Trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và động vật hoang dã nói riêng, hiểu biết được mức độ nhận thức và thái độ bảo tồn của người dân và các đối tác địa phương là rất quan t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Ở KHU VỰC QUẢN BẠ, HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Ở KHU VỰC QUẢN BẠ, HÀ GIANG
Chuyên ngành: Sinh thái học
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của những người thân, các cá nhân và bạn bè đồng nghiệp Tôi vô cùng biết ơn tất cả những sự giúp đỡ nhiệt tình đó!
Nhân dịp này, cho phép tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Lan Anh (Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội), người đã dành thời gian hướng dẫn khoa học tận tình, chi tiết trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới ông Hoàng Văn Lâm, Quản lý chương trình của FFI - Việt Nam, đã tài trợ kinh phí cho nghiên cứu này
Xin được gửi lời cảm ơn trân trọng tới các cơ quan: Quỹ Môi trường thiên nhiên Nagao đã hỗ trợ kinh phí trong quá trình nghiên cứu; UBND tỉnh Hà Giang
và Chi cục Kiểm lâm Tỉnh Hà Giang, Phòng Bảo tồn Thiên nhiên, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cấp giấy cho phép tôi được thực hiện hoạt động nghiên cứu thực địa; bộ môn Sinh thái học, bộ môn Động vật học và bảo tồn, khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cá nhân: PGS TS Nguyễn Xuân Đặng (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam)
và TS Phạm Văn Thế (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Thực hành, Bình Dương) đã cung cấp một số báo cáo và tài liệu hữu ích
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể nhân dân thôn Vàng Trá Phìn, Và Thăng 2 thuộc xã Cao Mã Pờ, thôn Bản Thăng thuộc xã Tùng Vài, thôn Tả Ván, Chúng Chải thuộc xã Tả Ván, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang đã đặc biệt giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu tại đây
Cuối cùng, tôi xin được bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Mẹ và gia đình cùng bạn bè, đã ủng hộ, ân cần động viên, dành sự cảm thông đối với công việc nghiên cứu thực địa và học tập của tôi
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Nguyễn Đức Trung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Voọc mũi hếch ở Việt Nam 3
1.2 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của VMH ở Việt Nam 4
1.3 Hiện trạng phân bố của Voọc mũi hếch 5
1.4 Tình trạng quần thể Voọc mũi hếch ở rừng Quản Bạ 7
1.5 Khái niệm thái độ bảo tồn và vai trò của thái độ bảo tồn trong quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học 8
1.6 Điều kiện tự nhiên, một số đặc điểm kinh tế-xã hội của khu vực nghiên cứu10 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG, THỜI GIAN 17
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Địa điểm nghiên cứu 17
2.3 Mục tiêu nghiên cứu 18
2.4 Nội dung nghiên cứu 18
2.5 Thời gian nghiên cứu 19
2.6 Phương pháp nghiên cứu 19
2.7 Phương pháp phân tích số liệu 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Đặc điểm sinh cảnh của VMH tại rừng Quản Bạ 25
3.1.1 Trạng thái rừng trong khu vực nghiên cứu 25
3.2 Sự tác động đến sinh cảnh của VMH và nhận thức bảo tồn của cộng đồng dân cư địa phương 29
3.3 Các đe dọa của con người đến sinh cảnh của VMH tại khu vực Cao – Tả - Tùng 49
3.4 Nhận thức bảo tồn Voọc mũi hếch của người dân và nhân tố tác động đến nhận thức bảo tồn 53
3.5 Các kênh tiếp nhận thông tin tuyên truyền bảo tồn VMH tại địa phương 55
Trang 53.6 Đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của người dân địa phương đến
sinh cảnh của quần thể VMH ở Quản Bạ 55
KẾT LUẬN 57
5 Đề xuất ba giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của người dân địa phương đến sinh cảnh của quần thể VMH ở Quản Bạ 57
KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 65
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
FFI Việt Nam Tổ chức bảo tồn Động thực vật hoang dã quốc tế - Chương trình
Việt Nam LRTX Lá rộng thường xanh
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp năm 2018
Bảng 1.2 Số lượng gia súc, gia cầm
Bảng 1.3 Tỷ lệ phân loại các hộ theo bậc giàu nghèo
Bảng 2.1 Thang điểm cho các câu trả lời về nhận thức và thái độ bảo tồn VMH Bảng 3.1 Phân loại trạng thái rừng và các dạng sinnh cảnh khác trong khu vực nghiên cứu
Bảng 3.2: Số lượng loài và tỷ lệ % của các Ngành thực vật trong khu vực nghiên cứu
Bảng 3.3 Phân cấp mức độ đe dọa trực tiếp đến VMH tại khu vực rừng Cao – Tả - Tùng
Bảng 3.4 Kết quả phân tích sự liên hệ giữa điểm chuẩn nhận thức bảo tồn và các tiêu chí nhân khẩu học và kinh tế xã hội của những người TLPV
Bảng 3.5 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính điểm chuẩn thái độ bảo tồn theo các tiêu chí nhân khẩu học và kinh tế -xã hội
Bảng 3.6 Các nguồn thông tin tuyên truyền bảo tồn VMH
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Phân bố của Voọc mũi hếch ở Việt Nam
Hình 1.2 Phân bố của VMH ở Hà Giang
Hình 1.3 Vùng phân bố của VMH ở huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
Hình 2.1 Vị trí khu vực khảo sát thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
Hình 3.1 Phân bố các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu
Hình 3.2 Tỷ lệ dạng cây các loài thực vật trong khu vực nghiên cứu
Hình 3.3 Một số hoạt động sản xuất chính tại thôn Vàng Chá Phìn
Hình 3.4 Mục đích khi khai thác gỗ ở thôn Vàng Chá Phìn
Hình 3.5 Mức độ săn bắt thú ở thôn Vàng Chá Phìn
Hình 3.6 Các phương pháp săn bắt thú ở thôn Vàng Chá Phìn
Hình 3.7 Mục đích sử dụng động vật săn bắt ở thôn Vàng Chá Phìn
Hình 3.8 Trình độ học vấn của người dân ở thôn Vàng Chá Phìn
Hình 3.9 Đặc điểm nhận dạng của VMH theo hiểu biết của người dân ở thôn Vàng Chá Phìn
Hình 3.10 Khảo sát dừng hẳn hoạt động săn bắt ở thôn Vàng Chá Phìn
Hình 3.11 Một số hoạt động sản xuất chính tại thôn Và Thăng 2
Hình 3.12 Mục đích khi khai thác gỗ tại thôn Và Thăng 2
Hình 3.13 Mức độ săn bắt thú tại thôn Và Thăng 2
Hình 3.14 Các phương pháp săn bắt thú tại thôn Và Thăng 2
Hình 3.15 Mục đích săn bắn của người dân ở thôn Và Thăng 2
Hình 3.16 Trình độ học vấn của người dân ở thôn Và Thăng 2
Hình 3.17 Đặc điểm nhận dạng VMH theo hiểu biết người dân ở thôn Và Thăng 2 Hình 3.18 Khảo sát dừng hẳn hoạt động săn bắt ở thôn Và Thăng 2
Hình 3.19 Một số hoạt động sản xuất chính ở thôn Bản Thăng
Hình 3.20 Mục đích khi khai thác gỗ ở thôn Bản Thăng
Hình 3.21 Mức độ săn bắt thú ở thôn Bản Thăng
Hình 3.22 Các phương pháp săn bắt thú ở thôn Bản Thăng
Hình 3.23 Mục đích săn bắt của người dân ở thôn Bản Thăng
Hình 3.24 Trình độ học vấn của người dân ở thôn Bản Thăng
Trang 9Hình 3.25 Đặc điểm nhận dạng VMH theo hiểu biết người dân ở thôn Bản Thăng Hình 3.26 Khảo sát dừng hẳn hoạt động săn bắt ở thôn Bản Thăng
Hình 3.27 Một số hoạt động sản xuất chính ở thôn Tả Ván
Hình 3.28 Mục đích khi khai thác gỗ ở thôn Tả Ván
Hình 3.29 Mức độ săn bắt thú ở thôn Tả Ván
Hình 3.30 Các phương pháp săn bắt thú ở thôn Tả Ván
Hình 3.31 Mục đích săn bắt của người dân ở thôn Tả Ván
Hình 3.32 Trình độ học vấn của người dân ở thôn Tả Ván
Hình 3.33 Đặc điểm nhận dạng VMH theo hiểu biết người dân ở thôn Tả Ván Hình 3.34 Khảo sát dừng hẳn hoạt động săn bắt ở thôn Tả Ván
Hình 3.35 Một số hoạt động sản xuất chính ở thôn Chúng Trải
Hình 3.36 Mục đích khi khai thác gỗ ở thôn Chúng Chải
Hình 3.37 Mức độ săn bắt thú ở thôn Chúng Chải
Hình 3.38 Các phương pháp săn bẫy thú ở thôn Chúng Chải
Hình 3.39 Mục đích săn bắt của người dân ở thôn Chúng Chải
Hình 3.40 Trình độ học vấn của người dân ở thôn Chúng Chải
Hình 3.41 Đặc điểm nhận dạng VMH theo hiểu biết người dân ở thôn Chúng Chải Hình 3.42 Khảo sát dừng hẳn hoạt động săn bắt ở thôn Chúng Chải
Hình 3.44 Khoảng cách từ khu vực canh tác đến nơi có VMH sinh sống
Trang 10không quá 250 cá thể Covert et al 2008, Schwitzer et al 2015) [19, 47]
Tỉnh Hà Giang có hai quần thể VMH phân bố tại Khu bảo tồn loài và Sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca (KBT VMH Khau Ca) thuộc huyện Vị Xuyên và khu vực rừng thuộc 3 xã Cao Mã Pờ, Tả Ván và Tùng Vài (khu rừng Cao – Tả - Tùng) thuộc huyện Quản Bạ Theo FFI-Việt Nam (2018), quần thể VMH ở KBT Khau Ca
có khoảng 150 cá thể sinh sống và đang được bảo vệ khá tốt với sự hỗ trợ kỹ thuật
và kinh phí của tổ chức FFI - Việt Nam và một số tổ chức bảo tồn khác [53]
Quần thể VMH ở khu rừng Cao – Tả - Tùng mới được phát hiện năm 2007, ước tính khoảng 32-35 cá thể (Lê Khắc Quyết & Covert, 2010) [27] Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đặng và cs (2019) cho thấy quần thể VMH Quản Bạ có phân bố giới hạn trong khu vực khoảng 5.000 ha thuộc các núi Thèng Chu Phìn, Dao Dàn Chải, Tà Lày, Đồi 754 và dãi khu rừng dọc biên giới Việt - Trung từ mốc 283 đến mốc 295[39] Tại đây rừng tự nhiên ở trạng thái khá tốt Độ che phủ rừng đạt 92,3% diện tích với hai loại rừng chính là Rừng lá rộng thường xanh (2280,4 ha, chiếm 50,0% diện tích) và Rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi 1932,8 ha, 42,4%) (Phạm Văn Thế và cs 2018) [10] Quần thể này đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao do tình trạng săn bắt động vật hoang dã và sự suy thoái rừng đang diễn ra mạnh, chưa được kiểm soát Từ năm 2007 đến nay, một số biện pháp quản
lý bảo tồn cấp bách nhằm bảo vệ quần thể VMH ở đây đã được Hạt kiểm lâm Quản
Bạ thực hiện với sự hỗ trợ của Tổ chức Thực vật và Động vật thế giới (FFI) và Trung tâm Tài nguyên, Môi trường và Biến đổi Khí hậu (CeREC) Tuy nhiên, quần
Trang 11thể này vẫn đang tiếp tục bị suy giảm với số lượng ghi nhận là 4 đàn với 16 – 21 cá thể (Nguyễn Vân Trường và cs 2016) [12, 40] Nguyên nhân là do khu rừng này được quy hoạch là rừng phòng hộ đầu nguồn, không phải rừng đặc dụng nên việc kiểm soát các hoạt động phá hoại rừng, săn bắt động vật hoang dã gặp rất nhiều khó khăn Lê Trọng Đạt 2010, Nguyễn Xuân Đặng và cs 2017) [5, 30 Đặc biệt, tình
trạng trồng cây dược liệu Thảo quả (Amomum tsao) dưới tán rừng tràn lan của
người dân địa phương đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến VMH (Nguyễn Xuân Đặng và cs 2017) [5]
Trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và động vật hoang dã nói riêng, hiểu biết được mức độ nhận thức và thái độ bảo tồn của người dân và các đối tác địa phương là rất quan trọng để xây dựng các giải pháp bảo tồn phù hợp nhằm đạt được hiệu quả bảo tồn như mong muốn Bởi vì, thái độ bảo tồn của người dân địa phương có thể cung cấp thông tin chi tiết về cách họ sẽ cư xử, cách họ tuân thủ các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, cách họ ứng phó với những thiệt hại kinh
tế do động vật hoang dã gây ra và mức độ họ sẵn sàng chung sống với động vật hoang dã (Megaze, Balakrishnan và Belay, 2017) [32] Thái độ tích cực có thể nâng cao khả năng thực hiện thành công các mục tiêu bảo tồn, cung cấp các chiến lược để giải quyết xung đột lợi ích phát sinh trong bảo tồn
Xuất phát từ thực tiển trên, chúng tôi tiến hành điều tra đánh giá nhận thức
và thái độ bảo tồn VMH của người dân địa phương nhằm đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp nhất để duy trì và phát triển quần thể VMH tại địa phương thông
qua đề tài: “Đánh giá tác động sinh thái của cộng đồng dân cư đến sinh cảnh
sống của quần thể Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus (Dollman, 1912) ở khu vực Quản Bạ, Hà Giang” Mục tiêu của nghiên cứu là:
- Đánh giá mức độ nhận thức và thái độ bảo tồn VMH của người dân các thôn bản có tác động nhiều đến sinh cảnh và quần thể VMH
- Xem xét mối liên hệ giữa “mức độ nhận thức - thái độ bảo tồn VMH” của người dân với các điều kiện nhân khấu học và kinh tế xã hội của họ
- Đề xuất các kiến nghị về giải pháp nâng cao nhận thức và thái độ bảo tồn VMH ở rừng phòng hộ Quản Bạ
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Voọc mũi hếch ở Việt Nam
Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) được Dollman mô tả đầu tiên dựa
trên 8 mẫu vật do Owston và Orii thu được tại tỉnh Yên Bái (2142' vĩ độ Bắc; 10453' kinh độ Đông) vào tháng 9/1911 (Dollman 1912) [21 Ông đã so sánh loài
này với loài Voọc mũi hếch Vân Nam (Rhinopithecus bieti Milne - Edwards, 1897)
và cho đó là loài thuộc giống Rhinopithecus Nhưng Pocock 1924) đã nhận thấy có một vài sự khác nhau giữa các loài thuộc giống Rhinopithecus và đã đặt lại tên cho loài Voọc mũi hếch bắt được ở Yên Bái thuộc giống Presbytiscus [44] Thomas
1928) đã nghiên cứu 12 mẫu vật Voọc mũi hếch do J Delacour và H P Lowe thu được vào năm 1926 và 1927 và đã ủng hộ ý kiến này của Pocock [50]
Trong những thập niên tiếp theo với sự bùng nổ của thế chiến II (1941-1945)
và chiến tranh Pháp – Việt Nam xảy ra ở Miền Bắc Việt nam (1945-1954), hầu như không có nghiên cứu về loài này cho tới khi các công trình nghiên cứu của Đào Văn Tiến (1970), Lê Hiền Hào (1973) công bố
Theo Lê Hiền Hào (1973), VMH phân bố ở Chiêm Hóa và Na Hang (Tuyên Quang), Chợ Rã, Chợ Đồn, Na Rì và Bạch Thông (Bắc Kạn), Định Hóa, Đại Từ (Thái Nguyên), Ngòi Hút (Yên Bái), trên bờ phía Tây của sông Hồng Ông cho rằng, Voọc mũi hếch cũng sống ở vùng đất thấp và rừng núi cao ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn trong quá khứ, nhưng có khả năng là Voọc mũi hếch đang rất hiếm hoặc tuyệt chủng trong các khu vực này [6]
Năm 1985, Đào Văn Tiến trong công trình "Khảo sát thú ở Bắc Việt Nam "
đã thống kê các địa điểm có ghi nhận về phân bố địa lý của loài VMH ở miền Bắc
và các địa điểm này là rất ít [11]
Vào năm 1992, một cuộc khảo sát rộng rãi hơn về VMH bởi Ratajszczak, Đặng Ngọc Cần, và Phạm Nhật tại huyện Na Hang, Chiêm Hóa và Chạm Chu (Tuyên Quang), Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Kết quả khảo sát đã cho thấy, ước tính số VMH sống ở Tuyên Quang là 190 - 250 cá thể và khoảng 100 cá thể khác ở tỉnh Bắc Thái (nay là Bắc Kạn và Thái Nguyên) Không có bằng chứng
về VMH ở Vườn quốc gia Tam Đảo [45] Những nghiên cứu này chỉ tập trung vào
Trang 13đánh giá tình trạng phân bố của VMH và các mối đe dọa liên quan đến hoạt động săn bắn của con người và không nghiên cứu về tập tính và sinh thái của loài
Năm 1992, Đặng Huy Huỳnh và cộng sự tiến hành nghiên cứu thực địa tại rừng Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Nghiên cứu này đã phác thảo một mô hình phát triển về số lượng của quần thể Voọc mũi hếch và dự đoán xu hướng biến động số lượng Voọc mũi hếch Cũng trong nghiên cứu này săn bắn được xác định là áp lực chính dẫn đến sự suy giảm về số lượng của Voọc mũi hếch trong các khu rừng Na Hang Đặng Huy Huỳnh 1995) [7, 20]
Vào các năm 1993 - 1994, Boonratana và Lê Xuân Cảnh đã tiến hành nghiên cứu tập tính sinh thái học của loài VMH tại Na Hang (Tuyên Quang) [17, 18, 4] Đây là nghiên cứu về tập tính sinh thái học đầu tiên về loài này ở Việt Nam
Năm 2002, Lê Khắc Quyết đã tiến hành các cuộc khảo sát thực địa tại Hà Giang và đã phát hiện một đàn lớn với khoảng 40 cá thể VMH trong khu vực rừng Khau Ca, tỉnh Hà Giang [26] Phát hiện này đã khẳng định phạm vi phân bố rộng hơn của VMH
Năm 2005, Nguyễn Anh Đức, Vũ Anh Tài, và Lê Khắc Quyết đã tiến hành nghiên cứu đầu tiên về môi trường sống của VMH ở Khau Ca, tỉnh Hà Giang, tập trung vào việc xác định thành phần loài và đa dạng sinh học của hệ thực vật ở Khau
Ca Kết quả đã ghi nhận được 471 loài thuộc 268 chi, 113 họ và 4 ngành thực vật bậc cao có mạch [38] Cũng trong năm đó Lê Khắc Quyết thực hiện nghiên cứu một
số đặc điểm sinh thái gồm cấu trúc quần thể, sinh thái dinh dưỡng và các kiểu tư thế vận động của VMH [29]
Năm 2006, Đồng Thanh Hải và cộng sự tiến hành nghiên cứu tập tính sinh thái
và bảo tồn VMH ở Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện tại Tát Kẻ thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) và khu vực Khau Ca tỉnh Hà Giang) [22]
1.2 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của VMH ở Việt Nam
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái, thành phần thức ăn, tập tính vận động của VMH được công bố như: Boonratana và Lê Xuân Cảnh (1994) nghiên cứu về sinh thái và tập tính của VMH
ở Khu BTTN Na Hang [17, 18, 4]; Phạm Nhật (1993) nghiên cứu về thức ăn và kết
Trang 14quả của các cuộc điều tra thực địa về VMH ở một số khu vực thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam [8, 9, 42, 43]; Lê Khắc Quyết (2006) nghiên cứu về một số đặc điểm sinh thái của VMH ở Khau Ca và Đồng Thanh Hải (2011) nghiên cứu về tập tính, sinh thái và bảo tồn của VMH ở Khu BTTN Na Hang và Khu vực Khau Ca [22, 29] Nguyễn Thị Lan Anh và cộng sự (2017) nghiên cứu về sinh thái dinh dưỡng (nutritional ecology) của VMH tại KBT VMH Khau Ca [1]
Các nghiên cứu này đã bổ sung những thông tin, tư liệu rõ hơn về đặc điểm sinh học sinh thái của loài linh trưởng nguy cấp này
1.3 Hiện trạng phân bố của Voọc mũi hếch
Voọc mũi hếch là loài linh trưởng đặc hữu của vùng Đông Bắc Việt Nam Trước đây VMH được báo cáo ghi nhận ở một số địa phương: Tuyên Quang (Chiêm Hoá, Na Hang), Yên Bái (Lục Yên), Bắc Kạn (Bạch Thông, Na Rì, Chợ Đồn, Ba Bể), Hà Giang (Bắc Mê) [36] (Hình 1.1)
Hình 1.1 Phân bố trước đây của Voọc mũi hếch ở Việt Nam
Nguồn: Nadler và cs, 2003[36]
Trang 15Kết quả điều tra trong những năm từ 1992 cho thấy, vùng phân bố của chúng
đã bị thu hẹp, hiện còn tập trung ở một số khu vực thuộc tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Giang (Phạm Nhật 2002) [9] KBTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, trước đây được xem là nơi có quần thể VMH lớn nhất Năm 1994, Boonratana và Le Xuan Canh 1994) ước tính ở mỗi khu vực Tát Kẻ và Bản Bung của Khu bảo tồn có khoảng 95-130 cá thể VMH sinh sống [17] Tuy nhiên, cuộc khảo sát năm 2010 ước tính chỉ còn 5-10 cá thể VMH ở khu vực Tắt Kẻ và khoảng 13-16 cá thể ở khu vực Bản Bung (Thach Mai Hoang 2011) [49]
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, VMH được ghi nhận thêm phân bố rải rác
ở một số khu vực thuộc tỉnh Hà Giang như rừng Khau Ca, rừng Tùng Vài (Cao - Tả
- Tùng) (Lê Khắc Quyết 2010, Nalder và Brockman 2016) [27, 37 Như vậy, theo những báo cáo gần đây nhất, hiện nay VMH phân bố ở Khu bảo tồn loài và sinh cảnh VMH Khau Ca, tỉnh Hà Giang, số lượng ước tính khoảng 150 cá thể (FFI 2020) [53] và ở khu vực rừng Tùng Vài có khoảng 20 cá thể (Nguyễn Xuân Đặng 2019) [39] (Hình 1.2)
Hình 1.2 Phân bố của Voọc mũi hếch ở Hà Giang
(Ảnh vệ tinh được cung cấp bởi FFI – 2017 [5])
Chú thích: Chấm đỏ: ghi nhận sự xuất hiện của VMH
Trang 16Các cuộc điều tra gần đây cho thấy, các quần thể này vẫn bị đe dọa nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người
1.4 Tình trạng quần thể Voọc mũi hếch ở rừng Quản Bạ
Quần thể VMH ở Quản Bạ, tỉnh Hà Giang được FFI - Việt Nam ghi nhận đầu tiên vào năm 2007 Lê Khắc Quyết, 2010) [27] Các cuộc điều tra tiếp theo của FFI - Việt Nam trong các năm tiếp theo (Lê Khắc Quyết và cs 2010, Lê Trọng Đạt
và cs 2010, Nguyễn Vân Trường 2014) [27, 30, 40] đã xác định ở khu vực này có khoảng 32-35 cá thể sinh sống thành 3 hoặc 4 đàn Đây là quần thể VMH lớn thứ 2
ở Việt Nam và trên thế giới Tuy nhiên, cuộc điều tra năm 2016 của FFI Việt Nam chỉ quan sát được 4 đàn với tổng số khoảng 15-21 cá thể (Nguyễn Vân Trường và
cs 2016) [12], cho thấy quần thể VMH này vẫn đang bị suy giảm nghiêm trọng
Cho đến nay, các thông tin ghi nhận qua điều tra phỏng vấn người dân địa phương cũng như khảo sát thực địa cho thấy các đàn VMH sinh sống ở khu rừng trên núi đá vôi tương đối nguyên vẹn “Thèng Chù Phìn - Dào Dần Chải - Tà Lầy - Đồi 754
- khu vực các cột mốc quốc gia 283, 284 và 285” (Nguyễn Xuân Đặng, 2019) [39]
Hình 1.3 Vùng phân bố của VMH ở huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
(Nguồn: Nguyen Xuan Dang và cs., 2019) [39]
Trang 17Khu rừng này rộng khoảng 5.000 ha, nằm ở độ cao 1.000 đến 1.700m svmb, thuộc địa phận hành chính 3 xã Cao Mã Pờ, Tùng Vài và Tả Ván, huyện Quản Bạ (Hình 1.3)
1.5 Khái niệm thái độ bảo tồn và vai trò của thái độ bảo tồn trong quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học
Thuật ngữ "thái độ" attitude) được sử dụng liên quan đến sự phản hồi tích cực (positive) hoặc tiêu cực negative) đối với một thực thể (entity) hoặc đối tượng object) nào đó Karanth, Nepal, 2012) [25] và được định nghĩa là sự đánh giá về mặt tinh thần đối với một thực thể cụ thể với mức độ ủng hộ hoặc không ủng hộ nào
đó Gebregziabher, Soltani, 2019) [23] Thái độ được hình thành thông qua kinh nghiệm (experience) và nhận thức (perception) của một cá nhân (Infield và Namara, 2001) [24] Nhận thức (perception) của một người phản ánh các niềm tin (beliefs)
mà họ có được từ sự trải nghiệm (experience) và sự tương tác interaction) của họ với một hiện tượng cụ thể (Mulrennan và cộng sự, 2012; Gebregziabher, Soltani, 2019) [23, 35] Thái độ của người dân địa phương có thể cung cấp thông tin chi tiết
về cách họ sẽ cư xử (behave), cách họ tuân thủ các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, cách họ ứng phó với những thiệt hại kinh tế do động vật hoang dã gây ra
và mức độ họ sẵn sàng chung sống với động vật hoang dã (Megaze, Balakrishnan, Belay, 2017) [32] Thái độ bảo tồn (conservation attitude) của một người có thể bị ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế - xã hội của họ, nhận thức của họ về các chi phí và các lợi ích của bảo tồn, nhận thức về các giá trị văn hóa và thẩm mỹ, các trải nghiệm (experience) và kiến thức cá nhân của họ, cũng như các biện pháp quản lý mang lại các khuyến khích kinh tế cho họ Nhận thức tiêu cực có thể làm phức tạp công tác quản lý khu bảo tồn Nhận thức tích cực có thể nâng cao khả năng thực hiện các mục tiêu bảo tồn, cung cấp các chiến lược để giải quyết xung đột, các lợi ích tương đối công bằng và các quy tắc được biết đến và được thực thi như nhau (Bhattarai &Fischer, 2014) [16]
Thái độ bảo tồn động vật hoang dã của người dân bao gồm cả nhận thức (perception) và niềm tin (belief) sẽ chi phối hành vi (behaviour) của họ đối với sự hiện diện của động vật hoang dã trong vùng lân cận của họ Do đó, hiểu được thái
Trang 18độ của người dân địa phương đối với bảo tồn động vật hoang dã là điều kiện tiên quyết để cải thiện mối quan hệ giữa người dân địa phương với các khu bảo tồn và định hình nên tương lai của bảo tồn động vật hoang dã Hiểu được thái độ sẽ giúp tìm ra sự lựa chọn đúng đắn cho một chiến lược thu hút một cách hiệu quả sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động bảo tồn của các khu bảo tồn (Mmassy, Røskaft, 2013) [33] Hiểu biết về nhận thức và niềm tin là rất quan trọng vì hầu hết các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học và hậu quả là sự suy giảm đáng kể của quần thể động vật hoang dã và môi trường sống tự nhiên đều xuất phát từ các hoạt động của cộng đồng địa phương thông qua phá rừng, săn bắn và các hoạt động nông nghiệp (Mmassy, Røskaft, 2013)[33]
Thái độ tiêu cực có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của người dân và dẫn đến hủy hoại tài nguyên thiên nhiên Ví dụ, những người có cảm giác tiêu cực đối với động vật hoang dã có thể sử dụng các biện pháp như dùng bả độc để tiêu diệt chúng Ngược lại, khi người dân nhận ra được lợi ích từ việc bảo tồn và không
có nguy cơ bị chết, bị thương hoặc mất tài sản do động vật hoang dã, họ sẽ tích cực hơn với các chương trình bảo tồn và ủng hộ các Khu Bảo vệ Sự thành công trong quản lý một khu bảo tồn phụ thuộc đáng kể vào sự hợp tác của cộng đồng địa phương vói các hoạt động quản lý khu bảo tồn (Tessema, Ashenafi, Lilieholm, Leader-Williams, 2010) [48] Tìm cách cải thiện và củng cố mối quan hệ giữa cư dân địa phương và quản lý khu bảo tồn là rất quan trọng cho tương lai bảo tồn bền vững Tính bền vững của các chương trình quản lý đa dạng sinh học phụ thuộc vào mối liên hệ giữa nhận thức (perception), kiến thức (knowledge) và sự hiểu biết (awareness) của cộng đồng về các vấn đề suy giảm đa dạng sinh học và các biện pháp giảm thiểu Các chiến dịch nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học là để nâng cao kiến thức và từ đó tăng cường mức độ tham gia của cộng đồng vào bảo tồn đa dạng sinh học (Montana, Mlambo, 2019) [34]
Cách tiếp cận bảo tồn dựa vào cộng đồng (community-based coonservation approach) được hình thành sau thất bại của cách tiếp cận "hàng rào và xử phạt" (fences-and-fines approach) trong thực hiện các mục tiêu bảo tồn trước đây (Mulrennan và cs, 2012; Keane và cs, 2019) [35, 46] Phương pháp tiếp cận "hàng
Trang 19rào và xử phạt" đã coi thường lợi ích của người dân địa phương và loại trừ họ khỏi việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực của họ Việc họ bị loại trừ và các yếu tố tác động khác như động vật hoang dã gây ra thiệt hại cho cây trồng, vật nuôi và con người, cũng như việc buộc người dân di cư trong quá trình thành lập các khu bảo tồn mà không bồi thường cho họ đã hội tụ lại và làm gia tăng sự xung đột giữa bảo tồn và người dân địa phương, làm mất lòng tin giữa các bên liên quan/đối tác bảo tồn (Keane và cs, 2019) [46] Điều này đã cản trở
sự ủng hộ của người dân địa phương đối với các chương trình bảo tồn thực hiện trên đất họ cư trú và bên trong các khu bảo tồn nằm lân cận họ Những thất bại trong việc thực hiện các mục tiêu bảo tồn, thiếu sự hỗ trợ của người dân địa phương đối với các chương trình bảo tồn và sự đối kháng ngày càng tăng giữa người dân địa phương và ban quản lý các khu bảo tồn đã dẫn đến hình thành cách tiếp cận “bảo tồn dựa vào cộng đồng” CBC) với mục đích chính là đảo ngược tình huống trên (Keane và cs, 2019) [46] Như vậy, cách tiếp cận bảo tồn dựa vào cộng đồng hướng tới làm thay đổi thái độ và hành vi của người dân địa phương và sử dụng họ như những phương tiện để đạt được các mục tiêu bảo tồn mong muốn Điều này xuất phát từ thực tế rằng khi người dân địa phương cảm thấy bị lừa dối, họ có xu hướng phá hoại các nỗ lực bảo tồn, chẳng hạn như đốt rừng và tạo điều kiện cho những kẻ săn trộm (Nilsson và cs, 2016) [41]
1.6 Điều kiện tự nhiên, một số đặc điểm kinh tế-xã hội của khu vực nghiên cứu
Trang 201.6.1.3 Xã Tả Ván
Phía Bắc giáp xã Tùng Vài; phía Đông và phía Nam giáp xã Minh Tân (huyện Vị Xuyên); phía Tây giáp huyện Ma Lật Pha, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) 1.6.2 Cơ sở hạ tầng giao thông
1.6.2.1 Xã Cao Mã Pờ
Hạ tầng giao thông trong vùng khá phát triển, dễ dàng kết nối từ huyện đến trung tâm xã và từ xã đến trung tâm các thôn Giao thông phát triển tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế, giao thương hàng hóa và đi lại của người dân Xã Cao
Mã Pờ có chung đường biên giới với Trung Quốc, đường đi lại tương đối thuận lợi Đường nhựa nối trung tâm thị trấn Tam Sơn huyện Quản Bạ) đến trung tâm xã Cao
Mã Pờ có chiều dài khoảng 26 km Có 4 trong 8 thôn có đường ô tô đến trung tâm thôn, trong đó có 4 thôn đường đã được bê tông hóa Người dân di chuyển chủ yếu bằng xe máy [13]
1.6.2.2 Xã Tùng Vài
Xã Tùng Vài có vị trí trung tâm, là cửa ngõ đi vào 2 xã Cao Mã Pờ và Tả Ván Đường đi lại tương đối thuận lợi Đường nhựa nội trung tâm thị trấn Tam Sơn đến trung tâm xã Tùng Vài dài khoảng 18 km Đường nhựa di chuyển từ trung tâm
xã đến một số thôn có chiều dài khoảng 30 km Đường bê tông từ trung tâm xã đến một số thôn đã được hoàn thiện ở hầu hết các thôn bản và có chiều dài khoảng 20
km Người dân di chuyển bằng xe đạp, xe máy, hoặc taxi có thể di chuyển đến từng thôn trên địa bàn xã [15]
1.6.2.3 Xã Tả Ván
Hạ tầng giao thông trong vùng khá phát triển, dễ dàng kết nối từ huyện đến trung tâm xã và từ xã đến trung tâm các thôn Giao thông phát triển tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế, giao thương hàng hóa và đi lại của người dân Đường đường nhựa nối trung tâm thị trấn Tam Sơn huyện Quản Bạ) đến trung tâm xã Tả Ván có chiều dài khoảng 27 km Đường nhựa, bê tông từ trung tâm xã đến một số thôn dài khoảng 6,33 km Tuy nhiên, phần lớn vẫn là đường đất dài khoảng 84,59
km đi lại rất khó khăn Người dân di chuyển chủ yếu bằng xe máy hoặc đi bộ Không có tuyến xe buýt ở đây [14]
Trang 211.6.3 Dân số và dân cư
1.6.3.1 Xã Cao Mã Pờ
Theo báo cáo kinh tế xã hội của xã năm 2018, xã Cao Mã Pờ có diện tích 39,40 km2, dân số năm 2016 là 2.505 người, mật độ dân số đạt 64 người Xã có 8 thôn bản gồm: Chí Sang, Thèn Ván 1, Thèn Ván 2, Và Thàng 1, Và Thàng 2, Chi Chu Lìn, Vàng Chà Phìn, và Cao Mã Dân tộc chủ yếu là người Dao Các bản có 100% người Dao gồm: Vàng Chà Phìn (49 hộ), Và Thàng Một (60 hộ), Và Thàng Hai (62 hộ), Thèn Ván Một (65 hộ), Thèn Ván Hai (62 hộ) [13]
1.6.3.2 Xã Tùng Vài
Xã Tùng Vài có diện tích 60,70 km2, dân số năm 2016 là 4.544 người, mật
độ dân số đạt 69 người/km2 Xã có 11 thôn bản gồm: Tùng Vài Phìn, Bản Thăng, Pao Má Phìn, Lùng Chu Phìn, Sì Lo Phìn, Lùng Khổ, Tùng Páng, Suối Vui.Tả Lán, Khổ Mỹ, Lao Chải Năm 2016, có 30 người nhập cư đến xã Tùng Vài Bản Thăng
là bản có đa dạng các dân tộc nhất Thành phần dân tộc chính tại 4 bản điều tra gồm: Mông, Dao, Tày, Nùng, Bố Y và Kinh) Tỷ lệ hộ nghèo cao: Thôn Khổ Mỹ (100%), Lao Chải (100%), Tùng Vài Phìn (96,5%), Bảng Thăng 13,8%) [15]
1.6.3.3 Xã Tả Ván
Xã Tả Ván có diện tích 44,87 km2, dân số năm 2016 là 2.312 người, mật độ dân số đạt 52 người/km2 Xã có 8 thôn bản gồm: Lò Suối Tùng, Tả Ván, Chúng Chải, Pao Má Phìn, Hòa Sỉ Pan, Ma Ngan Sán, Sài Giàng Phìn, Thèn Ván Thành phần dân tộc chủ yếu là H'Mông, ngoài ra còn một số dân tộc khác như Tày, Pù Y
và kinh với tỷ lệ nhỏ 1-2% số hộ và tập trung chủ yếu ở các thôn Tả Ván và Lò Suối Tùng [14]
1.6.4 Hoạt động sản xuất
1.6.4.1 Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất cây lương thực có hạt như thóc và ngô chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại cây trồng Ngoài ra, việc trông cây dược liệu hiện nay rất được chú trọng như một loại hình tạo thu nhấp tốt cho người dân (Bảng 1.1) [13, 14, 15]
Trang 22Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp năm 2018
TT Loại hình sản xuất Đơn vị Xã
Cao Mã Pờ
Xã Tùng Vài
7 Diện tích cây dược liệu
chăm sóc, gây trồng mới
ăn quả lê, đào, mận), sa mộc hay chè Trong vài năm gần đây, người dân bắt đầu giành một phần diện tích đất nhỏ để trồng các loại cỏ cao sản phục vụ chăn nuôi gia súc Phần lớn diện tích đất còn lại là rừng tự nhiên và đất chưa qua sử dụng
Trang 231.6.4.2 Chăn nuôi
Chăn nuôi có vai trỏ rất quan trọng trong đời sống kinh tế của người dân địa phương Bên cạnh việc cung cấp nguồn thực phẩm và sức kéo phục vụ canh tác nông nghiệp, ngành chăn nuôi còn mang lại thu nhập cao cho các hộ, đặc biệt là những hộ khá giá với số lượng gia súc, gia cầm chăn nuôi nhiều Thành phần vật nuôi ở địa phương khá đa dạng và có số lượng lớn, bao gồm: trâu, bò, lợn, dê, ngựa, vịt, ngan, gà (bảng 1.2) Trong đó, các loài gia cầm như vịt, ngan, gà được nuôi rất phổ biến, số lượng lớn, tiếp đến là các loài lợn bò, trâu Giao thông thuận lợi là ưu thế giúp phát triển chăn nuôi trong vùng Hiện nay, hầu hết các hộ không còn chăn thả gia súc ngoài tự nhiên, mà chủ yếu nuôi nhốt tại nhà, sử dụng cỏ trồng làm thức
ăn chính cho gia súc [13, 14, 15]
1.6.4.3 Công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ
Trên địa bàn 3 xã không có nhà máy, xí nghiệp sản xuất lớn Tại trung tâm của các xã có một số hoạt động kinh doanh buôn bán nhỏ lẻ như các cửa hàng tạp hóa, các quán ăn nhỏ, cửa hàng bán vật liệu xây dựng, phân bón và hay cửa hàng sữa chữa xe máy Quy mô các cửa hàng này nhỏ, chủ yếu phục vụ nhu cầu mua sắm, ăn uống của cộng đồng các thôn bản xung quanh Tại một số thôn bản vẫn còn trồng lanh dệt vải, tuy nhiên, diện tích đất trồng lanh rất ít, quy mô ngành nghề dệt truyền thống rất nhỏ lẻ Phần lớn người dân dệt vãi để may trang phục dùng trong gia đình cho những dịp lễ quan trọng của cộng đồng [13, 14, 15]
1.6.5 Thu nhập và mức sống
Người dân không có nguồn thu nhập cố định hàng tháng Các sản phẩm từ sản xuất nông nghiệp như lúa, ngô, khoai, đậu, được dùng để phục vụ cho bữa ăn
Trang 24hàng ngày như một hình thức tự cung tự cấp Các sản phẩm chăn nuôi như gà, vịt, lợn, .thường được người dân trực tiếp giết mỗ trong các dịp có khách đến thăm hoặc giỗ, lễ Chỉ khi cần tiền cho việc mua sắm hoặc chi tiêu trong gia đình, người dân mới bán dần trâu, lợn, gia cầm,
Thu nhập chủ yếu trong năm của người dân phụ thuộc vào vườn rừng, đặc biệt là từ canh tác thảo quả - hương thảo và lâm sản Một số ít hộ có nguồn thu nhập
từ việc đi làm thuê bên Trung Quốc và các tỉnh lân cận của Việt Nam Thu nhập hàng năm chủ yếu từ thu hái thảo quả dao động từ vài trăm ngàn đến vài trăm triệu đồng, tuy theo diện tích trồng và chất lượng cây thảo quả của mỗi hộ Tại mỗi thôn trung bình chỉ vài hộ có thu nhập cao từ thảo quả (khoảng 50 triệu đồng/năm) Bên cạnh đó, việc thu hái chè hàng năm cũng mang lại thêm một ít thu nhập cho các hộ Tổng thu nhập mỗi vụ khoảng 10 triệu đồng/năm
Số tiền thu được sau khi bán thảo quả, chè, hay trâu bò thường được người dân dùng để tái đầu tư như mua trâu bò nhỏ, gà, vịt, phân bón hay hạt giống cây trồng Ngoài ra, khoản thu này còn được tích lũy để chi tiêu cho các công việc gia đình như mua sắm trang thiết bị, quần áo, sữa và học phí cho con em Do vậy, người dân đều không có khoản tiết kiệm Thông thường, khoản thu từ vụ mùa cuối năm đều được dùng để chi tiêu trong các tháng đầu năm sau
Các thôn trong khu vực nghiên cứu có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo khá cao, chiếm 67,38% tổng số hộ Thôn Vàng Chá Phìn – Tả Ván – Chúng Chải là các thôn
có điều kiện sản xuất nông nghiệp khó khăn nhất trong mỗi xã do so với các thôn khác do những thôn này ở độ cao cao, khí hậu lạnh nên năng suất cây trồng thấp Tại một số thôn bản khác vẫn còn có hộ dân thiếu đói trong một số tháng của năm (Bảng 1.3) [13, 14, 15]
Bảng 1.3 Tỷ lệ phân loại các hộ theo bậc giàu nghèo Thôn, bản Tổng số
hộ
Hộ nghèo
Cận nghèo
Trung bình
Khá, giàu
Trang 251.6.6 Văn hóa và giáo dục
Ngôn ngữ giao tiếp phổ biến là tiếng của dân tộc chiếm đa số trong thôn Khi giao dịch với các cá nhân cùng dân tộc họ sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình Khi giao tiếp với người dân tộc khác họ sử dụng tiếng Kinh
Mỗi xã có 3 trường: một trường mầm non, một trương tiểu học và một trường THCS Nhìn chung, cơ sở vật chất của các trường tương đối đảm bảo để phục vụ công tác giảng dạy và học tập Tuy nhiên, tại một số điểm trường còn thiếu các phòng học và nhà lưu trú cho giáo viên [13, 14, 15]
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sinh cảnh rừng của quần thể Vọoc mũi hếch
(Rhinopithecus avunculus) tại khu vực rừng thuộc các xã Cao Mã Pờ, Tùng Vài và
Tả Ván (Cao - Tả - Tùng), huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang và cộng động dân cư sinh sống gần sinh cảnh của quần thể Voọc mũi hếch nói trên
Cộng đồng dân cư được khảo sát nằm trong 5 thôn là Vàng Chá Phìn, Và Thăng 2 thuộc xã Cao Mã Pờ, Bản Thăng thuộc xã Tùng Vài và Tả Ván, Chúng Chải thuộc xã Tả Ván Đây là những thôn có tác động mạnh nhất đến sinh cảnh của VMH tại rừng Cao - Tả - Tùng (Nguyễn Xuân Đặng, 2017) [4]
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tập trung vào khu vực rừng tự nhiên có diện tích khoảng 5.000 ha thuộc các xã Cao Mã Pờ, Tùng Vài và Tả Ván, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang (khu rừng Cao - Tả - Tùng), nơi được ghi nhận là vùng phân bố của quần thể VMH (Hình 2.1) Vùng nghiên cứu nằm trọn trên địa phận huyện Quản Bạ và tiếp giáp với huyện Malipô của Trung Quốc Vùng nghiên cứu có địa hình núi đá vôi hiểm trở, dốc cao và thung lũng sâu, bình độ dao động từ 900m đến 1.700m so với mặt biển Toàn bộ vùng được bao phủ bởi hệ sinh thái rừng thường xanh trên núi núi đá vôi và rừng thường xanh thung lũng, nguyên sinh hoặc bị tác động ít
Trang 27Hình 2.1 Vị trí khu vực khảo sát thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
(Nguồn: Dựa trên bản đồ hiện trạng rừng năm 2016 do Hạt Kiểm lâm Quản Bạ cấp)
2.4 Nội dung nghiên cứu
Điều kiện sinh cảnh của quần thể VMH tại rừng Quản Bạ
Các tác động của cộng đồng địa phương đến sinh cảnh của quần thể VMH ở rừng Quản Bạ
Nhận thức về bảo vệ rừng và bảo tồn động vật hoang dã của cộng đồng địa phương
Đề xuất các giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của cộng đồng địa phương đến sinh cảnh của VMH ở Quản Bạ
Trang 282.5 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018 và được chia thành 4 đợt như sau:
Khảo sát hiện trường tại vùng nghiên cứu được thực hiện từ ngày 14 đến 25/3/2018
Phỏng vấn thôn Vàng Chá Phìn của xã Cao Mã Pờ từ ngày 23 đến ngày 27/6/2018
Phỏng vấn các thôn Và Thăng 2 của xã Cao Mã Pờ và thôn Bản Thăng của
xã Tùng Vài từ ngày 4 đến ngày 9/9/2018
Phỏng vấn các thôn Tả Ván và Chúng Chải của xã Tả Ván từ ngày 13 đến ngày 20/11/2018
2.6 Phương pháp nghi n cứu
2.6.1 Kế thừa có chọn lọc từ các nguồn tài liệu sẵn có
Các tài liệu sẵn có được lựa chọn tham khảo gồm: Các bài báo đã đăng trên tạp chí chuyên ngành hoặc trên mạng internet; Các báo cáo trong hội nghị khoa học hoặc các dữ liệu khác (bản đồ, ảnh, báo cáo,…) là sản phẩm của các dự án; Các sách chuyên khảo có ghi rõ tên nhà xuất bản, cơ quan xuất bản
Kế thừa cơ sở dữ liệu GIS đã được số hóa bằng MapInfo 7.5 của Hạt Kiểm lâm Quản Bạ Các dữ liệu này được chọn lọc và kết hợp với số liệu của các đợt khảo sát thực địa để biên tập các bản đồ chuyên đề như: địa hình, thuỷ văn, hiện trạng thảm thực vật, tuyến điều tra, phân bố của VMH, phân cấp mối đe doạ, khu vực ưu tiên VMH,… Tham khảo các tài liệu điều tra khảo sát đa dạng sinh học đã thực hiện trong vùng nghiên cứu và các vùng lân cận trước đây Trong đó, bao gồm các tài liệu như các báo cáo kỹ thuật liên quan đến đa dạng thực vật vùng nghiên cứu (hoặc lân cận) của FFI-Việt Nam Việc nghiên cứu các tài liệu này đã giúp người điều tra có được những kiến thức cơ sở quan trọng về điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu và một số tư liệu ban đầu về thành phần loài thực vật
2.6.2 Điều tra phỏng vấn chính quyền và người dân địa phương
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn PRA) [2] được áp dụng khi phỏng vấn 20 cán bộ địa phương tại 3 xã Cao Mã Pờ, Tả Ván, Tùng Vài, huyện Quản Bạ,
Trang 29tỉnh Hà Giang bao gồm các bí thư chi bộ thôn, trưởng thôn, công an viên, cán bộ ủy ban xã và kiểm lâm viên quản lý địa bàn Nội dung phỏng vấn bao gồm: đặc điểm chung của khu vực nghiên cứu (kinh tế, xã hội), các hình thức tuyên truyền về bảo tồn đã được tổ chức trong khu vực Các thông tin về hiện trạng công tác quản lý bảo
vệ rừng; những hoạt động của KVNC và các chương trình bảo tồn mà KVNC đã thực hiện được thu thập qua phỏng vấn hạt trưởng và trưởng phòng kỹ thuật hạt kiểm lâm Quản Bạ
Phỏng vấn 150 hộ (trung bình 30 hộ/ thôn – số lượng trên được lựa chọn dựa trên số lượng hộ của thôn ít dân cư nhất) thuộc các thôn Vàng Chá Phìn, Và Thăng Hai thuộc xã Cao Mã Pờ, Bản Thăng thuộc xã Tùng Vài và các thôn Tả Ván, Chúng Chải thuộc xã Tả Ván để có được những thông tin về kinh tế- văn hoá của các hộ cũng như những thông tin về VMH, mức độ phụ thuộc vào tài nguyên động vật rừng của các hộ gia đình Tất cả các thông tin thu được qua phỏng vấn hộ gia đình được ghi vào mẫu biểu chuẩn bị sẵn (Phụ lục 1 – mẫu phiếu)
Trong mỗi thôn, sau khi phỏng vấn 30 hộ gia đình, chọn được một số người hay đi rừng hoặc đã từng đi săn để trao đổi về hoạt động săn bắt, sử dụng và bảo vệ VMH cũng như động vật rừng tại địa phương hiện nay cũng như trước kia để từ đó phát hiện kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thú rừng ở địa phương
Để phát hiện kiến thức bản địa, đề tài đã xây dựng bộ câu hỏi định hướng cho việc thảo luận như sau:
Hiểu biết về VMH và nơi sống của VMH, các hoạt động sinh kế của các hộ, các hình thức sử tài nguyên rừng của các hộ, nhận thức về bảo về rừng và động vật hoang dã của các hộ Cụ thể như sau:
+ Ước tính số lượng cá thể ngoài tự nhiên theo các mức: không biết, ít, trung bình, nhiều, rất nhiều
+ Sự tăng giảm số lượng cá thể trong khoảng 5 năm gần đây: tăng, giảm, không thay đổi
+ Đặc điểm nhận dạng của VMH: Đuôi dài, lông màu nâu đen, mặt bụng màu trắng nhạt
Trang 30+ Các sinh cảnh sống của loài: rừng nguyên sinh, rừng cây gỗ cao, ven suối, rừng đang phục hồi, rừng tre nứa, trên đồi – núi – cao, rừng núi đá
- Hoạt động sinh kế của các hộ được hỏi thông qua các câu hỏi:
+ Mức sống của từng hộ theo các mức: hộ nghèo, hộ trung bình, hộ khá + Đánh giá tầm quan trọng của các hoạt động sản xuất quen thuộc: canh tác ngô, canh tác lúa nước, chăn nuôi, làm vườn, khai thác lâm sản, canh tác thảo quả, dịch vụ buôn bán nông sản - tạp hóa, làm việc có lương tháng đối với từng hộ theo
3 mức độ: 1 – ít, 2 – trung bình, 3 – nhiều Sau đó, mức độ quan trọng của các hình thức sản xuất này sẽ được tính bằng tổng số điểm của các hộ trong thôn: ∑ mức điểm*số hộ
Các hình thức sử dụng tài nguyên rừng, phụ thuộc vào rừng của từng hộ theo các câu hỏi như sau:
+ khoảng cách từ nơi có các hoạt động sản xuất đến khu vực nghiên cứu được chia thành 3 mức độ: dưới 1 km, 1-2 km, trên 2km
+ mức độ khai thác gỗ: không khai thác, không thường xuyên, thường xuyên + mục đích khai thác gỗ: làm nhà ở, sửa nhà, lấy gỗ bán, làm chất đốt
+ khu vực thường khai thác gỗ: rừng đặc dụng, rừng đất 02 cộng đồng, rừng đất 02 gia đình
+ các mối đe dọa đến động vật rừng hiện tại và trước đây: săn bắn bằng súng, các loại bẫy như bẫy dây, bẫy kẹp và mất rừng
+ mục đích của việc săn bắt thú rừng: lễ hội tín ngưỡng), làm thuốc dược liệu), thực phẩm, trang trí, nuôi làm cảnh, buôn bán, bảo vệ cây trồng
+ thời gian đi săn bẫy thú: theo ngày, theo tháng, theo mùa, theo năm và vì sao lại đi săn vào thời gian đó: số lượng thú nhiều, mùa sinh sản hoặc mùa thú hoạt động, theo truyền thống, thời gian nhàn rỗi, nhu cầu thị trường tăng cao
Nhận thức bảo tồn được hỏi thông qua các ý sau:
+ Ông/Bà có nghĩ rằng Voọc mũi hếch là loài quý hiếm không? Động vật rừng có quan trọng đối với cuộc sống của gia đình ông/bà không? Động vật rừng có quấy nhiễu hoạt động sản xuất nông nghiệp của ông bà không? Hoạt động săn bắn
có mang lại thu nhập đáng kể cho các hộ gia đình trong thôn bản) không? Nếu cấm
Trang 31săn bắn thì các gia đình có gặp khó khăn không? Nếu cấm thì có khả năng dừng hẳn không? Vì sao? Mọi người đã bao giờ nghe thấy chính quyền địa phương yêu cầu phải bảo vệ động vật hoang dã?
+ Mọi người thu nhận các thông tin/kiến thức về loài và bảo vệ rừng
từ các nguồn nào: xem tivi, từ cộng đồng, ngheđài, đọc sách/báo, từ các đoàn thể, xã hội, từ kiểm lâm, xem qua phim/ảnh/băng/đĩa, từ chính quyền, xem qua ápphíc/pano, từ người trong gia đình, dòng họ, ban quản lý KBT, nguồn khác
+ Đánh giá về các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo tồn của chính quyền địa phương theo các mức: rất tốt, tốt, khá tốt, đạt yêu cầu, ít hiệu quả, không hiệu quả
Nhận thức bảo tồn của người dân sẽ được đánh giá qua việc sau khi tiếp nhận các thông tin tuyên truyền về VMH, người dân có tự nhận thức được các hoạt động của bản thân có tác động đến tài nguyên rừng nói chung và VMH nói riêng Qua đó có các hình thức chuyển đổi phương thức sản xuất khác hay vẫn tiếp tục các hoạt động sản xuất truyền thông đã và đang gây đe dọa đến rừng và quần thể VMH
2.7 Phương pháp phân tích số liệu
Các phân tích thổng kê được thực hiến trên phân mềm thống kê SPSS phiên bản 20, sử dụng mức ý nghĩa p = 0,05 Trước khi phân tích, các câu hỏi được mã hóa sang dạng số (phụ lục 2) Để tạo điều kiện cho các phân tích thống kê, các số liệu về diện tích thảo quả và thu nhập được chia thành 5 nhóm từ thấp đến cao và được cho điểm lần lượt từ 1 đến 5 Từ đó, một nhân tố đại diện “có thảo quả” được xây dựng từ trung bình cộng các điểm diện tích thảo quả và điểm thu nhập thảo quả của mỗi người Tương tự, các câu trả lời về “nhận thức bảo tồn” và “thái độ bảo tồn” được cho điểm theo thang điểm 3 bậc (bảng 2), từ đó, nhân tố “điểm chuẩn nhận thức bảo tồn” được xây dựng từ trung bình cộng điểm của 3 câu trả lời về nhận thức bảo tồn (theo Guazman et al 2020) Nhân tố “điểm chuẩn thái độ bảo tồn” được xây dựng từ trung bình cộng của 5 câu trả lời về thái độ bảo tồn Riêng câu hỏi thứ 6 về sự cần thiết bảo tồn VMH được phân tích riêng do hấu hết những người trả lời đều lựa chọn là “có cần thiết”
Trang 32Bảng 2.1 Thang điểm cho các câu trả lời về nhận thức và thái độ bảo tồn VMH
F-NT Nhận thức bảo tồn Điểm 1 Điểm 2 Điểm 3
NT1 Tầm quan trọng của
VMH đối với môi
trường và cộng đồng
Có hại Không hại và
không lợi Có lợi
Biết quý hiếm và hình phạt NT3 Trồng thảo quả trong
rừng có hại cho VMH không hại
không biết / không ý kiến Có hại
F-TD Thái độ bảo tồn Điểm 1 Điểm 2 Điểm 3
TD1 Thân thiện với VMH Không Thân thiện Rất thân
thiện TD2 Bảo tồn VMH có lợi cho
rừng và cộng đồng
Không có lợi
Không biết / không ý kiến
Có lợi
TD3
Thái độ đối với người đi
Báo kiểm lâm, lãnh đạo thôn, xã TD4 Thái độ về chủ trương
cấm trồng thảo quả trong
RPH
Không ủng
hộ Không ý kiến Ủng hộ TD5 Thái độ về chủ trương
thành lập khu bảo tồn
VMH
Không ủng
hộ Không ý kiến Ủng hộ Mức độ nhận thức bảo tồn và thái độ bảo tồn của những người trả lời phỏng vấn được đánh giá dựa vào điểm chuẩn nhận thức bảo tồn và điểm chuẩn thái độ bảo tồn theo phương pháp đánh giá của thang likert 3 bậc (Phạm Lộc, 2020) Cụ thể các mức đánh giá nhận thức bảo tồn gồm: từ 1.00 – 1.70 là “nhận thức thấp”; từ 1.71 – 2.40 là “nhận thức trung bình” và từ 2.41 – 3.00 là “nhận thức cao” Tương
Trang 33tự, các mức đánh giá thái độ bảo tồn gồm: từ 1.00 – 1.70 là “thái độ tiêu cực”; từ 1.71 – 2.40 là “thái độ trung lập/trung bình” và từ 2.41 – 3.00 là “thái độ tích cực” Trước hết, chúng tôi đánh giá nhận thức bảo tồn và thái độ bảo tồn của từng thôn điều tra Sau đó, số liệu của tất cả những người trả lời phỏng vấn thuộc các thôn điều tra được kết hợp lại với nhau để kiểm tra mối liên hệ giữa nhận thức bảo tồn và thái độ bảo tồn với các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế - xã hội của những người trả lời phỏng vấn
Để lựa chọn loại kiểm định thống kê phù hợp, dữ liệu được kiểm tra phân phối chuẩn và tính đồng nhất phương sai bằng các kiểm định Shapiro-Wilk/Lilliefors và Levene’s test Các kiểm định phi tham số được sử dụng cho dữ liệu có phân bố không chuẩn Để tổng hợp và tóm tắt các thông tin/tư liệu thu thập
sử dụng các lệnh thống kê mô tả Sự khác biệt về tỷ lệ số người trả lời và quan hệ của các biến tiêu chí nhân khẩu học và kinh tế xã hội (là những biến định tính) được kiểm tra bằng kiểm định Chi-bình phương χ2) Vì phân phối của điểm chuẩn nhận thức bảo tồn và điểm chuẩn thái độ bảo tồn theo theo các tiêu chí nhân khẩu học và kinh tế xã hội của những người trả lời phỏng vấn là gần chuẩn và đồng phương sai nên sự khác biệt trung bình của các điểm chuẩn này được kiểm tra cả bằng các kiểm định phi tham số (Kruskal-Wallis và Mann-Whitney) và kiểm định tham số (kiểm định t-test mẫu độc lập Independent Sample T-test và phân tích Anova một chiều One-way Anova) Để kiểm tra quan hệ giữa các điểm chuẩn nhận thức bảo tồn và điểm chuẩn thái độ bảo tồn với các tiêu chí nhận khẩu học và kinh tế - xã hội của những người trả lời phỏng vấn, kiểm định chi-bình phương χ2) được sử dụng cho các tiêu chí là những biến định tính và kiểm định Pearson/Sperman được sử dụng cho các tiêu chí là những biến định lượng Cuối cùng, phân tích hồi quy tuyến tính (lear regression) và hồi quy logistic được sử dụng để xem xét các biến nhân khẩu học hoặc các biến khác có liên quan như thế nào hoặc ảnh hưởng như thế nào đến nhận thức bảo tồn và thái độ bảo tồn của những người trả lời phỏng vấn Khi đó, các nhân tố “điểm chuẩn nhận thức bảo tồn” và “điểm chuẩn thái độ bảo tồn” được xem
là những biến phụ thuộc, tất cả các biến còn lại đóng vai trò là các biến độc lập
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm sinh cảnh của VMH tại rừng Quản Bạ
3.1.1 Trạng thái rừng trong khu vực nghiên cứu
Kết quả điều tra thực địa và tham khảo tài liệu liên quan (Phạm Văn Thế và
cs 2018), đã xác định được 8 kiểu sinh cảnh tương ứng với trạng thái rừng và 7 kiểu sinh cảnh không có rừng trong vùng nghiên cứu (Bảng 3.1, Hình 3.1) [10]
Bảng 3.1 Phân loại trạng thái rừng và các dạng sinh cảnh khác
trong khu vực nghiên cứu STT Tên trạng thái rừng và đất không có rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1.1.1 Rừng lá rộng thường xanh núi đất giàu 49,7 1,09 1.1.2 Rừng lá rộng thường xanh núi đất trung bình 1619,99 35,50 1.1.3 Rừng lá rộng thường xanh núi đất nghèo 360,03 7,89 1.1.4 Rừng lá rộng thường xanh núi đất phục hồi 250,63 5,49
1.2.1 Rừng lá rộng thường xanh núi đá giàu 173,42 3,80 1.2.2 Rừng lá rộng thường xanh núi đá trung bình 746,67 16,36 1.2.3 Rừng lá rộng thường xanh núi đá nghèo 151,98 3,33 1.2.4 Rừng lá rộng thường xanh núi đá phục hồi 860,74 18,86
3.1 Có cây gỗ tái sinh
3.2 Đất trống cây bụi
3.2 Có cây nông nghiệp
Trang 35Hình 3.1: Phân bố các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu
Trang 36Tổng diện tích của 8 kiểu sinh cảnh rừng chiếm 4213,16 ha; bằng 92,32% diện tích khu vực nghiên cứu; nhiều nhất là các sinh cảnh rừng tự nhiên núi đất chiếm 2280,35 ha, bằng ≈ 50% diện tích khu vực nghiên cứu Trong đó trạng thái
“Rừng LRTX núi đất trung bình” chiếm đến 1619,99 ha, bằng 35,5% tổng diện tích khu vực nghiên cứu Trạng thái “Rừng LRTX núi đất giàu” chỉ chiếm hơn 1% tổng
diện tích
Các kiểu sinh cảnh rừng tự nhiên núi đá chiếm 1932,81 ha, bằng 42,35% tổng diện tích khu vực nghiên cứu Trong đó trạng thái “Rừng LRTX núi đá phục hồi” chiếm diện tích 860,74 ha, bằng 18,86% tổng diện tích Tiếp đến là “Rừng LRTX núi đá trung bình” chiếm 746,67 ha, bằng 16,36 % tổng diện tích khu vực nghiên cứu Trạng “Rừng LRTX núi đá giàu” chỉ chiếm 173,42 ha, bằng 3,8% diện tích khu vực nghiên cứu (Bảng 3.1) [10]
Có 7 kiểu sinh cảnh không có rừng, chiếm 350,3 ha, bằng 7,68% tổng diện tích khu vực nghiên cứu (Bảng 3.1) [10] Trong khu vực này không có kiểu sinh cảnh rừng nguyên sinh do chúng bị tác động mạnh bởi các hoạt động như cắt tỉa cây
gỗ tạo độ tàn che trồng thảo quả dưới tán rừng và trải qua quá trình chặt chọn lâu dài Các hoạt động này cũng ảnh hưởng rất lớn đến trữ lượng rừng, tạo ra trạng thái rừng trung bình và phục hồi chiếm phần lớn
3.1.2 Đa dạng về thành phần loài
Theo Phạm Văn Thế và cs., (2018), kết quả khảo sát tại vùng nghiên cứu đã ghi nhận được 648 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 364 chi, 129 họ và 5 ngành [10] Tất cả các loài đều được ghi nhận qua điều tra quan sát trực tiếp tại thực địa Hầu hết các loài được chụp ảnh kèm theo các thông tin ghi chép về đặc điểm sinh thái, vật hậu và toạ độ địa lý Thêm vào đó, có 67 loài được thu mẫu làm tiêu bản hiện lưu giữ tại Phòng Sưu tập mẫu vật thực vật khô của Viện nghiên cứu Lâm Sinh, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Các loài thực vật bậc cao có mạch được ghi nhận tại khu vực nghiên cứu chủ yếu thuộc ngành Ngọc lan với 583 loài, chiếm 89,97% tổng số các loài phân bố ở đây Bảng 3.2) [10]
Trang 37và thường mọc ở những nơi có độ cao từ 1200m trở lên Chúng bao gồm 3 họ là Hoàng đàn, Thông tre và Thông đỏ Ngành Thông đất có số lượng loài tương đối ít, chỉ có 5 loài, chiếm 0.77% tổng số Ngành Dây gắm chỉ có 1 loài duy nhất, chiếm tỷ
lệ 0,15% tổng số các loài trong khu vực nghiên cứu
3.1.3 Đa dạng về dạng cây
Theo Phạm Văn Thế và cs., (2018), trong tổng số 648 loài thực vật được ghi nhận ở khu vực nghiên cứu thì có đến 207 loài có dạng cây thân gỗ, chiếm 32% tổng số, trong đó có 23 loài cây gỗ lớn, 107 loài cây gỗ trung bình và 77 loài cây gỗ nhỏ [10]
Trang 38Hình 3.2 Tỷ lệ dạng cây các loài thực vật trong khu vực nghiên cứu
(Ghi chú: T – Tree; Ep – Cây bì sinh; He – Cây cỏ; Li – Dây leo; Sh – Cây bụi;
ShS – Cây bụi trườn)
Những loài thực vật có dạng cây cỏ, cây bì sinh, dây leo, cây bụi hoặc cây bụi trườn chiếm đa số với 441 loài Theo hình 3.2, dạng cây phổ biến nhất là cây cỏ
233 loài chiếm 36%, tiếp đến cây bụi với 91 chiếm 14%, cây bì sinh 60 loài chiếm
9%, dây leo 30 loài chiếm 5% và 27 loài còn lại là cây bụi trườn chiếm 4%
3.2 Sự tác động đến sinh cảnh của VMH và nhận thức bảo tồn của cộng đồng dân cư địa phương
Đề tài đã chọn khảo sát 5 thôn là Vàng Chá Phìn, Và Thăng Hai thuộc xã Cao Mã Pờ, Bản Thăng thuộc xã Tùng Vài và các thôn Tả Ván, Chúng Chải thuộc
xã Tả Ván là những thôn có khoảng cách gần với khu rừng Cao – Tả - Tùng nhất,
và có tác động nhiều nhất đến sinh cảnh của VMH sinh sống
3.2.1 Điều kiện dân sinh - kinh tế - văn hóa của thôn Vàng Chá Phìn
3.2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Bản Vàng Chá Phìn là một khu dân cư có lịch sử lâu đời người dân tộc thiểu
số Hán, nằm sát biên giới Việt Trung Khu vực có địa hình núi cao, dốc, hiểm trở và cách trung tâm xã 12 km Theo báo cáo của địa phương thì tính đến cuối năm
2018, có 51 hộ, 257 khẩu trong đó có 21 hộ nghèo, 16 hộ trung bình và 14 hộ khá
Trang 39Nghiên cứu của chúng tôi khảo sát ngẫu nhiên 30 hộ của thôn, trong đó có 25 hộ nghèo (83,33%) và 5 hộ trung bình (16,67%)
Hình 3.3 Một số hoạt động sản xuất chính tại thôn Vàng Chá Phìn
Sinh kế chính của người dân ở đây là trồng ngô 90 điểm) và thảo quả (75 điểm) (Hình 3.3) Các hoạt động sản xuất có mức điểm tự đánh giá của người được hỏi đều thấp hơn rất nhiều so với 2 hoạt động trên chăn nuôi: 35 điểm, làm vườn:
30 điểm, khai thác lâm sản: 11 điểm, buôn bán: 3 điểm)
Theo số liệu của địa phương cung cấp năm 2018, diện tích canh tác một số loại cây trồng chính ở đây là ngô 81,5 ha), cây dược liệu 79,15 ha) và đậu tương với diện tích rất nhỏ (2,05 ha) Ngoài ra, còn có 2,12 ha trồng cỏ phục vụ mục đích chăn nuôi Đàn gia súc của toàn thôn chỉ có 20 con trâu,132 con bò, 72 con dê và
504 con lợn Ngoài ra người dân còn nuôi thêm các loại gia cầm như gà, vịt (1105 con)
3.2.1.2 Hoạt động sử dụng và khai thác tài nguyên rừng
Mặc dù sinh kế chính của người dân tại đây là canh tác ngô và thảo quả nhưng đối với một số hộ vẫn còn các hoạt động khai thác lâm sản như là nguồn thu nhập quan trọng
Đối với khai thác các loại gỗ, cả 30 hộ được hỏi đều trả lời rằng họ có khai thác nhưng không thường xuyên Mục đích khi khai thác gỗ của họ để sử dụng làm
Trang 40chất đốt là chủ yếu với 100% hộ thừa nhận, ngoài ra có 6 hộ trả lời họ lấy gỗ về dựng nhà mới và 14 hộ muốn lấy gỗ về sửa chữa lại nhà (hình 3.4)
sử dụng) để săn bắt thú thì hiện tại, hầu hết người dân chỉ sử dụng các loại bẫy kẹp (93,33%) (Hình 3.6)
Khi được hỏi, họ săn bắt thú với mục đích gì, thì câu trả lời nhận được nhiều nhất là họ sẽ mang số thú săn bắt được đi bán có 21 hộ trả lời chiếm 70%) (Hình 3.7) Bên cạnh đó, một số người đặt bẫy ngay xung quanh khu vực canh tác của gia đình để hạn chế các loài động vật vào phá hoại (có 14 hộ chiếm 43,33%) và một số
ít hộ (7 hộ, chiếm 23,33%) sử dụng các sản phẩm từ thú săn bắt để làm vật trang trí
Và họ sẽ vào rừng bẫy thú vào các khoảng nông nhàn cũng khi thời tiết thuận lợi cho việc đi rừng