1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá vai trò và tổ chức không gian xã hội của tuyến đường ven biển đối với sự phát triển du lịch địa phương (nghiên cứu so sánh hai trường hợp thành phố nha trang và quy nhơn)

237 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 10,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhất là trong giai đoạn, kinh tế biển và khai thác du lịch đang được Nhà nước và Đảng quan tâm với những đường hướng tích cực, để trả lời những vấn đề đó, đề tài “Đánh giá vai trò và tổ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NHA TRANG VÀ QUY NHƠN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÔ THỊ HỌC

Mã ngành: 60.58.01.08

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NHA TRANG VÀ QUY NHƠN)

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tác giả xin chân thành cảm ơn đến quí thầy cô trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TP.HCM, cảm ơn đến đội ngũ giáo viên đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, người đã gợi mở cho tôi những hướng đi ban đầu cho đề tài tốt nghiệp cao học

Tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Đi, người đã cùng đồng hành và dành nhiều công sức, thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi, động viên, giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp một cách tốt nhất

Đồng thời, tôi chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành chương trình học Tôi muốn gửi lời đến các Sở, ban ngành tại địa phương đã cung cấp những tài liệu, số liệu trong khả năng và chức năng của mình để tôi có được những cơ sở vững chắc nhất

Và xin gửi muôn vàn lời cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp và bạn bè, đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này

TP Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 05 năm 2018

Học viên

Tạ Lê Hồng Nguyên

Trang 4

i

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 12

6 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu 13

8 Tiến trình nghiên cứu 15

9 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 17

1.1 Một số khái niệm 17

1.1.1 Khái niệm về không gian ven biển và tuyến đường ven biển 17

1.1.2 Khái niệm về tổ chức không gian - xã hội 21

1.1.3 Du lịch và phát triển du lịch 25

1.2 Một số lý thuyết tiếp cận trong nghiên cứu 27

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 27

1.2.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng 30

1.2.3 Lý thuyết biến đổi xã hội 31

1.2.4 Các lý thuyết chuyên ngành 33

1.3 Lý luận về tổ chức không gian - xã hội tuyến đường ven biển nhằm phát triển du lịch địa phương 37

1.3.1 Vai trò của các tuyến đường ven biển trong bối cảnh hiện nay 37

1.3.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành các tuyến đường ven biển tại các đô thị du lịch biển 37

Trang 5

ii

1.3.1.2 Tính chất các tuyến đường ven biển 39

1.3.1.3 Vai trò của tuyến đường ven biển đối với đô thị du lịch biển 41

1.3.2 Lý luận về tổ chức không gian - xã hội của tuyến đường ven biển đối với sự phát triển du lịch địa phương 45

1.3.2.1 Phân loại cấu trúc tổ chức các tuyến đường ven biển 45

1.3.2.2 Xác định yếu tố cần thiết trong tổ chức không gian - xã hội của TĐVB nhằm phát triển du lịch 49

1.3.2.3 Nhận diện các yếu tố hình thành nên tuyến đường ven biển 52

1.3.2.4 Yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức KG - XH tuyến đường ven biển 56

1.3.2.5 Xây dựng lý thuyết tổ chức không gian - xã hội tuyến đường ven biển cho phát triển du lịch địa phương 60

1.3.3 Khung phân tích 81

1.4 Cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý cho việc tổ chức không gian - xã hội tuyến đường ven biển đối với phát triển du lịch địa phương 82

1.4.1 Cơ sở thực tiễn 82

1.4.1.1 Cơ sở về cảm thụ thẩm mỹ các tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan các tuyến đường ven biển 82

1.4.1.2 Kinh nghiệm thực tiễn tổ chức các TĐVB trong nước và ngoài nước 82

1.4.2 Cơ sở pháp lý 87

CHƯƠNG 2:TÌNH HÌNH TỔ CHỨC KHÔNG GIAN – XÃ HỘI CỦA HAI TUYẾN ĐƯỜNG VEN BIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA NHA TRANG VÀ QUY NHƠN 90

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 90

2.1.1 Khái quát về thành phố Nha trang và tuyến đường Trần Phú 90

2.1.1.1 Về thành phố Nha Trang 90

2.1.1.2 Về tuyến đường Trần Phú 90

2.1.2 Khái quát về tỉnh Bình Định, thành phố Quy Nhơn và tuyến đường An Dương Vương 92

2.1.2.1 Về thành phố Quy Nhơn 92

2.1.2.2 Về tuyến đường ven biển An Dương Vương 93

Trang 6

iii

2.2 Vai trò của tuyến đường ven biển đối với sự phát triển Kinh tế - xã hội địa

phương 94

2.2.1 Đường Trần Phú với kinh tế - xã hội - du lịch TP Nha Trang 94

2.2.2 Tuyến đường ven biển An Dương Vương với kinh tế - xã hội - du lịch TP Quy Nhơn 98

2.3 Thực trạng các tổ chức không gian - xã hội của hai tuyến đường ven biển có ảnh hướng đến vấn đề phát triển du lịch địa phương 100

2.3.1 Tổ chức không gian mặt đứng tại hai TĐVB 100

2.3.1.1 Tuyến đường ven biển Trần Phú - Nha Trang 100

2.3.1.2 Tuyến đường ven biển An Dương Vương - Quy Nhơn 102

2.3.2 Tổ chức không gian mặt bằng tại hai TĐVB 103

2.3.2.1 Tuyến đường ven biển Trần Phú - Nha Trang 103

2.3.2.2 Tuyến đường ven biển An Dương Vương - Quy Nhơn 108

2.4 Nhận xét và so sánh về tổ chức không gian - xã hội của tuyến đường ven biển Trần Phú và An Dương Vương 111

CHƯƠNG 3: NGUYÊN TẮC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO TỔ CHỨC KHÔNG GIAN - XÃ HỘI CÁC TUYẾN ĐƯỜNG VEN BIỂN NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG 126

3.1 Nguyên tắc 126

3.2 Giải pháp 127

3.2.1 Định hướng về tổ chức không gian 127

3.2.1.1 Tổ chức không gian theo mặt đứng 127

3.2.1.2 Tổ chức không gian theo mặt bằng 128

3.2.2 Nhóm giải pháp về nâng cao cảnh quan, thẩm mỹ trên tuyến đường 135

3.2.3 Nhóm giải pháp về phát huy bản sắc văn hóa địa phương 138

3.2.4 Nhóm giải pháp về con người 140

3.2.5 Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước 142

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 147 PHỤ LỤC

Trang 7

iv

DANH MỤC VIẾT TẮT

KGCCVB Không gian công cộng ven biển

TCKG-XH Tổ chức không gian – xã hội

Trang 8

v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Sự khác nhau trong tổ chức, đặc trưng các loại tuyến đường 39

Bảng 1.2: Nhu cầu của khách du lịch các hoạt động chính 61

Bảng 1.3: Mối quan hệ tổ chức không gian và các hoạt động nhu cầu du lịch phát sinh tại Tuyến đường ven biển 64

Bảng 1.4: Khung sử dụng KGVB phát triển du lịch 67

Bảng 1.5: Tổ chức xây dựng tầng cao công trình thích hợp tại KGVB 72

Bảng 2.1: Lợi ích của các tuyến đường ven biển 96

Bảng 2.2: So sánh một số chỉ tiêu phát triển về KT - XH Nha Trang qua các năm 2011 -2016 96

Bảng 2.3: Lợi ích của TĐVB An Dương Vương 98

Bảng 2.4: Các công trình cao tầng ven biển tiêu biểu Nha Trang 100

Bảng 2.5: Đánh giá hạn chế của giao thông đường Trần Phú 107

Bảng 2.6: So sánh hiện trạng sử dụng đất tại hai tuyến đường ven biển 119

Bảng 2.7: Thực trạng sử dụng không gian ven biển tại Quy Nhơn và Nha Trang 120 Bảng 2.8: So sánh tổng hợp đánh giá tổ chức không gian - xã hội của hai tuyến đường ven biển An Dương Vương (Quy Nhơn) và Trần Phú (Nha Trang) 123

Trang 9

vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Thống kê nhận xét về hoạt động phục vụ cung ứng du lịch tại hai

TĐVB 99 Biểu đồ 2.2: Nhận xét so sánh tuyến đường có nhiều công trình kiến trúc đẹp và

ấn tượng hơn 103 Biểu đồ 2.3: Nhận xét về tổ chức giao thông kết nối sang đường 109 Biểu đồ 2.4: Đánh giá mức độ chiếu sáng an toàn trên hai tuyến đường 110 Biểu đồ 2.5: Thời gian định cư sinh sống tại địa bàn nghiên cứu của người dân

địa phương tham gia phỏng vấn tại hai khu vực 115 Biểu đồ 2.6: Thống kê nghề nghiệp của người tham gia trả lời phỏng vấn hai địa

bàn nghiên cứu 115 Biểu đồ 2.7: Thống kê nhận xét về văn hóa ứng xử của con người phỏng vấn hai

địa bàn nghiên cứu 116 Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ sử dụng đất trên tuyến đường ven biển An Dương Vương 117 Biểu đồ 2.9: Tỷ lệ đất chức năng trên tuyến đường ven biển Trần Phú (đoạn

đường khảo sát từ Hoa Biển đến cầu Trần Phú) 118 Biểu đồ 2.10: Đánh giá bầu không khí hoạt động của hai tuyến đường 119 Biểu đồ 2.11: Số người sử dụng TĐVB vào các thời điểm trong ngày 119 Biểu đồ 3.1: Đề xuất tỷ lệ không gian quy hoạch chức năng trên TĐVB An

Dương Vương 135

Trang 10

vii

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Minh họa KGVB và tuyến đường ven biển 18

Hình 1.2: Minh họa đường đô thị và đường ngoài đô thị 20

Hình 1.3: Hình – nền theo Le Cosbusier 36

Hình 1.4: Hình – nền theo Parma 36

Hình 1.5: Tiến trình sự hình thành các tuyến đường ven biển 39

Hình 1.6: Minh họa tổ chức KG TĐVB không có KG đệm và thực tiễn quy hoạch mô hình TĐVB tương ứng 46

Hình 1.7: Minh họa tổ chức KG TĐVB có KG đệm và thực tiễn tuyến đường ven biển Nha Trang - Việt Nam 47

Hình 1.8: Sơ đồ hóa cấu trúc hình thái TĐVB theo dạng hướng tâm 48

Hình 1.9: Đường Hạ Long – Vũng Tàu theo dạng tuyến 48

Hình 1.10: Sơ đồ hóa tổ chức hình thái TĐVB theo dạng dải, tuyến kết hợp điểm 49 Hình 1.11: Minh họa lớp KG mặt đứng một dãy công trình trên TĐVB phục vụ du lịch 70

Hình 1.12: Góc độ cảm thụ quan sát cảnh quan của người đi bộ 71

Hình 1.13: Minh họa tầng cao các công trình ven biển 72

Hình 1.14: Kích thước công trình một tuyến phố gia tăng sự hiếu kỳ và tăng khả năng đi bộ 73

Hình 1.15: Mối liên hệ giữa chiều dài tuyến phố có ngắt nhịp với tốc độ phương tiện giao thông 77

Hình 1.16: Tổ hợp kiến trúc cảnh quan - chiếu sáng ban đêm tại Hong Kong 83

Hình 1.17: Bãi biển Waikiki thuộc quần đảo Hawaii 83

Hình 1.18: Đường đi bộ ven biển Barcelona cùng với công trình kiến trúc điểm nhấn 84

Hình 1.19: Ánh sáng ban đêm trên con đường Atlantica - Copacabana 85

Hình 2.1: Toàn cảnh tuyến đường Trần Phú - Nha Trang 94

Hình 2.2: TĐVB Quy Nhơn năm 1970 và diện mạo ngày nay 94

Hình 2.3: Diện mạo khang trang và sức hút đầu tư của đường Trần Phú 95

Hình 2.4: Hiện trạng loại hình kiến trúc đường Trần Phú 101

Trang 11

viii

Hình 2.5: Hiện trạng tầng cao công trình đường Trần Phú 101

Hình 2.6: Hiện trạng kiến trúc trên tuyến đường An Dương Vương 102

Hình 2.7: Các công trình tư nhân chắn tầm nhìn ra biển 104

Hình 2.8: Mặt cắt ngang TĐVB Trần Phú (đoạn đường khảo sát từ Hoa Biển đến cầu Trần Phú) 104

Hình 2.9: Bãi giữ xe ven biển 105

Hình 2.10: Đường dạo bộ bị ―đứt gãy 105

Hình 2.11: Thực trạng giao thông trên tuyến đường 105

Hình 2.12: Phương tiện GT cơ giới chưa phù hợp 105

Hình 2.13: Vỉa hè đường Trần Phú 106

Hình 2.14: Thùng rác công cộng trên tuyến đường 107

Hình 2.15: Chiếu sáng ban đêm trên đường Trần Phú 107

Hình 2.16: Tuyến sang đường Trần Phú khá thuận tiện 108

Hình 2.17: Tuyến sang đường An Dương Vương 108

Hình 2.18: Thùng rác công cộng trên TĐVB An Dương Vương và Trần Phú 110

Hình 2.19: Các công trình cao ốc tràn lan trên TĐVB Trần Phú và những cao ốc điểm nhấn hiện được xây dựng trên TĐVB An Dương Vương 112

Hình 2.20: Công trình điểm nhấn chưa có tính ―thẩm thấu‖ và bị lấn át 112

Hình 2.21: Tuyến đường An Dương Vương mờ nhạt, chưa có tính biểu tượng về nơi chốn 113

Hình 2.22: Kiểu dáng đèn đường thẩm mỹ tại Barcelona và Waikiki Hawaii 113

Hình 2.23: Biển quảng cáo trên TĐVB Trần Phú (trái) và đường An Dương Vương (phải) 114

Hình 2.22: Mô hình lối đi bộ được liên kết giữa hai TĐVB 122

Hình 3.1: Đề xuất tầng cao phù hợp cho công trình mặt tiền hướng biển, phù hợp phông nền chiều cao dãy núi 127

Hình 3.2: Đề xuất các lớp không gian cơ bản của TĐVB 129

Hình 3.3: Minh họa cách tổ chức những không gian mở trên trục đi bộ ven biển 130

Hình 3.4: Kiot kiểu dáng hiện đại 130

Trang 12

ix

Hình 3.5 Hubway hiện đại xây dựng thấp tầng trên TĐVB Hồ Xuân Hương -

Sầm Sơn: 130

Hình 3.6: Điểm dừng chân cho người đi bộ khi băng qua một con đường rộng 132

Hình 3.7: Tổ chức một số trục giao thông tại KGVB 132

Hình 3.8: Đường đi bộ TĐVB Av Lúcio Costa, Rio De Janeiro, Brazil 133

Hình 3.9: Một số hoạt động đa dạng trên TĐVB 136

Hình 3.10: Hiện trạng nơi tắm nước ngọt và minh họa đề xuất chỉnh sửa 137

Hình 3.11: Những bức tượng cá rực rỡ được làm từ chai tái chế từ bãi biển Rio - Brazil 137

Hình 3.12: Lồng vọng cảnh phỏng theo hình dáng những quả thông khổng lồ trở thành nơi cắm trại ngắm cảnh cho du khách - Singapore 137

Hình 3.13: Hoạt động thả đèn hoa đăng ngày Vu lan trên biển 139

Hình 3.14: Hoạt động đại hội thể thao và âm nhạc tại Wailkiki Hawaii 139

Hình 3.15: Lễ hội Carnival sôi động thường niên tổ chức tại bờ biển Nice 140

Trang 13

và mỗi địa phương

Việt Nam với hơn 3260 km đường bở biển cùng 250 đô thị biển đảo với nguồn tài nguyên biển phong phú Du lịch biển chiếm hơn 70% thu nhập ngân sách toàn ngành Phát triển du lịch biển là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đẩy mạnh kinh tế biển thực hiện ―Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020‖1 Do đó, định hướng cho các đô thị ven biển phát triển kinh tế biển và khai thác tiềm năng du lịch là xu thế tất yếu Phát triển dải ven biển và xây dựng những tuyến đường ven biển cho đô thị làm sao để

có thể phát huy tốt nhất vai trò phục vụ cộng đồng và tạo thành ―hạt nhân‖ du lịch vùng là những bước đi đầu tiên để phát huy thế mạnh của đô thị có biển Tuy nhiên, không phải nơi nào những tuyến đường ven biển cũng có những tổ chức phù hợp để đẩy mạnh du lịch theo đúng nghĩa Rất nhiều đô thị ven biển đang ra sức chỉnh trang, xây dựng không gian ven biển theo xu thế hội nhập và du lịch hóa đang dần bộc lộ những yếu kém và mất mát từ những tổ chức không phù hợp hoặc mải chạy theo những giá trị kinh tế mà đánh mất đi những giá trị cốt lõi

Là một thành phố ven biển miền Trung, Quy Nhơn đang được biết đến là một điểm đến du lịch hàng đầu châu Á2

Trong bối cảnh thuận lợi đó, càng khẳng định tầm quan trọng của công tác chỉnh trang đô thị tại tuyến đường ven biển An Dương Vương, trục đường ven vịnh Quy Nhơn Tuyến đường được xây dựng rộng rãi trở thành trục cảnh quan ven biển với không gian thoáng đãng, tuy nhiên hoạt động kinh

Trang 14

2

tế, du lịch vẫn còn rất mờ nhạt, các hoạt động đô thị của tuyến đường cũng chỉ duy trì tại hai thời điểm sáng sớm và chiều tối Những cảm nhận của du khách khi đến đây không mấy ấn tượng với ―tuyến đường du lịch‖ này bởi đây chưa thực sự là một điểm sáng có tầm ảnh hưởng về cảnh quan cũng như làm nên đột phá nền kinh tế - xã hội của địa phương, làm nên sự khác biệt mạnh mẽ và sức hút riêng cho đô thị du lịch so với những đô thị duyên hải miền Trung, nhất là so với Nha Trang Có thể dễ dàng nhận thấy, tại Nha Trang, các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng tập trung tại ven bờ vịnh Nha Trang xinh đẹp gắn với trục đường thương mại - dịch vụ - du lịch Trần Phú cùng

vô số các hoạt động thường nhật, các loại hình dịch vụ đa dạng, sầm uất làm nên hình ảnh một đô thị năng động, ấn tượng Hình ảnh đó hoàn toàn vượt trội với tuyến đường ven biển An Dương Vương, cho dù tuyến đường cũng được ấn định vai trò tạo lập cảnh quan và phục vụ thương mại - du lịch cho Quy Nhơn

Vậy tại sao hai tuyến đường ven biển lại có sự khác biệt như vậy? Những tuyến đường ven biển có đóng góp vai trò gì cho du lịch? Tổ chức không gian - xã hội gắn với tuyến đường ven biển này làm thế nào để có thể tạo lập được sự hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu du lịch, góp phần đẩy mạnh kinh tế địa phương? Nhất là trong giai đoạn, kinh tế biển và khai thác du lịch đang được Nhà nước và Đảng quan tâm với những

đường hướng tích cực, để trả lời những vấn đề đó, đề tài “Đánh giá vai trò và tổ chức

không gian xã hội của tuyến đường ven biển đối với phát triển du lịch địa phương (Nghiên cứu so sánh hai trường hợp thành phố Nha Trang và Quy Nhơn)”được đặt

ra, thiết nghĩ đây là vấn đề vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài và rất cần có những nghiên cứu tỉ mỉ

2 Tình hình nghiên cứu

Hầu hết các đề tài quan tâm nghiên cứu tuyến đường ven biển ở một khía cạnh chung là dải ven bờ (waterfront), xem xét tuyến đường ven biển ở góc độ một thành tố của không gian đô thị trong bối cảnh BĐKH đang xảy ra ngày càng nghiêm trọng Các nghiên cứu được phân thành hai nhóm với nội dung như sau:

2.1 Nhóm đề tài, ấn phẩm nghiên cứu về quy hoạch đô thị biển, thiết kế tổ chức không gian cảnh quan cho các thành phố ven biển

Trang 15

3

- Kỷ yếu hội thảo khoa học ―Quy hoạch và kiến trúc đô thị biển‖ của Hội kiến trúc sư Việt Nam tổ chức tại TP Quy Nhơn vào tháng 3/2006 quy tụ nhiều bài tham luận nói về thực trạng quy hoạch chung và kiến trúc của các đô thị nằm trong chuỗi đô thị duyên hải Việt Nam Hầu hết, các tham luận đều có xuất hiện bóng dáng các tuyến đường ven biển và những vấn đề thực trạng trong quy hoạch để phát huy hết tiềm lực, khai thác triệt để tiềm năng biển mang lại cho đô thị là xu thế tất yếu để phát triển, trong đó phát triển kinh tế và du lịch là điều được chú trọng nhất Tuyến đường ven biển được quan tâm như một thành tố không tách rời của không gian dải kiến trúc cảnh quan ven biển để tạo lập hình ảnh du lịch cho địa phương Tuy chưa được tách biệt thành những nghiên cứu chuyên biệt, nhưng TĐVB đã có sự quan tâm nhất định, đề cập đến vấn đề bất cập vì sự chia cắt không gian đô thị, sự hài hòa giữa phục vụ du lịch và cộng đồng chưa được đảm bảo

- Luận án ―Nghiên cứu sinh thái đô thị du lịch trong QH xây dựng đô thị ven biển Việt Nam - lấy ví dụ thành phố Nha Trang‖ của tiến sĩ Đỗ Tú Lan (2004) Tác giả chủ yếu nghiên cứu sâu về những yếu tố cơ bản của hệ sinh thái đô thị du lịch ven biển, phân tích có tính hệ thống các đặc điểm theo dạng bóc tách từng phân hệ thành phần có liên hệ với cấu trúc tổng thể đô thị ven biển để tìm ra giải pháp tính toán cụ thể nhằm hướng tới xây dựng thành phố du lịch ven biển phát triển cân bằng và bền vững Tác giả lựa chọn đối tượng nghiên cứu áp dụng cụ thể là thành phố biển Nha Trang - Khánh Hòa Trên cơ sở hệ thống khoa học về sinh thái đô thị và phát triển bền vững, tác giả tổng hợp những vấn đề về quy hoạch đô thị theo tiêu chí đô thị du lịch sinh thái, khái quát thành mô hình cơ cấu tổ chức không gian thành phố và sử dụng đô thị Nha Trang làm trường hợp để áp dụng các đề xuất này Tác giả nghiên cứu nhiều

về vấn đề quy hoạch đô thị như vấn đề sử dụng đất, mật độ xây dựng ven biển, bố trí các khu chức năng trong đô thị, chỉ tiêu xây dựng trên diện tích tự nhiên của các khu vực sinh thái ven biển, tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan… Tuy có nhắc tới với vai trò là trục giao thông, tác giả vẫn chưa đề cập chi tiết đến các tổ chức không gian –

xã hội của tuyến đường ven biển – trục giao thông quan trọng tại dải ven bờ và những vai trò to lớn của nó đối với một đô thị du lịch sinh thái

- Nghiên cứu ―Urban Spatial Structure design of coastal cities in order to reduce undesirable effects of climate changes (nghiên cứu trường hợp thành phố

Trang 16

4

Fereidunkenar) của tác giả Mohammad Reza Haghjoo, thành viên của hội đồng quản trị khoa học, Khoa Nghệ thuật và Đại học Kiến trúc Mazandaran, Babolsar, Iran (2011) có nhắc đến quy hoạch các đô thị ven biển trong cuộc chiến chủ động chống lại BĐKH là việc làm cần thiết, nhất là đối với dải ven bờ Các cấu trúc hiện nay của đô thị ven biển tại thành phố Fereidunkenar được cho là không bền vững so với các chỉ tiêu phát triển bền vững mà cấu trúc không gian có trách nhiệm phải đảm bảo được chúng Trong đó, các mô hình tổ chức giao thông có vai trò to lớn và quan trọng trong việc đảm bảo lượng khí thải đô thị đám bảo được các chỉ tiêu bền vững Với tuyến đường ven biển chạy dọc song song dải ven biển, vai trò của nó được chứng minh như những dòng chảy lưu thông không khí trong đô thị, cùng với các kết nối tuyến giao cắt phạm vi ngắn làm giảm mức CO2 và điều tiết khí hậu thông thoáng cho thành phố Không gian tuyến đường này cũng sẽ tùy thuộc vào thiết kể có thể khuyến khích người dân đi bộ để giảm thiểu lượng khí thải từ phương tiện giao thông

- Nghiên cứu ―Development opportunities for the new waterfront in south side

of Kungsholmen in terms of tourism and recreation: an urban design approach to vibrant urban waterfront development in Stockholm‖ (Cơ hội phát triển cho khu vực ven sông mới phía nam Kungsholmen về du lịch và vui chơi giải trí: một cách tiếp cận thiết kế đô thị để phát triển đô thị ven sông sôi động ở Stockholm) của tác giả Mohammed Anisur Rahman thuộc khoa Nghiên cứu vùng và đô thị, Quy hoạch Đô thị

và Môi trường Stockholm (2010), nghiên cứu này hướng đến thảo luận về tiềm năng

du lịch và vui chơi giải trí ở Stockholm bằng cách phát triển khu vực ven sông của nó Các đô thị đã thích nghi khác biệt đáng kể trong nền văn hóa đô thị khác nhau Không gian ven sông của Kungsholmen là nguồn tài nguyên độc đáo và có giá trị Tuy nhiên, hầu hết các không gian ven sông không được thiết kế tốt và nằm không liên kết đúng với những khu du lịch gần đó, làm giảm đi sức sống và giá trị du lịch mà nó mang lại Nghiên cứu này ở một tầm lý thuyết vĩ mô cũng đã cung cấp kiến thức cho sự thiết kế, tái quy hoạch các đô thị có đặc tính tiếp xúc với nước nhằm hướng đến hoạt động thu hút du lịch và giải trí

Nhóm đề tài nghiên cứu về không gian công cộng ven biển và hướng đến các yếu tố kiến tạo không gian có bản sắc biển:

Trang 17

5

- Luận án tiến sĩ ―Khai thác yếu tố nơi chốn nhằm tạo lập bản sắc đô thị - lấy

Tp Đà Nẵng làm địa bàn nghiên cứu‖ của NCS Nguyễn Văn Chương (2011) Tác giả xây dựng cơ sở khoa học cho việc tổ chức không gian đô thị dựa trên việc áp dụng lý thuyết nơi chốn và tinh thần nơi chốn vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam nhằm định hướng cụ thể trong việc gìn giữ, cải tạo và phát triển không gian đô thị theo hướng có bản sắc Luận án đã nhận diện những yếu tố nơi chốn và tinh thần nơi chốn tại đô thị

Đà Nẵng, đồng thời đề xuất định hướng, giải pháp cải tạo không gian đô thị có khai thác các yếu tố nơi chốn nhằm tạo lập bản sắc đô thị cho Đà Nẵng Luận án này đề cập đến yếu tố ―nơi chốn‖ trong đô thị ở khía cạnh ―tinh thần‖, những đề xuất của luận án mang yếu tố thẩm mỹ và giá trị bản sắc nhưng vẫn chưa đề cập chi tiết đến việc phân tích bản sắc ven biển và áp dụng nó với các tuyến đường thuộc không gian ven biển

- Đề tài hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và Cuba ―Giải pháp thiết kế quy hoạch không gian công cộng ven biển cho các đô thị du lịch nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và thích ứng với BĐKH‖ (2009-2015), Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia(VIUP) - Bộ Xây dựng là một đề tài lớn có tính chuyên sâu và nghiên cứu tỷ mỹ của các chuyên gia quy hoạch trong nước và nước bạn, đề tài bao gồm nhiều chuyên

đề quan trọng như hệ thống các cơ sở lý luận về không gian công cộng ven biển, đánh giá được thực trạng quy hoạch, quản lý, khai thác sử dụng không gian công cộng ven biển tại các đô thị du lịch Việt Nam;… Phạm vi nghiên cứu đề tài tại 7 đô thị ven biển lớn của Việt Nam, trong đó có Nha Trang Đề tài có một lượng cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, có tham khảo nhiều kinh nghiệm phát triển không gian công cộng ven biển nổi tiếng trên thế giới - một thành tố quan trọng gắn với TĐVB, đóng góp cảnh quan và đời sống cư dân Đây là một nguồn tham khảo hữu ích cho đề tài phù hợp phạm vi nghiên cứu tại thành phố Quy Nhơn và Nha Trang

- Luận án tiến sỹ ―Kiến tạo không gian công cộng ngoài trời ven biển Nha Trang‖ của NCS Trần Thị Việt Hà (2016) trình bày phân tích về các vấn đề tồn tại trong công tác kiến tạo KGCC của những đô thị biển Luận án có một cơ sở lý thuyết khoa học thuyết phục tìm giải pháp để tạo nên chất lượng các KGCC ven biển dựa trên các hoạt động của con người để tạo thành không gian sống động và phù hợp với xu thế phát triển đô thị Trong luận án có phân tích và đề cập đến cách kết nối đến KGCC ven biển là qua các trục giao thông và đặc biệt thông qua sự liên kết của tuyến đường ven

Trang 18

6

biển Tuy đối tượng nghiên cứu chính của luận án là KGCC ven biển với địa bàn ở Nha Trang, nhưng đây là một cơ sở để khẳng định vai trò của tuyến đường ven biển đối với các thành phần liên kết với nó tại dải ven biển, từ đó tác giả cũng đã đúc kết,

kế thừa những nhận định đánh giá về thực trạng KGCC ven biển tại Nha Trang và đưa

ra những tổ chức không gian - xã hội gắn với TĐVB thực tế và hiệu quả

Các nghiên cứu về tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan cho các tuyến đường ven biển tại thành phố gắn với biển:

- Luận văn thạc sỹ quy hoạch ―Tổ chức không gian tuyến đường ven biển thành phố Quy Nhơn‖ (2012), tác giả Phạm Việt Quang, trường ĐH Kiến trúc TPHCM có đề cập đến sự sắp xếp, tổ chức cảnh quan cho tuyến đường ven biển quan trọng của khu vực mà đề tài tác giả đang hướng đến Các quan điểm trong luận văn này được nhìn nhận, đánh giá sát sao thực trạng cảnh quan của tuyến đường trong thời gian nghiên cứu (2012), đưa ra những cơ sở khoa học phù hợp, các yếu tố cấu thành và tác động đến tuyến đường để tạo lập cảnh quan đường ven biển mang bản sắc riêng cho đô thị biển Quy Nhơn dựa vào những nguyên tắc thiết kế, tổ chức kiến trúc cảnh quan và thẩm mỹ đô thị, từ đó phát huy tính sự thu hút cho cảnh quan ven biển làm đẹp cho đô thị Tuy nhiên, cách nghiên cứu còn thiên về các kỹ thuật tổ chức và thiết kế cảnh quan cho tuyến đường chạy sát biển, chưa có những nghiên cứu về mặt xã hội cũng như đánh giá khả năng cung cấp các loại hình không gian chức năng đáp ứng thỏa mãn nhu cầu du lịch để làm nền tảng phát triển cho thẩm mỹ không gian Đồng thời, nội dung luận văn cũng chưa nói lên vai trò của TĐVB đối với địa phương cũng như du lịch

- Luận văn thạc sỹ quy hoạch ―Giải pháp tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trục đường ven biển tại thành phố Nha Trang‖ (2010), tác giả Lưu Nguyễn Quảng Khánh, trường ĐH Kiến trúc TPHCM có đề cập đến sự sắp xếp, tổ chức cảnh quan cho tuyến đường ven biển Trần Phú tại Nha Trang mà luận văn đang đề cập Đề tài này đưa ra hệ thống các nguyên tắc tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan làm nền tảng lý luận, áp dụng vào tổ chức không gian cho các tuyến đường ven biển nhằm đánh thức không gian thẩm mỹ và sử dụng hiệu quả, đánh giá thực trạng tổ chức cảnh quan của các tuyến đường ven biển, sử dụng công cụ SWOT để rút ra các thế mạnh về tài nguyên cảnh quan mà khu vực đang có Đề tài mang tính tham khảo và ứng dụng cho tổ chức không gian cảnh quan TĐVB, tuy nhiên chỉ dừng ở giải pháp làm đẹp

Trang 19

7

không gian du lịch ven biển, chưa khai thác các thế mạnh nhu cầu du lịch tại địa phương, các bản sắc trong tổ chức không gian xã hội để phát huy hơn nữa thế mạnh khai thác du lịch biển Nha Trang

- Luận văn quy hoạch vùng và đô thị ―Tổ chức không gian cảnh quan khu vực

du lịch ven biển Đà Nẵng‖ của tác giả Cù Thị Ánh Tuyết (2015), là một nghiên cứu về

tổ chức và thiết kế cảnh quan khu vực ven biển, trong đó tác giả lấy tuyến đường chạy song song sát biển Đà Nẵng làm đối tượng để nghiên cứu gắn với các tổ chức không gian chức năng như bãi biển, dịch vụ, giao thông, các làng nghề, khu vực lưu trú, nghỉ dưỡng… nhằm đưa ra các giải pháp để tổ chức lại không gian cảnh quan khu vực ven biển hướng đến phát triển du lịch bền vững Các nội dung nhận định các vấn đề mà tổ chức không gian cảnh quan ở ven biển Đà Nẵng đang gặp phải và làm mất đi khả năng thu hút du lịch, các tổ chức không gian không phù hợp xâm lấn các khu vực cần bảo tồn làm tổn hại đến các di sản, các giá trị đích thực mang vai trò là tài nguyên du lịch cho không gian ven biển Tuy đề tài có tham khảo những nguồn tài liệu tin cậy, đưa ra

cơ sở lý luận tốt những các đánh giá cảnh quan vẫn dựa trên sự cảm tính của tác giả và chưa có đưa ra một hệ tiêu chí và những nghiên cứu xã hội để có thể áp dụng và xây dựng trên cơ sở thực tế Cũng chưa có những nghiên cứu về không gian xã hội để có những chứng cứ thuyết phục cho luận văn

- Luận văn thạc sỹ kiến trúc ―Nhận diện sự đa dạng về kiến trúc trục đường Trần Phú - Nha Trang hướng tới mục tiêu hài hòa giữa bảo tồn và phát triển‖ (2012) của tác giả Nguyễn Hà Tuấn Anh Trong luận văn này, đối tượng được nghiên cứu là các công trình kiến trúc nằm dọc theo trục đường Trần Phú Tác giả nhận định gián tiếp vai trò to lớn của con đường không chỉ với sự kết nối giao thông mà đó còn là cơ hội phát triển hình ảnh cho Nha Trang Đối mặt với sự phát triển ồ ạt của đô thị du lịch biển nổi tiếng là sự giao thoa văn hóa, cần thiết bảo tồn các giá trị cốt lõi trên tuyến đường để đón đầu những cơ hội vàng giúp đô thị Nha Trang tiến xa hơn Đây cũng là thực trạng mà các đô thị du lịch biển khác đang gặp phải, do đó, luận văn là một nguồn tài liệu cung cấp các thông tin và lịch sử cũng như các giá trị, vai trò của TĐVB này, thuộc phạm vi đề tài đang muốn hướng đến nghiên cứu

Các nghiên cứu về phát triển du lịch biển, phát triển thế mạnh du lịch dải ven biển miền Trung

Trang 20

8

- Trong tác phẩm ―Tourism planning - Quy hoạch du lịch‖ của G.Cazes R Lanquar Y.Raynouard (Đào Đình Bắc dịch), nhà xuất bản Giáo Dục, được xem là cuốn cẩm nang cho quy hoạch du lịch, cung cấp một nền tảng kiến thức cơ bản và khái quát về quy hoạch cho nhu cầu du lịch được sử dụng rất phổ biển ở Việt Nam từ năm

2000 Tác phẩm đưa ra các bằng chứng về mối liên quan chặt chẽ giữa phát triển du lịch và quy hoạch xây dựng địa phương, như vậy, sự xây dựng và đô thị hóa các tuyến đường ven biển tạo thêm cơ hội để có được các không gian hướng biển đẹp, gia tăng điều kiện thu hút và phát triển cho du lịch Trong chương 2 ―Quy hoạch du lịch ở vùng ven biển‖ có ghi nhận dải không gian ven biển là một không gian có nhiều chức năng, hẹp và rất dễ bị đe dọa bởi các hoạt động du lịch bùng phát và tập trung quá mức, do

đó, các hoạt động xây dựng, chuyển đổi chức năng và tổ chức xung quanh không gian này cần chú ý đến sự phân bố hợp lý, thu hút và bền vững Cuối chương tác phẩm có

đề cập đến quy hoạch cần bảo vệ, tính toán đến phát triển lâu dài, bài trừ quy hoạch bám biển, ngăn cản bức tường ―bê tông hóa‖ cản trở tiếp cận sử dụng không gian quý giá và quyến rũ này

- Luận văn sỹ kinh tế đại học Đà Nẵng ―Phát triển du lịch tỉnh Bình Định theo hướng bền vững‖ (2011) của tác giả Trương Thị Thu, xác định phát triển du lịch theo hướng bền vững là xu thế tất yếu của thời đại, là mục tiêu đặt ra cho phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có tỉnh Bình Định Du lịch Bình Định những năm qua đã có nhiều kết quả khởi sắc, tuy nhiên trong quá trình phát triển có nhiều nguyên tắc, yêu cầu của sự phát triển bền vững vẫn chưa được thực hiện đầy đủ Hệ thống tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn do các cơ quan chuyên môn và ngành du lịch cung cấp có độ tin cậy cao, trên cơ sở đó xem xét, đánh giá thực trạng du lịch trên quan điểm phát triển bền vững Từ đó mạnh dạn đề xuất một số giải pháp cơ bản, các biện pháp về mặt chính sách, kế hoạch và sự có mặt của cộng đồng xã hội địa phương… có khả năng áp dụng trong thực tiễn Đây là một đề tài có thể tham khảo để hướng đến những giải pháp phát triển du lịch áp dụng trên phạm vi trên tuyến đường ven biển

2.2 Các nghiên cứu về kinh tế, văn hóa, xã hội có liên quan

- Tác phẩm ―Southeast Asian Urbanism: The Meaning And Power Of Social Space‖ (Đô thị học Đông Nam Á: ý nghĩa và sức mạnh của không gian xã hội) HD

Trang 21

9

Evers, R Korff, NXB Hamburg London năm 2000 tranh luận về không gian xã hội chi phối các nhóm trong xã hội sử dụng các thành phố làm biểu tượng của xã hội, hoặc ít nhất họ muốn xã hội sẽ là: "… xã hội đô thị của thành phố riêng biệt cố cụ thể hoá các hình ảnh và tầm nhìn của họ, để các đô thị này thực hiện các yêu cầu chức năng cũng như tư tưởng"3 Xây dựng đô thị cũng như tạo dự án văn hoá có tính hiện đại được thể hiện qua môi trường xây dựng Vì những mục tiêu phát triển cho đô thị, việc xây dựng

và làm đẹp đô thị phải được dựa trên văn hóa, bản sắc đi cùng với hiện đại mà không gian xã hội và các nhóm xã hội tồn tại góp phần làm nên các biểu tượng và sức thu hút riêng cho đô thị Không gian xã hội mang ý nghĩa trừu tượng và tượng trưng Sự tương tác giữa truyền thống - hiện đại được lưu giữ bởi cộng đồng xã hội, và thể hiện thông qua sự tác động hàng ngày của người dân với đô thị họ đang sống

- Tác phẩm ―Production de l‘espace‖ của Henri Lefèbvre, nhà xã hội học, triết học người Pháp dồn rất nhiều tâm huyết để tìm hiểu tầm quan trọng của hiện tượng mà ông gọi là sự đặc trưng xã hội Lefebvre cho rằng mỗi xã hội, mỗi phương thức sản xuất, tạo ra một không gian nhất định, riêng biệt của nó… Vì thế, bất kỳ một xã hội tồn tại nào cũng khao khát để trở thành hoặc tuyên bố nó thật sự tồn tại, nhưng nếu không sản xuất không gian riêng của mình, nó sẽ là một thực thể lạ, một sự trừu tượng

kỳ dị không có khả năng thoát ra hệ tư tưởng hay thậm chí lĩnh vực văn hóa Tác phẩm mang nhiều hệ tư tưởng triết lý Mác-xít nhưng lại phù hợp với hoàn cảnh các đô thị ngày nay đang ngày càng được sản xuất hàng loạt bởi hệ quả của toàn cầu hóa, tác phẩm nói lên tầm quan trọng của ―không gian xã hội‖ trong đô thị nhờ vào đặc trưng sản xuất xã hội,kiến tạo bản sắc khác biệt cho đô thị

Như vậy, các đề tài nghiên cứu về TĐVB đã được nghiên cứu nhưng hầu hết tập trung vào các vấn đề quy hoạch, thiết kế xây dựng đô thị trong bối cảnh các đô thị ven biển đang chịu ảnh hưởng của BĐKH

Các nghiên cứu nước ngoài không tập trung vào TĐVB mà nghiên cứu chung cho dải ven bờ - KV tiếp giáp với biển và quy hoạch khai thác KG hữu hạn nhưng đầy tiềm năng này trở thành một không gian hấp dẫn, nâng cao chất lượng sống cho thị

3 Evers, Hans-Dieter, Korff, Rudiger (2000), Đô thị học Đông Nam Á: Ý nghĩa và sức mạnh của không gian xã hội, Lit Verlag, trang 17

Trang 22

10

dân, đáp ứng đời sống đô thị - kinh tế - xã hội cũng như gia tăng tính bền vững vùng duyên hải Các tài liệu Việt Nam mặc dù chưa có khái niệm chuẩn hóa về TĐVB, nhưng thực chất các nhà nghiên cứu đã có đề cập đến những tính chất của phần không gian này trong quá trình nghiên cứu về không gian ven biển, duyên hải Một số nghiên cứu có đề cập nhưng chưa khai thác mối quan hệ chặt chẽ giữa TĐVB tới nhu cầu của

đô thị, chưa làm rõ được vai trò của nó trong xu hướng phát triển du lịch biển ngày nay, cũng như chưa xuất phát từ thực tế nhu cầu đối tượng được xác định Các mối liên hệ giữa nhu cầu của đối tượng sử dụng đặt ra cho không gian và TĐVB, hình thành không gian xã hội chứa đựng xung quanh các tổ chức vật chất hiện có cũng chưa được nghiên cứu làm sáng tỏ Nghiên cứu về TĐVB không chỉ là những nghiên cứu thuần về thiết kế vật chất, tổ chức cảnh quan mang lại thẩm mỹ là có thể thu hút du lịch mà bất cứ vật thể cấu trúc nào trong đô thị đều được sử dụng bởi nhu cầu, đáp ứng được xã hội thì nó mới có nghĩa, mới tồn tại Điều đó cho thấy rằng, các nghiên cứu về TĐVB nhằm đạt được mục tiêu phát triển cho xã hội, cho một địa phương cần nhìn nhận mở rộng phương diện hoạt động xã hội bắt nguồn từ nhu cầu và phóng chiếu lên những tổ chức vật chất hình thành nên các tổ chức KG-XH cho TĐVB Đó là hướng đi mới mà luận văn muốn hướng đến

Từ việc học hỏi các tài liệu khoa học uy tín trên thế giới, đồng thời tiếp nối, bổ sung cho các nghiên cứu trong nước, tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài ―Đánh giá vai trò và tổ chức không gian xã hội của tuyến đường ven biển đối với phát triển du lịch địa phương (Nghiên cứu so sánh hai trường hợp TP Nha Trang và Quy Nhơn)‖

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn “Đánh giá vai trò và tổ chức không gian xã hội của

tuyến đường ven biển đối với phát triển du lịch địa phương (Nghiên cứu so sánh hai trường hợp thành phố Nha Trang và Quy Nhơn)” là xây dựng TĐVB có những tổ

chức KG-XH hấp dẫn với du lịch, làm nền tảng phát huy kinh tế du lịch bền vững cho địa phương

Dựa trên cơ sở lý luận về những nguyên tắc TCKG-XH của các TĐVB, cũng như vai trò của nó đối với đô thị du lịch biển, đồng thời dựa vào kết quả khảo sát thực trạng tại khu vực điển cứu, căn cứ vào các luận cứ khoa học và kinh nghiệm thế giới,

đề tài nhằm hướng đến các mục tiêu:

Trang 23

11

- Tổng hợp cơ sở lý luận về TCKG-XH của tuyến đường ven biển để làm cơ sở xác định các vai trò của TĐVB với phát triển du lịch nói riêng và cả đô thị nói chung, tạo nền tảng đánh giá thực trạng các TĐVB tại các đô thị du lịch biển hiện nay

- Đánh giá hiện trạng tổ chức không gian - xã hội của TĐVB hiện nay đối với hoạt động phát triển du lịch tại hai địa bàn nghiên cứu Từ đó làm cơ sở so sánh và rút

ra các mặt hạn chế trong tổ chức đang làm kìm hãm sự phát triển của hai TĐVB

- Đưa ra những giải pháp cải thiện và nâng cao TCKG-XH các TĐVB nhằm tăng thêm sự hấp dẫn, thu hút và đáp ứng nhu cầu du lịch, nâng cao sức cạnh tranh và kinh tế du lịch địa phương

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được đặt trong bối cảnh điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa,

xã hội tại hai thành phố ven biển Quy Nhơn và Nha Trang ngày nay, cụ thể là tại tuyến đường ven biển An Dương Vương (Quy Nhơn) và Trần Phú (Nha Trang) Kết hợp với các tài liệu thứ cấp, sơ cấp, cơ sở lý luận, những lý thuyết tiếp cận và chuyên ngành,… bài nghiên cứu sẽ tiến hành đánh giá vai trò của hai tuyến đường này đối với du lịch, hiện trạng tổ chức không gian - xã hội của hai tuyến đường ven biển Quy Nhơn và Nha Trang nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch và thu hút khách du lịch hơn nữa cho khu

vực Do đó, đối tượng nghiên cứu của đề tài là “vai trò và tổ chức không gian - xã hội

TĐVB đối với phát triển du lịch địa phương”

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Khách du lịch và người dân tại địa bàn nghiên cứu

- Tuyến đường ven biển và không gian ven biển

- Chính quyền địa phương

- Các chuyên gia nghiên cứu phát triển du lịch và quy hoạch

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian:nghiên cứu tuyến đường ven biển và không gian xung quanh gắn với nó tại TP Quy Nhơn (đường An Dương Vương) và Nha Trang (đường Trần Phú) Tác giả lựa chọn hai TĐVB (mỗi đoạn đường dài khoảng 2-3km) bởi những đặc

điểm như sau:

Trang 24

12

- Đây là hai con đường ven biển cùng nằm bên hai bờ vịnh đẹp và hấp dẫn của hai đô thị ven biển miền Trung Việt Nam, thuộc hai đô thị biển mang tính chất ―sơn - thủy‖, thuận lợi về điều kiện thiên nhiên và tài nguyên sẵn có

- Hai thành phố đều nằm trong dải đô thị ven biển miền Trung thuộc vùng ven biển Nam Trung Bộ & Nam Bộ, có cùng chung thị trường du lịch

- Hai con đường đều có chức năng và nhiệm vụ làm trục đường thương mại - dịch vụ - du lịch phát triển cho khu vực du lịch bờ biển

- Có điều kiện khí hậu tương tự, hầu hết đồng nhất từ đèo Hải Vân trở vào Nam

có lượng mưa, nhiệt độ phù hợp phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển

Luận văn giới hạn không gian nghiên cứu các tổ chức vật thể và phi vật thể tồn tại xung quanh tuyến đường ven biển bao gồm tuyến đường ven biển và các công trình kiến trúc - dịch vụ, giao thông, công trình công cộng (bãi biển, công viên, dải cây xanh…), các tổ chức không gian trống (tượng đài, vòi phun nước, ghế đá,…), gắn với con đường, tính từ bãi biển vào đến lớp công trình đầu tiên sau tuyến đường ven biển

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu về tuyến đường ven biển và tổ chức không

gian xung quanh nó từ khi hai tuyến đường Trần Phú (Nha Trang), An Dương Vương

(Quy Nhơn) được xây dựng cho đến năm 2017

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Tuyến đường ven biển có vai trò gì đối với phát triển du lịch địa phương?

- Tổ chức không gian - xã hội tuyến đường ven biển như thế nào để đáp ứng cao nhất nhu cầu phục vụ du lịch và thu hút du lịch?

- Thực trạng tổ chức không gian – xã hội gắn với hai tuyến đường ven biển tại địa bàn nghiên cứu đối với du lịch địa phương ra sao?

- Các giải pháp đề xuất nhằm tổ chức tốt không gian - xã hội của tuyến đường ven biển đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch của địa bàn nghiên cứu?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Tổ chức KG-XH tuyến đường ven biển nếu đảm bảo được hoạt động thực tiễn diễn ra thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng sử dụng thì vai trò của nó với phát triển du lịch sẽ được đảm bảo, góp phần nâng cao kinh tế du lịch, sức hút cho đô thị

Trang 25

13

- Khách du lịch và cư dân đô thị có nhu cầu sử dụng TĐVB để đáp ứng các nhu cầu cần thiết về du lịch và tinh thần thể lý

6 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp của luận văn được tổng hợp từ các nguồn tham khảo gồm: sách, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành, luận văn cùng các tư liệu truyền thông

về tổ chức không gian - xã hội của tuyến đường ven biển của các đô thị ven biển Việt Nam và thế giới từ các thư viện:Khoa học Tổng hợp TP.HCM, Trung tâm Đại học Quốc gia TP.HCM, ĐH Kiến trúc TP.HCM, thư viện tỉnh Bình Định, tỉnh Khánh Hòa

và các thư viện trực tuyến nước ngoài có liên kết với nguồn này Đồng thời, tác giả được sự giúp đỡ và cung cấp thông tin tại các Sở, Ban ngành của địa phương như: Trung tâm thông tin lưu trữ thuộc UBND tỉnh Bình Định, Sở xây dựng tỉnh Bình Định, Khánh Hòa, Sở văn hóa thể thao du lịch tỉnh Bình Định, Khánh Hòa

Bên cạnh đó, luận văn sử dụng có chọn lọc một số thông tin trên Internet về TĐVB, tổ chức không gian và cảnh quan các TĐVB nổi tiếng và hình ảnh minh họa liên quan làm phong phú thêm cho đề tài; tìm hiểu các văn bản quy phạm, quy chế pháp luật làm cơ sở lý luận vững chắc cho nghiên cứu

6.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp

6.2.1 Phương pháp định lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng được ứng dụng với công cụ thu thập thông tin là điều tra bằng bảng hỏi, gồm 140 bảng hỏi sử dụng phỏng vấn trực tiếp những đối tượng là người dân và khách du lịch sử dụng hai TĐVB tại hai địa bàn nghiên cứu, 70 bảng hỏi cho địa bàn nghiên cứu TP Quy Nhơn và 70 bản hỏi cho địa bàn nghiên cứu tại Nha Trang Phỏng vấn lựa chọn ngẫu nhiên các đối tượng đang sử dụng TĐVB

Bảng hỏi có mục đích đánh giá nhận xét về vai trò của tuyến đường ven biển đối với cuộc sống thường nhật, nhận thức của đáp viên, đánh giá trực quan tổ chức không gian - xã hội dưới sự nhìn nhận và tương tác của người dân, khách du lịch tại địa bàn nghiên cứu Đồng thời khảo sát góc độ thu hút thẩm mỹ trong tổ chức không gian để từ đó xác định những tiêu chí đánh giá và đưa ra giải pháp thích hợp để nâng cao du lịch và vị thế của tuyến đường ven biển Tác giả sử dụng công cụ SPSS 20.0 để

xử lý dữ liệu

Trang 26

14

6.2.2 Phương pháp định tính

Luận văn sử dụng hai công cụ thu thập thông tin chính là quan sát và phỏng vấn sâu Những hình ảnh và số liệu trong luận văn thu nhận được trong quá trình khảo sát

thực tế để thực hiện đề tài sẽ được trích dẫn là “Nguồn: tác giả‖

Đối với công cụ quan sát, tác giả xem xét, chụp ảnh và ghi nhận hiện trạng tổ chức không gian tuyến đường ven biển tại hai địa bàn, quan sát sự khác nhau trong tổ chức không gian chức năng, sự khác biệt trong cảnh quan du lịch, xem xét thị hiếu của người dân và khách du lịch và những yếu tố xã hội tác động đến không gian du lịch xung quanh TĐVB

Về công cụ phỏng vấn sâu, tác giả tiến hành phỏng vấn khách du lịch, người dân đang sử dụng TĐVB và tham khảo chuyên gia thuộc lĩnh vực đô thị để có những kết luận chính xác hơn Phỏng vấn chuyên gia liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu gồm

có TS Dư Phước Tân - Trưởng Phòng Nghiên cứu quản lý đô thị, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM

6.3 Phương pháp so sánh: Được áp dụng để đánh giá, so sánh hiện trạng các tổ

chức hiện hữu trên hai TĐVB, đánh giá mức độ thành công, hiệu quả sử dụng thể hiện bởi mức tương tác và các hoạt động hiện nay diễn ra tại hai TĐVB qua các tiêu chí so sánh nhằm thấy rõ điểm hạn chế trong tổ chức KG - XH của hai tuyến đường

6.4 Phương pháp phân tích tổng hợp: Áp dụng để đánh giá tổng thể các khía

cạnh tổ chức KG - XH phù hợp, đúc kết từ các kinh nghiệm xây dựng, tổ chức các TĐVB nổi tiếng thế giới, phát hiện các vấn đề cần giải quyết để phát huy các vai trò tích cực của TĐVB trong tương lai

7 Mô tả mẫu nghiên cứu

Đối với TĐVB tại hai địa bàn nghiên cứu, đề tài tiến hành quan sát các cơ sở vật chất, công trình xây dựng gắn với tuyến đường và cả tuyến đường ven biển, quan sát các hoạt động của đối tượng sử dụng tuyến đường theo ngày, quan sát kết hợp phỏng vấn hoat động di chuyển nhằm sử dụng KG theo nhu cầu của đối tượng ra sao

để vẽ lại bản đồ hành vi Tác giả có lựa chọn điểm mốc giới hạn nghiên cứu theo phạm

vi nghiên cứu đã đưa ra

Tác giả phát bảng phỏng vấn để thu về các đánh giá của những người đã sử dụng các TĐVB ở địa bàn nghiên cứu Trong đó: 70 phiếu cho người sử dụng TĐVB

Trang 27

15

An Dương Vương (Quy Nhơn), 70 phiếu cho người sử dụng TĐVB Trần Phú (Nha Trang) Các đối tượng có độ tuổi từ 19 tuổi và cao tuổi nhất là 75 tuổi, các đối tượng trả lời phỏng vấn ở các độ tuổi đủ nhận thức để đưa ra những đánh giá sát thực nhất Thành phần giới tính người phỏng vấn: 67,1% nam giới, nữ giới chiếm 32,9% Các đối tượng được hỏi ngẫu nhiên, trong đó có cả người dân địa phương (có thời gian sinh sống từ 6 tháng trở lên) và khách du lịch (có thời gian lưu trú ít hơn 1 tháng) Còn lại, luận văn không giới hạn giới tính, trình độ, xuất xứ vùng miền

8 Tiến trình nghiên cứu

Bước đầu tác giả tổng quan tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến đối tượng nghiên cứu, nhằm có cái nhìn tổng quát về lịch sử nghiên cứu đề tài, đánh giá mức độ

và khía cạnh nghiên cứu của các đề tài đó đối với đối tượng nghiên cứu, làm nền tảng hoặc tài liệu tham khảo cho luận văn Tiếp đến, tác giả tổng hợp các tài liệu tham khảo

để đưa ra được khái niệm về TĐVB phù hợp với thực tiễn hướng nghiên cứu của luận văn, đây được xem là ý nghĩa lý luận đóng góp của đề tài

Bước kế tiếp tác giả tham khảo các tài liệu chuyên sâu về KGVB nói chung và các tuyến đường đô thị nằm trong phạm vi này, từ đó rút ra được những vai trò đã được thừa nhận, phân loại các dạng tổ chức TĐVB, tính chất… đồng thời nghiên cứu nhu cầu du lịch và nhu cầu người dân trong KG này, tìm ra mối quan hệ giữa KG vật chất và KG xã hội, tìm hiểu nhu cầu của đối tượng sử dụng tuyến đường và tác động đến đây nhiều nhất, tiến hành lập ra được bảng hỏi và các câu phỏng vấn sâu Đây là bước quan trọng, là nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu thực trạng

Tiếp đó, luận văn tiến hành song song các kỹ thuật quan sát có tham dự, phỏng vấn phát bảng hỏi, phỏng vấn sâu

Sau đó, tác giả tiến hành xử lý thông tin được thu thập từ bảng hỏi, kết hợp thông tin dữ liệu từ hình ảnh, rã băng ghi âm để phục vụ cho chính văn hoàn chỉnh

9 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

9.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn nghiên cứu về vai trò của ―tuyến đường ven biển‖ đối với phát triển

du lịch địa phương, góp phần định hình một ―thực thể‖ của dải ven biển nhưng có sự liên hệ và tác động qua các yếu tố vật thể và phi vật thể xung quanh nó Nghiên cứu tổ chức KG - XH của TĐVB và vai trò của tuyến đường giúp làm giàu thêm nguồn tài

Trang 28

16

liệu về tuyến đường bộ mang đặc thù gắn với biển, tạo tiền đề cho sự phát triển du lịch

và kinh tế Bên cạnh đó, luận văn còn mang giá trị tham khảo cho những nghiên cứu

mở rộng trong tương lai, tham khảo về tổ chức không gian chức năng và thẩm mỹ phục vụ cho ngành du lịch và thiết kế, QH đô thị

Luận văn còn là một nguồn tư liệu cho sinh viên cao học, các nhà nghiên cứu, những người quan tâm đến thiết kế đô thị giúp gia tăng sức hút du lịch, các nghiên cứu

đô thị hướng đến phục vụ cho phát triển du lịch bền vững từ đó, luận văn còn góp phần nâng cao giá trị thực tiễn và vị thế của tuyến đường ven biển với các khu vực có sự

tương đồng với Quy Nhơn - Nha Trang

9.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Trong bối cảnh nghiên cứu về du lịch biển đang là thế mạnh đặt ra nhu cầu du lịch bền vững mang đặc trưng bản sắc biển, phục vụ cho nhu cầu kinh tế xã hội, phát huy xu hướng thời đại thế kỷ 21 - thế kỷ đại dương, vai trò tuyến đường ven biển cần được nhìn nhận Bên cạnh đó, sự ưu tiên đầu tư du lịch, chính sách phát triển kinh tế biển địa phương, các quy hoạch, chỉnh trang tuyến đường ngày càng cần có những nghiên cứu thực tế có thể ứng dụng cho tình hình thực tiễn đang diễn ra từng ngày tại khu vực nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa to lớn, trong bối cảnh cạnh tranh về thị trường du lịch biển Vì vậy, luận văn đã cố gắng đưa ra được một cơ sở lý thuyết về vai trò và tổ chức KG -XH tuyến đường ven biển có sự nỗ lực của đô thị để xây dựng hình ảnh bản sắc riêng, mang tính ứng dụng đến các đô thị đang phát huy thế mạnh về

du lịch biển nhờ tuyến đường ven biển quan trọng Đây có thể là tài liệu cho các nhà quản lý, các nhà quy hoạch đô thị, các nhà nghiên cứu kinh tế - xã hội, các cơ sở ban ngành du lịch tham khảo và có những nghiên cứu sâu hơn, ở các phạm vi và vấn đề nghiên cứu liên quan khác

Trang 29

tổ chức không gian - xã hội của tuyến đường ven biển Bên cạnh đó, những lý thuyết tiếp cận và các lý thuyết chuyên ngành đóng vai trò nền tảng làm cơ sở lý luận khoa học để bắt đầu xây dựng hệ thống phân tích và đánh giá đối tượng nghiên cứu Đồng thời, những cơ sở pháp lý, quy phạm pháp luật để chứng minh sự đúng đắn và cần thiết của luận văn

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm về không gian ven biển và tuyến đường ven biển

1.1.1.1 Không gian ven biển

Các nghiên cứu về các đô thị duyên hải ngày càng nhiều và sớm có sự quan tâm

từ những năm 1970 Khái niệm ―không gian ven biển‖ được sử dụng rộng rãi và có sự thay đổi rất nhiều, song đến nay vẫn chưa thực sự có một định nghĩa rõ ràng Cụm từ

―không gian ven biển‖ sử dụng khá đa dạng như: waterfront (Dong, 2004), cityport (Tunbrigde & Ashworth,1992; Hoyle,2002), harourfront (Vallentin,1991), coastal (Jin, 1994; Raymond Charles, 2001), qua đó có thể hiểu một cách chung nhất là dải đất tiếp giáp giữa mặt nước và đất liền, cách mực nước cao nhất 200 đến 300m (Guo, 1998) Cần hiểu rõ và phân biệt không gian ven biển và không gian ven bờ/sông đều là những không gian tiếp giáp với nước (waterfront) Tuy nhiên, không gian ven biển mang tính bất ổn cao hơn và có những đặc tính khác hơn Do mang tính bất ổn định nên thông thường, không gian ven biển này được xác định một cách thực tế bao gồm các hoạt động liên quan đến lĩnh vực cần nghiên cứu xảy ra tại khu vực này

Theo phân tích của Ngân hàng thế giới, khu vực ven biển được hiểu là “ dựa

vào những mục tiêu thực tiễn, khu vực ven bờ là một khu vực đặc biệt có những thuộc

Trang 30

Hình 1.1: Minh họa không gian ven biển và tuyến đường ven biển

Nguồn: Ministry of Housing and Lands - Mauritius (2004)

Chú thích: A Vùng đất tiếp giáp ven biển

B Vùng đất giáp tuyến đường ven biển

C Nội đô thị

4 Trần Thị Việt Hà (2016), Luận án tiến sỹ ―Kiến tạo KGCC ngoài trời ven biển Nha Trang‖, trang 6

5 Robert Kay & Jackie Alder (1999), Coastal Planning and Management, London and New York, p.2

Trang 31

19

Theo mô hình trên, tại không gian ven biển (hay dải ven bờ) được tạo thành từ

những lớp không gian (layer) bao gồm: A Vùng đất tiếp giáp ven biển, bao gồm bãi biển (bãi cát), không gian đệm (KGCC ven biển, công viên, cây xanh chuyển tiếp); B

Vùng đất giáp tuyến đường ven biển, bao gồm tuyến đường ven biển (đường giao

thông), lớp công trình xây dựng đô thị (công trình đô thị mặt tiền hướng biển); C Nội

đô thị Tuy nhiên tùy vào chủ thể nghiên cứu, các lớp KG có thể thay đổi hoặc giản

lược tùy vào mục đích nghiên cứu KGVB khác nhau, ví dụ phân chia Nội đô thị - Bãi biển - Mặt biển (United nations, 1995); Đất liền - Bờ biển - biển ven bờ - Mặt biển

(Vallega, 2001) Theo như luận văn, KGVB bao hàm các lớp phân tách như: bờ biển

phía Đông - Tuyến đường ven biển - Nội đô thị phía Tây Với cách phân tích này sẽ làm nổi bật được tổ chức của TĐVB và không gian hoạt động ảnh hưởng của nó trong không gian ven biển

1.1.1.2 Tuyến đường ven biển

Trước tiên, cần tìm hiểu khái niệm về ―tuyến đường‖ (street)

Theo từ điển tiếng Anh Oxford, ―tuyến đường‖ (hay tuyến phố) được định

nghĩa như sau: “Là những tuyến đường tương đối rộng chạy giữa hai dãy nhà, thường

bao gồm cả phần vỉa hè và có mối tương quan mật thiết với các công trình hai bên”

Theo định nghĩa này thì tuyến phố được mô tả bao gồm phần đường, phần không gian lân cận, và không thể tách rời với các công trình hai bên

Từ ―tuyến đường‖ - Street bắt nguồn từ tiếng Latin ―Sternere‖ nghĩa là ―to pave‖, nghĩa tiếng Việt là ―Mở‖ Từ Street có liên quan đến tất cả các từ tiếng Latin có nguồn gốc từ gốc ―str‖ chỉ những thứ có liên quan đến xây dựng Biến thể của từ Street trong nhiều ngôn ngữ Châu Âu như ―Strada‖ (tiếng Ý), ―strasse‖ (tiếng Đức) chỉ một khu vực sử dụng công cộng và có thể bao gồm các không gian đơn giản, phân chia ranh giới và không nhất thiết phải dẫn đến một nơi nào đặc biệt, có thể kết thúc bằng một ngõ cụt hoặc một quảng trường (Rykwert, 1991) Có thể sử dụng các thuật ngữ tương tự như Road, Boulevard, Promenade, Avenue… để chỉ tuyến đường, tuyến phố

Như vậy, các tuyến đường có đặc điểm gắn với sự xây dựng công trình hai bên,

thường được gọi là đường đô thị Với khái niệm đường đô thị được định nghĩa “là

đường trong phạm vi địa giới hành chính nội thành, nội thị, là dải đất nằm trong phạm

vi giữa hai đường chỉ giới xây dựng trong đô thị để cho xe cộ và người đi lại, trên đó

Trang 32

20

có thể trồng cây, bố trí các công trình phục vụ công cộng như đèn chiếu sáng, đường dây, đường ống trên và dưới mặt đất” 6 và có quy hoạch cụ thể Hai bên đường đô thị thường được xây dựng công trình tạo thành phố xá được gọi là đường phố

Đường phố là công trình xây dựng công cộng với đặc trưng là đường làm trung tâm gắn với môi trường xây dựng ở hai bên vỉa hè (nhà cửa, công trình đô thị, quảng trường, công viên, siêu thị, cửa hàng…) cùng hoạt động của con người Đường đô thị giúp gắn kết các thành phần đô thị thành một thể thống nhất Đường đô thị so với đường ô tô (đường ngoài đô thị) thì có sự khác biệt rất lớn

Hình 1.2: Minh họa đường đô thị (trái) và đường đường ngoài đô thị (phải) Như vậy, từ các định nghĩa về tuyến đường, đường đô thị ta có thể rút ra một số đặc điểm chung để bắt đầu hình thành khái niệm tuyến đường ven biển như sau:

- Là đường nằm trong phạm vi đô thị, có gắn với công trình xây dựng

- Mang chức năng giúp trung chuyển, đi lại tính kết nối giao thông

- Là một không gian công cộng được sử dụng chung

- Hình thành không gian giao tiếp xã hội và dẫn dắt các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển

Đối với khái niệm ―tuyến đường ven biển‖ chỉ một tuyến đường đô thị có tính đặc thù về vị trí sát biển, nằm trong không gian ven biển Những khái niệm về ‗tuyến đường ven biển‖ chưa có sự thống nhất trong các tài liệu nước ngoài, chủ yếu được nhắc đến trong các nghiên cứu thiết kế kỹ thuật đường giao thông Theo Raymond Charles, đại học Tây Ấn có nêu ra, ―tuyến đường ven biển‖ (coastal roads) là ―con đường đi qua các khu vực đất liền ven biển, dọc theo chiều dài biển và được bảo vệ

6 Nguyễn Khải (2004), Đường và giao thông đô thị, NXB Giao thông vận tải Hà Nội, tr 24

Trang 33

21

khỏi sóng bởi hệ thống phòng thủ tự nhiên như bãi cát, đụn cát, cồn cát, kè bờ, hoặc cấu trúc bảo vệ hoàn chỉnh xây dựng phù hợp với chức năng của đường‖ Với một số nghiên cứu trong nước thuộc các lĩnh vực liên quan như kiến trúc cảnh quan và giao thông xây dựng có gọi chung đó là các ―con đường ven mặt nước‖, hoặc là ―những con đường ven mép nước7‖ (KTS Nguyễn Văn Tất - phó chủ tịch hội KTS Việt Nam)

Kết hợp các khái niệm, tính chất chung của đường đô thị có thể đưa ra kết luận khái niệm tuyến đường ven biển một cách khái quát theo cách tiếp cận của tác giả như

sau: “Tuyến đường ven biển là tuyến đường bộ thuộc hệ thống đường đô thị, được đầu

tư xây dựng, quy hoạch đảm bảo an toàn, phục vụ giao thông cho đô thị có biển, xuất hiện đầu tiên trong khoảng không gian chuyển tiếp giữa bãi biển vào đô thị (không gian ven biển) và chạy dọc theo bờ biển”

Theo định nghĩa trên, tuyến đường ven biển là một bộ phận của đường phố đô thị, do đó, nó còn gắn với các tổ chức xây dựng hai bên, các không gian chức năng đô thị nằm dọc theo tuyến đường và lấy tuyến đường làm trung tâm

Trong nghiên cứu này, cần nhấn mạnh TĐVB không phải là thực thể hoạt động độc lập mà còn là một bộ phận liên kết duy trì hoạt động không gian ven biển với đô thị, mang sức ảnh hưởng và lan tỏa đến KG xung quanh Tuyến đường ven biển là một

bộ phận đặc thù của đường đô thị, đặc trưng chỉ ở những đô thị có biển, các TĐVB nằm ngoài phạm vi đô thị không nằm trong nội dung nghiên cứu của luận văn này

1.1.2 Khái niệm về tổ chức không gian - xã hội

1.1.2.1 Tổ chức không gian

Không gian thường được nhắc đến là ―không gian đô thị‖ hình thành bởi cây cối, mặt đất, mặt nước, các công trình kiến trúc đô thị… là các vật thể hữu hình quan sát được Không gian này được phân tách ra từ trong không gian tự nhiên, điều chỉnh dưới sự chi phối của con người với độ giới hạn nhất định được sử dụng phục vụ cho sinh hoạt của người dân đô thị Xét dưới góc độ vật chất, không gian đô thị là tổng thể không gian vật lý trong khu vực đô thị, trong đó bao gồm nhà cửa, đường sá, phố thị

và toàn bộ các cơ sở hạ tầng đô thị Còn xét về mặt xã hội học, thực ra "không gian đô

7

Hội kiến trúc sư Việt Nam (2006), Kỷ yếu hội thảo khoa học Quy hoạch và kiến trúc Đô thị biển, tr.31

Trang 34

22

thị" có thể được hiểu một cách đầy đủ hơn và trừu tượng hơn, đó chính là không gian

diễn ra các hoạt động xã hội của đời sống đô thị

Tổ chức là hoạt động điều phối những thành phần rời rạc theo một cấu thể hoàn

chỉnh có hình hài, chức năng để thỏa mãn một ý đồ hay chủ đích có trước

Theo PGS.TS Nguyễn Minh Hòa cùng các tác giả trong tác phẩm ―Những vấn

đề của phát triển không gian đô thị‖ đã đưa ra khái niệm về ―tổ chức không gian đô

thị‖ như sau: “Tổ chức không gian sống đô thị được hiểu là sự bố cục và sắp xếp các

khối vật chất (nhà ở, công sở, đường sá, chợ búa, cầu cống, thiết bị kỹ thuật) trong KG

ba chiều và sau đó là tổ chức cho cộng đồng, nhóm XH và các cá nhân sống, hoạt động trong khối không gian được tổ chức đó theo trục thời gian (chiều thứ tư)”

Một ý kiến tương tự của TS Trần Ngọc Khánh cho rằng: “Tổ chức không gian

đô thị vừa là kết quả biểu hiện về mặt không gian tình trạng cân bằng tĩnh nhất thời các dữ liệu về môi trường, vừa biểu hiện về mặt thời gian sự tiến hóa năng động các quan hệ chức năng do hoạt động phức hợp của con người” (Trần Ngọc Khánh, 2012).

Như vậy, tổ chức không gian không chỉ là sự điều chỉnh, thiết kế sắp đặt các vật

thể mà nó còn liên quan và mở rộng hơn đến những cái không thấy được nhưng vẫn

diễn ra trong hoạt động thường nhật của đô thị Đó là những không gian xã hội - phi vật chất, được chứa đựng và duy trì hoạt động xã hội sinh ra bởi các chủ thể sử dụng không gian vật chất đó, nhờ vậy mà không gian mới có sức sống và có ý nghĩa

1.1.2.2 Không gian xã hội

―Không gian xã hội‖ chỉ chung những trường không gian trừu tượng tồn tại song song với không gian địa lý Ngoài những tổ chức vật chất, trong không gian còn

có những tổ chức phi vật chất không thể trực tiếp thấy mà chỉ đúc kết qua những quan

sát, trải nghiệm và tương tác Tức là, không gian xã hội sinh ra từ các hoạt động diễn

ra trong không gian địa lý Không gian xã hội phức tạp và sinh động hơn không gian

vật chất rất nhiều Theo Paul & Henrri (1982) trong tác phẩm Chombart de Lauure,

―KGXH là sự tương tác giữa các cá nhân, nhóm và cả xã hội‖8, vậy nên đó là trường

8 Paul – Henri (1974), Chombart de Lauwe, ―Dân tộc học về không gian loài người‖, tr 233 – 241, trong Francois Bresson và những người khác, tr 235

Trang 35

23

không gian diễn ra đời sống xã hội bao gồm cả hoạt động kinh tế, lao động sản xuất, nghỉ ngơi, giải trí… phát sinh từ những nhu cầu đòi hỏi của chủ thể của không gian đó

Như vậy, KGXH cũng giống như đời sống xã hội, tuy nhiên, tính đặc trưng là

yếu tố làm nên sự phân biệt giữa các KGXH Theo Henri Lefebvre (1984), ―Không gian xã hội là một sản phẩm của xã hội‖ Trước hết, KGXH phải đáp ứng được chức năng của sự cư trú, có nghĩa đó phải là không gian sinh sống cho cộng đồng xã hội trên một phạm vi nào đó, đồng thời duy trì một thời gian nhất định sự tương tác giữa con người và môi trường xung quanh thành thói quen đặc trưng như: lối sống thường ngày, phong tục, cách thức sinh hoạt, sản xuất, cách ứng xử của con người với tự

nhiên Chính những điều này trở thành nét đặc trưng riêng chỉ có ở KGXH Do vậy

―không gian xã hội‖ vừa là không gian diễn ra các hoạt động đời sống xã hội và bao

gồm cả đặc trưng của xã hội đó Theo cách hiểu trong luận văn này thì “không gian xã

hội là trường không gian phi vật chất, hình thành bởi những hoạt động tương tác từ nhu cầu của các chủ thể xã hội với nhau hoặc của chủ thể xã hội với thế giới tự nhiên

và mang tính đặc trưng riêng biệt”

Sơ đồ 1.1: Định nghĩa không gian xã hội Như vậy, sự khác biệt của mỗi đô thị được thể hiện rõ ràng hơn khi nghiên cứu KGXH - một điểm quan trọng làm tiền đề khai thác hiệu quả trường không gian vật chất song song nó Trong KGXH tồn tại cả không gian KT-XH làm chủ đạo góp phần duy trì thành công của không gian, đồng thời tính đặc trưng làm nên giá trị của nó

Bất cứ nhóm xã hội trong không gian nào cũng muốn chứng minh sự tồn tại và riêng biệt của mình, theo Lefebvre (1974) thì đó là ―sự đấu tranh chiếm không gian xã hội và các nhóm thể hiện sự khác biệt bằng cách chống lại tiến trình đồng hóa‖ Các

ĐẶC TRƯNG

HOẠT ĐỘNG/ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

KHÔNG GIAN XÃ HỘI

Trang 36

24

KGXH quy định nên tính ―đặc trưng‖, bao trùm lên không gian địa lý và luôn muốn chứng minh bản sắc và văn hóa của mình như một biểu trưng của đô thị, điều đó đặc biệt cần thiết để tạo nên sự thu hút và nét đẹp cho du lịch của các thành phố

1.1.2.3 Mối quan hệ giữa tổ chức không gian và tổ chức không gian xã hội

Đây là mối quan hệ giữa tổ chức không gian vật chất và phi vật chất Mọi sự tổ chức trong đô thị đều là có chủ đích hướng đến phục vụ con người Hoạt động tổ chức

đó bao gồm sự sắp xếp các khối vật chất mang chức năng, bố trí các vật thể hữu hình

một cách hợp lý để con người sử dụng hiệu quả Tuy nhiên, để có hiệu quả tối ưu trước

hết cần xem xét các đặc điểm nhu cầu của chủ thể tạo nên các trường KG phi vật thể

(không gian xã hội), từ đó điều chỉnh những tổ chức không gian vật thể phù hợp, dẫn dắt đời sống xã hội được diễn ra một cách hài hòa, đó gọi chung là ―tổ chức không gian - xã hội‖

Trên thực tế, có rất nhiều nhầm lẫn khi đề cập khái niệm ―đô thị‖ và thường

nghiên cứu dưới góc độ thực thể địa lý (vật chất) và lãng quên đi những thực thể xã

hội Tuy nhiên, mỗi nhóm xã hội sẽ có cách ứng xử với không gian khác nhau, tiếp

nhận và sử dụng không gian cư trú theo kiểu của họ, phù hợp với chủ thể, nhu cầu, văn hóa cộng đồng cũng như địa vị xã hội Không gian đô thị luôn bao hàm mối quan hệ mang tính cơ học giữa không gian vật lý và đời sống xã hội, do đó, tổ chức không gian không đơn thuần là tổ chức vật chất mang chức năng phục vụ cho đời sống con người

mà còn cần nghiên cứu thực tế xã hội ẩn chứa, tồn tại tất yếu giữa các thực thể ấy Việc dung hòa các tổ chức không gian cùng với hoạt động của không gian xã hội mới

là những tổ chức không gian thành công và thu hút nhất

Tiếp thu từ một tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng của Henri Lefebvre về việc tạo

ra các không gian, khái niệm về đời sống văn hóa, xã hội, cộng đồng và các ý tưởng liên quan đến xã hội dân sự đều gắn với các không gian đô thị vì chúng cần thiết cho

sự thành công của các hoạt động tập thể của cư dân đô thị9

cũng như quy định tính khác biệt của không gian Từ những lập luận trên, có thể hiểu ―tổ chức không gian - xã

9

Mike Douglass, Bài tham luận tại hội thảo ―Hà Nội: Thành phố thân thiện và sống tốt cho cộng đồng‖ (Hanoi:

a Livable City for all), diễn ra trong hai ngày 1-2/7/2009, gioi/99-nhin-ra-the-gioi/1235-thanh-pho-song-tot-qua-trinh-toan-cau-hoa-cuoc-song-thanh-thi-va-khong-gian- cong-cong-o-chau-a-thai-binh-duong.html], truy cập ngày 2/4/2017

Trang 37

[http://mag.ashui.com/index.php/tuongtac/nhin-ra-the-25

hội là nghiên cứu những thành tố của một chỉnh thể, tìm hiểu mối liên hệ, sắp xếp và cấu trúc thể hiện ở các mặt tổ chức không gian (vật thể) và tổ chức không gian xã hội

(phi vật thể) được chứa đựng bên trong không gian vật thể, tương tác, duy trì lẫn nhau,

quy định tính đặc trưng và hình thành nên chỉnh thể trong bối cảnh vận động của đời sống đô thị‖

Khái niệm này ngày càng phù hợp với thời đại ngày nay, khi các không gian được thiết kế cho con người nhưng lại trở nên khó thuyết phục và kém lôi cuốn bởi chưa gắn kết với các hoạt động thực tiễn diễn ra trong không gian xã hội, chưa quan tâm đến nhu cầu hoạt động thực tế chủ thể xã hội duy trì không gian đó Đô thị là sự

phóng chiếu (projection) các mối quan hệ xã hội lên trên đất đai (Henri Lefebvre,

1991), vì vậy những mối quan hệ, tương tác và phát sinh trong không gian này cần được xem xét để xây dựng tổ chức không gian phù hợp thực tiễn

1.1.3 Du lịch và phát triển du lịch

1.1.3.1 Du lịch

Khái niệm ―Du lịch‖ được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau Du lịch được coi ngành kinh tế tổng hợp với hoạt động phức tạp, đa chiều nhưng có khả năng tạo ra lợi nhuận đáng kể Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005: ―Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định‖ Nhìn chung, du lịch là ngành dịch vụ hoạt động trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn những nhu cầu vui chơi giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, các nét đẹp văn hóa… của dân cư các miền khác nhau trên thế giới để thu được lợi nhuận từ những sản phẩm, tài nguyên sẵn có, đặc trưng của địa phương Theo đó, du lịch là một sản phẩm mang tính vô hình10 và chỉ tồn tại trong không gian xã hội (phi vật chất) Các hoạt động du lịch khá đặc biệt, được đánh giá nhận định qua sự hài lòng của du khách khi phát sinh các tương tác dịch vụ Không gian đô thị là sự hỗ trợ thuận lợi cho các hoạt

10 TS Trịnh Xuân Dũng, bàn về sản phẩm du lịch, [http://www.vtr.org.vn/ban-ve-san-pham-du-lich.html], truy cập 22/7/2017

Trang 38

26

động kinh tế, vì thế cũng rất hiệu quả khi khai thác các hoạt động du lịch11

Không gian diễn ra hoạt động dịch vụ du lịch là các không gian nghỉ ngơi, mua sắm, ăn uống, lưu trú chứa đựng bên trong những vật thể hữu hình là các cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu du lịch (khách sạn, nhà hàng, trung tâm vui chơi, mua sắm, điểm tham quan, bảo tàng )

Khái niệm về du lịch theo cách tiếp cận của các đối tượng liên quan đến hoạt

động du lịch:

- Đối với người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú của họ ở ngoài nơi cư trú để thoả mãn các nhu cầu khác nhau: hoà bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác

- Đối với người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện

về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của người du lịch và đạt được mục đích số một của mình là thu lợi nhuận

- Đối với chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ khách du lịch, là tổng hợp các hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho khách du lịch trong việc hành trình

và lưu trú, là cơ hội để bán các sản phẩm của địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương

- Đối với cộng đồng dân cư sở tại: Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội tại địa phương mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu nền văn hoá, phong cách của những người ngoài địa phương, vừa là cơ hội để tìm việc làm, phát huy các nghề cổ truyền, tăng thu nhập nhưng đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến đời sống người dân sở tại như về môi trường, trật tự an ninh xã hội, nơi ăn, chốn ở,

Trang 39

27

đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành‖ Việc đẩy mạnh phát triển du lịch thường được các quốc gia trên thế giới quan tâm đề cao vì tính hiệu quả cao của ―nền công nghiệp không khói‖ Sự phát triển của du lịch góp phần vào việc phát triển cho nền kinh tế địa phương Bên cạnh việc mang lại hiệu quả kinh tế, du lịch cũng tác động ngược lại sự chuyển đổi cơ cấu

KT - XH, đặt ra nhiều thách thức cho việc phát triển lâu dài Trong phạm vi luận văn

này, phát triển du lịch diễn ra trong xu hướng phát triển bền vững, được hiểu đơn giản

là ―sự gia tăng kinh tế địa phương nhờ vào thỏa mãn cao nhu cầu khách du lịch, đồng thời cải thiện đời sống vật chất, chất lượng sống cho người dân địa phương theo cách lâu dài và tích cực, có tính đến sự tồn tại của những thế hệ tương lai‖

Trong lịch sử, người ta nhận thấy rằng, sự phát triển du lịch và bùng nổ di chuyển ngắn hạn trên phạm vi rộng trùng khớp với sự phát triển trào lưu kế hoạch hóa

và quy hoạch lãnh thổ Tức là, phát triển du lịch tạo động lực cho những việc xây dựng, làm đẹp, cải tạo hạ tầng nhằm phục vụ du lịch, cải thiện kinh tế, góp phần nâng cao chất lượng sống đô thị về cả vật chất và tinh thần

Ngày nay, du lịch liên quan đến cảnh quan và di tích là yếu tố quan trọng nhất giúp tăng trưởng kinh tế, là yếu tố quan trọng làm nên sản phẩm du lịch địa phương Những thành phần độc đáo và đặc biệt của cảnh quan, di sản văn hoá là các yếu tố hấp dẫn có thể hỗ trợ sự cạnh tranh đô thị giữa các vùng lãnh thổ, Do vậy, phát triển du lịch đô thị cần nắm giữ giá trị di sản đô thị làm giàu cho nguồn cung, đồng thời lưu giữ đặc trưng xã hội làm nên sức hút cho du lịch địa phương

1.2 Một số lý thuyết tiếp cận trong nghiên cứu

Để có thể nắm bắt hiện thực các ngành khoa học đã hình thành nên nhiều lý

thuyết khác nhau Với đề tài ―Đánh giá vai trò và tổ chức không gian xã hội của tuyến

đường ven biển đối với phát triển du lịch địa phương (nghiên cứu so sánh hai trường hợp TP Quy Nhơn và Nha Trang)‖, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả lựa

chọn các lý thuyết để ứng dụng như sau:

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Năm 1954, Abraham Maslow đã đưa ra đưa ra quan điểm về nhu cầu của con người được sắp xếp theo các thứ bậc khác nhau Có hai nhóm nhu cầu chính của con

người là nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)

Trang 40

28

Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động Đồng thời nhu cầu được thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi

Lý thuyết nhu cầu với môi trường R.Andrey: Trong luận văn này quan tâm đến

loại hình không gian đô thị hướng đến sử dụng cho con người, do đó cần nghiên cứu đến nhu cầu của con người tại đây Lý thuyết nhu cầu với môi trường là một khía cạnh của lý thuyết nhu cầu được R.Andrey phát triển có mối liên hệ mật thiết giữa con người với môi trường, phù hợp với những nghiên cứu hiện tại về không gian sống trong đô thị Các nhu cầu của con người đối với môi trường tự nhiên bao gồm:

- Nhu cầu an toàn: giữa các khu vực cần liên hệ chặt chẽ, có thể bao quát tầm nhìn, có biên giới rõ ràng, giữa các không gian cần có sự phân tách sử dụng

- Nhu cầu về tính có thể nhận biết: từ bên ngoài có những dấu hiệu nhận biết các vật thể bên trong KG đó, nhất là sự đặc trưng về nơi chốn, đặc điểm kiến trúc

- Nhu cầu về sự mới mẻ, vui vẻ: luôn nhận thấy sự đổi mới hấp dẫn của không gian xung quanh, không khí sôi nổi, các loại hình lạ mắt luôn cuốn hút con người tham gia và khám phá

Tuy từng độ tuổi, giới tính hay hoàn cảnh sinh sống, con người sẽ nảy sinh những nhu cầu khác biệt, tuy nhiên các nhu cầu con người với môi trường đều xuất phát từ tâm lý chung và ảnh hưởng đến sự lựa chọn sử dụng không gian Nghĩa là không gian đáp ứng những nhu cầu mà con người cần với nhiều đối tượng thì mức độ tương tác và sử dụng không gian sẽ tăng lên, nhất là với không gian có sẵn tính hấp dẫn như KGVB thì cách khai thác tối ưu là đáp ứng nhu cầu chung của càng nhiều đối tượng sử dụng càng tốt chứ không phải riêng những nhóm đối tượng có đặc thù sở thích, nghề nghiệp hay lứa tuổi…

Ngoài ra, cần hiểu các nhu cầu đặt ra cho KGVB sẽ hình thành hoạt động gì để định hướng thiết lập phù hợp Trên TĐVB hướng đến chức năng cho du lịch, nhu cầu

đối tượng sử dụng không gian chủ yếu là nhu cầu du lịch xuất phát từ du khách và nhu

cầu giải trí của cộng đồng người dân đô thị:

Ngày đăng: 14/04/2021, 18:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
52. Landry, C., & Bianchini, F. (1995). The creative city. London: Demos Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: The creative city
Tác giả: Landry, C., & Bianchini, F
Năm: 1995
77. Bradbury, M., ―The Sustainable Waterfront‖, 16th Annual International Sustainable Development Research Conference, Hong Kong, (2010), [http://www.kadinst.hku.hk/ sdconf10/Papers_PDF/p254.pdf] Sách, tạp chí
Tiêu đề: 16th Annual International Sustainable Development Research Conference
Tác giả: Bradbury, M., ―The Sustainable Waterfront‖, 16th Annual International Sustainable Development Research Conference, Hong Kong
Năm: 2010
62. Báo điện tử Nha Trang, 40 năm thương hiệu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa, [http://www.nhatrang-travel.com/index.php?cat=0501&type=1&itemid=3026],truy cập 22/10/201663. Báo GTVT, [http://www.dulichthu- Link
64. Goldcoast Nha Trang, Tuyến đường sầm uất nhất thành phố Nha Trang, [https://goldcoast.vn/news/tuyen-duong-sam-uat-nhat-thanh-pho-bien-nha-trang-77], truy cập 12/12/2016 Link
68. Ninh Nhi, BĐS Nha Trang 2017: Đột phá nhờ du lịch và phát triển hạ tầng, http://www.baomoi.com/bds-nha-trang-2017-dot-pha-nho-du-lich-va-phat-trien-ha-tang/c/21846819.epi, truy cập ngày 25/7/2017 Link
69. Phạm Quang Hưng, Ẩm thực: Yếu tố quan trọng góp phần định vị thương hiệu du lịch, [http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/15622], truy cập 12/11/2017 Link
70. PPP, Những khu phố hấp dẫn nhất thế giới không chỉ có vỉa hè thông thoáng, [http://soha.vn/nhung-khu-pho-hap-dan-nhat-the-gioi-khong-chi-co-via-he-thong-thoang-2017030816385227rf2017030816385227.htm],truycập22/12/2017 Link
71. Theo báo mới, Phát huy lợi thế các tuyến đường ven biển nam miền trung, [https://baomoi.com/phat-huy-loi-the-cac-tuyen-duong-ven-bien-nam-mien-trung/c/10676546.epi], truy cập ngày 26/8/2017 Link
72. Trần Minh Tùng, Trang thiết bị môi trường với việc tạo lập bản sắc đô thị, [http://www.baoxaydung.com.vn/news/vn/quy-hoach-kien-truc/tu-van/trang-thiet-bi-do-thi-voi-viec-tao-dung-ban-sac-do-thi.html], truy cập ngày 7/7/2017 Link
73. Trịnh Xuân Dũng, bàn về sản phẩm du lịch, [http://www.vtr.org.vn/ban-ve-san-pham-du-lich.html], truy cập 22/7/2017 Link
76. Wang, C., ―Waterfront Regeneration‖, Master Thesis, Cardiff University, City and Regional Planning, Cardiff, UK, (2003),[http://www.scribd.com/doc/7222338/Waterfront-Regeneration] Link
79. CRM plus, Khai thác các nhu cầu cơ bản của khách du lịch, [http://crmplus.com.vn/khai-thac-cac-nhu-cau-co-ban-cua-khach-du-lich.html],truy cập ngày 12/12/2017 Link
1. Condominas, Georges (1997), Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, Nxb Văn hóa, Hà Nội Khác
2. Công văn số: 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 1/9/2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Khác
3. Diễn đàn Giao thông vận tải Quốc tế (ITF) (2012), An toàn cho người đi bộ, sức khỏe và không gian đô thị. Paris: Nhà xuất bản OECD Khác
4. Đại học Nha Trang (2013), Kỷ yếu hội thảo khoa học Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang - Khánh Hòa Khác
5. Đàm Thu Trang, (2006) Thiết kế kiến trúc cảnh quan khu ở , NXB Xây dựng 6. Đỗ Tú Lan (2004), Luận án tiến sĩ ―Nghiên cứu sinh thái đô thị du lịch trongquy hoạch xây dựng đô thị ven biển Việt Nam‖ (lấy ví dụ T.P Nha Trang), ĐH Quốc gia Hà Nội; Thị Khác
7. EMBARQ (2015),Thiết kế thành phố an toàn, WRIcities.org, Wriross center for sustainable cities Khác
8. G.Cazes, R. Lanquar, Y. Raynouard, Đào Đình Bắc dịch (2005), Giáo trình quy hoạch du lịch, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
9. Hà Duy Anh (2012), Luận án tiến sĩ: Phương hướng cải tạo và phát triển các vùng đất ven sông/ TP. Saint-Petersburg Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w