1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ấn độ với chiến lược xoay trục sang châu á thái bình dương của hoa kỳ (2009 nay)

180 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thích ứng với chính sách xoay trục, Ấn Độ đã có những hành động cụ thể như: triển khai mạnh mẽ chính sách hướng Đông thông qua các quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với các nước tro

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Ngọc Dung Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu nhập từ các nguồn khác nhau, có ghi chú rõ trong phần tài liệu tham khảo

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 11 năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến các thầy giáo,

cô giáo khoa Lịch sử, các thầy cô giáo và cán bộ Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại đây

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Ngọc Dung vì sự hướng dẫn, những lời góp ý tận tình, sự động viên và cổ vũ trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Trần Tịnh Đức vì đã hết lòng động viên, cổ vũ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học và cả trong quá trình hoàn thiện luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các cán bộ phòng Tư liệu khoa Lịch sử, Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp

đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khai thác tư liệu để thực hiện đề tài luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những người thân, người bạn thân thiết cũng là người đồng nghiệp và tất cả bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Association of South East Asian Nations: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam

Á

ASEM The Asia-Europe Meeting: Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu

BRICS Tên gọi của một khối bao gồm các nền kinh tế lớn mới nổi gồm Brasil, Nga

(Russia), Ấn Độ (India), Trung Quốc (China) và Nam Phi (South Africa) FDI Foreign Direct Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GMS Chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng

GDP Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội

NATO North Atlantic Treaty Organization: Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương RIMPAC Rim of the Pacific Exercise: tập trận vành đai Thái Bình Dương

Trang 5

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Những đóng góp của luận văn 14

7 Bố cục của luận văn 15

NỘI DUNG 16

Chương 1: CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ VÀ ẤN ĐỘ THỜI KỲ SAU CHIẾN TRANH LẠNH 16

1.1 Khu vực châu Á – Thái Bình Dương 16

1.1.1 Khái niệm khu vực châu Á – Thái Bình Dương 16

1.1.2 Tầm quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong quan hệ quốc tế hiện nay 19

1.1.3 Tầm quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Ấn Độ 21

1.1.3.1 Đối với Hoa Kỳ 21

1.1.3.2 Đối với Ấn Độ 23

1.2 Chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương thời kỳ sau Chiến tranh lạnh 27

1.2.1 Khái quát về chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương từ 1989 – 2008 27

1.2.2 Chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương thời kỳ Tổng thống Obama và chiến lược xoay trục 33

Trang 6

1.3 Chiến lược của Ấn Độ ở châu Á – Thái Bình Dương thời kỳ sau Chiến

tranh lạnh 41

1.3.1 Khái quát về chiến lược của Ấn Độ ở châu Á – Thái Bình Dương từ 1992 – 2002 41

1.3.2 Chiến lược hành động hướng Đông của Ấn Độ (từ 2002 – nay) 47

Chương 2: ẤN ĐỘ VỚI CHIẾN LƯỢC XOAY TRỤC SANG KHU VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA HOA KỲ 52

2.1 Quan điểm của Hoa Kỳ về vai trò của Ấn Độ trong chiến lược xoay trục sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương 52

2.1.1 Những phát biểu trực tiếp của giới chính khách Hoa Kỳ về vai trò của Ấn Độ 52

2.1.2 Quan điểm ủng hộ Ấn Độ trong các vấn đề quốc tế và quan hệ song phương 54

2.2 Quan điểm của Ấn Độ về chiến lược xoay trục sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ 60

2.2.1.Cơ sở để Ấn Độ nhận thức về chiến lược xoay trục của Hoa Kỳ 60

2.2.1.1 Sự tương đồng về mặt lợi ích chiến lược 60

2.2.1.2 Sự khác biệt về mặt lợi ích chiến lược 63

2.2.2 Quan điểm của Ấn Độ về chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ 66

2.2.2.1 Về chính trị 66

2.2.2.2 Về kinh tế 72

2.2.2.3 Về an ninh – quân sự 76

2.3 Động thái quan hệ Ấn Độ Hoa Kỳ trong khuôn khổ chính sách xoay trục 81

2.3.1 Về mặt chính trị ngoại giao 82

2.3.2 Về mặt an ninh – quân sự 89

Trang 7

2.3.3 Về mặt kinh tế 97

Chương 3: NHẬN ĐỊNH VỀ VAI TRÒ CỦA ẤN ĐỘ TRONG CHIẾN LƯỢC XOAY TRỤC SANG CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA HOA KỲ 104

3.1 Vai trò của Ấn Độ trong chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ 104

3.1.1 Ấn Độ là một trong những nhân tố then chốt trong chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ 105

3.1.2 Ấn Độ là một nhân tố quan trọng trong việc tập hợp lực lượng của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương 107

3.1.3 Ấn Độ là một trong những đầu cầu quan trọng trong việc hình thành tứ giác quan hệ Hoa Kỳ Nhật Bản – Australia Ấn Độ 108

3.2 Triển vọng của quan hệ Hoa Kỳ Ấn Độ và vai trò của Ấn Độ trong chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương 119

3.2.1 Thuận lợi 119

3.2.2 Thách thức 122

3.2.3 Triển vọng của quan hệ Hoa Kỳ – Ấn Độ và vai trò của Ấn Độ trong chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương 134

KẾT LUẬN 141

PHỤ LỤC 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 155

Trang 8

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Chiến tranh lạnh kết thúc cùng với sự sụp đổ của Liên Xô đã giúp Hoa Kỳ vươn lên trở thành một siêu cường trên thế giới Từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay, những người đứng đầu Washington luôn mong muốn thiết lập một trật

tự thế giới do Hoa Kỳ đứng đầu, để phổ biến những giá trị dân chủ và lối sống kiểu

“Mỹ” trên toàn thế giới

Thế nhưng, vào năm đầu tiên của thế kỷ XXI Hoa Kỳ đã hứng chịu một thảm họa chưa từng có trong lịch sử nước này – khủng bố đã tấn công vào Trung tâm thương mại Thế giới và Lầu Năm Góc Để rồi, Washington lao vào cuộc chiến chống khủng bố ở Afghanistan và Iraq Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã làm cho quyền lực toàn cầu của Hoa Kỳ suy giảm một cách tương đối

Cũng chính lúc này, Trung Quốc lại gặt hái được những thành công nhất định

từ công cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình, trở thành một “ngôi sao tăng trưởng kinh tế” của thế giới Sự tăng trưởng rực rỡ về kinh tế đã giúp Trung Quốc bành trướng thế lực của mình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Việc Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh và sự “lơ là” đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ trở thành mối đe dọa đến vị trí dẫn đầu của mình, do vậy Hoa Kỳ đã từng bước điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình với mục tiêu ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc và can dự sâu vào khu vực Từ khi vào Nhà Trắng, Tổng thống Barack Obama đã từng bước khắc phục di sản trong 8 năm cầm quyền của người tiền nhiệm G.W Bush Chiến lược xoay trục sang châu Á hay còn gọi chiến lược “tái cân bằng” là một trong những yếu tố giúp Hoa Kỳ định hình lại trật tự của khu vực Để đảm bảo rằng vai trò của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương không bị suy giảm

Thế nhưng, con đường thực hiện chiến lược xoay trục sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ không hề bằng phẳng Để đảm bảo cho sự thành công của chiến lược, Hoa Kỳ đã đẩy mạnh quan hệ với với các quốc gia trong và ngoài

Trang 9

khu vực Ngoài việc nâng tầm chiến lược với các nước Đồng minh, Hoa Kỳ còn lôi kéo thêm những quốc gia khác Và Ấn Độ  một quốc gia đang trỗi dậy mạnh mẽ ở Nam Á, cũng đang triển khai chính sách hành động hướng Đông ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đã rơi vào “tầm ngắm” của Hoa Kỳ

Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Ấn Độ thực hiện chính sách thân Liên Xô nên quan hệ của Ấn Độ và Hoa Kỳ khá lạnh nhạt Nhưng trong những 90 của thế kỷ

XX, quan hệ Ấn Độ  Hoa Kỳ dần được cải thiện Mặc dù, quan hệ giữa Hoa Kỳ và

Ấn Độ cũng đã trải qua nhiều bước thăng trầm, nhưng những chuyển động của hai nước đều cho thấy rằng, cả Hoa Kỳ và Ấn Độ đang hướng đến một quan hệ khắng khít hơn trong bối cảnh Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ

Trong quá trình thực hiện chiến lược xoay trục sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ có rất nhiều vấn đề đặt ra như:

Thứ nhất, đối với Hoa Kỳ, trong chiến lược xoay trục, Hoa Kỳ đặt Ấn Độ ở

vị trí nào?

Thứ hai, đối với Ấn Độ, quan điểm, nhận thức của Ấn Độ như thế nào về

chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ?

Thứ ba, sự gặp gỡ của chiến lược xoay trục của Hoa Kỳ và chính sách hành

động hướng Đông của Ấn Độ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương như thế nào?

Và sự gặp gỡ này có giúp hai nước nâng tầm quan hệ đối ngoại lên hay không?

Thứ tư, xét trong một bối cảnh phức tạp của khu vực châu Á – Thái Bình

Dương như hiện nay, quan hệ giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ còn bị rất nhiều yếu tố khác chi phối như nhân tố Trung Quốc, Nhật Bản, Australia,…

Thứ năm, liệu rằng quan hệ của Ấn Độ và Hoa Kỳ sẽ đi đến đâu trong thời

gian tới?

Tất cả những câu hỏi này đều là những vấn đề thời sự vô cùng nóng bỏng và được nhiều người quan tâm Tuy nhiên, lại chưa có một công trình nào hệ thống toàn bộ vấn đề này Với mong muốn tìm được câu trả lời xác đáng cho những câu

Trang 10

hỏi trên, tôi chọn đề tài Ấn Độ với chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (2009 – nay) làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành

Lịch sử Thế giới của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

 Các công trình trong nước

Cho đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nào lớn và nghiên cứu trực

diện về vấn đề “Ấn Độ với chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (2009 – nay)” Tuy nhiên, vẫn có những công trình nghiên cứu, bài viết

liên quan đến chính sách xoay trục của Hoa Kỳ, chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh, quan hệ giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ từ sau Chiến tranh lạnh cho đến nay, những yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ Ấn Độ  Hoa Kỳ trong một số luận văn, bài viết tạp chí, tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam

Thứ nhất, nghiên cứu trực diện về vấn đề có bài viết của Nguyễn Nhâm, Bàn

về khả năng Ấn Độ thích ứng với “trục xoay” của Mỹ, số 2/2014 Trong bài viết

này, tác giả cho rằng sự phản ứng của Ấn Độ đối với chính sách xoay trục của Hoa

Kỳ xuất phát từ quan hệ lợi ích cốt lõi của Ấn Độ Để thích ứng với chính sách xoay trục, Ấn Độ đã có những hành động cụ thể như: triển khai mạnh mẽ chính sách hướng Đông thông qua các quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với các nước trong khu vực; mở rộng nội hàm của chính sách hướng Đông sang lĩnh vực an ninh có tác động liên thông Thái Bình Dương  Ấn Độ Dương góp phần bảo đảm vị thế chủ đạo của Ấn Độ tại khu vực Ấn Độ Dương; tìm kiếm đối tác chiến lược khu vực bao gồm

cả Hoa Kỳ nhằm cân bằng lực lượng và đối trọng với Trung Quốc Mặc dù có lợi ích chiến lược và những biện pháp thực hiện cụ thể nhưng chính phủ Ấn Độ cho đến nay vẫn chưa bao giờ tuyên bố một chính sách chống Trung Quốc Do đó, tác giả cũng đưa ra dự đoán rằng phải cần một quá trình nữa để Ấn Độ thực hiện liên minh chiến lược với Hoa Kỳ cũng như tuỳ thuộc vào ứng xử của Trung Quốc ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương

Trang 11

Bên cạnh đó, còn có bài viết của Trần Xuân Hiệp, Trần Như Bắc, Ấn Độ trong chính sách “tái cân bằng” của Mỹ, Tạp chí nghiên cứu Ấn Độ và châu Á, số 6

(43)/2016, các tác giả cho rằng sự trỗi dậy của Ấn Độ trong thời gian qua đã làm gia tăng tầm quan trọng của nó trong chính sách của Hoa Kỳ Thêm vào đó, Ấn Độ vừa

là đối tác chiến lược, đối tác kinh tế tiềm năng; vừa là đối trọng tương xứng trong chính sách kiềm chế Trung Quốc của Hoa Kỳ, do đó Ấn Độ đóng một vai trò then chốt trong chính sách xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương

Những bài viết này đưa ra những luận điểm vô cùng quan trọng trong việc xác định vai trò cũng như những phản ứng của Ấn Độ khi Hoa Kỳ thực hiện chính sách xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương Trên cơ sở đó, luận văn tiếp tục đào sâu và đưa ra những bằng chứng để chứng minh cho các luận điểm

Thứ hai, các công trình liên quan đến chính sách đối ngoại nói chung và

chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ gồm: Lê Linh

Lan (2004), Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Văn Du (2006), Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Phách (1997), Chính sách đối ngoại của một số nước sau chiến tranh Lạnh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Thị Lệ (2007), Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ đối với Đông Nam Á sau chiến tranh Lạnh, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội; Lê Thị Bích Ngọc (2012), Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Nam Á từ G.W Bush đến Obama (từ năm 2001 nay),

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn  Đại học Quốc gia Thành phố Hồ

Chí Minh

Bên cạnh đó, trong Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và châu Á (từ 2012 đến 2015)

có một số bài tiêu biểu như: Minh Thu, Mỹ với châu Á – Thái Bình Dương sự can dự

từ trong quá khứ Trong Tạp chí Nghiên cứu quốc tế có các bài viết như: Nguyễn

Trang 12

Kim Lân, Sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ tác động đến an ninh Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương, số 3/2002; Hà Mỹ Hương, Nhìn lại sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh Lạnh, số 1/2007; Trần Nguyễn Tuyên và Nguyễn Kỳ Sơn, Điều chỉnh chính sách đối ngoại của chính quyền Obama hiện nay, số 1/2010 Trong tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á có: Trần Thị Vinh, Đông Nam Á trong chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ (từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến năm 2011), số 1/2012 Và rất nhiều bài viết liên

quan đến vấn đề này được trình bày ở nhiều tạp chí như: Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Những vấn đề Kinh tế & Chính trị thế giới, Cộng sản,…

Mặc dù tư liệu ở phần này khá nhiều, nhưng các công trình, bài viết chỉ đề cập đến nguyên nhân, mục đích và biện pháp triển khai của chiến lược xoay trục của Hoa Kỳ chứ không xoáy vào quan hệ của Ấn Độ và Hoa Kỳ hay đề cập đến vai trò

cụ thể của Ấn Độ trong chiến lược xoay trục

Thứ ba, các công trình liên quan đến quan điểm của Ấn Độ đối với chiến

lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ có những luận văn tiêu

biểu như: Đỗ Thanh Hà (2011), Đông Bắc Á trong chính sách hướng Đông của Ấn

Độ, Nguyễn Đức Khanh (2013), Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và quan hệ Ấn – Trung, Trần Thị Thu (2012), Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và tác động của

nó đến an ninh khu vực Đông Nam Á (1991 2010) Hay những bài viết trong tài

liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam (từ năm 2009 đến 2015) như:

Giải mã chính sách đối ngoại của Modi, Về chính sách đối nội và đối ngoại của chính quyền Modi, Những thách thức đối với chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong năm 2012, Vai trò của Mỹ và Trung Quốc trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ, Thế tiến thoái lưỡng nan trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ,… Hoặc trong Tạp

chí Kiến thức quốc phòng hiện đại có những bài viết tiêu biểu như: Đỗ Trung (tổng

hợp), Một số vấn đề về chính sách đối ngoại của Ấn Độ; Phùng Quang Tạo, Chính sách hướng Đông và vai trò của Ấn Độ trong cơ cấu an ninh châu Á,…

Trang 13

Những bài viết trên đây đã phần nào khái quát được chính sách đối ngoại của

Ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh cho đến nay và mối quan hệ của Ấn Độ và Hoa Kỳ

Nó cũng phản ánh quan điểm của nhà nước Ấn Độ trong mối quan hệ với Hoa Kỳ nói chung và trong chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói riêng Tuy nhiên, những tài liệu này đều rất chung chung và không phân tích sâu về quan điểm của Ấn Độ mà chỉ khái quát về chính sách đối ngoại nói chung của Ấn

Độ

Thứ tư, các công trình liên quan đến quan hệ Ấn Độ  Hoa Kỳ gồm: Vũ Đăng

Linh (2009), Quan hệ thương mại Mỹ Ấn Độ kể từ sau Chiến tranh lạnh: Thực trạng và triển vọng, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội; Vũ Thị Hưng (2015), Quan hệ an ninh quân sự Mỹ Ấn Độ trong thập niên đầu của thế kỷ 21, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia

Hà Nội

Có những bài viết tiêu biểu như trong tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông

tấn xã Việt Nam (từ 2009 đến 2015) như: Quan hệ chiến lược Mỹ – Ấn và xu hướng phát triển, Quan hệ Mỹ Ấn dười thời Tổng thống Obama và triển vọng, Những uẩn khúc trong quan hệ Ấn – Mỹ, Phát biểu Tổng thống Barack Obama tại Quốc hội Ấn

Độ, Yếu tố Trung Quốc trong quan hệ Mỹ Ấn Độ, Dấu hiệu hình thành trục Mỹ

Ôxtrâylia Ấn Độ, Cuộc đối thoại ba bên Ấn – Nhật – Mỹ: Một sáng kiến nhiều hứa hẹn, Triển vọng thành lập liên minh Mỹ Ấn Độ Ôxtrâylia, Thách thức thực dụng đối với chính sách đối ngoại của Ấn Độ Hay trong Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và châu Á (từ năm 2012 đến 2015) có những bài viết như: Lê Thị Hằng Nga, Những yếu tố tác động đến quan hệ Ấn Độ Hoa Kỳ từ sau khi Ấn Độ giành được độc lập cho đến năm 1947; Trong Tạp chí Kiến thức Quốc phòng hiện Đại, số 01/2012 có bài viết Tình hình Ấn Độ và quan hệ Ấn Độ với một số nước thời gian gần đây

Đây là những bài viết thể hiện nội dung xoay quanh quan hệ của Hoa Kỳ và

Ấn Độ, nhưng lại không giới hạn trong phạm vi của chiến lược xoay trục của Hoa

Trang 14

Kỳ mà trình bày chung tất cả những vấn đề liên quan đến quan hệ của Hoa Kỳ và

Ấn Độ

 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Ở nước ngoài, những chương trình nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu chiến lược và quốc tế  CSIS (Hoa Kỳ), Viện Nghiên cứu chính sách (Institute for Policy Studies) (Hoa Kỳ), Chương trình nghiên cứu Đông Á từ Hội đồng Nghiên cứu Kinh

tế Quốc tế Ấn Độ (ICRIER), Chương trình nghiên cứu chiến lược và an ninh quốc tế (ISSSP) từ Viện Nghiên cứu nâng cao quốc gia (Ấn Độ), Viện Nghiên cứu Nam Á (ISAS) của Đại học Quốc gia Singapore là những công trình nghiên cứu chuyên sâu

Thứ nhất, những công trình đã được dịch: Kurt M Campbell (2017), Xoay trục tương lai nghệ thuật lãnh đạo của Mỹ ở châu Á, Nhà xuất bản Trẻ Đây là

công trình được thực hiện bởi Cựu Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ của Tổng thống Obama và Ngoại trưởng Hillary Clinton Có thể nói, đây là một công trình có cái nhìn trực diện nhất về chính sách xoay trục của Hoa Kỳ Tác giả đã cung cấp toàn diện về châu Á, từ kinh tế đến chính trị, văn hoá, xã hội,… Cùng với đó là sự khái quát lịch sử mối quan hệ quan trọng của Hoa Kỳ ở châu Á để cuối cùng đưa ra những thuận lợi, khó khăn cũng như

kế hoạch triển khai chiến lược xoay trục trong thời gian tới; Randall B.Ripley,

JameM.Lindsay (2002), Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau chiến tranh Lạnh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Thomas J McCormick (2004), Nước Mỹ nửa thế kỷ Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong và sau chiến tranh Lạnh, Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,… Những công trình này chủ yếu đề cập đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau thời kỳ Chiến tranh lạnh cho đến những năm đầu của thế kỷ XXI

Thứ hai, những công trình tiếng nước ngoài bao gồm:

SD Muni (2012), Obama Administration‟s, Pivot to Asia-Pacific and India‟s Role (Chính quyền Obama, xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương và vai trò của

Trang 15

Ấn Độ),Viện nghiên cứu Nam Á (ISAS), Đại học Quốc gia Singapore Trong bài

nghiên cứu này, tác giả cho rằng Ấn Độ là một phần quan trọng trong chiếc lược xoay trục của Hoa Kỳ Để đảm bảo cho việc Ấn Độ tham gia vào chiến lược xoay trục, Hoa Kỳ đã nâng cấp quan hệ thương mại quốc phòng cũng như chuyển giao những công nghệ quốc phòng tốt nhất cho Ấn Độ Ấn Độ dường như cũng phản ứng nhanh với chiến lược xoay trục bằng cách thúc đẩy chính sách hướng Đông hội tụ với xoay trục bằng chính sách hành động hướng Đông Tuy nhiên, không chỉ liên quan đến Đông Á và khu vực châu Á  Thái Bình Dương mà ở một mức độ rộng lớn hơn, Ấn Độ cũng mong muốn tăng cường quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ Mặc dù vậy, tác giả cho rằng mọi phản ứng của Ấn Độ về chính sách xoay trục của Hoa Kỳ vẫn chưa được công khai và chính thức ngoại trừ những cuộc họp song phương vì vẫn chưa có một tuyên bố rõ ràng của Ấn Độ về việc hoan nghênh hay phản đối sự thay đổi chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương

NinanKoshy (2012), India: Linchpin of the Pivot? (Ấn Độ: Then chốt của xoay trục?), Institute for Policy Studies (Viện Nghiên cứu chính sách, Hoa Kỳ)

Trong bài viết này, tác giả cho rằng Ấn Độ có một vị trí nổi bật trong chiến lược xoay trục của Hoa Kỳ Việc Hoa Kỳ kêu gọi hợp tác quốc phòng với Ấn Độ là một bước ngoặc trong chiến lược của Hoa Kỳ Hoa Kỳ cũng đã khuyến khích Ấn Độ chuyển từ chính sách hướng Đông sang hành động hướng Đông để Ấn Độ tạo ra các hợp tác song phương với các quốc gia trong khu vực từ đó tham gia vào những vấn

đề quan trọng của Hoa Kỳ Mối liên kết giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ trong chiến lược mới của Hoa Kỳ bao gồm các vấn đề như việc hướng tới một liên minh quân sự, hợp tác hải quân, giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ Cũng theo tác giả, giữa mối quan

hệ quốc tế đan xen phức tạp như hiện nay, Ấn Độ có thể không muốn được miêu tả

là “trụ cột” trong chiến lược của Hoa Kỳ, nhưng lãnh đạo hiện nay (chỉ Thủ tướng Modi) sẽ trấn an Washington rằng Ấn Độ ủng hộ rộng rãi các chính sách của Hoa

Kỳ ở nước ngoài, bao gồm ở khu vực châu Á  Thái Bình Dương

Trang 16

Sylvia Mishra (2015), India‟s Response to the US Pivot and Asian Geopolitics (Phản ứng của Ấn Độ với xoay trục của Hoa Kỳ và địa chính trị châu Á), Chương trình nghiên cứu Đông Á, Hội đồng Nghiên cứu Kinh tế quốc tế Ấn Độ

(East Asia Research Programme, Indian Council for Research on International Economic Relations (ICRIER)) Trong bài nghiên cứu này, tác giả cho rằng trong bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ, Hoa Kỳ đã chuyển trọng tâm từ Trung Đông sang châu Á – Thái Bình Dương Khi thực hiện chính sách này, Hoa Kỳ đã thúc đẩy quá trình hợp tác song phương và đa phương Trong đó, nếu một số đồng minh của Hoa Kỳ đã ủng hộ rõ ràng chiến lược tái cân bằng của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á Thái Bình Dương thì Ấn Độ chỉ lặng lẽ chấp nhận nó Ấn Độ hoan nghênh chính sách của Hoa Kỳ cũng như hài lòng về mối quan hệ giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhưng nước này tránh việc lựa chọn giữa Hoa

Kỳ hay Trung Quốc Để phản ứng với chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương, Ấn Độ tham gia hợp tác với Hoa Kỳ, với các tổ chức đa phương và đặc biệt

là phát triển tiềm lực quốc gia toàn diện

Tóm lại, thông qua việc trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề Ấn Độ với chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (2009 – nay), tôi đưa ra một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, có rất nhiều công trình khoa học đề cập đến những khía cạnh liên

quan đến đề tài nhưng do mục đích nghiên cứu khác nhau nên hầu hết các bài viết, công trình chủ yếu dừng lại ở việc phân tích mối toàn diện quan hệ giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, quân sự, an ninh, khoa học công nghệ,…

Thứ hai, một số bài viết có đề cập trực diện đến vấn đề Ấn Độ với chiến lược

xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ nhưng không hệ thống được toàn bộ các khía cạnh có liên quan Một số công trình đề cập đến những luận điểm

cụ thể nhưng chưa đầy đủ vấn đề, cũng có nhưng công trình chỉ trình bày những nội dung trọng tâm, nhưng việc lí giải nguyên nhân hay dự báo xu hướng phát triển,… vẫn chưa được trình bày

Trang 17

Thứ ba, còn nhiều nội dung liên quan đến đề tài vẫn chưa được nghiên cứu

một cách đầy đủ, cần được tiếp tục tìm hiểu quan điểm của Ấn Độ về chính sách xoay trục của Hoa Kỳ, vai trò của Ấn Độ trong chính sách xoay trục, triển vọng về quan hệ Ấn Độ – Hoa Kỳ và vai trò của Ấn Độ trong nhiệm kỳ của Tổng thống Donald Trump,…

Mặc dù, những công trình và bài viết trong nước cũng như ngoài nước chưa bao quát toàn bộ nội dung nghiên cứu của đề tài, chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn

đề từ một khía cạnh đơn lẻ nhưng đây chính là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng được tác giả sử dụng, kế thừa có chọn lọc để hoàn thành luận văn

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát mối tương tác Ấn Độ  Hoa Kỳ trong bối cảnh Hoa Kỳ triển khai chính sách xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương Trong đó, tập trung vào các vấn đề:

Thứ nhất, sự thay đổi chính sách đối ngoại của các bên (Hoa Kỳ, Ấn Độ) tại

khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Thứ hai, sự tương đồng, khác biệt về lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ và Ấn

Độ, vai trò của Ấn Độ trong chiến lược xoay trục trong giai đoạn 2009 – nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian nghiên cứu: không gian nghiên cứu của luận văn đặt ở khu

vực châu Á – Thái Bình Dương giới hạn ở Đông Bắc Á (6 quốc gia), Đông Nam Á

(11 quốc gia) và Australia

Về thời gian nghiên cứu: phạm vi thời gian của đề tài tập trung chủ yếu

trong thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Barack Obama, tức là từ năm 2009 đến nay

Trang 18

Về lĩnh vực nghiên cứu: những mối quan hệ quốc tế song phương, đa

phương liên quan đến Hoa Kỳ, Ấn Độ trong khuôn khổ chính sách xoay trục của Hoa Kỳ

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trình bày mối quan hệ Ấn Độ  Hoa Kỳ trong bối cảnh Hoa Kỳ xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương, thái độ và vai trò của Ấn Độ đối với chính sách xoay trục

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, phân tích nguyên nhân, mục tiêu và biện pháp triển khai của chiến

lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ trong những năm đầu của thế kỷ XXI

Thứ hai, phân tích quan điểm của Ấn Độ đối với chiến lược xoay trục sang

châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ thông qua việc chỉ ra nhưng những nét tương đồng và đối lập trong chính sách hành động hướng Đông của Ấn Độ và chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ

Thứ ba, phân tích quan hệ giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ trong chiến lược xoay trục

sang châu Á – Thái Bình Dương qua các lĩnh vực như: kinh tế, chính trị  ngoại giao, an ninh – quốc phòng

Thứ tư, qua đó nhận định về vai trò của Ấn Độ đối với Hoa Kỳ trong quá

trình triển khai chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương

Cuối cùng, đưa ra những dự báo về triển vọng của quan hệ của Ấn Độ và

Hoa Kỳ trong chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận sử học Marxsit, nền tảng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trang 19

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn cần làm rõ khái niệm liên quan như “khu vực châu Á – Thái Bình Dương”, xác định rõ những nội dung liên quan đến khái niệm “chiến lược”, các quan hệ song phương và đa phương liên quan đến Ấn Độ và Hoa Kỳ tại khu vực Tiếp theo, luận văn cần chỉ ra được sự tương tác giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ trong điều kiện Hoa Kỳ thực hiện chiến lược xoay trục Như vậy, luận văn cần khai thác nguồn tư liệu gốc, phản ánh lập trường, quan điểm, mục tiêu của hai quốc gia; tham khảo ý kiến chuyên gia để xây dựng các luận điểm riêng của mình Bên cạnh đó, luận văn phải bám sát vào các sự kiện quan trọng trong quan hệ song phương (thậm chí đa phương) của Ấn Độ và Hoa Kỳ để thấy rõ

sự tác động và tuỳ thuộc lẫn nhau của hai quốc gia này trong bối cảnh Hoa Kỳ triển khai chiến lược xoay trục sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Xác định đây là công trình nghiên cứu về quan hệ ngoại giao trên góc độ của khoa học lịch sử, những phương pháp cụ thể sau đây được sử dụng trong luận văn

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ quá trình vận động, phát triển

cụ thể của chính sách đối ngoại, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại qua các giai đoạn lịch sử, phục dựng lại tiến trình quan hệ ngoại giao giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ trong bối cảnh Hoa Kỳ triển khai chính sách xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương để thấy được mức độ phát triển của quan hệ này

Phương pháp logic được sử dụng để chỉ ra bản chất, quy luật và khuynh hướng vận động của quan hệ Ấn Độ  Hoa Kỳ

Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phương pháp phân tích được sử dụng để nghiên cứu những mặt, bộ phận và yếu tố cấu thành quan hệ Ấn Độ  Hoa Kỳ từ đó hiểu được tổng thể đối tượng nghiên cứu

Trang 20

Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát nhằm tìm ra cái chung, bản chất, quy luật vận động và phát triển của quan hệ Ấn Độ  Hoa Kỳ

Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt

về lợi lợi ích của Hoa Kỳ và Ấn Độ trong quá trình triển khai những chiến lược lớn tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương Trên cơ sở đó, phương pháp cũng giúp làm nổi bật sự khác nhau về động thái trong mối quan hệ Hoa Kỳ – Ấn Độ

Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê được sử dụng nhằm thu thập, xử lý, phân tích, đối chiếu các số liệu thống kê từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau để trình bày các bảng biểu thống kê phục vụ cho việc chứng minh hiệu quả của quan hệ Ấn Độ  Hoa Kỳ trong bối cảnh chính sách xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương

Phương pháp liên ngành

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu đa ngành và liên ngành để làm sáng nội dung, đặc biệt là những phạm trù cơ bản của lý luận quan hệ quốc tế như vấn đề chủ thể, quyền lực, công cụ và hệ thống trong quan hệ quốc tế, chủ quyền quốc gia

và lợi ích quốc gia – dân tộc được sử dụng như là các công cụ phương pháp luận để phân tích các mối quan hệ quốc tế cụ thể

5.3 Nguồn tư liệu tham khảo

Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu chính sau đây:

Thứ nhất, các Tuyên bố chung, Hiệp định, Thông cáo báo chí giữa Ấn Độ và

Hoa Kỳ Những tư liệu này được tiếp cận qua các website của chính phủ hai nước như website của Nhà trắng, Tổng thống Obama, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Ấn Độ, Lãnh sự quán Ấn Độ tại Hoa Kỳ,…

Trang 21

Thứ hai, các bài phỏng vấn chính khách, tuyên bố trong các cuộc gặp bên lề

những hội nghị lớn, các bài nghiên cứu được thực hiện bởi nhân viên chính phủ được đăng trên website của chính phủ

Hai nguồn tài liệu nói trên được xem là tài liệu bậc 1 để chúng tôi tiếp cận và khai thác trong quá trình thực hiện luận văn Chúng được phân bố trong Tài liệu tiếng Anh được đánh số từ 102 đến 203 trong phần tài liệu tham khảo

Thứ ba, công trình nghiên cứu chuyên khảo, luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ

hiện được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia (bản điện tử), Thư viện Trung Tâm Đại học Quốc gia TP HCM, Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Thứ tư, bài báo, tạp chí, internet có liên quan đến quan hệ Ấn Độ  Hoa Kỳ trong bối cảnh Hoa Kỳ triển khai chính sách xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương do các cơ quan chủ quản của các tạp chí Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và châu

Á, Nghiên cứu quốc tế, Nghiên cứu Đông Bắc Á, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu những vấn đề Kinh tế & Chính trị thế giới, Châu Mỹ ngày nay, Kiến thức quốc phòng hiện đại, Khoa học quân sự, Tài liệu tham khảo đặc biệt  Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN – TLTKĐB) Bên cạnh đó còn có chuyên mục “Các vấn đề quốc tế” trên báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ

6 Những đóng góp của luận văn

6.1 Về khoa học

Thứ nhất, công trình nghiên cứu là sự tổng hợp và hệ thống vấn đề Ấn Độ

với chính sách xoay trục sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (từ

2009 – nay), do đó kết quả của công trình này sẽ là nguồn tài liệu bổ sung vào việc phân tích nguyên nhân, mục đích và biện pháp triển khai của chiến lược xoay trục của Hoa Kỳ; về quan điểm của Ấn Độ đối với chính sách xoay trục của Hoa Kỳ; về mối quan hệ của Ấn Độ và Hoa Kỳ trong chiến lược xoay trục cũng như vai trò của

Ấn Độ trong chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương

Trang 22

Thứ hai, luận văn cũng sẽ đưa ra dự báo về triển vọng của sự phát triển quan

hệ Ấn Độ  Hoa Kỳ cũng như vai trò của Ấn Độ đối với chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ của Tổng tống Donald Trump

6.2 Về đào tạo và nghiên cứu

Kết quả của công trình nghiên cứu này có thể trở thành tư liệu hữu ích cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Thế giới, Quan hệ quốc

tế, Châu Á học các học giả quan tâm và muốn tìm hiểu rõ hơn về quan hệ của Ấn

Độ và Hoa Kỳ trong chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa

Kỳ từ năm 2009 đến nay

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Châu Á – Thái Bình Dương trong chính sách đối ngoại của Hoa

Kỳ và Ấn Độ thời kỳ sau Chiến tranh lạnh

Chương 2: Ấn Độ với chiến lược xoay trục sang khu vực châu Á  Thái Bình Dương của Hoa Kỳ

Chương 3: Nhận định về vai trò của Ấn Độ trong chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ

Trang 23

Chương 1 CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ VÀ HOA KỲ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

1.1 Khu vực châu Á – Thái Bình Dương

1.1.1 Khái niệm khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Khái niệm “khu vực châu Á – Thái Bình Dương” xuất hiện lần đầu vào năm

1943 trong tài liệu của quân đội Hoa Kỳ ở mặt trận châu Á – Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 – 1945) Từ đó, thuật ngữ này được sử dụng trong các văn kiện quốc tế Đến những năm 80 của thế kỷ XX, với sự hình thành Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), khái niệm này được

sử dụng rộng rãi [51, 22] Các học giả đã có nhiều phương pháp khác nhau để xác định giới hạn của khu vực này

Theo quan niệm của một số nhà khoa học Nga vào những năm 90 của thế kỷ

XX, châu Á – Thái Bình Dương là khu vực gồm các nước và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Á, Nam Á, Bắc Mỹ và Nam Thái Bình Dương (đại điện quan điểm này là V.S Miasincốp và các nhà khoa học thuộc Viện Viễn Đông – Viện Hàn lâm khoa học Nga) Bên cạnh đó, theo quan niệm của V E Petrốtxki và nhiều nhà khoa học khác thì châu Á – Thái Bình Dương trùng với khu vực Bắc Thái Bình Dương bao gồm các nước và vùng lãnh thổ: Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Hoa Kỳ, Canada, Đài Loan và Mông Cổ [dẫn ý 36]

Theo quan điểm của giới chính khách, đặc biệt là chính khách Hoa Kỳ, Ngoại trưởng Hillary Clinton xác định khu vực châu Á – Thái Bình Dương là khu vực

“trải dài từ tiểu lục địa Ấn Độ sang bờ phía tây châu Mỹ, vùng này mở rộng ra hai đại dương Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, chúng ngày càng được liên kết với nhau bằng vận chuyển và chiến lược” [112]

Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á Thái Bình Dương (DKI APCSS) thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thống kê 46 quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương gồm: Australia, Bangladesh, Bhutan, Brunei, Miến Điện (Myanmar), Campuchia, Canada, Trung Quốc, Chile, Quần đảo Cook, Fiji, Polynesia thuộc

Trang 24

Pháp, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Kiribati, Lào, Malaysia, Maldives, đảo Marshall, Micronesia, Mông Cổ, Nauru, Nepal, New Zealand, New Caledonia, Niue, Bắc Triều Tiên, Pakistan, Palau, Papua, New Guinea, Peru, Philippines, Nga, Samoa, Singapore, Quần đảo Solomon, Hàn Quốc, Sri Lanka, Thái Lan, Đông Timor, Tonga, Tuvalu, Vanuatu, Việt Nam, Hoa Kỳ

Tiến sĩ Trần Anh Phương trong bài viết “Bàn thêm về khái niệm khu vực châu Á Thái Bình Dương” [53, dẫn ý tr 21  23] cho rằng, ngày nay các học giả, chính khách không xác định một khu vực trên thế giới theo giới hạn phạm vi lãnh thổ mà họ đang nghiêng dần về xu thế coi khái niệm khu vực là một thực thể địa lý – kinh tế  chính trị  xã hội… Do đó, khu vực châu Á – Thái Bình Dương được hiểu

theo hai cách: Theo nghĩa hẹp, dựa vào tiêu chí địa lý – kinh tế, khu vực châu Á Thái Bình Dương được hiểu là khu vực kinh tế châu Á – Thái Bình Dương mà thực chất là khu vực kinh tế Đông Á, bao gồm các nước và lãnh thổ khu vực Đông Á (kể

cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á) Theo nghĩa rộng, dựa vào tiêu chí tổng hợp cả về

địa lý – kinh tế  chính trị  xã hội,… khái niệm khu vực châu Á – Thái Bình Dương gắn bó chặt chẽ hơn với sự hình thành và phát triển của các tổ chức tiểu khu vực, khu vực trên cơ sở tương tác và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chính trị, xã hội,… Tác giả cũng cho rằng, chưa thể đưa ra kết luận duy nhất chính xác về cách thức định nghĩa khái niệm khu vực, song về phương diện nhận thức luận thì cần hiểu

và xác định khu vực là một khái niệm mở và động

Bên cạnh đó, tác giả tập bài giảng “Chiến lược của các cường quốc ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương” [7], cũng đã xác định phạm vi của khu vực này:

Theo nghĩa hẹp, châu Á  Thái Bình Dương bao gồm ba bộ phận: Đông Bắc

Á (gồm 6 quốc gia và một vùng lãnh thổ: Trung Quốc, Viễn Đông Nga, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ và Đài Loan), Đông Nam Á (gồm 11 quốc gia) và châu Đại Dương (gồm 2 quốc gia: Australia và Newzeland) Do vậy, với nghĩa hẹp châu Á  Thái Bình Dương có 19 quốc gia và một vùng lãnh thổ

Trang 25

Theo nghĩa rộng, châu Á  Thái Bình Dương bao gồm những quốc gia theo nghĩa hẹp và mở rộng ra cả hướng Đông lẫn hướng Tây Mở rộng về hướng Đông,

có thêm các quốc gia ở châu Mỹ – Thái Bình Dương nhưng phải nằm trong tổ chức

Kinh tế châu Á Thái Bình Dương APEC (gồm 5 quốc gia: Canada, Hoa Kỳ,

Mexico, Peru và Chile) Mở rộng về hướng Tây, có thêm các quốc gia ở vùng Tây Á (gồm 7 quốc gia: Ấn Độ, Srilanka, Pakistan, Bangladesh, Bhutan và Nelpan) Và những quốc gia còn lại ở châu Đại Dương (các đảo) Như vậy, theo nghĩa rộng, vùng châu Á – Thái Bình Dương gồm 41 quốc gia và vùng lãnh thổ

Trên cơ sở các quan điểm xác định khu vực châu Á – Thái Bình Dương, tôi cũng cho rằng không nên xác định một khu vực dựa vào tiêu chí địa lý mà nên xác định dựa vào tiêu chí tổng hợp cả về địa lý – kinh tế  chính trị  xã hội,… Do đó, châu Á – Thái Bình Dương là một khu vực rất rộng lớn Mặc dù vậy, những đối tượng được đề cập đến trong đề tài chỉ đang liên đới đến một hoặc một vài bộ phận chứ không bao trùm trong toàn bộ không gian của khu vực châu Á – Thái Bình Dương Vì vậy, để làm rõ được những điểm mấu chốt của đề tài, tài giả đã lựa chọn những bộ phận cụ thể của khu vực châu Á – Thái Bình Dương có liên quan trực tiếp đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ và Hoa Kỳ để phân tích

Chúng tôi cũng đã liệt kê các quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên cách xác định theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp để thống kê các yếu tố như diện tích, dân số, GDP danh nghĩa và GDP bình quân đầu người

Bảng Tỷ lệ diện tích, dân số GDP của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Hoa Kỳ, Ấn Độ so với thế giới

Diện tích (triệu km 2 )

Dân số (tỷ người)

GDP danh nghĩa (tỷ USD)

GDP bình quân đầu người (USD/người) Theo nghĩa hẹp

Trang 26

(Nguồn: CIA World Factbook)

Châu Á – Thái Bình Dương dù xét theo nghĩa nào cũng là một khu vực kinh

tế lớn, đa dạng và năng động nhất thế giới

1.1.2 Tầm quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong quan

hệ quốc tế hiện nay

Về mặt kinh tế: Những năm cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, khu vực này

có tốc độ phát triển trung bình từ 6 đến 9% Nơi đây có những nền kinh tế lớn nhất, năng động nhất, đa dạng nhất thế giới và có độ chênh lệch lớn về trình độ phát triển Trong đó phải kể đến Trung Quốc (chiếm hơn 17% GDP toàn cầu), Nhật Bản (chiếm hơn 5% GDP toàn cầu); các quốc gia mới công nghiệp hoá – NICs như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong; các quốc gia đang phát triển mạnh mẽ và năng động nằm trong khối ASEAN như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Việt Nam Châu Á – Thái Bình Dương cũng là khu vực có vốn đầu tư rất lớn và tốc

độ đô thị hoá vào loại nhanh nhất thế giới

Sự phát triển này xuất phát từ luồng thương mại nội bộ mạnh mẽ tạo nên một

“vòng tuần hoàn phát triển của châu Á  Thái Bình Dương”, đặc điểm mà không khu vực nào trên thế giới có thể có được Bên cạnh đó, làn sóng phát triển kinh tế theo hiệu ứng “chảy tràn” với mô hình “đàn nhạn bay” dẫn đầu là Nhật Bản, tiếp

Trang 27

đến là các nước công nghiệp mới (NICs), cuối cùng là các nước ASEAN đã tạo nên nguồn động lực phát triển mạnh mẽ cho cả khu vực

Với những đặc điểm kinh tế trên, khu vực châu Á – Thái Bình Dương có vai trò ngày càng tăng trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới Sự ổn định và tăng

trưởng kinh tế của châu Á – Thái Bình Dương sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thế giới, ngược lại, bất kỳ một tín hiệu tốt đẹp hay khủng hoảng của châu Á – Thái Bình Dương sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của kinh tế thế giới Nơi này tập trung những nền kinh tế lớn nhất thế giới nên sẽ là nhân

tố kích thích nền kinh tế của thế giới ở thời điểm hiện tại và trong tương lai Bên cạnh đó, nơi đây đã, đang và sẽ là nơi áp dụng, triển khai những chiến lược kinh tế mới của thế giới Khu vực này cũng đã cung cấp nhiều kinh nghiệm cho các mô hình kinh tế nhanh và bền vững, có thể vận dụng cho nhiều loại hình kinh tế khác nhau với các trình độ khác nhau trên thế giới Chẳng hạn, mô hình kinh tế Nhật Bản những năm 60 của thế kỷ XX, mô hình kinh tế NICs những năm 80 của thế kỷ XX hay mô hình của Trung Quốc những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI Ngoài ra, vai trò của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong lĩnh vực kinh tế còn thể hiện ở chỗ giải quyết vấn đề tài nguyên, lao động, thị trường tiêu thụ sản phẩm và vấn đề toàn cầu hoá

Về chính trị an ninh: Khu vực châu Á – Thái Bình Dương hiện đang là nơi

tranh chấp ảnh hưởng của các nước lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, bốn quốc gia có thực lực quân sự và chi phí quốc phòng lớn nhất thế giới Trong thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, trật tự thế giới mới đang dần hình thành ở châu Á – Thái Bình Dương với Hoa Kỳ là siêu cường dẫn đầu, có vai trò lớn nhất ở khu vực; Trung Quốc ngày càng lớn mạnh, đe doạ ảnh hưởng của Hoa Kỳ; Nhật Bản gia tăng ảnh hưởng mạnh mẽ ở ở châu Á – Thái Bình Dương; Nga đang dần mất ảnh hưởng

ở khu vực này; ASEAN đang vươn lên trở thành một cực trong trật tự thế giới mới

Kể cả trong thời kỳ Chiến tranh lạnh cho đến hiện nay, châu Á – Thái Bình Dương không có cơ chế an ninh khu vực nên tiếp tục tồn tại những điểm nóng xuất

Trang 28

phát từ tranh chấp lãnh thổ (Nhật Bản – Nga, Nhật Bản – Triều Tiên, Nhật Bản – Trung Quốc, vấn đề tranh chấp Biển Đông), vấn đề thống nhất bán đảo Triều Tiên, vấn đề thống nhất bán đảo Đài Loan, vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai (diễn ra mạnh ở Indonesia, Myanmar, Thái Lan, Philippines, Trung Quốc), cùng với vấn đề khủng bố và chống khủng bố (Indonesia, Philippines, Thái Lan)

Với những đặc điểm về an ninh – chính trị như trên, khu vực châu Á – Thái Bình Dương một khi diễn ra quá trình hợp tác hay đấu tranh giữa các quốc gia trong khu vực đều sẽ ảnh hưởng đến xu hướng biến đổi chính trị của thế giới Do vậy, châu Á – Thái Bình Dương có vai trò rất lớn đối với bối cảnh cũng như xu thế an ninh – chính trị của thế giới Vai trò đó không chỉ tác động đến đời sống chính trị mỗi quốc gia, khu vực mà còn tác động đến toàn thế giới ở hiện tại và tương lai

Với vai trò và vị trí của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, những quốc gia muốn duy trì vị thế hay muốn nâng tầm ảnh hưởng của mình đều phải tham gia vào khu vực này Việc Hoa Kỳ thực hiện chính sách xoay trục hay Ấn Độ triển khai chính sách hành động hướng Đông cũng không nằm ngoài mục tiêu đó

1.1.3 Tầm quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Ấn Độ

1.1.3.1 Đối với Hoa Kỳ

Tầm quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương được Hoa Kỳ thừa nhận từ thời kỳ của Tổng thống G.H.W Bush, được đẩy mạnh trong thời kỳ của Tổng thống Bill Clinton và dường như bị “lãng quên” khi chính quyền Tổng thống G.W Bush tập trung vào khu vực Trung Đông rồi sa vào cuộc chiến tranh chống khủng bố Đến đầu thế kỷ XXI, dưới chính quyền của Tổng thống Obama, khu vực châu Á – Thái Bình Dương lại được giới lãnh đạo Hoa Kỳ chú ý một cách mạnh mẽ, được thể hiện bằng chính sách “xoay trục” hay còn gọi là chiến lược “tái cân bằng”

ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Trang 29

Về mặt kinh tế, lợi ích về kinh tế của Hoa Kỳ tập trung chủ yếu ở Đông Á,

đặc biệt là ở Trung Quốc Trung Quốc là một thực thể đầu tư khổng lồ, là nơi mang lại lợi nhuận rất lớn và cũng là nơi tiêu thụ hàng hoá lớn nhất của Hoa Kỳ Thêm vào đó, ngoài Nhật Bản và các nước công nghiệp mới (NICs) thì các nước ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều là nước đang phát triển Họ cần rất nhiều vốn và công nghệ nhưng lại có nguồn lao động giá rẻ dồi dào Các nước này cũng đang khuyến khích đầu tư nước ngoài về công nghệ và những sản phẩm cao cấp như ô tô, máy vi tính, điện thoại,… là ưu thế của Hoa Kỳ và các nước tư bản Mặt khác, ở Trung Quốc và Đông Nam Á đang hình thành một tầng lớp trung lưu, đời sống người dân đang được cải thiện, đã làm sức mua trên thị trường ngày càng tăng Đây chính là thị trường vô cùng hấp dẫn cho Hoa Kỳ

Hơn nữa, về mặt cơ cấu kinh tế, Hoa Kỳ và các nước Đông Á, nhất là Trung Quốc, có khả năng hỗ trợ và bổ sung cho nhau, mang lại lợi ích cho cả hai phía Đặc biệt, những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi tập trung sẽ tham gia nhiều hơn trong hệ thống phân công lao động quốc tế Theo mô hình kinh tế chuỗi giá trị toàn cầu, các quốc gia được lợi nhiều nhất là các quốc gia nắm giữ vốn đầu tư và khâu phân phối sản phẩm Với ưu thế về tài chính và công nghệ, Hoa Kỳ, phương Tây và Nhật Bản đang nắm giữ nguồn lợi lớn ở hai đầu vốn đầu tư và phân phối sản phẩm Còn các quốc gia như Trung Quốc, Đông Nam Á với ưu thế về nhân công, thị

trường là những quốc gia có được rất ít nguồn lợi từ mô hình này Do đó, “sự thịnh vượng của Hoa Kỳ gắn liền với sự thịnh vượng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương” [113]

Về an ninh – chính trị, châu Á – Thái Bình Dương với trọng điểm là Đông Á

đang tồn tại những thực thể có thể ảnh hưởng đến vị thế của Hoa Kỳ Trong những năm đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc nổi lên như một trung tâm quyền lực chính, có khả năng ảnh hưởng đến trật tự ở châu Á do Hoa Kỳ sắp xếp từ thời Chiến tranh lạnh Nhật Bản cũng đang rũ bỏ hình ảnh “chú lùn” và theo đuổi chính sách “đuổi kịp về chính trị” Những hoạt động vừa mang tính chiến lược và sách lược để chứng

Trang 30

tỏ Nhật Bản muốn cải thiện vị thế chính trị để có tiếng nói lớn hơn trên trường quốc

tế làm Hoa Kỳ hết sức trăn trở Ngoài Trung Quốc, Nhật Bản, Nga đã từng bước phục hồi trong thế kỷ XXI và ra sức điều chỉnh chiến lược “cân bằng Đông – Tây” thông qua quan tâm nhiều hơn đến Đông Á, rất chú trọng đến Trung Quốc và Ấn Độ cũng làm Hoa Kỳ hết sức quan ngại Ngoài ra, chủ nghĩa khu vực với những mối quan hệ nổi bật như ASEAN +1, ASEAN +3, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS), Hội nghị thượng đỉnh ba nước Nhật Bản – Trung Quốc – Hàn Quốc cũng làm “tổn thương” đến quyền lợi cũng như thách thức vai trò của Hoa Kỳ ở khu vực này

Ngoài các thực thể trỗi dậy, có nhiều vấn đề khiến Hoa Kỳ không thể lơ là và nhất định phải nắm giữ khu vực này Đó là vấn đề Triều Tiên và cuộc khủng khoảng hạt nhân, Đài Loan và Trung Quốc đang xích lại gần nhau, tranh chấp chủ quyền Biển Đông (tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho Hoa Kỳ), những mối quan hệ truyền thống và đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ như Thái Lan, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Australia

Như vậy, sự nổi lên nhanh chóng của Trung Quốc, sự vươn mình về chính trị của Nhật Bản, sự thay đổi chiến lược của Nga, các mối quan hệ không có Hoa Kỳ tham gia, các đồng minh truyền thống và những vấn đề nóng của khu vực đã ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ Có thể nói, châu Á – Thái Bình Dương là nơi duy trì vị thế của Hoa Kỳ trong thời điểm hiện tại và tương lai Đúng như cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ Madeleine Albright, người từng phục vụ trong thời

kỳ cầm quyền của Tổng thống Bill Clinton đã phát biểu: “Chúng ta có lợi ích an ninh lâu dài tại khu vực mà hơn một nửa thế kỷ qua chúng ta đã tiến hành ba cuộc chiến tranh, và gần như bất kỳ sự bùng nổ vũ lực quốc tế nào tại khu vực này cũng

sẽ đe doạ tới lợi ích của chúng ta” [11, 69]

1.1.3.2 Đối với Ấn Độ

Ấn Độ hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc vào năm 1947 và sau đó tập trung vào việc ổn định tình hình trong nước Trong quan hệ quốc tế, Ấn Độ gây ấn tượng khi khởi xướng Phong trào không liên kết vào năm 1955 Từ đó cho đến trước

Trang 31

khi chính sách hướng Đông được thực hiện, vai trò và lợi ích của Ấn Độ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương khá nhạt nhoà

Thế nhưng, từ những năm cuối của thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI, khu vực châu Á – Thái Bình Dương có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ, thể hiện ở chỗ:

Đông Nam Á, nơi giải quyết những vấn đề khó khăn của Ấn Độ trong bối cảnh hậu Chiến tranh lạnh

Ấn Độ hướng đến châu Á trong “chính sách hướng Đông” vào năm 1992 Tại thời điểm đó, Liên Xô sụp đổ đã tác động tiêu cực đến các lĩnh vực của Ấn Độ từ kinh tế đến chính trị, xã hội Đây là điều kiện để Pakistan – đối thủ của Ấn Độ ở phía Bắc – tăng cường quan hệ với đồng minh thân cận là Hoa Kỳ, quan hệ với các nước Trung Á để kiềm chế ảnh hưởng của Ấn Độ trong khu vực Do vậy, Ấn Độ đã chọn hướng sang châu Á – Thái Bình Dương, nơi có những nền kinh tế năng động nhất thế giới Châu Á – Thái Bình Dương chính là bước đường sống còn của Ấn Độ trong thời điểm ấy, hướng sang châu Á để tồn tại và để phát triển

Cũng vào những năm 1990  1991, cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất diễn ra khiến Ấn Độ mất đi nguồn cung cấp dầu mỏ chính, buộc phải hướng về phương Đông để tìm kiếm nguồn cung cấp nguyên liệu mới cho những ngành công nghiệp trong nước tồn tại và phát triển

Liên Xô tan rã đã khiến Hoa Kỳ cũng cắt giảm một phần lực lượng trong khu vực Đây là điều kiện để Trung Quốc trỗi dậy, đe doạ Ấn Độ từ phía Đông, tạo mối liên kết với các nước láng giềng, tiến sâu vào vùng biển Ấn Độ Dương Ấn Độ tìm thấy ở khu vực châu Á  Thái Bình Dương, trước hết là các nước Đông Nam Á, có những tiềm năng có thể giúp nước này trở thành đối trọng với các nước lớn trong khu vực Hơn nữa, Ấn Độ còn muốn vận động để tìm kiếm một ghế trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nên cần tranh thủ những nước ủng hộ quốc gia này, trong đó

có các quốc gia Đông Nam Á

Trang 32

Châu Á – Thái Bình Dương, nơi mang lại nguồn lợi lớn để Ấn Độ phát triển

và nâng cao vị thế quốc tế

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các quốc gia giàu lên nhờ sự phát triển thương mại quốc tế và đầu tư ra bên ngoài Châu Á – Thái Bình Dương, nơi không chỉ có những nền kinh tế phát triển sôi động như các nước ASEAN, mà còn có những nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Đại Dương, điều này đã

và sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Ấn Độ

Với hệ thống cảng biển, eo biển và đường hàng hải thuận tiện nhất từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, Đông Nam Á trở thành cầu nối giữa hai châu lục Âu  Á, giữa Tây Nam Á, Trung Cận Đông, Bắc Phi với Đông Bắc Á và Bắc Mỹ Hằng năm, nhiều hoạt động vận tải, buôn bán lớn trên thế giới đã diễn ra trên tuyến đường biển này Mỗi năm có khoảng hơn 500.000 các loại tàu bè qua lại vùng biển Đông Nam Á (gấp đôi số lượng hoạt động ở kênh đào Suez và Panama), có khoảng 10 triệu thùng dầu được vận chuyển từ vịnh Pecxich qua vùng biển này để tới Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Đông Nam Á cũng là một thị trường lao động đầy tiềm năng với hơn 600 triệu dân, có đội ngũ công nhân kỹ thuật trình độ chuyên môn khá cao với giá nhân công rẻ hơn nhiều so với các vùng khác trên thế giới

Với vị trí này, Đông Nam Á là một khu vực có vai trò rất quan trọng cả về mặt chiến lược lẫn sách lược để Ấn Độ phát triển thịnh vượng và nâng cao vị thế quốc tế

Về lợi ích kinh tế, các nước Đông Nam Á đang có bước phát triển vượt bậc về

kinh tế với chính sách kích thích đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghệ cao, viễn thông, công nghệ thông tin, công nghiệp phần mềm vốn là lĩnh vực thuộc

ưu thế của Ấn Độ Việc mở rộng cơ hội thương mại và đầu tư tại các nước có nền kinh tế mới chuyển đổi ở Đông Nam Á (như Việt Nam, Campuchia, Myanmar,…)

đã và đang tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư của Ấn Độ

Trang 33

Các nhà hoạch định kinh tế của Ấn Độ cho rằng, thông qua các cơ chế hợp tác với ASEAN, Ấn Độ có thể bảo đảm không bị cô lập khi mà các thỏa thuận mậu dịch mang tính khu vực đang trở thành xu thế chung Xu thế này bao gồm việc liên kết với các nền kinh tế năng động tại Đông Á, Đông Nam Á Trên thực tế, Ấn Độ hy vọng mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với ASEAN sẽ làm cầu nối giúp nước này hòa nhập vào một cộng đồng kinh tế lớn hơn bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc

Về lợi ích an ninh, Đông Nam Á được coi là bàn đạp cho mục tiêu trở thành

cường quốc khu vực của nhiều quốc gia có thực lực, trong đó có Ấn Độ Xét về địa

lý, tiến vào Thái Bình Dương qua eo biển Malacca là con đường đi sang phía Đông thuận lợi nhất của Ấn Độ Không chỉ đảm nhận vai trò vận chuyển, xuất nhập khẩu hàng hóa, nhu yếu phẩm cần thiết cho đời sống và sản xuất của người dân, sự an toàn của các tuyến đường biển ở Đông Nam Á còn góp phần bảo đảm an ninh hàng hải mang tính chiến lược của các quốc gia, khu vực có lợi ích tại đây Chú trọng quan hệ hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á sẽ giúp Ấn Độ bảo vệ các hoạt động thương mại trên biển, chống lại nạn cướp biển,

Về lợi ích chính trị, khu vực Đông Nam Á thực sự là nơi Ấn Độ có thể tìm

kiếm vị thế chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế và quân sự, trở thành một

“cường quốc” khu vực và trên thế giới Trong bối cảnh đó, chính phủ Ấn Độ, qua các nhiệm kỳ gần đây, đều xem việc phát triển quan hệ với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, cộng đồng ASEAN, trong đó Việt Nam là ưu tiên quan trọng trong chiến lược ngoại giao hướng Đông và hành động hướng Đông

Ở giai đoạn hiện tại, Đông Nam Á đóng một vai trò vô cùng quan trọng với

Ấn Độ Tuy nhiên, tham vọng của quốc gia này không chỉ dừng lại ở đây mà còn hướng ra cả khu vực châu Á  Thái Bình Dương Ngoài Đông Nam Á, Đông Bắc Á – khu vực có nguồn tài nguyên phong phú – cũng rất cần thiết cho sự phát triển mạnh mẽ của Ấn Độ; nơi đây còn tập trung những nước có nền kinh tế năng động

Trang 34

nhất, phát triển nhất châu Á và thế giới Đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Nga đang từng bước tìm lại vị thế đã đánh mất của mình trên thế giới

1.2 Chiến lược của Hoa Kỳ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương thời kỳ sau Chiến tranh lạnh

Khi nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, các học giả thường sử dụng nhiều phương pháp để tìm được bản chất của chính sách đó Đó có thể là tiếp cận theo trình tự thời gian với sự kế tục và thay đổi; theo chủ trương chính sách của các đảng phái, các nhóm lợi ích với chủ nghĩa biệt lập hay chủ nghĩa quốc tế, đơn phương hay đa phương; theo vai trò của các đảng phái chính trị trong thời gian cầm quyền; theo xu hướng của trường phái nghiên cứu với hiện thực hay lí tưởng; theo thành tố chi phối chính sách đối ngoại như kinh tế hay quân sự; theo vai trò của một

cá nhân lãnh đạo (Tổng thống) Trên thực tế, mỗi cách tiếp cận đều có những điểm mạnh và hạn chế nhất định trong việc làm sáng tỏ chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ

Do đó, các nhà phân tích đều chọn một phương pháp phù hợp nhất để giải thích trọn vẹn vấn đề Một điều chắc chắn rằng, sẽ không có một siêu lý thuyết nào để giải thích trọn vẹn một vấn đề đối với chính sách đối ngoại của một quốc gia

Phương pháp tiếp cận chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ qua các thời kỳ dưới đây của người viết dựa vào cách bám sát các yếu tố bên trong và bên ngoài để phản ánh nội dung, tính chất của chính sách Bên cạnh đó, mỗi giai đoạn của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương được khái quát thành một đặc điểm chủ yếu nhất

1.2.1 Khái quát về chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Trang 35

thay vào đó là “trật tự đơn cực” do Hoa Kỳ dẫn đầu Rất nhanh sau đó, nó đã được thay bằng trật tự “nhất siêu, đa cường”, Hoa Kỳ vẫn là một siêu cường nhưng xung quanh còn có nhiều quốc gia phát triển mạnh mẽ khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Âu, các nước công nghiệp mới NICs Cùng với đó, trong xu thế toàn cầu hoá của thế giới, yếu tố kinh tế đã giữ một vai trò quan trọng trong việc xác định địa vị của một quốc gia trên trường quốc tế Vì vậy, cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới lúc bấy giờ, Hoa Kỳ cần phải điều chỉnh chiến lược, tập trung sức lực để phát triển kinh tế

Tổng thống G.H.W Bush đã đưa ra học thuyết “vượt trên ngăn chặn” (Beyond Containment) để làm cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ

Trong học thuyết này, đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chính quyền

G.H.W Bush xác định rằng: “Tăng cường quan hệ đồng minh với Nhật Bản và các nước khác ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Với Nhật Bản, một mặt Tổng thống Bush tiếp tục khẳng định rằng Nhật Bản vẫn là đồng minh của Mỹ và cả hai cũng

“lãnh đạo toàn cầu” trong thời đại mới Mặt khác, Mỹ luôn tìm cách khống chế để Nhật Bản không quá mạnh, không thể thách thức địa vị lãnh đạo của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Đồng thời, chính quyền Bush cũng chú trọng điều chỉnh quan hệ với các nước khác ở khu vực này như Trung Quốc, Ấn Độ… theo phương thức vừa hợp tác vừa kiềm chế” [49, 75]

Chiến lược “vượt trên ngăn chặn” triển khai chưa được bao lâu thì vào năm

1991, Liên Xô tan rã, trật tự hai cực Yalta sụp đổ, Hoa Kỳ một lần nữa phải điều chỉnh chiến lược đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Về kinh tế, tháng 11/1991, Ngoại trưởng James Baker đề ra kế hoạch thiết lập

một “Cộng đồng Thái Bình Dương ổn định và phồn vinh” Nội dung chủ yếu là xây dựng một tổ chức hình nan quạt lấy đồng minh Hoa Kỳ  Nhật Bản là cốt lõi; quan

hệ song phương giữa Hoa Kỳ với Hàn Quốc, ASEAN, Australia làm cơ sở; lấy APEC làm cầu nối, nối liền các nước châu Á – Thái Bình Dương làm một [62, 57]

Trang 36

Về an ninh, chính quyền G.H.W Bush đã hoàn thành chiến lược phòng thủ khu vực mới khi đề ra “đường lối kế hoạch phòng thủ quốc gia” (tháng 5/1992)

Chiến lược này có mục tiêu là ra sức ngăn chặn bất kỳ một cường quốc nào đối địch với Washington trong việc thống trị khu vực châu Á – Thái Bình Dương, ngăn chặn bất cứ quốc gia nào thách thức vai trò toàn cầu của Hoa Kỳ Đến cuối năm 1992, chiến lược này được điều chỉnh theo hướng nhấn mạnh việc hợp tác với các đồng minh khu vực để duy trì trật tự mới trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh

Như vậy, trước những ảnh hưởng lớn lao của tình hình thế giới, chính quyền G.H.W Bush đã hai lần thay đổi chiến lược theo hướng ngày càng nhấn mạnh vị trí quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương và vai trò thống trị của Hoa Kỳ đối với khu vực này Tuy nhiên, chính quyền G.H.W Bush chỉ mới vạch ra chiến lược theo tình huống chứ chưa có sự quan tâm xuyên suốt từ đầu tới cuối Điểm quan trọng nhất trong chiến lược là lần đầu tiên từ sau Chiến tranh lạnh, Washington quan tâm đến ý tưởng thành lập một cộng đồng Thái Bình Dương thống nhất dưới

sự lãnh đạo của Hoa Kỳ

1.2.1.2 Giai đoạn 1993 – 2000: Yếu tố kinh tế được sử dụng nhằm can dự vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương một cách sâu rộng nhất

Giai đoạn này gắn liền với thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Bill Clinton Trong thời gian này, mặc dù Hoa Kỳ vẫn là một siêu cường với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đóng vai trò chủ đạo trong các tổ chức quốc tế, các thiết chế kinh tế, tài chính, thương mại của thế giới[1]

, nhưng cũng đối mặt với nhiều thử thách như dấu hiệu suy giảm tương đối cả về sức mạnh cứng lẫn “sức mạnh mềm” trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh (1991), nội bộ Hoa Kỳ cũng diễn ra cuộc xung đột về việc lựa chọn mục tiêu cho chiến lược ngoại giao trong giai đoạn mới

1

Hoa Kỳ đóng góp tài chính lớn nhất cho Liên hợp quốc (22%), chiếm 32% cổ phần của Ngân hàng thế giới, đóng góp lớn nhất vào ngân sách của Quỹ tiền tệ thế giới với mức 18,25%,… (Trích Vũ

Dương Huân (2002), Hệ thống chính trị Mỹ cơ cấu và tác động đối với quá trình quy hoạch chính

sách đối ngoại, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội)

Trang 37

Đứng trước những thách thức mới, chính quyền B Clinton tập trung xây dựng chiến lược toàn cầu mới thay cho chiến lược “Vượt trên ngăn chặn” của Tổng

thống G.H.W Bush Tháng 9/1993, “Học thuyết mở rộng” (Doctrine of

Enlargement) được tuyên bố, về sau gọi là “Học thuyết Bill Clinton” Tháng 7/1994,

chiến lược “Cam kết và mở rộng” được đưa ra Tuy nhiên, phải đến tháng 2/1995, ý tưởng của học thuyết này mới được phản ánh toàn diện qua “Chiến lược an ninh quốc gia Cam kết và mở rộng” (A Nation Security Strategy of Engagement and Enlargement) [170]

Trong chiến lược Cam kết và mở rộng, ngoài những mục tiêu tại các khu vực khác, Tổng thống B Clinton muốn hình thành một đại gia đình châu Á – Thái Bình Dương hùng mạnh và ổn định [63] Năm 1993, Tổng thống Bill Clinton đã kế thừa

và phát triển tư tưởng chiến lược của những chính phủ tiền nhiệm, đặc biệt là ý tưởng thành lập “Cộng đồng Thái Bình Dương” của Tổng thống G.H.W Bush, để từ

đó đề ra ý tưởng hình thành “Cộng đồng châu Á – Thái Bình Dương mới” Đây là điểm quan trọng nhất trong chính sách châu Á – Thái Bình Dương của chính quyền Clinton

Để triển khai những chính sách ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chính quyền Clinton dùng đến cả ba trụ cột: kinh tế, chính trị và an ninh

Về kinh tế: Giành lấy vị thế lãnh đạo thế giới về kinh tế là ưu tiên hàng đầu

của chính quyền Clinton cũng là lợi ích sống còn của Hoa Kỳ, do vậy chính quyền Clinton đã tập trung sức lực khôi phục kinh tế và thúc đẩy thịnh vượng để đảm bảo

an ninh trong chiến lược toàn cầu

Về chính trị: Dưới chính quyền Clinton, vấn đề dân chủ nhân quyền trở thành

một trong ba trụ cột trong chính sách đối ngoại Tổng thống Clinton đã dùng mọi biện pháp để quảng bá dân chủ và nhân quyền theo hệ giá trị Mỹ ở các nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Về an ninh: Hoa Kỳ vẫn chú trọng đến các quan hệ đồng minh tại khu vực

châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt coi trọng mối quan hệ với Nhật Bản và Hàn

Trang 38

Quốc Hoa Kỳ còn tích cực tham gia và tìm cách đóng vai trò lãnh đạo trong “Diễn đàn an ninh khu vực” (ARF) (được hình thành theo sáng kiến của ASEAN từ năm 1993) Thông qua ARF, Hoa Kỳ muốn khẳng định chính sách châu Á – Thái Bình Dương của mình, kiềm chế các đối thủ tiềm tàng và trấn an các nước ASEAN

So với các chính quyền tiền nhiệm, chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Bill Clinton đã có những điểm nổi bật, nhấn mạnh vai trò của khu vực này với Hoa Kỳ cũng như dùng nhiều hành động cụ thể để can thiệp sâu rộng nhất vào khu vực Tổng thống Bill Clinton chú trọng nhiều nhất đến yếu tố kinh tế, dùng nó làm trụ cột chính, là nội dung quan trọng nhất cho sự can thiệp của Hoa Kỳ vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương Sáng kiến “Cộng đồng châu Á – Thái Bình Dương mới” dần được thực hiện đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị và đảm bảo an ninh trong khu vực Vai trò và sức ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở khu vực này từ đây cũng tăng lên nhanh chóng, tạo tiền đề vững chắc cho sự can dự của những chính quyền sau

1.2.1.3 Giai đoạn 2001 – 2008: Sử dụng sức mạnh quân sự, đơn phương giải quyết các vấn đề quốc tế để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ

Giai đoạn này gắn liền với hai nhiệm kỳ cầm quyền của G.W Bush Bước vào thế kỷ XXI, thế giới vẫn đang trong thời kỳ định hình trật tự “đa cực” Chính quyền G.W Bush với những thuận lợi và khó khăn đã thực hiện bước điều chỉnh chiến lược ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương so với thời kỳ cầm quyền của Clinton Ban đầu, ông vẫn duy trì khung chiến lược ngoại giao thời kỳ Bill Clinton

để thực hiện các mục tiêu toàn cầu Tuy nhiên, sự kiện ngày 11/9/2001 đã tác động lớn đến tình hình của Hoa Kỳ, buộc chính quyền G.W Bush phải ngay lập tức có những điều chỉnh quan trọng, mang tính chất bước ngoặt trong chiến lược toàn cầu nói chung và chính sách châu Á – Thái Bình Dương nói riêng

Chính quyền G.W Bush đã có những điều chỉnh để thực hiện mục tiêu trước mắt, tập trung vào bốn nội dung [49, 78  80]: một là, chống khủng bố trở thành ưu tiên chiến lược; hai là, an ninh quân sự trở thành trụ cột hàng đầu; ba là, chủ trương

Trang 39

hành động đơn phương để theo đuổi lợi ích; bốn là, châu Á – Thái Bình Dương trở thành trọng điểm số một

Nếu như trong chiến lược toàn cầu “Cam kết và mở rộng” của Bill Clinton,

an ninh kinh tế trở thành một trụ cột quan trọng nhất, thì dưới chính quyền G.W Bush, đặc biệt là từ sau sự kiện 11/9, cùng với việc xác định ưu tiên chiến lược hàng đầu là chống khủng bố, an ninh quân sự đã trở thành trụ cột ưu tiên số một Mục tiêu chống khủng bố là yếu tố để Hoa Kỳ phân biệt bạn, thù, không có sự trung lập Tổng thống G.W Bush tuyên bố tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và nhân dân Hoa Kỳ

ngày 20/9/2001: “Mọi quốc gia ở mỗi khu vực phải đưa ra quyết định Hoặc là theo chúng tôi, hoặc theo bọn khủng bố Từ nay trở đi, bất kỳ quốc gia nào tiếp tục chứa chấp hoặc chống đỡ bọn khủng bố thì sẽ bị xem như thù địch đối với Hoa Kỳ” Sự

kiện 11/9 đã dẫn tới sự ra đời của “Học thuyết Bush” và nó đã thay thế hoàn toàn chính sách “Cam kết và mở rộng” của chính quyền Bill Clinton

Trong chiến lược mới của Hoa Kỳ, khu vực châu Á – Thái Bình Dương trở nên quan trọng hơn chủ yếu vì lý do an ninh, đó không chỉ là những thách thức an ninh mà còn là mạng lưới khủng bố toàn cầu đang tồn tại ở khu vực này Hơn nữa,

vì “châu Á đang dần nổi lên là khu vực có khả năng xảy ra cạnh tranh quân sự quy

mô lớn” [197] nên Hoa Kỳ đã tăng cường hiện diện quân sự tại khu vực này

Việc điều chỉnh chiến lược chủ yếu theo hướng phối hợp với chiến lược chống khủng bố toàn cầu, lấy an ninh quân sự làm trọng tâm đã thể hiện sự thiếu quan tâm và có thái độ “lơ là” của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương

So với thời kỳ tiền nhiệm, Tổng thống Bush không quan tâm đến hợp tác kinh tế trên tất cả các kênh Sự thờ ơ của Hoa Kỳ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương kể từ khi Bush lên nắm quyền đã tạo ra một “khoảng trống quyền lực”, tạo điều kiện để Trung Quốc từng bước trỗi dậy, không ngừng tăng cường sức mạnh và ảnh hưởng tại khu vực Từ đây, Trung Quốc trở thành đối thủ lớn nhất, có khả năng cạnh tranh, làm suy giảm vị thế của Hoa Kỳ tại khu vực được mệnh danh là năng động nhất thế giới này

Trang 40

Tóm lại, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, các Tổng thống Hoa Kỳ đã bắt đầu chú ý và quan tâm nhiều hơn tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương Vai trò của khu vực này trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ ngày càng tăng lên Hơn 20 năm với ba đời Tổng thống khác nhau, chính sách châu Á – Thái Bình Dương được xây dựng dựa vào mục tiêu cơ bản là duy trì vị thế lãnh đạo của Hoa Kỳ tại khu vực nhưng có sự khác nhau cơ bản về nội dung cũng như biện pháp triển khai Tuy nhiên, việc thực thi những biện pháp cứng rắn và đơn phương trong thời kỳ cầm quyền của Bush đã khiến cho vị thế của Hoa Kỳ tại khu vực có sự suy giảm tương đối Trong bối cảnh các quốc gia đang cạnh tranh quyết liệt tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhằm theo đuổi những mục tiêu trong lợi ích quốc gia, cùng với

đó là sự thay đổi lớn lao trong cục diện khu vực thì Hoa Kỳ lại dường như bị gạt ra khỏi tiến trình phát triển chung tại đây Đặc biệt, di sản từ cuộc chiến chống khủng

bố đã khiến “sức mạnh mềm” của Hoa Kỳ suy giảm nghiêm trọng Do đó, để ngăn chặn việc Hoa Kỳ ngày càng suy yếu cả “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm” tại khu vực, chính quyền kế nhiệm đã thực hiện những bước điều chỉnh lớn trong chính sách châu Á – Thái Bình Dương Đây được xem là những thay đổi lớn nhất trong chính sách chung của Hoa Kỳ ở khu vực kể từ sau Chiến tranh lạnh đến nay

1.2.2 Chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương thời kỳ Tổng thống Obama và chiến lược xoay trục

Ngày 20/1/2009, Barack Obama trở thành Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ Vào thời điểm Obama lên cầm quyền, Hoa Kỳ phải đối mặt với những khó khăn bên trong lẫn bên ngoài quốc gia trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, an ninh,…

Trong nước, về kinh tế, Hoa Kỳ vẫn còn đang ở trong “tâm bão” của cuộc khủng

hoảng tài chính bùng nổ vào năm 2008, khiến cho nền kinh tế Hoa Kỳ lâm vào cảnh suy thoái nghiêm trọng Gánh nặng về việc vực dậy nền kinh tế đang ngày một xuống dốc là một trong những nhân tố chính đưa đến việc thay đổi chính sách đối

ngoại của Tổng thống Obama sau khi lên cầm quyền Về an ninh quân sự, những

cuộc chiến tranh chống khủng bố và việc sa lầy trong hai cuộc chiến tại Afghanistan

Ngày đăng: 14/04/2021, 18:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w