1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thoái hóa khớp gối trước và sau phẫu thuật thay khớp gối toàn phần tại bệnh viện chấn thương chỉnh hình tp hồ chí minh

95 26 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất Lượng Cuộc Sống Của Bệnh Nhân Thoái Hóa Khớp Gối Trước Và Sau Phẫu Thuật Thay Khớp Gối Toàn Phần Tại Bệnh Viện Chấn Thương Chỉnh Hình Tp. Hồ Chí Minh
Tác giả Huỳnh Văn Phát
Người hướng dẫn TS. Tô Gia Kiên
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HUỲNH VĂN PHÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN THOÁI HÓA KHỚP GỐI TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI TOÀN PHẦN TẠ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HUỲNH VĂN PHÁT

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN THOÁI HÓA KHỚP GỐI TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI TOÀN PHẦN TẠI BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HUỲNH VĂN PHÁT

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN THOÁI HÓA KHỚP GỐI TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI TOÀN PHẦN TẠI BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH TP.HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số : 8720701 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học :

TS TÔ GIA KIÊN

Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn này được ghi nhận, xử lý và phântích một cách trung thực Luận văn này không có bất kỳ số liệu, văn bản haytài liệu nào đã được Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh hay bất kỳ trường đạihọc nào khác chấp nhận để cấp văn bằng đại học hoặc sau đại học Luận vănnày cũng không có bất kỳ số liệu, tài liệu nào đã được công bố rộng rãi trướcđây

Đề cương nghiên cứu đã được Hội Đồng Đạo Đức trong Nghiên cứu ysinh học của Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh chấp thuận về mặt y đức trongnghiên cứu theo quyết định số 428/ĐHYD-HĐĐĐ

Người thực hiện

Huỳnh Văn Phát

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ/HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT

ĐẶT VẤN ĐỀ……… ……… 1

Chương 1: TỔNG QUAN Y VĂN……… ………4

1.1 Thoái hóa khớp gối……… ………….4

1.2 Chất lượng cuộc sống……… ……… 7

1.3 Các công cụ đánh giá CLCS thường dùng hiện nay……….…9

1.4 Thang đo chuyên biệt cho khớp gối………10

1.5 Tổng quan tài liệu trong nước và quốc tế nghiên cứu về chất lượng cuộc sống và các đặc tính lâm sàng của người thoái hóa khớp gối ……… 10

1.6 Các nghiên cứu liên quan của đối tượng thoái hóa khớp gối ở Việt Nam 14

1.7 Khái quát về bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP HCM ………….… 15

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 18

2.1 Thiết kế nghiên cứu ……… ……… 18

2.2 Đối tượng nghiên cứu ……… ……… 18

2.3 Biến số nghiên cứu ……… ………….……… 20

2.4 Công cụ và thu thập số liệu……… 27

2.5 Phân tích dữ kiện ……….….29

2.6 Vấn đề y đức.………32

Chương 3: KẾT QUẢ……… 33

Chương 4: BÀN LUẬN……….… 55

KẾT LUẬN ……….……… 64

KIẾN NGHỊ ……… ……… 66 PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

DANH SÁCH BỆNH NHÂN THAM GIA NGHIÊN CỨU

Trang 5

và thang đo VAS (n=152)

36

Bảng 3.4 Đặc điểm dân số của mẫu nghiên cứu và các lĩnh vực của CLCS 37 Bảng 3.5 Đặc điểm dân số của mẫu nghiên cứu và thang điểm OKS , VAS 38 Bảng 3.6 Các yếu tố liên quan của đối tượng nghiên cứu và các lĩnh vực CLCS 40 Bảng 3.7 Các yếu tố liên quan của đối tượng nghiên cứu và thang điểm OKS,VAS 41 Bảng 3.8 Các bệnh lý kèm theo của đối tượng nghiên cứu và các lĩnh vực của

CLCS

42

Bảng 3.9 Các bệnh lý kèm theo của đối tượng nghiên cứu và thang đo OKS, VAS 43 Bảng 3.10 Thời gian thoái hóa khớp và các lĩnh vực của CLCS 45 Bảng 3.11 Thời gian thoái hóa khớp và thang đo OKS, VAS 46 Bảng 3.12 Yếu tố lâm sàng liên quan của đối tượng nghiên cứu và các lĩnh vực

Bảng 3.13 Yếu tố lâm sàng liên quan của đối tượng nghiên cứu và thang đo OKS,

VAS

48 Bảng 3.14 Phương trình hồi quy đa biến giữa sức khỏe thể chất và các biến độc lập 50 Bảng 3.15 Phương trình hồi quy đa biến giữa sức khỏe tinh thần và các biến độc lập 51 Bảng 3.16 Phương trình hồi quy đa biến giữa quan hệ xã hội và các biến độc lập 52 Bảng 3.17 Phương trình hồi quy đa biến giữa môi trường sống và các biến độc lập 53 Bảng 3.18 Phương trình hồi quy đa biến giữa CLCS chung và các biến độc lập 54

Số biểu

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ACR Tiêu chuẩn về bệnh thấp khớp của Mỹ (The

American College of Rheumatology)

KOOS Knee injury and Osteoarthritis Outcome Score

ROM Tần vận động khớp (Range of motion)

SF-36 Short Form – 36 (Bộ câu hỏi đánh giá chất lượng

cuộc sống)

WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Oganization)WHOQOL-BREF World Health Oganization Quality Of Life – BREFWOMAC Western Ontario and McMaster Universities

Osteoarthritis Index95% CI Khoảng tin cậy 95% (95% Confidence interval)

Trang 7

TÓM TẮT Tên đề tài: Chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân thoái hóa khớp

gối (THKG) trước và sau phẫu thuật thay khớp gối toàn phần tại bệnh việnChấn Thương Chỉnh Hình Thành Phố Hồ Chí Minh

Đặt vấn đề:

Thoái hóa khớp gối là bệnh lý ảnh hưởng trực tiếp lên hệ vận động gâyrất nhiều khó khăn cho bệnh nhân trong sinh hoạt, lao động và vui chơi giải trí.Nhiều nghiên cứu trên thế giới đánh giá bệnh nhân THKG có chất lượng sốngthấp phải can thiệp phẫu thuật thay khớp nhân tạo để cải thiện các hoạt độngchức năng Tuy nhiên không phải tất cả bệnh nhân đều có điều kiện để thaykhớp do nhiều vấn đề như: chi phí phẫu thuật và dụng cụ quá đắt, cao tuổi cónhiều bệnh lý nội khoa khó kiểm soát Theo thống kê của WHO, viêm xươngkhớp là nguyên nhân thứ tư gây tàn tật trên toàn cầu Hiện nay, chúng ta có rất

ít nghiên cứu về CLCS và những yếu tố tác động đến CLCS của các bệnh nhânTHKG tại Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu :

Xác định điểm chất lượng cuộc sống trung bình và các yếu tố liên quanđến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thoái hóa khớp gối trước và sau phẫuthuật thay khớp gối toàn phần tại bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình thànhphố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả đánh giá CLCS

các đối tượng THKG trước khi phẫu thuật thay khớp gối toàn phần, thực hiệntrên bệnh nhân được chẩn đoán THKG theo tiêu chuẩn của The AmericanCollege of Rheumatology (ACR) và chuẩn bị thay khớp gối toàn phần tại bệnhviện Chấn Thương Chỉnh Hình TP.HCM theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ.Các thông tin về đặc điểm dân số xã hội, tình trạng bệnh THKG và CLCS sẽ

Trang 8

được thu thập thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp CLCS trong nghiêncứu này được đánh giá dựa trên bộ câu hỏi WHOQOL-BREF, chức năng khớpgối được đo bằng thang đo OKS và VAS Kiểm định T-Test, ANOVA phântích các biến số nhằm tìm hiểu mức độ liên quan và ý nghĩa thống kê của cácbiến số Hồi quy tuyến tính đơn biến và đa biến nhằm xác định mối liên quangiữa nhiều yếu tố đến CLCS của bệnh nhân THKG.

Thời gian thực hiện: từ tháng 12/2018 đến hết tháng 6/2019

Kết luận:

Các đối tượng tham gia nghiên cứu có độ tuổi trung bình 66,15 ± 8,5 với82,9% là nữ có điểm trung bình CLCS các lĩnh vực là 49,14 ± 5,10 trong đóthấp nhất là lĩnh vực sức khỏe thể chất 37,61 ± 7,25 và cao nhất là lĩnh vực sứckhỏe tinh thần 53,46 ± 8,79 Điểm số thang đo OKS trung bình của các đốitượng là 41,71 ± 11,85 trong đó giảm rõ rệt ở chức năng khớp gối với điểmthành phần là 33,55 ± 13,77 và mức độ đau khớp là 49,89 ± 12,80 OKS chothấy mối liên quan đến điểm CLCS các lĩnh vực sức khỏe thể chất, sức khỏetinh thần, môi trường sống và CLCS chung

Điểm CLCS trung bình của các đối tượng nghiên cứu có mối liên quanđến các yếu tố: trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, thời gian thoái hóa khớp,thang điểm OKS và tầm vận động gập khớp gối Trong đó, thang điểm OKS vàtầm vận động khớp phản ánh một các rõ nét nhất điểm CLCS chung Các đốitượng THKG gặp rất nhiều khó khăn trong các hoạt động sống hàng ngày khiđau và chức năng khớp gối bị giới hạn

Các từ khóa: Thoái hóa khớp gối, Chất lượng cuộc sống, thang điểmOKS, bộ câu hỏi WHOQOL – BREF

Trang 9

sự thiếu hụt hooc-mon sinh dục nữ Vấn đề THKG đặc biệt quan tâm ở nữ giớikhi đối tượng này có nhiều yếu tố nguy cơ như: mãn kinh, bản chất các khớplỏng lẻo, khung chậu lớn[7, 12].

Thoái hóa khớp là một bệnh mạn tính thường gặp ở người trung niên vàngười cao tuổi, là bệnh lý tổn thương toàn bộ khớp, bao gồm tổn thương sụn làchủ yếu, kèm theo tổn thương xương dưới sụn, dây chằng, các cơ cạnh khớp,

và màng hoạt dịch Đó là một bệnh được đặc trưng bởi các rối loạn về cấu trúc

và chức năng của một hoặc nhiều khớp và cột sống[6] Trong đó, thoái hóakhớp gối chiếm 19%, xếp thứ hai sau thoái hóa cột sống 33% theo tác giả LêThị Huệ và cộng sự[2] nghiên cứu khảo sát mô hình bệnh tật tại khoa nội cơxương khớp bệnh viện thống nhất năm 2012 và một nghiên cứu dịch tễ họcTHKG tương tự ở Ấn Độ của Chandra Prakash Pal[42] và cộng sự cho thấy tỉ

lệ THKG là 28,7% trong cộng đồng

Thoái hóa khớp gối ảnh hưởng trực tiếp đến các nhu cầu cơ bản củangười bệnh như lao động, sinh hoạt, vui chơi giải trí làm giảm đi chất lượngcuộc sống (CLCS) của bệnh nhân rất nhiều theo như tác giả Kawano thực hiệntại Brasil[35] và Ilana N Ackerman nghiên cứu tại Australia[18] Phẫu thuậtthay khớp gối thật sự có ích trong việc cải thiện các chức năng từ đó cải thiệnCLCS của bệnh nhân[18, 30] Tuy nhiên, chi phí phẫu thuật cao và các biếnchứng sau phẫu thuật là rào cản lớn đối với bệnh nhân Hiện tại, chi phí một cathay khớp gối ở bệnh viện CTCH dao động từ khoảng 70 – 100 triệu tùy thuộc

Trang 10

vào loại khớp gối nhân tạo được sử dụng Bên cạnh đó, một số bệnh nhân cócác bệnh lý nội khoa đi kèm có thể là chống chỉ định phẫu thuật Thoái hóakhớp gối theo thời gian sẽ dẫn đến sự biến dạng khớp, gây đau đớn cho bệnhnhân, hạn chế các chức năng sinh hoạt hàng ngày là gánh nặng cho gia đình và

xã hội[52, 53]

Ở nước ta hiện nay có rất ít nghiên cứu về CLCS của bệnh nhân THKG,gánh nặng mà THKG mang lại cho xã hội chưa được xem xét một cách thấuđáo Người bệnh THKG có thể có một cuộc sống tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn, chấtlượng hơn nếu được quan tâm đánh giá đúng mực CLCS của bệnh nhân THKGcao hay thấp đến mức phải chờ đợi một cuộc phẫu thuật thay khớp với nhiềurủi ro và tốn kém để cải thiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày? Do đó, nghiêncứu này là thật sự cần thiết trong thực tiễn để đánh giá cụ thể về CLCS ở bệnhnhân THKG trong giai đoạn trước khi được thay khớp gối toàn phần làm cơ sởcho các nghiên cứu tiếp theo ở giai đoạn sau phẫu thuật cũng như định hướngcho các biện pháp can thiệp khác để cải thiện tình trạng hiện tại của bệnh nhânđem đến cho họ sự thích nghi và một cuộc sống tốt đẹp hơn

Kết quả nghiên cứu có thể cho chúng ta thấy sự tầm quan trọng của CLCStrong lĩnh vực cơ xương khớp, cho thấy được sự quan tâm đến đối tượng THKGnói riêng và bệnh lý thoái hóa khớp nói chung để từ đó có các biện pháp canthiệp phù hợp cũng như sự phối hợp đa ngành nhằm nâng cao hơn nữa chấtlượng sống của bệnh nhân

Trang 11

1.1 Câu hỏi nghiên cứu:

Điểm CLCS trung bình của bệnh nhân THKG trước và sau khi được phẫuthuật thay khớp gối toàn phần là bao nhiêu? Các yếu tố nào liên quan đến điểmCLCS của bệnh nhân thoái hóa khớp gối?

1.2 Mục tiêu chung:

Mục tiêu nghiên cứu : Xác định điểm chất lượng cuộc sống trung bình

và các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thoái hóa khớpgối trước và sau phẫu thuật thay khớp gối toàn phần tại bệnh viện Chấn ThươngChỉnh Hình thành phố Hồ Chí Minh

1.3 Mục tiêu cụ thể :

1.3.1 Xác định điểm chất lượng cuộc sống trung bình theo từng lĩnh vựccủa bệnh nhân thoái hóa khớp gối trước và sau phẫu thuật thay khớp gối toànphần

1.3.2 Xác định mối liên quan giữa điểm chất lượng cuộc sống với cácđặc điểm dân số xã hội, tình trạng bệnh, thời gian bệnh, chức năng khớp gối vàmức độ đau của bệnh nhân thoái hóa khớp gối có chỉ định thay khớp gối toànphần

Trang 12

Chương 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Thoái hóa khớp gối

Thoái hóa khớp gối là loại thoái hóa khớp tiến triển chậm, khởi phát từcác tổn thương của sụn khớp thông qua sự thay đổi cấu trúc lớp xương dướisụn (giảm sự dày đặc của xương và ảnh hưởng đến quá trình hình thành môxương mới), các tổn thương mô mềm chung quanh khớp, thay đổi tính chất củadịch khớp, làm quá trình hủy sụn và xương dưới sụn trở nên ưu thế[6] Cácnghiên cứu đã chỉ ra rằng THKG không chỉ liên quan đến cơ chế hao mòn màcòn do các yếu tố cơ học, hóa học, miễn dịch, hoóc môn hoặc di truyền[6]

Sự thoái hóa lớp xương dưới sụn và mô sụn sẽ làm xuất hiện các lỗkhuyết và các hốc xương dẫn đến sự hình thành gai xương hoặc do quá trìnhtăng sinh xương theo quy luật bù trù sẽ tăng mật độ xương ở những điểm bámcủa gân và dây chằng gây ra gai xương[6]

1.1.1 Nguyên nhân

Có 2 loại thoái hóa khớp gối: nguyên phát và thứ phát[6, 38, 43]

1.1.1.1 Thoái hóa khớp nguyên phát

Là nguyên nhân chính, xuất hiện muộn, thường ở người sau 60 tuổi, cóthể ở một hoặc nhiều khớp, tiến triển chậm Ngoài ra có thể có yếu tố di truyền,yếu tố nội tiết và chuyển hóa (mãn kinh, đái tháo đường) có thể gia tăng tìnhtrạng thoái hóa Tuy nhiên hiện nay THKG có xu hướng trẻ hóa không còn làvấn đề của các đối tượng trên 60 tuổi Hiệp hội thấp khớp học Hoa Kỳ[46] đãđưa ra tiêu chuẩn mới về thoái hóa khớp trong đó độ tuổi có nguy cơ là từ 38tuổi trở lên

Trang 13

1.1.1.2 Thoái hóa khớp thứ phát

Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân có thể do sau các chấn thươngkhiến trục khớp thay đổi (gãy xương phạm khớp, can lệch); các bất thường trụckhớp gối bẩm sinh: khớp gối quay ra ngoài (genu valgum); khớp gối quay vàotrong (genu varum); khớp gối quá duỗi (hyperextension) hoặc sau các tổnthương viêm khác tại khớp gối (viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp,lao khớp, viêm mủ, bệnh gút, chảy máu trong khớp - bệnh Hemophilia)

Bệnh nhân bị THKG sẽ gặp nhiều vấn đề khó khăn như: đau sưng tạikhớp, hạn chế tầm vận động khớp, cứng khớp vào buổi sáng, có tiếng lạo xạokhi vận động khớp, yếu cơ, mất vững khớp, hẹp khe khớp, biến dạng lệch trụckhớp từ đó đẫn đến sai lệch trong dáng đi và khó khăn trong các hoạt động sốnghàng ngày Chính yếu tố đó dẫn đến việc sụt giảm CLCS ở các bệnh nhân Tìnhtrạng tàn tật xuất hiện ở những bệnh nhân THKG bắt đầu từ yếu tố giới hạn tầmvận động khớp theo Steultjens và cộng sự[47]

1.1.2 Chẩn đoán lâm sàng THKG[22, 38]

Bệnh lý thoái hóa khớp gối là bệnh lý kết hợp cả yếu tố lâm sàng và cậnlâm sàng khi chẩn đoán và dựa trên một số tiêu chuẩn cụ thể Hiện nay trên thếgiới, có nhiều thang đo tiêu chuẩn để đánh giá và chẩn đoán thoái hóa khớp gốitrong đó phải kể đến tiêu chuẩn được đề ra của Hiệp hội thấp khớp học Hoa Kỳ(ACR) đang được sử dụng rộng rãi

Bộ tiêu chuẩn ACR[11, 38, 46] gồm 6 yếu tố để đánh giá trên bệnh nhân:

Trang 14

6 Có tiếng lạo xạo khi cử động khớp

Chẩn đoán xác định khi có yếu tố 1,2,3 hoặc 1,3,5,6 hoặc 1,5,6

Có thể có các dấu hiệu khác đi kèm: tràn dịch khớp, biến dạng lệch trụckhớp gối

Tiêu chuẩn chẩn đoán mức độ thoái hóa khớp của Kellgren và Lawrencedựa trên cận lâm sàng[6] :

− Mức độ 0 : Khớp hoàn toàn bình thường

− Mức độ 1 : Gai xương nhỏ hoặc nghi ngờ có gai xương

− Mức độ 2 : Xuất hiện gai xương rõ rệt

− Mức độ 3 : Hẹp khe khớp vừa

− Mức độ 4 : Hẹp khe khớp nhiều kèm xơ hóa xương dưới sụn

• Siêu âm khớp: đánh giá tình trạng hẹp khe khớp, gai xương, tràndịch khớp, đo độ dày sụn khớp, màng hoạt dịch khớp, phát hiện các mảnh sụnthoái hóa bong vào trong ổ khớp

• Chụp cộng hưởng từ (MRI): phương pháp này có thể quan sátđược hình ảnh khớp một cách đủ sống trong không gian 3 chiều, phát hiện đượccác tổn thương sụn khớp, dây chằng, màng hoạt dịch

• Nội soi khớp: phương pháp nội soi khớp quan sát trực tiếp đượccác tổn thương thoái hóa của sụn khớp ở các mức độ khác nhau (theo Outbrightchia 4 độ), qua nội soi khớp kết hợp sinh thiết màng hoạt dịch để làm xét nghiệm

tế bào chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khớp khác

1.1.3 Điều trị[6]

Điều trị nội khoa: các loại thuốc giảm đau, kháng viêm hoặc các thuốc

điều trị triệu chứng tác dụng chậm như glucosamine sulfate, thuốc ức chếInterleukin 1

Trang 15

Cấy ghép tế bào gốc (Stem cell transplantation).

Vật lý trị liệu

Điều trị ngoại khoa: Điều trị dưới nội soi khớp[6], phẫu thuật thay khớp

gối nhân tạo

1.2 Chất lượng cuộc sống

Theo WHO: “Chất lượng cuộc sống là sự nhận thức cá nhân về vị trí của

họ trong cuộc sống phù hợp với văn hóa và giá trị mang tính chất hệ thống ởnơi mà họ sinh sống và phù hợp với mối quan hệ, mục đích, sự kì vọng, trình

độ và mối quan tâm của họ”[13]

Chất lượng cuộc sống là vấn đề đã được quan tâm từ lâu ở nhiều nướctrên thế giới[20, 30, 35, 45], đánh giá CLCS được thực hiện hầu hết ở nhiềudạng bệnh mà người ta nhận thấy có sự liên quan giữa các yếu tố bệnh tật tácđộng lên sức khỏe thể chất và tinh thần của bệnh nhân Ở nước ta hiện nay chấtlượng cuộc sống cũng bắt đầu được đề cập rất nhiều trong vài năm gần đây vàđặc biệt chú trọng ở các bệnh mãn tính không lây như: cao huyết áp, đái tháođường, tim mạch

1.3 Các công cụ đánh giá CLCS thường dùng hiện nay

Hiện nay trên thế giới có nhiều bộ câu hỏi đánh giá CLCS như :

WHOQOL- BREF (World Health Organization Quality of Life)của WHO Thang điểm WHOQOL-Bref bao gồm 26 mục, đánh giá 4 vấn đềcủa tình trạng sức khỏe bao gồm sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, quan hệ

xã hội và môi trường sống[13]

EQ -5D-5L (European Quality of life – 5 Demensions – 5 Levels)theo tiêu chuẩn Châu Âu Bộ câu hỏi EQ-5D đánh giá 5 vấn đề của tình trạng

Trang 16

sức khỏe: khả năng di chuyển, tự chăm sóc, các hoạt động thông thường,đau/khó chịu và trầm cảm/lo lắng[13].

SF-36 (Short Form – 36) của Medical Outcome Study (MOS) Bộcâu hỏi này được xây dựng bởi Ware và cs (1992), có 36 mục tự đánh giá và

có thể sử dụng được với nhiều bệnh lý, nhiều cộng đồng và tình huống khácnhau SF-36 đánh giá 8 nhóm vấn đề: chức năng thể chất, khía cạnh xã hội, sựhạn chế vai trò do các vấn đề thể chất, sự hạn chế vai trò do các vấn đề cảmxúc, khía cạnh cảm xúc, sức sống, sự đau đớn và tình hình sức khỏe chung.Trong đó, điểm được chia thành 2 nhóm chính: điểm tóm tắt của thành phầnthể chất và điểm tóm tắt của thành phần tinh thần

Trong nghiên cứu này, việc lựa chọn bộ câu hỏi WHOQOL-Bref là phùhợp bởi có rất nhiều nghiên cứu về CLCS của các bệnh nhân THKG trên thếgiới áp dụng bộ câu hỏi này WHOQOL- BREF đã được cơ quan chủ quảnWHO cho phép sử dụng miễn phí rộng rãi tại tất cả các quốc gia trên thế giới[18,25]

“Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của người nhiễmHIV/AIDS đang điều trị ARV ở trung tâm phòng chống HIV/AIDS Bình Phước”của tác giảTô Gia Kiên, Huỳnh Ngọc Vân Anh, Nguyễn Thị Kim Tuyến cho thấyrằng điểm số chất lượng cuộc sống trung bình của người nhiễm HIV/AIDS là12,2±1,7 Người nhiễm HIV/AIDS có điểm trung bình chất lượng sống ở lĩnhvực môi trường sống thấp nhất là 11,7±2,0 Tình trạng kinh tế và đường lâynhiễm HIV là những yếu tố liên quan đến điểm số chất lượng sống[10]

Tác giả Trịnh Thị Kim Thảo, Nguyễn Song Chí Trung, Lê Huỳnh ThịCẩm Hồng trong nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân điều trịmethadone tại phòng khám quận Gò Vấp tp Hồ Chí Minh” sử dụng bộ công

cụ WHOQOL- BREF để đánh giá chất lượng cuộc sống và thang đo APGAR

Trang 17

để đo lường mức độ gắn kết gia đình của bệnh nhân Kết quả thu được đa sốbệnh nhân là nam giới (95,6%); trung bình 35 tuổi (độ lệch chuẩn = 6,3 ); 57,1%bệnh nhân chưa học hết cấp 2 và 36,8% đang thất nghiệp Điểm số chất lượngcuộc sống của bệnh nhân cao nhất trong lĩnh vực môi trường sống là 67,3 ±10,3 và thấp nhất trong lĩnh vực quan hệ xã hội là 47,0 ± 17,5, dựa trên thangđiểm 100 Các yếu tố làm tăng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân là tuổi <

35, liều điều trị 60 – 120 mg/ngày, công việc ổn định, không mắc các bệnh kèmtheo và gia đình gắn kết tốt[14]

Tác giả Nguyễn Duy Phong, Nguyễn Tấn Thuận trong nghiên cứu “ Chấtlượng cuộc sống ở người cao tuổi bệnh tăng huyết áp và cá yếu tố liên quan tại

2 xã Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh TP Hồ Chí Minh năm2017” sử dụng bộ công cụ WHOQOL- BREF cho ra kết quả điểm CLCS trungbình theo tường lĩnh vực tại thời điểm bắt đầu dao động từ 45,7 đến 52,7 và sau

6 tháng theo dõi là 41,7 đến 53,2[15]

Qua một số nghiên cứu trên, cho thấy bộ công cụ WHOQOL- BREF cótính tin cậy và tính giá trị cao nên việc lựa chọn bộ câu hỏi này là phù hợp vớimục tiêu nghiên cứu về CLCS của bệnh nhân THKG

1.4 Thang đo chuyên biệt cho khớp gối

Thang đo được sử dụng trong nghiên cứu này là OKS (Oxford KneeScore) và thang đo VAS (Visual Analog Score)

OKS là thang đo được phát triển bởi trường Đại học Oxford của Anhgồm có 12 câu hỏi dành cho bệnh nhân với cách tính điểm từ 4 – 0 với điểm 4(kết quả tốt nhất) và điểm 0 (kết quả xấu nhất)

VAS là thang đánh giá mức độ đau đo bằng mắt với 10 mức độ từ 1 – 10

để đánh giá đau có tính chất chủ quan trên bệnh nhân Bệnh nhân được quan

Trang 18

sát các hình vẽ gương mặt tương ứng các mức độ đau và lựa chọn hình phù hợp,

từ đó cho ra số điểm tương ứng[39]

Tác giả Trương Trí Hữu, Đoàn Quang Phương “Kết quả phục hồi chứcnăng khớp gối sau thay khớp gối toàn phần tại bệnh viện Chấn Thương ChỉnhHình” thực hiện phẫu thuật 76 khớp gối/71 bệnh nhân và đánh giá bệnh nhântrước và sau khi thay khớp với thang đo OKS và KFS Điểm trung bình OKStrước mổ 41,88 và sau mổ 88,20, điểm trung bình KFS trước mổ 41,80 và sau

mổ là 79,78 Tầm vận động gập gối trung bình sau phẫu thuật 3 tháng là 1030

và 12 tháng đạt 1150 (p<0,05)[9]

“Kết quả bước đầu thay khớp gối toàn phần tại bệnh viện Thống Nhất –

TP Hồ Chí Minh” của tác giả Võ Thành Toàn và cộng sự thực hiện phẫu thuậttrên 14 bệnh nhân có sử dụng thang đo OKS cho kết quả tỷ lệ bệnh nhân rất tốt62,3%, tốt 21,4% và trung bình 14,3% Nghiên cứu không chỉ đánh giá chứcnăng của khớp gối thông qua thang đo mà còn theo dõi yếu tố lâm sàng của tầmvận động khớp gối với độ gập trung bình ghi nhận được là 1100 [5]

1.5 Tổng quan tài liệu trong nước và quốc tế nghiên cứu về CLCS và các đặc tính lâm sàng ảnh hưởng đến CLCS của người thoái hóa khớp gối

Trên thế giới hiện nay, có nhiều nghiên cứu về CLCS của bệnh nhânTHKG và sử dụng nhiều công cụ để đo lường

Marcio Massao Kawano và cộng sự “CLCS của bệnh nhân THKG” thựchiện tại Brasil năm 2015 trên 93 đối tượng THKG với tuổi trung bình 61,2 vàthời gian thoái hóa khớp là 8,1 năm cho thấy CLCS của những bệnh nhân bịTHKG chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi trình độ học vấn, những bệnh nhân có trình

độ học vấn cao có CLCS tốt hơn hẳn so với nhóm có trình độ học vấn thấp bêncạnh đó là điều kiện về kinh tế Nghiên cứu sử dụng thang đo SF-36[35]

Trang 19

Hiroyuki Watanabe và cộng sự trong nghiên cứu “CLCS, chức năngkhớp gối và hoạt động thể chất ở phụ nữ trung niên Nhật Bản liên quan đếnTHKG giai đoạn sớm” đã sử dụng 2 công cụ là bộ câu hỏi WHOQOL-BREF

và WOMAC cho thấy các ảnh hưởng trên hoạt động sống của đối tượng nghiêncứu trong giai đoạn THKG sớm[52]

Bindawas và cộng sự “CLCS của bệnh nhân trước và sau khi thay khớpgối nhân tạo với thời gian theo dõi là 4 năm” cho thấy kết quả nghiên cứu 4676đối tượng trên 2 nhóm không thay khớp (-13.97 [0.73]; P<0.0001), trước khithay khớp (-21.34 [3.57]; P<0.0001), và sau khi thay khớp (-9.68 [3.94];P=0.0143) Chất lượng cuộc sống trong nhóm không thay khớp (-0.16 [0.07];P=0.226)[24]

Tác giả Akhtar Rasul và cộng sự “CLCS trước và sau phẫu thuật thaykhớp gối toàn phần” nghiên cứu CLCS được đánh giá trước phẫu thuật, sauphẫu thuật 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng dựa trên thang đo SF-36 với kết quả sứckhỏe thể chất thay đổi từ 20.18 đến 91.12 (SD: 6.27) sau 6 tháng, sức khỏe tinhthần thay đổi từ 28.25 đến 81.21 (SD: 7.48)[19]

Tác giả Suganthi Narayanasamy và cộng sự “CLCS trước và sau phẫuthuật thay khớp gối toàn phần hoặc bán phần tại cộng đồng Châu Á” nghiêncứu trên 2243 đối tượng với 2 nhóm : thay khớp gối toàn phần và bán phần.Tác giả cho thấy CLCS thay đổi trước và sau phẫu thuật 6 tháng, 24 tháng tươngứng sức khỏe thể chất và mức độ đau là 40.9 và 33.0 ở bệnh nhân thay khớpgối toàn phần so với 36.9 và 31.4 ở bệnh nhân thay khớp gối bán phần Thangđiểm OKS ở nhóm thay khớp toàn phần trước phẫu thuật là 39 ± 8 và sau phẫuthuật 6 tháng là 65 ± 6,5, nhóm thay bán phần có điểm OKS trước phẫu thuật

là 43 ± 8,1 và sau 6 tháng là 69 ± 6,3 Nghiên cứu không cho thấy có sự thayđổi nhiều giữa 2 nhóm đối tượng[49]

Trang 20

Nghiên cứu “Lượng giá CLCS của bệnh nhân thay khớp háng và khớpgối với bảng câu hỏi WHOQOL-BREF và WOMAC” của tác giả Ilana N.Ackerman và cộng sự thực hiện trên 279 đối tượng trước phẫu thuật và sauphẫu thuật theo dõi được 74 đối tượng Nghiên cứu đánh giá trước và sau khithay khớp 3 tháng cho thấy CLCS được cải thiện nhiều nhất ở lĩnh vực sứckhỏe thể chất với 44.1 ± 18.5 trước phẫu thuật và sau 3 tháng là 62.4 ± 16.9,các lĩnh vực khác có sự cải thiện chút ít tuy nhiên chức năng khớp gối thật sự

có những tiến bộ rất đáng ghi nhận Cụ thể ở lĩnh vực đau, cứng khớp giảmtrung bình 30 điểm/1 lĩnh vực và chức năng khớp gối tăng hơn 50% so vớitrước khi phẫu thuật theo thang đo WOMAC[32]

Hoạt động nghề nghiệp sẽ làm ảnh hưởng đến một số bệnh, trong đónhững nghề sử dụng khớp gối nhiều cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên khớp gối,điều này đã được chứng tỏ trong nhiều nghiên cứu Cụ thể Hannan đã chứngminh những người thường xuyên mang vác nặng, hay quỳ, hay ngồi xổm sẽ cónguy cơ thoái hóa khớp gối cao gấp đôi những người không ở trong tình trạngnày Hay trong nghiên cứu Framingham thì lại chứng minh số giờ lao độngnặng hàng ngày chính là nguy cơ của thoái hóa khớp gối[26]

Tình trạng thừa cân béo phì cũng đã được nhiều nghiên cứu đề cập ảnhhưởng nhiều đến THKG Theo tác giả R Christensen trong “Giảm cân, mộtcách điều trị thoái hóa khớp gối”[26] cho rằng khi cân nặng giảm 10% thì chứcnăng khớp gối tăng 28% hoặc theo J Aaboe và cộng sự nghiên cứu can thiệpgiảm cân trên các đối tượng béo phì bị THKG[16] cho thấy khi cân nặng giảm1kg thì khớp gối giảm tải lực 2,2kg (p<0,001) điều này giúp làm chậm lại quátrình tổn thương của khớp

Steultjens và cộng sự báo cáo rằng việc giảm sức mạnh cơ tứ đầu đùichiếm từ 15% đến 20% tình trạng suy giảm chức năng chi dưới và 5% đau đầu

Trang 21

gối liên quan thoái hóa khớp Steultjens và cộng sự cũng đã đưa ra kết luận rằngkhớp vận động hạn chế là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng tàntật ở bệnh nhân bị thoái hóa khớp gối[47].

Jinks và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu “Sử dụng bộ công cụ KNEST

để khảo sát vấn đề đau khớp gối trong dân số có độ tuổi >50 tại Vương QuốcAnh” thực hiện cắt ngang trên 8996 đối tượng có vấn đề đau tại khớp gối Họkết luận rằng có đến một nửa số người từ 50 tuổi trở lên bị đau khớp gối trongsuốt một năm(56%) và 1/4 bị đau đầu gối nặng dẫn đến không thể làm gìđược[34]

Tác giả Carol A Oatis tác giả quyển “Vận động học: Cơ chế và sinh cơhọc vận động của con người”[40] đề cập đến sự vận động bình thường của khớpgối dao động từ 00 – 1400 trong đó 00 là tầm vận động đầu (duỗi gối) và 1400 làtầm vận động cuối (gập gối) Khớp gối tham gia vào tất cả các hoạt động chứcnăng của chi dưới với biên độ rộng cho phép con người di chuyển, thay đổi vịthế Cử động gập khớp gối có sự thay đổi trong khoảng từ 1300 – 1400 tùy thuộcvào khả năng hoạt động của mỗi cá nhân mà biên độ có thể tăng giảm trongphạm vi cho phép

Tác giả A Kornuijt và cộng sự trong nghiên cứu “Sự phục hồi tầm vậnđộng khớp gối sau phẫu thuật thay khớp gối vài tuần đầu, phát hiện sớm sựphục hồi kém” cho thấy sự phục hồi ROM gập gối đạt từ 800 đến 1100 và ROMduỗi gối đạt từ 10,70 đến 3,20 trong 8 tuần sau phẫu thuật, tác giả nhấn mạnh sựquan tâm đến mức độ cải thiện lớn nhất của ROM gập gối trong 4 tuần sau phẫuthuật[37]

Có thể thấy rằng, nghiên cứu ở trên thế giới đã có những nghiên cứu liênquan đến yếu tố tác động đến tình trạng nguy cơ bị bệnh đối với cộng đồng dân

cư, tình trạng điều trị bệnh thoái hóa khớp đối với những người đang bị THKG

Trang 22

Chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng được phân tích dựa trên một số yếu

tố giới tính và trình độ học vấn, tình trạng kinh tế và các yếu tố hoạt động chứcnăng Sự thay đổi CLCS của bệnh nhân sau khi được phẫu thuật thay khớp đãđược ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới để thấy sự khác biệt nhưng ở ViệtNam việc ghi nhận còn rất hạn chế

1.6 Các nghiên cứu liên quan trên nhóm đối tượng thoái hóa khớp gối ở Việt Nam

Tỉ lệ các nhóm tuổi giữa hai nhóm bệnh – chứng tương đối đồng đềunhau, tập trung nhiều ở độ tuổi từ 50 - 60 tuổi, đây cũng là lứa tuổi chiếm đa

số trong nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Nga[7] Theo nghiên cứu của Đỗ TânKhoa[3] thì tỉ lệ mắc bệnh thoái hóa khớp gối lại tập trung nhiều ở độ tuổi ≥ 65tuổi Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Nga có mối liên quan giữa BMI với thoáihóa khớp gối nguyên phát với OR = 4,67, KTC 95% là 2,45 – 8,95)

Tác giả Lê Quang Nhựt, Nguyễn Minh Đức, Cao Thanh Ngọc và Lê AnhThư thực hiện “Khảo sát thoái hóa khớp gối ở bệnh nhân cao tuổi tại khoa nội

cơ xương khớp bệnh viên Chợ Rẫy” cho thấy tỉ lệ thoái hóa khớp gối là 88,5%,bệnh nhân trên 70 tuổi có nguy cơ thoái hóa khớp gối cao hơn 11,2 lần so vớinhóm 60 – 70 tuổi trong đó hơn 90% có hiện tượng giới hạn ROM khớp gối[8]

Tác giả Nguyễn Ánh Chí và Lê Thanh Vân trong “Lượng giá và đo tầmvận động” có đề cập đến số đo tầm vận động trung bình của khớp gối trongcộng đồng ở Việt Nam là 00 - 1350[1] Trong đó tầm vận động duỗi gối bìnhthường sẽ được tính bằng 00 và tầm vận động gập gối bình thường sẽ từ 1350

trở lên

Yếu tố lâm sàng khớp gối được nhiều tác giả quan tâm khi tiến hành nghiêncứu về THKG trong đó chức năng và mức độ vận động khớp được đánh giá nhiềunhất Tác giả Nguyễn Trung Kiên, Đỗ Thị Kim Yến và Nguyễn Đức Công trong

Trang 23

nghiên cứu “ Khảo sát sự liên hệ giữa đặc điểm lâm sàng và hình ảnh X-quangkhớp gối trên bệnh nhân thoái hóa khớp gối” dựa trên thang điểm về chức năngcủa WOMAC và tầm vận động khớp gối trên lâm sàng để so sánh với hình ảnhhọc trong cận lâm sàng Mặc dù mối liên quan chưa cho ý nghĩa thống kê(p=0,103>0,05) nhưng cho thấy sự quan tâm về mặt lâm sàng là cần thiết khithực hiện nghiên cứu THKG[4].

Nghiên cứu về thực trạng bệnh thoái hóa khớp gối và hiệu quả nâng caonăng lực chẩn đoán cho thấy đề cập đến một số yếu tố tác động liên quan đếnvấn đề thoái hóa khớp gối nhưng không có những phân tích sâu và dẫn chứng

cụ thể, nghiên cứu tập trung phân tích vai trò của tuyến y tế cơ sở trong việcchẩn đoán, điều trị và tư vấn thoái hóa khớp gối Đối tượng can thiệp và nghiêncứu là đối tượng cán bộ y tế cơ sở và nhóm bị bệnh thoái hóa khớp gối

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bị thoáihóa khớp gối chưa được thực hiện nhiều cũng như chưa thu hút sự quan tâmcủa giới chuyên môn Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu xem xét các vấn đề liênquan đến bệnh nhân thoái hóa khớp với những khảo sát mức độ các yếu tố tácđộng như giới, độ tuổi, nhưng chưa có nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu vềchất lượng cuộc sống của nhóm đối tượng này THKG cũng là một dạng bệnhmạn tính không lây, thời gian bệnh kéo dài ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sốngcủa bệnh nhân, cần thiết phải được đánh giá CLCS để các các hướng cải thiệnthích hợp

1.7 Khái quát Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP Hồ Chí Minh

Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình Thành Phố Hồ Chí Minh tiền thân

là Trung Tâm Chấn Thương Chỉnh Hình TP HCM, chính thức trở thành bệnhviện Chấn Thương Chỉnh Hình TP HCM vào năm 2002, trực thuộc Sở Y tế

TP Hồ Chí Minh, là bệnh viện chuyên khoa hạng I, tuyến cuối về chấn thương

Trang 24

chỉnh hình của các tỉnh phía Nam Quy mô 500 giường nội trú, 1100 giườngngoại trú, đầy đủ các chuyên khoa sâu về chấn thương chỉnh hình như: khoachi dưới, khoa chi trên, khoa cơ xương khớp, khoa vi phẫu tạo hình….

Từ năm 2005 – 2009 bệnh viện đã thực hiện gần 700 ca thay khớp gối,trong 5 năm tiếp theo từ 2010 – 2014 là hơn 1400 ca, trong 6 tháng đầu năm

2018 số ca thay khớp gối là gần 200 ca Trung bình mỗi ngày bệnh viện thựchiện khoảng 2 – 3 ca phẫu thuật thay khớp gối, khoảng 15 ca/tuần và 60ca/tháng Trong đó có khoảng 75% là thỏa các tiêu chí chọn vào và loại ra củanghiên cứu

Bệnh viện là nơi sẳn sàng tạo điều kiện cho cán bộ y tế trong và ngoàibệnh viện đến thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến chuyênngành chỉnh hình cơ cương khớp Đôi nét về khoa Chi Dưới và khoa Khớp tạiBệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình thành phố Hồ Chí Mình là hai đơn vị lấymẫu trực tiếp trong nghiên cứu:

Khoa phẫu thuật Chi Dưới

Khoa Chi Dưới là khoa Lâm sàng điều trị các chấn thương, chỉnh hình

và bệnh lý thuộc về chi dưới Khoa vẫn thực hiện đầy đủ những chức năng vànhiệm vụ của một bệnh viện chuyên khoa hạng I, cụ thể: Cấp cứu, khám bệnh,chữa bệnh, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến dưới về chuyênmôn kĩ thuật, phòng bệnh, hợp tác quốc tế và quản lý kinh tế

Khoa Chi Dưới là một trong những nơi đầu tiên thực hiện kỹ thuật thaykhớp háng và khớp gối nhân tạo trên toàn Việt Nam

Sau hơn 20 năm phát triển, khoa Chi dưới vẫn phát huy thế mạnh củamình đã được đào tạo bài bản và chuẩn mực, trở thành thương hiệu cho BVCTCH TP Hồ Chí Minh, được các đồng nghiệp nước ngoài và trong nước đánhgiá cao Số lượng và chất lượng điều trị ngày càng cao Cụ thể trong 5 năm

Trang 25

(2005-2009) tổng số thay khớp háng và khớp gối nhân tạo là 1.413 ca Trong 5năm (2010-2014) là 2953 ca, tăng gấp hơn 02 lần 5 năm trước.

Khoa Khớp

Khoa Khớp là khoa lâm sàng khám và điều trị các bệnh lý về khớp cảnội khoa và ngoại khoa Khoa ứng dụng kỹ thuật cao trong điều trị thay khớpháng, thay khớp gối, phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo, phẫu thuật cột sống.Với bề dày lịch sử hoạt động hơn 26 năm, khoa Khớp không ngừng phát triểnmạnh mẽ về chuyên môn, cập nhật và ứng dụng các thành tựu y học mới nhấttrong công tác điều trị các bệnh về khớp

Trang 26

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu cắt ngang mô tả từ tháng 12/2018 đến tháng 7/2019 tại bệnhviện Chấn Thương Chỉnh Hình thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Dân số mục tiêu: Bệnh nhân được chẩn đoán thoái hóa khớp gối theo tiêu

chuẩn chẩn đoán thoái hóa khớp gối ACR (The American College ofRheumatology) và được chỉ định thay khớp gối toàn phần tại bệnh viện ChấnThương Chỉnh Hình thành phố Hồ Chí Minh[6, 11, 43]

2.2.2 Dân số chọn mẫu: Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật thay khớp gối

toàn phần và nhập viện ở bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình Thành Phố HồChí Minh

2.2.3 Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân bị thoái hóa khớp gối được chỉ định

thay khớp gối toàn phần

2.2.4 Cỡ mẫu: sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một trung bình

𝑛 = 𝑧 1−𝑎 2 2 ⁄ 𝜎

2

𝑑 2Trong đó:

N : cỡ mẫu

α : xác suất sai lầm loại 1 (α = 0,05)

Z1-α/2 : Trị số từ phân phối chuẩn (Z0,975=1,96)

δ : Độ lệch chuẩn

d : Sai số biên

Trang 27

Với độ lệch chuẩn: 19.3[35] và Sai số biên: 5 Thay vào công thức ta cómẫu là 131 với mẫu 5% dự phòng thì tổng mẫu dự kiến thực hiện của nghiêncứu là: 138 bệnh nhân.

2.2.5 Kỹ thuật chọn mẫu:

Mẫu được lựa chọn theo hình thức chọn mẫu toàn bộ các bệnh nhân đượcchỉ định phẫu thuật thay khớp gối toàn phần và được thực hiện tại bệnh việnCTCH TP HCM từ tháng 12/2018 đến hết tháng 7/2019 Dựa vào danh sáchbệnh nhân chuẩn bị thay khớp gối được ghi nhận từ Khoa Chi Dưới và khoaKhớp của bệnh viện CTCH TP.HCM từ đó lập danh sách và chọn các bệnhnhân thỏa tiêu chí chọn mẫu để tiến hành phỏng vấn trực tiếp

2.2.6 Tiêu chí đưa vào và loại ra

Tiêu chí chọn vào:

− Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật thay khớp gối toàn phần tại BV CTCHTP.HCM

− Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại ra:

− Bệnh nhân đã được thực hiện phẫu thuật thay khớp gối toàn phần trước đó

− Bệnh nhân bị đoạn chi trên hoặc dưới

− Bệnh nhân không thể nghe, đọc và hiểu tiếng Việt

− Bệnh nhân không có khả năng trả lời phỏng vấn

2.2.7 Kiểm soát sai lệch lựa chọn

Khi tiến hành nghiên cứu, các bệnh nhân được sàng lọc để đảm bảo đốitượng chọn vào nghiên cứu phải đúng tiêu chí chọn vào và loại ra Việc lựachọn đối tượng dựa trên số liệu các bệnh nhân bị THKG nhập viện để chuẩn bịđược phẫu thuật thay khớp gối Đồng thời giải thích rõ mục tiêu nghiên cứu

Trang 28

cho đối tượng, tránh trường hợp ngại chia sẻ thông tin hoặc thông tin khôngchính xác.

2.3 Biến số nghiên cứu

2.3.1 Liệt kê và định nghĩa biến số

2.3.1.1 Nhóm biến số nền về đặc điểm dân số

Tuổi: biến định lượng

Tuổi = 2019 – năm sinh

Nhóm tuổi: phân nhóm dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên và cộng

sự thực hiện khảo sát các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng khớp gối trên đốitượng THKG[4]

Dưới 60 tuổi

Từ 60 tuổi trở lên

Giới tính: biến nhị giá

1 Nam- 2 Nữ

Trình độ học vấn: biến số nhị giá

Từ Tiểu học trở xuống

Từ THCS trở lên

Tình trạng hôn nhân: biến nhị giá gồm 2 giá trị

Độc thân/Ly thân/ly dị/góa vợ,chồng

Đang sống với vợ/chồng

Điều kiện kinh tế là cảm nhận của đối tượng nghiên cứu về sự chênh lệch giữa

thu nhập hiện có và mức chi tiêu, đánh giá chủ quan từ bệnh nhân Biến thứ tựgồm 3 giá trị :

Trang 29

Kinh tế thiếu thốn

Kinh tế đủ sống

Kinh tế dư dã

Chỉ số khối cơ thể BMI : Cân nặng và chiều cao được hỏi trực tiếp bệnh nhân

(Body Mass Index): BMI = Cân nặng/(chiều cao)² = kg/m² Phân loại BMI theoHiệp hội Đái tháo đường Châu Á chia các mức độ:

Bình thường: BMI<23

Thừa cân, béo phì: BMI ≥23

2.3.1.2 Nhóm biến số về đặc điểm bệnh

Tiền sử gia đình bị THKG: biến nhị giá gồm 2 giá trị được xác định là có khi

có người thân trong gia đình được chẩn đoán THKG trước đó

1 Có – 2 Không

Thời gian bị THKG: tính từ khi có triệu chứng đau khớp gối đầu tiên được

khai thác qua bệnh sử, thời gian tính bằng số năm

Các bệnh kèm theo: tính tại thời điểm thực hiện phỏng vấn bệnh nhân có đang

sử dụng thuốc để điều trị các bệnh đái tháo đường, cao huyết áp, rối loạn mỡmáu và loãng xương hay không? Có 2 giá trị

1 Có : bệnh nhân có đang sử dụng thuốc để điều trị các bệnh kèm theo

2 Không

Bệnh đái tháo đường (có, không)

Bệnh cao huyết áp (có, không)

Bệnh rối loạn mỡ máu (có, không)

Bệnh loãng xương (có, không)

Trang 30

Tập Vật Lý Trị Liệu trước và sau phẫu thuật : biến số nhị giá

1 Có: tính đến thời điểm thực hiện phỏng vấn bệnh nhân có tập luyện cácbài tập khớp gối hoặc các phương thức điều trị Vật lý trị liệu khác cho khớpgối

▪ Tầm vận động đầu của khớp gối[1, 40, 48, 50]: mức độ duỗi gối làbiến số nhị giá

Bình thường : khớp gối ở vị thế 00 khi đặt thước đo

Thiếu duỗi : khớp gối ở vị thế > 00 khi đặt thước đo

▪ Tầm vận động cuối của khớp gối[1, 40, 48, 50]: mức độ gập gối làbiến số nhị giá

Bình thường : khớp gối gập được đến 1350 – 1400

Thiếu gập : khớp gối gập không đạt đến 1350

Trang 31

Dàn ý liên hệ giữa các biến số

ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ XÃ HỘI

- Thang đo OKS

- Thang đo VAS

Trang 32

Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu gắn với công cụ đánh giá

1 Đặc điểm dân số xã hội

- Tầm vận động khớp gối Thước đo góc 3600

Trang 33

2.3.1.3 Nhóm biến số đo lường chất lượng cuộc sống, thang điểm OKS chuyên biệt cho khớp gối, thang đo đau VAS – Biến số kết cuộc

Theo WHO: “Chất lượng cuộc sống là sự nhận thức cá nhân về vị trí của

họ trong cuộc sống phù hợp với văn hóa và giá trị mang tính chất hệ thống ởnơi mà họ sinh sống và phù hợp với mối quan hệ, mục đích, sự kì vọng, trình

độ và mối quan tâm của họ”[13]

Bộ câu hỏi WHOQOL-BREF

Chỉ số đo lường chất lượng cuộc sống, dựa trên bộ câu hỏi WHOQOLcủa WHO Nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng minh thang đo WHOQOL-Bref có độ tin cậy và tính giá trị cao với hệ số Alpha dao động từ 0,6 đến 0,8[15,41]

WHOQOL gồm có 26 mục hỏi với 4 nội dung chính đo lường chất lượngcuộc sống, bao gồm: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, quan hệ xã hội, môitrường sống Thứ tự mục câu và và thứ tự các câu hỏi liên quan cho 4 lĩnh vựcđược tóm tắt qua bảng sau:

Bảng 2.2 Tóm tắt về thứ tự mục và các câu hỏi liên quan của 4 lĩnh vực trong

* Cách tính điểm theo WHOQOL-Bref

Điểm cho mỗi nội dung được tính từ 0 - 100, trong đó, điểm càng caotương ứng với CLCS càng tốt Điểm cụ thể với từng câu xác định dựa vào thứ

Trang 34

tự câu trả lời được lựa chọn tương ứng từ 1-5.

Thang điểm OKS

Oxford Knee Score là thang điểm đánh giá chuyên biệt chức năng vàmức độ đau của khớp gối do trường Đại Học Oxford Vương quốc Anh xâydựng và phát triển[28, 29, 33] Hệ số Alpha của thang điểm dao động 0,8 –0,9[28, 33, 51] OKS gồm có 12 mục hỏi với 2 nội dung chính là chức năngkhớp gối và mức độ đau khớp gối

Bảng 2.3 Tóm tắt các câu hỏi liên quan của 2 vấn đề trong thang điểm OKS

Chuyển đổi điểm thô thành điểm chuyển đổi (0 – 100) như sau :

- Chức năng khớp gối = Tổng điểm (2, 3, 7, 11, 12) * 5

- Mức độ đau = Tổng điểm (1, 4, 5, 6, 8, 9, 10) * 3,57

Thang đo VAS

Visual Analogue Scale là một thang đo đã được Hayes và Patterson pháttriển năm 1921 để đánh giá các mức độ đau mà bệnh nhân cảm nhận được mộtcách chủ quan Thang đo từ 0 đến 10 tương ứng với mức 0 là hoàn toàn khôngđau và 10 là mức độ đau dữ dội [39] Hệ số Alpha của thang đo >0,8[39]

Trang 35

2.4 Công cụ và thu thập số liệu

2.4.1 Các công cụ nghiên cứu

Các công cụ để thu thập dữ kiện, bao gồm:

- Bảng câu hỏi (đính kèm ở phụ lục 1)

- Thước đo góc 3600

Hình 2.1 Thước đo góc 360 0

Trang 36

2.4.2 Kỹ thuật đo tầm vận động khớp

Hình 2.2 Tư thế đo khởi đầu

Hình 2.3 Tư thế đo kết thúc

Trang 37

2.4.3 Kỹ thuật thu thập số liệu

Nghiên cứu viên phải nắm chắc ý nghĩa của từng câu hỏi trong bộ câuhỏi, cách thức phỏng vấn và điền bộ câu hỏi cho đúng tránh hiểu sai và điềnkhông đúng dẫn đến sai lệch kết quả điều tra Nghiên cứu viên nắm chắc ý nghĩa

và cách điền của từng loại câu hỏi

Nghiên cứu viên phải ghi chính xác câu trả lời của đối tượng, không gợi

ý dẫn đến sai lạc kết quả điều tra

Nắm vững kỹ năng đo tầm vận động khớp gối

Thực hiện phỏng vấn

Sàng lọc đối tượng nghiên cứu: dựa trên các tiêu chí đưa vào loại ra.Tiến hành phỏng vấn theo bảng hỏi đảm bảo thực hiện các bước, yêu cầu

đã được tập huấn Thực hiện thao tác đo tầm vận động khớp đúng kỹ thuật

Cách đánh giá: bảng hỏi phải đảm bảo đầy đủ thông tin; thông tin ghi rõràng, không sai logic

2.4.4 Kiểm soát sai lệch thông tin

Bộ câu hỏi được thiết kế với từ ngữ rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với mụcđích đặt ra và dựa trên tài liệu y văn liên quan

Nghiên cứu viên nắm vững đầy đủ về nội dung, cách thức thực hiệnphỏng vấn, cách điền và kiểm tra bộ phiếu hỏi sau khi phỏng vấn

2.5 Phân tích dữ kiện

Số liệu sau khi thu thập về sẽ được mã hõa và nhập liệu vào máy tínhtheo chương trình Epidata 3.1 Sau đó được trích xuất và xử lý bằng phần mềmStata 14 để phân tích các chỉ số thống kê, đưa số liệu vào bảng và trình bày,phục vụ viết báo cáo luận văn

Trang 38

2.5.1 Thống kê mô tả

Đối với biến định tính, mô tả tần số và tỉ lệ phần trăm các biến số nhưnhóm tuổi, giới, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, nghề nghiệp, tình trạng hônnhân

Đối với biến định lượng, mô tả trung bình và độ lệch chuẩn đối với cácbiến số: độ tuổi, BMI, mức độ đi khám bệnh, thời gian bị bệnh, tầm vận độngkhớp gối và các biến số liên quan đến chất lượng cuộc sống, mức độ chức năngkhớp gối, thang điểm đau

2.5.2 Thống kê phân tích

Sử dụng kiểm định T để so sánh CLCS trung bình theo giới, trình độ họcvấn, tình trạng hôn nhân, chỉ số BMI, tiền sử bệnh của gia đình, tập VLTL trướcphẫu thuật, nhóm tuổi và tầm vận động khớp gối

Sử dụng kiểm định ANOVA để so sánh điểm CLCS trung bình theo điềukiện kinh tế

Sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến so sánh điểm CLCS trungbình theo thời gian bệnh và đa biến đối với phân tích tương quan giữa nhiềubiến độc lập với các biến phụ thuộc để tìm ý nghĩa thực sự của các mối tươngquan

Các biến số được đưa vào mô hình hồi quy tuyến tính bao gồm: giới,nhóm tuổi, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, tầm vận động khớp, thang điểmOKS, thời gian thoái hóa khớp, các bệnh lý kèm theo[4, 18, 35, 37, 52] Việcđưa các biến số dựa trên một số nghiên cứu gần đây: Kawano và cộng sự tìmthấy mối liên quan giữa CLCS của bệnh nhân THKG và trình độ học vấn vớip=0,01[35], Ilana M Ackerman cho rằng yếu tố tuổi và giới tác động đến CLCScủa các bệnh nhân THKG đặc biệt là lĩnh vực sức khỏe thể chất (p<0,01)[18],

Trang 39

yếu tố lâm sàng như tầm vận động khớp, chức năng khớp, mức độ đau và thờigian thoái hóa khớp có mối liên quan đến bệnh THKG theo các nghiên cứu củanhiều tác giả Hiroyuki Watanabe và cộng sự[52], Kornuijt, A và cộng sự trongnghiên cứu phục hồi tầm vận động khớp của bệnh nhân THKG[37], NguyễnTrung Kiên trong nghiên cứu khảo sát các đặc tính lâm sàng khớp gối trongTHKG[4].

Trang 40

2.6 Vấn đề y đức

Nghiên cứu được sự đồng ý và phê duyệt của trường Đại học Y dượcThành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 428/ĐHYD-HĐĐĐ, sự chấp thuậncủa Hội đồng Y Đức tại bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP Hồ Chí Minh

Nghiên cứu luôn đảm bảo những nguyên tắc sau :

− Bệnh nhân được giải thích rõ ràng mục đích của nghiên cứu cũng nhưviệc sử dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn và phải ký tên đồng ý thamgia nghiên cứu

− Luôn tôn trọng ý kiến bệnh nhân khi tiến hành nghiên cứu

− Bệnh nhân được phép không trả lời bất kỳ câu hỏi nào nếu chưa hiểu rõhoặc liên quan đến vấn đề cá nhân

− Bệnh nhân có quyền dừng tham gia nghiên cứu bất kỳ lúc nào khi đangthực hiện phỏng vấn mà không cần đưa ra bất kỳ lý do nào

− Tất cả số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu khôngđược sử dụng vào bất kỳ mục đích nào khác

− Nghiên cứu chỉ thực hiện phỏng vấn trả lời bảng câu hỏi

Ngày đăng: 14/04/2021, 17:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. J. Aaboe, H. Bliddal, S. P. Messier, T. Alkjaer, và M. Henriksen (2011), Effects of an intensive weight loss program on knee joint loading in obese adults with knee osteoarthritis, Osteoarthritis Cartilage, số 19(7), tr. 822-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of an intensive weight loss program on knee joint loading in obese "adults with knee osteoarthritis
Tác giả: J. Aaboe, H. Bliddal, S. P. Messier, T. Alkjaer, và M. Henriksen
Năm: 2011
17. S. G. Abram, F. Nicol, và S. J. Spencer (2016), Patient reported outcomes in three hundred and twenty eight bilateral total knee replacement cases (simultaneous versus staged arthroplasty) using the Oxford Knee Score, Int Orthop, số 40(10), tr. 2055-2059 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Patient reported outcomes in "three hundred and twenty eight bilateral total knee replacement cases "(simultaneous versus staged arthroplasty) using the Oxford Knee Score
Tác giả: S. G. Abram, F. Nicol, và S. J. Spencer
Năm: 2016
18. I. N. Ackerman, S. E. Graves, K. L. Bennell, và R. H. Osborne (2006), Evaluating quality of life in hip and knee replacement: Psychometric properties of the World Health Organization Quality of Life short version instrument, Arthritis Rheum, số 55(4), tr. 583-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating quality of life in hip and knee replacement: Psychometric "properties of the World Health Organization Quality of Life short version "instrument
Tác giả: I. N. Ackerman, S. E. Graves, K. L. Bennell, và R. H. Osborne
Năm: 2006
19. Abdul Munem Akhtar Rasul (2014), Quality of life before and after totalknee replacement, Rawal Medical số 39(3), tr. 289-291 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life before and after totalknee "replacement
Tác giả: Abdul Munem Akhtar Rasul
Năm: 2014
20. I. L. Araujo, M. C. Castro, C. Daltro, và M. A. Matos (2016), Quality of Life and Functional Independence in Patients with Osteoarthritis of the Knee, Knee Surg Relat Res, số 28(3), tr. 219-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of Life "and Functional Independence in Patients with Osteoarthritis of the Knee
Tác giả: I. L. Araujo, M. C. Castro, C. Daltro, và M. A. Matos
Năm: 2016
21. M. Ateef, M. M. Alqahtani, M. Alzhrani, và S. Alshewaier (2019), Physical Function and Quality of Life and Modification of Authentic Islamic Prayer Procedure by Osteoarthritis Knee Patients in Saudi Arabia: A Cross-sectional Study, J Relig Health Sách, tạp chí
Tiêu đề: Physical "Function and Quality of Life and Modification of Authentic Islamic Prayer "Procedure by Osteoarthritis Knee Patients in Saudi Arabia: A Cross-sectional "Study
Tác giả: M. Ateef, M. M. Alqahtani, M. Alzhrani, và S. Alshewaier
Năm: 2019
22. J. N. Belo, M. Y. Berger, B. W. Koes, và S. M. Bierma-Zeinstra (2009), The prognostic value of the clinical ACR classification criteria of knee osteoarthritis for persisting knee complaints and increase of disability in general practice, Osteoarthritis Cartilage, số 17(10), tr. 1288-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The "prognostic value of the clinical ACR classification criteria of knee "osteoarthritis for persisting knee complaints and increase of disability in "general practice
Tác giả: J. N. Belo, M. Y. Berger, B. W. Koes, và S. M. Bierma-Zeinstra
Năm: 2009
23. M. Bernad-Pineda, J. de Las Heras-Sotos, và M. V. Garces-Puentes (2014), Quality of life in patients with knee and hip osteoarthritis, Rev Esp Cir Ortop Traumatol, số 58(5), tr. 283-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life in patients with knee and hip osteoarthritis
Tác giả: M. Bernad-Pineda, J. de Las Heras-Sotos, và M. V. Garces-Puentes
Năm: 2014
24. Saad M Bindawas (2018), Total knee arthroplasty status and patient-reported, knee-related quality of life over a 4-year follow-up period: data from the osteoarthritis initiative, Patient Preference and Adherence, số 12(2), tr. 477- 482 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Total knee arthroplasty status and patient-reported, "knee-related quality of life over a 4-year follow-up period: data from the "osteoarthritis initiative
Tác giả: Saad M Bindawas
Năm: 2018
25. L. H. Cao, S. C. Wang, Q. J. Zhang, Z. D. Li, Y. H. Ma, J. C. Su, và N. Du (2009), [Evaluation of the clinical effect of knee osteoarthritis treated with moxibustion according to WHOQOL-BREF], Zhongguo Gu Shang, số 22(11), tr. 813-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: [Evaluation of the clinical effect of knee osteoarthritis treated with "moxibustion according to WHOQOL-BREF]
Tác giả: L. H. Cao, S. C. Wang, Q. J. Zhang, Z. D. Li, Y. H. Ma, J. C. Su, và N. Du
Năm: 2009
26. R. Christensen, A. Astrup, và H. Bliddal (2005), Weight loss: the treatment of choice for knee osteoarthritis? A randomized trial, Osteoarthritis Cartilage, số 13(1), tr. 20-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Weight loss: the treatment of "choice for knee osteoarthritis? A randomized trial
Tác giả: R. Christensen, A. Astrup, và H. Bliddal
Năm: 2005
27. N. D. Clement, D. MacDonald, R. Burnett, và S. J. Breusch (2013), Diabetes does not influence the early outcome of total knee replacement: a prospective study assessing the Oxford knee score, short form 12, and patient satisfaction, Knee, số 20(6), tr. 437-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes "does not influence the early outcome of total knee replacement: a prospective "study assessing the Oxford knee score, short form 12, and patient satisfaction
Tác giả: N. D. Clement, D. MacDonald, R. Burnett, và S. J. Breusch
Năm: 2013
29. H. Dakin, A. Gray, và D. Murray (2013), Mapping analyses to estimate EQ- 5D utilities and responses based on Oxford Knee Score, Qual Life Res, số 22(3), tr. 683-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mapping analyses to estimate EQ-"5D utilities and responses based on Oxford Knee Score
Tác giả: H. Dakin, A. Gray, và D. Murray
Năm: 2013
30. J. Farr Ii, L. E. Miller, và J. E. Block (2013), Quality of life in patients with knee osteoarthritis: a commentary on nonsurgical and surgical treatments, Open Orthop J, số 7, tr. 619-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life in patients with "knee osteoarthritis: a commentary on nonsurgical and surgical treatments
Tác giả: J. Farr Ii, L. E. Miller, và J. E. Block
Năm: 2013
31. M. Fransen, L. Bridgett, L. March, D. Hoy, E. Penserga, và P. Brooks (2011), The epidemiology of osteoarthritis in Asia, Int J Rheum Dis, số 14(2), tr. 113- 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The epidemiology of osteoarthritis in Asia
Tác giả: M. Fransen, L. Bridgett, L. March, D. Hoy, E. Penserga, và P. Brooks
Năm: 2011
32. STEPHEN E. GRAVES ILANA N. ACKERMAN, KIM L. BENNELL, AND RICHARD H. OSBORNE (2006), Evaluating Quality of Life in Hip and Knee Replacement: Psychometric Properties of the World Health Organization Quality of Life Short Version Instrument, American College of Rheumatology, số 55(4), tr. 583–590 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating Quality of Life in Hip and Knee "Replacement: Psychometric Properties of the World Health Organization "Quality of Life Short Version Instrument
Tác giả: STEPHEN E. GRAVES ILANA N. ACKERMAN, KIM L. BENNELL, AND RICHARD H. OSBORNE
Năm: 2006
33. J. Y. Jenny và Y. Diesinger (2012), The Oxford Knee Score: compared performance before and after knee replacement, Orthop Traumatol Surg Res, số 98(4), tr. 409-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Oxford Knee Score: compared "performance before and after knee replacement
Tác giả: J. Y. Jenny và Y. Diesinger
Năm: 2012
34. C. Jinks, K. Jordan, B. N. Ong, và P. Croft (2004), A brief screening tool for knee pain in primary care (KNEST). 2. Results from a survey in the general population aged 50 and over, Rheumatology (Oxford), số 43(1), tr. 55-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A brief screening tool for "knee pain in primary care (KNEST). 2. Results from a survey in the general "population aged 50 and over
Tác giả: C. Jinks, K. Jordan, B. N. Ong, và P. Croft
Năm: 2004
35. M. M. Kawano, I. L. Araujo, M. C. Castro, và M. A. Matos (2015), Assessment of quality of life in patients with knee osteoarthritis, Acta Ortop Bras, số 23(6), tr. 307-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment "of quality of life in patients with knee osteoarthritis
Tác giả: M. M. Kawano, I. L. Araujo, M. C. Castro, và M. A. Matos
Năm: 2015
36. Y. Ko, S. Narayanasamy, H. L. Wee, N. N. Lo, S. J. Yeo, K. Y. Yang, W. Yeo, H. C. Chong, và J. Thumboo (2011), Health-related quality of life after total knee replacement or unicompartmental knee arthroplasty in an urban asian population, Value Health, số 14(2), tr. 322-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health-related quality of life after total "knee replacement or unicompartmental knee arthroplasty in an urban asian "population
Tác giả: Y. Ko, S. Narayanasamy, H. L. Wee, N. N. Lo, S. J. Yeo, K. Y. Yang, W. Yeo, H. C. Chong, và J. Thumboo
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w