Để thực hiện được nhiệm vụ trọng tâm trên, các trường đại học phải có những giải pháp như đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy và học; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên; đ
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
TRẦN QUANG THẮNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT PHỤC VỤ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA - TP HCM
Thành phố Hồ Chí Minh, 11/2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT PHỤC VỤ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA - TP HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 3Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Ý nghĩa của đề tài 6
9 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT PHỤC VỤ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 7
1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo trường đại học ở ngoài nước 7
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo trường đại học ở trong nước 9
1.2 Khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Cơ sở vật chất trường đại học 12
1.2.2 Quản lí cơ sở vật chất trường đại học 13
1.3 Lý luận về cơ sở vật chất trong trường đại học 17
1.3.1 Vai trò của cơ sở vật chất trong hoạt động đào tạo 17
1.3.2 Mối quan hệ cơ sở vật chất với chương trình đào tạo 19
1.3.3 Cơ sở vật chất với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ 19
1.3.4 Phân loại cơ sở vật chất phục vụ đào tạo trong trường đại học 21
1.3.5 Yêu cầu về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở trường đại học 22
1.4 Quản lý cơ sở vật chất trong trường đại học 24
1.4.1 Chủ thể quản lý cơ sở vật chất trong trường đại học 24
Trang 41.4.2 Quản lý hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất tại trường ĐH 26
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở trường đại học 30
1.5.1 Yếu tố chủ quan 30
1.5.2 Yếu tố khách quan 30
Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT PHỤC VỤ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM 33
2.1 Giới thiệu khái quát về trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 33
2.1.1 Lịch sử phát triển và hình thành 33
2.1.2 Định hướng và chiến lược phát triển 34
2.1.3 Cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ viên chức 34
2.1.4 Quy mô đào tạo 36
2.1.5 Cơ sở hạ tầng, vị trí địa lý 37
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 37
2.2.1 Mẫu khảo sát 37
2.2.2 Cách thức khảo sát 38
2.2.3 Cách thức xử lí số liệu 38
2.3 Thực trạng cơ sở vật chất tại cơ sở Linh Trung của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 39
2.3.1 Thực trạng các hạng mục công trình 39
2.3.2 Mức độ đáp ứng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở cơ sở Linh Trung của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 41
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 54
2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch hoạt động khai thác và sử dụng CSVC 54
2.4.2 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo 57
Trang 52.4.3 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật
chất ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 71
2.5 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất ở cơ sở Linh Trung của Trường Đại Học KHXH&NV 74
Tiểu kết chương 2 77
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 78
3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp 78
3.1.1 Căn cứ cơ sở pháp lý 78
3.1.2 Căn cứ vào thực tiễn 79
3.1.3 Căn cứ vào kết quả điều tra thực trạng của đề tài 80
3.2 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 80
3.2.1 Đảm bảo tính đồng bộ 80
3.2.2 Đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả 81
3.2.3 Đảm bảo tính sư phạm 81
3.3 Một số giải pháp quản lý hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 81
3.3.1 Giải pháp 1: Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học của lực lượng chuyên trách và giảng viên 81
3.3.2 Giải pháp 2: Quản lý và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất có tính đặc thù của các khoa, bộ môn, trung tâm có đào tạo 83
3.3.3 Giải pháp 3: Tổ chức, sắp xếp không gian phòng đọc hiệu quả trong điều kiện hạn chế về cơ sở vật chất hiện nay của thư viện trường 84
3.3.4 Giải pháp 4: Quản lý việc sử dụng phòng học, giảng đường và phòng thực hành 85
3.3.5 Giải pháp 5: Kiểm soát chất lượng thiết bị dạy học 86
3.3.6 Giải pháp 6: Quản lý đăng nhập mạng wifi và sử dụng internet phục vụ giảng dạy, học tập, giải trí của cán bộ, giảng viên và sinh viên trong trường 87
Trang 63.3.7 Giải pháp 7: Quản lý hoạt động tổ chức phục vụ, khai thác và sử dụng thiết bị
dạy học, vật dụng trên giảng đường, phòng học và phòng thực hành 89
3.3.8 Giải pháp 8: Quản lý hoạt động động tự kiểm tra và đánh giá hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất 89
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất 91
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……….……… ………95
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….……….… 99
PHỤ LỤC 104
Trang 7
Danh mục sơ đồ
Sơ đồ 2 1: Cơ cấu tổ chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 35
Trang 8Danh mục biểu đồ Biểu đồ 2 1: Ý kiến nhận xét của giảng viên và sinh viên về mức độ hợp lý trong
cách thức tổ chức cung ứng dịch vụ hiện nay của thư viện 57
Biểu đồ 2 2: Ý kiến nhận xét của giảng viên và sinh viên về việc định kỳ tổ chức
hướng dẫn bạn đọc cách tìm kiếm, khai thác, đánh giá sử dụng thông tin, tài liệu tham khảo tại thư viện 59
Biểu đồ 2 3: Ý kiến của sinh viên và giảng viên về hoạt động cập nhật thông tin
sản phẩm, dịch vụ thư viện đến các đối tượng phục vụ 60
Trang 9Danh mục bảng Bảng 2 1: Quy mô phát triển các đơn vị trực thuộc Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2016 35
Bảng 2 2: Quy mô đào tạo hệ Đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 36
Bảng 2 3: Quy mô đào tạo Sau đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 36
Bảng 2 4: Kết quả khảo sát mức độ đáp ứng học liệu phục vụ đào tạo của thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM 44
Bảng 2 5: Kết quả khảo sát về không gian và các điều kiện bên trong phòng đọc thư viện Trường Đai học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM 45
Bảng 2 6: Kết quả khảo sát mức độ đáp ứng về phòng học, giảng đường và phòng thực hành 46
Bảng 2 7: Ý kiến nhận xét của sinh viên mức độ đáp ứng về thiết bị dạy học 48
Bảng 2 8: Ý kiến của giảng viên mức độ đáp ứng về thiết bị dạy học 49
Bảng 2 9: Giảng viên cho biết ý kiến về kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học 50
Bảng 2 10: Nhận xét của sinh viên về kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học của giảng viên trong quá trình giảng dạy 51
Bảng 2 11: Ý kiến nhận xét của sinh viên về thái độ phục vụ của đội ngũ nhân viên thư viện trường 62
Bảng 2 12: Đánh giá của giảng viên và sinh viên về mức độ hợp lý trong việc quản lý phòng học 63
Bảng 2 13: Đánh giá của giảng viên và sinh viên về mức độ hợp lý trong việc quản lý thiết bị dạy học 66
Bảng 2 14: Kết quả khảo sát giảng viên và sinh viên về công tác quản lý sử dụng và đăng nhập mạng Wifi-Internet 68
Bảng 2 15: Ý kiến của giảng viên và sinh viên về thái độ của đội ngũ nhân viên phục vụ phòng học và cán bộ hỗ trợ thiết bị giảng dạy 70
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất………91
Trang 10Danh mục từ viết tắt
CB-CNV Cán bộ công nhân viên
ĐH KHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHQG-HCM Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh GD&ĐT Giáo dục & Đào tạo
NVBTTB Nhân viên bảo trì thiết bị
Trang 11Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Nguyễn Ngọc Tài, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2017
Người thực hiện Trần Quang Thắng
Trang 12đã nhiệt tình giảng dạy trong những năm tôi học tập tại Trường
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, đội ngũ giáo viên và các bạn sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi nghiên cứu thực tế tại Trường, nhằm so sánh lí thuyết và thực tiễn, từ đó củng cố các cơ sở lí luận sát với thực tiễn Trong quá trình nghiên cứu đề tài không tránh khỏi những mặt thiếu sót, tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Quý thầy, cô và hội đồng chấm luận văn, cũng như các đồng nghiệp để luận văn có thể hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cám ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2017
Người thực hiện Trần Quang Thắng
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại, điều này được chứng minh khi cộng đồng ASEAN hình thành vào cuối năm 2015, đây là cơ hội nhưng cũng chính là thách thức cho các quốc gia trong việc phải có nguồn lao động chất lượng cao đáp ứng sự cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập Sự phát triển khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và kinh tế trí thức ngày càng có những yêu cầu cao, tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực trong đời sống
xã hội trong đó có giáo dục là những nhận định quan trọng trong báo cáo thường
niên năm 2014 của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Hệ thống giáo dục của các nước trong khu vực ASEAN nói chung, hệ thống giáo dục đại học nước ta nói riêng đang đứng trước sự cạnh tranh và phát triển ngày càng lớn về chất lượng đào tạo, cùng với đó là những yêu cầu ngày càng cao về trách nhiệm xã hội đối với sản phẩm đào tạo Điều này, đòi hỏi các trường đại học lớn, đại học trọng điểm càng phải khẳng định vai trò là trung tâm nghiên cứu, đồng thời phải là đơn vị tiên phong trong việc đổi mới góp phần đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Nâng cao chất lượng đào tạo là một nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học Việt Nam nói chung và trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM) nói riêng trong thời kỳ hội nhập và phát triển như hiện nay Để thực hiện được nhiệm vụ trọng tâm trên, các trường đại học phải có những giải pháp như đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy và học; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên; đầu tư cải tiến công tác quản trị đại học, cải tiến các hoạt động tổ chức phục vụ đào tạo cùng với đó đảm bảo năng lực đáp ứng cơ sở vật chất (CSVC)
Chất lượng ĐT và hiệu quả quản lý các nguồn lực nói chung, hiệu quả quản lý
tổ chức khai thác và sử dụng CSVC nói riêng trong hoạt động đào tạo có mối liên
Trang 14hệ chặt chẽ Để đảm bảo chất lượng đào tạo một cách bền vững thì nhà trường cần quan tâm đúng mức đến việc nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực, trong đó hiệu quả quản lý hoạt động phục vụ, khai thác và sử dụng CSVC cho đào tạo là một
lĩnh vực quản lý nguồn lực quan trọng trong hoạt động quản lý nhà trường
CSVC trường học là một trong những điều kiện quan trọng nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường Bên cạnh các điều kiện đảm bảo cho hoạt động đào tạo như đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý (CBQL), chương trình đào tạo, … các chuyên gia nghiên cứu đã chứng minh rằng hiệu quả của hoạt động dạy học phụ thuộc một phần vào năng lực đáp ứng CSVC của nhà trường
Nhận thức được tầm quan trọng của CSVC, Trường ĐH KHXH&NV đã tiến hành xây dựng kế hoạch chiến lược trung hạn và dài hạn trong việc phát triển CSVC, cùng với đó là sự quan tâm của Uỷ ban Nhân dân Thành phố, ĐHQG-HCM trong việc triển khai dự án thành phần QG-HCM-08 của nhà trường tại phường Linh Trung, quận Thủ Đức, đồng thời nhà trường tích cực tăng cường trang thiết bị, đáp ứng cơ bản về nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu của gần 13.000 sinh viên
hệ chính quy tập trung của trường tại cơ sở Linh Trung
Cùng với những thành tựu phát triển trên, lĩnh vực CSVC Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn còn những hạn chế, tồn tại được nêu trong các báo cáo tổng hợp biên bản sinh hoạt bộ môn về kết quả khảo sát môn học văn bằng 1 từ năm học 2013-2014 đến năm học 2015-2016 của nhà trường như: hoạt động tổ chức phục vụ CSVC chưa được phù hợp, hiệu quả khai thác và sử dụng một số thiết bị còn nhiều hạn chế, hiệu suất khai thác và sử dụng không cao Trong Kế hoạch chiến lược Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn
2030, đánh giá kết quả triển khai kế hoạch chiến lược giai đoạn 2011-2015 của nhà
trường, trong đó lĩnh vực CSVC có những hạn chế như: “Số lượng và chất lượng
CSVC hiện tại chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu Diện tích phòng ốc còn hạn chế nên việc sắp xếp khu học tập, khu làm việc, phòng thí nghiệm, thư viện, … còn chắp vá, chưa đồng bộ”
Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo tiến tới xây dựng nhà trường thành trường đại học định hướng nghiên cứu theo mô hình hiện đại của
Trang 15đại học thế giới, quản lý cơ sở vật chất nói chung và công tác quản lý tổ chức các hoạt động phục vụ, khai thác và sử dụng cơ sở vật chất nói riêng cần được quan tâm một cách đầy đủ góp phần nâng cao năng lực đáp ứng CSVC phục vụ đào tạo Xuất phát từ các yêu cầu và thực tiễn trên, người nghiên cứu quyết định lựa
chọn đề tài “Quản lí hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất phục vụ đào
tạo tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lí luận, xác định thực trạng quản lí hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất, đề xuất các giải pháp quản lí hoạt động khai thác và
sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất ở Trường ĐH KHXH&NV
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quản lý cơ sở vật chất trường Đại học
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lí hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo tại trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lí hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã được thực hiện Tuy nhiên, công tác này còn hạn chế và bất cập trong các chức năng quản lý Nếu đề xuất một số giải pháp có tính cụ thể và khả thi sẽ nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở
vật chất trường Đại học
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động khai thác và sử dụng
CSVC phục vụ đào tạo tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 165.3 Đề xuất giải pháp quản lí hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất
phục vụ đào tạo tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Chủ thể quản lý: Lãnh đạo nhà trường, Trưởng phòng/Ban quản lý lĩnh
vực CSVC; Tổ trưởng các tổ phục vụ CSVC; Giảng viên; Sinh viên chính quy năm
thứ nhất, năm thứ hai và năm thứ ba
6.2 Địa bàn khảo sát: Luận văn lựa chọn khảo sát các hoạt động tổ chức phục
vụ, khai thác và sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị ở cơ sở Linh Trung (cơ sở 2 của nhà trường) tại địa chỉ Khu phố 6, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành
phố Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu, phân tích và tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, các hoạt động quản lý nhà trường, quản lý cơ sở vật chất trong trường đại học từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau trong, ngoài nước:
- Các giáo trình, tài liệu về lĩnh vực giáo dục có liên quan đến hoạt động quản lý;
- Các công trình khoa học, bài báo nghiên cứu của các viện, trường và trung tâm nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục và đào tạo;
- Hệ thống văn bản của Đảng, Nhà nước như Văn kiện, Nghị quyết, Thông
tư và các công văn hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, ĐHQG-HCM
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Điều tra giáo dục bằng bảng hỏi (Phiếu khảo sát) để tìm hiểu rõ
vai trò của quản lý trong việc tổ chức hoạt động khai thác và sử dụng CSVC phục
vụ đào tạo, tìm hiểu mức độ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học trong thực tiễn
Trang 17- Nội dung điều tra: Tiến hành nghiên cứu và tập trung điều tra, khảo sát ở hai
phần chính: i) mức độ đáp ứng cơ sở vật chất, trang thiết bị; ii) thực trạng quản lý tổ chức các hoạt động khai thác và sử dụng CSVC phục vụ đào tạo ở Trường ĐH
KHXH&NV
- Đối tượng và lựa chọn mẫu khảo sát: Luận văn xác định đối tượng khảo sát
là giảng viên (cả giảng viên thỉnh giảng, cán bộ quản lý tham gia giảng dạy) và sinh viên hệ chính quy tập trung đang học tập tại cơ sở 2 của trường Phiếu khảo sát được thiết kế riêng cho từng đối tượng (tham khảo ở phần phụ lục số 1 và 2)
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Dựa trên kết quả khảo sát từ Phiếu khảo sát, tác giả luận văn tiến hành phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu thêm về công tác quản lí hoạt động khai thác và sử dụng CSVC trong nhà trường phục vụ đào tạo; về ý kiến nhận xét và quan điểm của đội ngũ quản lý, nhân viên phục vụ cũng như các đối tượng thụ hưởng Các dữ liệu, thông tin thu thập được từ phỏng vấn sâu sẽ được tổng hợp và phân tích để làm sáng
tỏ cho các dữ liệu định lượng của đề tài Các đối tượng được phỏng vấn gồm:
- Lãnh đạo nhà trường, Trưởng phòng/Ban quản lý lĩnh vực CSVC;
- Tổ trưởng các tổ phục vụ CSVC;
- Giảng viên;
- Lựa chọn ngẫu nhiên 8 sinh viên của mỗi khoá (sinh viên năm 1, 2 và 3)
7.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát nhằm thu thập thông tin về thực trạng quản lý hoạt động khai thác
và sử dụng CSVC phục vụ đào tạo, góp phần bổ sung những tài liệu sống về thực tiễn nhằm khái quát hóa những quy luật để việc chỉ đạo tổ chức thực hiện được tốt hơn Phương tiện chủ yếu để quan sát là tri giác trực tiếp và sổ ghi chép
7.3 Phương pháp thống kê toán học
- Đối với dữ liệu định lượng: Tác giả luận văn sử dụng phương pháp thống kê toán học bằng phần mềm SPSS để phân tích các chỉ số thống kê như tần số, điểm trung bình, tỷ lệ %
Trang 18- Đối với dữ liệu định tính: Tác giả luận văn sử dụng phương pháp phân tích nội dung và đối chiếu để bổ sung và làm sáng tỏ các vấn đề cho các dữ liệu định lượng
8 Ý nghĩa của đề tài
- Nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tổ chức các hoạt động phục vụ, khai thác và sử dụng CSVC cho công tác đào tạo tại trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM
- Tiếp cận giải quyết vấn đề chất lượng trong việc khai thác và sử dụng hiệu quả CSVC, góp phần xây dựng VHCL trong trường đại học nhìn từ khía cạnh CSVC
- Cung cấp cho trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – HCM nói riêng và các trường đại học khác nói chung tài liệu tham khảo về công tác quản lý tổ chức các hoạt động cung ứng, khai thác và sử dụng CSVC phục vụ đào tạo
- Góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 29 về Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 và định hướng phát triển giáo dục
2011-2020 của Đại hội Đảng lần thứ XI
9 Cấu trúc luận văn
Nhằm thực hiện nhiệm vụ và đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phần phụ lục,
luận văn được trình bày trong 3 chương cụ thể sau:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
VÀ SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT PHỤC VỤ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐH
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ SỬ
DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT PHỤC VỤ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM
Chương 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ SỬ
DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
VÀ SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT PHỤC VỤ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo trường đại học ở ngoài nước
Lịch sử phát triển của các trường đại học trên thế giới đã trải qua nhiều cuộc cách mạng giáo dục, kéo theo hàng loạt các chức năng mới xuất hiện theo quá trình phát triển như chức năng giáo dục – đào tạo, chức năng nghiên cứu, chức năng phục
vụ cộng đồng, chức năng tham vấn – tư vấn Trong từng quá trình thay đổi, bổ sung chức năng là một lần cấu trúc của trường đại học thay đổi, tính chất hàn lâm, liên ngành của các trường đại học cũng thay đổi theo
Giai đoạn được cho là sự bùng nổ quy mô đào tạo của hệ thống giáo dục đại học diễn ra ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ vào những năm 80 của thế kỷ 20, trong thời gian này, hệ thống giáo dục đại học đại trà phát triển mạnh kéo theo sự gia tăng
số lượng lớn người học Tuy nhiên, việc phát triển về các nguồn lực không tăng tỷ
lệ thuận với sự phát triển quy mô đào tạo, trong đó nguồn lực về CSVC là một trong những bài toán rất lớn và khó giải quyết Với thực trạng đó, các trường đại học phải tính đến công tác quản lý và nâng cao hiệu suất sử dụng CSVC, đã có nhiều giải pháp, nhiều cách làm khác nhau của các trường đại học nhằm khai thác tối đa hiệu suất CSVC Cùng với đó, những nghiên cứu, bình luận về quản lý giáo dục đào tạo đại học nói chung, quản lý CSVC phục vụ đào tạo trong các trường đại học nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu, các học giả trên thế giới quan tâm, thể hiện qua những bài báo, những công trình nghiên cứu khoa học Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Bautista O (1992) đã đề xuất việc tận dụng nguồn lực CSVC, chuyển đổi hệ
thống hai học kỳ sang ba học kỳ trong năm học
- Lockwood G và Davies G (1985) với cơ chế khuyến khích điều tiết, chuyển đổi cơ sở vật chất giữa các khu vực trong nhà trường
Trang 20- Sanyal B.C (1995), đã trình bày khá chi tiết về tình hình quản lý khai thác giảng đường, phòng học, phòng thí nghiệm, thiết bị kỹ thuật của một số trường đại học ở Mỹ, Nga, Bỉ, Canada, Anh, Phần Lan và các nước Châu Mỹ La Tinh, cùng với đó là sự phân tích những mặt tích cực và hạn chế của một số trường hợp
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Châu Âu (OCDE) tổ chức định kỳ các hội nghị cho các quốc gia thành viên trên cơ sở khảo sát thực trạng CSVC của các trường học trong khu vực, tìm kiếm những giải pháp nhằm thiết lập một môi trường giáo dục hiệu quả trong việc xây dựng công trình trường học và đầu tư lắp đặt hệ thống thiết bị với ba nhiệm vụ chính: i) Cải thiện chất lượng và quá trình vận hành của các công trình trường học; ii) Đảm bảo sự gắn kết giữa việc sử dụng các công trình trường học với các yếu tố: kế hoạch tài chính, xây dựng, vận hành và công tác bảo trì bảo dưỡng; iii) Thể hiện sự hài hoà giữa môi trường giáo dục và môi trường
đó thư viện với vai trò là trung tâm của chương trình giảng dạy của trường học
K C Lance, M J Rodney và C H Pennell (2000) đề cập đến tác động của thư viện và các trung tâm thông tin trong trường học ở Pennsylvania, đồng thời cho thấy mối liên hệ giữa kết quả học tập của học sinh và hoạt động của thư viện trong nhà trường
Thư viện trường và trung tâm thông tin đã làm tăng kết quả học tập của học sinh ở North Carolina như thế nào qua công trình nghiên cứu của nhóm tác giả R
Burgin, P B Bracy và K Brown (2003) Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống thư
viện trong các trường cấp hai và trung học ở Bắc Carolina đóng vai trò rất lớn đối với kết quả học tập của học sinh
Trang 211.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo trường đại học ở trong nước
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu khoa học về quản lý giáo dục phát triển khá phong phú, đặc biệt là sau công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, các nghiên cứu về quản lý cơ sở vật chất trong quản lý giáo dục đại học
đã được nhiều học giả, tác giả xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Nghiên cứu về thực trạng trang thiết bị, các hoạt động tổ chức khai thác và sử dụng hiệu quả phòng thí nghiệm, thực hành ở các trường đại học:
- Ngô Văn Dưỡng và Huỳnh Văn Kỳ (2007) đã đề cập đến mối quan hệ của việc đào tạo theo học chế tín chỉ với việc đầu tư trang thiết bị, cũng như việc khai thác và sử dụng thiết bị trong các phòng thí nghiệm, thực hành ở trường Đại học Đà Nẵng
- Tác giả Nguyễn Văn Nguyên (2009) đã khảo sát về thực trạng các phòng thí nghiệm của trường Đại học Bách Khoa, phân tích thực trạng và đề ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả khai thác và sử dụng phòng thực hành, thí nghiệm phục vụ cho hoạt động đào tạo tại trường
- Nhóm tác giả Đào Thái Lai, Vũ Trọng Rỷ, Lê Đông Phương, Ngô Doãn Đãi (2009) đã triển khai cuộc khảo sát trên quy mô lớn về Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học của nước
ta, qua kết quả khảo sát, nhóm nghiên cứu đã khẳng định “cơ sở vật chất hạn chế” chính là yếu tố hàng đầu cản trở việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
- Hoàng Nam (2015) cho thấy việc quản lý vận hành, bảo trì và quy hoạch phát triển cơ sở vật chất của một trường đại học một cách khoa học và hợp lý là nhu cầu bức thiết trong bối cảnh các quy trình quản lý hiện nay vẫn còn thực hiện thủ công và tồn tại nhiều bất cập Giải pháp ứng dụng Mô hình thông tin công trình BIM để phục vụ nhu cầu quản lý cơ sở vật chất đã được thử nghiệm hiệu quả tại một số trường đại học trên thế giới trong những năm gần đây
Về lĩnh vực quản lý cơ sở giáo dục đã có nhiều tác giả và nhiều công trình nghiên cứu đề xuất áp dụng các mô hình quản lý nhà trường cho các lĩnh vực hoạt động giảng dạy, học tập, quản lý CSVC phục vụ đào tạo, quản lý thư viện:
Trang 22Các công trình nghiên cứu và vận dụng mô hình TQM (Total Quality Management) vào quá trình quản lý giáo dục đại học: Nguyễn Đình Phan (2005)
“Quản lý chất lượng trong các tổ chức”; Nguyễn Lộc (2010) với những phân tích quan điểm TQM cụ thể từ tên gọi, nội dung và cơ hội vận dụng vào trường đại học của nước ta; Trần Kiểm (2006) với cuốn sách “Tiếp cận hiện đại trong giáo dục” đã giới thiệu khái quát về TQM như một công trình quản lý
Trần Quốc Đắc (2001) cho rằng hệ thống hoá một bước cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sáng tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC - TBDH ở trường phổ thông, cung cấp những nội dung cơ bản, cụ thể về những yêu cầu chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng một loại hình CSVC – TBDH, về sử dụng TBDH góp phần đổi mới phương pháp dạy học các môn học ở trường phổ thông
Theo Bùi Đình Hưng (2011), CSVC kỹ thuật của trường đại học có vị trí, vai trò quan trọng trong việc đảm bảo, nâng cao chất lượng đào tạo đa ngành Tác giả cũng cho rằng quản lý CSVC kỹ thuật trong đại học là công tác khó khăn, phức tạp, bền bỉ của tất cả cán bộ giảng viên và sinh viên trong nhà trường Từ cán bộ quản
lý, cán bộ giảng dạy, nhân viên phục vụ đến sinh viên phải có tinh thần trách nhiệm,
có ý thức tự giác, có năng lực hành động trong quản lý điều hành, sử dụng và bảo quản CSVC kỹ thuật, đảm bảo hiệu quả quản lý, hiệu quả đầu tư, hiệu quả đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường
Tác giả Lê Đình Sơn (2012) đã khẳng định hiệu quả quản lý CSVC phục vụ đào tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục đại học Theo tác giả, đầu tư CSVC của trường đại học tăng lên nhiều nhưng hiệu quả phục vụ đào tạo chưa tương xứng với tiềm năng Ngoài ra, luận án cũng đề xuất mô hình vận dụng TQM vào quản lý CSVC phục vụ đào tạo của trường đại học
Tác giả Lê Cao Sơn (2010) đã trình bày nếu quản lý CSVC đồng bộ, có hệ thống thì sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho việc nâng cao chất lượng “dạy và học” và phục vụ tốt đời sống cán bộ giảng viên, nhân viên và sinh viên của trường
Nguyễn Thị Hoài Lê (2013) cũng đề cập đến nhận thức về tầm quan trọng của CSVC ở nhà trường còn chưa đầy đủ; công tác lập kế hoạch, tổ chức và triển khai thực hiện còn nhiều bất cập; đội ngũ cán bộ chuyên trách về thiết bị dạy học còn
Trang 23thiếu và yếu Dựa vào thực trạng đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp được cho là cần thiết và mang tính khả thi cao
Phan Văn Ngoạn (2013) đã viết cơ sở vật chất là một bộ phận cấu thành trường học, là một thành tố không thể thiếu trong quá trình giáo dục Hơn thế nữa,
cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng, không thể thiếu trong quá trình dạy học Chính nhờ các thiết bị dạy học mà giảng viên có thể chuyển tải thông tin và giúp khơi gợi sự cảm hứng học tập từ sinh viên
Tác giả luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế, Vũ Minh Đức (2014)
về “Quản lý CSVC ở trường Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội theo hướng ISO 9000” đã khẳng định các trường đại học cần phải đầu tư, cải tiến các nguồn lực, đặc biệt là quản lý CSVC Việc đổi mới quản lý CSVC trong trường đại học đang là đòi hỏi cấp thiết nên tác giả đã đề xuất mô hình quản lý CSVC theo ISO 9000 nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CSVC tại trường Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội Qua việc tham khảo, nghiên cứu một số công trình, bài biết của các tác giả ở trên, tác giả luận văn xin có một số nhận xét chung sau:
- Những nội dung nổi bật của các công trình, tác phẩm nghiên cứu trên đã góp phần xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về khoa học quản trị đại học nói chung, khoa học quản lý cơ sở vật chất ở bậc đại học nói riêng trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh quyết tâm trong việc thực hiện các chủ trương, quốc sách về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam
- Hệ thống cơ sở lý luận thêm phong phú và có tính bao quát về các nội dung, chương trình, quy trình, các nguyên lý, sự duy trì và kiểm soát chất lượng trong hoạt động quản lý lĩnh vực quản trị đại học, trong đó có quản lý cơ sở vật chất phục
vụ đào tạo, góp phần tạo nên thành công trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
- Những lý luận về quản lý trường học đã góp phần tích cực trong việc định hướng hoạt động nghiên cứu và phát triển về quản trị đại học ở lĩnh vực quản lý, khai thác và phục vụ cơ sở vật chất cho hoạt động đào tạo
Số lượng các tác phẩm và công trình nghiên cứu về Quản lý hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở các trường đại học còn hạn chế
Trang 241.2 Khái niệm cơ bản
1.2.1 Cơ sở vật chất trường đại học
Theo Quyết định về việc ban hành Điều lệ Trường Đại học, ngày 30 tháng 7 năm 2003, CSVC, trang thiết bị được nhận diện “Tài sản của trường đại học bao gồm: đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng, các kết quả khoa học và công nghệ, các trang thiết bị và những tài sản khác được Nhà nước giao cho trường quản lý và sử dụng hoặc do trường đầu tư mua sắm, xây dựng hoặc biếu, tặng để đảm bảo các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và các hoạt động
khác”
Tiêu chuẩn về đất đai, cơ sở vật chất và thiết bị được quy định tại Mục 1, Điều
3, Thông tư số: 24/2015/TT-BGDĐT ngày 23 tháng 9 năm 2015 về Quy định chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học như sau:
a) Diện tích đất cơ sở giáo dục đại học được giao ít nhất 25m2/1 sinh viên, diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo ít nhất 3m2/1 sinh viên b) Các hạng mục công trình xây dựng đảm bảo tiêu chuẩn Quốc gia về thiết
kế công trình trường đại học hiện hành
c) Có đủ các phương tiện, trang thiết bị cần thiết để đáp ứng yêu cầu về đào tạo và nghiên cứu khoa học; có cơ sở thực hành và trang thiết bị chuyên biệt theo yêu cầu đảm bảo chất lượng đối với các ngành, chuyên ngành đào tạo đặc thù
d) Thư viện và trung tâm thông tin học liệu có đủ giáo trình, sách tham khảo cần thiết cho các chương trình đào tạo; có bản quyền truy cập ít nhất 1 cơ
sở dữ liệu khoa học quốc tế và có ít nhất 1 tạp chí khoa học quốc tế (bản in hay bản điện tử) đối với mỗi ngành đào tạo
e) Hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin kết nối tất cả các đơn vị liên quan đảm bảo tính sẵn sàng truy cập thông tin và sử dụng theo phân cấp quản lý của cơ sở giáo dục đại học; trang thông tin điện tử có đầy đủ các thông tin cần phải công khai theo quy định của pháp luật và các thông tin cá nhân cần thiết khác về cơ cấu tổ chức và các mặt hoạt động của cơ sở giáo dục đại học cho sinh viên và những người quan tâm tra cứu
Trang 25Căn cứ các tiêu chuẩn trên, có thể nhận định cơ sở vật chất trường học là một
hệ thống các phương tiện vật chất được huy động phục vụ cho hoạt động đào tạo, giúp cho nhà trường đạt được mục đích giáo dục và có tính đa dạng về chủng loại, phức tạp về mặt kỹ thuật lẫn mỹ thuật, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như tài chính, kinh tế, khoa học, chuyên môn Cụ thể: hệ thống phòng học, phòng thực hành, phòng thí nghiệm, thư viện, máy tính, máy chiếu, hệ thống mạng internet,… cùng với những tính năng đa dạng và phong phú của hệ thống cơ sở vật chất tạo ra không ít trở ngại trong quá trình quản lý, sử dụng và bảo quản
1.2.2 Quản lí cơ sở vật chất trường đại học
1.2.2.1 Quản lý
Khái niệm quản lý là một khái niệm khá rộng, nhiều cách tiếp cận trong hoạt động quản lý khác nhau, vì vậy có nhiều quan điểm, khái niệm tương đồng về hoạt động quản lý Quản lý là một hoạt động phổ biến diễn ra trong mọi lĩnh vực xã hội, đặc biệt nó có liên quan mật thiết đến sự hợp tác và phân công lao động, là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lao động trong xã hội C.Mác cho rằng “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”
Mary Parker Follett (được trích dẫn bởi Nguyễn Lộc, 2010) đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý và được trích dẫn khá nhiều là “nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” Hay Stoner, (1995) “quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt những mục tiêu của tổ chức”
Theo Từ điển Giáo dục học (2001): “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”
Trang 26Hay Nguyễn Đức Lợi (2008) cho rằng “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động.”
Khoa học quản lý được hình thành, phát triển trên nền tảng của những tiến bộ khoa học và công nghệ, thành tựu, nó gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, sau đây là một số trường phái quản lý truyền thống tiêu biểu các học thuyết về quản lý:
- Thuyết quản lý khoa học của F.W.Taylor (1856-1915) người Mỹ: Một trong
những lý thuyết quản lý tiêu biểu phải kể đến đầu tiên là Thuyết quản lý khoa học
của F.W.Taylor Taylor đã đề xuất ra những nguyên tắc cơ bản để quản lý một cách khoa học, cải tiến quy trình tuyển dụng, huấn luyện nhân viên và tìm kiếm một
phương pháp hữu hiệu nhất để hoàn thành công việc Tuy nhiên, trường phái quản
lý khoa học trong khi đề cao vai trò trung tâm của công nghệ đã ít quan tâm đến khía cạnh con người trong sản xuất Họ cho rằng, nhân công là một yếu tố của hao phí sản xuất và cũng là một yếu tố bất định
- Thuyết quản lý hành chính Henry Fayol (1841-1925), người Pháp Trong tác
phẩm “Quản lý công nghiệp và quản lý tổng quát”, Henry Fayol đã đề xuất một trong những vấn đề then chốt nhất của lý luận quản lý dựa trên nguyên tắc về sự phân công lao động trong quản lý và vấn đề các chức năng quản lý Theo ông, quản
lý có các chức năng cơ bản là dự đoán và lập kế hoạch tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra
- Thuyết quản lý bàn giấy: Max Weber (1864-1920), là nhà xã hội học người Đức: Quản lý kiểu bàn giấy là một hệ thống dựa trên những nguyên tắc hệ thống
thứ bậc, sự phân công lao động và quy trình sản xuất, kinh doanh Theo M.Weber,
để quản lý tốt một tổ chức cần xác định rõ những vấn đề quy luật, chuẩn mực của tổ
chức, phân định rạch ròi quyền hạn của mỗi cấp quản lý, có những cam kết ràng
buộc mỗi thành viên với tổ chức và ngược lại
Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cho đến các học thuyết về quản lý, nhìn chung, đều nhấn mạnh đến những nguyên tắc quản lý,
Trang 27đề cập các mối quan hệ quản lý và đề cao vai trò của nhà quản lý Hiện các quan điểm quản lý truyền thống đó vẫn được nghiên cứu, cải tiến và vận dụng Tuy nhiên quan điểm quản lý hiện đại đã chú ý nhiều hơn đến việc tạo điều kiện để những nhà quản lý có ứng xử hợp lý khi động chạm đến khía cạnh con người trong một tổ chức hoặc tiếp cận hệ thống trong quản lý Coi trọng bốn chức năng quản lý chủ yếu: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo - lãnh đạo và kiểm tra; coi trọng tính hiệu quả, xem con người
là nguồn lực chủ yếu để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất
1.2.2.2 Quản lý trường học
Theo Phạm Viết Vượng (2010) thì “Quản lý trường học là hoạt động của các
cơ quan quản lý, về bản chất là huy động các nguồn lực để tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường theo mục tiêu giáo dục” [tr 369]
Trong Luật giáo dục (2005) chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” Mục tiêu giáo dục và yêu cầu đối với các trình độ đào tạo đã đặt ra cho hoạt động quản lý trường đại học nhiều nhiệm vụ phức tạp Công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ trọng yếu của các trường cùng với đó là trách nhiệm đối với xã hội trong việc phát triển và chuyển giao công nghệ, tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế, nguồn lao động chất lượng cao, thực hiện dịch vụ khoa học
Để thực hiện được các trọng trách đó, các trường ĐH đã phải triển khai hàng loạt lĩnh vực trong công tác quản lý như: Quản lý đào tạo; Quản lý dịch vụ cộng đồng; Quản lý dịch vụ công; Quản lý đội ngũ cán bộ; Quản lý sinh viên; Quản lý các dịch vụ hỗ trợ đào tạo; Quản lý nguồn lực và tài sản; Quản lý và điều hành nhà trường Trong đó, quản lý các dịch vụ hỗ trợ đào tạo bao gồm quản lý thư viện, máy tính, các dịch vụ hỗ trợ giảng dạy và học tập khác về nghe nhìn, tài liệu dạy học,
…v.v Về quản lý các nguồn lực và tài sản, cụ thể là quản lý, cải tiến môi trường, cảnh quan, và điều kiện làm việc của các thành viên trong cộng đồng trường học
Do đó, các công trình nghiên cứu về quản lý trường học có thể được xem xét nhằm phân tích sâu về một lĩnh vực quản lý cụ thể, nhưng mục tiêu cuối cùng của
Trang 28các công trình nghiên cứu là đều vì chất lượng đào tạo và sự phát triển của trường đại học
1.2.2.3 Quản lí cơ sở vật chất trường đại học
Quản lý CSVC nhằm tác động có mục đích của người quản lý để xây dựng, phát triển và sử dụng hiệu quả CSVC phục vụ cho mục tiêu giáo dục của trường học Trên thực tế đã chỉ ra rằng hoạt động khai thác sử dụng CSVC hiệu quả chỉ khi được quản lý tốt Do đó, cùng với việc đầu tư trang bị phải chú trọng đến việc quản
lý Hoạt động quản lý CSVC là một lĩnh vực quản lý khá đặc thù trong nhà trường, mang tính kinh tế, khoa học – giáo dục cao do đó việc quản lý một mặt cần tuân thủ các yêu cầu chung về quản lý kinh tế, khoa học, mặt khác, cần tuân thủ các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục [33, tr 90, 91]
Quản lý CSVC là việc thực hiện các nội dung quản lý từ khâu cung ứng, bảo quản và sử dụng nhằm hỗ trợ hiệu quả cho các hoạt động của nhà trường, phát huy vai trò, tác dụng của CSVC trong giáo dục và đào tạo
Để quản lý CSVC, các nhà quản lý cần thực hiện các chức năng cơ bản:
i) Lập kế hoạch quản lý CSVC;
ii) Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý;
iii) Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý;
iv) Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch quản lý
1.2.2.4 Quản lí hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất trường đại học
Từ các khái niệm cơ bản trên, tác giả cho rằng quản lý hoạt động khai thác và
sử dụng cơ sở vật chất trường đại học là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng kế hoạch khai thác và sử dụng có hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục, đào tạo trong nhà trường
Về yêu cầu quản lý hoạt động khai thác và sử dụng CSVC, nhà quản lý cần nắm vững cơ sở lý luận và thực tiễn về lĩnh vực quản lý, thực hiện tốt các chức năng quản lý, nắm vững chương trình giáo dục và những điều kiện để thực hiện, biết huy động mọi tiềm năng của tập thể, cộng đồng và có biện pháp đảm bảo hoạt động phục vụ cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng phục vụ đào tạo
Các nội dung quản lý hoạt động khai thác và sử dụng CSVC cần thực hiện:
Trang 29- Xây dựng và bổ sung thường xuyên các kế hoạch phục vụ CSVC bao gồm các hình thức phục vụ đáp ứng theo yêu cầu chương trình và kế hoạch của nhà trường, tổ chức cải tiến các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng thiết bị dạy học
- Thực hiện việc duy trì, bảo quản CSVC và thiết bị dạy học, bảo quản theo chế độ quản lý của nhà nước, theo quy chế quản lý tài sản, kiểm kê, kiểm tra; bảo quản theo chế độ đối với từng loại thiết bị đúng quy trình và phương pháp theo hướng dẫn của nhà sản xuất
- Tổ chức, chỉ đạo tốt việc khai thác và sử dụng CSVC, thiết bị dạy học cần đảm bảo các điều kiện về kỹ thuật, môi trường (bao gồm điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc, trang bị nội thất, ….) Thường xuyên thực hiện các hoạt động nhằm tác động vào nhận thức của các đối tượng có liên quan trong việcquản lý, khai thác và sử dụng CSVC, thiết bị dạy học đồng thời tập huấn về cách sử dụng cho từng loại thiết bị Nâng cao trình
độ, nghiệp vụ, kỹ thuật và kỹ năng cho nhân viên phụ trách và người sử dụng CSVC, thiết bị dạy học, thực hiện nghiêm túc các quy định về chuyên môn, có quy định về việc sử dụng thiết bị
1.3 Lý luận về cơ sở vật chất trong trường đại học
1.3.1 Vai trò của cơ sở vật chất trong hoạt động đào tạo
CSVC có vai trò quan trọng trong việc áp dụng phương pháp dạy học trực quan sinh động, lấy sinh viên làm trung tâm của quá trình nhận thức Trong quá trình dạy-học cần có sự tham gia của CSVC, với điều kiền đầy đủ về số lượng và đa dạng về chủng loại như thư viện, hệ thống phòng thí nghiệm, phòng thực hành, phòng học, giảng đường, sách nghiên cứu áp dụng Công nghệ thông tin (CNTT)
mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy và hình thức học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi
Trong quan điểm triết học duy vật biện chứng, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức Trong mối quan hệ qua lại, giữa vật chất và ý
Trang 30thức có tác động qua lại rất mật thiết, không một chiều, luôn vận động và hỗ trợ lẫn nhau
Các Mác (1973) đã chỉ ra rằng “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất đã được chuyển vào bộ óc con người và được cải biến trong đó” Có thể thấy rằng, thiết bị dạy học, những tác động trực quan và những hoạt động thí nghiệm có khả năng tạo nên những tác động vật chất và trực quan sinh động, tạo nên những cảm giác cho học sinh từ đó đem lại cho học sinh những tri giác, ý niệm và tư duy trừu tượng bao gồm các hiện tượng, khái niệm, định luật, ….v.v
Có thể nhận định vai trò cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong quá trình giáo dục qua các dấu hiệu sau:
- Là công cụ cơ bản để giáo viên tiến hành hoạt động giảng dạy Trong thời kỳ khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng như hiện nay, để truyền tải kiến thức
cơ bản, kỹ năng cần thiết đến sinh viên, giảng viên cần có những công cụ và thiết bị
kỹ thuật hỗ trợ như tài liệu tham khảo thông qua hệ thống email, các phần mềm dạy học, máy tính, máy chiếu, …v.v giúp cho người học tương tác một cách hiệu quả nhất với giảng viên
- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học, đóng góp một cách thiết thực vào việc đa dạng hóa các hình thức dạy học như dạy nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu bằng thực hành (hệ thống phòng thực hành, phòng thí nghiệm); dạy chuyên biệt, dạy nâng cao (hệ thống phòng học có thiết bị hỗ trợ như đường truyề Internet, bảng tương tác thông minh, phòng Lab, phòng Multimedia, ….); dạy ngoài trời, dạy ngoại khóa (sân bãi, khu bảo tồn, ….)
- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học còn góp phần cho cơ sở giáo dục thực hiện một cách đa dạng hình thức đào tạo như học tập trực tuyến dưới dạng các khóa học thông qua hệ thống quản lý học tập trực tuyến; học qua mạng, đào tạo liên kết như sinh viên có thể học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên ở các quốc gia khác nhau Hình thức đào tạo phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu xã hội Nhưng để thực hiện điều đó thì cơ sở giáo dục phải có hạ tầng kỹ thuật, CSVC phù hợp
Trang 311.3.2 Mối quan hệ cơ sở vật chất với chương trình đào tạo
Theo Jon Wiles và Joseph Bondi (2002), nền tảng của việc hoạch định chương trình đào tạo có bốn lĩnh vực được nhà trường quan tâm là: i) những tác động của xã hội; ii) xử lý kiến thức; iii) sự tăng trưởng và phát triển của con người; iv) học như
là một quá trình Trong bốn lĩnh vực trên, theo Jon Wiles và Joseph Bondi đề nghị
thêm vào lĩnh vực Công nghệ Hiện nay, công nghệ dù đang phát triển, cũng được
coi là nền tảng thứ năm đối với hoạt động xây dựng kế hoạch trong thế kỷ 21 Không chỉ đơn thuần là một tác động xã hội, công nghệ đang có nhiều tác động đến
cả bốn nền tảng nói trên Xã hội chúng ta đang bị máy tính thay đổi Tri thức đang bùng nổ và trở nên không thể quản lý được trong nhà trường Học sinh đang phát triển trí tuệ theo nhiều con đường khác nhau Lý thuyết về học tập đã bước vào một mảnh đất mới, và học sinh ngày nay, nhờ có máy móc, đang sử dụng tất cả các giác quan trong học tập
Jon Wiles và Joseph Bondi (2002) nhận định, tác động của công nghệ vào cấu trúc trường học, vào sứ mạng, vào việc sử dụng con người như thầy giáo, vào các lý thuyết về chương trình học và học tập thật ra mới chỉ diễn ra ở một số khía cạnh Trong thế kỷ tới, những người làm chương trình học sẽ còn phải đối diện với những vấn đề đầy thử thách nhưng không kém phần thích thú
Thật vậy, hệ thống phục vụ cơ sở vật chất là yếu tố cần thiết cho việc thiết kế
đề cương của môn học, hoạt động phục vụ cơ sở vật chất là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hoạt động đào tạo có chất lượng Hiệu quả trong việc khai thác và sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy là minh chứng cơ bản trong việc đánh giá đề cương môn học Việc chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ có những đòi hỏi mới về đề cương môn học, tuy nhiên chất lượng thực tế chỉ đạt được khi một chương trình đào tạo tốt và có sự hỗ trợ của cơ sở vật chất, các trang thiết bị và hạ tầng cơ sở Các điều kiện phục vụ cho việc lên lớp hoàn thiện,
có sự nỗ lực và phối hợp chặt chẽ của giáo viên, sinh viên và cán bộ phục vụ
1.3.3 Cơ sở vật chất với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ
Theo Lâm Quang Thiệp (2006), trường Đại học Havard (Mỹ) là một trong những trường đầu tiên trên thế giới áp dụng phương thức đào tạo theo học chế tín
Trang 32chỉ vào năm 1872, sau đó lan rộng ra khắp thế giới Tại Việt Nam, lần đầu tiên phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ này cũng được áp dụng cho trường Đại Học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh niên khoá 1993-1994, tiếp sau đó là các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Nha Trang, Đại học Cần Thơ, Đại học Xây dựng
Hà Nội … cho đến nay, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã chuyển đổi sang học chế tín chỉ được khoảng
10 năm
Lê Quang Sơn (2010) đã trình bày việc chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ là bước chuyển tất yếu, khách quan của hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam theo xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế Tuy nhiên, những thay đổi trong hoạt động dạy học khi áp dụng học chế tín chỉ kéo theo sự thay đổi trong yêu cầu về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, thời gian tự nghiên cứu của sinh viên tăng lên kéo theo những đòi hỏi về không gian tự học, về các phương tiện kỹ thuật phục vụ đào tạo, đặc biệt là các phương tiện nghe nhìn và mạng interrnet Sự mềm dẻo trong việc dạy và học theo học chế tín chỉ cũng kéo theo việc sinh viên không học theo buổi cố định và điều này đòi hỏi phải xây dựng thêm phòng học và áp dụng quy trình quản lý phòng học, trang thiết bị phù hợp
Trong đào tạo theo học chế tín chỉ có ba yếu tố được coi là trụ cột quyết định đến chất lượng đào tạo, đó là: chương trình đào tạo, đội ngũ (cả giảng viên, cán bộ quản lý, phục vụ đào tạo) và nguồn lực cơ sở vật chất Trong quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ đã có nhiều diễn đàn, hội nghị, hội thảo của giáo dục đại học Việt Nam tổ chức nhằm phân tích những yêu cầu cũng như khó khăn, bất cập trong quản
lý mà các trường đại học gặp phải
- Xây dựng hệ thống phần mền quản trị đại học bao gồm quản lý thông tin, quản lý đào tạo, quản lý sinh viên: Quy trình trong đào tạo tín chỉ cần có các công đoạn như sinh viên đăng ký học phần, lựa chọn các môn học, lựa chọn giảng viên, tải các nội dung bài học; việc quản lý điểm, nhập điểm, trả điểm phải đảm bảo thông tin kịp thời Do đó, hệ thống phần mềm, đường truyền internet cần được quản
lý tốt để tránh quá tải khi sinh viên đăng ký học phần Cùng với đó là công tác
Trang 33truyền thông, quảng bá như website riêng của trường, hệ thống bảng tin, hệ thống phòng máy để sinh viên có thể đăng nhập tìm kiếm thông tin
- Hệ thống phòng học, giảng đường cần đủ để mở các môn học trong mỗi học
kỳ, cần có cơ chế quản lý tốt bằng những phần mềm quản lý phòng học, do lớp học theo hệ thống tín chỉ được cơ cấu sinh viên từ nhiều ngành, nhiều khoa, bộ môn khác nhau, không thể thay đổi giờ học như lớp học theo niên chế Cùng với đó là những phòng học chuyên đề, nâng cao phù hợp tính chất của môn học, đặc thù về số lượng, có phòng học dành cho lý thuyết, phòng học thực hành riêng biệt cùng với
đó là các thiết bị trợ giảng, hệ thống nghe nhìn Cần tăng cường các khu tự học, tự nghiên cứu tạo điều kiện thuận lợi tự học của sinh viên
- Nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng, phục vụ thư viện cũng như hoạt động phục vụ đào tạo, vì đặc thù học chế tín chỉ chú trọng tự học, tự nghiên cứu trong quá trình học tập của sinh viên, thư viện cần trở thành nơi cung cấp nguồn học liệu phong phú, có các ứng dụng công nghệ hiện đại, đồng thời là nơi sinh viên có thể tổ chức tự học, nghiên cứu theo nhóm hay của cá nhân Các hoạt động phục vụ CSVC cần tạo điều kiện tốt nhất cho người học vì các lớp học sẽ không còn ban cán
sự lớp để thực hiện công việc chung như mượn thiết bị giảng dạy, dụng cụ như phấn, khăn lau bảng, micro,…v.v Để làm được điều đó, quy trình phục vụ đào tạo, quản lý CSVC của các tổ công tác cần được cải tiến và ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin hiện đại, đưa sản phẩm phục vụ đến với nhu cầu của người học một cách hiệu quả nhất
Chuyển đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ kéo theo sự đổi mới công tác quản lý CSVC trong nhà trường đại học Các điều kiện về hỗ trợ, phục
vụ đào tạo phải được đổi mới không chỉ là nâng cao chất lượng mà ngay cả cách thức phục vụ cũng hướng đến xu hướng cá nhân hóa theo nhu cầu người học Góp phần xây dựng văn hóa chất lượng trong trường đại học nhìn từ khía cạnh cơ sở vật chất
1.3.4 Phân loại cơ sở vật chất phục vụ đào tạo trong trường đại học
Theo Phan Quốc Bảo (2011), CSVC phục vụ đào tạo ở trường đại học được phân loại theo hình thức, theo chức năng và theo nguồn gốc, xuất xứ hay giá trị:
Trang 34- Phân loại theo hình thức, CSVC gồm có mô hình, mẫu vật, ấn phẩm, tài liệu nghe nhìn, dụng cụ thí nghiệm, phương tiện nghe nhìn, cơ sở hạ tầng, hóa chất
- Phân loại theo chức năng, CSVC gồm có các thiết bị dạy học dùng để truyền tải thông tin, luyện tập, kiểm tra, hỗ trợ, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học
- Phân loại theo nguồn gốc, xuất xứ hay giá trị, cơ sở vật chất bao gồm các thiết bị dạy học được đầu tư và trang bị theo danh mục của Bộ GD&ĐT và các thiết
bị dạy học tự làm
Nhìn chung, CSVC ở trường đại học bao gồm: Trường sở, thư viện, sách giáo
khoa, các thiết bị dạy học, …
Trường sở là nơi để thực hiện việc dạy và học Do sự phát triển không ngừng của giáo dục, đặc biệt là nhằm thực hiện tốt các phương pháp dạy học, trường sở cần có những thay đổi tích cực để phù hợp với mục đích phục vụ Môi trường xung quanh trường sở cần phải được an toàn và không có tác động xấu đến việc giảng dạy, học tập của giảng viên và sinh viên
Thư viện và sách là loại cơ sở vật chất rất cần thiết cho việc phục vụ giảng dạy
và học tập ở trường và cũng là nguồn cung cấp tri thức quan trọng của giảng viên và sinh viên
Thiết bị dạy học bao gồm các thiết bị trực quan, thực nghiệm và các thiết bị kỹ thuật, các phương tiện nghe nhìn như máy chiếu, máy tính, tivi, …tham gia vào quá trình giảng dạy và học tập Các phương tiện kỹ thuật này góp phần rất lớn vào việc đổi mới phương pháp dạy học Nhờ có các phương tiện kỹ thuật, một lượng lớn thông tin của bài học được truyền đạt đến sinh viên một cách có hiệu quả cao Vì thế, số lượng và chất lượng của thiết bị dạy học như nguồn lực học liệu của thư viện, phòng ốc và hệ thống thiết bị dạy học ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giảng dạy của giảng viên và kết quả học tập của sinh viên
1.3.5 Yêu cầu về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở trường đại học
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (số 65/2007/QĐ-BGDĐT), yêu cầu về chất lượng của CSVC phục vụ đào tạo được thể hiện như sau:
Trường sở phải có đủ giảng đường, phòng học, phòng thực hành, phòng thí nghiệm phục vụ cho việc dạy, học và nghiên cứu đáp ứng yêu cầu của các ngành
Trang 35đào tạo Ngoài ra, trường học cũng phải có đủ phòng làm việc cho các cán bộ, nhân viên, giảng viên theo quy định Nói chung, trường sở phải có đủ diện tích sử dụng, cấu trúc phù hợp với quy mô đào tạo, môi trường xung quanh phải an toàn cho việc giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên
Thư viện của trường đại học cần phải có đầy đủ sách và tài liệu tham khảo tiếng Việt cũng như tiếng nước ngoài nhằm cung cấp kiến thức đại cương và chuyên ngành, đáp ứng đủ yêu cầu của các cán bộ, giảng viên, sinh viên Thư viện điện tử
có kết nối mạng internet để phục vụ hiệu quả việc dạy, học và nghiên cứu khoa học
Số lượng cán bộ, nhân viên điều hành quản lý, tổ chức thư viện cũng cần phải đủ để phục vụ cho các hoạt động trong thư viện
Các phương tiện thiết bị dạy học cần phải được trang bị và cung cấp đầy đủ để
hỗ trợ hiệu quả cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và quản lý Căn cứ vào quy định trên, trường đại học cần trang bị đầy đủ và đồng bộ các phương tiện cơ sở vật chất kỹ thuật, cũng như bố trí hợp lý cơ sở vật chất trong khu vực nhà trường, khai thác và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất nhằm làm cho quá trình giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên diễn ra hiệu quả hơn, tiết kiệm thời gian, sức người hơn, tạo ra môi trường vật chất mang đậm tính sư phạm, thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, đáp ứng yêu cầu về sự an toàn, tính thẩm mỹ
và vệ sinh sức khỏe của một cơ sở giáo dục.Quản lý hoạt động khai thác và sử dụng
cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở trường đại học
Quản lý hoạt động khai thác và sử dụng CSVC trường học chính là tác động
có mục đích của chủ thể quản lý nhằm xây dựng kế hoạch tổ chức quản lý, bảo quản, khai thác và sử dụng có hiệu quả hệ thống CSVC trong trường học phục vụ một cách tốt nhất cho công tác giáo dục và đào tạo
Trên thực tế đã cho thấy, hệ thống CSVC trường học chỉ phát huy tác dụng tốt trong hoạt động phục vụ đào tạo khi được quản lý tốt Chính vì thế, đi đôi với việc đầu tư trang bị, phát triển CSVC phải đặc biệt chú ý đến công tác quản lý việc bảo quản, khai thác và sử dụng CSVC trường học một cách hợp lý để nâng cao hiệu quả CSVC Hệ thống CSVC trường học là một lĩnh vực vừa mang tính kinh tế giáo dục
Trang 36vừa mang tính khoa học giáo dục, chính vì thế trong quản lý cần tuân thủ theo các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục
Quản lý hoạt động khai thác và sử dụng CSVC trường học là một trong những nhiệm vụ của nhà quản lý giáo dục, quản lý tốt hoạt động khai thác và sử dụng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý CSVC nói chung, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học cũng như việc xây dựng văn hoá chất lượng giáo dục nhìn từ khía cạnh CSVC
1.4 Quản lý cơ sở vật chất trong trường đại học
1.4.1 Chủ thể quản lý cơ sở vật chất trong trường đại học
Căn cứ mô hình tổ chức trường đại học, chủ thể quản lý hoạt động khai thác
và sử dụng CSVC trong trường đại học chính là bộ máy quản lý, điều hành nhà trường, gồm BGH, lãnh đạo các phòng, ban, khoa, trung tâm, các cán bộ viên chức
và nhân viên trực tiếp quản lý CSVC ở các tổ công tác trong nhà trường Công tác quản lý CSVC cũng được phân cấp theo chức năng, nhiệm vụ
1.4.1.1 Ban Giám hiệu
Ban giám hiệu do hiệu trưởng đứng đầu và chịu trách nhiệm quản lý chung các hoạt động trong nhà trường, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm BGH có trách nhiệm và nghĩa vụ quản lý các lĩnh vực, trong đó có quản lý CSVC, thường hiệu trưởng giao cho một phó hiệu trưởng phụ trách riêng về mảng tài chính – cơ sở vật chất nhằm xây dựng kế hoạch chiến lược, các mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung trình hiệu trưởng xem xét quyết định
1.4.1.2 Phòng Quản trị thiết bị
Đứng đầu là trưởng phòng có nhiệm vụ tham mưu và giúp cho hiệu trưởng trong công tác quản lý, mua sắm, sửa chữa, bảo quản phần cơ sở vật chất của trường, phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, sinh hoạt của CBCNV và sinh viên trong nhà trường Cụ thể:
Xây dựng kế hoạch công tác quản lý thiết bị vật tư của trường, theo dõi giám sát việc mua sắm và tình hình bảo quản sử dụng trang thiết bị và vật tư ở các đơn vị trong trường
Trang 37Hướng dẫn và chỉ đạo việc kiểm kê tài sản ở các đơn vị, thực hiện việc kiểm
kê tài sản vật tư chung của trường theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của cấp trên Phối hợp với phòng Kế hoạch tài chính giám sát, kiểm tra việc sử dụng tài sản như: nhà cửa, đất đai, đường xá, sân bãi, cây xanh, đồ gỗ….v.v do các đơn vị quản lý sử dụng Trực tiếp quản lý tài sản chung của trường
Thực hiện chế độ khấu hao trang thiết bị vật tư theo quy định, đề xuất việc thanh lý, xử lý tài sản vật tư hỏng hoặc không dùng đến để bảo đảm tận dụng và tiết kiệm trong sử dụng
Quản lý tài sản trong các phòng học, giảng đường và các nơi công cộng, chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ các khu sinh hoạt, vui chơi trong trường
Tổ chức, quản lý, điều động và sửa chữa xe đưa rước CBCNV, đáp ứng cho các nhu cầu của trường
Chịu trách nhiệm việc xuống cấp nhà cửa do trường quản lý Quản lý và bảo quản hệ thống điện thoại trong toàn trường Quản lý và thực hiện việc thu tiền nước, tiền điện của các đơn vị đóng trú bên trong trường
1.4.1.3 Khoa chuyên môn
Đội ngũ cán bộ quản lý CSVC ở các đơn vị chuyên môn bao gồm những người trực tiếp quản lý các đơn vị trong trường gồm ban chủ nhiệm các khoa, bộ môn trực thuộc trường, thư ký khoa, bộ môn trực thuộc trường Trong công tác quản lý CSVC, vai trò của cán bộ quản lý các đơn vị trực thuộc trường là rất quan trọng, trực tiếp tham gia và điều hành thực hiện tốt việc sử dụng hiệu quả trang thiết
bị trong đơn vị quản lý
1.4.1.4 Đội ngũ giảng viên, sinh viên
Đội ngũ giảng viên và sinh viên là những người trực tiếp quản lý CSVC trong quá trình khai thác và sử dụng như: việc giảng dạy bằng công nghệ thông tin trong trình chiếu Powerpoint, hình ảnh mô phỏng, video, … Ngoài ra, việc sử dụng phần mềm bài giảng điện tử, giáo án điện tử là một trong những phương pháp giảng dạy tích cực khi giảng viên áp dụng trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Chính vì thế, trong hoạt động khai thác và sử dụng CSVC, vai trò của đội ngũ
Trang 38giảng viên, sinh viên vô cùng quan trọng, họ trực tiếp tham gia và điều hành thực hiện quá trình sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học trên giảng đường
1.4.2 Quản lý hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất tại trường ĐH
1.4.2.1 Lập kế hoạch hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất
- Chức năng lập kế hoạch chung: Kế hoạch là quá trình ấn định những mục tiêu và định ra biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó Kế hoạch của nhà quản lý vạch rõ con đường để đi tới mục tiêu đã đặt ra Nó có hai tác dụng là hướng dẫn giảm bớt những hậu quả của thay đổi làm giảm thiểu lãng phí, lập lại và đặt ra những tiêu chuẩn để kiểm soát được dễ dàng và kế hoạch đặt ra sự phối hợp
Thông thường khi xây dựng kế hoạch có 2 loại:
+ Kế hoạch chiến lược: Đưa ra các mục tiêu và những biện pháp lớn có tính cơ bản để đạt mục tiêu trên cơ sở các nguồn lực hiện có cũng như các nguồn lực có khả năng huy động
+ Kế hoạch tác nghiệp: Nhằm nâng cao hiệu quả và thường ở các lĩnh vực, nội dung cụ thể
Lập kế hoạch là một chức năng quan trọng của quá trình quản lý, vì vậy, trên
cơ sở phân tích các thông tin quản lý, căn cứ vào những tiềm năng đã có và những khả năng mà chủ thể quản lý xác định rõ hệ thống mục tiêu, nội dung hoạt động, các giải pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của đối tượng khi kết thúc các hoạt động Nếu không có kế hoạch thì không biết phải tổ chức nhân lực và các nguồn lực khác nhau như thế nào
- Lập kế hoạch hoạt động khai thác và sử dụng CSVC: là quá trình thiết lập các mục tiêu về quản lý hoạt động khai thác và sử dụng CSVC trong trường học, hệ thống các hoạt động và các điều kiện đảm bảo việc thực hiện được các mục tiêu đã
đề ra Việc lập kế hoạch giúp cho các chủ thể quản lý có cái nhìn tổng thể, toàn diện, từ đó xác định nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch, phân công cho các đơn vị hoặc cá nhân, quy định cơ chế phối hợp giữa các nguồn lực, xây dựng các phương án tối ưu nhằm đảm bảo thực hiện một cách hiệu quả mục tiêu đã định
Để lập kế hoạch các nhà quản lý cần thực hiện các nội dung:
Trang 39- Nhận thức đầy đủ các mục tiêu của nhà trường, cấp trên thông qua Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước; các chủ trương của Chính phủ, Bộ, ĐHQG-HCM
và chính quyền địa phương Quán triệt các tiêu chuẩn về CSVC trường học như Luật giáo dục, Điều lệ trường đại học, …
- Xác định thực trạng về CSVC, chất lượng phục vụ thông qua hình thức điều tra, khảo sát, quan sát, …
- Xác định mục tiêu trong kế hoạch như hình thức triển khai phục vụ, quản lý
sử dụng và khai thác CSVC, điều kiện bảo quản thiết bị dạy học, kế hoạch tăng cường thiết bị, bảo trì, sửa chữa thiết bị phục vụ hoạt động đào tạo của trường theo từng học kỳ, từng năm học hoặc theo từng giai đoạn
- Xác định nguồn lực cần thiết để thực hiện kế hoạch Phân công cho các đơn
vị, tổ, nhóm, cá nhân đồng thời quy định cơ chế phối hợp giữa các đơn vị, tổ, nhóm
và cá nhân Xây dựng các quy định, quy chế và quy trình quản lý hoạt động phục
vụ, khai thác và sử dụng CSVC trong trường nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã đặt ra và tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra đánh giá
1.4.2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động khai thác và sử dụng CSVC
- Chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch: là một trong những hoạt động của chức năng quản lý, có liên quan đến các hoạt động thành lập nên các bộ phận trong
tổ chức để đảm nhận những hoạt động cần thiết, xác định các mối quan hệ về nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các bộ phận
Mục tiêu của công tác tổ chức là tạo nên một môi trường nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực và sự nhiệt tình của mình, có đóng góp tốt nhất vào sự hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức Nhờ có chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên hiệu quả, cho phép các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung
- Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động khai thác và sử dụng CSVC: là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên trong trường học để thực hiện được mục tiêu đã có Các chủ thể quản lý hoạt động khai thác và sử dụng CSVC trong trường học cần thiết lập một cơ chế điều phối, tạo
Trang 40sự liên kết hoạt động giữa các bộ phận, tổ nhóm phục vụ hay các thành viên, tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể đạt được mục tiêu một cách dễ dàng
Để tổ chức thực hiện, các nhà quản lý cần tập trung vào những yếu tố sau:
- Tổ chức việc thực hiện các kế hoạch về khai thác và sử dụng CSVC
- Quy định về việc sử dụng CSVC
- Tổ chức việc phân công nhân sự các bộ phận, tổ, nhóm phụ trách
- Thiết lập hệ thống hồ sơ, sổ sách, văn bản có liên quan đến CSVC
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động khai thác và sử dụng cơ sở vật chất
Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, nhà quản lý phải sử dụng quyền lực quản lý, vận dụng các phương pháp quản lý và nghệ thuật quản lý nhằm điều khiển hệ thống thực hiện thành công mục tiêu quản lý hoạt động khai thác và
sử dụng CSVC trong trường đã đề ra
1.4.2.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động khai thác và sử dụng CSVC
- Chức năng chỉ đạo thực hiện kế hoạch: đây được coi là chức năng chung của quản lý, các hoạt động hướng dẫn, đào tạo, đôn đốc, động viên và thúc đẩy các thành viên trong tổ chức làm việc với hiệu quả cao để đạt mục tiêu tổ chức Chức năng này nhà quản lý phải thực hiện tốt nguyên tắc thống nhất chỉ huy và thực hiện tốt chế độ một thủ trưởng, có sự tỉnh táo, nhạy bén và hiểu biết thấu đáo về tâm lý, giao tế nhân sự, có những kỹ thuật chuẩn mực tốt để xác định nguyên nhân của những vấn đề khó khăn về mặt nhân sự, có sự hiểu biết đầy đủ về nghệ thuật cải biến con người và xác định các phương hướng lãnh đạo, phối hợp các phương pháp
đó phù hợp với điều kiện bên trong và bên ngoài của tổ chức
Chỉ đạo thể hiện quá trình ảnh hưởng qua lại giữa chủ thể quản lý với mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần thực hiện hoá các mục tiêu đã đề ra Căn
cứ vào kế hoạch đã được xây dựng và sự tổ chức phân công lao động, chủ thể quản
lý chỉ đạo hoạt động của cấp dưới bằng cách đưa ra các yêu cầu, mệnh lệnh bằng văn bản hoặc lời nói
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động khai thác và sử dụng CSVC chính là quá trình tác động của các cấp lãnh đạo, chủ thể quản lý đến các tổ, nhóm