1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động sinh thái của cộng đồng dân cư đến sinh cảnh sống của voọc mũi hếch rhinopithecus avunculus ở khu vực quản bạ tỉnh hà giang

81 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tác động sinh thái của cộng đồng dân cư đến sinh cảnh sống của voọc mũi hếch rhinopithecus avunculus ở khu vực quản bạ tỉnh hà giang
Tác giả Nguyễn Đức Trung
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Lan Anh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Sinh thái học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và động vật hoang dã nói riêng, hiểu biết được mức độ nhận thức và thái độ bảo tồn của người dân và các đối tác địa phương là rất quan t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Ở KHU VỰC QUẢN BẠ, HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Ở KHU VỰC QUẢN BẠ, HÀ GIANG

Chuyên ngành: Sinh thái học

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của những người thân, các cá nhân và bạn bè đồng nghiệp Tôi vô cùng biết ơn tất cả những sự giúp đỡ nhiệt tình đó!

Nhân dịp này, cho phép tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Lan Anh (Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội), người đã dành thời gian hướng dẫn khoa học tận tình, chi tiết trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới ông Hoàng Văn Lâm, Quản lý chương trình của FFI - Việt Nam, đã tài trợ kinh phí cho nghiên cứu này

Xin được gửi lời cảm ơn trân trọng tới các cơ quan: Quỹ Môi trường thiên nhiên Nagao đã hỗ trợ kinh phí trong quá trình nghiên cứu; UBND tỉnh Hà Giang

và Chi cục Kiểm lâm Tỉnh Hà Giang, Phòng Bảo tồn Thiên nhiên, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cấp giấy cho phép tôi được thực hiện hoạt động nghiên cứu thực địa; bộ môn Sinh thái học, bộ môn Động vật học và bảo tồn, khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cá nhân: PGS TS Nguyễn Xuân Đặng (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam)

và TS Phạm Văn Thế (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Thực hành, Bình Dương) đã cung cấp một số báo cáo và tài liệu hữu ích

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể nhân dân thôn Vàng Trá Phìn, Và Thăng 2 thuộc xã Cao Mã Pờ, thôn Bản Thăng thuộc xã Tùng Vài, thôn Tả Ván, Chúng Chải thuộc xã Tả Ván, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang đã đặc biệt giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu tại đây

Cuối cùng, tôi xin được bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Mẹ và gia đình cùng bạn bè, đã ủng hộ, ân cần động viên, dành sự cảm thông đối với công việc nghiên cứu thực địa và học tập của tôi

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Nguyễn Đức Trung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Voọc mũi hếch ở Việt Nam 3

1.2 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của VMH ở Việt Nam 4

1.3 Hiện trạng phân bố của Voọc mũi hếch 5

1.4 Tình trạng quần thể Voọc mũi hếch ở rừng Quản Bạ 7

1.5 Khái niệm thái độ bảo tồn và vai trò của thái độ bảo tồn trong quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học 8

1.6 Điều kiện tự nhiên, một số đặc điểm kinh tế-xã hội của khu vực nghiên cứu10 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG, THỜI GIAN 17

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Địa điểm nghiên cứu 17

2.3 Mục tiêu nghiên cứu 18

2.4 Nội dung nghiên cứu 18

2.5 Thời gian nghiên cứu 19

2.6 Phương pháp nghiên cứu 19

2.7 Phương pháp phân tích số liệu 22

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Đặc điểm sinh cảnh của VMH tại rừng Quản Bạ 25

3.1.1 Trạng thái rừng trong khu vực nghiên cứu 25

3.2 Sự tác động đến sinh cảnh của VMH và nhận thức bảo tồn của cộng đồng dân cư địa phương 29

3.3 Các đe dọa của con người đến sinh cảnh của VMH tại khu vực Cao – Tả - Tùng 49

3.4 Nhận thức bảo tồn Voọc mũi hếch của người dân và nhân tố tác động đến nhận thức bảo tồn 53

3.5 Các kênh tiếp nhận thông tin tuyên truyền bảo tồn VMH tại địa phương 55

Trang 5

3.6 Đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của người dân địa phương đến

sinh cảnh của quần thể VMH ở Quản Bạ 55

KẾT LUẬN 57

5 Đề xuất ba giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của người dân địa phương đến sinh cảnh của quần thể VMH ở Quản Bạ 57

KIẾN NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 65

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTTN Bảo tồn thiên nhiên

FFI Việt Nam Tổ chức bảo tồn Động thực vật hoang dã quốc tế - Chương trình

Việt Nam LRTX Lá rộng thường xanh

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp năm 2018

Bảng 1.2 Số lượng gia súc, gia cầm

Bảng 1.3 Tỷ lệ phân loại các hộ theo bậc giàu nghèo

Bảng 2.1 Thang điểm cho các câu trả lời về nhận thức và thái độ bảo tồn VMH Bảng 3.1 Phân loại trạng thái rừng và các dạng sinnh cảnh khác trong khu vực nghiên cứu

Bảng 3.2: Số lượng loài và tỷ lệ % của các Ngành thực vật trong khu vực nghiên cứu

Bảng 3.3 Phân cấp mức độ đe dọa trực tiếp đến VMH tại khu vực rừng Cao – Tả - Tùng

Bảng 3.4 Kết quả phân tích sự liên hệ giữa điểm chuẩn nhận thức bảo tồn và các tiêu chí nhân khẩu học và kinh tế xã hội của những người TLPV

Bảng 3.5 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính điểm chuẩn thái độ bảo tồn theo các tiêu chí nhân khẩu học và kinh tế -xã hội

Bảng 3.6 Các nguồn thông tin tuyên truyền bảo tồn VMH

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Phân bố của Voọc mũi hếch ở Việt Nam

Hình 1.2 Phân bố của VMH ở Hà Giang

Hình 1.3 Vùng phân bố của VMH ở huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang

Hình 2.1 Vị trí khu vực khảo sát thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang

Hình 3.1 Phân bố các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu

Hình 3.2 Tỷ lệ dạng cây các loài thực vật trong khu vực nghiên cứu

Hình 3.3 Một số hoạt động sản xuất chính tại thôn Vàng Chá Phìn

Hình 3.4 Mục đích khi khai thác gỗ ở thôn Vàng Chá Phìn

Hình 3.5 Mức độ săn bắt thú ở thôn Vàng Chá Phìn

Hình 3.6 Các phương pháp săn bắt thú ở thôn Vàng Chá Phìn

Hình 3.7 Mục đích sử dụng động vật săn bắt ở thôn Vàng Chá Phìn

Hình 3.8 Trình độ học vấn của người dân ở thôn Vàng Chá Phìn

Hình 3.9 Đặc điểm nhận dạng của VMH theo hiểu biết của người dân ở thôn Vàng Chá Phìn

Hình 3.10 Khảo sát dừng hẳn hoạt động săn bắt ở thôn Vàng Chá Phìn

Hình 3.11 Một số hoạt động sản xuất chính tại thôn Và Thăng 2

Hình 3.12 Mục đích khi khai thác gỗ tại thôn Và Thăng 2

Hình 3.13 Mức độ săn bắt thú tại thôn Và Thăng 2

Hình 3.14 Các phương pháp săn bắt thú tại thôn Và Thăng 2

Hình 3.15 Mục đích săn bắn của người dân ở thôn Và Thăng 2

Hình 3.16 Trình độ học vấn của người dân ở thôn Và Thăng 2

Hình 3.17 Đặc điểm nhận dạng VMH theo hiểu biết người dân ở thôn Và Thăng 2 Hình 3.18 Khảo sát dừng hẳn hoạt động săn bắt ở thôn Và Thăng 2

Hình 3.19 Một số hoạt động sản xuất chính ở thôn Bản Thăng

Hình 3.20 Mục đích khi khai thác gỗ ở thôn Bản Thăng

Hình 3.21 Mức độ săn bắt thú ở thôn Bản Thăng

Hình 3.22 Các phương pháp săn bắt thú ở thôn Bản Thăng

Hình 3.23 Mục đích săn bắt của người dân ở thôn Bản Thăng

Hình 3.24 Trình độ học vấn của người dân ở thôn Bản Thăng

Trang 9

Hình 3.25 Đặc điểm nhận dạng VMH theo hiểu biết người dân ở thôn Bản Thăng Hình 3.26 Khảo sát dừng hẳn hoạt động săn bắt ở thôn Bản Thăng

Hình 3.27 Một số hoạt động sản xuất chính ở thôn Tả Ván

Hình 3.28 Mục đích khi khai thác gỗ ở thôn Tả Ván

Hình 3.29 Mức độ săn bắt thú ở thôn Tả Ván

Hình 3.30 Các phương pháp săn bắt thú ở thôn Tả Ván

Hình 3.31 Mục đích săn bắt của người dân ở thôn Tả Ván

Hình 3.32 Trình độ học vấn của người dân ở thôn Tả Ván

Hình 3.33 Đặc điểm nhận dạng VMH theo hiểu biết người dân ở thôn Tả Ván Hình 3.34 Khảo sát dừng hẳn hoạt động săn bắt ở thôn Tả Ván

Hình 3.35 Một số hoạt động sản xuất chính ở thôn Chúng Trải

Hình 3.36 Mục đích khi khai thác gỗ ở thôn Chúng Chải

Hình 3.37 Mức độ săn bắt thú ở thôn Chúng Chải

Hình 3.38 Các phương pháp săn bẫy thú ở thôn Chúng Chải

Hình 3.39 Mục đích săn bắt của người dân ở thôn Chúng Chải

Hình 3.40 Trình độ học vấn của người dân ở thôn Chúng Chải

Hình 3.41 Đặc điểm nhận dạng VMH theo hiểu biết người dân ở thôn Chúng Chải Hình 3.42 Khảo sát dừng hẳn hoạt động săn bắt ở thôn Chúng Chải

Hình 3.44 Khoảng cách từ khu vực canh tác đến nơi có VMH sinh sống

Trang 10

không quá 250 cá thể Covert et al 2008, Schwitzer et al 2015) [19, 47]

Tỉnh Hà Giang có hai quần thể VMH phân bố tại Khu bảo tồn loài và Sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca (KBT VMH Khau Ca) thuộc huyện Vị Xuyên và khu vực rừng thuộc 3 xã Cao Mã Pờ, Tả Ván và Tùng Vài (khu rừng Cao – Tả - Tùng) thuộc huyện Quản Bạ Theo FFI-Việt Nam (2018), quần thể VMH ở KBT Khau Ca

có khoảng 150 cá thể sinh sống và đang được bảo vệ khá tốt với sự hỗ trợ kỹ thuật

và kinh phí của tổ chức FFI - Việt Nam và một số tổ chức bảo tồn khác [53]

Quần thể VMH ở khu rừng Cao – Tả - Tùng mới được phát hiện năm 2007, ước tính khoảng 32-35 cá thể (Lê Khắc Quyết & Covert, 2010) [27] Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đặng và cs (2019) cho thấy quần thể VMH Quản Bạ có phân bố giới hạn trong khu vực khoảng 5.000 ha thuộc các núi Thèng Chu Phìn, Dao Dàn Chải, Tà Lày, Đồi 754 và dãi khu rừng dọc biên giới Việt - Trung từ mốc 283 đến mốc 295[39] Tại đây rừng tự nhiên ở trạng thái khá tốt Độ che phủ rừng đạt 92,3% diện tích với hai loại rừng chính là Rừng lá rộng thường xanh (2280,4 ha, chiếm 50,0% diện tích) và Rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi 1932,8 ha, 42,4%) (Phạm Văn Thế và cs 2018) [10] Quần thể này đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao do tình trạng săn bắt động vật hoang dã và sự suy thoái rừng đang diễn ra mạnh, chưa được kiểm soát Từ năm 2007 đến nay, một số biện pháp quản

lý bảo tồn cấp bách nhằm bảo vệ quần thể VMH ở đây đã được Hạt kiểm lâm Quản

Bạ thực hiện với sự hỗ trợ của Tổ chức Thực vật và Động vật thế giới (FFI) và Trung tâm Tài nguyên, Môi trường và Biến đổi Khí hậu (CeREC) Tuy nhiên, quần

Trang 11

thể này vẫn đang tiếp tục bị suy giảm với số lượng ghi nhận là 4 đàn với 16 – 21 cá thể (Nguyễn Vân Trường và cs 2016) [12, 40] Nguyên nhân là do khu rừng này được quy hoạch là rừng phòng hộ đầu nguồn, không phải rừng đặc dụng nên việc kiểm soát các hoạt động phá hoại rừng, săn bắt động vật hoang dã gặp rất nhiều khó khăn Lê Trọng Đạt 2010, Nguyễn Xuân Đặng và cs 2017) [5, 30 Đặc biệt, tình

trạng trồng cây dược liệu Thảo quả (Amomum tsao) dưới tán rừng tràn lan của

người dân địa phương đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến VMH (Nguyễn Xuân Đặng và cs 2017) [5]

Trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và động vật hoang dã nói riêng, hiểu biết được mức độ nhận thức và thái độ bảo tồn của người dân và các đối tác địa phương là rất quan trọng để xây dựng các giải pháp bảo tồn phù hợp nhằm đạt được hiệu quả bảo tồn như mong muốn Bởi vì, thái độ bảo tồn của người dân địa phương có thể cung cấp thông tin chi tiết về cách họ sẽ cư xử, cách họ tuân thủ các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, cách họ ứng phó với những thiệt hại kinh

tế do động vật hoang dã gây ra và mức độ họ sẵn sàng chung sống với động vật hoang dã (Megaze, Balakrishnan và Belay, 2017) [32] Thái độ tích cực có thể nâng cao khả năng thực hiện thành công các mục tiêu bảo tồn, cung cấp các chiến lược để giải quyết xung đột lợi ích phát sinh trong bảo tồn

Xuất phát từ thực tiển trên, chúng tôi tiến hành điều tra đánh giá nhận thức

và thái độ bảo tồn VMH của người dân địa phương nhằm đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp nhất để duy trì và phát triển quần thể VMH tại địa phương thông

qua đề tài: “Đánh giá tác động sinh thái của cộng đồng dân cư đến sinh cảnh

sống của quần thể Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus (Dollman, 1912) ở khu vực Quản Bạ, Hà Giang” Mục tiêu của nghiên cứu là:

- Đánh giá mức độ nhận thức và thái độ bảo tồn VMH của người dân các thôn bản có tác động nhiều đến sinh cảnh và quần thể VMH

- Xem xét mối liên hệ giữa “mức độ nhận thức - thái độ bảo tồn VMH” của người dân với các điều kiện nhân khấu học và kinh tế xã hội của họ

- Đề xuất các kiến nghị về giải pháp nâng cao nhận thức và thái độ bảo tồn VMH ở rừng phòng hộ Quản Bạ

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Voọc mũi hếch ở Việt Nam

Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) được Dollman mô tả đầu tiên dựa

trên 8 mẫu vật do Owston và Orii thu được tại tỉnh Yên Bái (2142' vĩ độ Bắc; 10453' kinh độ Đông) vào tháng 9/1911 (Dollman 1912) [21 Ông đã so sánh loài

này với loài Voọc mũi hếch Vân Nam (Rhinopithecus bieti Milne - Edwards, 1897)

và cho đó là loài thuộc giống Rhinopithecus Nhưng Pocock 1924) đã nhận thấy có một vài sự khác nhau giữa các loài thuộc giống Rhinopithecus và đã đặt lại tên cho loài Voọc mũi hếch bắt được ở Yên Bái thuộc giống Presbytiscus [44] Thomas

1928) đã nghiên cứu 12 mẫu vật Voọc mũi hếch do J Delacour và H P Lowe thu được vào năm 1926 và 1927 và đã ủng hộ ý kiến này của Pocock [50]

Trong những thập niên tiếp theo với sự bùng nổ của thế chiến II (1941-1945)

và chiến tranh Pháp – Việt Nam xảy ra ở Miền Bắc Việt nam (1945-1954), hầu như không có nghiên cứu về loài này cho tới khi các công trình nghiên cứu của Đào Văn Tiến (1970), Lê Hiền Hào (1973) công bố

Theo Lê Hiền Hào (1973), VMH phân bố ở Chiêm Hóa và Na Hang (Tuyên Quang), Chợ Rã, Chợ Đồn, Na Rì và Bạch Thông (Bắc Kạn), Định Hóa, Đại Từ (Thái Nguyên), Ngòi Hút (Yên Bái), trên bờ phía Tây của sông Hồng Ông cho rằng, Voọc mũi hếch cũng sống ở vùng đất thấp và rừng núi cao ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn trong quá khứ, nhưng có khả năng là Voọc mũi hếch đang rất hiếm hoặc tuyệt chủng trong các khu vực này [6]

Năm 1985, Đào Văn Tiến trong công trình "Khảo sát thú ở Bắc Việt Nam "

đã thống kê các địa điểm có ghi nhận về phân bố địa lý của loài VMH ở miền Bắc

và các địa điểm này là rất ít [11]

Vào năm 1992, một cuộc khảo sát rộng rãi hơn về VMH bởi Ratajszczak, Đặng Ngọc Cần, và Phạm Nhật tại huyện Na Hang, Chiêm Hóa và Chạm Chu (Tuyên Quang), Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Kết quả khảo sát đã cho thấy, ước tính số VMH sống ở Tuyên Quang là 190 - 250 cá thể và khoảng 100 cá thể khác ở tỉnh Bắc Thái (nay là Bắc Kạn và Thái Nguyên) Không có bằng chứng

về VMH ở Vườn quốc gia Tam Đảo [45] Những nghiên cứu này chỉ tập trung vào

Trang 13

đánh giá tình trạng phân bố của VMH và các mối đe dọa liên quan đến hoạt động săn bắn của con người và không nghiên cứu về tập tính và sinh thái của loài

Năm 1992, Đặng Huy Huỳnh và cộng sự tiến hành nghiên cứu thực địa tại rừng Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Nghiên cứu này đã phác thảo một mô hình phát triển về số lượng của quần thể Voọc mũi hếch và dự đoán xu hướng biến động số lượng Voọc mũi hếch Cũng trong nghiên cứu này săn bắn được xác định là áp lực chính dẫn đến sự suy giảm về số lượng của Voọc mũi hếch trong các khu rừng Na Hang Đặng Huy Huỳnh 1995) [7, 20]

Vào các năm 1993 - 1994, Boonratana và Lê Xuân Cảnh đã tiến hành nghiên cứu tập tính sinh thái học của loài VMH tại Na Hang (Tuyên Quang) [17, 18, 4] Đây là nghiên cứu về tập tính sinh thái học đầu tiên về loài này ở Việt Nam

Năm 2002, Lê Khắc Quyết đã tiến hành các cuộc khảo sát thực địa tại Hà Giang và đã phát hiện một đàn lớn với khoảng 40 cá thể VMH trong khu vực rừng Khau Ca, tỉnh Hà Giang [26] Phát hiện này đã khẳng định phạm vi phân bố rộng hơn của VMH

Năm 2005, Nguyễn Anh Đức, Vũ Anh Tài, và Lê Khắc Quyết đã tiến hành nghiên cứu đầu tiên về môi trường sống của VMH ở Khau Ca, tỉnh Hà Giang, tập trung vào việc xác định thành phần loài và đa dạng sinh học của hệ thực vật ở Khau

Ca Kết quả đã ghi nhận được 471 loài thuộc 268 chi, 113 họ và 4 ngành thực vật bậc cao có mạch [38] Cũng trong năm đó Lê Khắc Quyết thực hiện nghiên cứu một

số đặc điểm sinh thái gồm cấu trúc quần thể, sinh thái dinh dưỡng và các kiểu tư thế vận động của VMH [29]

Năm 2006, Đồng Thanh Hải và cộng sự tiến hành nghiên cứu tập tính sinh thái

và bảo tồn VMH ở Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện tại Tát Kẻ thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) và khu vực Khau Ca tỉnh Hà Giang) [22]

1.2 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của VMH ở Việt Nam

Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái, thành phần thức ăn, tập tính vận động của VMH được công bố như: Boonratana và Lê Xuân Cảnh (1994) nghiên cứu về sinh thái và tập tính của VMH

ở Khu BTTN Na Hang [17, 18, 4]; Phạm Nhật (1993) nghiên cứu về thức ăn và kết

Trang 14

quả của các cuộc điều tra thực địa về VMH ở một số khu vực thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam [8, 9, 42, 43]; Lê Khắc Quyết (2006) nghiên cứu về một số đặc điểm sinh thái của VMH ở Khau Ca và Đồng Thanh Hải (2011) nghiên cứu về tập tính, sinh thái và bảo tồn của VMH ở Khu BTTN Na Hang và Khu vực Khau Ca [22, 29] Nguyễn Thị Lan Anh và cộng sự (2017) nghiên cứu về sinh thái dinh dưỡng (nutritional ecology) của VMH tại KBT VMH Khau Ca [1]

Các nghiên cứu này đã bổ sung những thông tin, tư liệu rõ hơn về đặc điểm sinh học sinh thái của loài linh trưởng nguy cấp này

1.3 Hiện trạng phân bố của Voọc mũi hếch

Voọc mũi hếch là loài linh trưởng đặc hữu của vùng Đông Bắc Việt Nam Trước đây VMH được báo cáo ghi nhận ở một số địa phương: Tuyên Quang (Chiêm Hoá, Na Hang), Yên Bái (Lục Yên), Bắc Kạn (Bạch Thông, Na Rì, Chợ Đồn, Ba Bể), Hà Giang (Bắc Mê) [36] (Hình 1.1)

Hình 1.1 Phân bố trước đây của Voọc mũi hếch ở Việt Nam

Nguồn: Nadler và cs, 2003[36]

Trang 15

Kết quả điều tra trong những năm từ 1992 cho thấy, vùng phân bố của chúng

đã bị thu hẹp, hiện còn tập trung ở một số khu vực thuộc tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Giang (Phạm Nhật 2002) [9] KBTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, trước đây được xem là nơi có quần thể VMH lớn nhất Năm 1994, Boonratana và Le Xuan Canh 1994) ước tính ở mỗi khu vực Tát Kẻ và Bản Bung của Khu bảo tồn có khoảng 95-130 cá thể VMH sinh sống [17] Tuy nhiên, cuộc khảo sát năm 2010 ước tính chỉ còn 5-10 cá thể VMH ở khu vực Tắt Kẻ và khoảng 13-16 cá thể ở khu vực Bản Bung (Thach Mai Hoang 2011) [49]

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, VMH được ghi nhận thêm phân bố rải rác

ở một số khu vực thuộc tỉnh Hà Giang như rừng Khau Ca, rừng Tùng Vài (Cao - Tả

- Tùng) (Lê Khắc Quyết 2010, Nalder và Brockman 2016) [27, 37 Như vậy, theo những báo cáo gần đây nhất, hiện nay VMH phân bố ở Khu bảo tồn loài và sinh cảnh VMH Khau Ca, tỉnh Hà Giang, số lượng ước tính khoảng 150 cá thể (FFI 2020) [53] và ở khu vực rừng Tùng Vài có khoảng 20 cá thể (Nguyễn Xuân Đặng 2019) [39] (Hình 1.2)

Hình 1.2 Phân bố của Voọc mũi hếch ở Hà Giang

(Ảnh vệ tinh được cung cấp bởi FFI – 2017 [5])

Chú thích: Chấm đỏ: ghi nhận sự xuất hiện của VMH

Trang 16

Các cuộc điều tra gần đây cho thấy, các quần thể này vẫn bị đe dọa nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người

1.4 Tình trạng quần thể Voọc mũi hếch ở rừng Quản Bạ

Quần thể VMH ở Quản Bạ, tỉnh Hà Giang được FFI - Việt Nam ghi nhận đầu tiên vào năm 2007 Lê Khắc Quyết, 2010) [27] Các cuộc điều tra tiếp theo của FFI - Việt Nam trong các năm tiếp theo (Lê Khắc Quyết và cs 2010, Lê Trọng Đạt

và cs 2010, Nguyễn Vân Trường 2014) [27, 30, 40] đã xác định ở khu vực này có khoảng 32-35 cá thể sinh sống thành 3 hoặc 4 đàn Đây là quần thể VMH lớn thứ 2

ở Việt Nam và trên thế giới Tuy nhiên, cuộc điều tra năm 2016 của FFI Việt Nam chỉ quan sát được 4 đàn với tổng số khoảng 15-21 cá thể (Nguyễn Vân Trường và

cs 2016) [12], cho thấy quần thể VMH này vẫn đang bị suy giảm nghiêm trọng

Cho đến nay, các thông tin ghi nhận qua điều tra phỏng vấn người dân địa phương cũng như khảo sát thực địa cho thấy các đàn VMH sinh sống ở khu rừng trên núi đá vôi tương đối nguyên vẹn “Thèng Chù Phìn - Dào Dần Chải - Tà Lầy - Đồi 754

- khu vực các cột mốc quốc gia 283, 284 và 285” (Nguyễn Xuân Đặng, 2019) [39]

Hình 1.3 Vùng phân bố của VMH ở huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang

(Nguồn: Nguyen Xuan Dang và cs., 2019) [39]

Trang 17

Khu rừng này rộng khoảng 5.000 ha, nằm ở độ cao 1.000 đến 1.700m svmb, thuộc địa phận hành chính 3 xã Cao Mã Pờ, Tùng Vài và Tả Ván, huyện Quản Bạ (Hình 1.3)

1.5 Khái niệm thái độ bảo tồn và vai trò của thái độ bảo tồn trong quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học

Thuật ngữ "thái độ" attitude) được sử dụng liên quan đến sự phản hồi tích cực (positive) hoặc tiêu cực negative) đối với một thực thể (entity) hoặc đối tượng object) nào đó Karanth, Nepal, 2012) [25] và được định nghĩa là sự đánh giá về mặt tinh thần đối với một thực thể cụ thể với mức độ ủng hộ hoặc không ủng hộ nào

đó Gebregziabher, Soltani, 2019) [23] Thái độ được hình thành thông qua kinh nghiệm (experience) và nhận thức (perception) của một cá nhân (Infield và Namara, 2001) [24] Nhận thức (perception) của một người phản ánh các niềm tin (beliefs)

mà họ có được từ sự trải nghiệm (experience) và sự tương tác interaction) của họ với một hiện tượng cụ thể (Mulrennan và cộng sự, 2012; Gebregziabher, Soltani, 2019) [23, 35] Thái độ của người dân địa phương có thể cung cấp thông tin chi tiết

về cách họ sẽ cư xử (behave), cách họ tuân thủ các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, cách họ ứng phó với những thiệt hại kinh tế do động vật hoang dã gây ra

và mức độ họ sẵn sàng chung sống với động vật hoang dã (Megaze, Balakrishnan, Belay, 2017) [32] Thái độ bảo tồn (conservation attitude) của một người có thể bị ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế - xã hội của họ, nhận thức của họ về các chi phí và các lợi ích của bảo tồn, nhận thức về các giá trị văn hóa và thẩm mỹ, các trải nghiệm (experience) và kiến thức cá nhân của họ, cũng như các biện pháp quản lý mang lại các khuyến khích kinh tế cho họ Nhận thức tiêu cực có thể làm phức tạp công tác quản lý khu bảo tồn Nhận thức tích cực có thể nâng cao khả năng thực hiện các mục tiêu bảo tồn, cung cấp các chiến lược để giải quyết xung đột, các lợi ích tương đối công bằng và các quy tắc được biết đến và được thực thi như nhau (Bhattarai &Fischer, 2014) [16]

Thái độ bảo tồn động vật hoang dã của người dân bao gồm cả nhận thức (perception) và niềm tin (belief) sẽ chi phối hành vi (behaviour) của họ đối với sự hiện diện của động vật hoang dã trong vùng lân cận của họ Do đó, hiểu được thái

Trang 18

độ của người dân địa phương đối với bảo tồn động vật hoang dã là điều kiện tiên quyết để cải thiện mối quan hệ giữa người dân địa phương với các khu bảo tồn và định hình nên tương lai của bảo tồn động vật hoang dã Hiểu được thái độ sẽ giúp tìm ra sự lựa chọn đúng đắn cho một chiến lược thu hút một cách hiệu quả sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động bảo tồn của các khu bảo tồn (Mmassy, Røskaft, 2013) [33] Hiểu biết về nhận thức và niềm tin là rất quan trọng vì hầu hết các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học và hậu quả là sự suy giảm đáng kể của quần thể động vật hoang dã và môi trường sống tự nhiên đều xuất phát từ các hoạt động của cộng đồng địa phương thông qua phá rừng, săn bắn và các hoạt động nông nghiệp (Mmassy, Røskaft, 2013)[33]

Thái độ tiêu cực có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của người dân và dẫn đến hủy hoại tài nguyên thiên nhiên Ví dụ, những người có cảm giác tiêu cực đối với động vật hoang dã có thể sử dụng các biện pháp như dùng bả độc để tiêu diệt chúng Ngược lại, khi người dân nhận ra được lợi ích từ việc bảo tồn và không

có nguy cơ bị chết, bị thương hoặc mất tài sản do động vật hoang dã, họ sẽ tích cực hơn với các chương trình bảo tồn và ủng hộ các Khu Bảo vệ Sự thành công trong quản lý một khu bảo tồn phụ thuộc đáng kể vào sự hợp tác của cộng đồng địa phương vói các hoạt động quản lý khu bảo tồn (Tessema, Ashenafi, Lilieholm, Leader-Williams, 2010) [48] Tìm cách cải thiện và củng cố mối quan hệ giữa cư dân địa phương và quản lý khu bảo tồn là rất quan trọng cho tương lai bảo tồn bền vững Tính bền vững của các chương trình quản lý đa dạng sinh học phụ thuộc vào mối liên hệ giữa nhận thức (perception), kiến thức (knowledge) và sự hiểu biết (awareness) của cộng đồng về các vấn đề suy giảm đa dạng sinh học và các biện pháp giảm thiểu Các chiến dịch nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học là để nâng cao kiến thức và từ đó tăng cường mức độ tham gia của cộng đồng vào bảo tồn đa dạng sinh học (Montana, Mlambo, 2019) [34]

Cách tiếp cận bảo tồn dựa vào cộng đồng (community-based coonservation approach) được hình thành sau thất bại của cách tiếp cận "hàng rào và xử phạt" (fences-and-fines approach) trong thực hiện các mục tiêu bảo tồn trước đây (Mulrennan và cs, 2012; Keane và cs, 2019) [35, 46] Phương pháp tiếp cận "hàng

Trang 19

rào và xử phạt" đã coi thường lợi ích của người dân địa phương và loại trừ họ khỏi việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực của họ Việc họ bị loại trừ và các yếu tố tác động khác như động vật hoang dã gây ra thiệt hại cho cây trồng, vật nuôi và con người, cũng như việc buộc người dân di cư trong quá trình thành lập các khu bảo tồn mà không bồi thường cho họ đã hội tụ lại và làm gia tăng sự xung đột giữa bảo tồn và người dân địa phương, làm mất lòng tin giữa các bên liên quan/đối tác bảo tồn (Keane và cs, 2019) [46] Điều này đã cản trở

sự ủng hộ của người dân địa phương đối với các chương trình bảo tồn thực hiện trên đất họ cư trú và bên trong các khu bảo tồn nằm lân cận họ Những thất bại trong việc thực hiện các mục tiêu bảo tồn, thiếu sự hỗ trợ của người dân địa phương đối với các chương trình bảo tồn và sự đối kháng ngày càng tăng giữa người dân địa phương và ban quản lý các khu bảo tồn đã dẫn đến hình thành cách tiếp cận “bảo tồn dựa vào cộng đồng” CBC) với mục đích chính là đảo ngược tình huống trên (Keane và cs, 2019) [46] Như vậy, cách tiếp cận bảo tồn dựa vào cộng đồng hướng tới làm thay đổi thái độ và hành vi của người dân địa phương và sử dụng họ như những phương tiện để đạt được các mục tiêu bảo tồn mong muốn Điều này xuất phát từ thực tế rằng khi người dân địa phương cảm thấy bị lừa dối, họ có xu hướng phá hoại các nỗ lực bảo tồn, chẳng hạn như đốt rừng và tạo điều kiện cho những kẻ săn trộm (Nilsson và cs, 2016) [41]

1.6 Điều kiện tự nhiên, một số đặc điểm kinh tế-xã hội của khu vực nghiên cứu

Trang 20

1.6.1.3 Xã Tả Ván

Phía Bắc giáp xã Tùng Vài; phía Đông và phía Nam giáp xã Minh Tân (huyện Vị Xuyên); phía Tây giáp huyện Ma Lật Pha, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) 1.6.2 Cơ sở hạ tầng giao thông

1.6.2.1 Xã Cao Mã Pờ

Hạ tầng giao thông trong vùng khá phát triển, dễ dàng kết nối từ huyện đến trung tâm xã và từ xã đến trung tâm các thôn Giao thông phát triển tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế, giao thương hàng hóa và đi lại của người dân Xã Cao

Mã Pờ có chung đường biên giới với Trung Quốc, đường đi lại tương đối thuận lợi Đường nhựa nối trung tâm thị trấn Tam Sơn huyện Quản Bạ) đến trung tâm xã Cao

Mã Pờ có chiều dài khoảng 26 km Có 4 trong 8 thôn có đường ô tô đến trung tâm thôn, trong đó có 4 thôn đường đã được bê tông hóa Người dân di chuyển chủ yếu bằng xe máy [13]

1.6.2.2 Xã Tùng Vài

Xã Tùng Vài có vị trí trung tâm, là cửa ngõ đi vào 2 xã Cao Mã Pờ và Tả Ván Đường đi lại tương đối thuận lợi Đường nhựa nội trung tâm thị trấn Tam Sơn đến trung tâm xã Tùng Vài dài khoảng 18 km Đường nhựa di chuyển từ trung tâm

xã đến một số thôn có chiều dài khoảng 30 km Đường bê tông từ trung tâm xã đến một số thôn đã được hoàn thiện ở hầu hết các thôn bản và có chiều dài khoảng 20

km Người dân di chuyển bằng xe đạp, xe máy, hoặc taxi có thể di chuyển đến từng thôn trên địa bàn xã [15]

1.6.2.3 Xã Tả Ván

Hạ tầng giao thông trong vùng khá phát triển, dễ dàng kết nối từ huyện đến trung tâm xã và từ xã đến trung tâm các thôn Giao thông phát triển tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế, giao thương hàng hóa và đi lại của người dân Đường đường nhựa nối trung tâm thị trấn Tam Sơn huyện Quản Bạ) đến trung tâm xã Tả Ván có chiều dài khoảng 27 km Đường nhựa, bê tông từ trung tâm xã đến một số thôn dài khoảng 6,33 km Tuy nhiên, phần lớn vẫn là đường đất dài khoảng 84,59

km đi lại rất khó khăn Người dân di chuyển chủ yếu bằng xe máy hoặc đi bộ Không có tuyến xe buýt ở đây [14]

Trang 21

1.6.3 Dân số và dân cư

1.6.3.1 Xã Cao Mã Pờ

Theo báo cáo kinh tế xã hội của xã năm 2018, xã Cao Mã Pờ có diện tích 39,40 km2, dân số năm 2016 là 2.505 người, mật độ dân số đạt 64 người Xã có 8 thôn bản gồm: Chí Sang, Thèn Ván 1, Thèn Ván 2, Và Thàng 1, Và Thàng 2, Chi Chu Lìn, Vàng Chà Phìn, và Cao Mã Dân tộc chủ yếu là người Dao Các bản có 100% người Dao gồm: Vàng Chà Phìn (49 hộ), Và Thàng Một (60 hộ), Và Thàng Hai (62 hộ), Thèn Ván Một (65 hộ), Thèn Ván Hai (62 hộ) [13]

1.6.3.2 Xã Tùng Vài

Xã Tùng Vài có diện tích 60,70 km2, dân số năm 2016 là 4.544 người, mật

độ dân số đạt 69 người/km2 Xã có 11 thôn bản gồm: Tùng Vài Phìn, Bản Thăng, Pao Má Phìn, Lùng Chu Phìn, Sì Lo Phìn, Lùng Khổ, Tùng Páng, Suối Vui.Tả Lán, Khổ Mỹ, Lao Chải Năm 2016, có 30 người nhập cư đến xã Tùng Vài Bản Thăng

là bản có đa dạng các dân tộc nhất Thành phần dân tộc chính tại 4 bản điều tra gồm: Mông, Dao, Tày, Nùng, Bố Y và Kinh) Tỷ lệ hộ nghèo cao: Thôn Khổ Mỹ (100%), Lao Chải (100%), Tùng Vài Phìn (96,5%), Bảng Thăng 13,8%) [15]

1.6.3.3 Xã Tả Ván

Xã Tả Ván có diện tích 44,87 km2, dân số năm 2016 là 2.312 người, mật độ dân số đạt 52 người/km2 Xã có 8 thôn bản gồm: Lò Suối Tùng, Tả Ván, Chúng Chải, Pao Má Phìn, Hòa Sỉ Pan, Ma Ngan Sán, Sài Giàng Phìn, Thèn Ván Thành phần dân tộc chủ yếu là H'Mông, ngoài ra còn một số dân tộc khác như Tày, Pù Y

và kinh với tỷ lệ nhỏ 1-2% số hộ và tập trung chủ yếu ở các thôn Tả Ván và Lò Suối Tùng [14]

1.6.4 Hoạt động sản xuất

1.6.4.1 Sản xuất nông nghiệp

Sản xuất cây lương thực có hạt như thóc và ngô chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại cây trồng Ngoài ra, việc trông cây dược liệu hiện nay rất được chú trọng như một loại hình tạo thu nhấp tốt cho người dân (Bảng 1.1) [13, 14, 15]

Trang 22

Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp năm 2018

TT Loại hình sản xuất Đơn vị Xã

Cao Mã Pờ

Xã Tùng Vài

7 Diện tích cây dược liệu

chăm sóc, gây trồng mới

ăn quả lê, đào, mận), sa mộc hay chè Trong vài năm gần đây, người dân bắt đầu giành một phần diện tích đất nhỏ để trồng các loại cỏ cao sản phục vụ chăn nuôi gia súc Phần lớn diện tích đất còn lại là rừng tự nhiên và đất chưa qua sử dụng

Trang 23

1.6.4.2 Chăn nuôi

Chăn nuôi có vai trỏ rất quan trọng trong đời sống kinh tế của người dân địa phương Bên cạnh việc cung cấp nguồn thực phẩm và sức kéo phục vụ canh tác nông nghiệp, ngành chăn nuôi còn mang lại thu nhập cao cho các hộ, đặc biệt là những hộ khá giá với số lượng gia súc, gia cầm chăn nuôi nhiều Thành phần vật nuôi ở địa phương khá đa dạng và có số lượng lớn, bao gồm: trâu, bò, lợn, dê, ngựa, vịt, ngan, gà (bảng 1.2) Trong đó, các loài gia cầm như vịt, ngan, gà được nuôi rất phổ biến, số lượng lớn, tiếp đến là các loài lợn bò, trâu Giao thông thuận lợi là ưu thế giúp phát triển chăn nuôi trong vùng Hiện nay, hầu hết các hộ không còn chăn thả gia súc ngoài tự nhiên, mà chủ yếu nuôi nhốt tại nhà, sử dụng cỏ trồng làm thức

ăn chính cho gia súc [13, 14, 15]

1.6.4.3 Công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ

Trên địa bàn 3 xã không có nhà máy, xí nghiệp sản xuất lớn Tại trung tâm của các xã có một số hoạt động kinh doanh buôn bán nhỏ lẻ như các cửa hàng tạp hóa, các quán ăn nhỏ, cửa hàng bán vật liệu xây dựng, phân bón và hay cửa hàng sữa chữa xe máy Quy mô các cửa hàng này nhỏ, chủ yếu phục vụ nhu cầu mua sắm, ăn uống của cộng đồng các thôn bản xung quanh Tại một số thôn bản vẫn còn trồng lanh dệt vải, tuy nhiên, diện tích đất trồng lanh rất ít, quy mô ngành nghề dệt truyền thống rất nhỏ lẻ Phần lớn người dân dệt vãi để may trang phục dùng trong gia đình cho những dịp lễ quan trọng của cộng đồng [13, 14, 15]

1.6.5 Thu nhập và mức sống

Người dân không có nguồn thu nhập cố định hàng tháng Các sản phẩm từ sản xuất nông nghiệp như lúa, ngô, khoai, đậu, được dùng để phục vụ cho bữa ăn

Trang 24

hàng ngày như một hình thức tự cung tự cấp Các sản phẩm chăn nuôi như gà, vịt, lợn, .thường được người dân trực tiếp giết mỗ trong các dịp có khách đến thăm hoặc giỗ, lễ Chỉ khi cần tiền cho việc mua sắm hoặc chi tiêu trong gia đình, người dân mới bán dần trâu, lợn, gia cầm,

Thu nhập chủ yếu trong năm của người dân phụ thuộc vào vườn rừng, đặc biệt là từ canh tác thảo quả - hương thảo và lâm sản Một số ít hộ có nguồn thu nhập

từ việc đi làm thuê bên Trung Quốc và các tỉnh lân cận của Việt Nam Thu nhập hàng năm chủ yếu từ thu hái thảo quả dao động từ vài trăm ngàn đến vài trăm triệu đồng, tuy theo diện tích trồng và chất lượng cây thảo quả của mỗi hộ Tại mỗi thôn trung bình chỉ vài hộ có thu nhập cao từ thảo quả (khoảng 50 triệu đồng/năm) Bên cạnh đó, việc thu hái chè hàng năm cũng mang lại thêm một ít thu nhập cho các hộ Tổng thu nhập mỗi vụ khoảng 10 triệu đồng/năm

Số tiền thu được sau khi bán thảo quả, chè, hay trâu bò thường được người dân dùng để tái đầu tư như mua trâu bò nhỏ, gà, vịt, phân bón hay hạt giống cây trồng Ngoài ra, khoản thu này còn được tích lũy để chi tiêu cho các công việc gia đình như mua sắm trang thiết bị, quần áo, sữa và học phí cho con em Do vậy, người dân đều không có khoản tiết kiệm Thông thường, khoản thu từ vụ mùa cuối năm đều được dùng để chi tiêu trong các tháng đầu năm sau

Các thôn trong khu vực nghiên cứu có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo khá cao, chiếm 67,38% tổng số hộ Thôn Vàng Chá Phìn – Tả Ván – Chúng Chải là các thôn

có điều kiện sản xuất nông nghiệp khó khăn nhất trong mỗi xã do so với các thôn khác do những thôn này ở độ cao cao, khí hậu lạnh nên năng suất cây trồng thấp Tại một số thôn bản khác vẫn còn có hộ dân thiếu đói trong một số tháng của năm (Bảng 1.3) [13, 14, 15]

Bảng 1.3 Tỷ lệ phân loại các hộ theo bậc giàu nghèo Thôn, bản Tổng số

hộ

Hộ nghèo

Cận nghèo

Trung bình

Khá, giàu

Trang 25

1.6.6 Văn hóa và giáo dục

Ngôn ngữ giao tiếp phổ biến là tiếng của dân tộc chiếm đa số trong thôn Khi giao dịch với các cá nhân cùng dân tộc họ sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình Khi giao tiếp với người dân tộc khác họ sử dụng tiếng Kinh

Mỗi xã có 3 trường: một trường mầm non, một trương tiểu học và một trường THCS Nhìn chung, cơ sở vật chất của các trường tương đối đảm bảo để phục vụ công tác giảng dạy và học tập Tuy nhiên, tại một số điểm trường còn thiếu các phòng học và nhà lưu trú cho giáo viên [13, 14, 15]

Trang 26

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG, THỜI GIAN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là sinh cảnh rừng của quần thể Vọoc mũi hếch

(Rhinopithecus avunculus) tại khu vực rừng thuộc các xã Cao Mã Pờ, Tùng Vài và

Tả Ván (Cao - Tả - Tùng), huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang và cộng động dân cư sinh sống gần sinh cảnh của quần thể Voọc mũi hếch nói trên

Cộng đồng dân cư được khảo sát nằm trong 5 thôn là Vàng Chá Phìn, Và Thăng 2 thuộc xã Cao Mã Pờ, Bản Thăng thuộc xã Tùng Vài và Tả Ván, Chúng Chải thuộc xã Tả Ván Đây là những thôn có tác động mạnh nhất đến sinh cảnh của VMH tại rừng Cao - Tả - Tùng (Nguyễn Xuân Đặng, 2017) [4]

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tập trung vào khu vực rừng tự nhiên có diện tích khoảng 5.000 ha thuộc các xã Cao Mã Pờ, Tùng Vài và Tả Ván, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang (khu rừng Cao - Tả - Tùng), nơi được ghi nhận là vùng phân bố của quần thể VMH (Hình 2.1) Vùng nghiên cứu nằm trọn trên địa phận huyện Quản Bạ và tiếp giáp với huyện Malipô của Trung Quốc Vùng nghiên cứu có địa hình núi đá vôi hiểm trở, dốc cao và thung lũng sâu, bình độ dao động từ 900m đến 1.700m so với mặt biển Toàn bộ vùng được bao phủ bởi hệ sinh thái rừng thường xanh trên núi núi đá vôi và rừng thường xanh thung lũng, nguyên sinh hoặc bị tác động ít

Trang 27

Hình 2.1 Vị trí khu vực khảo sát thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang

(Nguồn: Dựa trên bản đồ hiện trạng rừng năm 2016 do Hạt Kiểm lâm Quản Bạ cấp)

2.4 Nội dung nghiên cứu

 Điều kiện sinh cảnh của quần thể VMH tại rừng Quản Bạ

 Các tác động của cộng đồng địa phương đến sinh cảnh của quần thể VMH ở rừng Quản Bạ

 Nhận thức về bảo vệ rừng và bảo tồn động vật hoang dã của cộng đồng địa phương

 Đề xuất các giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của cộng đồng địa phương đến sinh cảnh của VMH ở Quản Bạ

Trang 28

2.5 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018 và được chia thành 4 đợt như sau:

 Khảo sát hiện trường tại vùng nghiên cứu được thực hiện từ ngày 14 đến 25/3/2018

 Phỏng vấn thôn Vàng Chá Phìn của xã Cao Mã Pờ từ ngày 23 đến ngày 27/6/2018

 Phỏng vấn các thôn Và Thăng 2 của xã Cao Mã Pờ và thôn Bản Thăng của

xã Tùng Vài từ ngày 4 đến ngày 9/9/2018

 Phỏng vấn các thôn Tả Ván và Chúng Chải của xã Tả Ván từ ngày 13 đến ngày 20/11/2018

2.6 Phương pháp nghi n cứu

2.6.1 Kế thừa có chọn lọc từ các nguồn tài liệu sẵn có

Các tài liệu sẵn có được lựa chọn tham khảo gồm: Các bài báo đã đăng trên tạp chí chuyên ngành hoặc trên mạng internet; Các báo cáo trong hội nghị khoa học hoặc các dữ liệu khác (bản đồ, ảnh, báo cáo,…) là sản phẩm của các dự án; Các sách chuyên khảo có ghi rõ tên nhà xuất bản, cơ quan xuất bản

Kế thừa cơ sở dữ liệu GIS đã được số hóa bằng MapInfo 7.5 của Hạt Kiểm lâm Quản Bạ Các dữ liệu này được chọn lọc và kết hợp với số liệu của các đợt khảo sát thực địa để biên tập các bản đồ chuyên đề như: địa hình, thuỷ văn, hiện trạng thảm thực vật, tuyến điều tra, phân bố của VMH, phân cấp mối đe doạ, khu vực ưu tiên VMH,… Tham khảo các tài liệu điều tra khảo sát đa dạng sinh học đã thực hiện trong vùng nghiên cứu và các vùng lân cận trước đây Trong đó, bao gồm các tài liệu như các báo cáo kỹ thuật liên quan đến đa dạng thực vật vùng nghiên cứu (hoặc lân cận) của FFI-Việt Nam Việc nghiên cứu các tài liệu này đã giúp người điều tra có được những kiến thức cơ sở quan trọng về điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu và một số tư liệu ban đầu về thành phần loài thực vật

2.6.2 Điều tra phỏng vấn chính quyền và người dân địa phương

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn PRA) [2] được áp dụng khi phỏng vấn 20 cán bộ địa phương tại 3 xã Cao Mã Pờ, Tả Ván, Tùng Vài, huyện Quản Bạ,

Trang 29

tỉnh Hà Giang bao gồm các bí thư chi bộ thôn, trưởng thôn, công an viên, cán bộ ủy ban xã và kiểm lâm viên quản lý địa bàn Nội dung phỏng vấn bao gồm: đặc điểm chung của khu vực nghiên cứu (kinh tế, xã hội), các hình thức tuyên truyền về bảo tồn đã được tổ chức trong khu vực Các thông tin về hiện trạng công tác quản lý bảo

vệ rừng; những hoạt động của KVNC và các chương trình bảo tồn mà KVNC đã thực hiện được thu thập qua phỏng vấn hạt trưởng và trưởng phòng kỹ thuật hạt kiểm lâm Quản Bạ

Phỏng vấn 150 hộ (trung bình 30 hộ/ thôn – số lượng trên được lựa chọn dựa trên số lượng hộ của thôn ít dân cư nhất) thuộc các thôn Vàng Chá Phìn, Và Thăng Hai thuộc xã Cao Mã Pờ, Bản Thăng thuộc xã Tùng Vài và các thôn Tả Ván, Chúng Chải thuộc xã Tả Ván để có được những thông tin về kinh tế- văn hoá của các hộ cũng như những thông tin về VMH, mức độ phụ thuộc vào tài nguyên động vật rừng của các hộ gia đình Tất cả các thông tin thu được qua phỏng vấn hộ gia đình được ghi vào mẫu biểu chuẩn bị sẵn (Phụ lục 1 – mẫu phiếu)

Trong mỗi thôn, sau khi phỏng vấn 30 hộ gia đình, chọn được một số người hay đi rừng hoặc đã từng đi săn để trao đổi về hoạt động săn bắt, sử dụng và bảo vệ VMH cũng như động vật rừng tại địa phương hiện nay cũng như trước kia để từ đó phát hiện kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thú rừng ở địa phương

Để phát hiện kiến thức bản địa, đề tài đã xây dựng bộ câu hỏi định hướng cho việc thảo luận như sau:

Hiểu biết về VMH và nơi sống của VMH, các hoạt động sinh kế của các hộ, các hình thức sử tài nguyên rừng của các hộ, nhận thức về bảo về rừng và động vật hoang dã của các hộ Cụ thể như sau:

+ Ước tính số lượng cá thể ngoài tự nhiên theo các mức: không biết, ít, trung bình, nhiều, rất nhiều

+ Sự tăng giảm số lượng cá thể trong khoảng 5 năm gần đây: tăng, giảm, không thay đổi

+ Đặc điểm nhận dạng của VMH: Đuôi dài, lông màu nâu đen, mặt bụng màu trắng nhạt

Trang 30

+ Các sinh cảnh sống của loài: rừng nguyên sinh, rừng cây gỗ cao, ven suối, rừng đang phục hồi, rừng tre nứa, trên đồi – núi – cao, rừng núi đá

- Hoạt động sinh kế của các hộ được hỏi thông qua các câu hỏi:

+ Mức sống của từng hộ theo các mức: hộ nghèo, hộ trung bình, hộ khá + Đánh giá tầm quan trọng của các hoạt động sản xuất quen thuộc: canh tác ngô, canh tác lúa nước, chăn nuôi, làm vườn, khai thác lâm sản, canh tác thảo quả, dịch vụ buôn bán nông sản - tạp hóa, làm việc có lương tháng đối với từng hộ theo

3 mức độ: 1 – ít, 2 – trung bình, 3 – nhiều Sau đó, mức độ quan trọng của các hình thức sản xuất này sẽ được tính bằng tổng số điểm của các hộ trong thôn: ∑ mức điểm*số hộ

Các hình thức sử dụng tài nguyên rừng, phụ thuộc vào rừng của từng hộ theo các câu hỏi như sau:

+ khoảng cách từ nơi có các hoạt động sản xuất đến khu vực nghiên cứu được chia thành 3 mức độ: dưới 1 km, 1-2 km, trên 2km

+ mức độ khai thác gỗ: không khai thác, không thường xuyên, thường xuyên + mục đích khai thác gỗ: làm nhà ở, sửa nhà, lấy gỗ bán, làm chất đốt

+ khu vực thường khai thác gỗ: rừng đặc dụng, rừng đất 02 cộng đồng, rừng đất 02 gia đình

+ các mối đe dọa đến động vật rừng hiện tại và trước đây: săn bắn bằng súng, các loại bẫy như bẫy dây, bẫy kẹp và mất rừng

+ mục đích của việc săn bắt thú rừng: lễ hội tín ngưỡng), làm thuốc dược liệu), thực phẩm, trang trí, nuôi làm cảnh, buôn bán, bảo vệ cây trồng

+ thời gian đi săn bẫy thú: theo ngày, theo tháng, theo mùa, theo năm và vì sao lại đi săn vào thời gian đó: số lượng thú nhiều, mùa sinh sản hoặc mùa thú hoạt động, theo truyền thống, thời gian nhàn rỗi, nhu cầu thị trường tăng cao

Nhận thức bảo tồn được hỏi thông qua các ý sau:

+ Ông/Bà có nghĩ rằng Voọc mũi hếch là loài quý hiếm không? Động vật rừng có quan trọng đối với cuộc sống của gia đình ông/bà không? Động vật rừng có quấy nhiễu hoạt động sản xuất nông nghiệp của ông bà không? Hoạt động săn bắn

có mang lại thu nhập đáng kể cho các hộ gia đình trong thôn bản) không? Nếu cấm

Trang 31

săn bắn thì các gia đình có gặp khó khăn không? Nếu cấm thì có khả năng dừng hẳn không? Vì sao? Mọi người đã bao giờ nghe thấy chính quyền địa phương yêu cầu phải bảo vệ động vật hoang dã?

+ Mọi người thu nhận các thông tin/kiến thức về loài và bảo vệ rừng

từ các nguồn nào: xem tivi, từ cộng đồng, ngheđài, đọc sách/báo, từ các đoàn thể, xã hội, từ kiểm lâm, xem qua phim/ảnh/băng/đĩa, từ chính quyền, xem qua ápphíc/pano, từ người trong gia đình, dòng họ, ban quản lý KBT, nguồn khác

+ Đánh giá về các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo tồn của chính quyền địa phương theo các mức: rất tốt, tốt, khá tốt, đạt yêu cầu, ít hiệu quả, không hiệu quả

Nhận thức bảo tồn của người dân sẽ được đánh giá qua việc sau khi tiếp nhận các thông tin tuyên truyền về VMH, người dân có tự nhận thức được các hoạt động của bản thân có tác động đến tài nguyên rừng nói chung và VMH nói riêng Qua đó có các hình thức chuyển đổi phương thức sản xuất khác hay vẫn tiếp tục các hoạt động sản xuất truyền thông đã và đang gây đe dọa đến rừng và quần thể VMH

2.7 Phương pháp phân tích số liệu

Các phân tích thổng kê được thực hiến trên phân mềm thống kê SPSS phiên bản 20, sử dụng mức ý nghĩa p = 0,05 Trước khi phân tích, các câu hỏi được mã hóa sang dạng số (phụ lục 2) Để tạo điều kiện cho các phân tích thống kê, các số liệu về diện tích thảo quả và thu nhập được chia thành 5 nhóm từ thấp đến cao và được cho điểm lần lượt từ 1 đến 5 Từ đó, một nhân tố đại diện “có thảo quả” được xây dựng từ trung bình cộng các điểm diện tích thảo quả và điểm thu nhập thảo quả của mỗi người Tương tự, các câu trả lời về “nhận thức bảo tồn” và “thái độ bảo tồn” được cho điểm theo thang điểm 3 bậc (bảng 2), từ đó, nhân tố “điểm chuẩn nhận thức bảo tồn” được xây dựng từ trung bình cộng điểm của 3 câu trả lời về nhận thức bảo tồn (theo Guazman et al 2020) Nhân tố “điểm chuẩn thái độ bảo tồn” được xây dựng từ trung bình cộng của 5 câu trả lời về thái độ bảo tồn Riêng câu hỏi thứ 6 về sự cần thiết bảo tồn VMH được phân tích riêng do hấu hết những người trả lời đều lựa chọn là “có cần thiết”

Trang 32

Bảng 2.1 Thang điểm cho các câu trả lời về nhận thức và thái độ bảo tồn VMH

F-NT Nhận thức bảo tồn Điểm 1 Điểm 2 Điểm 3

NT1 Tầm quan trọng của

VMH đối với môi

trường và cộng đồng

Có hại Không hại và

không lợi Có lợi

Biết quý hiếm và hình phạt NT3 Trồng thảo quả trong

rừng có hại cho VMH không hại

không biết / không ý kiến Có hại

F-TD Thái độ bảo tồn Điểm 1 Điểm 2 Điểm 3

TD1 Thân thiện với VMH Không Thân thiện Rất thân

thiện TD2 Bảo tồn VMH có lợi cho

rừng và cộng đồng

Không có lợi

Không biết / không ý kiến

Có lợi

TD3

Thái độ đối với người đi

Báo kiểm lâm, lãnh đạo thôn, xã TD4 Thái độ về chủ trương

cấm trồng thảo quả trong

RPH

Không ủng

hộ Không ý kiến Ủng hộ TD5 Thái độ về chủ trương

thành lập khu bảo tồn

VMH

Không ủng

hộ Không ý kiến Ủng hộ Mức độ nhận thức bảo tồn và thái độ bảo tồn của những người trả lời phỏng vấn được đánh giá dựa vào điểm chuẩn nhận thức bảo tồn và điểm chuẩn thái độ bảo tồn theo phương pháp đánh giá của thang likert 3 bậc (Phạm Lộc, 2020) Cụ thể các mức đánh giá nhận thức bảo tồn gồm: từ 1.00 – 1.70 là “nhận thức thấp”; từ 1.71 – 2.40 là “nhận thức trung bình” và từ 2.41 – 3.00 là “nhận thức cao” Tương

Trang 33

tự, các mức đánh giá thái độ bảo tồn gồm: từ 1.00 – 1.70 là “thái độ tiêu cực”; từ 1.71 – 2.40 là “thái độ trung lập/trung bình” và từ 2.41 – 3.00 là “thái độ tích cực” Trước hết, chúng tôi đánh giá nhận thức bảo tồn và thái độ bảo tồn của từng thôn điều tra Sau đó, số liệu của tất cả những người trả lời phỏng vấn thuộc các thôn điều tra được kết hợp lại với nhau để kiểm tra mối liên hệ giữa nhận thức bảo tồn và thái độ bảo tồn với các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế - xã hội của những người trả lời phỏng vấn

Để lựa chọn loại kiểm định thống kê phù hợp, dữ liệu được kiểm tra phân phối chuẩn và tính đồng nhất phương sai bằng các kiểm định Shapiro-Wilk/Lilliefors và Levene’s test Các kiểm định phi tham số được sử dụng cho dữ liệu có phân bố không chuẩn Để tổng hợp và tóm tắt các thông tin/tư liệu thu thập

sử dụng các lệnh thống kê mô tả Sự khác biệt về tỷ lệ số người trả lời và quan hệ của các biến tiêu chí nhân khẩu học và kinh tế xã hội (là những biến định tính) được kiểm tra bằng kiểm định Chi-bình phương χ2) Vì phân phối của điểm chuẩn nhận thức bảo tồn và điểm chuẩn thái độ bảo tồn theo theo các tiêu chí nhân khẩu học và kinh tế xã hội của những người trả lời phỏng vấn là gần chuẩn và đồng phương sai nên sự khác biệt trung bình của các điểm chuẩn này được kiểm tra cả bằng các kiểm định phi tham số (Kruskal-Wallis và Mann-Whitney) và kiểm định tham số (kiểm định t-test mẫu độc lập Independent Sample T-test và phân tích Anova một chiều One-way Anova) Để kiểm tra quan hệ giữa các điểm chuẩn nhận thức bảo tồn và điểm chuẩn thái độ bảo tồn với các tiêu chí nhận khẩu học và kinh tế - xã hội của những người trả lời phỏng vấn, kiểm định chi-bình phương χ2) được sử dụng cho các tiêu chí là những biến định tính và kiểm định Pearson/Sperman được sử dụng cho các tiêu chí là những biến định lượng Cuối cùng, phân tích hồi quy tuyến tính (lear regression) và hồi quy logistic được sử dụng để xem xét các biến nhân khẩu học hoặc các biến khác có liên quan như thế nào hoặc ảnh hưởng như thế nào đến nhận thức bảo tồn và thái độ bảo tồn của những người trả lời phỏng vấn Khi đó, các nhân tố “điểm chuẩn nhận thức bảo tồn” và “điểm chuẩn thái độ bảo tồn” được xem

là những biến phụ thuộc, tất cả các biến còn lại đóng vai trò là các biến độc lập

Trang 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm sinh cảnh của VMH tại rừng Quản Bạ

3.1.1 Trạng thái rừng trong khu vực nghiên cứu

Kết quả điều tra thực địa và tham khảo tài liệu liên quan (Phạm Văn Thế và

cs 2018), đã xác định được 8 kiểu sinh cảnh tương ứng với trạng thái rừng và 7 kiểu sinh cảnh không có rừng trong vùng nghiên cứu (Bảng 3.1, Hình 3.1) [10]

Bảng 3.1 Phân loại trạng thái rừng và các dạng sinh cảnh khác

trong khu vực nghiên cứu STT Tên trạng thái rừng và đất không có rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

1.1.1 Rừng lá rộng thường xanh núi đất giàu 49,7 1,09 1.1.2 Rừng lá rộng thường xanh núi đất trung bình 1619,99 35,50 1.1.3 Rừng lá rộng thường xanh núi đất nghèo 360,03 7,89 1.1.4 Rừng lá rộng thường xanh núi đất phục hồi 250,63 5,49

1.2.1 Rừng lá rộng thường xanh núi đá giàu 173,42 3,80 1.2.2 Rừng lá rộng thường xanh núi đá trung bình 746,67 16,36 1.2.3 Rừng lá rộng thường xanh núi đá nghèo 151,98 3,33 1.2.4 Rừng lá rộng thường xanh núi đá phục hồi 860,74 18,86

3.1 Có cây gỗ tái sinh

3.2 Đất trống cây bụi

3.2 Có cây nông nghiệp

Trang 35

Hình 3.1: Phân bố các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu

Trang 36

Tổng diện tích của 8 kiểu sinh cảnh rừng chiếm 4213,16 ha; bằng 92,32% diện tích khu vực nghiên cứu; nhiều nhất là các sinh cảnh rừng tự nhiên núi đất chiếm 2280,35 ha, bằng ≈ 50% diện tích khu vực nghiên cứu Trong đó trạng thái

“Rừng LRTX núi đất trung bình” chiếm đến 1619,99 ha, bằng 35,5% tổng diện tích khu vực nghiên cứu Trạng thái “Rừng LRTX núi đất giàu” chỉ chiếm hơn 1% tổng

diện tích

Các kiểu sinh cảnh rừng tự nhiên núi đá chiếm 1932,81 ha, bằng 42,35% tổng diện tích khu vực nghiên cứu Trong đó trạng thái “Rừng LRTX núi đá phục hồi” chiếm diện tích 860,74 ha, bằng 18,86% tổng diện tích Tiếp đến là “Rừng LRTX núi đá trung bình” chiếm 746,67 ha, bằng 16,36 % tổng diện tích khu vực nghiên cứu Trạng “Rừng LRTX núi đá giàu” chỉ chiếm 173,42 ha, bằng 3,8% diện tích khu vực nghiên cứu (Bảng 3.1) [10]

Có 7 kiểu sinh cảnh không có rừng, chiếm 350,3 ha, bằng 7,68% tổng diện tích khu vực nghiên cứu (Bảng 3.1) [10] Trong khu vực này không có kiểu sinh cảnh rừng nguyên sinh do chúng bị tác động mạnh bởi các hoạt động như cắt tỉa cây

gỗ tạo độ tàn che trồng thảo quả dưới tán rừng và trải qua quá trình chặt chọn lâu dài Các hoạt động này cũng ảnh hưởng rất lớn đến trữ lượng rừng, tạo ra trạng thái rừng trung bình và phục hồi chiếm phần lớn

3.1.2 Đa dạng về thành phần loài

Theo Phạm Văn Thế và cs., (2018), kết quả khảo sát tại vùng nghiên cứu đã ghi nhận được 648 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 364 chi, 129 họ và 5 ngành [10] Tất cả các loài đều được ghi nhận qua điều tra quan sát trực tiếp tại thực địa Hầu hết các loài được chụp ảnh kèm theo các thông tin ghi chép về đặc điểm sinh thái, vật hậu và toạ độ địa lý Thêm vào đó, có 67 loài được thu mẫu làm tiêu bản hiện lưu giữ tại Phòng Sưu tập mẫu vật thực vật khô của Viện nghiên cứu Lâm Sinh, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

Các loài thực vật bậc cao có mạch được ghi nhận tại khu vực nghiên cứu chủ yếu thuộc ngành Ngọc lan với 583 loài, chiếm 89,97% tổng số các loài phân bố ở đây Bảng 3.2) [10]

Trang 37

và thường mọc ở những nơi có độ cao từ 1200m trở lên Chúng bao gồm 3 họ là Hoàng đàn, Thông tre và Thông đỏ Ngành Thông đất có số lượng loài tương đối ít, chỉ có 5 loài, chiếm 0.77% tổng số Ngành Dây gắm chỉ có 1 loài duy nhất, chiếm tỷ

lệ 0,15% tổng số các loài trong khu vực nghiên cứu

3.1.3 Đa dạng về dạng cây

Theo Phạm Văn Thế và cs., (2018), trong tổng số 648 loài thực vật được ghi nhận ở khu vực nghiên cứu thì có đến 207 loài có dạng cây thân gỗ, chiếm 32% tổng số, trong đó có 23 loài cây gỗ lớn, 107 loài cây gỗ trung bình và 77 loài cây gỗ nhỏ [10]

Trang 38

Hình 3.2 Tỷ lệ dạng cây các loài thực vật trong khu vực nghiên cứu

(Ghi chú: T – Tree; Ep – Cây bì sinh; He – Cây cỏ; Li – Dây leo; Sh – Cây bụi;

ShS – Cây bụi trườn)

Những loài thực vật có dạng cây cỏ, cây bì sinh, dây leo, cây bụi hoặc cây bụi trườn chiếm đa số với 441 loài Theo hình 3.2, dạng cây phổ biến nhất là cây cỏ

233 loài chiếm 36%, tiếp đến cây bụi với 91 chiếm 14%, cây bì sinh 60 loài chiếm

9%, dây leo 30 loài chiếm 5% và 27 loài còn lại là cây bụi trườn chiếm 4%

3.2 Sự tác động đến sinh cảnh của VMH và nhận thức bảo tồn của cộng đồng dân cư địa phương

Đề tài đã chọn khảo sát 5 thôn là Vàng Chá Phìn, Và Thăng Hai thuộc xã Cao Mã Pờ, Bản Thăng thuộc xã Tùng Vài và các thôn Tả Ván, Chúng Chải thuộc

xã Tả Ván là những thôn có khoảng cách gần với khu rừng Cao – Tả - Tùng nhất,

và có tác động nhiều nhất đến sinh cảnh của VMH sinh sống

3.2.1 Điều kiện dân sinh - kinh tế - văn hóa của thôn Vàng Chá Phìn

3.2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Bản Vàng Chá Phìn là một khu dân cư có lịch sử lâu đời người dân tộc thiểu

số Hán, nằm sát biên giới Việt Trung Khu vực có địa hình núi cao, dốc, hiểm trở và cách trung tâm xã 12 km Theo báo cáo của địa phương thì tính đến cuối năm

2018, có 51 hộ, 257 khẩu trong đó có 21 hộ nghèo, 16 hộ trung bình và 14 hộ khá

Trang 39

Nghiên cứu của chúng tôi khảo sát ngẫu nhiên 30 hộ của thôn, trong đó có 25 hộ nghèo (83,33%) và 5 hộ trung bình (16,67%)

Hình 3.3 Một số hoạt động sản xuất chính tại thôn Vàng Chá Phìn

Sinh kế chính của người dân ở đây là trồng ngô 90 điểm) và thảo quả (75 điểm) (Hình 3.3) Các hoạt động sản xuất có mức điểm tự đánh giá của người được hỏi đều thấp hơn rất nhiều so với 2 hoạt động trên chăn nuôi: 35 điểm, làm vườn:

30 điểm, khai thác lâm sản: 11 điểm, buôn bán: 3 điểm)

Theo số liệu của địa phương cung cấp năm 2018, diện tích canh tác một số loại cây trồng chính ở đây là ngô 81,5 ha), cây dược liệu 79,15 ha) và đậu tương với diện tích rất nhỏ (2,05 ha) Ngoài ra, còn có 2,12 ha trồng cỏ phục vụ mục đích chăn nuôi Đàn gia súc của toàn thôn chỉ có 20 con trâu,132 con bò, 72 con dê và

504 con lợn Ngoài ra người dân còn nuôi thêm các loại gia cầm như gà, vịt (1105 con)

3.2.1.2 Hoạt động sử dụng và khai thác tài nguyên rừng

Mặc dù sinh kế chính của người dân tại đây là canh tác ngô và thảo quả nhưng đối với một số hộ vẫn còn các hoạt động khai thác lâm sản như là nguồn thu nhập quan trọng

Đối với khai thác các loại gỗ, cả 30 hộ được hỏi đều trả lời rằng họ có khai thác nhưng không thường xuyên Mục đích khi khai thác gỗ của họ để sử dụng làm

Trang 40

chất đốt là chủ yếu với 100% hộ thừa nhận, ngoài ra có 6 hộ trả lời họ lấy gỗ về dựng nhà mới và 14 hộ muốn lấy gỗ về sửa chữa lại nhà (hình 3.4)

sử dụng) để săn bắt thú thì hiện tại, hầu hết người dân chỉ sử dụng các loại bẫy kẹp (93,33%) (Hình 3.6)

Khi được hỏi, họ săn bắt thú với mục đích gì, thì câu trả lời nhận được nhiều nhất là họ sẽ mang số thú săn bắt được đi bán có 21 hộ trả lời chiếm 70%) (Hình 3.7) Bên cạnh đó, một số người đặt bẫy ngay xung quanh khu vực canh tác của gia đình để hạn chế các loài động vật vào phá hoại (có 14 hộ chiếm 43,33%) và một số

ít hộ (7 hộ, chiếm 23,33%) sử dụng các sản phẩm từ thú săn bắt để làm vật trang trí

Và họ sẽ vào rừng bẫy thú vào các khoảng nông nhàn cũng khi thời tiết thuận lợi cho việc đi rừng

Ngày đăng: 14/04/2021, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Xuân Đặng, Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Anh Đức (2017), Sinh thái dinh dưỡng của Voọc mũi hếch ( Rhinopithecus avunculus) ở Hà Giang, Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 183 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái dinh dưỡng của Voọc mũi hếch ( Rhinopithecus avunculus) ở Hà Giang, Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Xuân Đặng, Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Anh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
2. Ban quản lý Dự án Quản lý VQG Tam Đảo và vùng đệm(2008). Bộ tài liệu hướng dẫn lập kế hoạch sử dụng tài nguyên có sự tham gia. Xuất bản bới Dự án Quản lý VQG Tam Đảo và vùng đệm, Hà Nội, 267 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tài liệu hướng dẫn lập kế hoạch sử dụng tài nguyên có sự tham gia. Xuất bản bới
Tác giả: Ban quản lý Dự án Quản lý VQG Tam Đảo và vùng đệm
Năm: 2008
3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách Đỏ Việt Nam (phần Động vật), Nxb Khoa học và Công nghệ, Hà Nội, 40 - 67 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam (phần Động vật)
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Nhà XB: Nxb Khoa học và Công nghệ
Năm: 2007
4. Lê Xuân Cảnh (2001), Kết quả điều tra đa dạng động vật vùng núi Chạm Chu, tỉnh Tuyên Quang, Trong “Tuyển tập báo cáo, Hội thảo Quốc tế Sinh học”, 02 – 07 tháng 07 năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập báo cáo, Hội thảo Quốc tế Sinh học”
Tác giả: Lê Xuân Cảnh
Năm: 2001
5. Nguyễn Xuân Đặng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Công Linh (2017), Xác định vùng sinh cảnh ưu tiên cho bảo tồn lâu dài quần thể Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) tại huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, Báo cáo kỹ thuật, FFI-Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định vùng sinh cảnh ưu tiên cho bảo tồn lâu dài quần thể Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) tại huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
Tác giả: Nguyễn Xuân Đặng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Công Linh
Năm: 2017
6. Lê Hiền Hào (1973), Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam – tập 1, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, trang 69 – 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam – tập 1
Tác giả: Lê Hiền Hào
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1973
7. Đặng Huy Huỳnh, Đào Văn Tiến, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên (1994), Danh lục các loài thú Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 167 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thú Việt Nam
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh, Đào Văn Tiến, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1994
10. Phạm Văn Thế, Trịnh Ngọc Bon, Nguyễn Vân Trường, Nguyễn Quyết Tâm, Đào Công Anh, Đinh Thị Kim Vân (2018), Điều tra,đánh giá hiện trạng rừng và đa dạng thực vật ở khu vực rừng Cao Mã Pờ - Tả Ván – Tùng Vài, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, Báo cáo kỹ thuật, FFI-Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra,đánh giá hiện trạng rừng và đa dạng thực vật ở khu vực rừng Cao Mã Pờ - Tả Ván – Tùng Vài, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
Tác giả: Phạm Văn Thế, Trịnh Ngọc Bon, Nguyễn Vân Trường, Nguyễn Quyết Tâm, Đào Công Anh, Đinh Thị Kim Vân
Năm: 2018
11. Đào Văn Tiến (1985), Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 329 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Tiến
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1985
12. Nguyễn Vân Trường, Phạm Công Linh, Lê Trọng Đạt (2016), Báo cáo sơ bộ điều tra Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) tại Tùng Vài, Tả Ván, Cao Mã Pờ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, Báo cáo kỹ thuật, FFI-Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ bộ điều tra Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) tại Tùng Vài, Tả Ván, Cao Mã Pờ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
Tác giả: Nguyễn Vân Trường, Phạm Công Linh, Lê Trọng Đạt
Năm: 2016
16. Bhattarai B. R., Fisher K.(2014), Human tiger Panthera tigris conflict and its perception in Bardia National Park, Nepal, Oryx, vol 48, iss 4, pp 522 – 528 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panthera tigris" conflict and its perception in Bardia National Park, Nepal, "Oryx
Tác giả: Bhattarai B. R., Fisher K
Năm: 2014
17. Boonratana R., Le Xuan Canh (1994), A Report on the Ecology, Status and Conservation of the Tonkin Snub – nosed Monkey (Rhinopithecus avunculus) in Northern Vietnam, WCS, New York and IEBR, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Report on the Ecology, Status and Conservation of the Tonkin Snub – nosed Monkey (Rhinopithecus avunculus) in Northern Vietnam
Tác giả: Boonratana R., Le Xuan Canh
Năm: 1994
18. Boonratana R., Le Xuan Canh, (1998). Preliminary Observations of the Ecology and Behaviour of the Tonkin Snub – nosed Monkey (Rhinopithecus [Presbytiscus] avunculus) in Northern Vietnam. Pp. 207 – 215 in Jablonski, N.G. (ed.) The natural history of the doucs and snub – nosed monkeys. World Scientific Publishing, Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rhinopithecus [Presbytiscus] avunculus") in Northern Vietnam. Pp. 207 – 215 in Jablonski, N. G. (ed.) "The natural history of the doucs and snub – nosed monkeys
Tác giả: Boonratana R., Le Xuan Canh
Năm: 1998
19. Covert H. H., Le Khac Quyet, Wright B. W. (2008), On the Brink of Extinction: research for the conservation of the Tonkin snub – nosed monkey (Rhinopithecus avunculus) In: Fleagle, J.G. (ed.): Papers in Honor of Elwyn Simons. New York, NY, Kluwer Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2008"), On the Brink of Extinction: research for the conservation of the Tonkin snub – nosed monkey ("Rhinopithecus avunculus") In: Fleagle, J.G. (ed.): "Papers in Honor of Elwyn Simons
Tác giả: Covert H. H., Le Khac Quyet, Wright B. W
Năm: 2008
21. Dollman, G. (1912), A new snub – nosed monkey. Proceedings of the Zoological ety of London 1912 Abstr. 106, p.18; Proc., pp. 503 – 504 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proceedings of the Zoological ety of London 1912
Tác giả: Dollman, G
Năm: 1912
23. Gebregziabher D., Soltani A. 2019). Exclosures in people’s minds: perceptions and attitudes in the Tigray region, Ethiopia. Forest Policy and Economics, 101, 1-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forest Policy and Economics
24. Infield M., Namara A.(2001), Community attitudes and behaviour towards conservation: an assessment of community conservation progamme around Lake Mburo Nation Park, Uganda, Oryx, vol 35, pp 48 – 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oryx
Tác giả: Infield M., Namara A
Năm: 2001
25. Karanth K. K., Nepal S. K.(2012), Local Residents Perception of Benefits and Losses From Protected Areas in India and Nepal, Environmental Management, 49, pp 372 – 386 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Management
Tác giả: Karanth K. K., Nepal S. K
Năm: 2012
26. Le Khac Quyet, 2004. Distribution and conservation of Tonkin Snub – nosed Monkey (Rhinopithecus avunculus) in Du Gia Nature Reserve, Ha Giang Province, Northeast Vietnam, 58 – 62. Trong Nadler T, Streicher U, Ha Thang Long (eds.): Conservation of Primates in Vietnam. Hanoi, Frankfurt Zoological Society Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rhinopithecus avunculus") in Du Gia Nature Reserve, Ha Giang Province, Northeast Vietnam, 58 – 62. Trong Nadler T, Streicher U, Ha Thang Long (eds.): "Conservation of Primates in Vietnam
27. Le Khac Quyet and H. H. Covert, 2010, “Another population of the Tonkin Snubnosed Monkey (Rhinopithecus avunculus) discovered in Ha Giang Province, Vietnam”, Vietnamese Journal of Primatology 4: 19–25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Another population of the Tonkin Snubnosed Monkey (Rhinopithecus avunculus) discovered in Ha Giang Province, Vietnam”, "Vietnamese Journal of Primatology

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w