1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện y học cổ truyền thành phố hồ chí minh năm 2015

140 205 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM .... Các yếu tố liên quan đến mô các bệnh thường gặp của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM ..

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trongbất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nhan Hồng Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Một số khái niệm về mô hình bệnh tật 5

1.2 Các yếu tố tác động đến mô hình bệnh tật 5

1.3 Một số đặc điểm mô hình bệnh tật trên thế giới 8

1.4 Tình hình bệnh tật ở Việt Nam 10

1.5 YHCT và các phương pháp điều trị 13

1.6 Công trình nghiên cứu có liên quan đến mô hình bệnh tật đến khám và điều trị YHCT 15

1.7 Phân loại bệnh tật 18

1.8 Khái quát về phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề liên quan đến sức khỏe lần thứ 10 (ICD-10) 23

1.9 Khái quát về danh mục bệnh Y học cổ truyền của Bộ Y tế 24

1.10 Sơ lược về Bệnh viện Y Học Cổ Truyền Thành Phố Hồ Chí Minh 26

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3 Cách tiến hành và phương pháp thu thập số liệu 29

Trang 5

2.4 Biến số và định nghĩa biến số 29

2.5 Xử lý số liệu 35

2.6 Sai lệch thông tin có thể gặp 36

2.7 Biện pháp khắc phục sai lệch thông tin 36

2.8 Vấn đề y đức 36

Chương 3: KẾT QUẢ 37

3.1 Đặc điểm của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM 37

3.2 Mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM 39

3.3 Các phương pháp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc 45

3.4 Các yếu tố liên quan đến mô các bệnh thường gặp của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM 50

3.5 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 54

Chương 4: BÀN LUẬN 59

4.1 Đặc điểm của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM 59

4.2 Mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM 63

4.3 Các phương pháp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc 71

4.4 Các yếu tố liên quan đến các bệnh thường gặp của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM 77

4.5 Điểm mạnh yếu và tính ứng dụng của đề tài 86

Chương 5: KẾT LUẬN 89

Trang 6

5.1 Mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT

TP.HCM 895.2 Các phương pháp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc 895.3 Các yếu tố liên quan đến các bệnh thường gặp của bệnh nhân điều trị

nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM 90

Trang 8

Phần 2: Các chữ viết tắt tiếng Anh

(Phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10)

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Xu hướng bệnh tật tử vong toàn quốc 1976-2012 10

Bảng 1.2: Cơ cấu bệnh tật và tử vong theo chương 11

Bảng 1.3: Các bệnh mắc cao nhất toàn quốc 12

Bảng 1.4: Phân bố 10 bệnh có tỷ lệ cao điều trị bằng YHCT tại các cơ sở YHCT công lập tỉnh Hưng Yên năm 2009 17

Bảng 3.1: Tuổi của nhóm nghiên cứu 37

Bảng 3.2: Các đặc điểm dịch tễ học 37

Bảng 3.3: Số bệnh mắc phải của bệnh nhân nội trú 39

Bảng 3.4: Số ngày điều trị của bệnh nhân nội trú 39

Bảng 3.5: Phân bố bệnh tật xếp theo chương bệnh ICD-10 40

Bảng 3.6: Phân bố 10 bệnh có tỷ lệ cao nhất theo ICD-10 42

Bảng 3.7: Phân bố 10 chứng YHCT có tỷ lệ cao nhất 43

Bảng 3.8: Tỷ lệ các chứng YHCT có trong danh mục bệnh của Bộ Y tế 44

Bảng 3.9: Phân bố bệnh danh YHCT 44

Bảng 3.10: Tỷ lệ các phương pháp điều trị 45

Bảng 3.11: Các nhóm thuốc YHHĐ thường dùng 45

Bảng 3.12: Các nhóm thuốc thành phẩm YHCT thường dùng 46

Bảng 3.13: Tổng số thuốc (YHHĐ + YHCT) bệnh nhân nội trú sử dụng 47

Bảng 3.14: Tỷ lệ dùng các loại thuốc YHCT 47

Trang 10

Bảng 3.15: Các loại phương pháp không dùng thuốc 48

Bảng 3.16: Tổng số phương pháp không dùng thuốc một bệnh nhân nội trú sử dụng 49

Bảng 3.17: Kết quả điều trị 49

Bảng 3.18: Các yếu tố liên quan đến bệnh mạch máu não 51

Bảng 3.19: Các yếu tố liên quan đến bệnh cột sống 52

Bảng 3.20: Các yếu tố liên quan đến bệnh thoái hóa khớp 52

Bảng 3.21: Các yếu tố liên quan đến bệnh trĩ 53

Bảng 3.22: Các yếu tố liên quan đến bệnh dây thần kinh mặt 53

Bảng 3.23: Các yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp nguyên phát 54

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Phân bố tỷ lệ 18 nhóm chứng bệnh được điều trị bằng YHCT tại

bệnh viện YHCT tỉnh Hưng Yên năm 2009 16

Biểu đồ 3.1: Đặc diểm về tháng nhập viện 38

Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh tật xếp theo chương bệnh ICD-10 41

Biểu đồ 3.3: Phân bố 10 bệnh có tỷ lệ cao nhất theo ICD-10 42

Biểu đồ 3.4: Phân bố 10 chứng YHCT có tỷ lệ cao nhất 43

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ các chứng YHCT có trong danh mục bệnh của Bộ Y tế 44

Biểu đồ 3.6: Các loại phương pháp không dùng thuốc 48

Biểu đồ 3.7: Phân bố các bệnh thường gặp theo khoa điều trị 50

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Y học cổ truyền là một hệ thống Y học toàn diện đặc trưng bởi cơ sở lýthuyết và kinh nghiệm thực tế của riêng mình Nó bao gồm các loại thuốcthảo dược, châm cứu và phương pháp không dùng thuốc khác Do mô hìnhđộc đáo và hiệu quả đáng kể với ít tác dụng phụ, hệ thống Y học này đã ngàycàng thu hút được nhiều mối quan tâm hơn trên trường quốc tế [53], [62]

Việt Nam là một quốc gia có nền YHCT lâu đời với bề dày kinhnghiệm hàng ngàn năm Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, YHCT

đã luôn đồng hành và trở thành một bộ phận văn hóa không thể tách rời củalịch sử dân tộc Nhận thức được giá trị của YHCT, Đảng và Nhà nước ta đã

có chính sách nhất quán coi YHCT là một bộ phận không thể tách rời trong hệthống khám chữa bệnh chung của ngành y tế Việt Nam Đồng thời có chủtrương kết hợp YHHĐ và YHCT để phục vụ sức khỏe cho nhân dân được tốtnhất [21], [25] Từ năm 1955, Việt Nam đã đưa YHCT vào mạng lưới y tếchung nhằm chăm sóc sức khỏe cho người dân Kết quả đến nay cả nước có

61 bệnh viện YHCT, hơn 70% trạm y tế xã phường có hoạt động khám chữabệnh bằng YHCT và có vườn thuốc nam Gần 30% số bệnh nhân được khám

và điều trị bằng YHCT hoặc kết hợp YHCT với YHHĐ trên tổng số bệnhnhân được khám chữa bệnh Bên cạnh đó có trên 10% số thuốc lưu hành trênthị trường là các chế phẩm của YHCT [9], [12], [18]

YHCT đã có nhiều minh chứng cho thấy các kinh nghiệm điều trị hiệuquả một số bệnh mạn tính như: tác dụng hạ áp của châm cứu, tác dụng hạđường huyết, tác dụng hạ lipid máu, tác dụng giảm đau chống viêm…của

thuốc YHCT [2], [4], [5], [8] Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về những loại bệnh nào thường đến điều trị YHCT và xây dựng các phác đồ điều trị kết hợp YHCT với YHHĐ cụ thể cho từng loại bệnh.

Trang 13

Một trong những đơn vị thực hành và nghiên cứu trong lĩnh vực YHCThiện nay là bệnh viện YHCT Trong công tác quản lý chất lượng bệnh viện vàthực hành y khoa thì việc xác định mô hình bệnh tật tại bệnh viện là việc làmhết sức cần thiết vì nó giúp cho bệnh viện và người thầy thuốc xây dựng kếhoạch chăm sóc sức khỏe bệnh nhân một cách toàn diện, đầu tư nguồn lực, đề

ra các phác đồ cho việc chẩn đoán, điều trị, dự phòng các bệnh thường gặpnhằm nâng cao chất lượng khám, điều trị và dự phòng cho bệnh nhân Xácđịnh tình hình bệnh tật tại bệnh viện còn thể hiện trình độ, khả năng chẩnđoán, phân loại bệnh tật theo các chuyên khoa để đảm bảo điều trị có hiệuquả Thực chất đó là khả năng đảm bảo phục vụ chăm sóc người bệnh củabệnh viện Bởi vì có phân loại, chẩn đoán đúng mới có thể tiên lượng đúng,điều trị đúng và có hiệu quả kinh tế cao, nhờ đó làm giảm tỷ lệ tử vong, tiếtkiệm chi phí thuốc men và các phương tiện khác Một số bệnh viện cũng đãkhảo sát mô hình bệnh tật của bệnh viện mình, tuy nhiên mô hình bệnh tật củacác bệnh viện thường khác nhau do mang tính đặc thù riêng cho từng bệnhviện theo chuyên khoa (bệnh viện Răng Hàm Mặt, bệnh viện Phụ sản…) hoặctheo lớp tuổi (bệnh viện Nhi Đồng I…) [38], [48], [55]

Việc xác định mô hình bệnh tật tại bệnh viện YHCT, sẽ là cơ sở khoahọc để xây dựng phác đồ điều trị kết hợp YHCT và YHHĐ, tạo sự thuận lợicho công tác điều trị, chỉ đạo tuyến và đào tạo phù hợp Vì vậy cần có mộtnghiên cứu hệ thống về tình hình cơ cấu bệnh tật của bệnh nhân đến khám vàđiều trị bằng YHCT

Trong điều kiện hiện tại, chúng tôi chọn bệnh viện YHCT TP.HCM làmột trong những cơ sở đầu ngành của khu vực phía Nam về YHCT để tiến

hành đề tài “Mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện

Y Học Cổ Truyền Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2015” trả lời cho câu hỏi

nghiên cứu:

Trang 14

Những bệnh tật phổ biến của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Y Học Cổ Truyền Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2015 là gì? nhằm

mục đích xác định các loại bệnh tật của một bộ phận bệnh nhân đến điều trịnội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM, qua đó có sơ sở khoa học để xây dựngphác đồ điều trị kết hợp YHCT và YHHĐ

Trang 15

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát:

Xác định mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh việnYHCT TP.HCM năm 2015

4 Phân tích các yếu tố liên quan đến các bệnh thường gặp của bệnh nhânđiều trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM

Trang 16

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm về mô hình bệnh tật

Mô hình bệnh tật là kết cấu tỷ lệ phần trăm các nhóm bệnh và các bệnhphổ biến nhất giúp cho định hướng lâu dài và kế hoạch phòng chống bệnh tậttrong giai đoạn tới và nghiên cứu khoa học [63] Từ mô hình bệnh tật người ta

có thể xác định được các bệnh tật phổ biến nhất, các bệnh nhiều nhất giúp chođịnh hướng lâu dài về kế hoạch phòng chống bệnh tật trong từng khu vực cụthể

Mô hình bệnh tật của một quốc gia, hay một địa phương, một cộngđồng là sự phản ánh tình hình sức khỏe, tình hình kinh tế - xã hội của quốc giahay cộng đồng đó Việc xác định mô hình bệnh tật giúp cho ngành y tế xâydựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho nhân dân một cách toàn diện, đầu tưcho công tác phòng chống bệnh có chiều sâu và trọng điểm, từng bước hạthấp tỷ lệ tử vong cho cộng đồng, nâng cao chăm sóc sức khỏe nhân dân Việcthống kê bệnh tật và tử vong tại cộng đồng là một việc cực kỳ khó khăn, đặcbiệt đối với các nước nghèo và đang phát triển Vì vậy, có thể xem kết cấubệnh tật và tử vong tại bệnh viện đa khoa là đại diện cho kết cấu bệnh tật và

tử vong của cộng đồng dân cư khu vực trực thuộc [23]

Trang 17

- Các yếu tố cấu trúc thấp: hòa bình, ổn định chính trị, phát triển kinh

tế và công bằng

- Các yếu tố cấu trúc cao: khẩu phần ăn, nước sạch, nhà cửa, y tế, giáo

dục

- Các yếu tố thuộc về lối sống: thuốc lá, rượu, tình dục, ma túy, lạm

dụng thuốc và các mạng lưới xã hội

1.2.1 Tuổi, giới tính và yếu tố di truyền

Tuổi và giới là một trong những yếu tố không biến đổi, quyết định về

cơ cấu dân số của một khu vực Về mặt bệnh tật, từng nhóm tuổi có nhữngđặc thù riêng Sơ sinh với những bệnh lý đặc thù như uốn ván rốn, nhiễmtrùng sơ sinh, trẻ đẻ thiếu tháng, ngạt sau khi sinh… Người già với các bệnh

lý đặc thù như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành… và cácbệnh lý ung thư thường gia tăng theo tuổi Các biến chứng sản khoa là bệnh lýđặc trưng của phụ nữ tuổi sinh đẻ, trong khi nhồi máu cơ tim thường chỉ xảy

ra ở phụ nữ tuổi mãn kinh Như vậy, cấu trúc dân số khác nhau giữa các khuvực là một trong những yếu tố làm khác biệt về mô hình bệnh tật và tử vonggiữa các khu vực đó [23]

Yếu tố di truyền, hay nói rộng ra là chủng tộc và nòi giống cũng có tácđộng đến cơ cấu bệnh tật Ngày nay, người ta phát hiện rất nhiều bệnh có liênquan ít nhiều đến yếu tố di truyền như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì[23]

1.2.2 Các yếu tố cấu trúc thấp

Hòa bình, ổn định chính trị góp phần phát triển kinh tế, làm giảm đi đóinghèo, từ đó làm giảm đi các bệnh tật đặc trưng của đói nghèo như suy dinhdưỡng, các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, lao) Phát triển kinh tế, mặt khác,

Trang 18

còn gây biến đổi về môi trường (do đô thị hóa tăng) làm gia tăng các bệnh do

ô nhiễm như bệnh đường hô hấp trên, bệnh nghề nghiệp, các sang chấn tâmthần kinh… Tăng công bằng giúp cho người nghèo có điều kiện tiếp cận tốthơn với các dịch vụ y tế, làm giảm đi chỉ số bệnh tật và tử vong ở nhóm ngườinày [23]

1.2.3 Các yếu tố cấu trúc cao

Khẩu phần ăn khác nhau cũng quy định nên các bệnh tật đặc trưng khácnhau Khẩu phần ăn ít đường ở người Eskimo có liên quan đến chỉ số bệnh vềrăng miệng rất thấp ở nhóm người này Khẩu phần ăn nhiều chất béo, nhiềuđạm làm gia tăng bệnh béo phì, là nền tảng của các bệnh rối loạn chuyển hóalipid, bệnh xơ vữa động mạch và các bệnh lý tim mạch khác [23]

Nước sạch và nhà cửa có ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu bệnh tật, cácbệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, lỵ, thương hàn, tả, sốt xuất huyết Mạnglưới y tế cơ sở phát triển giúp chăm sóc sức khỏe toàn dân tốt hơn và đặc biệthạn chế tỷ lệ mắc các bệnh nhờ vào tiêm chủng mở rộng Chăm sóc thai sảntốt giúp hạn chế các tai biến sinh đẻ và hậu sản, phòng chống được suy dinhdưỡng bào thai Phòng bệnh tốt giúp hạn chế tỷ lệ mắc các bệnh sốt rét, cácrối loạn do thiếu iode Giáo dục tốt giúp nâng cao dân trí, tăng khả năng hiểubiết về phòng chống bệnh tật cũng là một yếu tố quan trọng góp phần giảm tỷ

lệ mắc bệnh và tử vong do thiếu hiểu biết trong cộng đồng [17], [22]

1.2.4 Các yếu tố thuộc về lối sống

Yếu tố này ngày càng được quan tâm vì những lợi ích của nó trong việclàm giảm tỷ lệ mắc bệnh cũng như tử vong của nhiều bệnh Hút thuốc lá làyếu tố nguy cơ của nhiều bệnh, chủ yếu là bệnh không lây nhiễm như nhiềuloại ung thư, bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, bệnhphổi tắc nghẽn mạn tính và các bệnh phổi mạn tính khác Thuốc lá cũng làm

Trang 19

tăng nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm như lao, nhiễm khuẩn đường hôhấp Rượu với số lượng thích hợp giúp cho tiêu hóa tốt, nhưng với số lượngvượt quá có thể dẫn đến bệnh gan do rượu, sa sút về tâm thần và đặc biệt còn

là nguồn gốc của tai nạn giao thông Lối sống cũng tác động đến sức khỏenhư lối sống tĩnh tại, ít hoạt động dễ gây các bệnh chuyển hóa, tim mạch.Ngược lại quá bận rộn, stress cũng ảnh hưởng đến một số bệnh như tănghuyết áp, bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não Lạm dụng thuốc làm giatăng các tai biến do thuốc và nghiêm trọng hơn là gia tăng tính kháng thuốccủa các chủng vi khuẩn, khiến cho việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn ngàycàng khó khăn hơn [17], [23]

đô thị, thể hiện qua chỉ số mắc những bệnh của thế giới văn minh, những bệnh

do ô nhiễm môi trường Vùng nông thôn đồng bằng: nguồn nước sinh hoạtvẫn thiếu và không đảm bảo vệ sinh, tỷ lệ gia đình có hố xí vệ sinh thấp, ônhiễm bụi đất sinh hoạt cao Mô hình bệnh tật của vùng nông thôn đồng bằngmang đặc trưng của khu công nhiệp chậm phát triển [1]

1.3 Một số đặc điểm mô hình bệnh tật trên thế giới

Mô hình bệnh tật trên thế giới ở mỗi nước phụ thuộc vào trình độ pháttriển kinh tế - xã hội của từng nước Có ba hình thái:

- Mô hình bệnh tật ở các nước chậm phát triển: bệnh nhiễm trùng cao,

bệnh mạn tính không nhiễm trùng thấp

Trang 20

- Mô hình bệnh tật ở các nước đang phát triển: bệnh nhiễm trùng thấp,

bệnh mạn tính không nhiễm trùng là chủ yếu

- Mô hình bệnh tật của các nước phát triển: bệnh tim mạch, bệnh đái

tháo đường, ung thư, bệnh nghề nghiệp, bệnh lý người cao tuổi là chủ yếu[23]

Đặc điểm bệnh tật của các nước phát triển là bệnh tật chủ yếu rơi vàonhóm tuổi đã quá tuổi lao động, chủ yếu là người già [39], [50] Ở các nướcđang phát triển, bệnh tật chủ yếu rơi vào nhóm tuổi rất trẻ, đang trong độ tuổilao động sản xuất [48]

Những nghiên cứu của thế giới trong nhiều năm đã chứng minh sứckhỏe và mô hình bệnh tật của mỗi nước phản ánh trung thực điều kiện sinhsống về kinh tế, xã hội, văn hóa, tập quán và yếu tố môi trường

Brunei là một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người caonhất thế giới và đầu tư y tế cho một người dân lớn nhất thế giới Trong mườibệnh hàng đầu hay gặp, chỉ có một bệnh nhiễm khuẩn là bệnh nhiễm khuẩnđường hô hấp, còn lại chủ yếu là bệnh không lây như: tim mạch, đái tháođường, hen… Ngược lại Campuchia, một đất nước nghèo, các bệnh thườnggặp lại là sốt rét, lao, tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết, nhiễm khuẩn hô hấp cấp…

là các bệnh phổ biến ở những nước đang phát triển [60]

Cùng là các vùng lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng mô hình bệnh tật ởHồng Kông và Ma Cao có sự khác biệt rõ rệt Hồng Kông trước năm 1997 làthuộc địa của Anh, có mức sống cao, do đó mô hình bệnh tật của Hồng Kônggần giống mô hình bệnh tậ của những nước phát triển Ở Hồng Kông, trongnăm bệnh hàng đầu chỉ có hai bệnh nhiễm trùng là viêm đường hô hấp cấp vàbệnh da, ngược lại ở Ma Cao, năm bệnh hàng đầu đều là các bệnh lây: lao,viêm gan B, viêm gan C…[61]

Trang 21

Từ năm 1974, văn phòng của Tổ chức Y tế thế giới vùng Tây Thái BìnhDương đưa ra thống kê định kỳ về mô hình bệnh tật và tử vong nói chung,cùng với tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, ngân sáchđầu tư y tế, chiến lược phát triển y tế… của từng quốc gia và vùng lãnh thổtrong khu vực Các nước đang phát triển, bệnh nhiễm khuẩn và suy dinhdưỡng vẫn còn phổ biến tuy nhiên các bệnh này có xu hướng ngày càng giảm.Các bệnh không lây như: tim mạch, ung thư, dị tật bẩm sinh, di truyền,chuyển hóa, béo phì đang có xu hướng tăng lên và đặc biệt cùng với sự pháttriển của xã hội hiện đại các tai nạn, ngộ độc, chấn thương… có xu hướngtăng rõ rệt [60], [61], [64].

1.4 Tình hình bệnh tật ở Việt Nam

Mô hình bệnh tật ở nước ta đang xen giữa nhiễm trùng và không nhiễmtrùng, giữa bệnh cấp tính và mạn tính Xu hướng bệnh không nhiễm trùng vàbệnh mạn tính ngày càng cao [23]

Theo thống kê của Bộ Y tế, xu hướng bệnh tật và tử vong toàn quốctrong các năm như sau [14]:

Bảng 1.1: Xu hướng bệnh tật tử vong toàn quốc 1976-2012 (Đơn vị: %)

chấn thương

(Nguồn: Niêm giám thống kê y tế, Bộ Y tế, 2012.)[14]

Hiện nay, tỷ lệ bệnh không nhiễm trùng đã cao hơn bệnh nhiễm trùng.Trong tương lai, xu hướng mô hình bệnh tật nước ta vẫn theo hướng của cácnước đang phát triển, nghĩa là bệnh nhiễm trùng giảm dần, bệnh không nhiễm

Trang 22

trùng tăng dần Nguyên nhân là do sự phát triển đô thị hóa làm tăng các tainạn, nhất là tai nạn giao thông Sự ô nhiễm môi trường làm tăng các bệnh ungthư, bệnh ngộ độc do hóa chất bảo vệ thực vật, ngộ độc thực phẩm Tuổi thọngày càng cao, số người lớn tuổi ngày càng nhiều, tỷ lệ tim mạch tăng lênđáng kể Mức sống dân cư ngày càng tăng cũng làm tăng những bệnh béo phì,đái tháo đường, tăng huyết áp [23].

Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2012, cơ cấu bệnh tật và tử vong toànquốc theo chương như sau [14]:

Bảng 1.2: Cơ cấu bệnh tật và tử vong theo chương (Đơn vị: %)

17 Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường của nhiễm

sắc thể

Trang 23

18 Triệu chứng và các dấu hiệu bất thường phát hiện

qua lâm sàng và xét nghiệm

bên ngoài

21 Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và việc

tiếp xúc với cơ quan y tế

(Nguồn: Niêm giám thống kê y tế, Bộ Y tế, 2012.)[14]

Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2012, các bệnh mắc cao nhất toàn quốcnhư sau [14]:

Bảng 1.3: Các bệnh mắc cao nhất toàn quốc (Đơn vị: /100.000 dân)

(Nguồn: Niêm giám thống kê y tế, Bộ Y tế, 2012.) [14]

281 Các tổn thương khác do chấn thương xác định ở nhiều

nơi

383,8

Trang 24

1.5 YHCT và các phương pháp điều trị

1.5.1 Lịch sử YHCT Việt Nam [25], [44]

Việt Nam có trên 4000 năm lịch sử dựng nước Trong nền văn minhVăn Lang và văn minh Ðại Việt những y lý và y thuật dựa trên nền tảng của

sự kết hợp lý luận y học phương Ðông với các kinh nghiệm chữa bệnh trongdân gian của 54 dân tộc Việt Nam, cùng với kinh nghiệm sử dụng các nguồndược liệu phong phú của đất nước trong vùng nhiệt đới tạo thành một nền yhọc truyền thống

Nền YHCT Việt Nam đã được văn bản hoá từ năm 1010 (thời nhà Lý).Thế kỷ thứ 13, nhà bác học Chu Văn An đã nêu đường lối chữa bệnh khôngdùng mê tín dị đoan Thế kỷ 14, đại danh y Tuệ Tĩnh nghiên cứu cây, conthuốc Việt Nam để chữa bệnh, và tập hợp kinh nghiệm dân gian Việt Nam lúcbấy giờ hình thành tác phẩm Nam Dược Thần Hiệu nội dung bao gồm 580 vịthuốc trong 3873 đơn thuốc cho 10 loại chuyên khoa trị bệnh Thế kỷ 18 đạidanh y Lê Hữu Trác với tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông đã biên soạn tậpsách thuốc "Y TÔNG TÂM LĨNH" gồm 28 bộ có 66 tập sách nói về y đức, vệsinh phòng bệnh, y lý cơ bản, dược lý, bệnh lý, các đơn thuốc có công hiệu,bệnh án, một số trường hợp bệnh Trong nền Văn Minh Ðại Việt đã có 155

vị danh y với 497 tập tuyển sách YHCT dân tộc được viết bằng tiếng Hán vàtiếng Nôm Trong thế kỷ 20 các vị danh y Việt Nam cũng đã biên soạn trên

200 tập sách có giá trị về Đông y bằng tiếng Quốc ngữ Ðông y Việt Nam với

hệ thống lý luận chặt chẽ, với các phương pháp phòng và chữa bệnh có hiệuquả, đã phục vụ đắc lực cho việc giữ gìn và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân từxưa tới nay

1.5.2 Các phương pháp điều trị bằng YHCT tại Việt Nam

Trang 25

Các phương pháp chữa bệnh được lưu truyền theo dòng lịch sử rất đadạng và phong phú, nhiều phương pháp không chỉ có thầy thuốc sử dụng mà

đã trở nên phổ biến trong dân gian như cạo gió, giác hơi, nồi xông giải cảm…

Có thể phân làm hai loại hình điều trị: phương pháp dùng thuốc và phươngpháp không dùng thuốc

- Các phương pháp dùng thuốc:

+ Sử dụng theo đối chứng lập phương

+ Sử dụng thuốc theo lý luận YHCT: Bài thuốc được cấu tạo theo dượctính của dược liệu như: Thăng, Giáng, Phù, Trầm; theo Tính, Vị, Quy kinh…hoặc cấu tạo bài thuốc theo Quân, Thần, Tá, Sứ như các bài thuốc cổ phương

từ Trung Quốc hoặc biện chứng luận trị mà dùng các loại thuốc nam có sẵn tạiđịa phương

+ Sử dụng thuốc theo kinh nghiệm dân gian: được lưu truyền sangnhiều thế hệ khi có một một cây thuốc, bài thuốc hoặc món ăn cho thấy có tácdụng với một chứng bệnh nào đó Trong đó nhiều phương pháp có hiệu quảnhưng vẫn chưa được giải thích bằng lý luận YHCT Ngày nay dưới sự tiến

bộ của ngành hóa dược các bài thuốc đó dần được chứng minh về tác dụngdựa trên các hoạt chất có trong cây thuốc đó Một số phương thuốc dân giannhư: dùng gừng, riềng, sả và các loại rau có mùi để trợ tiêu hóa, lấy lá me, lábưởi để nấu nước tắm trị ban ngứa và rụng tóc, dùng các loại thuốc có mùithơm (tinh dầu) để xông trị cảm…

+ Sử dụng thuốc YHCT theo tác dụng YHHĐ: dựa trên tác dụng củađơn chất hoặc hoạt chất toàn phần trong cây thuốc hay bài thuốc được chứngminh hiệu quả qua các nghiên cứu Sự hỗ trợ của khoa học và công nghệ đãgiúp cho ngành dược cổ truyền phát triển đa dạng các hình thức sử dụng thuốc

Trang 26

đưa đến sự tiện dụng cho bệnh nhân và thầy thuốc như: thuốc viên, thuốcnước, sirô, thuốc xịt ngoài da, tiêm truyền…

- Các phương pháp không dùng thuốc:

+ Sử dụng dựa trên lý luận YHCT như: châm cứu, bấm huyệt, nhĩchâm, mai hoa châm… Một số kết hợp với các phương tiện hiên đại như: điệnchâm, thủy châm, quang châm, từ châm, cấy chỉ…

+ Sử dụng theo phương pháp dân gian như: xoa bóp, cạo gió, giác hơi,chích lễ, trật đã…

+ Các phương pháp dưỡng sinh: thay đổi cách sống, môi trường sống,thực dưỡng, luyện tập…

1.6 Công trình nghiên cứu có liên quan đến mô hình bệnh tật đến

khám và điều trị YHCT

Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Đình Hòa về cơ cấu bệnh tật củabệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT Phạm Ngọc Thạch tỉnh LâmĐồng năm 2012 như sau: ba bệnh chiếm tỷ lệ nhiều nhất là các tổn thươngdây, rễ thần kinh (19,8%); di chứng tai biến mạch máu não (16,6%) tiếp đến

là các bệnh lý của cột sống (14,7%) Thứ tự tiếp theo lần lượt là các bệnh: trĩ(9,4%); viêm khớp dạng thấp và viêm đa khớp khác (9%); tăng huyết áp(4,8%); thoái hóa khớp (3,5%); liệt não và hội chứng liệt khác (3,2%); viêm

cổ tử cung (2,4%); di chứng chấn thương (2,3%) Theo thống kê trong năm

2012 có: 57,4% bệnh nhân mắc một bệnh; 42,6% bệnh nhân mắc trên 2 bệnh[30]

Kết quả nghiên cứu của Phạm Việt Hoàng năm 2011 về mô hình bệnhtật được điều trị bằng YHCT của các cơ sở y tế công lập tỉnh Hưng Yên cho

Trang 27

thấy có tổng cộng 18 nhóm chứng bệnh với gần 50 bệnh được điều trị bằngYHCT tại 3 tuyến tỉnh, huyện, xã [32]

(Nguồn: Luận án tiến sĩ 2011 – Phạm Việt Hoàng.) [32]

Biểu đồ 1.1: Phân bố tỷ lệ 18 nhóm chứng bệnh đƣợc điều trị bằng

YHCT tại bệnh viện YHCT tỉnh Hƣng Yên năm 2009

Trong 18 nhóm bệnh được điều trị tại bệnh viện YHCT tỉnh Hưng Yên,

tỷ lệ nhóm bệnh cao nhất là bệnh cơ xương khớp chiếm tỷ lệ 34,7%, thứ hai làbệnh thần kinh gồm liệt nửa người do tai biến mạch máu não chiếm tỷ lệ27,1%, thứ 3 là bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ 16,98% [32]

16.98 1.18

34.7 2.0

1.1 0.5

27.1 2.96

0.77 0.16 0.08 0.6 0 1.08 0.19 0.08 1

9.5

Bệnh tim mạch Bệnh phổi và hô hấp

Bệnh cơ xương khớp

Bệnh tiêu hóa Bệnh thận tiết niệu

Bệnh sinh dục nam

Bệnh thần kinh Bệnh tâm thần Bệnh rối loạn chuyển hóa

Bệnh ngũ quan Bệnh về máu Bệnh da liễu Bệnh sản phụ khoa

Bệnh ngoại khoa

Bệnh ung thư Bệnh truyền nhiễm

Bệnh dị ứng Bệnh khác

Trang 28

Bảng 1.4: Phân bố 10 bệnh có tỷ lệ cao điều trị bằng YHCT tại các cơ sở

YHCT công lập tỉnh Hƣng Yên năm 2009 Loại bệnh

Bệnh viện YHCT tỉnh (n=2598)

Bệnh viện đa khoa (n=118990)

Trạm y tế xã (n=186894)

(Nguồn: Luận án tiến sĩ 2011 – Phạm Việt Hoàng.) [32]

Có 4 chứng bệnh thường được điều trị bằng YHCT gặp ở cả 3 tuyến tạitỉnh Hưng Yên là: tăng huyết áp, viêm khớp dạng thấp, đau cơ/bong gân dochấn thương phần mềm và chứng suy nhược cơ thể Có 8 chứng bệnh thườngđược điều trị bằng YHCT tại bệnh viện YHCT tỉnh và bệnh viện đa khoa làtăng huyết áp, thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp, đau cơ/dây chằng do

Trang 29

chấn thương phần mềm, liệt nửa người do tai biến mạch máu não, đau/liệtthần kinh ngoại biên Tại tuyến xã có thêm 4 chứng bệnh thường được điều trịbằng YHCT là viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính, dị ứng, viêm loét dạ dày-tátràng, viêm họng/viêm amidan, đau mắt đỏ và sốt xuất huyết [32].

Kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Hoa Lý về mô hình 10 bệnh điều trịbằng YHCT có tỷ lệ cao được điều trị tại các cơ sở y tế tỉnh Bắc Ninh thấy ở

cả 3 tuyến 10 chứng bệnh có tỷ lệ cao được xếp theo thứ tự như sau: viêmhọng (5,68%), đau khớp (4,76%), đau đầu (4,76%), đau lưng cấp (4,46%),đau lưng mạn (4,26%), mụn nhọt (3,68%), tiêu chảy (3,39%), đau thần kinhvai gáy (3,39%), tăng huyết áp (3,23%), suy dinh dưỡng (3,04%) [42]

Kết quả nghiên cứu của Phạm Phú Vinh về mô hình 10 bệnh điều trịbằng YHCT có tỷ lệ cao được điều trị tại các cơ sở y tế tỉnh Lạng Sơn chothấy: Cả 3 khu vực 10 chứng bệnh có tỷ lệ cao được xếp theo thứ tự như sau:đau lưng cấp (8,0%), đau lưng mãn (7,7%), đau khớp (7,3%), đau thần kinhtọa (6,6%), cảm mạo (6,1%), đau thần kinh vai gáy (5,9%), di chứng tai biếnmạch máu não (5,1%), đau đầu (4,8%) [57]

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến mô hình bệnh tật đến khám

và điều trị bằng YHCT đều dựa vào chẩn đoán YHHĐ để phân loại bệnh tật,hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào phân loại bệnh tật dựa vào chẩn đoánYHCT

Trang 30

Cách phân loại này đơn giản, chính xác do số liệu đủ lớn, thích hợp sosánh các vùng miền với nhau.

1.7.2 Phân loại bệnh tật theo tỷ lệ mắc, chết cao nhất [11], [17]

Đặc điểm cơ bản của cách phân loại này là đưa ra tên bệnh, nhóm bệnhmắc cao nhất Cách phân loại này đưa ra thứ tự của các bệnh thường gặp cũngnhư mức độ nguy hiểm của một số bệnh dựa trên tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tửvong, từ đó đưa ra chính sách đầu tư thích hợp nhằm can thiệp để giảm tỷ lệmắc bệnh và tỷ lệ tử vong các bệnh đó

Đây là cách phân loại đơn giản, dễ thực hiện, dễ áp dụng, nhất là nhữngnơi có mật độ dân số thấp

Nhược điểm: không cho chúng ta cái nhìn toàn diện về mô hình bệnhtật, không đánh giá sự tiến triển, biến động mô hình bệnh tật

1.7.3 Phân loại bệnh tật theo chuyên khoa sâu [41]

Một số chuyên khoa còn có cách phân loại mang tính chuyên khoa sâu,cách phân loại này thường chỉ áp dụng ở những nước có nền y học và trình độkhoa học phát triển cao do sự phức tạp của chẩn đoán hay chưa thống nhấtđược tiêu chuẩn chẩn đoán, những tiêu chuẩn này chưa áp dụng ở Việt Nam,

nó chỉ mang tính tham khảo

Trang 31

1.7.4 Phân loại bệnh tật theo ICD-10 [11], [16], [17]

Cách phân loại WHO khuyến khích sử dụng trên toàn thế giới và là báocáo bắt buộc của các quốc gia cho WHO theo phân loại bệnh tật quốc tế vàcác vấn đề liên quan đến sức khỏe (ICD), qua nhiều lần sửa đổi, đến nay saulần hiệu đính thứ 10, ICD-10 được đưa ra sử dụng ngày càng rộng rãi và đãchứng minh được tính ưu việt của nó

Đặc điểm nổi bật của ICD-10 là phân loại theo từng chương bệnh,trong mỗi chương bệnh lại chia ra từng nhóm bệnh

Hệ thống phân loại này giúp chúng ta có một mô hình bệnh tật đầy đủ,chi tiết, nó giúp các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý cócái nhìn bao quát, toàn diện và cụ thể về mô hình bệnh tật để từ đó đưa ra cácchiến lược, chính sách, giải pháp thích hợp, đánh giá hiệu quả các chươngtrình chăm sóc sức khỏe đã và đang được triển khai, nó giúp các bác sĩ lâmsàng có cái nhìn tổng quát theo mô hình bệnh tật tại đơn vị mình đang côngtác

Với sự giúp đỡ của máy vi tính, chúng ta có thể dễ dàng xây dựng môhình bệnh tật theo cách phân loại đã trình bày ở trên bởi bản thân ICD đã baohàm các cách phân loại đó

Phân loại theo ICD giúp nhà quản lý, dễ dàng so sánh, đánh giá môhình bệnh tật giữa các quốc gia, các vùng miền, các bệnh viện, từ đó đưa racác chính sách đầu tư đúng đắn cũng như các chương trình hành động thiếtthực nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe, bệnh tật, nhất là khi kinh phí chongành y tế còn eo hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn

1.7.5 Phân loại bệnh tật theo Y học cổ truyền

 Một số khái niệm về bệnh tật theo YHCT

 Khái niệm bệnh danh YHCT [29]:

Trang 32

- Chứng (triệu chứng): được định nghĩa là tập hợp các triệu chứng có

liên quan của bệnh

- Hội chứng bệnh: được định nghĩa là tập hợp các triệu chứng có liên

quan của bệnh

- Bệnh: được định nghĩa là một hoặc nhiều triệu chứng nói lên vị trí

tổn thương và nguyên nhân gây nên tổn thương

Với định nghĩa trên, khi chẩn đoán cần quan tâm đến: thu thập nhữngtriệu chứng biểu hiện phù hợp với bất thường của cơ quan hay hệ thống chứcnăng; xác định cụ thể chức năng, cơ quan hoặc hệ thống bị tổn thương; xácđịnh nguyên nhân cụ thể gây tổn hại cho chức năng, cơ quan hoặc hệ thốngấy

 Hệ thống, cơ quan, chức năng trong cơ thể theo YHCT bao gồm [25],[52]:

- Hệ thống Tạng Phủ: không chỉ là cơ quan theo ý nghĩa giải phẫu mà

còn bao gồm chức năng và vai trò của tạng phủ đó trong mối liên hệ hữu cơgiữa nó với các tạng phủ khác Tạng phủ phản ánh đầy đủ sự thống nhất trongnội bộ cơ thể và sự thống nhất giữa cơ thể với mỗi tạng phủ

- Hệ thống Kinh lạc: là những đường vận hành khí huyết Những con

đường này chạy khắp châu thân, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, cả bêntrong (ở các tạng phủ) lẫn ngoài nông

- Hệ thống Tinh, Khí, Thần, Huyết, Tân dịch: là cơ sở vật chất cho sự

hoạt động của tạng phủ

 Nguyên nhân gây bệnh theo YHCT bao gồm [25], [52]:

Trang 33

- Lục dâm (ngoại nhân): Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa Đây là

những bệnh lý do ảnh hưởng của hoàn cảnh thiên nhiên (khí hậu, địa lý) trêncon người gây nên

- Tình chí (nội nhân): vui, giận, buồn, lo nghĩ, kinh sợ Đây là những

bệnh lý gây nên bởi những rối loạn về trạng thái tâm lý có liên quan chặt chẽđến hoàn cảnh xã hội

- Những nguyên nhân khác (bất nội ngoại nhân): ăn uống không điều

độ, hoặc quá nhiều hoặc quá thiếu; làm việc nặng nhọc quá sức; sang chấn;hoạt động tình dục vô độ

 Phân loại bệnh tật

Phân loại bệnh theo nguyên nhân gây bệnh [28], [Error! Reference source not found.], [52]:

- Bệnh và hội chứng bệnh do ngoại nhân bao gồm: bệnh ngoại cảm

Lục dâm, bệnh ngoại cảm Thương hàn và bệnh ngoại cảm Ôn bệnh

- Bệnh và hội chứng bệnh do nội nhân và bất nội ngoại nhân bao gồm:

bệnh Phế - Đại trường, bệnh Tỳ - Vị, bệnh Thận – Bàng quang, bệnh Can –Đởm, bệnh Tâm – Tiểu trường, bệnh Tâm bào – Tam tiêu

Phân loại bệnh theo vị trí tổn thương [28], [Error! Reference source not found.], [52]:

- Bệnh và hội chứng bệnh về Khí, Huyết, Tân dịch

- Bệnh và hội chứng bệnh thuộc các Tạng Phủ

- Bệnh và hội chứng bệnh của hệ Kinh lạc

- Bệnh và hội chứng bệnh Lục kinh, Vệ - Khí – Dinh – Huyết, Tam

tiêu (hội chứng bệnh ngoại cảm)

Trang 34

 Phân loại bệnh theo tên chứng trong danh mục bệnh YHCT của Bộ Y

tế [20]:

Theo quyết định số 1122 /QĐ-BYT ngày 31/03/2016 của Bộ trưởng

Bộ Y tế về việc ban hành danh mục bệnh YHCT đã mã hóa áp dụng trongkhám bệnh chữa bệnh thanh toán bảo hiểm y tế, bệnh YHCT được phân loạitheo tên chứng YHCT được mã hóa và xếp vào các chương bệnh của ICD-10.Cách phân loại này đơn giản, dễ áp dụng để thống nhất ngữ nghĩa của dữ liệuhoặc thông tin, bảo đảm liên thông phần mềm giữa cơ sở khám bệnh, chữabệnh với cơ quan bảo hiểm xã hội và các đơn vị liên quan

1.8 Khái quát về phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề liên quan đến sức khỏe lần thứ 10 (ICD-10)

Danh mục phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề có liên quan đếnsức khoẻ lần thứ 10 là sự tiếp nối và hoàn thiện về cấu trúc, phân nhóm và mãhóa các ICD trước đây ICD-10 đã được WHO triển khai xây dựng từ tháng 9năm 1983 Toàn bộ danh mục được sắp xếp thành 22 chương, ký hiệu từ I đếnXXII Bộ mã từng bệnh gồm 4 ký tự với ký tự đầu tiên là chữ cái từ A đến Z,tiếp đến là 3 ký tự số Về nguyên tắc bộ mã ICD-10 có cấu trúc từ A00.0 đếnZ99.9 ICD-10 cho phép mã hóa khá chi tiết và đầy đủ các loại bệnh tật Danhmục 22 chương gồm [16]:

- Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng

- Chương II: Bướu tân sinh

- Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan cơ

chế miễn dịch

- Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng,và chuyển hóa

- Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi

Trang 35

- Chương VI: Bệnh hệ thần kinh

- Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ

- Chương VII: Bệnh tai và xương chũm

- Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn

- Chương X: Bệnh hệ hô hấp

- Chương XI: Bệnh hệ tiêu hóa

- Chương XII: Bệnh da và mô dưới da

- Chương XIII: Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết

- Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục

- Chương XV: Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản

- Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh

- Chương XVII: Dị tật, dị tật bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể

- Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng,

cận lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi khác

- Chương XIX: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do

nguyên nhân bên ngoài

- Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong

- Chương XXI: Những yếu tố ảnh hướng đến tình trạng sức khoẻ và

tiếp xúc dịch vụ y tế

- Chương XXII: Mã phục vụ những mục đích đặc biệt

1.9 Khái quát về danh mục bệnh YHCT của Bộ Y tế

Để thống nhất ngữ nghĩa của dữ liệu hoặc thông tin, bảo đảm liên thôngphần mềm giữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với cơ quan bảo hiểm xã hội và

Trang 36

các đơn vị liên quan, Bộ Y tế đã ra quyết định số 1122/QĐ-BYT ngày31/03/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành danh mục bệnh YHCT

đã mã hóa áp dụng trong khám bệnh, chữa bệnh thanh toán bảo hiểm y tế.Toàn bộ danh mục được sắp xếp thành 18 chương theo các chương của ICD-

10, nhưng không có chương XVI, chương XX và chương XXI Bộ mã từngchứng theo YHCT gồm 6 ký tự với ký tự đầu tiên là chữ cái U, tiếp đến là 5

ký tự số Một tên chứng có thể có nhiều mã YHCT và tương ứng với nhiều

mã ICD Một mã ICD có thể tương ứng với nhiều mã YHCT và nhiều tênchứng khác nhau Danh mục 18 chương gồm [20]:

- Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng - U50

- Chương II: Bướu tân sinh - U51

- Chương III: Bệnh về máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan

đến cơ chế miễn dịch - U52

- Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và rối loạn chuyển hóa - U53

- Chương V: Bệnh rối loạn tâm thần và hành vi - U54

- Chương VI: Bệnh hệ thần kinh - U55

- Chương VII: Bệnh về mắt và phần phụ - U56

- Chương VIII: Bệnh của tai xương chũm - U57

- Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn - U58

- Chương X: Bệnh hệ hô hấp U59

- Chương XI: Bệnh tiêu hóa - U60

- Chương XII: Bệnh của da và mô dưới da - U61

- Chương XIII: Bệnh của hệ xương khớp và mô liên kết - U62

- Chương XIV: Bệnh hệ sinh dục - Tiết niệu - U63

Trang 37

- Chương XV: Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản - U64

- Chương XVII: Dị tật bẩm, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể

- U65

- Chương XVIII: Các triệu chứng dấu hiệu và những biểu hiện lâm

sàng bất thường, chưa được phân loại ở nơi khác - U66

- Chương XIX: Vết thương ngộ độc và hậu quả của một số nguyên

nhân bên ngoài - U67

1.10 Sơ lƣợc về Bệnh viện Y Học Cổ Truyền Thành Phố Hồ Chí Minh

Bệnh viện YHCT tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là đơn vị sựnghiệp y tế, trực thuộc Sở Y tế tỉnh, là tuyến khám bệnh, chữa bệnh bằngYHCT cao nhất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Bệnh viện YHCTtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có chức năng: thực hiện khám bệnh,chữa bệnh đa khoa và phục hồi chức năng bằng YHCT, kết hợp YHCT vớiYHHĐ; nghiên cứu khoa học, bảo tồn và phát triển YHCT; đào tạo, chỉ đạotuyến về chuyên môn kỹ thuật và là cơ sở thực hành về YHCT của các cơ sởđào tạo y, dược và các đơn vị có nhu cầu [13]

Bệnh viện Y Học Cổ Truyền Thành Phố Hồ Chí Minh được thành lậpnăm 1975 với tên “Bệnh viện nghiên cứu Đông y” trực thuộc Bộ Y tế Năm

1979, bệnh viện được đổi tên thành “Bệnh viện Y học dân tộc” trực thuộc Sở

Y tế TP.HCM Từ năm 1999 đến nay, bệnh viện mang tên “Bệnh viện Y học

cổ truyền TP.HCM”, là bệnh viện hạng II trực thuộc Sở Y tế TP.HCM, là cơ

sở thực hành của trường Đại học Y Dược TP.HCM, trong công tác đào tạocán bộ y tế từ trung cấp cho đến bác sĩ, thạc sĩ, chuyên khoa I, chuyên khoa II

Bệnh viện YHCT TP.HCM là một trong những cơ sở đầu ngành củakhu vực phía Nam về YHCT, do Sở Y tế quản lý Qua quá trình xây dựng vàphát triển 40 năm, bệnh viện đã có nhiều thành tựu về công tác phát triển nền

Trang 38

YHCT nước nhà Hiện nay, với quy mô 250 giường bệnh nội trú, 260 cán bộviên chức, có 15 khoa phòng, được chia thành 3 khối: lâm sàng, cận lâm sàng,

và khối các phòng ban chức năng Có 6 khoa lâm sàng thực tế gồm: khoa NộiTim Mạch - Cấp Cứu, khoa Nội Cơ Xương Khớp, khoa Nội Thần Kinh, khoaNội Tổng Hợp, khoa Nội III và khoa Ngoại Phụ Mỗi ngày bệnh viện tiếp đóntrung bình 900 lượt bệnh nhân đến khám và điều trị ngoại trú Ngoài công táckhám chữa bệnh, bệnh viện YHCT TP.HCM còn là cơ sở nghiên cứu khoahọc về Y dược cổ truyền với nhiều công trình nghiên cứu cấp cơ sở, cấp thànhphố và cấp Bộ Y tế Tuy nhiên, vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào về mô hìnhbệnh tật của bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện Bệnh viện còn là

cơ sở đào tạo liên tục về chuyên môn YHCT với 7 mã số đào tạo do Bộ Y tếcấp Đồng thời bệnh viện là cơ sở kết hợp Viện - Trường của Đại học Y dượcTP.HCM với sự hợp tác chặt chẽ trong công tác giảng dạy và điều trị của cácgiảng viên khoa YHCT [6]

Bệnh viện YHCT TP.HCM đang được nâng cấp và xây dựng theohướng đa khoa YHCT và đầu tư từ ngân sách của thành phố, thành một tronghai bệnh viện đầu ngành về y dược học cổ truyền để thực hiện tốt công tác chỉđạo tuyến về y dược học cổ truyền của thành phố Hồ Chí Minh Bệnh việnYHCT TP.HCM là một trong hai trung tâm chuyên sâu về YHCT đáp ứngnhu cầu nghiên cứu, điều trị, giảng dạy, chỉ đạo tuyến, hội nghị, hội thảo, hợptác quốc tế Bệnh viện YHCT TP.HCM chịu trách nhiệm hỗ trợ cho các khoaYHCT của 10 bệnh viện đa khoa và 23 bệnh viện quận - huyện về chuyênmôn y dược cổ truyền [56]

Trang 39

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCTTP.HCM năm 2015

Dân số mục tiêu: tất cả bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT

TP.HCM từ ngày 01/01/2015 đến 31/12/2015

Dân số chọn mẫu, cỡ mẫu: mẫu toàn bộ, chọn tất cả bệnh nhân điều

trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM từ ngày 01/01/2015 đến 31/12/2015

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú tại bệnh viện YHCT TP.HCM, cóngày nhập viện và xuất viện từ ngày 01/01/2015 đến 31/12/2015, có hồ sơ lưutrữ đầy đủ các thông tin cần khảo sát Nếu bệnh nhân nhập viện nhiều lần vớicùng một chẩn đoán YHHĐ và cùng một chẩn đoán YHCT chỉ tính một lần

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh mà bệnh không có trong bảng phânloại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giớinăm 1993

- Bệnh nhân trốn viện

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

2.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2015 đến tháng 07/2016

- Địa điểm nghiên cứu: bệnh viện YHCT TP.HCM

Trang 40

2.3 Cách tiến hành và phương pháp thu thập số liệu

Nghiên cứu điều tra trực tiếp qua hồ sơ bệnh án thu thập chẩn đoánYHCT, các loại thuốc, các loại phương pháp không dùng thuốc, kết quả điềutrị

Từ kho dữ liệu điện tử của bệnh viện YHCT TP.HCM thu thập thôngtin hành chính, chẩn đoán YHHĐ

Công cụ thu thập số liệu

Biểu mẫu thu thập số liệu (phụ lục 1)

2.4 Biến số và định nghĩa biến số

2.4.1 Biến số đặc điểm bệnh nhân

- Tuổi là biến số định lượng liên tục, được tính bằng năm hiện tại trừ đi

năm sinh của bệnh nhân, phân thành 3 nhóm:

- Tháng nhập viện là biến định tính theo thứ tự từ 1 đến 12

- Số ngày điều trị là biến định lượng, được tính như sau:

Ngày đăng: 14/04/2021, 17:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w