và trồng lúa mùa nước nổi để thấy được giá trị văn hóa trong ứng xử
Chương 3 Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vùng qua sản xuất lúa mùa nổi của người Việt ở xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang hiện nay
Trong chương này, từ những giá trị mang lại lợi ích cho người dân đưa ra những định hướng thích ứng trong sản xuất lúa mùa nổi và đề xuất một số giải pháp để bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa từ sản xuất lúa mùa nổi của người Việt ở địa bàn Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang
Trang 20CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
để đánh giá một cá nhân hay một người nào đó có kiến thức phổ thông tới đâu hay
“văn hóa Óc Eo, văn hóa Đông Sơn,…” dùng để chỉ trình độ phát triển chuyên biệt của một giai đoạn thời gian cụ thể Ngoài ra, trên thế giới còn rất nhiều định nghĩa về
“văn hóa” theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau
Qua tham khảo những nguồn tài liệu, chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả Trần Ngọc Thêm về văn hóa dựa trên những đặc trưng cơ bản và những nét riêng tiêu biểu của nó một cách rõ ràng tổng quát để làm cơ sở lý luận cho luận văn
Ông cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (Trần Ngọc Thêm,
1999, tr.10)
Ứng xử là một từ ghép của hai từ “ứng” và “xử” Trong đó, từ “ứng” có nghĩa là ứng phó, ứng đáp, ứng đối, ứng biến; và từ “xử” có nghĩa là xử
sự, xử lí, xử thế,… Ứng xử là thái độ, hành vi, lời nói thích hợp trong quan
hệ giao tiếp giữa người với người, giữa người với thiên nhiên (“Khái quát chung về giao tiếp - ứng xử”, n.d.)
Ở góc độ chuyên gia tâm lý học, ứng xử là một khoa học nghiên cứu những tri thức tâm lý cần thiết để phản ứng sự tác động của một tình huống giao tiếp cụ thể,
Trang 21lựa chọn thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng thích hợp nhằm diễn đạt kết quả trong giao tiếp giữa người với người
Tuy nhiên, những cách giải thích từ ứng xử trên vẫn chưa thật đủ vì chỉ đứng ở một khía cạnh đó là con người ứng xử với con người mà nó còn để chỉ cách ứng xử của con người với tự nhiên ví dụ như cách ứng xử của con người với cái nắng nóng, cách ứng xử của con người với địa hình sông nước… Nghĩa là con người phản ứng hay ứng phó, thích ứng linh hoạt sáng tạo như thế nào trong môi trường tự nhiên nữa chứ không riêng chỉ ứng xử giữa con người với con người
Tóm lại, từ những quan điểm trên đồng thời dựa vào định nghĩa văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm, theo chúng tôi có thể hiểu “Văn hóa ứng xử” là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần được tạo nên bởi cách ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội và với chính bản thân con người qua quá trình hoạt động thực tiễn
1.1.1.2 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên
Theo cấu trúc của hệ thống văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm (1999) bao gồm bốn thành tố cơ bản: (1) văn hóa nhận thức, (2) văn hóa tổ chức cộng đồng, (3) văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và (4) văn hóa ứng xử với môi trường xã hội (tr.17)
Theo tác giả Trần Ngọc Thêm (1999), cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường – môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu,…) và môi trường xã hội (các dân tộc, quốc gia khác) Cho nên cấu trúc văn hóa còn chứa thêm hai tiểu hệ liên quan đến thái độ của cộng đồng với hai loại môi trường đó là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên
và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội (tr.16)
Tuy nhiên, với đề tài nghiên cứu, chúng tôi tập trung đến thành tố thứ ba
Đó là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên
Trang 22Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên là văn hóa ứng xử hay văn hóa trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên như đất, nước, sinh vật, khí hậu,… để tận dụng tự nhiên, thích ứng với thiên nhiên Là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong lối sống, cách nghĩ được tích lũy qua quá trình tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên
1.1.1.3 Lúa mùa nổi và sản xuất lúa mùa nổi
a) Lúa mùa nổi
Lúa mùa nổi hay còn gọi là lúa nổi Đây là một loại lúa địa phương truyền thống, là nguồn cung cấp dinh dưỡng chính cho người dân vùng ngập lũ ở đồng bằng sông Cửu Long Lúa mùa nổi là một loại lúa vượt nước tốt có thể chịu ngập từ 1,5 – 4,0 mét, là loại lúa sạch thích hợp trồng ở vùng ngập nông và ngập sâu như vùng Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, nơi có lũ về hàng năm Lúa mùa nổi chịu hạn ban đầu tốt, chống chọi được nước lũ và có khả năng sinh sống trong điều kiện phèn nặng, ít bị ảnh hưởng bởi côn trùng và bệnh hại, canh tác đơn giản và không sử dụng hóa chất nông nghiệp
Qua nghiên cứu, chúng tôi thu thập những tên gọi và cách giải thích từ người nông dân như sau:
Lúa mùa nổi còn có nhiều tên gọi khác như lúa mùa, lúa thuần địa phương, lúa nổi, lúa sông lớn hay lúa sạ Người Pháp gọi lúa mùa nổi này là Riz flottant
Sở dĩ nông dân gọi lúa này là lúa mùa nổi, lúa nổi vì loại cây lúa này được trồng vào mùa nước nổi Hay cái tên lúa vượt nước, chạy nước được giải thích là vì lúa này có đặc tính vươn lóng, thân dài vươn theo mực nước khi lũ dâng lên Thường thì nước lũ dâng đến đâu, cây lúa nổi vượt nước lên đến đó Còn tên gọi sông lớn là gọi theo nghĩa sông Mê–kông Trong dân gian lúa mùa nổi còn được gọi là lúa sạ vì loại lúa này được sạ thẳng chứ không cấy như lúa bình thường
Trang 23Sản xuất lúa mùa nổi
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Vì vậy, sản xuất lúa mùa nổi là một quá trình nhằm tạo
ra hạt lúa để sử dụng hoặc trao đổi trong thương mại Quá trình ấy trải qua nhiều giai
đoạn, từ lúc chuẩn bị gieo sạ cho đến khi thu hoạch
Trong quá trình sản xuất lúa mùa nổi, người nông dân đã thích ứng và sáng tạo trong môi trường tự nhiên Từ đó, đã hình thành một nét văn hóa rất đặc trưng đó
là văn hóa sản xuất lúa mùa nổi
Trang 24tạp, từ chưa hoàn thiện tới hoàn thiện hơn Tuy nhiên, trong sự phát triển của xã hội loài người đã làm nảy sinh một số vấn đề, trong đó có tiêu dùng một cách quá mức của cải, tài nguyên, vấn đề về thiên tai, lũ lụt, ô nhiễm và sự cố môi trường,… ngày càng tăng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội, gây cản trở đối với phát triển kinh tế, giảm sút, đe dọa chất lượng cuộc sống hiện tại và tương lai Đứng trước thực tế khắc nghiệt này, con người không còn cách nào khác là phải xem xét lại hành vi ứng xử của mình với thiên nhiên, với xã hội, chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội và tiến trình phát triển của mình Vì vậy, áp lực lớn nhất là làm thế nào để có thể phát triển một cách toàn diện không chỉ về kinh tế, xã hội mà còn giữ gìn văn hóa
và bảo vệ được môi trường Và cũng chính từ đó thuật ngữ “phát triển bền vững” bắt đầu xuất hiện Tuy nhiên, dưới nhiều góc độ khác nhau, khái niệm về sự phát triển bền vững được hiểu một cách khác nhau
Thuật ngữ “phát triển bền vững” đã được giới thiệu lần đầu tiên bởi Hiệp hội Bảo Tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) Họ cho rằng “sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Để làm rõ hơn khái niệm trên, Ủy ban Thế giới về môi trường
và phát triển (WCED) (1987) đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững là
“sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” (Trần Thị Nhung & Võ Dao Chi, 2013, tr.11)
Theo Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) thì “phát triển bền vững bao hàm các vấn đề hợp nhất, bảo tồn và phát triển; thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của con người; đạt được công bằng và công lý xã hội; bảo đảm sự tự quyết xã hội
và tính đa dạng văn hóa; duy trì sự toàn vẹn sinh thái”
Một quan điểm khác về “phát triển bền vững” có song hành với yếu tố văn hóa vì “văn hóa là trung tâm điều tiết sự phát triển” (Theo quan điểm của UNESCO) Chính vì vậy, mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ra nhưng lại tách rời với môi
Trang 25trường văn hóa thì kết quả thu được sẽ mất cân đối không chỉ về kinh tế mà lẫn văn hóa, đồng thời tiềm năng sáng tạo của mỗi dân tộc sẽ bị suy yếu đi rất nhiều
Ngoài ra, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt tại kỳ họp thứ X, Quốc Hội khóa VIII trong báo cáo cũng cho rằng “Kinh tế và văn hoá gắn bó với nhau hết sức chặt chẽ: kinh tế không tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hoá
và văn hoá không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế Phát triển trên cơ sở kết hợp hài hòa kinh tế và văn hoá là sự phát triển năng động, có hiệu quả và vững chắc nhất”
Chính vì vậy, thuyết phát triển bền vững đã đưa ra những lý luận về phát triển sao cho bền vững chứ không chỉ là phát triển ở một giai đoạn rồi làm tổn hại đến các thế hệ sau Với những hậu quả, sự tồn tại đã và đang phát triển như hiện nay,
lý thuyết phát triển bền vững sẽ là cách tiếp cận nhằm phát triển theo hướng bền vững
ở mọi lĩnh vực đáp ứng một cách có hiệu quả cho tương lai Thuyết phát triển bền vững là cách tiếp cận để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển với nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và suy thoái môi trường Muốn phát triển bền vững cần có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa các mặt của sự phát triển đó là phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đồng thời bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của thế hệ hiện tại không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ tương lai
Tóm lại, phát triển bền vững phải đảm bảo kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường cụ thể như: Một là phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội phải gắn với nhau; hai
là sự phát triển cá nhân phải gắn với sự phát triển cộng đồng; ba là phát triển phải trong mối quan hệ giữa hiện tại và tương lai; bốn là phải đảm bảo lợi ích của con người và lợi ích của môi trường Vì đề tài nghiên cứu có đề cập đến vấn đề bảo tồn cây lúa mùa nổi Từ đó bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa qua sản xuất lúa mùa nổi theo hướng phát triển bền vững nên chúng tôi muốn làm rõ khái niệm và quan điểm
về phát triển bền vững để tiếp cận vấn đề
Trang 261.1.2 Lý thuyết tiếp cận
1.1.2.1 Lý thuyết vùng văn hóa
Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử,
có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác (Ngô Đức Thịnh, 2009)
Lý thuyết vùng văn hóa của nhân chủng học Mỹ ra đời vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đại diện chính là C.L Wissler và A.L Krober Cách tiếp cận này nhằm nhận ra diện mạo sắc thái văn hóa chung của một vùng một địa phương nào đó
mà nó là kết quả của nhiều nhân tố như: tự nhiên, lịch sử và xã hội Trong đó, môi trường tự nhiên và các hoạt động sản xuất của dân cư là nhân tố đầu tiên phải kể đến Thực vậy, môi trường đồng bằng, núi, cao nguyên hay duyên hải thì sẽ kèm theo hoạt động kinh tế tương ứng đó là săn bắt, hái lượm, làm nương rẫy, đánh cá, làm ruộng nước,… Chính vì điều đó đã tạo nên sắc thái văn hóa cho vùng Tuy nhiên, trong một vùng văn hóa có thể có nhiều tiểu môi trường cảnh quan như đồng bằng, núi, biển và kèm theo đó là những hoạt động khác nhau thì trong đó vẫn thấy loại cảnh quan và hoạt động sản xuất nào là chủ đạo Trong một vùng văn hóa có thể có nhiều dân tộc cùng sinh sống và để tạo nên những đặc trưng văn hóa chung của vùng thì trong quá trình lịch sử giữa các tộc người đã có mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng sống động
Và hiển nhiên, trong một vùng văn hóa chỉ có một tộc người sinh sống thì tính thống nhất văn hóa có ngay từ cội nguồn (Ngô Đức Thịnh, 2009, tr.16-17)
Chúng tôi tiếp cận lý thuyết này vì đề tài có đề cập đến hoạt động sản xuất của người Việt ở vùng ngập sâu tại xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn đó là sản xuất lúa mùa nổi và có mối liên quan đến môi trường tự nhiên
Trang 271.1.2.2 Lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural ecology)
Đề cập lý thuyết sinh thái văn hóa không thể không nhắc đến một nhà nhân học Mỹ Julian Steward (1902 - 1972) là người làm nổi bật cách tiếp cận nghiên cứu
về sự tương tác giữa tự nhiên và văn hóa Theo ông, nghiên cứu sinh thái văn hóa là phải phân tích mối quan hệ giữa một nền văn hóa và môi trường của nó với mục đích
là tìm hiểu những biến đổi xã hội bên trong mang tính chất tiến hóa phải bắt đầu từ
sự thích nghi với môi trường để biến thành một nền văn hóa tĩnh (Nhân học đại cương, 2013, tr.48)
PGS.TS Phan Thị Yến Tuyết (2015) đã phát biểu rằng: Sinh thái văn hóa của một tộc người là sự nhận thức về thế giới quan, phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt, cấu trúc xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán…Trong đó, con người phải thích nghi với môi trường sinh thái tự nhiên, bao gồm đất đai, sông suối ao hồ, rừng rậm, biển cả,…cùng với hệ thống động thực vật, điều kiện khí hậu và các nguồn tài nguyên tự nhiên khác Thông qua sự nhận thức hợp lý về môi trường sinh thái tự nhiên, con người quyết định phương thức sản xuất và lựa chọn hình thức cư trú, hành
vi ứng xử và khế ước nhất định với giới tự nhiên Khi con người càng chưa hiểu biết nhiều về đời sống tự nhiên, chưa làm chủ khoa học kỹ thuật thì con người càng phụ thuộc vào thế giới siêu nhiên, môi trường tự nhiên (tr.9-10)
Sinh thái văn hóa còn là những dạng thức văn hóa được hình thành và phát triển tương ứng với những môi trường nhất định như đồng bằng châu thổ, miền núi, cao nguyên, biển đảo,…vì bất cứ ai cũng đều trải qua quá trình sinh sống trong một môi trường tự nhiên cụ thể nào đó, để sinh tồn con người sẽ dùng văn hóa để tận dụng thích nghi với những gì có sẵn ở chung quanh họ
Chúng tôi vận dụng lý thuyết sinh thái văn hóa nhằm để tiếp cận cách người Việt tại địa bàn nghiên cứu vùng văn hóa ứng xử của mình để tận dụng và thích nghi với môi trường sinh thái mà họ đang sinh sống như thế nào
Trang 281.2 Khái quát về vùng An Giang
1.2.1 Đặc điểm không gian vùng An Giang
An Giang có diện tích tự nhiên khoảng 3.424 km2, dân số khoảng 2.158.300 người (năm 2015) là tỉnh nằm ở phía Tây Nam bộ, có đường biên giới chung với nước Campuchia gần 100km, là cửa ngõ thông thương với các nước Lào, Campuchia, Thái Lan,… là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có phía Bắc, Tây Bắc giáp vương quốc Campuchia, phía Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ, phía Đông giáp Đồng Tháp; đồng thời, An Giang là một trong những tỉnh có diện tích đất canh tác lớn nhất trong vùng đồng bằng sông Cửu Long Tổng
Hình 2: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang Nguồn: (Truy cập ngày 13/10/2018)
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_h%C3%A0nh_ch%C3%ADnh_t%E1%BB%89nh_An_Giang.jpeg
Trang 29diện tích đất nông nghiệp là 246.821 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 82% (233.018ha), điều này đã tạo nên thế mạnh cho An Giang về sản xuất lúa (Địa chí An Giang, 2013, tr.175) An Giang bao gồm hai thành phố: thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc và 9 huyện, thị: Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, Tân Châu, An Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Tịnh Biên và Tri Tôn
Đất ở An Giang có thể chia thành 3 nhóm chính, đó là nhóm đất phèn, nhóm đất phù sa và nhóm đất đồi núi Nhóm đất phèn ở An Giang phân bố nhiều ở Tri Tôn 20.252 ha, chiếm hơn 67% tổng diện tích đất phèn trong tỉnh An Giang Đất
ở An Giang có đặc điểm như thế vì là kết quả của quá trình tranh chấp giữa biển và sông ngòi trong quá khứ, mỗi vùng trầm tích trong môi trường khác nhau sẽ tạo nên một nhóm đất khác nhau với những thay đổi về chất đất, địa hình, hệ sinh thái và tập quán canh tác
Vào những năm 80, để miêu tả về không gian An Giang, Doãn Uẩn khi đến nhậm chức Tuần phủ An Giang đã nói như sau “Vào mùa đông, lụt rút, gió êm, mưa rít, nước trong, cát trắng, hai bên bờ sông cỏ mọc xanh tươi, cá tôm bơi lội trên mặt nước đày đặc, cò đậu ở đầy ghềnh, từng đàn bay tán loạn Trong khi, thuyền buồm chiều về đến, mặt trời sắp lặn, thôn sớm mờ dần sau bóng cây Chỗ tôi làm việc
ra mấy bước thì tới sông Về chiều tôi đi chiếc thuyền con dạo chơi, ngắm cảnh trí một bức tranh họa, thưởng ngoạn lâu mà vẫn không chán Đến lúc trở về, dừng chéo trước cửa, buộc thuyền lên bờ, thì trăng đã lên cao trên núi ở phía Tây, ánh sáng trong trẻo, cảnh ấy tình này làm cho lòng tôi khoan khoái” (Võ Thành Phương, 2014, tr.83)
Tóm lại, An Giang không chỉ có vị trí địa lý vô cùng đặc biệt mà còn có
đa dạng tài nguyên thiên nhiên Với đặc điểm của quy luật tự nhiên về kiến tạo địa chất, vùng đất An Giang được hình thành với nhiều loại đất khác nhau Chính vì vậy, khi người Việt đến với vùng đất An Giang, họ phải thích ứng trên mỗi loại đất mà họ chọn canh tác Từ đó, hoạt động sản xuất của con người An Giang trở nên phong phú
về tập quán canh tác
Trang 301.2.1.1 Địa hình
Địa hình đồng bằng ở An Giang có hai loại chính đó là đồng bằng phù sa
và đồng bằng ven núi
Theo Địa chí An Giang (2013):
Đồng bằng phù sa: có đặc tính như độ nghiêng nhỏ, độ cao khá thấp và tường đối phẳng Đồng bằng phù sa có 3 loại hình dạng: dạng cồn bãi (hay còn gọi là cù lao) như cù lao Mỹ Hòa Hưng, cù lao Giêng, …; dạng lòng chảo là địa hình có hai bờ sông cao hơn và thấp dần vào về phía đồng ruộng như huyện Phú Tân; dạng hơi nghiêng Ngoài ra, còn một dạng phụ nằm trong khu vực dạng lòng chảo, được hình thành do sự kết nối đan xen các bãi bồi ven các sông nhánh và các rạch tự nhiên đã bị phù sa sông bồi lấp, đó là dạng sóng gợn, dạng địa hình này không nhiều tập trung ở cù lao Vĩnh Trường huyện An Phú, Vĩnh Xương và Vĩnh Hòa của Thị xã Tân Châu
So với hơn 200 năm trước, đồng bằng phù sa ở An Giang không còn những thảm rừng tràm, cánh đồng lau sậy hoang vu mà nay đã khai thác gần hết để trồng lúa và màu, từ một đến hai, ba vụ trong năm Đồng bằng còn được chia cắt bởi hệ thống kênh, rạch, các tuyến đường giao thông, hệ thống đê bao và khu dân cư tập trung
Bên cạnh đó, An Giang còn có địa hình đồng bằng ven núi phân làm hai kiểu: sườn tích (Deluvi) và đồng bằng phù sa cổ Kiểu sườn tích hình thành trong quá trình phong hóa và xâm thực từ các núi đá, sau đó được nước mưa bào mòn và rửa trôi, rồi được dòng chảy lũ theo các khe suối chuyển tải xuống các chân núi và tích tụ mà thành Nó có đặc tính hẹp
và hơi nghiêng, bị chia cắt bởi các khe suối, rãnh nhỏ có độ cao khoảng 5 đến 10 mét và không được phù sa bồi đắp Phần lớn tập trung ở quanh chân núi Cô Tô, núi Dài và núi Cấm
Trang 31Địa hình đồng bằng ven núi kiểu phù sa cổ ở An Giang không nhiều tập trung chủ yếu ở xã An Cư và Vĩnh Trung, Tịnh Biên, có đặc tính là nhiều bậc thang với độ cao khác nhau nhưng không chênh lệch nhiều giữa các bậc và mỗi bậc bằng phẳng, không có độ nghiêng
Hiện tại, các cánh đồng ven núi ở An Giang đã được khai phá hầu hết để trồng lúa, màu, cây ăn quả,…Đây cũng là nguyên nhân nguy cơ xói mòn dần và sa mạc hóa bởi sự giảm sút nhiều về mật độ cũng như chủng loại thực vật (tr.142-144)
1.2.1.2 Thủy văn
Theo Địa chí An Giang (2013) cho rằng:
Do nằm ở vị trí trung tâm của hạ lưu lưu vực sông Mê-kông và có hệ thống sông ngòi và kênh rạch chằng chịt, do đó bị tác động đầy đủ của các quá trình thủy văn Ở An Giang có dòng chảy mùa lũ, nguyên nhân chính là
do ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới, hoạt động của các giải hội tụ, đường đứt và các nhiễu động hoàn lưu khác có khả năng gây ra mưa lớn trên bề mặt lưu vực sông Mê-kông kết hợp với đóng góp của lượng mưa tại chỗ và tác động của thủy triều Hằng năm, tùy theo cường độ hoạt động của các nguyên nhân trên mà sinh ra lũ to hay nhỏ trên đồng bằng sông Cửu Long nói chung, An Giang nói riêng
Sau khi trải qua thời gian khô hạn kéo dài, bề mặt lưu vực sông kông khô nức nẻ, kết hợp với sự điều tiết của biển Hồ và các vùng trũng khác nên tuy những trận mưa đầu mùa khá lớn tháng 5 và tháng 6 nhưng vẫn chưa đủ khả năng sản sinh dòng chảy lũ lớn Đến tháng 7 và tháng 8 thường có các nhiễu động nhiệt đới hoạt động gây ra mưa to và dài ngày làm lũ xuất hiện những trận lũ đầu mùa ở cả trung và hạ lưu sông Mê Kông Vào thời gian này, ở An Giang do nước sông còn chảy gọn trong lòng chính nên khả năng tập trung lũ nhanh, làm xuất hiện các trận lũ đầu mùa dọc sông Tiền và sông Hậu lên với cường suất từ 10 – 20cm/ngày,
Trang 32Mê-biên độ lũ có năm lên tới 2mét50 Sau khi đạt tới đỉnh lũ thì mực nước hai sông xuống chậm dần trong khoảng 10 đến 15 ngày với biên độ xấp xỉ 1m, rồi tiếp tục lên cho tới khi đạt tới đỉnh lũ lớn nhất năm
Lũ sông Cửu Long là do tổng hợp của quá trình lũ góp từ trung và thượng lưu sông Mê-kông dồn về nên độ dốc lũ và cường suất lũ thuộc loại nhỏ Trên địa bàn An Giang, nhìn chung có dạng tổng quát là vào đầu mùa mưa nước sông lên nhanh, độ dốc lũ và cường suất lũ lớn nhất năm thường xuất hiện vào lúc này Lũ lên và dần chảy tràn vào các vùng trũng, sau đó giữ mức ổn định từ 2cm đến 4cm/ ngày cho đến đỉnh lũ lớn nhất năm Thời gian lũ xuống với cưởng suất nhỏ khoảng từ 2cm đến 4 cm/ngày
và giảm dần cho đến cuối tháng 12 Có lẽ vì đặc điểm về độ dốc và cường suất lũ lúc lũ lên và lũ xuống không mang tính “thần tốc” như lũ nơi khác nên một số khoa học gọi lũ sông Cửu Long là lũ hiền Đây cũng là một trong những yếu tố trở thành quê hương của cây lúa nổi, nhà sàn, cá linh,… đặc trưng ở miền Tây Nam Bộ nói chung, An Giang nói riêng.(tr.142-144)
1.2.1.3 Sinh vật
Địa chí An Giang (2013) cho biết:
Khi xưa, thảm thực vật ở An Giang rất đa dạng, nó không chỉ nhiều về số lượng mà còn nhiều về chủng loại Tiềm năng đa dạng thực vật ở đây đã
có sự biến đổi lớn qua nhiều thế kỷ do tác động của con người, thể hiện qua sự chuyển từ các hệ sinh thái đất ngập nước (như rừng ngập mặn, đầm lầy và rừng tràm vùng trũng) và hệ sinh thái rừng trên đồi núi thành hệ sinh thái nông nghiệp Với áp lực về dân số nên nhu cầu lương thực và nhu cầu khác từ rừng tăng cao, đồng thời do hậu quả của chiến tranh tàn khốc trước đây đã thúc đẩy nhanh sự suy thoái của các hệ sinh thái này và ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi đa dạng thực vật
Hệ thực vật ở An Giang bao gồm thảm thực vật tự nhiên và thảm thực vật canh tác: Thảm thực vật tự nhiên gồm thảm thực vật đồi núi, thảm
Trang 33thực vật đất ngập nước, bưng trũng, thảm thực vật trên vùng đất hoang hóa, thảm thực vật tự nhiên trên đất canh tác, thảm thực vật ven sông rạch
và thực vật nổi Thảm thực vật đồi núi tập trung chủ yếu ở vùng Bảy Núi thuộc hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một số ít ở Châu Đốc và Thoại Sơn Đến thế kỷ thứ XVII, nơi đây vẫn còn là vùng đất hoang vu, chủ yếu là rừng rậm với nhiều loại gỗ quý Nhưng do tác hại tàn phá của chiến tranh
và khai thác con người, thảm thực vật vùng đồi núi An Giang đã giảm sút
cả số lượng lẫn chất lượng dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và kinh tế; thêm vào đó do dân số tăng, từ đó tăng về nhu cầu lương thực nên con người phải trồng tỉa hoa màu, cây ăn vô hình chung tạo nên những thảm thực vật nhân tạo thay thế thảm thực vật tự nhiên
Thảm thực vật đất ngập nước, bưng trũng ở địa hình trũng thấp nằm
ở phía Tây Nam và thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên Thực vật chiếm ưu thế ở vùng này trước kia là tràm thuộc họ sim mọc ở vùng trũng thấp thuộc hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên trên một số diện tích đất phèn và than bùn Ngoài ra, còn có hơn một trăm loài thực vật thuộc họ khác nhau, trong đó
có nhiều loài có giá trị phát triển và khai thác Thảm thực vật này có vai trò ngăn cản oxid hóa khoáng sinh phèn và khoáng phèn ở tầng đất dưới, đồng thời góp phần điều hòa khí hậu, độ ẩm, cản dòng chảy và giữ phù sa Thảm thực vật canh tác bao gồm hệ canh tác lúa cao sản, hệ canh tác lúa nổi, hệ canh tác lúa ruộng trên, hệ canh tác màu và hệ canh tác cây ăn trái Trong các nguồn tài nguyên thực vật ở An Giang, cây lúa chiếm ưu thế, đặc biệt là những giống cao sản ngắn ngày có chất lượng cao phục vụ mục tiêu xuất khẩu Ngoài ra, An Giang còn có nguồn thực vật phong phú dùng làm vật liệu xây dựng như tràm, bạch đàn; những cây gỗ có giá trị làm đồ dân dụng như gõ mật, căm xe, giáng hương, sao, dầu, xà cừ,…; những loài cây có thể dùng làm nguyên liệu phát triển tiểu thủ công nghiệp như mặc nưa, thốt nốt Ở hai khu vực Tri Tôn và Tịnh Biên còn có nhiều
Trang 34loại cỏ mọc tự nhiên dùng làm thức ăn cho bò có chất lượng như cỏ mật,
cỏ voi, cỏ chỉ, đuôi phụng,… (tr.194 - 207)
Về hệ động vật: trước đây ở Bảy Núi nổi tiếng là nhiều loại chim muông và thú rừng Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí cho biết nơi đây có nhiều hươu, nai, hổ, báo, cáo, vượn, khỉ; ngoài ra, còn có phượng hoàng, quạ,…Tuy nhiên, ngay nay hầu như không còn nữa Hiện nay, hệ động vật phổ biến ở An Giang được chia làm hai loại: hệ động vật
tự nhiên và hệ động vật nuôi Hệ động vật tự nhiên như: các loài rắn, dơi, tôm, cá, cua, cá sấu, chuột,… đặc biệt là cá tra, cá ba sa, cá bông lau được xem là đặc sản của An Giang Hệ động vật nuôi chủ yếu là bò, heo, gà, vịt,
cá, tôm, ếch, lươn,… Thủy sản được xác định là thế mạnh ở An Giang Vì vậy, nghề nuôi cá bè, nuôi cá ao hầm, nuôi trong chân ruộng,… cũng được phát triển (tr 209)
Do vị trí địa lý ở An Giang thuận lợi nên hàng năm vào tháng 7, tháng 8 nước lũ về là thời điểm các loài cá nước ngọt đẻ rộ Khi dòng chảy lũ xuất hiện sẽ quy tụ trứng và cá con mới nở từ các cánh đồng, thủy vực Campuchia tràn vào An Giang làm phong phú thêm nguồn lợi thủy sản nội tại
1.2.1.4 Khí hậu
Khí hậu ở An Giang có nhiều thuận lợi cho các hoạt động sản xuất – đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên cũng có nhiều hiện tượng khí hậu và thời tiết gây khó khăn Ở An Giang có khí hậu nóng ẩm quanh năm, có thể phân thành hai mùa: mùa mưa và mùa khô do chịu ảnh hưởng của hai mùa gió là gió mùa Tây Nam
và gió mùa Đông Bắc, mưa đủ, nắng nhiều, ít có thiên tai và thời tiết thất thường Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Tuy nhiên, chỉ có tháng 11 là có lượng mưa ổn định nhất, các tháng khác như tháng 6, 7,
8 thì số ngày mưa cũng như thời gian mưa rất biến động Điều đó đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 trong đó có tháng 1, 2
và 3 là ít mưa nhất (có chỉ 2-3 ngày mưa) Các số liệu thống kê nhiều năm còn cho
Trang 35thấy cứ từ 4 đến 6 hoặc 7 năm một lần, có tháng không có giọt mưa nào Về mặt sinh thái, hai tháng khô liên tiếp sẽ gây ra tình trạng thiếu nước cho cây cối, đất bị khô nẻ
và giao động mực nước ngầm lớn, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp (Lê Bá Thảo,
1986, tr.41-42)
An Giang có vĩ độ thấp nên nhận được nhiều năng lượng nhiệt của mặt trời trong suốt năm Chính vì vậy, An Giang có nền nhiệt độ cao trong suốt bốn mùa Các luồng không khí do gió mùa đem tới đều là những luồng không khí có nguồn gốc
ở nhiệt đới hay xích đạo nóng và ẩm Nhiệt độ trung bình tháng ở An Giang không những cao mà còn rất ổn định, thường cao hơn 10C so với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Lê Bá Thảo, 1986, tr.41-42)
1.2.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội vùng An Giang
Đất An Giang là điểm dừng chân cuối cùng của lưu dân người Việt đến đồng bằng sông Cửu Long trong suốt gần một thế kỷ từ khi Nguyễn Hữu Cảnh dừng chân ở cù lao Cái Sao (năm 1700) đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi (năm 1802) Từ buổi
sơ khai, lưu dân chưa đông, xóm làng chưa nhiều Tỉnh An Giang được thành lập từ năm 1832 qua nhiều giai đoạn tách nhập đến nay gồm các đơn vị hành chính trực thuộc là thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, thị xã Tân Châu và 8 huyện: Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, với hơn 140 đơn vị hành chính cơ sở gồm 11 phường, 11 thị trấn và 118 xã (Võ Thành Phương, 2014)
Võ Thành Phương (2014) cho rằng:
Trước khi Chúa Nguyễn thiết lập chính quyền đầu tiên ở An Giang, thì nơi đây là đất Tầm Phong Long, là nơi rất hoang vắng do chính quyền Chân Lạp quản lý lúc bấy giờ Trước khi Nguyễn Hữu Cảnh vào thiết lập chính quyền của Chúa Nguyễn vào năm 1698 thì đã có những nhóm người Việt đến vùng đất An Giang khai hoang, sinh cơ lập nghiệp sống rải rác ở hai bên bờ sông Tiền và sông Hậu Năm 1757, để tạ ơn Chúa Nguyễn giúp Chân Lạp gạt ảnh hưởng Xiêm, Nặc Tôn đã dâng đất Tầm Phong Long
Trang 36cho chúa Nguyễn Lúc này, An Giang là dải đất cuối cùng của Nam bộ được xác lập về hành chính Năm 1779, Nguyễn Ánh cai trị chung Nam
bộ gọi là Phủ Gia Định, được chia thành nhiều trấn như: Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định và Định Tường), Trấn Long Hồ (Vĩnh Long
và An Giang) và Trấn Hà Tiên Năm 1832, Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh Khi ấy, toàn nước Đại Nam có 31 tỉnh Riêng Gia Định chia thành 6 tỉnh (còn gọi là Nam kỳ lục tỉnh): Biên Hòa, Định Tường, Gia Định, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên Địa giới tỉnh An Giang thời ấy rất rộng so với ngày nay Do các biến động lịch sử, các cuộc chiến tranh xung đột, chính sách di dân lập làng, chính sách khai thác thuộc địa chủ nghĩa thực dân đã làm cho dải đất An Giang từ lúc định hình cho đến nay (1757 - 2015) luôn luôn thay đổi địa danh lẫn địa giới (tr.5-10)
Vào thế kỷ XIX, do sự mâu thuẫn giữa Trịnh – Nguyễn khốc liệt, thêm sưu cao thuế nặng, người dân càng rơi vào cảnh khốn cùng Vì sinh tồn, họ không còn cách nào khác hơn là rời bỏ quê hương đi tìm kế sinh nhai Trong số những người tìm đến vùng đất lạ có nhiều hạng người khác nhau, người thì trốn binh dịch, thuế má, đào ngũ, người có tiền cũng muốn tìm nơi đất mới để làm ăn sinh lợi Nhưng phần lớn là nông dân nghèo khổ từ khắp miền Trung vào Nam bộ Vùng đất định cư đầu tiên là Biên Hòa và Gia Định Về sau, lưu dân tìm đến cửa sông Tiền, sông Hậu trú ngụ, khai phá ruộng đất lập thêm ấp dọc theo bờ sông hay cù lao Khi
ấy, đất Nam bộ toàn là rừng rậm, sông, rạch chằng chịt nên đi lại rất khó khăn Đồng thời họ còn phải chóng chọi với thú dữ và bệnh tật vì nơi đây còn rất hoang vu:
“Tới đây xứ sở lạ lùng
Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê”
Và “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Xuống sông sợ đỉa, lên rừng sợ ma” (tr.29)
Trang 37Vào thời Nguyễn, triều đình cho tổ chức khai hoang ở Nam bộ nói chung và An Giang nói riêng là nhằm mở mang đất đai, cày cấy để sản xuất lương thực, đảm bảo nguồn lợi đồng thời cũng bảo vệ quốc phòng vùng biên giới Nhà Nguyễn đã khuyến khích, đưa dân đến cư ngụ khẩn hoang, lập làng Đây cũng là nguồn nhân lực bổ sung vào quân đội khi có chiến tranh (tr.29)
Triều Nguyễn đã có nhiều biện pháp khác nhau khuyến khích mọi người
đi khai hoang với thủ tục đơn giản Dân được tự do chọn nơi khai hoang rồi khai báo
và sau đó nộp thuế đúng quy định Nếu không có khả năng mua thóc chính quyền phong kiến sẽ cho vay thóc đến khi thu hoạch thì trả lại cho nhà nước Ở vùng biên giới An Giang, việc tiến hành lập làng cũng diễn ra dễ dàng Đồng thời, dưới chính quyền Minh Mạng, ông cho đề ra chính sách khẩn hoang, lập làng ở An Giang để những người dân nghèo được yên nghiệp (Võ Thành Phương, 2014, tr.30)
An Giang, dù là vùng bất ổn biên cương, chiến tranh đã gây dấu ấn nặng
nề nhưng lại là nơi có nguồn tự nhiên, phong phú và giàu tiềm năng Họ thực sự là chủ nhân khai phá miền đất mới (Võ Thành Phương, 2014, tr.15)
Đặc điểm văn hóa vùng An Giang
Những người lưu dân đến khai phá vùng đất An Giang xưa thường chọn ở những chỗ đất tương đối cao, thuận lợi đủ nước sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi và đi lại Khi ấy nơi đây là vùng có khí hậu khắc nghiệt nên thường có dịch bệnh Chính vì vậy, cư dân cũng không gặp ít khó khăn, nguy hiểm khi đến vùng đất lạ với nhiều dịch bệnh, thú dữ, trộm cướp và các cuộc chiến tranh cướp phá của quân Xiêm, Chân Lạp (Võ Thành Phương, 2014, tr.25)
Lúc bấy giờ, An Giang là vùng đất mới nên môi trường tự nhiên còn hoang
sơ, động thực vật rất đa dạng về thổ sản, cá tôm, tre nứa, lúa thóc, bông vải, …là nơi
đã quyến rũ những lưu dân tự miền Trung xa xôi đến đây lập nghiệp Khi ấy, dọc con sông Tiền, người dân làm lúa thì bừa ruộng chỉ vài giống nhưng khi thu hoạch thì bội đến phần trăm Còn trong vườn thì có cau trầu, dưa quả, dầu gai Trong mương ngòi
Trang 38thì đầy cá tôm, lươn trạch,… không phải ra chợ Trước nhà là vườn, sau nhà là ruộng nên có sản nghiệp làm ăn quanh năm, đây là nơi trù phú (Gia Định Thành Thông chí, tập thượng; tr.76) Châu Định Viễn (gồm Vĩnh Long và An Giang) là nơi cứ gieo một hộc thóc giống thì thu được 300 hộc Đây là năng suất rất cao thời bấy giờ, so với cả nước
Theo Gia Định Thành Thông chí (tập thượng, tr.90): cộng đồng dân tộc buổi ban sơ giữa người Việt và người Khmer trở nên gắn bó với nhau ở vùng đất mới này Nhà ở thì xen lẫn nhau dọc bờ sông Hậu Họ cùng nhau khai khẩn ruộng cỏ, nuôi
cá bán tươi, hoặc làm muối mắm, phơi măng khô, đốn tre,… đem bán để làm kế sinh nhai
Người Việt thực sự là những cư dân đầu tiên khai phá vùng đất đầy huyền
bí này Chính cái bí ẩn của thiên nhiên còn hoang sơ với đầy rẫy những hiểm nguy, bất trắc là sợi dây liên kết những con người xa lạ lại với nhau, tất cả hết lòng vì việc nghĩa Điều này đã hình thành nên tính cách trọng nghĩa khinh tài ở trong con người
họ Bởi họ ý thức được những điều kiện thiên nhiên như vậy, muốn sinh tồn thì phải đoàn kết, hợp sức đánh đuổi các loài thú dữ
Tất cả cùng làm cùng hưởng, cùng chơi cùng chịu Thậm chí, khi một ai khó khăn, hay gặp hiểm nguy cũng hành nghiệp trượng nghĩa, sẵn sàng bất chấp tính mạng để trọn đạo nghĩa tình Bởi hầu hết là những lưu dân, những người xa gốc gác, cội nguồn nên họ phải sống nhờ bạn bè, hoạn nạn có nhau
Khi họ đã quen với môi trường mới đồng nghĩa họ đã biết khai thác, tận dụng và chinh phục những tài nguyên phong phú sẵn có nơi đây Một vùng đất dồi dào thổ sản mà dân gian đã đúc kết và truyền miệng tới hôm nay
“Chiều chiều quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá Tôm”
Hay “Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua…”
Trang 39Người An Giang nói riêng, người ở miền đất phương Nam nói chung, tính tình thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy Chính những tính cách đó đã giúp họ sống hòa thuận với nhau, liên kết cộng đồng và cùng chung sức khẩn hoang lập ấp Đồng thời,
họ nổ lực không ngừng, từ một vùng đất hoang vu nay đã trù phú, rừng hoang đã rẫy, cánh đồng bát ngát, xanh tươi Con người ngày càng sáng tạo, thông minh nắm bắt quy luật tự nhiên, biết tận dụng và khai thác cho cuộc sống ngày càng ấm no
1.2.3 Hoạt động sản xuất lúa ở An Giang hiện nay
Tổng diện tích đất toàn tỉnh An Giang là 353.666,85 hécta Trong đó diện tích đất trồng lúa là 257.404,54 hécta (theo Niên giám thống kê An Giang 2014)
Trong đó, huyện Tri Tôn có tổng diện tích đất là 60.039,74 hécta, đất trồng lúa 43.955,90 hécta Năm 2014, diện tích đất trồng lúa mùa nổi ở xã Vĩnh Phước là
120 hécta
Hệ thống canh tác trên đất lúa hiện nay: đó là các giống lúa mới, cao sản ngắn ngày, không quang cảm, có thể trồng được bất cứ vụ nào trong năm và trồng được nhiều vụ một năm nếu bảo đảm được vấn đề tưới tiêu tốt Từ khi các giống lúa mới được phổ biến rộng rãi, thuỷ lợi được cải thiện và vấn đề áp dụng khoa học kỹ thuật mới trên đồng ruộng được đẩy mạnh, ở đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành nhiều vùng lúa cao sản 2-3 vụ lúa/năm cho thu hoạch bình quân 8-12 tấn lúa/hécta /năm, một số trường hợp có thể lên đến 15-16 tấn/hécta/năm (năm 2000) (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008, tr 95)
Trong giai đoạn chiến tranh, diện tích trồng lúa cả nước dao động khoảng 4.40 đến 4,90 triệu hecta, năng suất có tăng nhưng rất chậm, khoảng 700kg lúa/hecta trong vòng hơn 20 năm Sau giải phóng năm 1975 với phong trào khai hoang, diện tích trồng lúa tăng lên và ổn định Trong giai đoạn 1978 – 1979 do đất mới khai hoang hóa nên lúa bị sâu bệnh, mất mùa Từ sau 1975 đến nay, ở Đồng bằng sông Cửu Long việc sản xuất lúa với sự phát triển của hệ thống thủy lợi và thủy nông nội đồng, cùng những tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008, tr.35)
Trang 40Hiện nay, Phần lớn người nông dân trồng hai đến ba vụ lúa trong năm với các giống ngắn ngày (90 – 100 ngày) Sản xuất lúa vụ I khoảng từ tháng 11 đến tháng
1 âm lịch, vụ II khoảng từ tháng 1 đến tháng 4 âm lịch và vụ III khoảng từ tháng 4 đến tháng tháng 7 âm lịch
Giai đoạn chuẩn bị gieo trồng lúa cao sản ngắn ngày (hay còn gọi là lúa thần nông): Giai đoạn này, nông dân chuẩn bị đất để gieo sạ lúa Đất sẽ được làm tơi xốp, thay vì dùng sức trâu để cày, bừa để dọn đất như ngày xưa thì nay dùng máy móc thay sức người và sức trâu để công việc dọn đất Sau khi đất được xới thì dẫn nước vào với mục đích làm cho đất mềm (trong 1 – 2 ngày) Trong thời gian đợi đất mềm, nông dân bắt đầu chuẩn bị giống lúa Bằng cách chọn loại giống lúa tốt đem ngâm trong nước (một ngày và một đêm) Sáng ngày thứ hai vớt giống ra bao ủ kín dưới ánh nắng nhằm tạo nhiệt độ cao trong bao giống để hạt lúa lên mộng Đến chiều thì tưới nước vào bảo ủ giống đó và vẫn ủ kín Tiếp tục sáng ngày thứ ba, tưới nước vào bao ủ Trong ngày thứ ba, người nông dân có thể mang lúa giống ra ruộng gieo
sạ bất cứ khi nào thuận tiện
Giai đoạn sạ và chăm sóc cây lúa thần nông: Khi sạ lúa thì lúc này mặt ruộng đã ráo nước Sau sạ ba ngày, nông dân bắt đầu phun thuốc diệt cỏ Và sau bảy ngày sạ thì dẫn nước vào ruộng Tiếp tục, nông dân sẽ bón phân để cây lúa phát triển tốt
Trong giai đoạn cây lúa phát triển đến khi lúa chín, người nông dân phải thường xuyên theo dõi, chăm sóc cây lúa nhằm kịp thời bón phân và phun thuốc bảo
vệ thực vật để trừ những bệnh hại cho cây lúa
Giai đoạn thu hoạch lúa thần nông: Ngày nay tất cả đều thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp thay sức người Sau đó, lúa sẽ được bán cho thương lái tại ruộng hoặc vận chuyển về nhà, đợi giá cao bán cho thương lái
Đó là một quá trình cơ bản về tập quán sản xuất lúa ngắn ngày của nông dân ở vùng An Giang Tuy nhiên, tùy theo điều kiện ở mỗi nơi sẽ có những sáng tạo