1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ý nghĩa của nó với việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tỉnh bình định hiện nay

174 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng hồ chí minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn – Ý nghĩa của nó với việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tỉnh bình định hiện nay
Tác giả Trần Thị Thanh Thúy
Người hướng dẫn TS. Hà Thiên Sơn
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa yêu nước và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn .... Đảng bộ tỉnh Bình Định tăng cư

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS HÀ THIÊN SƠN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình khoa học do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Hà Thiên Sơn Các số liệu kết quả nêu ra và trích dẫn trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và

có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

TP Hồ Chí Minh, ngày.… tháng… năm 2018

Người cam đoan

Trần Thị Thanh Thúy

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 01 Chương 1: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ

LÝ LUẬN HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG

1.1.1 Khái quát điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội của thế giới cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX 10 1.1.2 Khái quát điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội của Việt Nam cuối thế

kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX 17

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ

1.2.1 Chủ nghĩa yêu nước và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 24 1.2.2 Tinh hoa triết học, giá trị văn hóa phương Đông và phương Tây hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 26 1.2.3 Tiền đề chủ quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 34

1.3 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ

1.3.1 Nội dung chủ yếu tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn 39 1.3.2 Đặc điểm cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn 55

Trang 5

Kết luận chương 1 68 Chương 2: Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ

THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỚI VIỆC XÂY

2.3.1 Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ đặc điểm quá

trình phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của tỉnh Bình

Định giai đoạn hiện nay 108 2.3.2 Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ phải có phẩm chất đạo đức, bản

lĩnh chính trị vững vàng 109 2.3.3 Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn giỏi,

biết vận dụng tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn 113

Trang 6

2.4.1 Đảng bộ tỉnh Bình Định tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác nâng cao nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí

Minh trong toàn hệ thống chính trị và trong nhân dân tỉnh Bình Định 116

2.4.2 Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ văn hóa, khoa học trong đội ngũ cán bộ tỉnh Bình Định hiện nay 123

2.4.3 Nâng cao trình độ tư duy lý luận trong đội ngũ cán bộ tỉnh Bình Định hiện nay 129

2.4.4 Tăng cường tổng kết công tác thực tiễn, quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đội ngũ cán bộ tỉnh Bình Định hiện nay 135

2.4.5 Thực hiện tốt dân chủ cơ sở gắn với đổi mới công tác cán bộ nhằm sử dụng và phát huy có hiệu quả đội ngũ cán bộ tỉnh Bình Định 141

Kết luận chương 2 151

KẾT LUẬN CHUNG 153

PHỤ LỤC 158

TÀI LIỆU THAM KHẢO 159

CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 168

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tình cấp thiết của đề tài

Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong” [59, 269] Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh điều đó – cán bộ là nhân tố quan trọng của cách mạng Hiện nay, đất nước đang mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế thì vai trò của người cán bộ càng được chú tâm đến Cán bộ giỏi lý luận thì tuyên truyền, vận động tốt; cán bộ giỏi thực tiễn thì mới điều hành được công việc, quản lý được nhân lực; lý luận tốt và thực tiễn giỏi là điều không thể thiếu ở một người cán bộ

Tuy nhiên, trước những thách thức của thời kỳ đổi mới và hội nhập, thực trạng của đội ngũ cán bộ hiện nay tỏ ra chưa tương xứng với yêu cầu và nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới Thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ hiện nay

chủ yếu thuộc 3 kiểu: Một là, cán bộ am hiểu lý luận, nhưng ít thực tiễn; Hai

là, cán bộ có thực tiễn, nhưng yếu lý luận; Ba là, cán bộ vừa không am hiểu

lý luận, vừa xa rời thực tiễn Số cán bộ vừa am hiểu lý luận, sâu sát thực tiễn chỉ chiếm số lượng nhỏ Sự yếu kém về lý luận, xa rời thực tiễn của một bộ phận cán bộ đã làm giảm hiệu quả của công tác tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo

Trong những năm qua tỉnh Bình Định luôn có những chủ trương, chính sách nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở địa phương ngày càng vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới Bên cạnh những thành tựu đạt được trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tỉnh Bình Định thì vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải sớm khắc phục

Đó là có một bộ phận cán bộ yếu kém về lý luận, xa rời thực tiễn, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình chưa quán triệt nguyên tắc

về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Tình trạng cán bộ yếu về lý luận,

Trang 8

xa rời thực tiễn, hay cán bộ chỉ có lý luận, không có thực tiễn hoặc ngược lại

đã gây những hệ lụy không nhỏ cho Nhà nước và xã hội Đơn cử, trong thời gian qua, nhiều chính sách hay những văn bản như Quy định, Hướng dẫn của một số cơ quan chức năng liên quan đến nhiều vấn đề về xây dựng, nhà đất, khai thác khoáng sản… dù là dự thảo hay đưa vào thực hiện đã gây luồng dư luận bất bình trong xã hội, bởi không phù hợp với thực tế, không phản ánh được thực tiễn cuộc sống Điều đó đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả của các chính sách, gây bức xúc trong dư luận Đây là một thực tế mà nếu không có giải pháp khắc phục kịp thời, sẽ để lại nhiều hậu quả, làm suy giảm lòng tin của nhân dân

Cũng vì những bất cập, yếu kém về lý luận và thực tiễn của một bộ phận không nhỏ cán bộ nên nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chậm đi vào cuộc sống Ở nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị, do cán

bộ không nắm được tình hình thực tiễn, nên tham mưu không đúng, không trúng vấn đề, không phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Cũng

có nhiều cán bộ vì kém lý luận, thiếu hiểu biết, nên không truyền tải, tuyên truyền, vận động, thuyết phục được nhân dân tham gia thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không dám đối thoại với nhân dân, lúng túng trong xử lý các tình huống; nhiều cán bộ thực hiện chức trách, nhiệm vụ một cách máy móc, giáo điều, rập khuôn, thiếu tinh thần sáng tạo và không có quan điểm lịch sử - cụ thể khi xử lý, giải quyết công việc Chính vì vậy việc quán triệt tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đội ngũ cán bộ ở tỉnh Bình Định hiện nay đã trở thành một yêu cầu cấp bách và mang tính thời đại Do đó, việc nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, gắn nghiên cứu lý luận với việc tổng kết thực tiễn là việc làm hết sức cần thiết, kịp thời và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn sâu sắc trong việc xây dựng đội ngũ

Trang 9

cán bộ hiện nay để “góp phần quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước” [106, 118], có thêm những xung lực mới hoàn thành mục tiêu trọng đại của đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ và văn minh

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tỉnh Bình Định hiện nay, với sự hiểu biết của bản thân, mong muốn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng được một đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay,

vì vậy tác giả đã chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn – Ý nghĩa của nó với việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tỉnh Bình Định hiện nay” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành

triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt, nhất là trong thời kỳ đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Bởi lẽ, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn hệ thống lý luận của Hồ Chí Minh mà còn góp phần hoạch định và hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; vận dụng và phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh nhằm giải quyết thắng lợi những vấn đề đặt ra trong quá trình cách mạng nói chung, cũng như trong cuộc sống thường ngày là vô cùng quan trọng và cần thiết Vì vậy có rất nhiều nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ, phạm vi, theo từng lĩnh vực… và đạt được nhiều thành công rất đáng trân trọng

Có thể khái quát những công trình nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và vận dụng

Trang 10

tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc xây dựng đội ngũ cán bộ theo hai hướng sau:

Hướng thứ nhất là các công trình nghiên cứu, giới thiệu tư tưởng Hồ

Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:

Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên), Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Song Thành (Chủ biên), Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Lê Hữu Nghĩa (Chủ biên), Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, Nxb Lao động, Hà Nội, 2000; Trần Văn Phòng (Chủ biên), Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001;

Hồ Kiếm Việt, Góp phần tìm hiểu đặc sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Nguyễn Đức Đạt, Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Bùi Đình Phong, Hồ Chí Minh học và minh triết Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008;

Lê Văn Yên, Hồ Chí Minh với chiến lược đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Võ Nguyên Giáp (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Nguyễn Thị Thanh Thủy, Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Triết học,

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh,

2010; Trần Văn Phòng, Hoàng Anh, Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh – Một số vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015… Các tác giả đề cập

đến nhiều nội dung, trong đó nhấn mạnh quan điểm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là di sản quý báu trong tư tưởng mà Hồ Chí Minh để lại Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh và là một trong những yếu tố góp phần làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh

có sức sống trường tồn và sức mạnh cải tạo vĩ đại; từ đó rút ra nguyên tắc

Trang 11

phương pháp luận và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Ngoài ra còn có một số bài viết tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề này

như: Tổng kết thực tiễn, một nhiệm vụ trọng yếu của công tác lý luận hiện nay của Nguyễn Phú Trọng, đăng ở tạp chí Cộng sản, số 15, 2002; Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh của Hoàng Chí Bảo, đăng ở tạp chí Khoa học Xã hội, số 1 (59), 2003; Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều của Trần Văn Phòng, đăng ở tạp chí Khoa học xã

hội, số 05 (93), 2006… Tuy còn có nhiều quan niệm khác biệt nào đó về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nhưng nhìn chung các công trình này đều nêu bật những nội dung sau:

Thứ nhất, khẳng định mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tầm đặc

biệt trong triết học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ hai, giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ khăng khít Vì vậy,

tôn trọng mối quan hệ này sẽ giúp cho chủ thể hành động tránh bệnh chủ quan, duy ý chí và phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan

Thứ ba, trong mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn được biểu hiện

thông qua: vai trò quan trọng của thực tiễn đối với lý luận (thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của lý luận; thực tiễn là động lực, mục đích của lý luận; thực tiễn

là tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng đắn của chân lý) và vai trò của lý luận đối với thực tiễn (lý luận định hướng và tổ chức thực tiễn, lý luận giúp khắc phục bệnh kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn)

Thứ tư, sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguyên

tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc xác định đường lối cách mạng ở nước ta

Trang 12

Hướng thứ hai là các công trình bàn về vấn đề xây dựng, đào tạo, bồi

dưỡng đội ngũ cán bộ ở Việt Nam hiện nay, trong đó có nội dung thể hiện ý nghĩa tư tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của Hồ Chí Minh:

Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm, Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (Đồng chủ biên), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Bùi Đình Phong, Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, Nxb Lao động,

Hà Nội, 2006; Hồng Vinh, Đào Duy Quát (Chủ biên), Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006; Lê Thị Hồng Hà, Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giáo dục cán bộ, Luận văn thạc sĩ triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, 2007; Bùi Kim Hồng, Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác cán bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Nguyễn Minh Tuấn, Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012… Nhìn

chung, các tác giả nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ nói chung, trong đó có đề cập đến quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ hiện nay thì việc quán triệt nguyên tắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là không thể thiếu Mỗi người cán bộ cần phải vừa am hiểu lý luận, lại sâu sát với thực tiễn để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới

Nghiên cứu về vấn này còn có nhiều bài viết như: Giáo dục lý luận chính trị và đạo đức cho cán bộ hiện nay (Nguyên Tĩnh Gia, đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 22, 2001); Tư Tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và học tập lý luận (Lương Gia Ban, đăng trên Tạp chí Triết học số 01, 2001); Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận – một đòi hỏi cấp thiết, (Đăng ở tạp chí Công tác

Trang 13

khoa giáo, số 7, 2002), Đẩy mạnh công tác thực tiễn, phát triển lý luận trong tình hình mới (Lê Duy Chương, đăng trên tạp chí Lý luận Chính trị, số 8,

2002)… Các công trình nêu trên (cùng với nhiều công trình khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu) đều khẳng định về vai trò, thực trạng của việc đội ngũ cán bộ thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, làm thế nào để thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đem lại hiệu quả nhất

Ở Bình Định, một số bài viết nghiên cứu về thực trạng đội ngũ cán bộ của tỉnh, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng

cho đội ngũ cán bộ tỉnh Bình Định như: Minh Tuấn, Nhìn lại đội ngũ cán bộ

và công tác cán bộ ở tỉnh ta (đăng trên Báo Bình Định ngày 03 tháng 07 năm

1997), bài viết đánh giá tình hình chung về đội ngũ cán bộ tỉnh Bình Định và

đề ra 4 giải pháp thoát khỏi nguy cơ tụt hậu về nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ, làm tốt công tác cán bộ cho hôm nay và mai sau; Nguyễn Thị Kim

Thanh, Một số kết quả bước đầu trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở Bình Định (đăng trên Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 6 – 1998), bài viết nêu ra

một số kết quả điều tra khảo sát toàn diện đội ngũ cán bộ của Đảng, chính quyền toàn thể trong tỉnh, công tác phát triển cán bộ của tỉnh đến năm 2000

và năm 2020, kế hoạch đào tạo và quy hoạch cán bộ, một số bước chuẩn bị

và yêu cầu để làm tốt công tác này; Tôn Võ Xuân, Một số suy nghĩ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo – bồi dưỡng cán bộ của tỉnh Bình Định (đăng

trên Báo Bình Định, ngày 05 tháng 01 năm 2001), đề cập đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt của các xã, phường, thị trấn trên lĩnh vực học tập

lý luận chính trị và nghiệp vụ quản lý Nhà nước…

Nhìn chung, các công trình khoa học nêu trên dù nghiên cứu ở những góc độ khác nhau và giới hạn, phạm vi khác nhau, nhưng đều nhấn mạnh vai trò, vị trí quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ Những công trình này

sẽ là tài liệu tham khảo quý giá cho quá trình thực hiện luận văn của tác giả

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn: Từ sự phân tích làm rõ nội dung cơ bản, luận

văn nhấn mạnh ý nghĩa tư tưởng của Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm chỉ ra thực trạng và đề xuất phương hướng, một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tỉnh Bình Định hiện nay

Nhiệm vụ của luận văn:

- Thứ nhất, khái quát những điều kiện lịch sử - xã hội, tiền đề lý luận,

tiền đề chủ quan và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

- Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng việc xây dựng và phát triển

đội ngũ cán bộ ở tỉnh Bình Định thời gian qua

- Thứ ba, từ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý

luận và thực tiễn, trên cơ sở thực trạng việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tỉnh Bình Định thời gian qua, đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tỉnh Bình Định hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự

thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán

bộ ở tỉnh Bình Định hiện nay

Phạm vi nghiên cứu luận văn: Trong phạm vi của luận văn người thực

hiện chỉ chú trọng làm sáng tỏ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, từ đó vận dụng vào việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tỉnh Bình Định hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn: Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan

Trang 15

và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu của luận văn: Luận văn sử dụng tổng hợp

các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử,

so sánh - đối chiếu… để nghiên cứu và trình bày luận văn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa khoa học của luận văn: Luận văn làm rõ những nội dung và

đặc điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, khẳng định giá trị, vai trò to lớn của của nó đối với sự phát triển của

lý luận và việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ ở tỉnh Bình Định hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Luận văn của tác giả góp phần chỉ ra

giải pháp để thực hiện có hiệu quả việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ

ở tỉnh Bình Định hiện nay Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập và các công trình nghiên cứu liên quan; đồng thời góp phần nâng cao nhận thức và hành động thiết thực, thực hiện hiệu quả chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/05/2016, chỉ thị của Bộ chính trị về “Đẩy mạnh học tập, và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 7 tiết

Trang 16

Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1.1 Khái quát điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội của thế giới cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử thế giới có nhiều chuyển biến to lớn, chuẩn bị cho bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của nhân loại Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển dần lên giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa đế quốc Để mở rộng thị trường, chủ nghĩa tư bản tiến hành xâm lược các nước phương Đông, các nước lạc hậu ở châu Phi, châu Mỹ Latinh Chỉ một số ít nước đế quốc là Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Mỹ… nô dịch và bóc lột đa số nhân loại Điều đó tạo nên

sự tác động trực tiếp đến đời sống xã hội Việt Nam

Về kinh tế, chủ nghĩa tư bản tạo ra lực lượng sản xuất lớn, làm cho

diện mạo của đời sống xã hội thay đổi C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá:

“Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” [7, 603] Trong quá trình phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản do sự phát triển không đồng đều nên dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1900 – 1903, sau đó tổng khủng hoảng và cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất Trước thực trạng đó phải đòi hỏi các nước tư bản mở rộng thị trường bằng cách thực hiện xâm lược và áp dụng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào các dân tộc phương Đông Cuộc đấu tranh để chia lại thuộc địa là một

Trang 17

nguyên nhân chủ yếu dẫn tới chiến tranh thế giới lần thứ nhất

Về chính trị, giai cấp tư sản thực hiện cuộc cách mạng xã hội lật đổ chế

độ phong kiến, kiến thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ

tư sản, tạo nên bước chuyển từ chế độ quân chủ sang dân chủ; từ quân quyền sang pháp quyền Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra sự phát triển nhanh chóng của giai cấp công nhân, đặc biệt ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nga Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn cơ bản nhất là giữa tư sản và vô sản, sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đã tạo nên phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản Sau thất bại của Công

xã Pari (năm 1871), phong trào công nhân tiếp tục được phục hồi, bắt đầu thời

kỳ tập hợp lực lượng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới chống chủ nghĩa tư bản Các chính đảng của giai cấp công nhân lần lượt ra đời, lãnh đạo phong trào đấu tranh và tiến tới thành lập Quốc tế II (năm 1889), dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ph.Ăngghen Sau này Ph.Ăngghen mất (năm 1895), Quốc tế II bị các phần tử cơ hội lũng đoạn và mất vai trò lịch sử, đến năm 1919, V.I.Lênin thành lập Quốc tế III, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân được củng

cố và phát triển Cho nên, nền dân chủ tư sản cũng như phong trào cách mạng

vô sản ở các nước tư bản đã ảnh hưởng rất lớn đến các nước phong kiến, đặc

biệt là làm cho tư tưởng chính trị chuyển hướng sang dân chủ tư sản

Về văn hóa, khoa học, kỹ thuật, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là

thời kỳ nở rộ nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật ở các nước tư bản phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho con người nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, hiểu biết tự nhiên, xã hội sâu sắc hơn Và nhờ đó, mặt tư tưởng được củng cố thêm về thế giới quan duy vật, tạo điều kiện cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng tiến bộ

Khi chủ nghĩa tư bản xâm lược đã buộc các nước phương Đông sớm chuyển sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mặc dù trong lòng xã

Trang 18

hội mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phong kiến chưa sâu sắc, để xuất hiện nhu cầu giải quyết mâu thuẫn, phát triển lên phương thức sản xuất mới Quá trình xâm lược của chủ nghĩa tư bản đã để lại cho các dân tộc thuộc địa những hệ quả tiêu cực và tích cực, trong đó tiêu cực là chủ yếu Từ những năm 1860 – 1870, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh phát triển dần lên giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa đế quốc và trở thành hệ thống thế giới Các nước đế quốc chuyển từ mở rộng thị trường buôn bán sang việc mở rộng xâm chiếm thuộc địa, tranh giành, xâu xé, nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong vòng kìm kẹp của chúng Từ đó, chủ nghĩa đế quốc đã tạo ra ở các dân tộc thuộc địa một nền kinh tế què quặt, trì trệ, chậm phát triển, lệ thuộc vào các nước tư bản; nền văn hóa mang tính nô lệ, lai căng, phức tạp, nền y tế, giáo dục thấp kém, đời sống nhân dân khổ cực với cảnh một cổ hai tròng

Bên cạnh đó, các cuộc xâm lược của chủ nghĩa tư bản cũng để lại cho các dân tộc thuộc địa những hệ quả tích cực nằm ngoài ý muốn của chủ nghĩa tư bản Đó là phương thức sản xuất tư bản đã phá vỡ các quan hệ sản xuất cũ, tạo nên sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật; mở mang ngành nghề mới, xóa bỏ tình trạng bế quan tỏa cảng của chế độ phong kiến; các nước thuộc địa bắt đầu tiếp thu các tư tưởng dân chủ, giá trị về tư tưởng pháp quyền, tiến hành các cuộc cải cách, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, xây dựng đời sống văn minh… Những yếu tố đó mang tính chất xây dựng, góp phần phát triển xã hội, làm cho các nước phương Đông có thêm điều kiện để hội nhập vào sự phát triển chung của thế giới Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã kích thích trí thức các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam sang phương Tây học hỏi

Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ngày một mạnh mẽ, dù bị đàn áp khốc liệt sau khi Công xã

Trang 19

Paris bị đàn áp đẫm máu năm 1871 Từ khi thực dân phương Tây bắt đầu cuộc xâm lược thuộc địa (thế kỷ XVI) cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX, các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh bị xâm lược đã phát động phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Các cuộc đấu tranh này diễn ra ở những thời điểm khác nhau, có hình thức và phương pháp cách mạng khác nhau nhưng tất cả đều vì mục đích chung là chống thực dân, giành độc lập dân tộc Ở thời kỳ này, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu:

Thứ nhất, đấu tranh vũ trang, bao gồm cả triều đình phong kiến, sĩ phu, nhân

dân, hình thức này diễn ra ở Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên và các nước ở

Đông Nam Á Thứ hai, phương pháp đấu tranh hòa bình bằng các cuộc cải

cách xã hội, bất hợp tác với thực dân Tuy nhiên, hình thức này diễn ra rất ít, chủ yếu ở Ấn Độ thời kỳ đầu Với các hình thức đấu tranh này, ít nhiều cũng tác động nhất định đến phong trào cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ Nó tác động đến việc lựa chọn phương pháp cách mạng của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng… trong cách mạng giải phóng dân tộc

Phong trào giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (những năm 1920) của các dân tộc Á, Phi mang tính chất dân tộc rõ nét, có tính chất

đa dạng, phong phú, do sự chi phối của điều kiện lịch sử riêng biệt của các dân tộc Phong trào giải phóng dân tộc được hình thành theo ba khuynh

hướng chính như sau: Thứ nhất, phong trào giải phóng dân tộc mang ý thức

hệ phong kiến diễn ra ở các nước như Triều Tiên, Miến Điện, Campuchia

Thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản, diễn ra ở

những nước mà giai cấp phong kiến cầm quyền dần dần mất vai trò lịch sử, nhưng giai cấp tư sản còn non yếu, tầng lớp sĩ phu sớm nhận thức được xu thế của lịch sử, lãnh đạo dân tộc đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, tiêu

biểu như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc Thứ ba, phong

Trang 20

trào giải phóng dân tộc mang ý thức hệ tư sản và do giai cấp tư sản lãnh đạo như Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc, Ganđi, Nêru ở Ấn Độ Các cuộc cách mạng đi theo con đường trên đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc cải cách xã hội nhưng chưa có cuộc cách mạng nào thành công triệt để Như vậy, ở châu Á, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc có những con đường cách mạng khác nhau, điều đó đã tác động trực tiếp đến việc lựa chọn con đường cách mạng của các nhà tư tưởng chính trị Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thế kỷ XX [13, 841]

Nét nổi bật nhất trong phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Đây là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường mới – con đường cách mạng vô sản Cuộc cách mạng này là cuộc cách mạng triệt để nhất, đã giải quyết mâu thuẫn giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa đế quốc, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản, nhân dân lao động với giai cấp tư sản, địa chủ Giai cấp vô sản trở thành giai cấp lãnh đạo với chính đảng là Đảng Cộng sản, lực lượng cách mạng nòng cốt là công nhân và nông dân Trong quá trình hoạt động cách mạng ở nước ngoài,

Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức bản Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, và lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam là đi

theo cách mạng vô sản Có thể nói, kinh nghiệm của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào công nhân Quốc tế, và phong trào đấu tranh của các nước thuộc địa theo khuynh hướng cách mạng vô sản chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc là những cơ sở hiện thực trực tiếp quan trọng nhất, có

ý nghĩa quyết định đến sự hình thành, phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nói riêng Qua đó, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

Trang 21

ở các nước thuộc địa với cuộc cách mạng vô sản do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước

và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng

vô sản” [63, 314]

Đầu thế kỷ XX, nhiều sự kiện lớn trên thế giới, đặc biệt là phong trào Tân thư và phong trào Duy tân ở các nước khu vực đã ảnh hưởng đến sự thay đổi tư tưởng ở Việt Nam

Tân thư là một trào lưu tư tưởng tiến bộ của Nhật Bản, Trung Quốc

khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX “Tân thư” được hiểu như là một danh từ khá bao quát để chỉ các sách báo về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên chứa đựng những kiến thức mới của châu Âu – Mỹ dịch ra chữ Hán, chữ Nhật Nhật Bản sớm chủ động đưa một bộ phận trí thức tiến bộ sang các nước châu Âu để học tập khoa học, kỹ thuật tiến bộ Khoa học xã hội và nhân văn cũng quan tâm Ở Nhật Bản, tư tưởng về quyền dân chủ, tự do của con người của Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778), nhà khai sáng kiệt xuất của Pháp, được truyền bá rộng rãi Một lực lượng thanh niên rất lớn của Việt Nam đã đến Nhật Bản học tập, tiếp thu những tư tưởng ấy và trực tiếp truyền

bá vào Việt Nam Nhờ đó, từ một nước suy yếu về kinh tế, chính trị văn hóa,

xã hội, Nhật Bản đã nhanh chóng vươn lên, phát triển vượt bậc về mọi mặt trên con đường tư bản chủ nghĩa Hồ Chí Minh đã nhận định: “… trong khoảng một nửa thế kỷ, nước Nhật đã biết tạo lập được một chế độ đưa nó vào hạng những cường quốc đứng đầu thế giới…” [55, 6]

Tại Trung Quốc, nhiều chí sỹ yêu nước đã lấy Nhật Bản làm tấm gương, hy vọng cũng có thể thực hiện được việc vực dậy đất nước đang ngày một suy yếu bằng cách nhanh chóng tiếp thu những thành tựu kinh tế, kỹ thuật và văn hóa của phương Tây Phong trào dịch sách tân học từ tiếng Nhật sang tiếng Trung Quốc, phong trào học tiếng Nhật cũng dấy lên mạnh mẽ để

Trang 22

có thể đọc trực tiếp các tác phẩm của người Nhật viết và các sách của phương Tây đã dịch sang tiếng Nhật mà chưa dịch sang tiếng Trung Quốc Nhiều tác phẩm do chính người Trung Quốc viết cũng bắt đầu xuất hiện, đặc biệt nổi bật và gây nhiều ảnh hưởng trong xã hội lúc bấy giờ là các tác phẩm của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu với tư tưởng duy tân: đẩy mạnh phát triển khoa học – kỹ thuật, trang bị máy móc hiện đại, đề cao dân chủ, cải cách văn hóa – giáo dục theo kiểu phương Tây

Trào lưu tân học đã thổi một làn gió mới vào xã hội Trung Quốc, mở rộng tầm nhìn của người dân, khơi dậy những tư tưởng cách tân, góp phần tạo nên những chuyển biến bước đầu trên con đường chấn hưng đất nước

Trong đó nổi bật lên là nhà chính trị kiệt xuất Tôn Trung Sơn với Chủ nghĩa Tam Dân – dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, thấm

đượm tinh thần dân chủ, dân quyền của tư tưởng phương Tây, lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 thắng lợi, đập tan triều đại cuối cùng của chế

độ phong kiến Trung Quốc, thiết lập chế độ chính trị mới dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản

Như vậy, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử thế giới có nhiều chuyển biến to lớn, chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng, chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa đế quốc và trở thành một hệ thống thế giới Các nước đế quốc ra sức mở rộng xâm chiếm thuộc địa, tranh giành, xâu xé, nô dịch, áp bức các nước nhỏ yếu, làm xuất hiện hàng loạt các mâu thuẫn ngày càng gay gắt: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ở các nước đế quốc; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với đế quốc thực dân; mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân lao động – chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, triều đình phong kiến ở các nước phương Đông, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa với giai cấp tư sản bản xứ và giai cấp tư sản thực dân; mâu thuẫn giữa

Trang 23

các nước đế quốc với nhau trong phân chia thị trường… Những mâu thuẫn

đó đặt nhân loại trước yêu cầu bức thiết phải giải quyết, từ đó làm xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người; trong

đó nổi bật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã đưa nhân dân Nga từ thân phận nô lệ bước lên làm chủ vận mệnh và cuộc sống của mình, biến chủ nghĩa xã hội từ một lý luận khoa học trở thành hiện thực,

cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng mình Bên cạnh

đó, trên thế giới xuất hiện nhiều tư tưởng canh tân đất nước; nổi bật là thành công của Nhật Bản và Trung Quốc trên con đường canh tân, thúc đẩy mạnh

mẽ sự phát triển xã hội Thực tiễn tình hình thế giới đặt ra cho dân tộc Việt Nam câu hỏi phải bằng con đường cách mạng nào để giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng và phát triển đất nước theo kịp các quốc gia trong khu vực Chính những điều kiện lịch sử - xã hội của thế giới như thế đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về

sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

1.1.2 Khái quát điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX

Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là cơ sở chủ yếu

hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Cuối thế kỷ XIX, nhà Nguyễn với bộ máy nhà nước quan liêu, chuyên chế đã bộc lộ sự khủng hoảng và suy tàn Tháng 8 năm 1858 thực dân Pháp

nổ súng ở cửa biển Đà Nẵng xâm lược nước ta Từ một quốc gia phong kiến độc lập, có chủ quyền, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến, không có quyền độc lập, quyền tự quyết của dân tộc, và bị chia cắt làm nhiều mảnh Để duy trì nền thống trị của mình, thực dân Pháp đã không thủ tiêu lợi ích của giai cấp phong kiến ở Việt Nam mà còn tìm cách dung dưỡng

nó, biến nó thành cơ sở của xã hội vững chắc cho sự thống trị của chúng ở

Trang 24

thuộc địa; đồng thời chúng còn câu kết với giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến Việt Nam thi hành chính sách kinh tế thực dân bảo thủ

Trước hết, về kinh tế, để triệt để bóc lột nhân dân ta về mọi mặt, thực

dân Pháp đã thi hành chính sách với các nội dung: độc chiếm thị trường, độc quyền ngoại thương, mua rẻ nông phẩm chủ yếu là gạo, tơ tằm và bán đắt các sản phẩm công nghiệp cho người dân; độc quyền các ngành sản xuất kinh doanh quan trọng và chú trọng đầu tư vào các ngành sản xuất phục vụ cho việc chiếm đoạt, vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, mang lại lợi nhuận cao, như khai thác mỏ, giao thông đường bộ, đường sắt, làm muối, nấu rượu; độc quyền ngân hàng và đầu tư các ngành thuận lợi cho việc khai thác thuộc địa để xuất khẩu; duy trì bộ máy quan liêu và những chính sách sưu thuế nặng nề, chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa xuất khẩu với các đồn điền cao su, cà phê, chè; tăng cường bóc lột thuế má, sưu dịch, làm phá sản những người nông dân và thợ thủ công, tạo ra nguồn nhân công sẵn có, phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa, nhằm bù đắp lại những thiệt hại do chiến tranh gây ra, khôi phục lại nền kinh tế ở chính quốc, củng cố lại địa vị của nước Pháp trong thế giới tư bản

chủ nghĩa Về sản xuất công nghiệp, thực dân Pháp chỉ chú trọng phát triển

các ngành công nghiệp phục vụ đắc lực cho việc khai thác tài nguyên trong chính sách thuộc địa của Pháp như các ngành khai khoáng, chế biến quặng, một số ngành công nghiệp nhẹ phục vụ tiêu dùng, giao thông vận tải bao gồm đường bộ, đường sắt, một vài cảng biển Đó là công ty khai thác than Hòn Gai, Đông Triều (Quảng Ninh), Phấn Mễ (Thái Nguyên), nhà máy xay xát gạo và nấu rượu ở Hải Dương, Hà Nội, Nam Định, Chợ Lớn, nhà máy tơ sợi và dệt ở Hà Nội, Nam Định Một số trung tâm công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, Hòn Gai, Nam Định, Vinh – Bến Thủy, Đà Nẵng, Sài Gòn – Chợ Lớn, Mỹ Tho cũng đã hình thành Bộ mặt đời sống một số đô thị cũng

Trang 25

đã khởi sắc Giao thông vận tải là ngành kém phát triển dưới chế độ phong

kiến, nhưng đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã đẩy mạnh phát triển giao thông nhằm phục vụ cho chính sách cai trị và khai thác thuộc địa của Pháp Hệ thống đường sắt, đường bộ, cầu cống được xây dựng

và ngày càng hoàn thiện Các con đường thủy và một số cảng biển được mở mang, tạo điều kiện giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng trong nước cũng

như giao lưu với các nước ở bán đảo Đông Dương Về thương nghiệp, do

chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn, nên nền kinh tế thương nghiệp Việt Nam thời đó cũng kém phát triển Khi thực dân Pháp xâm lược và đô hộ nước ta, với việc mở mang giao thương buôn bán, phát triển kinh tế hàng hóa, hàng rào ấy mới bị phá bỏ Điều đó đã tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa nước ta với bên ngoài được mở rộng Chính sự phát triển của giao thương buôn bán đã góp phần tạo nên những thành thị, trung tâm công thương nghiệp và hải cảng lớn khắp nước ta như

Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Vinh, Sài Gòn – Chợ Lớn

Cùng với sự bóc lột về kinh tế là sự thống trị và áp bức của thực dân Pháp với nước ta về chính trị - xã hội Trong quá trình khai thác thuộc địa,

thực dân Pháp đã áp đặt và duy trì ở nước ta chế độ chính trị mang tính chất thực dân phong kiến Sau Hiệp ước Patơnốt (Patenotre) ngày 6 tháng 6 năm

1884, thực dân Pháp đã thiết lập một bộ máy cai trị ở nước ta một cách rất chặt chẽ và hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương Theo sắc lệnh ngày 17/10/1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ và Campuchia Chúng xây dựng một bộ máy cai trị, gồm một hệ thống từ viên Toàn quyền Đông Dương, là người thay mặt Chính phủ Pháp cai trị Đông Dương về mọi mặt, Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung

kỳ, Thống sứ Bắc kỳ, Công sứ các tỉnh đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù… bên cạnh chính quyền của vua quan triều đình nhà Nguyễn

Trang 26

Nhưng bằng hệ thống bộ máy cai trị như thế nước Pháp đã thâu tóm tất cả quyền hành trong tay và vua quan nhà Nguyễn chỉ là bù nhìn, tay sai Trong

tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã lên án âm mưu

“chia để trị” của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia năm sẻ bảy” [56, 116] Có thể nói, về chính trị - xã hội, dưới

sự cai trị của thực dân Pháp, đất nước ta, dân tộc ta hoàn toàn mất độc lập, nhân dân ta hoàn toàn mất tự do dân chủ: quyền sống và giá trị nhân phẩm của con người Việt Nam bị chà đạp Vấn đề giải phóng con người và dân tộc Việt Nam là vấn đề cơ bản và cấp thiết nhất

Đi đôi với sự bóc lột về kinh tế, áp bức về chính trị, đó là sự nô dịch

về văn hóa và giáo dục của thực dân Pháp đối với nhân dân ta Về văn hóa,

cuối thế kỷ XIX cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, nền văn hóa phương Tây với những tư tưởng tiến bộ và những thành tựu khoa học kỹ thuật đã du nhập và dần có sự ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống tinh thần xã hội ở nước ta Tại Bắc kỳ, Viện Hàn lâm được thành lập với mục đích truyền bá văn hóa Pháp và mặt khác cũng giúp người Pháp hiểu biết về văn hóa Việt Nam Thời kỳ này cùng với việc tuyên truyền tiếng Pháp và văn hóa Pháp thì chữ quốc ngữ cũng được đưa vào trường học để giảng dạy Bên cạnh việc phát triển một cách hạn chế giáo dục theo chính sách của thực dân Pháp, báo chí, in ấn xuất bản cũng đã xuất hiện, văn hóa nghệ thuật nước

ta cũng có bước thay đổi, góp phần công khai tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và truyền bá những tư tưởng tiến bộ, như tư tưởng dân chủ tư sản và cả

tư tưởng mác xít Về giáo dục, một mặt thực dân Pháp chủ trương vẫn duy trì

nền học vấn Nho học; mặt khác, lại tiến hành mở các trường học dạy tiếng

Trang 27

Pháp và tuyên truyền văn hóa Pháp cho con em người Pháp và người Việt Tuy nhiên, thực dân Pháp vẫn nhất quán thực hiện chính sách nô dịch về văn hóa, ngu dân về giáo dục và đầu độc về tư tưởng đối với An Nam để dễ bề cai trị Chính vì thế, thực dân Pháp vừa thi hành triệt để chính sách nô dịch văn hóa, gây tâm lý tự ti, vong bản, vừa khuyến khích, tuyên truyền các hoạt động mê tín, dị đoan, phổ biến các phong tục cổ hủ đồi bại Hồ Chí Minh đã mỉa mai và vạch rõ thực chất chính sách ngu dân của thực dân Pháp, rằng:

“Khi người ta đã là một nhà khai hóa thì người ta có thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là người văn minh nhất” [56, 56] Có thể nói tình hình về kinh tế, chính trị, văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ đã được Hồ Chí Minh nhận thức ở những mức độ nhất định trước khi ra đi tìm đường cứu nước, và cũng

là một điều kiện quan trọng để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn

Trở lại với thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, và sự tăng cường bóc lột của chế độ

phong kiến thì phong trào yêu nước và phong trào cách mạng Việt Nam nổ

ra khá rầm rộ để chống lại thực dân Pháp và chế độ phong kiến Các phong trào yêu nước do nhiều sĩ phu yêu nước đã nổ ra và phát triển khá mạnh mẽ Tiêu biểu như phong trào Cần Vương (1885 – 1896), với các cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 – 1892) do các lãnh tụ Đinh Gia Quế, Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa diễn ra ở các huyện thuộc tỉnh Hưng Yên; phong trào nông dân Yên Thế (1883 – 1913) Trong thời kỳ này, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng (1847 – 1895), đây là cuộc khởi nghĩa đỉnh cao của phong trào Cần Vương Mặc dù cuộc khởi nghĩa đã tạo nên một số chiến công tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược nhưng cuối cùng vẫn thất bại Sự thất bại của khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo đã đánh dấu sự thất bại của phong trào Cần

Trang 28

Vương chống Pháp bằng phương pháp vũ trang Hay đó là sự thất bại của hệ

tư tưởng phong kiến trước sứ mệnh của lịch sử dân tộc Việt Nam Chính thực trạng đó, lịch sử Việt Nam xuất hiện nhu cầu về một con đường cách mạng mới để dẫn dắt các phong trào yêu nước của dân tộc đi đến thắng lợi Cho nên, sự thất bại của phong trào yêu nước dưới ngọn cờ Cần Vương buộc các nhà tư tưởng phải suy nghĩ, xem xét lại hệ tư tưởng phong kiến, nếu đưa dân tộc đấu tranh giành độc lập theo ngọn cờ phong kiến liệu có thành công hay không, hay là theo vết chân thất bại trước đó? [13, 868]

Thời đại mới, nhiệm vụ mới đòi hỏi phải có giai cấp mới, giai cấp tiên tiến đứng ra gánh vác nhiệm vụ lịch sử Nhưng đầu thế kỷ XX, xã hội Việt

Nam đang ở trong quá trình phân hóa nhưng chưa sâu sắc Giai cấp địa chủ phong kiến, tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta Dưới sự tác động của chính

sách kinh tế, chính trị phản động của thực dân Pháp cũng như chính sách khai thác thuộc địa của chúng, giai cấp địa chủ bị phân hóa thành ba bộ

phận: lớn, vừa và nhỏ khá rõ rệt; Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo,

chiếm khoảng 90% dân số cả nước, bị áp bức bóc lột nặng nề, có khả năng cách mạng lớn nhất nhưng không đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến

trong xã hội nên không có hệ tư tưởng độc lập Giai cấp tư sản thực sự hình

thành sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), chiếm khoảng 1% dân

số cả nước, chịu sự chèn ép của tư bản nước ngoài, có tinh thần dân tộc, nhưng vì quá yếu ớt nên cam phận Cho nên vai trò của giai cấp tư sản Việt Nam hết sức mờ nhạt, không đủ lực lượng và sức mạnh để nắm ngọn cờ lý

luận, lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc Giai cấp công nhân bắt đầu

hình thành, nhưng số lượng chưa nhiều, chưa trở thành một giai cấp đấu tranh tự giác, có đảng tiên phong Đánh giá về thái độ chính trị của giai cấp

công nhân, năm 1923, Hồ Chí Minh viết: “Công nhân chỉ có thể là 2% trong

dân số, không được học hành, không được tổ chức Do vậy, họ không có một

Trang 29

lực lượng chính trị nào” [55, 204] Tầng lớp tiểu tư sản gồm địa chủ, tiểu

thương, thợ thủ công, viên chức, trí thức, sinh viên, học sinh và những người làm nghề tự do được hình thành đầu thế kỷ XX, chiếm khoảng 8% - 10% dân

số cả nước lực lượng ít, địa vị bấp bênh, không thể lãnh đạo cách mạng Hồ Chí Minh nhận xét: “Tiểu tư sản không nhiều, là một phần tử bấp bênh Nó chịu sự chi phối bởi nhiều thứ triết lý, như là nó hướng vào phong trào dân tộc rất vội vã” [55, 204]

Trước tình hình đó, lớp sĩ phu yêu nước – bộ phận tiến bộ nhất, phân hóa từ giai cấp phong kiến, được hấp thụ ít nhiều “tân học”, đã đứng ra đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo cuộc đấu tranh chống Pháp Đó là những chí sĩ yêu nước tiêu biểu như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu… với các phong trào Đông Du, Duy Tân… Nhưng do bất cập trước lịch sử, nên cũng không tránh khỏi thất bại Ý thức hệ tư sản cuối mùa đã không giúp được các nhà chí sĩ cách mạng của nước ta khắc phục được những hạn chế, sai lầm trong đường lối và phương pháp cách mạng Sự mơ hồ về giai cấp, họ không nhìn thấy rõ

kẻ thù chính mình, mà cũng không thấy được lực lượng nòng cốt là ai và bạn đồng minh Phương pháp bạo động được hiểu một cách hạn chế như là những hành động quân sự đơn lẻ, có tính manh động, ám sát cá nhân, chưa phải là tiến hành vận động quần chúng, xây dựng lực lượng, tiến tới khởi nghĩa vũ trang… để giành chính quyền Những hạn chế đó đã dẫn Phan Bội Châu đến chỗ “trăm thất bại mà không một thành công” [87, 56]

Ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến không phù hợp Ngọn

cờ cứu nước theo hệ tư tưởng tư sản mới giương lên cũng bị thực dân Pháp

bẻ gãy Một ngọn cờ mới được giương lên – đó là ngọn cờ cứu nước theo hệ

tư tưởng vô sản, theo chủ nghĩa Mác – Lênin – ngọn cờ đúng nhất với con đường tiến hóa của dân tộc Việt Nam Người giương cao ngọn cờ đó là Hồ Chí Minh Không chỉ Hồ Chí Minh mà bất cứ nhà cách mạng chân chính nào

Trang 30

khác, nếu thật sự muốn mưu cầu độc lập bền vững cho Tổ quốc, tự do, cơm

áo, hạnh phúc cho nhân dân thì không có sự lựa chọn nào khác ngoài con đường đi tới chủ nghĩa Mác – Lênin Đó là kết quả của một quá trình tìm

đường và nhận đường của nhiều thế hệ cách mạng, qua thử thách của thực tiễn mà đi tới chân lý Đó chính là sự lựa chọn của lịch sử mà Hồ Chí Minh

là người đại diện tiêu biểu

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ

SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.2.1 Chủ nghĩa yêu nước và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Truyền thống văn hóa Việt Nam, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh

thần nhân ái cố kết dân tộc đã được hun đúc qua hàng ngàn năm đấu tranh kiên cường, bất khuất, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập của dân tộc và bảo tồn nền văn hiến của đất nước, chống mọi âm mưu đồng hóa của ngoại bang Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là một nhân tố đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước… Chúng ta có quyền

tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [60, 171 – 172] Truyền thống yêu nước đó không chỉ là một tình cảm, một

phẩm chất tinh thần, mà đã phát triển thành một chủ nghĩa – chủ nghĩa yêu

Trang 31

nước, chủ nghĩa dân tộc chân chính, thành dòng chủ lưu của tư tưởng Việt Nam, xuyên suốt lịch sử của dân tộc Chủ nghĩa yêu nước là dòng tư tưởng

lớn nhất xuyên suốt tư duy và hành của dân tộc ta

Cùng với chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân ái, đoàn kết là những

nét hết sức đặc sắc trong các giá trị truyền thống Việt Nam Những truyền thống văn hóa này được hình thành từ trong hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, đòi hỏi mỗi người phải

có ý thức đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau giữa những con người cùng chung một cội nguồn, cùng chung lưng đấu cật, đồng cam cộng khổ

vượt qua mọi khó khăn dẫn đến tư tưởng đoàn kết: Đồng lòng, đồng sức, đồng tâm Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết không chỉ toàn dân, toàn diện, đoàn

kết không chỉ trong tư tưởng mà cả trong hành động, không chỉ giữa các tầng lớp mà trong từng lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa Và không chỉ đoàn kết nhân dân trong nước mà còn đoàn kết với tất cả bạn bè anh em năm châu bốn bể trên thế giới Như vậy, những tinh hoa truyền thống đoàn kết dân tộc đã được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển và nâng lên tầm cao mới trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin Đến lượt mình, những vấn đề này không chỉ thực hiện trên lời nói, quan điểm, lý luận mà được Hồ Chí Minh vận dụng, đưa vào trong thực tiễn sự nghiệp cách mạng một cách thiên tài Thiên tài của Hồ Chí Minh là ở chỗ tùy theo từng giai đoạn, từng thời kỳ, phù hợp với từng giai cấp, tầng lớp, từng ngành nghề, lứa tuổi mà Hồ Chí Minh lập ra những tổ chức yêu nước phù hợp như: Hội Ái hữu, Công hội, Nông hội, Đoàn Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Đội Thiếu niên nhi đồng, Hội Phụ lão… Và bao trùm lên trên tất cả là Mặt trận Dân tộc thống nhất, nơi quy tụ mọi tổ chức, cá nhân yêu nước, mọi con người Việt Nam dù bất

cứ ở đâu, làm bất cứ việc gì, miễn là có lòng yêu nước và hướng tới độc lập, hòa bình cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Trang 32

Hồ Chí Minh còn kế thừa và tiếp thu truyền thống dựng nước và giữ nước được hình thành trong lịch sử phát triển đất nước Việt Nam ta từ khi

dựng nước đã luôn luôn phải đương đầu với các thế lực xâm lăng Vì vậy, đã hình thành biện chứng thống nhất giữa dựng nước và giữ nước “Dựng nước

là tiền đề khởi nguyên cho công cuộc xây dựng và giữ gìn vẹn nguyên lãnh thổ, giang sơn gấm vóc Giữ nước là cơ sở nền tảng cho đất nước ngày càng phát triển vững mạnh” [78, 31] Truyền thống ấy đã được hun đúc và phát triển từ trong lòng khát vọng muôn đời mà Hồ Chí Minh đã đúc kết lại trong

chín chữ vàng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” Hồ Chí Minh thường

nói rất dễ hiểu, nhưng chứa chất nội dung chính trị tư tưởng vô cùng sâu sắc

và rất mới trong thời đại cách mạng của chúng ta: Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Dựng nước đi đôi với giữ nước, gắn kết với nhau và đã được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển

Có thể nói, chủ nghĩa yêu nước và các giá trị văn hóa truyền thống là cội nguồn, là yêu tố nội sinh, được tích tụ một cách tự nhiên trong tư tưởng

Hồ Chí Minh Điều đó giúp Hồ Chí Minh dễ dàng tiếp thu và kế thừa tất cả những giá trị triết học, văn hóa của nhân loại, để các giá trị của các trường phái triết học phương Đông hoặc phương Tây không hề mâu thuẫn nhau mà hài hòa, bổ sung cho nhau khi gia nhập vào tư tưởng của Hồ Chí Minh về sự

thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

1.2.2 Tinh hoa triết học, giá trị văn hóa phương Đông và phương Tây hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Về tinh hoa triết học và giá trị văn hóa phương Đông

Trước hết, Hồ Chí Minh tiếp thu những tư tưởng triết học tiến bộ của Nho giáo Điều cần nói rõ là Nho giáo khi vào nước ta, thì đã bắt gặp chủ

nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu cơ bản của tư tưởng Việt Nam, như trên đã

Trang 33

nói, do đó hình thành nên một trào lưu Nho giáo yêu nước, đánh giặc giữ nước, là cứu dân khỏi vòng nô lệ… một thứ Nho giáo đã Việt Nam hóa Đi sâu phân tích tư tưởng các sĩ phu yêu nước thì thực chất đó là một chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thấm đượm ở trình độ nào đó tinh thần và nội dung Nho giáo Hồ Chí Minh đã kế thừa và vận dụng tư tưởng triết học của Nho giáo nhiều hơn so với các trường phái khác của phương Đông trên cội nguồn văn hóa dân tộc

Nho giáo là một học thuyết về đạo đức và phép ứng xử, tư tưởng, triết

lý hành động, lý tưởng về một xã hội bình trị Đặc biệt Nho giáo đề cao văn hóa, lễ giáo và tạo ra truyền thống hiếu học trong dân Đây là tư tưởng tiến

bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại Hồ Chí Minh đã tiếp nhận những

mặt tích cực của Nho giáo như sau: Thứ nhất, triết lý hành động tích cực: tư

tưởng nhập thế hành đạo giúp đời; triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính, chủ trương từ thiên tử đến thần dân ai cũng lấy tu thân làm gốc, tạo ra một xã hội

lấy đạo đức làm trọng; Thứ hai, Nho giáo đề cao lý tưởng về một xã hội thái bình trị, tư tưởng về một thế giới đại đồng, “thiên hạ là của chung”; Thứ ba,

Nho giáo đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học cho nhân dân Nho giáo, ở khía cạnh tích cực đã hình thành quan điểm bình đẳng trong giáo dục với tư tưởng “hữu giáo vô loại” (tức là giáo dục không phân biệt đẳng cấp) mặc dù trong một quan điểm khác, Nho giáo lại cho rằng, hạng tiểu nhân và phụ nữ là những người không thể giáo dục

Trong khi tiếp thu, sử dụng những yếu tố tích cực của Nho giáo, Hồ Chí Minh cũng đã phê phán, loại bỏ những yếu tố thủ cựu, tiêu cực của học thuyết này Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời” [60, 320 – 321] Và chính Hồ Chí Minh đã đảo lại thế đứng đó, như C.Mác –

Trang 34

Ph.Ăngghen đã tiếp thu phép biện chứng duy tâm của Hêghen và đặt lại phép biện chứng đó trên cái nền duy vật Như vậy, cả một hệ thống những tư tưởng triết học của Nho giáo đã được Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng có chọn lọc Đó là những viên gạch hợp thành những tư tưởng của Hồ Chí Minh

ở trình độ mới và hình thức mới

Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng triết học trong Lão giáo (Đạo giáo)

Triết lý của Lão giáo có ảnh hưởng phần nào đến triết lý sống và nhân cách của Hồ Chí Minh, đó là tư tưởng hòa vào tự nhiên, không màng danh lợi, lối sống nhân ái, cần kiệm, khiêm nhường và khoan dung Và hơn nữa là vì

Hồ Chí Minh theo đuổi triết lý sống cao thượng và trong sạch không màng lợi ích vật chất, mà vì một lý tưởng thanh cao, một chủ nghĩa nhân văn tiến

bộ cho mình và cho mọi người Triết lý sống đó, bản lĩnh độc đáo đó được phản ánh trong lời tâm sự của Hồ Chí Minh: “Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” [58, 161]

Có một điều thể hiện sự mềm dẻo, uyển chuyển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là trong khi Nho giáo chủ trương nhập thế hành đạo, thì Đạo giáo lại chủ trương xuất thế vô vi Nho giáo và Đạo giáo là hai hệ tư tưởng đối lập nhau về mục đích Nhưng khi được tiếp thu, hòa quyện trong con người Hồ Chí Minh thì chúng lại bổ sung cho nhau, thống nhất biện chứng với nhau Bởi rằng khi dân khổ, mất nước thì xả thân vì nước, vì dân; khi nước nhà đã giành độc lập, nhân dân no ấm, hạnh phúc thì thân thoái trở về sống cảnh điền viên, gần gũi với thiên nhiên, với nhân dân lao động

Bên cạnh Nho giáo, Lão giáo, Hồ Chí Minh còn tiếp thu tư tưởng triết học trong Phật giáo Phật giáo có tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái Phật giáo đề

cao nếp sống đạo đức, trong sạch, chăm làm điều thiện, coi trọng lao động

Trang 35

Phật giáo cũng có tư tưởng bình đẳng, dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã kết hợp với chủ nghĩa yêu nước, với bản chất nhân đạo, bác ái của người nông dân, nên đã tạo thành lực lượng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa thực dân để giành độc lập dân tộc

Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng của Phật giáo khi Phật giáo chủ trương “từ bi”, “bác ái”, “không sát sinh” Tư tưởng “vô thường”, “vô ngã” của Phật giáo cũng được Hồ Chí Minh vận dụng để giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên

Ngoài Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn (Tôn Dật Tiên) Lúc thiếu

thời, Hồ Chí Minh cũng từng nghe được những từ “dân sinh”, “dân quyền”,

“dân quốc”, do các nhà Nho yêu nước nói đến trong khi đàm luận với thân sinh Nguyễn Sinh Sắc Nhưng phải đến sau khi về tới Quảng Châu – trung tâm của cách mạng Trung Quốc lúc bấy giờ (năm 1924), Hồ Chí Minh mới

có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn Lúc này là thời kỳ Tôn Trung Sơn cải tổ Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực hiện chính sách “Thân Nga, liên Cộng, phù trợ công nông” Thực tiễn của một nước thuộc địa nửa phong kiến, nổi lên trên hết và trước hết là yêu cầu giải phóng dân tộc Yêu cầu này là cấp bách, nó bao trùm lên xã hội Việt Nam Hơn nữa, cơ sở kinh tế - xã hội Việt Nam lạc hậu, xã hội chưa đạt tới

sự phân hóa một cách sâu sắc như ở đại đa số các nước ở châu Âu Hồ Chí Minh đã thấy ở chủ nghĩa Tam Dân và chính sách “Thân Nga, liên Cộng, phù trợ công nông” của Tôn Trung Sơn có những tư tưởng tiến bộ, tích cực

và có thể vận dụng vào cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh nhận xét: Chủ nghĩa ấy thích hợp với điều kiện nước ta Tuy nhiên chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn cơ bản vẫn là tư tưởng dân chủ tư sản, nằm trong hệ tư tưởng

tư sản nên có nhiều hạn chế

Trang 36

Nói tóm lại, nhờ có tư duy khoan dung, hòa nhập, không hẹp hòi, không kỳ thị, Hồ Chí Minh đã không ngừng thâu hóa, Việt hóa những giá trị văn hóa từ bên ngoài để thăng hoa lên thành một tư tưởng phong phú đa dạng, độc đáo Những yếu tố tích cực, hợp lý của Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo, chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn đều được Hồ Chí Minh tiếp nhận, nó cùng tồn tại và bổ sung cho nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh Nho giáo cần thiết cho an dân, trị quốc; Lão giáo đưa con người trở về với thiên nhiên, giao hòa cùng cảnh vật, gửi tâm hồn trong tiếng trúc, tiếng tơ, thoát ra ngoài mọi ràng buộc của danh lợi; Phật giáo thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người, giải thoát con người khỏi tham, sân, si, vươn tới cái tâm trong sạch; Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn có những điều phù hợp với điều kiện của cách mạng nước ta

Hồ Chí Minh là một nhà mácxít sáng suốt, biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng triết học và văn hóa phương Đông làm giàu những tư tưởng, lý luận của mình và mục đích là để phục vụ cho thực tiễn cách mạng Việt Nam

Về tinh hoa triết học và giá trị văn hóa phương Tây

Hồ Chí Minh kế thừa và tiếp thu nhiều tư tưởng triết học phương Tây

từ khởi thủy của nền triết học này Tuy nhiên, những tri thức triết học nổi bật nhất là những tri thức triết học của phương Tây cận đại Văn hóa phương Tây được Hồ Chí Minh tiếp nhận đồng thời với quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin là một bộ phận hết sức quan trọng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, xét cả về bề rộng và chiều sâu tư tưởng

Một là, đối với triết học khai sáng Pháp, Hồ Chí Minh đã kế thừa tư

tưởng Tự do – Bình đẳng – Bác ái của các nhà triết học khai sáng Pháp, những thành tựu mà cuộc cách mạng dân chủ tư sản mang lại cho quảng đại quần chúng nhân dân lao động Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của

Trang 37

nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây như: tư tưởng tự do, bình

đẳng; về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc Năm 1945,

mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, Hồ Chí Minh trích dẫn phần tinh túy nhất của Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền của cách mạng Pháp 1789 và khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra

có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [58, 1] và “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng

về quyền lợi; và phải luôn luôn tự do và bình đẳng về quyền lợi” [58, 1]

Đó là sự cô đúc tư tưởng tự do, dân chủ phương Tây và khẳng định quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc cho tất cả mọi người, tất cả các dân tộc

Nhưng triết học khai sáng Pháp chưa đủ sức giúp Hồ Chí Minh giải đáp được các vấn đề mấu chốt mà thực tiễn đang đặt ra lúc bấy giờ Một loạt câu hỏi được đặt ra là: Tại sao các nước Anh, Pháp, Mỹ đã làm xong cách mạng, thừa nhận quyền Tự do – Bình đẳng – Bác ái lại đem quân xâm lược dân tộc khác? Các dân tộc thuộc địa có được giải phóng thực sự không và giải phóng bằng cách nào? mà triết học Khai sáng Pháp đã không thể trả lời được Hồ Chí Minh đã nhìn thấy mặt trái của “lý tưởng” Tự do – Bình đẳng – Bác ái; nhưng mặt khác Hồ Chí Minh cũng tiếp thu tư tưởng của những nhà khai sáng Pháp như Voltaire, Rousseau, Montesquieu Cùng với việc nghiên cứu lý luận, Hồ Chí Minh còn tích cực tham gia vào thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân các nước chính quốc, hòa mình vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thuộc địa ở các nước này Nhờ vậy

mà Hồ Chí Minh đã nhận thức được bản chất của triết học khai sáng Pháp, cả

mặt tiến bộ cách mạng lẫn hạn chế của nó Trong Đường Cách mệnh, Hồ Chí

Minh viết về cách mạng Mỹ: “Tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150

Trang 38

năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai Ấy là vì cách mạng Mỹ là cách mệnh tư bản, mà là cách mệnh tư bản chưa phải là cách mạng đến nơi” [56, 270] Về cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh đánh giá: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa…” [56, 270] Hồ Chí Minh kết luận: “Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy” [56, 274] Chính vì không thỏa mãn với con đường cách mạng tư sản, Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin

Hai là, đối với chủ nghĩa Mác – Lênin Chủ nghĩa Mác – Lênin là

nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh

về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, và tư tưởng đó cũng góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác – Lênin ở thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập, tự do Nắm vững tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin đồng thời Hồ Chí Minh cũng thấm nhuần sâu sắc di huấn của các bậc thầy cách mạng của mình, “không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi, bất khả xâm phạm” mà “phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng những nguyên lý ấy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga” [108, 232] Tinh thần cơ bản trong di huấn của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin là lý luận phải kết hợp với thực tiễn, phải phù hợp với thực tiễn, giải đáp được nhu cầu của thực tiễn C.Mác đã viết: “Ở mỗi dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được thực hiện theo mức độ mà nó là sự thực hiện những nhu cầu của dân tộc ấy” [8, 582]

Khi vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào cách mạng thuộc địa ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã luôn đứng vững trên quan điểm thực tiễn, thể hiện

Trang 39

một tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo hiếm có Năm 1924, trong một báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh đã đưa ra nhận định về sự phát triển không giống nhau giữa các xã hội phương Đông và phương Tây: Xét về mặt cấu trúc kinh tế - xã hội, xã hội Đông Dương (có thể nói cả Ấn Độ hay Trung Quốc), không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ Việt Nam không trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ Chế độ phong kiến Việt Nam cũng mang đặc điểm khác với chế độ phong kiến phương Tây; xét về mặt giai cấp, tuy

đã phân hóa, nhưng chưa triệt để và sâu sắc Sự đối lập giữa địa chủ và nông dân, tư sản và công nhân về tài sản, mức sống, phương tiện sinh hoạt… chưa lớn, do đó sự xung đột về quyền lợi giữa họ chưa được giảm thiểu Từ đó,

Hồ Chí Minh rút ra kết luận “cuộc đấu tranh giai cấp ở đây – tức Việt Nam – không diễn ra giống như phương Tây” Vì vậy, Hồ Chí Minh nêu lên sự cần thiết phải “bổ sung cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào

đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” [55, 465] Đó là một khuyến nghị thật mới mẻ, táo bạo, nhất là vào lúc phong trào cộng sản quốc tế, lý luận đang có xu hướng bị “xơ cứng” sau khi Lênin qua đời

Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, thực tiễn là sự kiểm nghiệm chính xác nhất tính khoa học, đúng đắn của lý luận, và một bước tiến của phong trào cách mạng có giá trị hơn một tá cương lĩnh, Hồ Chí Minh đã quán triệt

rõ mối quan hệ biện chứng giữa lý luận cách mạng và thực tiễn phong trào cách mạng Thực tiễn mà không có lý luận là thực tiễn mù quáng, là “nhắm mắt mà đi”, lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông Nguyên tắc cơ bản trong nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh là luôn luôn thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Thấm nhuần sâu sắc chỉ dẫn của V.I.Lênin: Không

có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng, chỉ có đảng nào có

lý luận tiên phong, mới làm nổi vai trò cách mạng tiên phong Hồ Chí Minh vừa hoạt động lý luận, lại vừa hoạt động thực tiễn và nhờ trung thành với

Trang 40

những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo cả dân tộc đi đến thành công trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, giành thắng lợi vang dội trong cuộc chiến tranh cách mạng 30 năm chống sự xâm lược của hai đế quốc lớn của phương Tây, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc

và vững bước lên chủ nghĩa xã hội

Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ từ nhận thức

lý luận mà còn từ hoạt động thực tiễn cách mạng và không chỉ dừng lại ở đó,

Hồ Chí Minh còn đưa lý luận đó vào thực tiễn cách mạng Nhờ vậy mà Hồ Chí Minh đã sớm đến được với chủ nghĩa Mác – Lênin Năm 1920, không

phải chỉ có một mình Hồ Chí Minh là người Việt Nam duy nhất được đọc Sơ thảo những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, nhưng

chỉ có duy nhất Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức khác

1.2.3 Tiền đề chủ quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Đây là một nhân tố hết sức quan trọng có ý nghĩa quyết định để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, đó là các yếu tố trí tuệ; năng lực tổng kết lịch sử, tổng kết thực tiễn, dự báo tương lai; và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh

Về trí tuệ, Hồ Chí Minh đã được thừa hưởng của cha ông một trí thông

minh xuất chúng, được bộc lộ từ nhỏ trong học tập, ứng xử và đối đáp thơ văn Trí thông minh đó đã tạo nên một Hồ Chí Minh có đầu óc quan sát, phân tích, phê phán tinh tường; một tinh thần hoài nghi để khám phá; một bản lĩnh độc lập, tự chủ trong tư duy Hồ Chí Minh khâm phục các nhà chí sĩ yêu nước như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… nhưng

Ngày đăng: 14/04/2021, 18:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2007), Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
2. Lương Gia Ban (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và học tập lý luận, Tạp chí Triết học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và học tập lý luận
Tác giả: Lương Gia Ban
Năm: 2004
3. Hoàng Chí Bảo (2005), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb. Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2005
4. Hoàng Chí Bảo, Phạm Hồng Chương… (2009), Hồ Chí Minh nhà văn hóa của tương lai, Nxb. Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh nhà văn hóa của tương lai
Tác giả: Hoàng Chí Bảo, Phạm Hồng Chương…
Nhà XB: Nxb. Thanh Niên
Năm: 2009
5. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
6. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, t.3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
8. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
10. Các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh (2004), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
11. Phan Bội Châu (1957), Niên biểu, Nxb. Văn – Sử – Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên biểu
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb. Văn – Sử – Địa
Năm: 1957
12. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (chủ biên) (2003), Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin
Tác giả: Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
13. Doãn Chính (2013), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2013
14. Phạm Hồng Chương (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam
Tác giả: Phạm Hồng Chương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
15. Trịnh Cư (2009), Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc
Tác giả: Trịnh Cư
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
16. Lương Minh Cừ, Nguyễn Tấn Hưng (2015), Từ lý luận đến thực tiễn cách mạng Việt Nam, sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ lý luận đến thực tiễn cách mạng Việt Nam
Tác giả: Lương Minh Cừ, Nguyễn Tấn Hưng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2015
17. Phan Thanh Diễn (2005), Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Phan Thanh Diễn
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
18. Thành Duy (1998), Cơ sở khoa học và nền tảng văn hóa của tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và nền tảng văn hóa của tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1998
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w