1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng biện chứng trong triết học trung quốc thời kỳ xuân thu chiến quốc

133 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng biện chứng trong triết học trung quốc thời kỳ xuân thu - chiến quốc
Tác giả Hàng Bá Linh
Người hướng dẫn PGS.TS: Trương Văn Chung
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển phép biện chứng bên cạnh những tiền đề mang tính truyền thống là từ triết học Hy Lạp cổ đại chúng ta không thể không nghiên cứu những t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-0O0 -

HÀNG BÁ LINH

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI KỲ XUÂN THU - CHIẾN QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-0O0 -

HÀNG BÁ LINH

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI KỲ XUÂN THU - CHIẾN QUỐC

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS: Trương Văn Chung

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, chưa được ai công bố, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trương Văn Chung Tư liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực

TÁC GIẢ

HÀNG BÁ LINH

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI KỲ XUÂN THU - CHIẾN QUỐC 9

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC THỜI KỲ XUÂN THU - CHIẾN QUỐC 9

1.1.1 Bối cảnh lịch sử Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc 9

1.1.2 Điều kiện kinh tế Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc 10

1.1.3 Điều kiện chính trị - xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc 17

1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG HINH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI KỲ XUÂN THU – CHIẾN QUỐC 33

1.2.1 Thần thoại và những tín ngưỡng sơ khai 34

1.2.2 Những tư tưởng triết học sơ khai thời Ân Thương – Tây Chu 36

1.2.3 Những thành tựu về khoa học 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 51

Chương 2 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI KỲ XUÂN THU –CHIẾN QUỐC 54

2.1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI KỲ XUÂN THU - CHIẾN QUỐC 54

2.1.1 Thuật ngữ “biện chứng” trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc 54

2.1.2 Tư tưởng biện chứng trong triết học Nho gia 58

2.1.3 Tư tưởng biện chứng trong triết học Mặc gia 67

Trang 5

2.1.4 Tư tưởng biện chứng trong triết học Đạo gia 74

2.1 Tư tưởng biện chứng trong triết học Âm ương gia 85

2.1.6 Tư tưởng biện chứng trong triết học Pháp gia 93

2.2 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI KỲ XUÂN THU – CHIẾN QUỐC 100

2.2.1 Đặc điểm của tư tưởng biện chứng trong triết học Trung quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc 100

2.2.2 Giá trị và hạn chế của tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc 104

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 117

KẾT LUẬN 119

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phép biện chứng là một khoa học triết học và nếu xét trên một số phương diện thì phép biện chứng còn có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học Phép biện chứng có lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm - ngay từ khi triết học ra đời, mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng duy vật mácxít

Phép biện chứng duy vật mácxít là sự kết tinh tinh hoa của nhân loại trên nhiều lĩnh vực, dựa trên những truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ, vạch ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy o vậy, nắm vững nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật chính là chìa khóa để giúp con người nhận thức và chinh phục thế giới Lịch sử tư tưởng

và thực tiễn cách mạng cho thấy, khi nào chúng ta nắm vững lý luận phép biện chứng, biết vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của nó, một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể thì vai trò và hiệu lực cải tạo

tự nhiên và biến đổi xã hội của nó càng được nâng cao Ngược lại, cách nghĩ, cách làm chủ quan, duy ý chí, máy móc, siêu hình sẽ dẫn đến sai lầm, hoạt động thực tiễn không hiệu quả thậm chí thất bại

Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc nắm vững bản chất phép biện chứng duy vật càng là một nhu cầu cấp thiết để đổi mới cách nghĩ, cách làm Nó đang là định hướng tư tưởng và là công cụ

tư duy sắc bén để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên giành thắng lợi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 7

Trước yêu cầu thực tiễn của sự phát triển và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải kế thừa và phát huy những tinh hoa văn hóa của dân tộc và cả nhân loại, của cả phương Đông lẫn phương Tây, của quá khứ lẫn hiện tại, cả những tư tưởng tiến bộ của các nước có bất đồng với chúng ta Trên tinh thần thấm nhuần sâu sắc vai trò của việc nghiên cứu lịch

sử triết học để phát triển, hoàn thiện tư duy lý luận, ngay từ khi khởi xướng đường lối đổi mới ở nước ta, Nghị quyết số 01-NQ/TW của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác lý luận đã chỉ rõ, cần phải nghiên cứu một cách khoa học, khách quan và biện chứng tư tưởng triết học của nhân loại, trên cơ sở kế thừa có phê phán những tinh hoa tri thức triết học ấy, từ

đó rút ra những bài học bổ ích, nhằm phát triển, hoàn thiện hơn nữa năng lực

tư duy khoa học, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nước

Do đó, nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển phép biện chứng bên cạnh những tiền đề mang tính truyền thống là từ triết học Hy Lạp cổ đại chúng ta không thể không nghiên cứu những tư tưởng biện chứng trong

các nền triết học cổ đại khác đặc biệt là Tư tưởng biện chứng trong triết

học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc Ở phương Đông, bên cạnh

triết học Ấn Độ, Trung Quốc cũng có một nền triết học vô cùng lâu đời, phong phú và sâu sắc Vào thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của mình - thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc, triết học Trung Quốc cổ đại đã đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực bản thể luận, nhận thức luận và đặc biệt là nhân sinh quan Bên cạnh những tư tưởng triết học khác, một trong những

tư tưởng nổi bật trong nền triết học Trung Quốc cổ đại là tư tưởng biện chứng Và, nếu bỏ qua những hạn chế về điều kiện lịch sử, về trình độ nhận thức thì tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại vẫn có những ý nghĩa nhất định trong việc góp phần làm bổ sung cho phép biện chứng duy vật mácxít bằng những tư tưởng phương Đông

Trang 8

Việc nghiên cứu tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời

kỳ Xuân thu – Chiến quốc, một trong ba hình thức cơ bản của phép biện chứng, đó là hình thức đầu tiên, sơ khai, tự phát sẽ lả rõ hơn tính phong phú, đa dạng của lịch sử phép biện chứng mácxít, qua đó nhận thức và vận dụng trong hoạt động thực tiễn

Với những lý do trên, tôi xin chọn: “Tư tưởng biện chứng trong

triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc” làm đề tài luận

văn của mình”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Phép biện chứng nói chung và tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc nói riêng là một đề tài hết sức phong phú, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc o đó, từ trước đến nay

đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, với những công trình khá đa dạng và sâu sắc Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về phép biện chứng và tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc theo hai hướng sau đây:

Hướng thứ nhất, đó là hướng nghiên cứu phép biện chứng một cách

riêng biệt, chuyên sâu Trong đó phải kể đến tác phẩm:

Lịch sử phép biện chứng (1987) của tập thể tác giả Viện Triết học, Viện

Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), gồm 6 tập do Đỗ Minh Hợp dịch, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1998 Có thể nói đây là bộ sách có tầm quan trọng vào bậc nhất của môn lịch sử triết học bao hàm đầy đủ các yếu tố cơ bản và hoàn cảnh ra đời của phép biện chứng duy vật trong lịch sử tư tưởng nhân loại Bộ sách còn khái quát quá trình đấu tranh của C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin nhằm xây dựng một phép biện chứng duy vật hoàn bị nhất

Bên cạnh đó, những tác phẩm như: Phép biện chứng duy vật / Mác,

Ăngghen và Lênin (sưu tập và giới thiệu Khánh Hàm, 1962), Nxb Sự thật,

Trang 9

Một số khía cạnh về phép biện chứng duy vật (1986), của Ngô Thành

ương, Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, Hà Nội, Phương pháp biện chứng

của chủ nghĩa Mác : là phương pháp khoa học duy nhất để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới bằng cách mạng (19 ), của tác giả Alêxăngđờrốp

(Phan Nam dịch), Nxb Sự thật, Hà Nội, đã nghiên cứu phép biện chứng

một cách hệ thống và làm rõ những yếu tố của phép biện chứng duy vật

Hướng thứ hai, đó là nghiên cứu tư tưởng biện chứng gắn liền với

lịch sử hình thành và phát triển của triết học Trung Quốc Tiêu biểu cho

hướng nghiên cứu này phải kể đến một số tác phẩm như: Đại cương triết

học Trung Quốc, thượng và hạ của Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Nxb Cảo

Thơm, Sài Gòn, năm 1970 Đây là công trình nghiên cứu khá hệ thống triết học Trung Quốc theo các chủ đề được các tác giả phân tích, đánh giá, trình bày tư tưởng của các triết gia Trung Quốc cổ đại chi tiết và rõ ràng

Bên cạnh đó, một số tác phẩm nghiên cứu triết học Trung Quốc một cách đầy đủ và có hệ thống của các học giả Trung Quốc như: tác phẩm

“Trung Quốc triết học sử đại cương” của Hồ Thích do Nxb Văn hóa – Thông tin xuất bản năm 2004; tác phẩm “Lịch sử triết học Trung Quốc” của

Phùng Hữu Lan do Lê Anh Minh dịch, được xuất bản bởi nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2007 Các tác giả này đã cố gắng trình bày triết học Trung Quốc một cách hoàn chỉnh, rõ ràng và tiếp cận dưới góc độ hiện đại Tuy rằng, những tác phẩm này không trình bày tư tưởng biện chứng thành một hệ thống rõ ràng nhưng thông qua đó, ta có thể tiếp cận nó trong những học thuyết được trình bày trong các tác phẩm này

Tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời Xuân thu – Chiến quốc còn được thể hiện qua các tác phẩm của các triết gia Trung

Quốc thời kỳ này như: Luận ngữ của Khổng Tử và các môn đệ (Nguyễn Hiến Lê dịch), Nxb Văn học Tp Hồ Chí Minh, năm 200 , Đạo Đức kinh

Trang 10

của Lão Tử (Thu Giang, Nguyễn uy Cần dịch và bình chú), Nxb Văn học

Tp Hồ Chí Minh, năm 1991), Hàn Phi của Hàn Phi Tử (Phan Ngọc dịch)

Nxb Văn Học, Hà Nội, năm 201 … Tuy các tác phẩm này trình bày những

tư tưởng mang tính biện chứng một cách rời rạc, xen lẫn trong các quan niệm khác nhưng đều là tài liệu quý báu để tác giả kế thừa, phát triển trong luận văn của mình

Ở phương Tây, nghiên cứu về tư tưởng biện chứng trong triết học

Trung Quốc nổi bật lên tác phẩm như Mao Tse – Tung’s Theory of

Dialectic (Học thuyết biện chứng của Mao Trạch Đông) của tác giả Francis

Y.K.Soo, được D Reidel Publishing Company xuất bản năm 1981 tại Dordrecht, Hà Lan Cuốn sách được viết vào giai đoạn Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách kinh tế và đánh dấu sự vượt qua giai đoạn trước đó được xây dựng bởi tư tưởng của Mao Trạch Đông Trước bối cảnh đó, để làm rõ tầm vóc, sự ảnh hưởng của Mao Trạch Đông đối với xã hội Trung Quốc ở giai đoạn này, tiến sĩ F.Y.K.Soo đã cố gắng làm rõ về Mao Trạch Đông và

tư tưởng của ông Và như tác giả đã viết trong phần giới thiệu của tác phẩm rằng: “Không thể có sự hiểu biết chính xác về Mao và tư tưởng của ông nếu không có cái nhìn đầy đủ về nền tảng triết học của ông Vì đó là bàn đạp cho tất cả các tác phẩm lý thuyết của Mao và hoạt động cách mạng của ông Nền tảng triết học này không gì khác hơn là học thuyết biện chứng của Mao” [82, 3] Với việc làm rõ tư tưởng biện chứng cố đại Trung Quốc đã ảnh hưởng đến tư tưởng của Mao Trạch Đông như thế nào, tác giả đã trình bày khái quát tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại ở tiết 1 của chương năm Trong phần này, tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản của tư tưởng biện chứng cổ đại Trung Quốc như: tính thống nhất; sự thay đổi, mối liên hệ (giữa con người với xã hội), phủ định, trung dung (cách người Trung Quốc giải quyết mâu thuẫn) Bên cạnh đó còn có tác

Trang 11

phẩm Chinese Dialectics: From Yijing to Marxism (Biện chứng Trung

Quốc: Từ Kinh Dịch đến chủ nghĩa Mác) của tác giả Chenshan Tian, do

Lexington Books xuất bản năm 2005 tại Maryland, Hoa Kỳ Đây là một cuốn sách nghiên cứu khá hệ thống về nguồn gốc sâu xa của tư tưởng biện

chứng bắt đầu từ Kinh Dịch đến sự xuất hiện và tiếp nhận phép biện chứng

mácxít ở Trung Quốc Cuốn sách với bảy chương và phần kết luận này đã

mở ra cách nhìn mới ở các nước phương Tây về phép biện chứng duy vật nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung ở Trung Quốc Bằng cách trình bày

và chứng minh những nguồn gốc sâu xa của phép biện chứng trong hệ thống triết học cổ đại, Chenshan Tian đã giải thích tại sao chủ nghĩa Mác được tiếp nhận và thành công ở Trung Quốc

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam việc nghiên cứu về triết học

Trung Quốc cổ đại có các tác phẩm như: Lịch sử triết học Trung Quốc của Hà Thúc Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1988-1989; Đại cương lịch sử

triết học Trung Quốc do tác giả oãn Chính (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc

gia, xuất bản năm 1997, tái bản có sửa chữa bổ sung năm 2004 đã tổng kết một cách khái quát các trường phái triết học Trung Quốc trong đó có trình bày những tư tưởng mang tính biện chứng của các trường phái triết học Trung

Quốc cổ đại; cuốn Từ điển triết học Trung Quốc của tác giả oãn Chính, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2009; Lịch sử triết học phương Đông, Doãn

Chính (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 201 , trong phần thứ hai, tác giả đã trình bài một cách khái quát có hệ thống những tư tưởng cơ bản của triết học Trung Quốc cổ đại qua các trường phái: Nho gia, Đạo gia, Âm dương gia, Mặc gia, anh gia, Pháp gia…

Tất những công trình kể trên dù nghiên cứu ở những mức độ và góc

độ tiếp cận khác nhau nhưng vẫn là những tài liệu quý báu để tác giả kế thừa và phát triển trong luận văn của mình

Trang 12

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn:

Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là từ sự trình bày, phân tích và hệ thống hóa nội dung tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc góp phần làm rõ tư tưởng biện chứng trong lịch sử triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc nói riêng và tư tưởng biện chứng trong lịch sử triết học nói chung, cho thấy sự phong phú thêm tài liệu lịch sử phát triển của phép biện chứng duy vật Mác – Lênin

Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích của luận văn, cần phải hoàn thành ba nhiệm vụ

đó là:

Thứ nhất, trình bày và phân tích cơ sở xã hội, tiền đề tư tưởng hình

thành tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc

Thứ hai, Trình bày, tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa nội dung tư

tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc

Thứ ba, rút ra những đánh giá về đặc điểm, giá trị và hạn chế của tư

tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng

Về phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, đối chiếu và so sánh, lịch sử và logic, thông diễn học… để nghiên cứu và trình bày luận văn

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn được xác định phạm vi nghiên cứu là tập trung vào nghiên

Trang 13

cứu về tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc trong phạm vi năm trường phái: Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Âm ương gia và Pháp gia

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống và làm sáng tỏ nội dung tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại Qua đó, góp phần vào hệ thống lý luận của phép biện chứng duy vật Mác – Lênin nói riêng và triết học Mác – Lênin nói chung

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với sinh viên và những ai quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu về

tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại nói riêng và tìm hiểu lịch sử phép biện chứng nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có hai chương và bốn tiết

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG

BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC

THỜI KỲ XUÂN THU – CHIẾN QUỐC

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC THỜI KỲ XUÂN THU – CHIẾN QUỐCz

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại nói chung và tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc nói riêng luôn chịu sự tác động và quy định của những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại Những tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc không phải là sự xuất hiện mang tính chất ngẫu nhiên, đến từ hư không hay từ ý muốn chủ quan của con người, mà đó là sự phản ánh những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội

và kế thừa những tư tưởng trước đó của người Trung Quốc cổ đại Đúng như C.Mác đã viết: “Các nhà triết học không phải những cây nấm mọc trên đất Họ là sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình mà những tinh lực tinh

tế nhất, quý giá nhất và khó nhìn thấy nhất đã được suy tư trong các khái niệm triết học” [3,56] o đó, khi nghiên cứu những tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc không thể không nghiên cứu những cơ sở xã hội hình thành nên nó

Bước vào thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, xã hội Trung Quốc đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trên các lĩnh vực:

1.1.1 Bối cảnh lịch sử Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc

Xuân thu – Chiến quốc là một giai đoạn trong lịch sử Trung Quốc kéo dài từ năm 770 Tr.CN đến năm 221 Tr.CN, về mặt văn hóa, thời kỳ này còn

Trang 15

được gọi là thời kì Bách gia chư tử hay thời kì Đông Chu liệt quốc Thời kỳ Xuân thu – Chiến Quốc xã hội Trung Quốc cổ đại chứng kiến sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và sự hình thành chế độ phong kiến sơ kỳ

Thời kỳ Xuân thu được đánh dấu từ sự kiện Chu Bình Vương dời đô

từ Cảo Kinh (nay thuộc Thiểm Tây) đến Lạc Ấp (nay thuộc Lạc ương) ở châu thổ sông Hoàng Hà vào khoảng năm 770 Tr.CN Sau khi dời đô về phía Đông nhà Chu dần suy yếu và mất địa vị chính trị o vậy, nhà Chu cần các chư hầu hùng mạnh xung quanh bảo vệ họ khỏi các cuộc cướp bóc và giải quyết các cuộc tranh giành quyền lực bên trong Kể từ đó, nhà Chu không bao giờ hùng mạnh, lấy lại quyền lực như trước nữa, nhà Chu chỉ còn là một triều đình bù nhìn trong mắt các chư hầu phong kiến Các chư hầu của nhà Chu ngày càng lớn mạnh, các cuộc chiến tranh liên tiếp diễn ra dẫn đến sự sát nhập khoảng 170 nước nhỏ Giai đoạn Xuân thu, Trung Quốc cổ đại phân chia thành những nước lớn như: Tề, Sở, Tần, Tấn, Lỗ, Trần, Sái, Tào, Tống, Ngô, Việt, Hoạt, Trình, Yên… Thời kỳ Xuân thu đã kéo dài gần 3 thế kỷ từ năm 770 Tr.CN đến 47 Tr.CN

Tiếp sau giai đoạn Xuân thu, xã hội Trung Quốc bước vào giai đoạn Chiến quốc Thời Chiến quốc kéo dài từ năm 47 đến khi Trung Quốc thống nhất dưới thời nhà Tần 221 Tr.CN Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của

xã hội Trung Quốc cổ đại trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là kinh tế Giai đoạn này còn được gọi là Chiến quốc thất hùng để chỉ bảy cường quốc hình thành từ sự suy yếu của nhà Chu Bảy nước đó là: Hàn, Ngụy, Sở, Tần, Tề, Triệu, Yên đã chiến tranh triền miên nhằm thôn tính lẫn nhau cho đến khi chiến thắng thuộc

về nước Tần do Tần Thủy Hoàng trị vì Nhà Tần là đế chế đầu tiên trong lịch

sử Trung Quốc, mở đầu cho chế độ phong kiến tập quyền ở Trung Quốc

1.1.2 Điều kiện kinh tế Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc

Thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, xã hội Trung Quốc cổ đại đã có nhiều chuyển biến đột phá về kinh tế trên nhiều lĩnh vực Sự thay đổi về

Trang 16

công cụ sản xuất, phương thức, kỹ thuật canh tác đã tác động tích cực đến

sự phát triển tư duy, nhận thức, ngôn ngữ của người Trung Quốc cổ đại Bên cạnh đó, sự chuyển biến từ sở hữu công sang sở hữu tư đã phân loại tầng lớp trong xã hội thành “đại phu” và “thứ dân”, tạo nên sự tách rời lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay Sự phát triển của tầng lớp lao động trí

óc gắn với sự chuyển biến kinh tế thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc đã thúc đẩy sự nảy nở và phát triển rực rỡ tư tưởng triết học Trung Quốc thời kỳ này nói chung và tư tưởng biện chứng nói riêng

Thời kỳ Xuân thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt Việc phát triển lên thời kỳ đồ sắt đánh dấu một bước tiến vượt bậc của người Trung Quốc trong việc phát triển kinh tế cũng như trình độ văn minh Phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đem lại những tiến bộ trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật canh tác nông nghiệp

đã góp phần tăng năng suất lao động Những kết quả khảo cổ ở Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc năm 19 4 đã phát hiện những công cụ lao động, vũ khí bằng sắt…có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 7 Tr.CN Thời kỳ đồ sắt ở Trung Quốc diễn ra tương đối muộn so với các nền văn minh khác trên thế giới (Trung Đông, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại diễn ra khoảng thế kỷ XII Tr.CN) Thời đại đồ sắt ở Trung Quốc tuy diễn ra muộn nhưng sớm đạt được những kỹ thuật rèn sắt cao, tạo ra công cụ lao động tốt hơn, bền hơn Nếu trước đây, người Trung Quốc chỉ có những công cụ bằng gang dễ gãy thì từ khi nước Việt và Ngô tìm được phương pháp kết hợp nấu sắt với rèn sắt thì trình độ rèn sắt Trung Hoa đã có những thành tựu đột phá Những thành tựu trong thời kỳ

đồ sắt đã đưa văn minh Trung Quốc cổ đại lên giai đoạn cao nhất trong ba giai đoạn lịch sử thời cổ đại, đó là: thời kỳ đồ đá, thời kỳ đồ đồng, thời kỳ đồ sắt

Bên cạnh kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt, sự tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp thời kỳ này còn thể hiện qua hệ thống thủy lợi Sự hình

Trang 17

thành hệ thống thủy lợi đã làm thay đổi to lớn tập quán canh tác, kỹ thuật canh tác, góp phần mở rộng diện tích đất trồng trọt Năm 486 Tr.CN, nước Ngô thời Phù Sai cho đào những con kênh lớn nối sông ương Tử với sông Hoài, rồi bốn năm sau lại đào nối nó lên con sông ở phía nam Sơn Đông; sau đó, ở nước Ngụy vào khoảng những năm 330 Tr.CN cũng đào nhiều kênh ở ranh giới Hà Nam và Hà Bắc, một con kênh nối sông Hoàng Hà chảy vào một hồ lớn, một con kênh khác ở miền Khai Phong ngày nay Ở nước Tần, từ năm 2 6 Tr.CN – 251 Tr.CN, dưới sự chỉ đạo của Lý Băng và con trai Nhị Lang đã xây dựng đập Đô Giang nằm trên sông ân (thuộc Tứ Xuyên ngày nay), một công trình thủy lợi nổi bật nhất thời Trung Quốc cổ đại Ngoài đập Đô Giang, nước Tần còn cho xây dựng kênh Trịnh Quốc nối huyện Kinh và Lạc Thủy Những công trình thủy lợi này đã giúp nước Tần ngày càng thịnh vượng Từ sau thế kỷ thứ IV và III Tr.CN, các nước đều chú trọng phát triển thủy lợi; kênh Tây Mông Báo ở nước Ngụy; kênh Hồng, kênh Hàn ở nước Tề, nước Sở Những công trình thủy lợi không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn góp phần điều tiết dòng chảy các con sông góp phần giảm thiểu hạn hán và lũ lụt; bên cạnh đó các công trình thủy lợi còn tạo nên những con đường giao thương giữa hai dòng sông lớn của Trung Quốc là Hoàng Hà và Trường Giang và góp phần tạo nên những vùng đất trù phú như Tứ Xuyên, Thiểm Tây

Sự xuất hiện của công cụ bằng sắt và các công trình thủy lợi đã thay đổi mạnh mẽ nền nông nghiệp Trung Quốc cổ đại Các kỹ thuật canh tác mới đặc biệt là luân canh được áp dụng, diện tích đất trồng trọt được mở rộng, trâu bò được sử dụng trong cày kéo,…đã giúp người Trung Quốc trồng trọt nhiều giống cây trồng mới, tăng sản lượng nông nghiệp, tăng năng suất lao động, dẫn đến sự chuyển biến mạnh mẽ và sâu sắc trong quan

hệ sản xuất cổ truyền

Trang 18

Sự chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn cuối thời kỳ Xuân thu đã dần phá vỡ phương thức sản xuất đã tồn tại suốt hàng ngàn năm dưới sự trị vì của nhà Tây Chu Trước đây, nhà Chu quản lý toàn bộ của cải vật chất trong xã hội kể cả nô lệ và nông dân Kinh Thi có câu: “Khắp gầm trời, không đâu không phải đất của nhà vua; khắp mặt đất, bến nước, không người nào không phải là bề tôi của vua” [38, 97] Nhà Chu chia đất cho nông

dân theo theo phép “tỉnh điền” đã có từ nhà Thương, chỉ khác nhà Thương là diện tích đất được tăng lên Phép “tỉnh điền” là mảnh đất được chia thành những hình vuông có hình chữ “tỉnh” gồm chín phần vuông bằng nhau và

chia cho tám gia đình canh tác, mảnh đất ở giữa các gia đình cùng nhau cày cấy để nộp cho nhà vua Đến thời kỳ Xuân thu, diện tích đất trồng trọt thuộc

sở hữu tư nhân ngày càng tăng lên mạnh mẽ do: đất dân khẩn hoang từ tự nhiên; các chư hầu phong đất cho các công thần, quý tộc; các thương nhân, địa chủ bỏ tiền mua bán; bên cạnh đó giai cấp quý tộc, quan lại bằng quyền lực đã thu vén đất công làm của tư Sau đó, chế độ sở hữu tư nhân ruộng đất còn được các nước thừa nhận và được pháp luật bảo vệ Bên cạnh chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất, việc phát triển công cụ sản xuất, phương pháp

canh tác nông nghiệp hiệu quả đã làm suy yếu và tan rã chế độ “tỉnh điền”

Sự tan rã của chế độ “tỉnh điền” buộc các nước phải thực hiện hình

thức tính thuế mới đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu) Nước đầu tiên tiến hành chế độ quản lý và thu thuế mới là nước Lỗ năm 549 Tr.CN, nước Tần năm 3 0 Tr.CN Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất đã tạo nên sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng rõ rệt nhưng bên cạnh đó, nó cũng khuyến khích người dân khai khẩn đất hoang, áp dụng những biện pháp canh tác hiệu quả Từ đó, các nước với chính sách thuế mới đã thu hoa lợi nhiều hơn trước Chính sự phát triển trong nông nghiệp cùng với chế độ tư hữu về ruộng đất đã dẫn đến hiện tượng tư gia giàu hơn

Trang 19

công thất Trước kia vua cắt đất cho đại phu, đại phu cho bồi thần, mỗi vùng thành lập thái ấp riêng với diện tích đất cố định nên họ không thể phát triển thành thế lực riêng; cho nên trong mỗi quốc gia chỉ có quốc đô mới có thế lực quan trọng Nhưng khi tư gia đã có ruộng đất sở hữu tư nhân, họ thu hút nô lệ, nông nô, xây kho lẫm, lập quân đội riêng, thái ấp riêng, xây thành mới là lúc thế lực của tầng lớp này trở nên lớn dần Sự lớn mạnh của tầng lớp tư gia đã làm suy yếu đáng kể tầng lớp công thất ở các nước chư hầu

Cùng với sự chuyển biến của nền kinh tế - xã hội, đặc biệt là sự phân công lao động đã đưa các ngành thủ công nghiệp thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc phát triển đến một trình độ cao, tách hẳn ra khỏi nông nghiệp thành những ngành nghề riêng biệt như: nghề luyện kim (sắt, đồng), nghề gốm, nghề mộc, nghề dệt lụa, đóng thuyền… Nghề đúc đồng đến thời Chu đã đạt được những sản phẩm hoàn hảo cả về chất lượng lẫn nghệ thuật Những cuộc khảo cổ mới đây phát hiện các công cụ phục hoạt động sinh hoạt, sản xuất, các đồ thờ cúng vô cùng tinh xảo với chất lượng cao như đồ thờ cúng,

tế lễ, chuông, gương đồng, lưỡi cày, lưỡi liềm, búa, dao, kiếm ngắn Trên nền tảng của nghề đúc đồng, đến giữa thời kỳ Xuân thu nghề luyện sắt được ra đời Nghề luyện sắt hình thành giữa thời kỳ Xuân thu, đến giai đoạn cuối thời Chiến quốc đã đạt được trình độ cao cả về kỹ thuật lẫn quy

mô Cuối Xuân thu, nước Ngô đã dựng lò luyện sắt với quy mô lớn và quy trình sản xuất chặt chẽ, lượng nhân công làm việc lên đến 300 người, nước Tấn thực hiện chính sách thu gom sắt để đúc đỉnh hình Ở thời kỳ này, nghề gốm cũng là nghề nổi bật, với những kỹ thuật và trình độ tinh xảo Cuối thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc ở nước Ngô và Việt đã xuất hiện một loại gốm tráng men đã đạt đến trình độ và chất lượng có thể gọi là gốm sứ Những tàn tích của lò nung thời kỳ này đã được phát hiện tại một số địa điểm thuộc nước Việt ( thuộc Chiết Giang ngày nay), dựa trên cấu trúc lò

Trang 20

nung có thể thấy gốm ở thời kỳ này có thể được nung đến 1300 độ C Hầu như ở các tàn tích của các thành phố nước Tần đều có dấu vết của các cửa hàng đồ gốm bên cạnh các cửa hàng khác Điều này cho thấy, các nghề thủ công nghiệp thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc đã phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng Sự chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu nền kinh tế đã dẫn đến sự hình thành những tầng lớp mới trong xã hội bao gồm thợ thủ công và thương

nhân Trong sách Chu Lễ đã viết về các ngành nghề thủ công ở giai đoạn

này như sau: “Thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…”[14, 33] Tuy có sự phát triển và hình thành ngày càng đông nhưng

sự ảnh hưởng của họ trong xã hội là rất thấp, một phần do trình độ còn thấp, một phần do truyền thống xã hội Trung Quốc cổ đại Một số ngành nghề thủ công phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước như nghề sắt, nghề muối, nghề làm vũ khí… Một số nước còn đặt ra những chức quan chuyên trách nhằm quản lý từng ngành nghề Những người hoạt động nghề thủ công nghiệp phải nộp 3/10 số thu nhập cho nhà nước Sự phát triển của thủ công nghiệp đã hình thành nên những gia tộc giàu có

Sự phát triển trên nhiều lĩnh vực kinh tế của các nước giai đoạn Xuân thu – Chiến quốc đã tạo điều kiện cho tầng lớp thương nhân ngày càng đông đúc Sự phát triển trong nông nghiệp và thủ công nghiệp đã tạo nên một khối lượng lớn hàng hóa phong phú và đa dạng nên nhu cầu mua bán trao đổi giữa các cá nhân, các quốc gia ngày càng lớn Hiệu quả do thương nghiệp mang lại đã thúc đẩy các nước chư hầu phải xem xét lại những chính sách của mình Như nước Lỗ, năm 62 Tr.CN, đã có cuộc tranh luận rằng nên hay không bỏ sáu trạm kiểm soát ở biên giới để mở cửa giao thương Đến năm 79 Tr.CN các nước chư hầu đã đạt được thỏa thuận cho phép sự di chuyển của các thương nhân đi lại giữa các nước, duy trì các con

Trang 21

đường lớn, tạo điều kiện cho các lô hàng lớn được vận chuyển trên các con sông Thương nghiệp phát triển tại các thủ đô của các quốc gia, đặc biệt đã hình thành nên mạng lưới giao thương giữa bốn quốc gia xung quanh trung tâm là nước Tấn Xã hội Trung Quốc thời bấy giờ đã xuất hiện những thương nhân giàu có và dần tạo thế lực, ảnh hưởng đến xã hội như Huyền Cao nước Trịnh, Tử Cống (520-456 Tr.CN) nước Tề, Phạm Lãi ( 36-448 Tr.CN) nước Sở, Bạch Khuê (463-385 Tr.CN) từng làm quan nước Ngụy sau đó đến nước Tề, nước Tần Thương nghiệp phát triển đã hình thành nên các trung tâm buôn bán trao đổi hàng hóa ngày càng hưng thịnh Đô thành

ở các nước lớn và một số thành ấp lớn bên các trục giao thông trọng yếu trở thành những trấn đô nổi tiếng thời bấy giờ như Hàm ương nước Tần, Thọ Xuân nước Sở, Lâm Truy nước Tề, Khai Phong nước Ngụy, Hàm Đan nước Triệu “Tuy nhiên, do tình trạng xã hội đang rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn chư hầu cát cứ, đi lại rất khó khăn, nên việc kinh doanh do những người có đầu óc tháo vác và lòng quả cảm đảm đương Hơn thế, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất, theo quan điểm “nông bản, thương mạt”, nên nó chưa thực sự phát triển Nhưng sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới Tầng lớp này dần dần xuất hiện một loạt quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ”[14, 251] Với sức mạnh kinh tế trong tay, họ dễ dàng tạo dựng thế lực bằng cách kết giao với vua chúa, chư hầu, quan lại, tướng lĩnh… tạo dựng cho mình sức ảnh hưởng lớn trong nền chính trị đương thời thậm chí thao túng cả chính trị

Sự phát triển của thương nghiệp thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc đã kéo theo sự phát triển của hệ thống tiền tệ Ngay từ thời nhà Thương người

ta đã dùng vỏ ốc biển (được gọi là “bối” 貝) để làm phương tiện thanh

Trang 22

toán trong việc trao đổi những sản phẩm làm ra Nhưng đến thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc tiền kim loại mới xuất hiện và được lưu hành rộng rãi Tiền tệ được lưu hành ở mỗi nước chư hầu là khác nhau cả về hình thức và đơn vị Các nước Triệu, Ngụy, Hàn dùng tiền hình lưỡi xẻng, gọi là bố;;布 nước Yên, nước Tề dùng tiền hình con dao, gọi là đao 刀; còn nước Tấn thì dùng tiền hình tròn Ngoài tiền đồng, thời Chiến quốc các nước còn dùng vàng làm phương tiện thanh toán Các đơn vị tiền vàng có dật 逸, cân 斤, kim 金 dùng để mua những hàng hóa có giá trị lớn như bảo kiếm, ngọc báu, ngựa tốt…Trong đó, dật là đơn vị bằng 24 lạng, 1 cân bằng 16 lạng, 1 kim bằng 8 lạng Sự xuất hiện và phát triển của tiền tệ kim loại cả về hình thức,

số lượng đã phản ánh sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc “Sự xuất hiện các đồng tiền đúc đã phản ánh sự trao đổi mạnh mẽ của cải vật chất mà các nền kinh tế trong các chế

độ phong kiến trước đó không thể có Hiện tượng đó cũng chứng minh sự phổ biến của nền kinh tế thị trường, gia tăng số lượng thương gia cũng như

quy mô hoạt động của họ” [83, 582]

Những tiến bộ trong các lĩnh vực như nông nghiệp, công cụ sản xuất,

hệ thống giao thông kết nối giữa các nước, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành thủ công nghiệp…đã đem lại sự thịnh vượng cho các nước chư hầu Tuy nhiên, sự thịnh vượng này lại làm cho sự chênh lệch trong việc phân phối của cải trong xã hội ngày càng sâu sắc Đến cuối thời kỳ Xuân thu, đã xuất hiện một tầng lớp dân cư bị bần cùng hóa phải sống phụ thuộc vào những gia tộc giàu có

1.1.3 Điều kiện chính trị - xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc

Trên cơ sở những chuyển biến của bối cảnh lịch sử cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc cũng biến

Trang 23

đổi đầy sôi động, sâu sắc và ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ đến tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời

kỳ Xuân thu – Chiến quốc nói riêng Chính bối cảnh chính trị xã hội là yếu

tố trực tiếp quyết định những điểm đặc trưng của tư tưởng biện chứng Trung Quốc giai đoạn này, tạo cho nó những khác biệt so với tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cùng thời Những biến động chính trị xã hội thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc có thể khái quát như sau:

Bước sang thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, xã hội Trung Quốc dưới

sự cai trị của nhà Chu đã không còn giữ được trật tự, lễ nghĩa và sự thịnh vượng nữa Chế độ nô lệ phát triển qua thời nhà Hạ, nhà Thương và đỉnh cao nhà Tây Chu thì đến thời kỳ Xuân thu nó dần tan rã và chế độ phong kiến sơ kỳ dần hình thành “Xã hội Trung Quốc trải qua một thời kỳ giao thời, từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trưởng, giá trị tư tưởng, đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại, nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức mới còn manh nha và đang trên con đường xác lập Sự biến đổi toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa thời kỳ này đã tạo tiền đề cho sự giải phóng tư tưởng con người thoát khỏi sự chi phối của thế giới quan thần thoại, tôn giáo, thần bí truyền thống, ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của

tư tưởng triết học”[14, 249]

Thời Tây Chu, nhà Chu duy trì chế độ tông pháp, “phong hầu kiến địa” nhằm tạo sự ràng buộc với các nước chư hầu về quan hệ huyết thống, kinh tế, chính trị, quân sự Để mở rộng và củng cố nền thống trị, quản lý hiệu quả những vùng đất rộng lớn, nhà Chu thực hiện chế độ phân phong cho các anh em, công thần, con cháu các vua đời trước Tại mỗi vùng đất nhất định, nhà Chu giao đất và dân cho họ thành lập những quốc gia có quy mô lớn nhỏ khác nhau Vua Chu (thiên tử) phân chia đất đai cho các chư hầu kèm theo những tước vị từ lớn đến nhỏ lần lượt là: “công” 公, “hầu” 侯, “bá” 伯, “tử”

Trang 24

子, “nam” 男 Trong mỗi nước chư hầu, vua chư hầu có quyền lực lớn nhất,

có quyền cai trị vùng đất được phong theo cách của mình, có tính chất độc lập với thiên tử Trong phạm vi thống trị của mình, vua chư hầu có quyền lập

bộ máy chính quyền, tổ chức quân đội và lập nhà tù Họ có quyền phong đất cho các quan lại cấp dưới như khanh, đại phu trong nước, gọi là "lập gia" Nếu thời nhà Hạ, nhà Thương các chư hầu có quan hệ lỏng lẻo, độc lập với nhà vua, thì quan hệ của các chư hầu thời Tây Chu lại có sự ràng buộc khá chặt chẽ và có quan hệ vua tôi với thiên tử nhà Chu Chư hầu có nghĩa vụ với thiên tử như: triều kiến định kỳ, cống nạp, điều quân theo sự huy động của vua Chu khi có chiến tranh hoặc làm lễ lớn để trợ tế… Mỗi chư hầu phải giữ

“lễ” với thiên tử nhà Chu, quyền tế tự phải thấp hơn một bậc: “thiên tử tế trời đất, tế bốn phương, tế núi sông, tế ngũ tự; chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự; quan đại phu tế ngũ tự; kẻ sĩ tế tổ tiên Ngũ tế là tế thần cửa, ngõ, giếng, bếp và giữa nhà”[33, 39] Ngoài ra, vương triều nhà Chu còn tiến hành công tác khảo hạch đối với các nước chư hầu thông qua việc đi tuần thú để khen thưởng hay trừng phạt, và quy định thời gian để các nước chư hầu đến triều kiến Nhà Chu có quy định rõ: “chư hầu một lần không triều kiến Chu vương đúng hẹn, tước vị bị giáng thấp, hai lần không triều kiến thì bị giảm đất cát được phong, ba lần không triều kiến thì sẽ sai quân đội thảo phạt hỏi tội, thủ tiêu địa vị chư hầu” [17, 315] Các chư hầu thời Tây Chu có vai trò làm bình

phong cho thiên tử ở trung tâm, vì vậy việc phân phong được gọi là "phong

kiến thân thích, dĩ bình phiên Chu" (phong đất cho bà con thân thích làm rào

giậu cho nhà Chu) Nhờ đó, suốt một thời gian dài nhà Chu duy trì một thể chế xã hội hết sức chặt chẽ và tôn nghiêm, trật tự lễ nghĩa được đề cao Trong đó, thứ dân phải phục tùng sĩ; sĩ phục tùng công khanh, đại phu; công khanh, đại phu phục tùng chư hầu; chư hầu phục tùng thiên tử Những lễ nghi sớm hình thành ở Trung Quốc cổ đại đã đóng một vai trò rất quan trọng,

Trang 25

trở thành nên tảng quyết định bản sắc văn hóa đặc trưng ở Trung Quốc, nó hiện diện trong cả vương pháp, tông pháp và gia pháp Tuy nhiên, sau một thời gian dài ổn định, nhà Chu dần suy yếu và đánh mất sự ảnh hưởng quyền lực của mình Đất đai của thiên tử ngày càng thu hẹp do phải chia cắt đất đai phong cho các vương hầu, công khanh “Trong thời kỳ Tây Chu, vương thất nhà Chu khống chế một vùng đất từ Cảo Kinh đến Lạc Ấp chạy dài hơn

1000 dặm Sau khi Chu Bình Vương di chuyển về phía đông thì diện tích vùng kinh kỳ lại bị thu hẹp đến một nửa Đến thời kỳ Chu Tương Vương diện tích đất đai do Thiên tử trực tiếp cai quản lại càng thu hẹp hơn, còn không quá 200 dặm, chẳng khác nào một nước chư hầu nhỏ” [28, 24] Trái lại, các nước chư hầu ở xa kinh đô, tự ý mở mang đất đai, thôn tính kẻ yếu xung quanh, hùng cứ một phương Đất đai của các nước chư hầu ngày càng tăng lên, gấp nhiều lần đất đai của nhà Chu “Khi mới được phong, diện tích đất đai của họ chỉ có 100 dặm hoặc 50 dặm, nhưng về sau diện tích của những quốc gia này đã lớn hơn gấp mấy lần hoặc mấy chục lần (nước Sở từng tự cho là mình có diện tích đất đai đến 5000 dặm) [28, 24] Địa vị giữa chư hầu và vương thất nhà Chu dần đảo ngược Những nước chư hầu nhỏ bị chư hầu lớn ức hiếp, cầu cứu thiên tử, thiên tử không cứu nổi, từ đó thiên tử nhà Chu chỉ còn là hư danh Đến thời kỳ Xuân thu, nhà Chu bước vào giai đoạn đại loạn; vương thất nhà Chu thiếu hụt ngân sách trầm trọng, các quan

hệ kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử với chư hầu ngày càng lỏng lẻo, quan hệ huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng và duy trì như trước Thiên tử nhà Chu hầu như không còn uy quyền gì với các nước chư hầu Trật tự lễ nghĩa, cương thường được nhà Chu duy trì suốt một thời gian dài dần đảo lộn, luân lý trở nên suy đồi mà biểu hiện rõ ràng nhất qua nạn “tiếm ngôi việt vị”, chư hầu lớn ức hiếp nước nhỏ, các cuộc chiến tranh nổ ra liên miên cả về quy mô lẫn số lượng Trong đó,

Trang 26

chư hầu lấn át, chiếm dụng lễ của thiên tử; đại phụ chiếm dụng lễ của chư hầu, thậm chí chiếm dụng lễ của thiên tử Chẳng hạn, năm 31 đời Hy Tông nước Lỗ đã tiếm lễ Giao của thiên tử, “mùa hạ, tháng tư, bốn lần bói về việc

Tế Giao”[66, 31] Theo chế độ tông pháp, thiên tử là con trai trưởng của trời, thay mặt trời trị vì thiên hạ, phân phong và trông coi các chư hầu thì thiên tử mới được Tế Giao; còn chư hầu chỉ cai quản khu vực được thiên tử phân phong thì chư hầu chỉ được tế xã tắc, nên không được Tế Giao Không chỉ chư hầu tiếm lễ của thiên tử mà ngay cả đại phu cũng dám tiếm lễ Theo lễ nhà Chu quy định: Thiên tử mới dùng vũ bát dật: tám hàng người, mỗi hàng tám người; chư hầu thì lục dật: sáu hàng người, mỗi hàng sáu người; khanh, đại phu thì tứ dật: bốn hàng người, mỗi hàng bốn người; sĩ thì nhị dật: hai hàng người, mỗi hàng hai người Nhưng, Quí Khương một đại phu nước Lỗ

đã không dùng tứ dật theo lễ nghĩa mà dùng vũ bát dật ngang hàng với thiên

tử Khổng Tử đã quở trách Quí thị rằng: “Ông ta dám dùng tám đội nhạc để nhảy múa ca hát ở trong nhà Việc này mà chấp nhận được thì còn việc nào

không chấp nhận” (Luận ngữ, Bát dật, 1) [61, 143] Cũng trong Luận ngữ

Khổng Tử đã phê phán thói tiếm lễ của ba đại phu nước Lỗ, rằng: “Trợ tế là vua chư hầu; Thiên tử chủ tế ra vào uy nghiêm Nay ba nhà này dám cho hát

bài Ung khi cúng tổ tiên là ý nghĩa gì vậy?”(Luận ngữ, Bát dật, 1) [61, 141]

Theo lễ, khi thiên tử tế ở tôn miếu, thì các chư hầu trợ tế, và cho hát thơ Ung

mà dẹp tế lễ Khổng Tử chê trách ba nhà đại phu (nước Lỗ là: Mạnh Tôn, Thúc Tôn, Quí Tôn) đó đã tiếm tế lễ của thiên tử, do vậy thơ Ung hát trong trường hợp đó hóa ra vô nghĩa Như vậy, chỉ với chức đại phu của một nước chư hầu mà dám tiếm lễ thiên tử đã cho thấy trật tự lễ nghĩa nhà Chu suy vong đến nhường nào

Trật tự lễ nghĩa nhà Chu thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc không chỉ đảo lộn trong quan hệ giữa thiên tử và các chư hầu mà các công khanh, đại khu

Trang 27

cũng lấn át vua các nước chư hầu “Tháng ba, Lỗ Công hội tại Cức Lương, với Tấn Hầu, Tống Công, Vệ Hầu, Trịnh Bá, Tào Bá, Cử Tử, Châu Tử, Tiết

Bá, Kỷ Bá, Tiểu Châu Tử, ngày Mậu Dần, các đại phu thề”[66, 104] Hội thề

là nơi tập hợp các vua chư hầu thề với nhau tôn vua Chu và chống lại sự xâm lăng của ngoại tộc Các vua chư hầu hoặc các đại diện của họ tới dự “minh thệ” thì không ai được xâm phạm, các chư hầu khác phải trừng trị kẻ bất tín Nay tại hội Cức Lương vua các chư hầu đều có mặt, nhưng đại phụ lại đứng

ra thề Như vậy, vua chư hầu mất quyền chính, đại phu đều bất thần Tức là vua các nước đều không làm chính, không thân coi chính; các việc lễ, nhạc chinh phạt đều do đại phu

Ngay thời Khổng Tử, ở nước Lỗ đời Lỗ Chiêu công đã bị ba đại phu (họ Mạnh, Quý, Thúc) lấn áp; một mình họ Quý chiếm tới nửa nước Lỗ, hai

họ kia chia nhau nửa còn lại Ba họ này chia nhau thu thuế nước Lỗ để nuôi dưỡng lực lượng riêng, Lỗ Chiêu Công chỉ nhận được đồ tặng biếu từ ba nhà Khổng Tử phải than rằng: “Quyền ban phước lộc không thuộc về công thất (nhà vua nước Lỗ) đã năm đời rồi, quốc chính ở trong tay các đại phu đã

bốn đời rồi, cho nên con cháu Tam Hoàn đã suy vi rồi” (Luận ngữ, Quý thị,

3)[60, 477] Thậm chí, năm 17 Tr.CN, Chiêu Công đem quân thảo phạt họ

Quý liền bị ba nhà liên minh đánh tan tác, Lỗ Chiêu Công phải chạy sang nước Tề, sống lưu vong bảy năm rồi mất

Sự suy yếu của Thiên tử nhà Chu cả quyền lực lẫn địa vị không chỉ biểu hiện ở hành vi tiếm lễ của các chư hầu, đại phu mà còn biểu hiện ở việc chiếm đoạt triều cống Nếu trước đây, khi nhà Chu còn hưng thịnh thì việc triều cống của các nước chư hầu diễn ra đều đặn, quy cũ thì đến thời kỳ Xuân thu, các nước chư hầu tự ý thoái thác, phá bỏ chế độ triều cống Nhà Chu đã không còn

đủ thực lực để chinh phạt các nước nữa, mà phải nhờ sức mạnh của các nước lớn đứng ra giải quyết Nhân đó mà một số nước chư hầu muốn mượn danh

Trang 28

thiên tử vừa mưu tính việc chung vừa mưu tính việc riêng cho mình Năm 6 6 Tr.CN, Tề Hoàn Công muốn tiến đánh nước Sở, vì nước Sở không tuân phục nước Tề mà còn muốn cùng Tề tranh cao thấp (nước Sở điều quân cứu nước Sái - chư hầu của Sở bị nước Tề thôn tính năm 67 Tr.CN) Nhưng khi trả lời

sứ giả nước Sở về lý do khiêu chiến, Quản Trọng nước Tề đáp: “Hai nước chúng ta tuy xa cách nhau, nhưng đều do thiên tử nhà Chu phong đất Khi Tề Hoàn Công được phong, có lệnh: Ai không phục tùng thiên tử, nước Tề có quyền chinh phạt Xưa nay, nước Sở hàng năm đều tiến cống cỏ bao mao (một thứ cỏ dùng để ủ men rượu) tại sao nay không tiến cống nữa?” [25, 44] Nếu như nước Sở muốn thoái thác việc triều cống thì nước Lỗ, trong 242 năm chỉ triều cống có ba lần Không dừng lại đó, các nước chư hầu lớn còn mượn danh Thiên tử ép các nước khác phải triều cống cho mình Theo Tử Sản, mỗi lần nước Trịnh cống nạp cho nước Tấn “phải dùng một trăm xe chở lụa và da thú” Thậm chí, nước Triệu còn lấy cả đất tế điền của thiên tử nhà Chu

Trong xã hội, quan hệ cương thường đạo lý cũng suy đồi, mục rỗng, cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy

ra Nước Lỗ thời kỳ Xuân thu có trên ba mươi vụ thí quân, trên cả nước có đến ba trăm vụ Điển hình như vụ Thôi Trữ giết Tề Trang Công, đại phu Trần Hằng giết Tề Giản Công Các giá trị, chuẩn mực đạo đức suy đồi như

Sở Bình Vương tranh vợ của con; hay Vệ Tuyên Công giành vợ của con là Tuyên Khương, sau này Tuyên Khương lại thông dâm với con chồng; Ngũ

Tử Tư để báo thù tư đã đem quân ngoại bang tàn phá đất nước, các con Tề Hoàn Công tranh giành quyền lực mà để xác cha chết hơn hai tháng mới chôn Vì thế Tề Cảnh Công và Khổng Tử khi bàn về chính sự, Tề Cảnh Công

đã phải cay đắng thừa nhận: “Nghĩ như vua chẳng trọn đạo vua, tôi chẳng trọn đạo tôi, cha chẳng trọn đạo cha, con chẳng trọn đạo con, thì tuy có lúa

gạo đó, ta có thể ăn được ư?” (Luận ngữ, Nhan Uyên, 11) [61, 353]

Trang 29

Sang đến thời Chiến quốc, nhà Chu đã suy yếu, kiệt quệ cùng cực đến mức không thể tự mình chiêu binh mãi mã Đến năm 2 6 Tr.CN, Tần Chiêu Vương diệt nhà Tây Chu, bắt Chu Noãn vương, lấy đi cửu đỉnh và năm 249 Tr.CN, nhà Tần chiếm nốt Đông Chu Như vậy, triều đại nhà Chu tính từ năm 1122 Tr.CN thì kéo dài 873 năm đã diệt vong

Suốt giai đoạn Xuân thu – Chiến quốc, các nước chư hầu nhằm mở rộng lãnh thổ, xưng bá thiên hạ đã tiến hành các cuộc chiến tranh liên miên, khốc liệt đã đẩy nhân dân Trung Quốc vào cơn bĩ cực, “nồi da xáo thịt” Thời kỳ Xuân thu, nhà Chu đã không còn giữ được quyền lực, địa vị của một thiên tử, không còn uy quyền gì với các nước chư hầu nữa Nhiều nước chư hầu nhân đó mượn danh nghĩa khôi phục lại địa vị tông chủ của thiên

tử nhà Chu, đề ra khẩu hiệu “tôn vương bài di”, đua nhau động binh, tiến hành các cuộc chiến tranh nhằm mở rộng lãnh thổ, thu phục thần dân của các nước khác, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ Đầu thời kỳ Xuân thu, Lỗ

Ân Công trị vì 11 năm (722 – 712 Tr.CN) mà đã gây ra ba cuộc chiến tranh; năm 719 Tr.CN đánh nước Vệ; năm 713 Tr.CN đánh Tống chiếm đất Cáo và đất Phong; năm 712 Tr.CN liên minh với nước Trịnh chiếm được nước Hứa Hay như Sở Mục Vương làm vua được 11 năm (62 – 614 Tr.CN) đã dấy binh tới tám lần, liên tiếp chinh phạt các nước chư hầu (nước Giang, nước nước Lục, nước Trịnh, nước Tống, nước Thư ung, Thư Cưu, nước Sào) và cả những đại phu gây dựng thế lực nhằm đoạt ngôi như Đấu Nghi Thân Càng về sau, các cuộc chiến tranh càng diễn ra với mức độ ngày càng lớn, cả về số lượng lẫn quy mô Đời vua Sở Trang Vương con trai của Sở Mục Vương trị vì nước Sở hai mươi ba năm đã dấy binh đến mười lăm lần, có năm xuất binh đến hai lần, có những cuộc chiến kéo dài nhiều năm, liên tiếp chiến tranh với các nước chư hầu nhằm thôn tính nước khác, xưng bá thiên hạ Trước sự bất lực của thiên tử nhà Chu

Trang 30

trong việc giữ gìn trật tự lễ nghi cũng như can thiệp vào các cuộc chiến của các nước chu hầu, Khổng Tử than rằng: “Thiên hạ có đạo, thì lễ nhạc và hiệu lệnh chinh phạt đều ở trong tay vua thiên tử, thiên hạ không có đạo, thì chế

độ lễ nhạc và hiệu lệnh chinh phạt ở trong tay các nước chư hầu” (Luận ngữ,

Quý thị, 2) [61, 461] Thời kỳ Xuân thu có khoảng 242 năm mà đã xảy ra

483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ Đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước, đến cuối thời kỳ Xuân thu chỉ còn hơn một trăm nước Trong đó có những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ thay nhau làm bá thiên hạ là Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần Những quốc gia này hùng mạnh và làm minh chủ các nước khác là do các vua trị vì dùng cách cai trị theo chính sách “bá đạo” dựa trên sức mạnh bạo lực hoàn toàn đối lập với cách cai trị của “vương đạo” lấy

nhân nghĩa, “lấy đức thu phục người và chủ giáo hóa người” (Mạnh Tử, Tận

tâm thượng, 14) Mới đầu, cục diện “ngũ bá” gồm có Hoàn Công nước Tề,

Văn Công nước Tấn, Mục Công nước Tần, Trang Vương nước Sở Cuối Xuân thu có thêm Ngô Vương Phù Sai và Việt Vương Câu Tiễn

Sau thời gian chiến tranh liên miên, kéo dài gần 300 năm suốt thời kỳ Xuân thu đã dẫn đến sự thôn tính, sát nhập các nước chư hầu và cùng với đó

là sự sụp đổ hàng trăm nước Đến thời Chiến quốc, nổi lên bảy nước lớn là Tề (齊; Qi), Sở (楚; Chu), Yên (燕; Yan), Tần (秦; Qin), Hàn (韓; Han), Triệu (趙; Zhao), Ngụy (魏; Wei) tạo thành cục diện “thất hùng” liên tiếp dấy binh giành thiên hạ Nếu trước kia, vua các nước chư hầu vẫn xếp mình vào bậc công (公) hay hầu (侯), là chư hầu của nhà Chu thì sang thời Chiến quốc họ đã lần lượt xưng vương (王) có nghĩa là họ đã ngang hàng với nhà Chu Trong đó, nước Tần ở phía tây Hàm Cốc quan, sáu nước kia ở phía đông ải quan đó, nên được gọi là Sơn Đông lục quốc Cùng với sự phát triển của kinh tế, kỹ thuật rèn sắt,

sự ra đời của các học thuyết phục vụ chiến tranh đã đẩy các cuộc chiến tranh thời Chiến quốc của các nước chư hầu ngày càng khốc liệt, đẫm máu và quy

Trang 31

mô lớn hơn thời kỳ Xuân thu Nếu trận Thành Bộc (năm 632 Tr.CN) – trận

đánh nổi tiếng nhất thời kỳ Xuân thu (Tả truyện), có sự tham chiến của

khoảng 5 vạn quân mỗi bên thì sang đến thời Chiến quốc, tại trận Trường Bình (năm 262 Tr.CN) quân Tần đã tàn sát 4 vạn quân Triệu Các cuộc chiến liên miên, khốc liệt thời Chiến quốc đã đẩy người Trung Quốc cổ đại vào cảnh lầm than Mạnh Tử than rằng: “Lấy chiến tranh mà giành đất thì giết người đầy đồng Lấy chiến tranh mà giành thành thì giết người đầy thành Điều đó gọi là để cho đất đai ăn thịt người Cho tới chết, tội không dung tha được”

(Mạnh Tử, Ly Lâu thượng, 14) [14, 254]

Vào khoảng giữa thế kỷ thứ IV Tr.CN, nước Tần nổi lên là một quốc gia mạnh nhất nhờ những thuận lợi về vị trí địa lý cũng như hệ thống thủy lợi được duy trì từ thời kỳ Xuân thu Từ năm 3 9 Tr.CN đến năm 349 Tr.CN, Thương Ưởng (商鞅) đã thực hiện nhiều cải cách quan trọng ở nước

Tần trên nhiều lĩnh vực kinh tế, tổ chức hành chính, pháp luật, tiền tệ, sưu thuế, chế độ khen thưởng, quan hệ gia trưởng… góp phần làm tan rã công

xã nông thôn ở nước Tần Những chính sách của Thương Ưởng đánh mạnh vào quyền lợi của giai cấp quý tộc cũ, tạo động lực cho tầng lớp quý tộc mới tài năng, đầy nhiệt huyết cống hiến góp phần đưa nước Tần trở thành quốc lớn mạnh, mở đường cho việc thống nhất Trung Quốc sau này

Sự lớn mạnh của nước Tần ở phía tây và nước Tề ở phía đông đã đe dọa sự tồn vong của các nước còn lại Các nước nhỏ, tiềm lực có hạn vì vậy, họ đưa ra chiến lược liên minh với nhau, các nước này trải dài từ bắc xuống nam nên gọi là “hợp tung” 合縱(còn nước Tần ở phía tây liên minh với các nước ở phía đông gọi là “liên hoành” 連 横) Biện sĩ Tô Tần 蘇秦

(? – 285Tr.CN) được xem là người khởi xướng thuật “hợp tung” (theo các

sử gia gần đây thì Công Tôn iễn 公孫衍, nước Ngụy mới là người khởi xướng), nhằm liên kết nhiều nước yếu để đánh nước mạnh Để chống lại

Trang 32

“hợp tung”, Trương Nghi 張儀, (? - 309 Tr.CN), nước Ngụy đề xuất thuật

“liên hoành” thuyết phục vua nước Tần liên minh với các nước phía đông lần lượt tấn công các nước khác Các nước tham gia những liên minh này không có sự ràng buộc chắc chắn mà có sự thay đổi phụ thuộc vào quyền lợi của từng nước trong liên minh Nếu như trước đây, hợp tung nhằm tấn công Tần và Tề thì sau này nước Tề suy yếu (sau khi bị nước Yên tấn công (284–278 Tr.CN), chỉ còn Tần mạnh nhất nên trở thành mục tiêu duy nhất của liên minh “hợp tung” “Hợp tung” là một liên kết lỏng lẻo, chỉ mong dựa vào sức mạnh của các nước khác mà không tập trung vào phát triển kinh tế, củng cố binh bị, thiếu tầm nhìn xa và chỉ mong một kết quả tức thời Còn nước Tần, với kế sách “liên hoành” nhằm đạt mục đích rõ ràng đã thành lập liên minh tạm thời với Tề, Sở đánh các nước khác, sau khi thôn tính các nước Tần quay sang đánh các nước từng trong liên minh với mình Nhờ đó, từ năm 230 Tr.CN đến năm 221 Tr.CN, nước Tần lần lượt đánh bại các nước Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, “chấm dứt các cuộc chiến tranh liên miên tàn khốc, thống nhất Trung Quốc thành một quốc gia phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên vào năm 221 Tr.CN Đó là đế chế Tần Biến

cố này là dấu ấn ghi lại sự thay đổi lớn nhất trong lịch sử chính trị Trung Quốc Nó gắn liền với một tư tưởng triết học có ảnh hưởng lớn thời bấy giờ

là Pháp gia mà người đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử, đã giúp nước Tần thành công trong sự nghiệp thống nhất Trung Quốc” [14, 255]

Trong suốt giai đoạn Xuân thu – Chiến quốc, đời sống nhân dân rơi vào cảnh khó khăn cùng cực Để củng cố địa vị, mở rộng lãnh thổ các lãnh chúa, vương hầu ngày càng tăng cường bóc lột nhân dân lao động Người dân ngoài việc phải tòng quân tham gia các cuộc chinh chiến liên miên, còn phải chịu nhiều sưu thuế, phu phen, lao dịch nặng nề Thiên tai, dịch bệnh, mất mùa thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời

Trang 33

sống nhân dân càng thêm khốn khổ ân lưu vong khắp nơi, ruộng đồng bỏ hoang Đến cuối thời Chiến quốc, cùng với sự khốc liệt của chiến tranh đời sống nhân dân càng thêm thê thảm: “nước Vệ bắt lính tới một phần năm dân số, nước Tấn bắt ông già 73 tuổi tòng quân, nước Tề thu thuế của dân tới hai phần ba hoa lợi, ruộng đất bỏ hoang, có kẻ đói quá, phải đổi con cho nhau mà ăn thịt”[10, 34] Trong khi nhân dân phải sống trong cảnh khốn khổ, bần hàn thì các vương hầu, lãnh chúa quý tộc sống trong nhung lụa, xa hoa Họ cho xây cất cung điện nguy nga, sống trong no đủ, dư thừa: “bếp nhà vua có thịt béo, tàu vua có ngựa tốt, mà dân thì chết đói, ngoài đồng ruộng nằm la liệt kẻ chết đói” Kinh thi lại chép: “Nếu mà cấy gặt không chịu làm Sao lại lấy lúa ba trăm nhà đặng? Nếu biếng lười, săn bắn lại không Sân sao chồn thấy treo thòng? Người quân tử chẳng ngồi không ăn

đành!” (Kinh thi, Ngụy Phong) [56, 470] Tình cảnh xã hội loạn lạc, nhân

dân ngày càng bi đát, rơi vào bế tắc, tuyệt vọng đã thôi thúc các nhà tư tưởng tìm kiếm những học thuyết mới nhằm ổn định trật tự xã hội, mang lại hạnh phúc ấm no cho con người

Sự suy vong của nhà Chu cùng với các cuộc chiến tranh liên miên suốt thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc đã tạo nên những chuyển biến mạnh

mẽ trong xã hội Trung Quốc cổ đại Chế độ chính quyền tập thế dần bị đả kích, chế độ hưởng lộc cha truyền, con nối, đời đời khanh tướng đại phu bị hủy bỏ, chế độ gia tộc dần lỏng lẻo Nếu trước đây, đất đai được phong cho chư hầu, chư hầu phong cho đại phu làm chủ đất ấy Đến thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, để thực hiện chế độ phong kiến tập quyền các nước chư hầu lần lượt bỏ việc cấp đất vĩnh viễn cho thân tộc, công khanh, đại phu mà thay vào đó là thiết lập các đơn vị hành chính quận, huyện Cùng với đó là việc sụp đổ, sát nhập hàng trăm quốc gia lớn nhỏ đã làm tầng lớp quý tộc

cũ mất hết địa vị, trở thành thường dân Ngay từ thời Khổng Tử, tầng lớp

Trang 34

quý tộc đã dần mất đất đai, địa vị, chức tước Tầng lớp này trở nên nghèo túng, phải nhận chức giữ kho, trông coi công điền, công thổ Bản thân Khổng Tử cũng từng nói: “Lúc nhỏ bị nghèo hèn, ta phải làm nhiều nghề nên biết được nhiều việc nhỏ mọn”[61, 284] Bên cạnh đó, các quốc gia nhằm mở rộng thế lực, phát triển kinh tế, quân sự đã thực hiện chính sách chiêu hiền đãi sĩ, ban tước vị cho các công thần, tướng sĩ khi lập được công lao mà không phân biệt thân thế, địa vị Do vậy, một bộ phận người dân xuất thân từ tầng lớp bình dân, nô lệ, có tài năng được trọng dụng và thoát khỏi địa vị thấp mà vươn lên tầng lớp trên của xã hội Sự sụp đổ của tầng lớp quý tộc cũ và sự hình thành tầng lớp quý tộc mới không phân biệt nguồn gốc xuất thân đã báo hiệu sự kết thúc sứ mệnh của chế độ quân chủ quý tộc, đồng thời đánh dấu sự hình thành một hình thức tổ chức, quản lý

xã hội mới đó là chế độ phong kiến tập quyền

Thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc còn chứng kiến sự “giải phóng tri thức” mạnh mẽ cùng với đó là sự mở rộng to lớn về văn hóa và giáo dục, giai đoạn này được xem như thời đại hoàng kim của tư tưởng triết học Trung Quốc Trước đây, tri thức chỉ được truyền thụ trong tầng lớp quý tộc, vua quan nhằm phục vụ cho chế độ phong kiến “thế tục” o đó, nhà của chủ thái ấp không chỉ là trung tâm quyền lực kinh tế chính trị mà còn là trung tâm giáo dục Gắn với họ là các quan lại có kiến thức chuyên môn khác nhau Tuy nhiên, thứ dân không có cơ hội học hành, do đó trong thứ dân không có kẻ có học thức Bước sang thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, sự sụp

đổ của hàng loạt nước chư hầu khiến một số lượng lớn quý tộc và những tri thức phục vụ họ mất địa vị hòa vào bách tính Từ đó, những tầng lớp thấp trong xã hội có cơ hội tiếp cận được với chữ viết và tri thức, điều mà trước đây họ không thể nào chạm tới Tri thức đã vượt qua những “phiên dậu” kiên

cố của chế độ phong kiến thời nhà Chu, không còn là đặc quyền của giới quý

Trang 35

tộc mà trở thành nhu cầu cần thiết và chính đáng của nhân dân Khổng Tử đã nhấn mạnh quan điểm “hữu giáo vô loại” (giáo dục không phân biệt đẳng cấp, quý tiện, sang hèn) nhằm đả phá quan điểm chỉ có quý tộc mới xứng đáng tiếp nhận tri thức của nhà Chu “Vạn thế sư biểu” Khổng Tử có đến hàng ngàn học trò xuất thân từ nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội từ nông dân, thương nhân, binh sĩ, đến quý tộc, trong đó Nhan Hồi được biết là người rất nghèo nhưng học cao hơn cả và được Khổng Tử vô cùng yêu mến Bên cạnh Khổng Tử, tri thức thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc còn được truyền

bá bởi nhiều trường phái khác nhau và nhiều phương pháp khác nhau Nếu trước đây, người dân chỉ biết lắng nghe thì nay, với vốn tri thức họ có chính kiến riêng và những quan điểm khác nhau đối với xã hội Do vậy, sự nảy nở của nhiều trường phái tư tưởng ở thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ “trăm nhà tranh tiếng” Sự “giải phóng tri thức” là một biểu hiện rõ nét góp phần vào sự tan rã toàn diện của nhà Chu Đó không đơn thuần là sự tan rã của quyền lực chính trị của một vương thất, mà quan trọng hơn, nó còn là sự tan

rã của cả một hệ thống xã hội

Những chuyển biến mạnh mẽ trong kinh tế đã dẫn đến sự hình thành những giai tầng mới trong xã hội và cùng với đó là sự nảy sinh những mâu thuẫn mới Sự tan rã của chế độ tỉnh điền và sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất đã hình thành nên giai cấp địa chủ mới với sức mạnh kinh tế nhưng bị ràng buộc bởi những luật lệ truyền thống, tôn ti trật tự cố hữu đã ngăn cản họ nắm địa vị chính trị và những đặc quyền mà giai cấp địa chủ cũ đang có; giai cấp địa chủ cũ dần mất đất đai, kinh tế sa sút nhưng vẫn nắm trong tay địa vị chính trị và những đặc quyền mà chế độ “thế tục” mang lại,

họ cố gắng nhằm khôi phục lại thời “hoàng kim” trước đây Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Trung Quốc giai đoạn này là mâu thuẫn giữa tầng lớp mới nổi giàu có nắm địa vị kinh tế nhưng không có đặc quyền chính trị với giai

Trang 36

cấp quý tộc cũ; mâu thuẫn giữa tầng lớp địa chủ, quý tộc với nông dân, nô lệ

bị bần cùng hóa, nô dịch và phụ thuộc; mâu thuẫn cả trong chính bản thân giai cấp quý tộc cũ một bộ phận muốn duy trì chế độ tông pháp nhà Chu, một bộ phận khác lại không hài lòng với những trật tự cũ của nó Và từ trong mỗi giai tầng xã hội đó lại xuất hiện những trường phái triết học phản ánh nguyện vọng của tầng lớp xã hội mà trường phái đó đại diện

Chính trong thời đại lịch sử biến đổi toàn diện và sâu sắc đó đã đặt ra những vấn đề triết học, chính trị xã hội, luân lý đạo đức, kinh tế, pháp luật, ngoại giao…mà những học thuyết cũ không thể giải quyết được Điều này đã thôi thúc, kích thích các bậc sĩ phu tìm kiếm những phương pháp, lý luận mới giải quyết những vấn đề đó làm nảy sinh ra một loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học lớn Các nhà tư tưởng, các môn phái triết học là đại diện cho lợi ích các tầng lớp, giai cấp xã hội khác nhau, vừa

kế thừa những tư tưởng của nhau, vừa đấu tranh với nhau hết sức quyết liệt, tạo nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại Tính đa dạng, phong phú trong tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại phản ánh hiện thực xã hội đầy xáo động và biến chuyển, nhưng đồng thời, vì được nảy nở trong lòng xã hội với tính chất chung ấy, các trường phái triết học phần lớn đều phản ánh thế giới không phải một cách đứng yên, không vận động mà ngược lại, xã hội, con người trong tư tưởng triết học thời bấy giờ luôn được nhìn nhận vận động một cách liên tục, từ chỗ thống nhất đến tan rã, lúc cực thịnh đến lúc suy vong, tính chất hợp – tan, phát triển – tiêu vong hiện diện trong phần lớn tư tưởng triết học, từ đó định hình nên tính chất biện chứng đặc sắc trong hệ thống tư tưởng triết học Trung Quốc thời

kỳ Xuân thu – Chiến quốc Nó thực sự trở thành đỉnh điểm của toàn bộ đời sống văn hóa tinh thần của xã hội Trung Hoa cổ đại, như một mốc son chói lọi trong lịch sử tư tưởng phương Đông

Trang 37

Sự phong phú đa dạng của các hệ thống triết học thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc đã được xem là thời kỳ “Bách gia chư tử”-諸子百家 Từ rất sớm, các nhà nghiên cứu lịch sử và triết học đã cố gắng phân loại “bách gia chư tử” Trong đó, có hai thuyết được chú ý, đó là: thuyết của Tư Mã Đàm và thuyết của Lưu Hâm Theo Tư Mã Đàm, các triết gia cổ đại được phân chia thành sáu trường phái chính: Âm dương gia, Nho gia, Mặc gia, Pháp gia,

anh gia và Đạo đức gia Còn theo thuyết của Lưu Hâm, trong Nghệ văn

chí, ông chia bách gia thành mười phái chính Trong đó có sáu phái như Tư

Mã Đàm đã liệt kê Bốn phái còn lại là: Tung hoành gia (Phái các nhà ngoại giao), Tạp gia (Phái chiết trung), Nông gia (phái nhà nông) và Tiểu thuyết gia (phái các nhà kể chuyện) Lưu Hâm kết luận: “các nhà tư tưởng thì có mười phái, nhưng đáng chú ý chỉ có chín phái mà thôi” (trừ Tiểu thuyết gia) [37, 45] Các triết thuyết của các nhà tư tưởng thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc xét cho cùng đều mang trong mình tiếng nói của từng tầng lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội

Những chuyển biến của xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến Quốc còn đưa đến một yếu tố quyết định sự hưng thịnh của tư tưởng triết học thời kỳ này đó là mức độ tách biệt cao của lao động trí óc khỏi lao động chân tay Vai trò ngày một tăng của lao động nô lệ, nông dân – những người phải gánh vác một khối lượng lao động cơ bắp nặng nề nhất đã tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay và góp phần thúc đẩy quá trình đó phát triển Bước sang thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, xã hội Trung Quốc cổ đại đã xuất hiện tầng lớp tri thức, khoa học một cách đông đảo, tách hẳn ra khỏi các hoạt động lao động chân tay Như vậy, sự phát triển cao của lao động trí óc đã dẫn đến sự xuất hiện của triết học có tính hệ thống, với tư cách là một hình thái ý thức đặc biệt của xã hội

Cùng với đó, xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc còn

Trang 38

chứng kiến sự vận động, biến đổi liên tục đó là: sự hình thành suy vong của các nước chư hầu, sự hình thành tầng lớp quý tộc mới và sự thất thế của tầng lớp quý tộc cũ, sự sụp đổ của phương thức quản lý xã hội cũ và phương thức quản lý tập quyền dần hình thành…tất cả đã tác động mạnh

mẽ đến tư duy nhận thức của người Trung Quốc cổ đại Trước đây, dưới ảnh hưởng của hình thức nông nghiệp tỉnh điền, xã hội tông pháp nhà Tây Chu ổn định suốt gần 1000 năm nên tư duy của người Trung Quốc cổ đại không muốn có thay đổi và họ cũng không mạo hiểm thay đổi Nhưng trước chuyển biến xã hội thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, người Trung Quốc cổ đại đã nhìn thấy “vạn vật đều trôi đi”, không gì tồn tại vĩnh hằng, tự nhiên,

xã hội và con người đều vận động, biến đổi Có thể nói, nếu điều kiện trực tiếp cho sự ra đời của phép biện chứng ở Hy Lạp cổ đại chính từ vị trí địa lý cùng đặc điểm kinh tế thương nghiệp thì ở Trung Quốc cổ đại cùng với kinh tế, những biến đổi xã hội thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc mới là những điều kiện trực tiếp

1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI KỲ XUÂN THU – CHIẾN QUỐC

Tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng biện chứng Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc nói riêng là những giá trị tinh thần cô đọng nhất, tinh túy nhất, phản ánh hiện thực lịch xã hội của thời đại chứa đựng

nó Bên cạnh cơ sở hiện thực chính trị xã hội, tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc giai đoạn này còn kế thừa những giá trị tri thức và tinh hoa tư tưởng trước đó của người Trung Quốc cổ đại trước đó Tư tưởng biện chứng của người Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc là kết quả của quá trình phát triển tư tưởng lâu dài: được bắt đầu từ thế giới quan thần thoại tôn giáo, tư tưởng súng bái tự nhiên và tín ngưỡng totem đến những tư

Trang 39

tưởng duy vật chất phác và tư tưởng vô thần tiến bộ thời Ân Thương – Tây Chu Trong đó, những tư tưởng vô thần thời Ân Thương – Tây Chu đã đặt những tiền đề quan trọng và trực tiếp cho sự hình thành tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc

1.2.1 Thần thoại và những tín ngưỡng sơ khai

Cũng như những nền triết học khác trên thế giới, ở Trung Quốc cổ đại, ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện những mầm mống tư tưởng triết học đầu tiên Con người trong xã hội nguyên thủy với mong muốn tìm hiểu và chinh phục tự nhiên, cùng với những kinh nghiệm đời sống ít ỏi của mình đã nảy sinh những quan niệm sơ khai về thế giới Những quan điểm đầu tiên về thế giới của người Trung Quốc cổ đại buổi đầu hình thành xã hội, đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy biện chứng của người Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc Những hình ảnh sơ khai

về thế giới, về xã hội đã được nhận thức và đúc kết qua hàng ngàn năm lịch

sử đó là những quan niệm về mặt trăng và mặt trời, âm và dương, linh hồn

và thể xác, nóng và lạnh, dữ và lành… Là một xã hội hầu hết được xây dựng trên cơ sở định cư nông nghiệp, nên tư duy của người Trung Quốc cổ đại là sự tiếp nối liên tục những mầm mống tư tưởng truyền thống

Người Trung Quốc cổ đại trong buổi đầu hình thành xã hội, cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới họ cũng có tín ngưỡng tôtem (totemism) và tín ngưỡng vật linh (animisme), những hình thức tôn giáo nguyên thủy của nhân loại Những hình thức tôn giáo này xem tất cả những sự vật, hiện tượng của tự nhiên như trời, đất, núi, sông, muông thú, thực vật, động vật… đều có linh hồn như con người Đối với người nguyên thủy, những sự vật hiện tượng trong tự nhiên đều có tính thiêng liêng chí cao vô thượng, có khả năng làm chủ sinh mệnh nhân loại, cải biến cuộc sống của con người Những hình thức tôn giáo này được biểu hiện trong tên của những vị tù trưởng, tộc trưởng thời

Trang 40

Tam hoàng, Ngũ đế Chẳng hạn, Phục Hy tương truyền là họ Phong, mình rắn, đầu người Thần Nông là thần Long, mình người, đầu trâu Hoàng đế là họ Hữu Hùng (hùng là giống gấu) Mẹ Đế Nghiêu hợp hôn với rồng đỏ sinh ra Nghiêu Đế Thuấn họ Hữu Ngu (ngu là một loài thú)…v.v [37, 236] Họ còn sùng bái các thiên thể chủ yếu là mặt trời và mặt trăng, trong đó, mặt trời rất được coi trọng Người Trung Quốc cổ đại rất đề cao mặt trời Các câu chuyện thần thoại lấy mặt trời làm trung tâm rất đa dạng, đó là: truyện về ngày sinh, ngày tắm, ngày cưới ngựa của Hi Hòa; trên cây phù tang có mặt trời, hàng ngày, được con quạ đen cõng đi tuần hành trên trời; Hậu Nghệ bắn chín mặt trời…Từ nhiều bức vẽ và hoa văn trong bích họa, nham họa, mảnh gốm, đồ dùng tại các di chỉ khảo cổ, người ta đã phát hiện nhiều hoa văn liên qua tới hình tượng mặt trời Trong giáp cốt đời Ân Thương, có ghi chép về ngày tiếp

khách, ngày đi về của mặt trời Đời Chu có nghi thức tế mặt trời kiểu “đại báo

thiên nhi chủ nhật”(Lễ ký – Tế nghĩa) Những kính từ cao nhất đến vua như:

hoàng, hạo, hoa, mẫn…trong chữ Hán, cũng đều xuất phát từ mặt trời Sự sùng bái mặt trăng của người Trung Quốc cổ đại thấp hơn so với sùng bái mặt trời và tư liệu cũng khá ít Thần thoại Trung Quốc có nhắc đến: “Vợ Đế Tuấn

là Thường Hi, sinh ra mười hai mặt trăng” (Sơn hải kinh – Đại hoang Tây

kinh), và coi Thường Hi là thần mặt trăng Người Trung Quốc cổ đại phân bố

rộng khắp, do đó tín ngưỡng cũng đa dạng và những vị thần cũng được sùng bái dựa vào đặc điểm tự nhiên của vùng miền Hải thần được kính trọng trong văn hóa người dân vùng ven biển Đông Nam Hà thần, Giang thần được sùng bái nhiều ở những đồng bằng châu thổ Thụ thần, Sơn thần được tín thờ nhiều

ở vùng rừng núi, về cơ bản, đều coi tất cả những vật tự nhiên có quan hệ mật thiết với đời sống sinh hoạt của mình

Như vậy, sự xuất hiện của thần thoại và những tín ngưỡng đầu tiên của con người nguyên thủy với tư cách là sự phản ánh giới tự nhiên và đời

Ngày đăng: 14/04/2021, 18:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào uy Anh (19 4), Trung Hoa sử cương, Nxb. Bốn phương, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Hoa sử cương
Nhà XB: Nxb. Bốn phương
2. Ph.Ăngghen, Biện chứng của tự nhiên, (Nguyễn Bằng Tường dịch, 2010), Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
3. C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 1 (199 ), Nxb. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc Gia
4. C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 3 (199 ), Nxb. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc Gia
5. C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 4 (199 ), Nxb. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc Gia
6. C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 20 (199 ), Nxb. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc Gia
7. C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 23 (199 ), Nxb. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc Gia
8. C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 42 (199 ), Nxb. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc Gia
9. Nguyễn uy Cần (1997), Tinh hoa đạo học Đông phương, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa đạo học Đông phương
Tác giả: Nguyễn uy Cần
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1997
10. Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê (1996), Đại cương triết học Trung Quốc, tập 1 và tập 2, Nxb Cảo Thơm, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
Tác giả: Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Cảo Thơm
Năm: 1996
11. Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê, Tuân Tử, (1994), Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuân Tử
Tác giả: Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê, Tuân Tử
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1994
12. oãn Chính, Trương Giới, Trương Văn Chung (1984), Giải thích các danh từ triết học sử Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích các danh từ triết học sử Trung Quốc
Tác giả: oãn Chính, Trương Giới, Trương Văn Chung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
13. oãn Chính (chủ biên) (1999), Tuyển tập triết học Trung Quốc cổ đại, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập triết học Trung Quốc cổ đại
Tác giả: oãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999
14. oãn Chính (Chủ biên) (201 ), Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Đông
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
15. oãn Chính, Nguyễn Văn Trịnh (2007), Tư tưởng pháp trị của pháp gia với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng pháp trị của pháp gia với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
Tác giả: oãn Chính, Nguyễn Văn Trịnh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
16. Trương Chính, Phan Văn Các, Đàm Gia Kiện, Nguyễn Thạch Giang (1999), Lịch sử văn hóa Trung Quốc, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa Trung Quốc
Tác giả: Trương Chính, Phan Văn Các, Đàm Gia Kiện, Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
17. Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý (Lương uy Thứ chủ biên, dịch, 1994), Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
18. Đường Đắc Cường (Chủ biên, 2003), Cuội ngu n văn hóa Trung Hoa (Nguyễn Thu Hiền dịch), Nxb Hội nhà văn Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuội ngu n văn hóa Trung Hoa
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn Hà Nội
77. Tạp chí Đảng Cộng sản, http://www.tapchicongsan.org.vn/ Link
78. Tạp chí Triết học, http://www.philosophy.vass.gov.vn/ B. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w