1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa ứng xử của hoàng đế phật hoàng trần nhân tông

146 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đức vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông: cuộc đời và sự nghiệp”3 có rất nhiều bài viết nghiên cứu khá sâu sắc về cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng đế - Phậ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TÔN NỮ MINH HỒNG

VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA HOÀNG ĐẾ - PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60.31.06.40

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TÔN NỮ MINH HỒNG

VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA HOÀNG ĐẾ - PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60.31.06.40

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS PHAN THỊ THU HIỀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính người viết thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phan Thị Thu Hiền Nội dung, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực Các tài liệu sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Đồng thời, người viết cũng xin cam đoan luận văn này chưa trình qua bất cứ Hội đồng nào hay công bố trên các phương tiện truyền thông nào

TP.HCM, ngày 20 tháng 03 năm 2018

Người viết

Tôn Nữ Minh Hồng

Trang 4

LỜI TRI ÂN

Hoàn thành khóa học và luận văn này, trước hết người viết xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô Ban Giám hiệu, Ban quản lý Phòng Sau đại học, Ban lãnh đạo Khoa Văn hóa học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức, sắp xếp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người viết trong suốt khóa học

Đồng thời, người viết cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô bộ môn Khoa Văn hóa học đã nhiệt tình trong công tác giảng dạy, truyền trao kiến thức cho người viết trong thời gian qua

Đặc biệt, người viết xin chân thành cảm ơn PGS TS Phan Thị Thu Hiền đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn người viết thực hiện công trình nghiên cứu này

Xin tri ân tất cả thân nhân, ân nhân đã động viên, khích lệ, ủng hộ tinh thần lẫn vật chất cho người viết hoàn thành khóa học và luận văn này

Cuối cùng, xin gởi lời cảm ơn đến các tác giả của nguồn tài liệu mà người viết đã sử dụng để tham khảo và trích dẫn trong luận văn này

TP.HCM, ngày 20 tháng 03 năm 2018

Chân thành cảm ơn Người viết

Tôn Nữ Minh Hồng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN II LỜI TRI ÂN III MỤC LỤC IV

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11

7 Bố cục luận văn 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14

1.1 Cơ sở lý luận 14

1.1.1 Văn hóa ứng xử và hướng tiếp cận 14

1.1.2 Nhân cách văn hóa, quan hệ giữa nhân cách văn hóa cá nhân với văn hóa dân tộc, văn hóa tôn giáo và hướng tiếp cận 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 21

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông 21

1.2.2 Cơ sở hình thành văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông 33

Tiểu kết 39

CHƯƠNG 2: VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA TRẦN NHÂN TÔNG TRÊN CƯƠNG VỊ MỘT NHÀ VUA 41

2.1 Ứng xử với gia tộc 41

2.1.1 Hiếu kính song thân 41

2.1.2 Thương yêu và giáo dục nghiêm minh đối với con 44

2.1.3 Đoàn kết, bảo vệ hoàng tộc trên tinh thần vị tha 46

Trang 6

2.2 Ứng xử với quốc gia, dân tộc 48

2.2.1 Yêu nước thương dân 48

2.2.2 Đoàn kết dân tộc 56

2.2.3 Bình đẳng, dân chủ 58

2.2.4 Thưởng phạt công minh 60

2.3 Ứng xử với ngoại bang xâm lược 62

2.3.1 Kiên cường bất khuất 62

2.3.2 Hòa hiếu mềm dẻo 67

2.3.3 Khoan dung nhân đạo 69

2.3.4 Bảo vệ hòa bình 70

Tiểu kết 73

CHƯƠNG 3: VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA TRẦN NHÂN TÔNG TRÊN CƯƠNG VỊ MỘT BẬC XUẤT GIA TU HÀNH 75

3.1 Sống hòa hợp với thiên nhiên 75

3.2 Dung hợp hài hòa những tư tưởng triết học - tôn giáo ngoại nhập trên tinh thần dân tộc 79

3.2.1 Dung hợp Tam Thiền phái 79

3.2.2 Dung hợp Thiền - Giáo 84

3.2.3 Dung hợp Thiền - Tịnh 87

3.2.4 Dung hợp Tam giáo 93

3.3 Nhập thế tích cực 101

3.3.1 Nhập thế theo quan điểm Phật giáo Nguyên thủy 102

3.3.2 Nhập thế theo quan điểm Phật giáo Đại thừa 108

3.3.3 Nét đặc thù trong tinh thần nhập thế của Phật Hoàng Trần Nhân Tông 112 3.3.4 Phật giáo Việt Nam kế thừa và phát huy tinh thần nhập thế của Phật Hoàng Trần Nhân Tông 118

Trang 7

Tiểu kết 121 KẾT LUẬN 123 TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

được xem là thời đại hưng thịnh nhất và tồn tại lâu dài nhất trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam Trong đó, triều đại nhà Trần (1225-1400) là một trong những triều đại hưng thịnh và vẻ vang nhất trong lịch sử dân tộc Các nhà nghiên cứu cho rằng một trong những nhân tố chủ yếu giúp cho triều đại này hưng thịnh đó chính là nhờ tài lãnh đạo của các bậc minh quân Đặc biệt, đời Trần được đánh giá là “thời đại hoàng kim” của Phật giáo Việt Nam với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sáng lập

Với sự nghiệp võ trị, văn trị và đức trị còn lưu lại trong sử sách, Trần

Nhân Tông được đánh giá là “một vị vua văn võ song toàn, một vị Phật

Hoàng có công to lớn đối với dân tộc”2; là “hiện thân của sự kết hợp giữa đạo

và đời để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước” [96: 3] Trong Thơ văn Lý

- Trần tập 2, Trần Nhân Tông được ghi nhận là “nhà văn hóa, nhà thơ xuất sắc ở thế kỷ XIII Ông đã sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm ở Việt Nam, đáp ứng một nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người Việt đương thời, mặt khác

1

Thông thường nhiều người cho rằng thời đại Lý - Trần được tính bắt đầu từ đời Lý (năm 1009) đến kết thúc

đời Trần (năm 1400), tuy nhiên, theo Nguyễn Công Lý: “Lý Trần là tên gọi chung cho cả giai đoạn lịch sử

kéo dài ngót năm trăm năm bao gồm các triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, trong đó có hai triều đại Lý và Trần là tiêu biểu hơn cả về mọi mặt” [50: 9] Về niên đại cụ thể, trong bài viết “Mấy đặc điểm văn

học Lý - Trần”, Nguyễn Công Lý nêu rõ: “Ngô (939-967), Đinh (968-980), Tiền Lê (980-1009), Lý

(1009-1225), Trần (1225-1400), Hồ (1400-1407) và mấy năm đầu của cuộc kháng chiến chống giặc Minh vào thời hậu Trần (1407-1418) Giai đoạn lịch sử kéo dài ngót năm trăm năm ấy với những thành tựu tổng hợp của các triều đại trên, trong đó có hai triều đại Lý và Trần là xứng đáng tiêu biểu hơn cả về nhiều phương diện nên các nhà nghiên cứu đã gọi chung cho cả giai đoạn lịch sử này là thời đại Lý - Trần” [51: 8]

2

Trích trong thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gởi đến Chư tôn đức Tăng Ni và các nhà nghiên cứu tham

dự Hội thảo khoa học “Đức vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông: con người và sự nghiệp” [Giáo hội Phật

giáo Việt Nam, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam 2008: 16]

Trang 9

cũng nhằm góp phần vào xây dựng một nước Đại Việt có quy mô bề thế, có văn hóa độc lập, chống lại những ngoại lai, phi dân tộc” [116: 451-452]

Ngược dòng lịch sử hơn 700 năm trước, về phương diện quốc gia dân tộc, với chiến công oanh liệt hai lần chiến thắng đại quân Mông Nguyên, xây dựng nền hòa bình độc lập cho Đại Việt, Trần Nhân Tông từng được dân tộc

ta tôn vinh là “đấng minh quân sáng suốt”, “nhà chính trị tài ba”, “anh hùng dân tộc vĩ đại”, “đại danh nhân văn hóa dân tộc” v.v Về phương diện Phật giáo, sau khi xuất gia tu hành chứng đạo, lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên

Tử và hoằng pháp lợi sanh, Trần Nhân Tông được tôn xưng với nhiều mỹ hiệu cao quý như “Phật Hoàng”, “Điều Ngự Giác Hoàng”, “Thiền sư” v.v Mãi cho đến ngày nay, những mỹ từ tốt đẹp dành để tán dương ca ngợi Trần Nhân Tông được thể hiện rất rõ qua lời nhận định như sau:

“Trần Nhân Tông không chỉ là nhà chính trị nhìn xa trông rộng, mà

còn là nhà quân sự có tài; không chỉ là nhà ngoại giao, mà còn là nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ; không chỉ là vị quân vương, mà còn là bậc tu hành; không chỉ là nhà văn hóa, mà còn là vị Thiền sư lỗi lạc Thời đại oanh liệt đã sản sinh ra ông, và ông đã làm cho thời Trần càng thêm oanh liệt” [31: 165-

166]

Như vậy, Trần Nhân Tông không chỉ là hồn thiêng của sông núi Đại

Việt đời Trần, “là linh hồn của hai cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên” [12: 161], mà còn là “linh hồn của Thiền phái Trúc Lâm” [130], là ngọn đuốc

thiêng mãi soi sáng dẫn đường cho quốc gia dân tộc và Phật giáo Việt Nam từ ngàn xưa cho đến ngày nay Thực tế đã minh chứng đó là sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm do Hòa thượng Thích Thanh Từ khôi phục và phát huy

từ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà Trần Nhân Tông đã sáng lập xưa kia Hiện nay, hệ thống các thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm đang phát triển mạnh với hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử trong cũng như ngoài nước theo tu

Trang 10

học Bản thân người viết cũng là một trong số đó nên may mắn có nhiều điều kiện để tìm hiểu về Thiền phái Tìm về cội nguồn, nghiên cứu quá trình lịch

sử hình thành và phát triển cũng như tìm hiểu hệ thống tư tưởng triết học của Thiền phái, người viết rất tự hào và vô cùng kính quý tài đức, cách đối nhân

xử thế cũng như tư tưởng của Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – Trần Nhân Tông Vì vậy, nghiên cứu văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông không những giúp chúng ta hiểu thêm về văn hóa Đại Việt đời Trần, mà còn thể hiện

sự trân trọng, mong muốn học hỏi, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa

mà Trần Nhân Tông đã đóng góp tích cực cho nền văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa Phật giáo nói riêng

Với những lý do trên, người viết quyết định chọn đề tài nghiên cứu

Văn hóa ứng xử của Hoàng đế - Phật Hoàng Trần Nhân Tông để thực hiện

luận văn Thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, theo nguồn tư liệu người viết thu thập được thì có thể nói

đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Trần Nhân Tông, trong đó có liên hệ đến Thiền phái Trúc Lâm Yên

Tử Nhìn chung, các công trình nghiên cứu tập trung vào ba hướng nghiên cứu chủ yếu như sau:

Thứ nhất, hướng nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông: Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu liên quan đến

cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng đế Trần Nhân Tông trên phương diện lịch

sử như: Ngô Sĩ Liên (Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính) 1998/2004:

Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1; Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng 2001: Các triều đại Việt Nam; Lê Mạnh Thát 2000/2006/2010: Toàn tập Trần Nhân Tông; Trần

Trọng Kim 2002: Việt Nam sử lược; Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh 2008: Việt Nam: Các nhân vật lịch sử văn hóa; Nguyễn Phan Quang, Võ

Trang 11

Xuân Đàn 2011: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1884… Trong đó, đáng chú ý nhất là Toàn tập Trần Nhân Tông của Lê Mạnh Thát, tác phẩm

này được giới nghiên cứu đánh giá cao với nhiều phát hiện mới nổi bật về phương diện lịch sử; đồng thời tác giả phân tích, tổng hợp nguồn tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn của Trần Nhân Tông một cách khá toàn diện Nhìn chung, các công trình trên đã nghiên cứu khá kỹ về cuộc đời, thân thế và

sự nghiệp của Trần Nhân Tông đặt trong bối cảnh xã hội đương thời, gắn liền với các biến cố lịch sử Việt Nam giai đoạn thế kỷ XIII - XIV, giúp người đọc

có cái nhìn tổng quát hơn về Trần Nhân Tông

Tiếp đến là các công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Phật Hoàng Trần Nhân Tông liên hệ đến Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Phật giáo Việt Nam bao gồm các tác phẩm: Thích Thanh Từ 1972/1991/1999:

Thiền sư Việt Nam; Mật Thể 1942/2004: Việt Nam Phật giáo sử lược; Nguyễn

Lang 1994/2000: Việt Nam Phật giáo sử luận; Thích Phước Sơn (dịch và chú) 1995: Tam Tổ thực lục; Thích Thanh Từ 1997/2008: Tam Tổ Trúc Lâm giảng

giải; Thích Thanh Từ 1998: Thiền tông bản hạnh giảng giải; Thích Thanh Từ

1999: Thánh đăng lục giảng giải; Thích Thanh Từ 2002: Hai quãng đời của

Sơ Tổ Trúc Lâm; Thích Thông Phương 2010: Vua Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; Thích Đồng Bổn (chủ biên) 2010: Phật giáo đời Trần;

Nguyễn Mạnh Cường và Tgk 2011: Từ Đạo Hạnh - Trần Nhân Tôn (những

trái chiều lịch sử)… Trong đó, đáng chú ý nhất là các tác phẩm của Thích

Thanh Từ như: Tam Tổ Trúc Lâm giảng giải, Thánh đăng lục giảng giải, Hai

quãng đời của Sơ Tổ Trúc Lâm v.v.; Vua Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Thích Thông Phương Bên cạnh đó, Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang cũng là một tác phẩm rất có giá trị khi nghiên

cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông Trong tập 1 của tác phẩm này gồm 16 chương, tác giả dành trọn 8 chương để trình bày về Phật giáo đời

Trang 12

Trần nói chung và Thiền phái Trúc Lâm nói riêng, đặc biệt trong đó chương XII tác giả viết riêng về “Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm” Điểm chung nhất của những tác phẩm này là các tác giả trình bày, phân tích, giảng giải khá chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông, người đã sáng lập một Thiền phái mang đậm bản sắc văn hóa của Phật giáo Việt Nam đó chính là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Đặc biệt, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đức vua - Phật Hoàng Trần Nhân

Tông: cuộc đời và sự nghiệp”3 có rất nhiều bài viết nghiên cứu khá sâu sắc về cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng đế - Phật Hoàng Trần Nhân Tông, điển hình như: “Tinh thần hòa quang đồng trần của vua Trần Nhân Tông” (Thích Hải Ấn); “Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông – Anh hùng dân tộc, nhà văn hóa lớn” (Anh Chi); “Trần Nhân Tông tầm vóc thời đại” (Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh); “Bàn thêm về sự nghiệp của Trần Nhân Tông” (Lê Cung);

“Phát huy những giá trị tư tưởng của Đức vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông (Bùi Hữu Dược); “Trần Nhân Tông: Một Hoàng đế anh hùng, một vua Phật, một nhà văn hóa lớn” (Phan Huy Lê); “Đức vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông – Vị Tổ người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam” (Thích Trí Quảng);

“Trần Nhân Tông sở đắc giải thoát và tư tưởng Phật học” (Thích Chơn Thiện); “Vua Trần Nhân Tông: Vị anh hùng dân tộc, vị Phật Việt Nam” (Hoàng Quang Thuận); “Đức vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông: Hiện thân của sự kết hợp giữa đạo và đời để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước” (Nguyễn Phú Trọng) Tuy mỗi bài viết chỉ bàn về một vài phương diện chuyên biệt nhưng nhìn chung, đây là nguồn tài liệu rất có giá trị góp phần hữu ích khi nghiên cứu về văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông

3

Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 700 năm (1308-2008) ngày mất của Trần Nhân Tông do Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp tổ chức vào ngày 25-27/11/2008 tại Hội trường Khách sạn Thương mại, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

Trang 13

Thứ hai, hướng nghiên cứu về thơ văn của Trần Nhân Tông gồm

các tác phẩm: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương 1978: Văn

học Việt Nam (thế kỷ thứ X - nửa đầu thế kỷ thứ XVIII), tập 1; Viện Văn học

1988: Thơ văn Lý - Trần, tập 2; Đoàn Thị Thu Vân 1998: Thơ Thiền Lý Trần; Nguyễn Công Lý 2002: Văn học Phật giáo thời Lý Trần: diện mạo và đặc

điểm; Thích Nhật Quang 2004: Nửa ngày của Thái Thượng hoàng (viết về Cư trần lạc đạo phú); Thích Phước Đạt 2008/2013: Giá trị văn học trong tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm; Trần Quê Hương (chuyển thơ) 2010: Thơ văn Thiền sư Lý Trần – Hương thiền ngàn năm; Thích Giác Toàn và Trần

Hữu Tá (đồng chủ biên) 2010: Văn học, Phật giáo với 1000 năm Thăng Long

- Hà Nội… Trong đó, bộ Thơ văn Lý - Trần của Viện Văn học được xem là

công trình nghiên cứu khá quy mô, sưu tập khá đầy đủ các tác phẩm thơ văn

của Trần Nhân Tông Đặc biệt, Nửa ngày của Thái Thượng hoàng (viết về Cư

trần lạc đạo phú) của Thích Nhật Quang là tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu

về cuộc đời và tư tưởng triết học, tư tưởng thiền học của Trần Nhân Tông qua

tác phẩm văn học Cư trần lạc đạo phú v.v Nhìn chung, nhóm đề tài nghiên

cứu này sẽ giúp cho người viết nhận diện được phần nào đặc điểm văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông qua lăng kính văn học

Thứ ba, hướng nghiên cứu về tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông gồm các tác phẩm: Nguyễn Đăng Thục 1965/1997: Thiền học Việt Nam;

Thích Thanh Từ 1992/2000: Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20; Thích Thanh Từ 1995/1999: Thiền sư Việt Nam; Thích Thanh Từ và Tgk 1995/2003: Thiền học đời Trần; Trương Văn Chung 1998: Tư tưởng triết học

của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần; Nguyễn Duy Hinh 1999: Tư tưởng Phật giáo Việt Nam; Nguyễn Hùng Hậu với hai công trình: Lược khảo tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam (1997) và Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam (2003); Trương Văn Chung, Doãn Chính (đồng chủ biên) 2008: Tư

Trang 14

tưởng Việt Nam thời Lý - Trần; Bùi Duy Du 2012: Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông: đặc điểm và giá trị lịch sử… Trong đó, tác phẩm tiêu biểu

nhất cho nhóm đề tài này là Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông: đặc

điểm và giá trị lịch sử của Bùi Duy Du Nếu như Bùi Duy Du nghiên cứu một

cách chuyên biệt thì Trương Văn Chung lại trình bày khá bao quát về Tư

tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần Các tác phẩm khác của

Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hùng Hậu, Doãn Chính, Thích Đồng Bổn (chủ biên) v.v cũng có những đóng góp nhất định nhưng chỉ mang tính khái quát, chung chung

Ngoài ba nhóm đề tài nêu trên, còn có một số bài viết, bài khảo cứu liên quan đến Trần Nhân Tông điển hình như: “Trúc Lâm Trần Nhân Tông –

Vị vua của thuyết Tam hợp” (Thích Đồng Bổn 2008), “Bàn thêm về sự nghiệp của Trần Nhân Tông” (Lê Cung 2008), “Về Phật Hoàng Trần Nhân Tông – danh nhân văn hóa” (Trần Hồng Liên 2008), “Chất Phật và chất vua trong con người của Phật Hoàng Trần Nhân Tông” (Pháp Đăng 2008), “Tìm hiểu giá trị ‘Cư trần lạc đạo phú’ của Trần Nhân Tông” (Trần Lý Trai 2009),

“Cội nguồn triết học của tinh thần thiền nhập thế Trần Nhân Tông” (Nguyễn Kim Sơn 2009), “Phật Hoàng Trần Nhân Tông – Linh hồn của Thiền phái Trúc Lâm” (Thích Nhật Quang 2010), “Trần Nhân Tông: Trí giả anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất” (Trần Ngọc Vương 2012), “Hoàng đế - Thi nhân - Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông” (Nguyễn Công Lý 2015) Gần đây

nhất có hai bài viết về Trần Nhân Tông đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học

quốc tế “Việt Nam – Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông” (2017)4 của Thích Bổn Huân (“Phật Hoàng Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ”)

4

Hội thảo do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam phối hợp với Khoa Văn học và Trung tâm Tôn giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM đồng tổ chức diễn ra trong 3 ngày 16, 17 và 18/11/2017

Trang 15

và Trương Thị Thủy (“Phật Hoàng Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử qua một số văn bia khu vực vòng cung Đông Triều”)… Tuy những bài viết này chỉ dừng lại ở phạm vi của một bài báo khoa học, chưa phải là một công trình nghiên cứu quy mô và chưa mang tính hệ thống cao nhưng vẫn

là nguồn tài liệu có giá trị đóng góp không nhỏ cho công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông

Tóm lại, qua các tác phẩm, các bài viết kể trên, chúng ta thấy phần lớn

các tác giả nghiên cứu về Trần Nhân Tông theo nhiều hướng tiếp cận bộ phận khác nhau như tiếp cận Lịch sử, Văn học, Triết học, Tôn giáo học v.v Tuy nhiên, có thể nói là chưa có một công trình quy mô cụ thể nào nghiên cứu về

Trần Nhân Tông theo hướng tiếp cận Văn hóa học mang tính hệ thống Do đó,

với đề tài Văn hóa ứng xử của Hoàng đế - Phật Hoàng Trần Nhân Tông,

người viết sẽ nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Trần Nhân Tông trong lĩnh vực ứng xử theo hướng tiếp cận Văn hóa học một cách có hệ thống hơn

3 Mục đích nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài Văn hóa ứng xử của Hoàng đế - Phật Hoàng

Trần Nhân Tông, người viết nhắm đến mục tiêu làm sáng tỏ ba vấn đề chính

yếu sau đây:

1 Cơ sở hình thành văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông;

2 Đặc điểm văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông;

3 Giá trị ảnh hưởng văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông

Nói một cách cụ thể hơn, mục tiêu của luận văn này hướng đến là để chứng minh rằng tôn giáo và dân tộc luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, văn hóa tôn giáo và văn hóa dân tộc luôn tồn tại song hành trong tiến trình lịch sử của mỗi quốc gia dân tộc Đối với Việt Nam, Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử hơn 2000 năm qua với biết bao thịnh

Trang 16

suy thăng trầm biến đổi Đặc biệt, đời Trần được xem là thời đại hưng thịnh nhất trong lịch sử dân tộc, cũng chính là thời đại hoàng kim của Phật giáo Việt Nam với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Theo các nhà nghiên cứu cũng như bản thân người viết nhận thấy, sở dĩ đời Trần hưng thịnh, đạt được nhiều thắng lợi vẻ vang và Phật giáo phát triển huy hoàng rực

rỡ như thế là do tài lãnh đạo của các vị minh quân tin tưởng Phật giáo, tiêu biểu nhất là Trần Nhân Tông Do đó, những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc và những nét đặc trưng văn hóa Phật giáo Việt Nam liên quan đến văn hóa ứng xử được thể hiện qua cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn của Trần Nhân Tông sẽ là những vấn đề trọng tâm được triển khai trong luận văn này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Như tên đề tài đã cho thấy, đối tượng nghiên

cứu của luận văn này chính là văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông

Phạm vi nghiên cứu: Với đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu

những nét đặc trưng trong văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông Chủ thể văn hóa Trần Nhân Tông được nghiên cứu qua hai phương diện: vừa là bậc Hoàng

đế anh minh của Trần triều Đại Việt trong giai đoạn thế kỷ XIII - XIV, vừa là một bậc xuất gia tu hành ngộ đạo, được tôn xưng là đấng Phật Hoàng của Phật giáo Việt Nam nói chung và Sơ Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng Ngoài ra, những gì tuy không thuộc phạm vi văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông, nhưng có liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cũng được đề cập nhưng không phân tích chi tiết trong luận văn này

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về phương diện khoa học, nếu thực hiện tốt, luận văn sẽ đóng góp một công trình nghiên cứu mới về nhân vật lịch sử Trần Nhân Tông theo hướng tiếp cận Văn hóa học Đồng thời, đây cũng là phương thức để hệ thống hóa

Trang 17

những giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt Nam, của Phật giáo Việt Nam nói chung và của Phật giáo đời Trần cũng như Thiền phái Trúc Lâm Yên

Tử nói riêng được biểu hiện qua cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn của Trần Nhân Tông

Về phương diện thực tiễn, thông qua đề tài này, người viết hy vọng

luận văn có thể giúp cho những ai muốn tìm hiểu về thời đại Lý - Trần nói chung và đời Trần nói riêng sẽ nhận diện được những giá trị văn hóa dân tộc

và văn hóa Phật giáo thời đại này một cách đúng đắn và sâu sắc hơn Đồng thời, luận văn còn là cơ sở cho người đọc có cái nhìn bao quát hơn về những cống hiến vô cùng to lớn của Trần Nhân Tông đối với quốc gia dân tộc trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao…; đặc biệt là đối với nền văn hóa Việt Nam nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng

Trong thời đại hiện nay, nếu biết ứng dụng văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông, mọi người dân đều có thể hoàn thiện nhân cách văn hóa đạo đức

cá nhân; các nguyên thủ quốc gia sẽ đề ra những đường lối, chính sách đúng đắn, hiệu quả trong phương diện đối nội cũng như đối ngoại Về đối nội, có thể thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa chính quyền và tôn giáo, giữa nhân dân và nhà lãnh đạo; củng cố tinh thần đoàn kết dân tộc; nhà lãnh đạo quan tâm, chăm lo đời sống dân chúng; xây dựng xã hội phát triển bền vững đậm

đà bản sắc văn hóa dân tộc Về đối ngoại, nếu nhà lãnh đạo quốc gia vì nền hòa bình của quốc gia dân tộc mà ứng xử vừa kiên cường bất khuất vừa hòa hiếu mềm dẻo và khoan dung nhân đạo với kẻ thù thì đất nước sẽ được yên bình, bảo vệ được chủ quyền độc lập dân tộc và nhân dân được sống an lành, hạnh phúc

Về phương diện Phật giáo, noi theo gương hạnh của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, hàng Tăng Ni, Phật tử không những tự mình tu tập được an lạc giải thoát mà còn có thể nhập thế độ sanh, hoằng dương Phật pháp, làm việc

Trang 18

phước thiện, giáo dục và hoàn thiện nhân cách văn hóa, đạo đức cho mọi người Đồng thời, những ai học tập và thực hành theo tư tưởng, đường lối của

Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm, có thể sống hài hòa với mọi người thuộc mọi tông phái khác nhau, cùng hướng đến mục tiêu giác ngộ giải thoát, đồng tâm hiệp lực xây dựng và bảo vệ ngôi nhà Phật giáo luôn tồn tại bền vững theo phương châm hành động “tốt đạo đẹp đời, lợi lạc quần sinh”

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, ngoài phương

pháp luận dựa trên cơ sở lý thuyết thuộc chuyên ngành Văn hóa học, người

viết còn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu như:

 Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu văn hóa ứng xử của Trần Nhân

Tông đặt trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thời đại nhà Trần giai đoạn thế kỷ XIII - XIV

 Phương pháp hệ thống: Văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông như

một hệ thống Luận văn phân tích, trình bày văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông đặt trong mối quan hệ với văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo tạo thành một hệ thống văn hóa mang đậm bản sắc Việt Nam

 Phương pháp so sánh: So sánh giữa tư tưởng triết học Phật giáo, Nho

giáo và Đạo giáo; giữa Thiền tông và Tịnh độ tông; giữa Thiền tông Việt Nam

và Thiền tông Trung Quốc; giữa Thiền phái Trúc Lâm và các Thiền phái khác… Qua đó có thể thấy được điểm đặc thù về tư tưởng triết học, tư tưởng thiền học và văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông; đồng thời chỉ ra những giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa của Việt Nam cũng như những nét đặc trưng văn hóa của Phật giáo Việt Nam

 Phương pháp liên ngành: Sử dụng thành quả nghiên cứu của các

ngành khoa học khác nhau như: Sử học, Văn học, Triết học, Tôn giáo học, Nhân học v.v để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến đề tài

Trang 19

Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu nêu trên, người viết còn vận dụng các thao tác tổng hợp, phân loại và phân tích nguồn tư liệu thu thập được trong quá trình thực hiện luận văn của mình

Nguồn tư liệu: Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng nguồn tư

liệu trực tiếp viết về cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của Trần Nhân Tông bao gồm các thư tịch cổ, tranh họa v.v và nguồn tư liệu gián tiếp có liên quan bao gồm các công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Văn hóa học và thành quả nghiên cứu của các chuyên ngành khác như Sử học, Văn học, Triết học, Tôn giáo học… cũng như các tài liệu liên quan đến Thiền phái Trúc Lâm Yên

Tử, Thiền tông Việt Nam nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương này gồm hai phần

chính: Phần thứ nhất trình bày về cơ sở lý luận qua việc phân tích một số khái

niệm liên quan đến văn hóa ứng xử và hướng tiếp cận; đồng thời trình bày một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về các vấn đề nhân cách văn hóa, quan hệ giữa nhân cách văn hóa cá nhân với văn hóa dân tộc, văn hóa tôn giáo và hướng tiếp cận Phần thứ hai bàn về cơ sở thực tiễn thông qua việc giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông, cơ sở hình thành văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông – bậc minh quân của Đại Việt đời Trần, đồng thời là Tổ sư khai sáng một tông phái Phật giáo mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Nội dung của chương này

là tiền đề để nghiên cứu các chương sau

- Chương 2: Văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông trên cương vị một nhà vua Chương này cho thấy văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông mang

đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam biểu hiện qua ba phương diện: 1 Đối

Trang 20

với gia tộc: vô cùng hiếu kính với cha mẹ, hết lòng thương yêu con cái và đoàn kết, bảo vệ hoàng tộc 2 Đối với quốc gia dân tộc: Trần Nhân Tông luôn thể hiện lòng yêu nước thương dân, tinh thần đoàn kết dân tộc, bình đẳng dân chủ, thưởng phạt công minh 3 Đối với ngoại bang xâm lược: Trần Nhân Tông có thái độ ứng xử vừa kiên cường bất khuất vừa hòa hiếu mềm dẻo, khoan dung nhân đạo, và luôn thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình để bảo

vệ độc lập chủ quyền dân tộc, giữ gìn an ninh quốc gia

- Chương 3: Văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông trên cương vị một bậc xuất gia tu hành Chương này trình bày về văn hóa ứng xử của Trần

Nhân Tông đặt trong mối quan hệ với văn hóa Phật giáo Hay nói cách khác,

đó cũng chính là những đặc trưng văn hóa của Phật giáo đời Trần nói chung

và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng, tiêu biểu là tinh thần dung hợp hài hòa và tinh thần nhập thế tích cực

Trang 21

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Văn hóa ứng xử và hướng tiếp cận

Khi nghiên cứu về văn hóa ứng xử của Hoàng đế - Phật Hoàng Trần Nhân Tông, việc tìm hiểu các khái niệm, các định nghĩa liên quan đến văn hóa ứng xử để chọn ra hướng tiếp cận phù hợp là bước quan trọng hàng đầu không thể bỏ qua Do đó, trong tiểu mục này, người viết sẽ trình bày một cách khái quát về các khái niệm văn hóa, ứng xử, văn hóa ứng xử

Trước hết bàn về khái niệm ‘văn hóa’ (tiếng Anh: culture; tiếng Hán:

文化) Về mặt ý nghĩa, khái niệm văn hóa được hiểu theo nhiều góc độ vì tính bao quát rộng lớn của nó Tùy theo đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mỗi một tác giả đưa ra một định nghĩa về văn hóa phù hợp với lĩnh vực nghiên

cứu của mình Đó là lý do tại sao V.M Rôđin đã nói rằng: “Có bao nhiêu nhà

văn hóa học lớn thì cũng có bấy nhiêu lý luận văn hóa, mỗi khuynh hướng văn hóa học độc đáo đều quy định cách tiếp cận và đối tượng của mình” [68:

66]

Một trong những nhà văn hóa học lớn đó là E B Tylor, là người đầu

tiên đưa ra định nghĩa về văn hóa trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy (xuất bản tại London, năm 1871), ông cho rằng: “Văn hóa, hay văn minh, theo

nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [109: 13]

Hoặc theo Federico Mayor: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân

tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [81: 29]

Trang 22

Đó là những định nghĩa tiêu biểu của các nhà văn hóa nổi tiếng thế giới Riêng đối với giới nghiên cứu văn hóa Việt Nam, điển hình như nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm cho rằng, khái niệm văn hóa bao giờ cũng được quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng; theo không gian hoặc theo hoạt động, theo thời gian… Trong đó, giới hạn

theo hoạt động thì văn hóa theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn hóa

ứng xử Theo hướng này, văn hóa thường được hiểu là cách sống, cách nghĩ

và cách đối xử với người xung quanh [81: 28-29]

Đặc biệt, trong khoa học nghiên cứu về văn hóa, văn hóa thường được hiểu theo nghĩa rộng [81: 29] Với tư cách là một phạm trù rộng, văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và được trao truyền từ thế hệ này đến các thế hệ sau Nhờ tiếp cận những giá trị văn hóa ấy, hoạt động của con người trong cộng đồng xã hội luôn hướng tới giá trị chân - thiện - mỹ Do đời sống xã hội luôn phát triển không ngừng nên nội dung và khái niệm văn hóa cũng ngày càng phong phú, đa dạng hơn Tuy

có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng có thể nói như Ward H

Goodenough từng nhận định: Mặc dù hiện tượng mà chúng ta gọi là văn hóa

là trọng tâm của nhân học văn hóa, nhưng có những khác biệt quan trọng giữa các nhà nhân học như cách định nghĩa nó Có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của văn hóa trong hành vi ứng xử của con người, và chưa có một lý

Khi nghiên cứu đề tài này, bên cạnh việc kế thừa những quan điểm trên, người viết còn tiếp cận thành quả nghiên cứu về văn hóa của Trần Ngọc

5

Tác giả luận văn dịch từ nguyên tác: “Although the phenomenon we call culture is the focus of cultural

anthropology, there are important differences among anthropologists as to just how to define it There are different views of its role in human behavior, and there is as yet no fully developed theory of culture” [119:

291]

Trang 23

Thêm – là một học giả xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu văn hóa xuất phát

từ đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam, ông đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và bao quát về văn hóa như sau:

“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do

con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [80: 10]

Trong định nghĩa này, mệnh đề “trong sự tương tác giữa con người

với môi trường tự nhiên và xã hội” hàm chứa ý nghĩa của văn hóa ứng xử

Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa ứng xử là một trong ba thành tố của mô hình

cấu trúc phân loại văn hóa theo hoạt động nhận thức - tổ chức - ứng xử Trong

đó, văn hóa ứng xử được thể hiện qua hai phương diện là ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội [81: 63]

Ở đây, chúng ta cần chú ý đến khái niệm ‘ứng xử’ (tiếng Anh: behave;

tiếng Hán: 應處) Xét về từ nguyên, ‘ứng’ là ứng đối, ứng phó; ‘xử’ là xử thế,

xử lí, xử sự Do đó có thể nói: “Ứng xử là phản ứng của con người đối với sự

tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Ứng xử là phản ứng có lựa chọn tính toán, là cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao nhất trong giao tiếp” [135]

Như vậy, khái niệm ứng xử được hiểu là cách xử thế của con người nhằm ứng phó với một hoặc nhiều đối tượng nào đó trong giao tiếp Chính vì thế, văn hóa ứng xử thường được hiểu đơn giản là cách cư xử, giao tiếp, trò chuyện, bày tỏ thái độ, thể hiện hành động thích hợp giữa con người với con người trong cuộc sống hằng ngày Nhưng thật ra, văn hóa ứng xử là khái niệm rất rộng, chỉ cho cách ứng xử có văn hóa của con người đối với cả môi trường

tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu, thời tiết v.v.) lẫn môi trường xã hội (con người, tôn giáo, tư tưởng v.v.) Việc ứng xử có văn hóa không những thể hiện trình

Trang 24

độ văn hóa và phẩm chất đạo đức của từng cá nhân, mà còn phản ánh bản sắc văn hóa của một cộng đồng, một quốc gia, một dân tộc Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa về văn hóa ứng xử như sau:

“Văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, khuôn mẫu

ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý… trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống, đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã hội, toàn bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng, bản sắc văn hóa của một dân tộc, một quốc gia… được cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội, thừa nhận

sự, ngoại giao Cụ thể đối với chủ thể được nghiên cứu trong luận văn này là Trần Nhân Tông đã tận dụng, tiếp biến tinh hoa của các dân tộc, các tôn giáo khác để làm phong phú cho nền văn hóa dân tộc Việt Nam, dung hợp các Thiền phái khác để tạo nên một Thiền phái mang bản sắc riêng của Phật giáo Việt Nam; đồng thời phải ứng phó với lân bang về các mặt ngoại giao, quân

sự để giữ gìn an ninh, độc lập tự chủ cho quốc gia dân tộc

Nói tóm lại, có thể hiểu văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông là cách biểu hiện văn hóa nhận thức, cách ứng xử có văn hóa của Trần Nhân Tông đối với môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu, thời tiết v.v.) và môi trường xã

Trang 25

hội (hoàng thân quốc thích, quốc gia dân tộc, ngoại bang, tôn giáo, tư tưởng v.v.) Thông qua văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông, không những chúng ta

có thể thấy được nhân cách văn hóa cá nhân của Trần Nhân Tông mà còn có thể biết được bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam

1.1.2 Nhân cách văn hóa, quan hệ giữa nhân cách văn hóa cá nhân với văn hóa dân tộc, văn hóa tôn giáo và hướng tiếp cận

Nhân cách là một trong những yếu tố quan trọng của con người Theo

cách hiểu thông thường, nhân cách tức là tư cách và phẩm chất của một con người Xét về từ nguyên, “nhân cách” bắt nguồn từ tiếng Latinh “persona” với nghĩa là “mặt nạ”, xuất phát từ tục sùng bái totem và sùng bái tổ tiên của người nguyên thủy Về sau từ này mở rộng nội hàm và mang ý nghĩa “nhân cách” với nhiều cách hiểu, cách định nghĩa và lý luận về nhân cách khác nhau Nhưng dù đứng dưới góc độ nào thì nhân cách cũng được biểu hiện như một hệ thống phẩm giá của con người được đánh giá từ mối quan hệ qua lại với những người khác, với tập thể, xã hội và với cả thế giới tự nhiên xung quanh [2: 17]

Từ góc độ Văn hóa học, Tâm lý học, Triết học, Xã hội học, tổng hợp lại

có thể hiểu một cách khái quát: “Nhân cách là một hệ thống dạng thức ứng xử

đối với thế giới bên ngoài và với chính bản thân của từng con người, qua đó biểu hiện các phẩm chất và năng lực, thể hiện quan niệm về thang bậc giá trị đạo đức của họ” [2: 18-19] Như vậy, nhân cách là một loại giá trị thuộc

phạm trù văn hóa đạo đức, không phải con người mới sinh ra đã có, mà được hình thành và phát triển từ những mối quan hệ xã hội, tạo nên nhân cách văn hóa cá nhân của mỗi con người

Thông thường, nói đến nhân cách văn hóa là nhấn mạnh đến những phương diện tích cực, những phẩm chất tốt đẹp của con người, do đó, có thể

định nghĩa rằng: “Nhân cách văn hóa là hệ thống những phẩm giá của một

Trang 26

người được đánh giá từ mối quan hệ qua lại của người đó với thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh, trong cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương lai Nhân cách văn hóa được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong thế giới và vẫn còn lưu lại sau khi người đó

đã mất đi” [2: 19]

Qua đó cho thấy, người có nhân cách văn hóa thường là người thể hiện những giá trị cốt lõi, cơ bản, đặc trưng của cộng đồng, những phẩm chất tốt đẹp được đa số thành viên trong cộng đồng tán thành và ngưỡng mộ Nhân cách văn hóa của mỗi con người, mỗi cá nhân chỉ có thể được hoàn thiện và phát triển đầy đủ trong một môi trường văn hóa lành mạnh của cộng đồng [2:

19-20] Bởi cá nhân là một con người cụ thể của một cộng đồng, là thành viên của xã hội, cho nên văn hóa cá nhân là toàn bộ tri thức, kinh nghiệm, phương

thức ứng xử mà mỗi cá nhân đã học tập, tích luỹ trong quá trình tham gia vào

hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội của đời sống cộng đồng Như vậy, nhân

cách văn hóa cá nhân là giá trị nhân cách mà mỗi người tự xây dựng và hoàn

thiện theo các hệ chuẩn xã hội mà qua đó có thể phân biệt cá nhân này với cá nhân khác trong cộng đồng xã hội

Mặt khác, cá nhân là thành viên của một cộng đồng dân tộc, có văn hóa

cá nhân ắt có văn hóa dân tộc “Văn hóa dân tộc là giá trị nhân cách, là tinh

hoa văn học, là đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc về thời kỳ lao động sản xuất xây dựng đất nước, chiến đấu bảo vệ tổ quốc, là truyền thống bao đời của mỗi dân tộc, là kết tinh văn hóa của các dân tộc anh em” [110: 41] Có

thể khẳng định: “Văn hóa dân tộc là sợi dây xuyên suốt từ quá khứ, hiện tại

đến tương lai của dân tộc Không có sự thay thế, chỉ có sự kế thừa chuyển đổi, thích nghi và phát triển” [110: 45] Do đó, nhân cách văn hóa cá nhân dù

ít hay nhiều cũng được hình thành và phát triển dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc Điển hình như nhân cách văn hóa đạo đức của vua Trần Nhân Tông được

Trang 27

thể hiện qua tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, tấm lòng nhân đạo v.v., đó cũng chính là những nét đặc trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa cho đến ngày nay

Ngoài sự tác động chi phối của văn hóa dân tộc, nhân cách văn hóa cá

nhân còn chịu ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo đang tồn tại trong mỗi cộng

đồng quốc gia dân tộc Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo không chỉ có quan hệ mật thiết với văn hóa mà còn có tác động mạnh mẽ đến các thành tố khác của

văn hóa Có thể nói: “Tôn giáo là một thực thể khách quan của lịch sử loài

người Nó là một nhu cầu của một bộ phận văn hóa tinh thần của từng con người, của từng cộng đồng xã hội” [111: 21-22] Tùy theo hoàn cảnh lịch sử, văn hóa tôn giáo có ít nhiều ảnh hưởng, tác động đến toàn bộ văn hóa xã hội,

cũng như các lĩnh vực riêng biệt của văn hóa Mặt khác, trong quá trình hình thành và phát triển, tôn giáo đã tạo ra một hệ giá trị văn hóa, từ những giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ đến những giá trị khác xung quanh niềm tin tôn giáo, thể hiện khát khao vươn tới cái hoàn thiện, hoàn mỹ của con người Bên cạnh những thuộc tính cơ bản của văn hóa nói chung, văn hóa tôn giáo có tính đặc thù, đó là tính nhân đạo, nhân văn, hướng thiện

Khi nghiên cứu về văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông, một trong những lý thuyết văn hóa học được xem là cơ sở lý luận đó chính là chức năng luận, khẳng định vai trò của tôn giáo và cụ thể nhất là Phật giáo Theo N

Bellah: “Một trong những chức năng xã hội của tôn giáo là nhằm thỏa mãn

cho xã hội một tập hợp đáng kể những giá trị tối thượng làm chỗ dựa cho đạo đức xã hội” [111: 76] Thực tế cho thấy, từ ngàn xưa cho đến ngày nay, trong

từng giai đoạn lịch sử khác nhau, Phật giáo luôn thể hiện chức năng tôn giáo của mình để góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa xã hội Việt Nam

qua các phương diện đạo đức, tư tưởng, giáo dục v.v Có thể nói “văn hóa

Phật giáo là một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hóa dân tộc” [12:

Trang 28

105] Đặc biệt, sự hội nhập của Phật giáo trong nền văn hóa dân tộc vào thời

Lý - Trần đã “thâm nhập vào tâm hồn nhân dân sâu sắc khiến cho tựa hồ ai ai

cũng là tín đồ Phật giáo” [33: 790]

Nói tóm lại, nhân cách văn hóa cá nhân dù ít hay nhiều cũng được hình thành và phát triển trên nền tảng văn hóa dân tộc và văn hóa tôn giáo đang tồn tại trong mỗi cộng đồng quốc gia dân tộc Do đó, cơ sở hình thành nhân cách văn hóa của Trần Nhân Tông cũng không ngoại lệ

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông

Khi nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông, tuy có

nhiều tài liệu giá trị đáng để tham khảo nhưng “Đại Việt sử ký toàn thư vẫn là

nguồn tư liệu cấp một” [77: 15] Tuy nhiên, có một số chi tiết không được Đại Việt sử ký toàn thư đề cập hoặc có ghi lại nhưng không đầy đủ rõ ràng6, người

viết sẽ trình bày dựa trên một số nguồn tư liệu khác như: Thánh đăng lục,

Tam Tổ thực lục, Toàn tập Trần Nhân Tông v.v

1.2.1.1 Cuộc đời Trần Nhân Tông

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vua Trần Nhân Tông “huý là Khẩm, con

trưởng của Thánh Tôn, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu, sinh năm Giáp Ngọ 7 , Nguyên Phong thứ 8, tháng 11, ngày 11 Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần tuý, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử; ở hai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn; ở ngôi 14 năm, nhường

6

Chẳng hạn như những sự kiện liên quan đến quá trình xuất gia hành đạo của vua Trần Nhân Tông (ban đầu

trốn lên Yên Tử định đi xuất gia, sau đó chính thức xuất gia, giảng kinh, thuyết pháp v.v.) không được Đại

Việt sử ký toàn thư đề cập, trong khi đó Thánh Đăng lục, Tam Tổ thực lục v.v trình bày rất chi tiết rõ ràng

Hoặc một số vấn đề liên quan đến chính trị quân sự thể hiện qua các văn thư ngoại giao của Trần Nhân Tông

được Lê Mạnh Thát trình bày trong Toàn tập Tràn Nhân Tông khá đầy đủ chi tiết hơn so với Đại Việt sử ký

toàn thư

7

Có lẽ ở đây ghi nhầm, vì trong các nguồn sử liệu khác và ngay chính trong Đại Việt sử ký toàn thư ở trang

471 cũng cho biết năm 1258 là năm Mậu Ngọ chứ không phải Giáp Ngọ

Trang 29

ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền của nhà Trần” [47: 493]

vị vua thứ ba của nhà Trần Trần Nhân Tông là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu Trần Thị Thiều, sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ, niên hiệu Nguyên Phong năm

thứ 8 (7/12/1258) Trần Nhân Tông khi mới sinh ra, không riêng gì Đại Việt

sử ký toàn thư mô tả như đoạn văn trên mà trong Thánh đăng lục cũng ghi

rằng: “Đến khi Ngài sinh ra, sắc như vàng ròng, Thánh Tông đặt tên là Kim

Phật” [103: 101]

Qua các nguồn sử liệu nêu trên cho thấy, Trần Nhân Tông lúc mới sinh

cha gọi là “Kim Phật” (Phật Vàng) Đến khi lớn lên, Trần Nhân Tông lại càng

tỏ rõ tâm đạo phi phàm của mình Có lẽ do hạt giống Phật đã ngầm chứa sẵn, đồng thời cũng thấu hiểu đã có biết bao trang sử đau lòng chỉ vì ngôi vị mà cốt nhục tương tàn nên năm 16 tuổi, khi được vua Trần Thánh Tông lập làm Hoàng thái tử, Nhân Tông đã hai lần xin nhường lại cho em nhưng vua cha không đồng ý, vì thấy Nhân Tông có khả năng gánh vác việc lớn như lời tiên đoán của người xem tướng Thái tử lúc mới sinh ra Do đó, khi lớn lên Trần

8

Phần lớn các tác phẩm lịch sử, văn học Việt Nam xưa nay đều ghi vua Trần Nhân Tông huý là Trần Khâm,

đặc biệt trong Việt Nam sử lược và Thơ văn Lý - Trần còn chú thêm chữ Hán là 陳昑 [43: 136; 116: 451];

riêng Đại Việt Sử Ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên ghi huý của Trần Nhân Tông là Khẩm [47: 492, 493, 536…]

Theo sự tra cứu của người viết thì trong các bộ Tự điển Hán Việt không có chữ 昑, còn trong Tự điển chữ

Nôm thì dù âm Khâm hay Khẩm cũng không phải là chữ 昑, chỉ có Tự điển Khang Hy giải thích chữ 昑 là:

欽上聲, nghĩa là âm Khâm thượng thanh (tương đương với dấu hỏi hoặc ngã), như vậy có thể Ngô Sĩ Liên

dựa vào cách phiên thiết Hán Việt chữ 昑 của Tự điển Khang Hy nên mới ghi “vua huý là Khẩm”

9

Về điểm này, chúng ta có thể hiểu màu da của Trần Nhân Tông có một nét đặc biệt khác thường là màu vàng như vàng ròng (đây là một nét đặc trưng khi mô tả về sắc diện của các bậc Thánh nhân mang tính huyền sử); tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hiểu một cách thực tế hơn là sắc diện của Trần Nhân Tông sáng rỡ nên được ví như vàng ròng

Trang 30

Nhân Tông được giáo dục kỹ càng chu đáo về mọi phương diện để chuẩn bị cho việc kế tục sự nghiệp lãnh đạo quốc gia sau này Trần Quang Chỉ khi đề

mà Trần Nhân Tông được học lúc còn trẻ: “Khi lớn, Ngài học thông tam giáo

và hiểu sâu Phật điển Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc” [77: 34] Qua đó cho

thấy, Trần Nhân Tông đã thừa hưởng một nền giáo dục hết sức rộng thoáng,

am hiểu kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: tôn giáo, chính trị, quân sự, khoa học, y học, văn học, âm nhạc v.v

Khi thấy Trần Nhân Tông đã trưởng thành, đủ trình độ và khả năng gánh vác sự nghiệp lãnh đạo quốc gia, vua cha Trần Thánh Tông đã nhường ngôi cho con vào ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (tức ngày 08/11/1278), Trần Nhân Tông lên ngôi Hoàng đế, xưng là Hiếu Hoàng [47: 492] Vợ vua là hai chị em gái con của Trần Hưng Đạo: Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu và Tuyên Từ hoàng hậu Con trai là Trần Thuyên (con của Bảo Thánh hoàng hậu, sau này là vua Trần Anh Tông) và Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn; con gái là công chúa Huyền Trân

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Trần Nhân Tông ở ngôi 14 năm, nhường

Loa theo lời di chúc làm lễ hoả táng, thu nhặt ngọc cốt có năm màu để vào

10

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Nam: Bức Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ (竹林大士出山圖) do họa

sư đời Nguyên Trần Giám Như (陳鑑如) sáng tác vào năm 1363, là một trong những chứng tích giao lưu văn hóa Việt – Trung Nhân vật trung tâm trong bức vẽ là Trúc Lâm Đại Sĩ, tức vua Trần Nhân Tông [55: 33] 11

Đây là số liệu được ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư; tuy nhiên, nếu tính một cách chính xác thì:

Trần Nhân Tông lên ngôi năm 21 tuổi (1278), ở ngôi 15 năm (1278-1293), nhường ngôi 6 năm (1293-1299), xuất gia 9 năm (1299-1308), trụ thế 51 năm

12

Hầu hết các sử liệu đều cho biết Trần Nhân Tông mất ngày mồng 1 tháng 11 năm Mậu Thân, tuy nhiên, có một số tài liệu ghi rằng Điều Ngự Giác Hoàng mất ngày mồng 3 tháng 11 năm Mậu Thân [47: 570; 116: 452]

Trang 31

bình Vua Anh Tông cùng đình thần đem long giá rước ngọc cốt về tôn thờ tại

Quang Kim Tháp và dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu

Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật [108: 17]

1.2.1.2 Sự nghiệp lãnh đạo quốc gia

Sự nghiệp của Hoàng đế Trần Nhân Tông bắt đầu từ năm 21 tuổi (1278), nổi bật qua ba phương diện giữ nước, dựng nước và mở nước Trong giai đoạn Trần Nhân Tông ở ngôi Hoàng đế, dân tộc ta phải đương đầu với một kẻ thù hung hãn nhất của thời đại đó là giặc Mông Nguyên Thế nhưng cả

ba lần xâm lược Đại Việt, đội quân ‘bách chiến bách thắng’ đó đều bị đánh bại, trong đó có hai lần diễn ra dưới thời Trần Nhân Tông Theo nhận định của Lê Cung, chiến công hiển hách này thuộc về cả dân tộc, trong đó nổi bật những danh tướng như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão v.v Tuy nhiên, vai trò của Trần Nhân Tông với tư cách là người tổng chỉ huy tối cao phải ở vị trí hàng đầu, bởi lẽ nếu ‘vua không hiền’ thì dù tôi giỏi mấy cũng không thể nào phát huy được sở trường của mình trong việc điều quân ngoài mặt trận Hơn thế nữa, chính Trần Nhân Tông cũng tự mình thống lĩnh binh mã, xông pha trận mạc Điều đó càng cho chúng

ta thấy tầm cao của Trần Nhân Tông trong sự nghiệp giữ nước Khi chiến tranh diễn ra, Trần Nhân Tông có mặt hầu như khắp mọi mặt trận để cùng với

13

Hầu hết các sử liệu đều không ghi ngày tháng cử hành lễ táng Thượng hoàng Trần Nhân Tông, nhưng theo

Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Thượng hoàng Trần Nhân Tông mất ở chùa trên núi Yên Tử vào

tháng 11 âm lịch năm Mậu Thân (1308) và mãi tới tháng 9 âm lịch năm Canh Tuất (1310) mới làm lễ an táng

ở Đức Lăng, nghĩa là linh cữu của Thượng hoàng Nhân Tông được quàn gần hai năm [60: 305] Đặc biệt,

trong Đại Việt sử ký toàn thư còn trình bày khá chi tiết về ngày tháng và sự kiện quan liêu dân chúng tham dự

lễ an táng linh cữu Trần Nhân Tông đông đến nỗi quan quân phải hát Long ngâm cho dân chúng xem nghe

mới có thể rước linh cữu ra khỏi cung điện như sau: “Canh Tuất, năm thứ 18 (Nguyên Chí Đại năm thứ 3),

mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức phủ Long Hưng Xá lị thì để ở bảo tháp am Ngọa Vân Miếu hiệu là Nhân Tôn, thụy hiệu là Pháp Thiên Sùng Ðạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Huệ Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Ðế Trước tạm quàn Nhân Tôn

ở điện Diên Hiền, khi sắp phát dẫn, đã đến giờ rồi mà quan liêu dân chúng đứng đầy khắp cung điện, Tể tướng cầm roi xua đuổi, không thể giãn ra được…” [47: 574-575]

Trang 32

tướng lĩnh có những quyết sách tối ưu trước những tình thế hiểm nghèo, nổi bật nhất là những quyết định lui quân hoặc phản công chiến lược Trần Nhân Tông là người vừa hoạch định kế sách, vừa đốc binh ngoài mặt trận [123] Khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy trong các cuộc chiến tranh vệ quốc, hiếm có thời đại phong kiến nào của nước ta đạt được thành tựu về quân sự nổi bật như đời vua Trần Nhân Tông với 2 lần chiến thắng đế quốc xâm lược Mông Nguyên Tuy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến những chiến công lừng lẫy của quân dân ta nhưng có thể nói một trong những nguyên nhân chủ yếu đó chính là tài thao lược, đức dũng cảm của các tướng sĩ lúc bấy giờ dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Trần Nhân Tông, người đã đưa ra những quyết định, sách lược vô cùng sáng suốt trong việc điều binh khiển tướng, bố trí trận đồ Với cương vị lãnh đạo tối cao của nhà nước, đồng thời là tướng trực tiếp chỉ huy các trận đánh năm 1285 và 1287-1288, Trần Nhân Tông cùng quan quân và nhân dân cả nước đã hai lần đánh bại đế quốc Mông Nguyên, lập nên lịch sử hào hùng chói lọi nhất của dân tộc, làm rạng ngời non sông nước Việt Đó chính là thành công rực rỡ nhất trong sự nghiệp giữ nước của Hoàng đế Trần Nhân Tông

Sau cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của Hoàng đế Trần Nhân Tông, công cuộc tái thiết, củng cố xây dựng đất nước diễn ra trên nhiều lĩnh vực, nổi bật nhất là về phương diện văn hóa Với tấm lòng nhân từ độ lượng, sau khi thắng trận, vua ra lệnh đại xá thiên hạ, miễn thuế toàn phần cho những nơi bị giặc đốt phá Trong thời gian ở ngôi, vua Trần Nhân Tông đã có nhiều chính sách chính trị nổi bật cả về đối nội và đối ngoại Đối với trong nước, vua Trần Nhân Tông cho thi hành các đợt ân

xá, nâng cao dân trí, hỗ trợ y tế chăm lo sức khỏe người dân, tổ chức thi tuyển quan chức chọn người hiền tài giúp nước Đối với ngoại bang, vua Trần

Trang 33

Nhân Tông đưa ra những đối sách vừa nhu vừa cương nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền độc lập, giữ vững nền hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước Bên cạnh đó, sự nghiệp của Trần Nhân Tông còn thành công về phương

diện mở nước Theo Lê Cung, “nói đến mở nước là nói đến ‘công cuộc Nam

tiến’ của dân tộc ta” [13: 58], tức là mở rộng biên cương Tổ quốc về phương

Nam Đối với Đại Việt, việc yên ổn “vùng phên dậu” phía Nam (chỉ cho vương quốc Champa – Chiêm Thành) có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giữ vững nền độc lập dân tộc trước chính sách

thành lập, đế quốc Mông Nguyên đã trở thành một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới lúc bấy giờ, và lịch sử đã cho thấy trong các cuộc chiến tranh xâm lăng Đại Việt, triều Nguyên không thể không tính đến việc sử dụng Chiêm Thành như là một mũi tiến công từ phía Nam, đặc biệt là dưới thời Trần Nhân Tông Từ khi Trần Nhân Tông lên ngôi năm 1278 cho đến trước cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1285 và ngay cả sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh năm 1288, triều Nguyên, đứng đầu là Hốt Tất Liệt, vẫn nuôi tham vọng xâm lăng và trả thù Đại Việt khi có điều kiện Chiêm Thành vẫn được Hốt Tất Liệt xem như là một trong những “đòn binh pháp” hiệu quả

để thôn tính Đại Việt Nhưng trong cuộc chiến tranh xâm lược Chiêm Thành

14

Trong bài viết “Bàn thêm về sự nghiệp của Trần Nhân Tông” [123], Lê Cung trình bày khá rõ vấn đề này

đã được lịch sử ghi nhận ngay từ các triều đại độc lập đầu tiên của dân tộc ta Năm 979, khi Đinh Tiên Hoàng

và Đinh Liễn bị ám hại, vua Chiêm Thành nghe lời xúi giục của Ngô Nhật Khánh (phò mã của nhà Đinh) đã cho thủy quân, định đánh chiếm thành Hoa Lư [47: 215] Năm 980, sau khi lên ngôi, Lê Đại Hành đã cử Từ Mục và Ngô Tử Canh đi sứ sang Chiêm Thành đặt quan hệ hòa hiếu nhưng lại bị vua Chiêm Thành bắt giữ Năm 982, sau khi đánh bại quân Tống, Lê Đại Hành quyết định đem quân chinh phạt Chiêm Thành, tiến thẳng đến kinh đô, phá thành trì rồi rút quân về [47: 226]

Đến đời Lý, quan hệ Việt - Chiêm trở lại căng thẳng Năm 1044, Lý Thái Tông đem quân tiến đánh vào kinh đô Chiêm Thành với lý do người Chiêm bỏ cống nạp 16 năm Vào giữa thế kỷ XI, vua Chiêm Thành là Chế Củ (Rudravarman III) thường khiêu khích, ra sức chuẩn bị binh lực để chờ thời cơ tấn công Đại Việt Năm 1065, Chế Củ cắt đứt hẳn quan hệ với Đại Việt Năm 1068, quân Chiêm Thành xâm lấn biên giới, vượt biển tiến vào Nghệ An Để đẩy lùi mối nguy phía Nam, phòng họa phía Bắc, năm 1068, Lý Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành, Chiêm Thành thua trận, Chế Củ bị bắt Để chuộc mạng, Chế Củ phải cắt ba châu: Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (thuộc Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) cho Đại Việt [47: 323] Có thể xem đây là sự kiện mở đầu “công cuộc Nam tiến” của dân tộc ta

Trang 34

của triều Nguyên năm 1283, Trần Nhân Tông không chỉ không đồng ý cho Hốt Tất Liệt mượn đường Đại Việt xâm lăng Chiêm Thành, mà ngược lại đã gởi 2 vạn quân và 500 chiếc thuyền chi viện cho nhân dân Chiêm Thành chống Mông Nguyên, góp phần giúp nhân dân Chiêm Thành giành thắng lợi [123]

Đặc biệt, một sự kiện trọng đại đã diễn ra vào tháng 3 năm 1301, với tư cách là một Tăng sĩ, Trần Nhân Tông đã vân du Chiêm Thành, đến tháng 11 cùng năm mới trở về Đại Việt Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một

vị Hoàng đế với tư cách một Tăng sĩ đã có chuyến hành trình ngoại giao dài nhất Thời gian ở Chiêm Thành, Hoàng đế Trần Nhân Tông đã được Hoàng

đế Chế Mân đón tiếp nồng hậu, bởi trong cuộc chiến tranh chống xâm lược Mông Nguyên, Đại Việt và Chiêm Thành đã là đồng minh của nhau Thành quả đạt được của chuyến đi lịch sử này đó chính là việc vua Trần Nhân Tông hứa gả Huyền Trân công chúa cho vua Chế Mân, và sau đó Chế Mân đã dâng

kiện này mở ra một bước ngoặc mới mang đậm dấu ấn trong cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng đế Trần Nhân Tông, đó chính là sự nghiệp mở nước, triển khai con đường Nam tiến của dân tộc Việt Nam

Như vậy, sự nghiệp lãnh đạo quốc gia dân tộc của Trần Nhân Tông thành tựu nổi bật qua ba phương diện giữ nước, dựng nước và mở nước, thật

là vĩ đại!

1.2.1.3 Sự nghiệp xuất gia hành đạo

Như trên đã trình bày, ngay từ khi mới sinh ra, Trần Nhân Tông đã mang tướng tốt của Phật và được vua cha đặt tên là Kim Phật, chứng tỏ đã có nhân duyên với Phật pháp từ thuở nhỏ Khi lớn lên Trần Nhân Tông có ý định

15

Các vùng đất này được vua Trần Anh Tông đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu (Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay), lãnh thổ Đại Việt phía Nam tới Hải Vân Quan (đèo Hải Vân ngày nay)

Trang 35

xuất gia: “Một hôm vào lúc giữa đêm, Ngài trèo thành trốn đi, định vào núi

Yên Tử Đến chùa Đông Cứu thì trời vừa sáng… Vua cha hay tin, sai các quan đi tìm thấy, Ngài bất đắc dĩ phải trở về” [108: 9] Sau khi trở về, vâng

lệnh vua cha nên Trần Nhân Tông đành phải lên ngôi

Từ đó vua hết lòng chăm lo việc trị nước an dân, chỉ đạo các vương hầu

và toàn dân chiến đấu chống giặc ngoại xâm Sau hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh thắng giặc Mông Nguyên, khi việc quốc gia đại sự đã yên ổn, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông từ tháng 3 năm Quý Tỵ (1293), lên làm Thái Thượng hoàng Thượng hoàng Trần Nhân Tông vừa dạy vua con việc chăn dân giữ nước vừa tu hành, ăn chay, giữ tịnh giới, chuẩn bị cho con đường xuất thế của mình Khi thấy con lớn khôn có thể kế vị được, Thượng hoàng Trần Nhân Tông mới quyết định lên núi xuất gia tu hành Đến tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng hoàng đi chơi Vũ Lâm và

quyết định xuất gia ở đấy, như Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi: “Đến khi

Thượng hoàng xuất gia, trước khi sắp ra đi, cho mời Đạo Tái vào điện Dưỡng Đức ở cung Thánh Từ, cho ngồi cùng ăn đồ hải vị, làm bài thơ rằng:

Chân rùa bóc đỏ mọng, Yên ngựa nướng vàng thơm,

Sơn tăng giữ trai giới,

Cùng ngồi không cùng ăn” [47: 538]

Có lẽ căn cứ vào lời văn thơ trên nên có người cho rằng vua Trần Nhân

Tông đã xuất gia vào năm Giáp Ngọ (1294) [77: 167] Tuy nhiên, sau đó Đại

Việt sử ký toàn thư lại đề cập đến một chi tiết là “(Kỷ Hợi, năm thứ 7, 1299) tháng 8, từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh” [47:

546] Còn theo Thánh đăng lục thì đến tháng 10 năm ấy vua mới thực sự lên

núi Yên Tử xuất gia tu hành [103: 103] Như vậy, thời điểm vua Trần Nhân Tông chính thức xuất gia phải là năm 1299 Sau khi lên núi Yên Tử xuất gia

Trang 36

tu hành khổ hạnh, Trần Nhân Tông lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử

Theo Việt Nam Phật giáo sử luận (tập 1) của Nguyễn Lang, Thiền phái

Yên Tử xuất phát từ núi Yên Tử mà vị Tổ khai sơn là Thiền sư Hiện Quang Thiền sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm, thầy của Trần Thái Tông, là Tổ thứ hai của phái Yên Tử, được vua tôn xưng là Quốc sư Vị Tổ truyền thừa thứ ba là Đại Đăng quốc sư, Tổ thứ tư là Tiêu Diêu, Tổ thứ năm là Huệ Tuệ [44: 212-

218] Tương tự như vậy, trong Đại Nam thiền uyển kế đăng lược lục liệt kê 23

vị Thiền sư liên tục trụ trì sơn môn Yên Tử thì các vị trước Nhân Tông cũng theo thứ tự: Hiện Quang, Viên Chứng, Đại Đăng, Tiêu Dao, Huệ Tuệ, Nhân

Tông [75: 673] Tuy nhiên, theo Lược dẫn Thiền phái đồ trong Thượng Sĩ ngữ

lục thì hệ thống truyền thừa trước Nhân Tông là: Thông Thiền, Tức Lự, Ứng

Thuận, Tiêu Dao, Tuệ Trung, Trúc Lâm [33: 474-475] Ở đây, nếu đem so sánh hai nguồn sử liệu trên, vấn đề được đặt ra là phải chăng Huệ Tuệ chính

là Tuệ Trung? Giải đáp vấn đề này, Nguyễn Lang cho rằng: Huệ Tuệ là Hòa thượng đường đầu truyền giới cho vua Trần Nhân Tông, còn Tuệ Trung Thượng Sĩ mặc dù được Trần Nhân Tông tôn làm thầy nhưng vốn là một vị

cư sĩ nên không thể truyền giới cho người xuất gia được, như vậy, chứng tỏ rằng Tuệ Trung và Huệ Tuệ là hai nhân vật khác nhau [44: 281-282] Tóm lại, trước khi Nhân Tông đến, trên núi Yên Tử đã có năm thế hệ các Thiền sư tu hành nối tiếp nhau, do đó Trần Nhân Tông được xem là thế hệ kế thừa thứ sáu của Thiền phái Yên Tử Sau khi xuất gia, Trần Nhân Tông ở đây tu hành và lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nên được xem là đệ nhất Tổ khai sáng dòng Thiền này với danh xưng là Sơ Tổ Trúc Lâm

Trải qua một thời gian tu hành chứng đạo, Sơ Tổ Trúc Lâm lập chùa, cất tịnh xá, khai giảng pháp để tiếp độ chúng tăng, học chúng đến tu học rất đông Sau đó, Sơ Tổ Trúc Lâm đến chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường lập

Trang 37

giảng đường, giảng dạy mấy năm, kế lại vân du đến trại Bố Chánh lập am Tri Kiến rồi ở đó Đến năm Giáp Thìn (1304), Sơ Tổ dạo đi khắp nơi khuyên dân

vua Anh Tông dâng biểu thỉnh Sơ Tổ về đại nội để truyền giới Bồ-tát tại gia Sau đó Sơ Tổ chống gậy đến chùa Sùng Nghiêm ở núi Linh Sơn để truyền bá Thiền tông Ngày mùng một tháng giêng năm Mậu Thân (1308), Sơ Tổ Trúc Lâm sai Nhị Tổ Pháp Loa đến huyện Siêu Loại tại chùa Báo Thiên khai giảng trụ trì Tháng tư năm ấy, Sơ Tổ đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lượng Giang kiết hạ

và sai Pháp Loa khai giảng trụ trì [108: 11-12]

Như vậy, đọc qua tiểu sử về cuộc đời và sự nghiệp xuất gia hành đạo cũng như những tư liệu của Trần Nhân Tông viết còn lưu giữ lại, chúng ta

thấy “Ngài là một Thiền sư rất đáng cho chúng ta tôn sùng, đồng thời đáng

cho chúng ta hãnh diện” [108: 362] Tôn sùng vì Trần Nhân Tông là một bậc

vương giả đã bỏ tất cả công danh phú quý để vào chốn rừng sâu tu hành Hãnh diện vì xưa kia ở Ấn Độ, Đức Phật Thích Ca là người sáng lập Phật giáo trên thế giới này, vốn là một vị Thái tử đã từ bỏ cung điện đi xuất gia giác ngộ thành Phật; còn thời nay, ở Việt Nam, không phải là một Thái tử, mà

là một vị Hoàng đế đang làm vua đủ quyền uy và nghị lực để gìn giữ giang sơn, nhưng vua Trần Nhân Tông đã nhường ngôi lại cho con rồi đi xuất gia ở

16

“Dâm từ” được Hòa thượng Thích Thanh Từ giải thích là chỉ cho các miếu thờ thần không chính đáng [108: 12], vì thời đó có những nơi thờ sinh thực khí, là những biểu tượng dễ khiến cho người ta nhìn thấy sẽ khởi lòng dâm dục

17

Ở đây có một điểm đáng lưu ý là vua Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử vì mục đích tu hành chứ không phải như một số nhà nghiên cứu dựa vào sự lý giải của Ngô Thời Nhiệm rồi cho rằng: Vua Trần Nhân Tông sở dĩ lên núi Yên Tử tu là để dọ dẫm tin tức của quân Trung Quốc ở miền Bắc (vì núi Yên Tử giáp ranh Trung Quốc), nếu nghe có động tịnh gì thì báo về triều đình để ngừa đón giặc [108: 22] Thực ra, đỉnh núi Yên Tử không đủ cao để nhìn xa trông rộng đến tận biên cương phương Bắc Cách lý giải của người đời sau như vậy

vô tình có thể làm lệch lạc mục đích tu hành rất thiêng liêng, cao cả của vua Trần Nhân Tông Tuy không có

sử sách nào nói rõ lý do vua Trần Nhân Tông chọn núi Yên Tử để đi xuất gia tu hành, nhưng chúng ta cũng

có thể hiểu rằng, sở dĩ vua về Yên Tử, bởi nơi này vào cuối thời Lý có Thiền sư Hiện Quang, đầu đời Trần có các Thiền sư Đạo Viên, Đại Đăng, Tiêu Diêu, Huệ Tuệ là thầy của vua Trần Nhân Tông cũng tu hành đắc đạo ở đây Do đó, vua Trần Nhân Tông cũng chọn Yên Tử để tu hành

Trang 38

Việt Nam đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – một Thiền phái được khai sáng bởi Sơ Tổ là một vị Hoàng đế Việt Nam Là người dân Việt Nam, có lẽ mỗi chúng ta ai ai cũng rất tự hào vì dân tộc Việt Nam có được một vị Hoàng

đế – Phật Hoàng Trần Nhân Tông với một nhân cách văn hóa đặc biệt cao thượng tương tự như dân tộc Ấn Độ có được Thái tử Tất-đạt-đa – Đức Phật

Thích Ca, thật xứng đáng để được ca ngợi là “một dân tộc vĩ đại đã sản sinh

ra một nhân cách vĩ đại” [87: 392]

Nói tóm lại, Trần Nhân Tông là con người vẹn toàn cả đời lẫn đạo, vừa

là một vị vua anh minh, tài ba, nhân hậu; vừa là một vị Thiền sư, một nhà lãnh đạo tinh thần siêu xuất nhưng rất bình dị Sự nghiệp của Trần Nhân Tông về đời lẫn đạo được tôn vinh và đánh giá rất cao Đó là niềm hãnh diện cho Phật giáo Việt Nam nói riêng và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam nói chung

1.2.1.4 Sự nghiệp sáng tác văn chương

Về phương diện trước tác, theo thư tịch cổ ghi chép thì Trần Nhân

Tông là tác giả của: Thiền Lâm thiết chủy ngữ lục, Trúc Lâm hậu lục, Thạch

thất mị ngữ, Đại Hương Hải ấn thi tập, Tăng già toái sự Rất tiếc, những tác

phẩm này đều bị thất lạc, hiện nay chỉ còn những đoạn trích in lại trong Tam

Tổ thực lục và Thánh đăng lục Theo sự khảo cứu của Lê Mạnh Thát, tác

phẩm của Trần Nhân Tông hiện còn hơn 30 bài thơ chữ Hán (32 bài thơ và ba đoạn phiến), 22 lá thư gởi cho quan quân nhà Nguyên, 2 bài giảng ở chùa Sùng Nghiêm và Kỳ Lân; đặc biệt, Trần Nhân Tông có hai tác phẩm chữ Nôm

rất nổi tiếng hiện còn đầy đủ đó là: Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền

thành đạo ca18 [77: 317-425] Hai tác phẩm chữ Nôm này được xem “là bản

18

Mặc dù có một số nhà nghiên cứu như Thiều Chửu (người dịch Khoá hư lục đăng trong báo Đuốc Tuệ), Trần Văn Giáp (tác giả Lược truyện các tác gia Việt Nam), Đinh Gia Khánh (đồng tác giả Văn học Việt Nam

(thế kỷ thứ X - nửa đầu thế kỷ thứ XVIII), tập 1 [41: 193]) cho rằng Khoá hư lục là tác phẩm của Trần Khâm

(tức Trần Nhân Tông), nhưng thật ra, căn cứ vào một số nguồn sử liệu đáng tin cậy và cụ thể là qua sự phân

tích của Nguyễn Lang và Nguyễn Đăng Thục thì Khoá hư lục đích xác phải là của Trần Cảnh (tức Trần Thái

Tông) [44: 226-227; 90: 37-38]

Trang 39

tuyên ngôn về con đường sống đạo của Phật giáo Việt Nam có tác động vào lối sống của người dân nước Việt” [26: 82]

Nhìn chung, tư tưởng văn học của Trần Nhân Tông có một vai trò, vị trí quan trọng không chỉ riêng trong Phật giáo mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của nhân dân, góp phần làm nên sự nghiệp vĩ đại trong quá trình hình thành và phát triển nền văn học nước nhà nói riêng và của toàn nhân loại nói

chung Có thể nói Trần Nhân Tông “là một nhà văn hóa, nhà thơ xuất sắc ở

thế kỷ XIII… Ông là một nhà thơ có phong cách Thơ ông có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn” [116: 451-452]

Từ thơ văn Trần Nhân Tông, đặc biệt là qua các văn thư ngoại giao, chúng ta hiểu thêm về mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, thấy được tinh thần bất khuất của dân tộc Việt trước cuộc chiến tranh xâm lược của ngoại bang Từ đó chúng ta có thể nhận diện phần nào các khía cạnh văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần, nổi bật là văn hóa ứng xử của vua quan nhà Trần, khi cứng rắn, lúc nhún nhường, chung quy đều nhằm để giữ gìn nền hòa bình cho đất nước Đồng thời, thơ văn Trần Nhân Tông phần nào cho thấy văn hóa Đại Việt là sự kết tinh, dung hợp của ba hệ tư tưởng lớn phương Đông: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo Trong đó, ở thời đại Lý - Trần, Phật giáo đóng vai trò chủ đạo, mà đỉnh cao là sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang đậm bản sắc Việt Nam

Hơn thế nữa, tiếp cận thơ văn Trần Nhân Tông từ góc nhìn văn hóa, chúng ta hiểu rõ hơn về con người Trần Nhân Tông – một nhân cách văn hóa của dân tộc, một nhà văn hóa lớn của Việt Nam Dưới thời Trần Nhân Tông, cải tiến chế độ thi cử, khuyến khích phát triển chữ Nôm qua sáng tác thơ văn, chỉ đạo biên soạn các bộ sách quan trọng, cùng những hoạt động khuyến

Trang 40

khích hiền tài, trí thức đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền văn hóa Đại Việt

Nói tóm lại, Trần Nhân Tông không chỉ là bậc minh quân của Trần triều Đại Việt, là đấng anh hùng của dân tộc Việt Nam, là nhà văn hóa vĩ đại của non sông nước Việt; mà còn là người đã sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – Thiền phái duy nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam có Sơ Tổ là một Thiền sư người Việt, lại là một vị Hoàng đế Việt Nam Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông luôn được khắc ghi trong những trang sử vàng chói lọi nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam

1.2.2 Cơ sở hình thành văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông

1.2.2.1 Bối cảnh xã hội

Có thể nói bối cảnh văn hóa, chính trị, xã hội Việt Nam thế kỷ XIII đã

có những ảnh hưởng nhất định đến việc hình thành nhân cách của Trần Nhân Tông từ khi còn là một Thái tử Việt Nam trong giai đoạn chống Mông Nguyên, chứng kiến cảnh đao binh đau thương, lòng yêu thương con người, lòng quý trọng và bảo vệ sự sống của Trần Nhân Tông chấn động sâu sắc Với cương vị một Thái tử, có trí thông minh và được huấn luyện giáo dục hết sức

kỹ càng chu đáo, chắc chắn một ngày kia sẽ là người kế vị ngai vàng, nhưng Trần Nhân Tông đã không chọn thái độ sống như bao vương tử khác Trần Nhân Tông có ý định nhường ngôi cho em là Đức Việp để đi xuất gia, tìm lối giải thoát cho riêng mình và nhân loại, nhưng không được vua cha chấp thuận nên đành phải lên ngôi vào năm 1278

Sau khi lên ngôi, Trần Nhân Tông phải đối diện với hoàn cảnh đất nước đang bị đế quốc Mông Nguyên xâm lược Sau lần thất trận vào năm 1258 dưới thời Trần Thái Tông, quân Nguyên dưới sự lãnh đạo của Hốt Tất Liệt và

Ô Mã Nhi, đã tấn công ráo riết vào lãnh thổ Việt Nam Nhân dân Đại Việt phải sống trong cảnh chiến tranh tàn khốc hết sức đau thương Chính hoàn

Ngày đăng: 14/04/2021, 18:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh 1975: Chữ Nôm: nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến. – Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Nôm: nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
2. Hoàng Tuấn Anh, Nguyễn Chí Bền, Từ Thị Loan, Vũ Anh Tú 2012: Xây dựng nhân cách văn hóa, những bài học kinh nghiệm trong lịch sử Việt Nam. – HN: Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nhân cách văn hóa, những bài học kinh nghiệm trong lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
3. Thích Hải Ấn 2008: “Tinh thần hòa quang đồng trần của vua Trần Nhân Tông”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đức vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông: cuộc đời và sự nghiệp”, tr. 49-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần hòa quang đồng trần của vua Trần Nhân Tông”, "Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đức vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông: cuộc đời và sự nghiệp”
4. Ban Phật giáo Việt Nam, Ban Phật học chuyên môn 1995: Thiền học đời Trần. – Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền học đời Trần
5. Nguyễn Trần Bạt 2011: Văn hóa & con người. – HN: Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa & con người
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
6. Thích Đồng Bổn (chủ biên) 2010: Phật giáo đời Trần. – HN: Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo đời Trần
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
7. Thích Minh Châu (dịch) 2000: Kinh Pháp cú (Dhammapada). – HN: Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Pháp cú
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
8. Thích Minh Châu (dịch) 2013a: “Kinh Đại bát Niết-bàn”, Kinh Trường bộ. – HN: Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Đại bát Niết-bàn”, "Kinh Trường bộ
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
9. Thích Minh Châu (dịch) 2013b: Kinh Tương ưng bộ, tập 1. – HN: Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Tương ưng bộ
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
10. Minh Chi 2003: Truyền thống văn hóa & Phật giáo Việt Nam. – HN: Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống văn hóa & Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
11. Trương Văn Chung 1998: Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần. – HN: Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
12. Trương Văn Chung, Doãn Chính (đồng chủ biên) 2008: Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần. – HN: Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
13. Lê Cung 2004: “Thêm một suy nghĩ về sự nghiệp của Trần Nhân Tông”, Nguyệt san Giác Ngộ, số 97, TP. HCM, tr. 55-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thêm một suy nghĩ về sự nghiệp của Trần Nhân Tông”, "Nguyệt san Giác Ngộ
14. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng 2001: Các triều đại Việt Nam. – HN: Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
15. Nguyễn Mạnh Cường và Tgk 2011: Từ Đạo Hạnh - Trần Nhân Tôn (những trái chiều lịch sử). – HN: Nxb Văn hóa - Thông tin & Viện Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Đạo Hạnh - Trần Nhân Tôn (những trái chiều lịch sử)
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin & Viện Văn hóa
16. Chris Barker 2011: Nghiên cứu văn hóa lý thuyết và thực hành (người dịch: Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam). – HN: Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa lý thuyết và thực hành
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
17. Bùi Duy Du 2012: Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông: đặc điểm và giá trị lịch sử. – HN: Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông: đặc điểm và giá trị lịch sử
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
18. Giác Dũng 2003: Phật Việt Nam, dân tộc Việt Nam. – HN: Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật Việt Nam, dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
19. Lý Việt Dũng 2003: Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục dịch giải. – Nxb Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục dịch giải
Nhà XB: Nxb Mũi Cà Mau
20. Nguyễn Đăng Duy 1999: Phật giáo với văn hóa Việt Nam. – Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo với văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w