1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa giao tiếp của người ý (trường hợp giao tiếp phi ngôn từ)

139 104 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Giao Tiếp Của Người Ý (Trường Hợp Giao Tiếp Phi Ngôn Từ)
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hạnh
Người hướng dẫn TS. Trương Văn Vỹ
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi nền văn hóa với những cấu hình riêng lại hình thành những thói quen giao tiếp đặc thù, tạo nên những khác biệt ngay trong bản thân hoạt động giao tiếp, trong đó cũng đồng thời thể hi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRƯƠNG VĂN VỸ

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, luận văn thạc sỹ với đề tài “Văn hóa giao tiếp của người Ý (Trường hợp giao tiếp phi ngôn từ)” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới

sự hướng dẫn khoa học của Ts Trương Văn Vỹ

Các tư liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực và

có nguồn gốc rõ ràng

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU - 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI - 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - 3

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ - 4

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - 7

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU - 8

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN - 9

7 BỐ CỤC CHÍNH CỦA LUẬN VĂN - 10

CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT - 12

1.1 GIAO TIẾP VÀ VĂN HÓA GIAO TIẾP - 12

1.1.1 Giao tiếp - 12

1.1.2 Một số hình thức giao tiếp cơ bản - 14

1.1.3 Văn hóa giao tiếp - 15

1.2 GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ VÀ VĂN HÓA GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ 16 1.2.1 Giao tiếp phi ngôn từ - 16

1.2.2 Văn hóa giao tiếp phi ngôn từ - 20

1.3 CÁC THUỘC TÍNH CHUNG CỦA GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ - 20

1.4 PHÂN LOẠI GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ - 22

1.4.1 Phân loại theo nguồn gốc - 22

1.4.2 Phân loại theo thành tố - 24

1.4.2.1 Ngôn ngữ cơ thể - Kinesics - 25

1.4.2.2 Không gian giao tiếp - Proxemics - 30

1.4.2.3 Thời gian giao tiếp – Chronemics - 34

1.4.2.4 Tiếp xúc cơ thể trong giao tiếp – Haptics - 36

1.4.2.5 Các yếu tố cận ngôn – Vocalics - 38

CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ CẬN NGÔN VÀ NGÔN NGỮ CƠ THỂ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI Ý - 42

2.1 CÁC YẾU TỐ CẬN NGÔN - 43

2.2 NGÔN NGỮ CƠ THỂ - 46

2.2.1 Cử chỉ của đôi tay - 46

2.2.1.1 Nguồn gốc lịch sử - văn hóa của thói quen “nói chuyện bằng tay” của người Ý (la gestualita` italiana) - 46

2.2.1.2 Cử chỉ giao tiếp bằng tay của người Ý – cử chỉ biểu tượng - 51

2.2.2 Ánh mắt - 63

2.2.3 Các biểu hiện khuôn mặt - 64

2.2.4 Tiếp xúc cơ thể - 68

CHƯƠNG III: NGÔN NGỮ MÔI TRƯỜNG VÀ NGÔN NGỮ VẬT THỂ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI Ý - 71

3.1 NGÔN NGỮ MÔI TRƯỜNG - 71

3.1.1 Không gian giao tiếp - 71

Trang 5

3.1.1.1 Sắp xếp môi trường, bối cảnh giao tiếp - 72

3.1.1.2 Quan niệm về sự riêng tư (privacy) - 76

3.1.1.3 Hướng giao tiếp - 77

3.1.1.4 Những không gian “cấm kỵ” - 78

3.1.2 Thời gian giao tiếp - 79

3.1.2.1 Lượt nói trong giao tiếp - 80

3.1.2.2 Giờ giấc và quan niệm về sự đúng giờ - 82

3.1.2.3 Thời gian văn hóa của người Ý - 83

3.2 NGÔN NGỮ VẬT THỂ - 84

3.2.1 Trang phục - 84

3.2.2 Quà tặng và những đồ vật mang ý nghĩa biểu tượng - 89

CHƯƠNG IV: CÁC BIỂU HIỆN CỦA TÍNH CÁCH Ý TRONG VĂN HÓA GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ CỦA HỌ - 93

4.1 SỰ SÔI NỔI VÀ CỞI MỞ TRONG TÍNH CÁCH Ý - 93

4.2 SỰ LINH HOẠT - 97

4.3 SỰ COI TRỌNG GIA ĐÌNH - 98

KẾT LUẬN - 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 105 PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

PHỤ LỤC 4

PHỤ LỤC 5

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sự tiếp xúc, giao thoa giữa các tộc người, giữa các nền văn hóa khác nhau từ xưa đến nay vẫn là một trong những yếu tố then chốt trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Đặc biệt, trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, thì sự giao tiếp, đối thoại giữa các nền văn hóa lại càng trở nên cần thiết và quan trọng hơn Tuy nhiên, quá trình giao tiếp ấy không phải khi nào cũng diễn ra suôn sẻ, bởi một thực tế là giữa các nền văn hóa khác nhau vốn tồn tại quá nhiều khác biệt, mà trong

đó, sự khác nhau về ngôn ngữ - sự khác biệt hẳn nhiên và dễ nhận thấy nhất – chỉ là một yếu tố rất nhỏ Mỗi nền văn hóa với những cấu hình riêng lại hình thành những thói quen giao tiếp đặc thù, tạo nên những khác biệt ngay trong bản thân hoạt động giao tiếp, trong đó cũng đồng thời thể hiện sự khác biệt về phong tục, tập quán, kiểu

tư duy, lối sống,…Toàn bộ các yếu tố văn hóa ấy không chỉ được truyền tải thông qua ngôn từ trong hoạt động giao tiếp của con người, mà còn thông qua một hệ thống các

ký hiệu, hành vi, cử chỉ, nét mặt, được sử dụng đồng thời với lời nói, hoặc đôi khi độc lập với lời nói trong quá trình giao tiếp ấy

Cho đến nay, sau hàng loạt những nghiên cứu, chúng ta đều có thể thống nhất rằng tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn từ là không thể chối bỏ Tuy những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này chỉ thực sự bắt đầu từ những năm ’50 của thế kỷ XX, nhưng

đến nay đã đủ chứng minh một điều: “Dáng vẻ khi bạn nói quan trọng hơn điều bạn nói” (Allan & Barbara Pease, 2014)

Đây không chỉ là một nhận xét cảm tính nhằm đề cao quá mức vai trò của giao tiếp phi ngôn từ, mà là một nhận định dựa trên số liệu thực nghiệm cụ thể Albert Mehrabian, một nhà tâm lỹ xã hội học, cũng là một nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực này, đã tiến hành một nghiên cứu vào năm 1971 nhằm xác định mối tương quan giữa ý nghĩa của những thông điệp lời nói và những thông điệp không lời trong các cuộc gặp mặt trực tiếp Nghiên cứu đã xác định ba thành tố tồn tại trong bất kỳ giao tiếp trực tiếp nào: lời nói, giọng nói, và ngôn ngữ cơ thể Mehrabian đồng thời xác định tỷ lệ của ba thành tố này, và con số mà ông công bố sau đó đã gây không ít

Trang 7

chấn động trong ngành nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn từ: 55% ý nghĩa của thông điệp xuất phát từ ngôn ngữ cơ thể trực quan 38% bắt nguồn từ yếu tố lời nói, và thông điệp ngôn từ - vốn được coi là phương tiện giao tiếp chính – chỉ truyền đạt được 7% ý nghĩa mà thôi (dẫn theo James Borg, 2012)

Birdwhistell, người đặt nền móng cho ngành nghiên cứu về ngôn ngữ cơ thể (kinesics) cũng phát hiện ra trong giao tiếp trực tiếp, yếu tố lời nói chỉ truyền đạt chưa đến 35% ý nghĩa, phần còn lại 65% là do các yếu tố không lời truyền đạt (Birdwhistell, 1970)

Allan Pease (2014), qua phân tích hàng ngàn băng ghi âm các cuộc phỏng vấn trực tiếp và cuộc thương lượng bán hàng trong thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX đã xác định ngôn ngữ cơ thể chiếm khoảng 60-80% trong việc tạo ra ảnh hưởng bên bàn đàm phán; đồng thời có khoảng 60-80% nhận định ban đầu về một người mới gặp được hình thành chỉ trong vòng chưa đến 4 phút đầu của cuộc nói chuyện

Rất nhiều nhà nghiên cứu khác đều đã đồng tình với nhận định về tầm quan trọng của các cử chỉ giao tiếp phi ngôn từ; thậm chí còn cho rằng ngôn từ chỉ có vai

trò truyền tải thông tin, còn ngôn ngữ cơ thể là sự phản ánh trạng thái cảm xúc của một người ra bên ngoài (Allan & Barbara Pease, 2014)

Hẳn trong chúng ta khó ai có thể quên được những bộ phim hài của Charlie Chaplin – những bộ phim câm đen trắng đề cao sức biểu đạt của cơ thể và bối cảnh Thời đại phim câm chính là những minh chứng rõ nét nhất cho tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn từ

Thực tế này thực ra là một điều khá dễ hiểu và đã được minh chứng về mặt khoa học, bởi bộ não của chúng ta tiếp nhận các thông tin phần lớn do thị giác mang lại (95%), và rất ít từ các giác quan khác, bao gồm cả thính giác (5%) (James Borg, 2012); trong khi những thông điệp phi ngôn từ được tiếp nhận chủ yếu qua kênh thị giác, và một phần nhỏ qua thính giác (cao độ, cường độ giọng nói…), chính vì thế ta

có thể khẳng định phần lớn ý nghĩa của một thông điệp được tiếp nhận thông qua việc chúng ta quan sát những biểu hiệ của người nói, chứ không phải thông qua nội dung

Trang 8

của thông điệp ngôn từ mà anh ta nói ra Những gì chúng ta nhìn thấy quan trọng hơn những gì chúng ta nghe thấy

Thêm nữa, các yếu tố tham gia vào giao tiếp phi ngôn từ lại luôn hiện diện một cách liên tục, không gián đoạn như thông điệp ngôn từ Thông thường giao tiếp phi ngôn từ là có ý thức, nhưng cũng rất nhiều khi diễn ra hoàn toàn vô thức, thậm chí nhiều yếu tố dường như nằm ngoài sự kiểm soát của con người Tất cả những đặc tính

đó đều chịu sự chi phối nhất định của văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi nhóm người Như vậy, nắm bắt được các “mã hóa” khác nhau trong giao tiếp phi ngôn từ của các nền văn hóa khác nhau giúp ta giải mã đúng đắn, hoặc ít nhất là không quá sai lệch những nội dung giao tiếp, giúp cho việc truyền đạt và tiếp nhận thông tin, tình cảm, cảm xúc được diễn ra thuận lợi và trọn vẹn, chính xác hơn

Nhận thấy tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn từ, chúng tôi cho rằng việc tìm hiểu về giao tiếp phi ngôn từ của các quốc gia, các nền văn hóa trên thế giới là một công việc cần thiết và hữu ích, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đang mở cửa hội nhập, có thêm nhiều đối tác mới và nhu cầu giao tiếp với họ là tất yếu

Từ những điều đã trình bày ở trên, với tư cách là một người đã có quá trình tiếp xúc khá lâu với văn hóa Ý, đồng thời nhận thấy sự cần thiết phải có những nghiên cứu bước đầu mang tính khoa học về những đặc điểm giao tiếp phi ngôn từ của các quốc gia, các nền văn hóa hiện đang tiếp xúc với Việt Nam, chúng tôi đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Văn hóa giao tiếp của người Ý (trường hợp giao tiếp phi ngôn từ)” Công trình nghiên cứu có thể chưa thật đầy đủ, sâu sắc, tuy nhiên, chúng tôi mong rằng công trình này sẽ có những đóng góp bước đầu trong việc tìm hiểu về văn hóa của nước Ý, đồng thời cũng cung cấp những thông tin hữu ích đối với những ai quan tâm hoặc cần phải giao tiếp với người Ý trong công việc hay trong cuộc sống hằng ngày

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung vào các mục đích chính sau:

Trang 9

- Giới thiệu cái nhìn toàn diện về giao tiếp phi ngôn từ nói chung Tổng hợp và phân tích các nhận định về giao tiếp phi ngôn từ của các nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới

- Trình bày chi tiết và lý giải về hoạt động giao tiếp phi ngôn từ của người Ý Xem xét các khía cạnh của văn hóa giao tiếp phi ngôn từ, coi đó như một đặc trưng trong văn hóa của người Ý

- Tìm ra những đặc điểm trong văn hóa giao tiếp phi ngôn từ của người Ý Trong một vài nội dung có sự so sánh với giao tiếp phi ngôn từ của các nước khác trên thế giới để

làm rõ đặc điểm nội bật trong giao tiếp phi ngôn từ của người Ý

Ngoài Julius Fast, còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu về giao tiếp phi

ngôn từ của các nhà nghiên cứu tại Mỹ và châu Âu, như cuốn “Nonverbal communication in Human interaction” của M.Knapp (năm 1972) Trong tác phẩm

này, Knapp đã cho thấy các yếu tố phi ngôn từ như một hệ thống, và là một phần quan trọng trong giao tiếp Tuy nhiên, ngay trong định nghĩa của mình, Knapp đã thể hiện quan điểm coi giao tiếp phi ngôn từ là những tín hiệu cơ thể được gửi đi một cách có chủ đích, mà quên rằng nó bao gồm cả những tín hiệu được gửi đi một cách hoàn toàn

vô thức hoặc vô tình Chính những yếu tố vô thức, vô tình ấy đôi khi là nguyên nhân gây ra những trục trặc, hiểu nhầm trong giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau

Trang 10

Một công trình đáng chú ý khác trong lĩnh vực này là cuốn “Beyond Language – cross-culture Communication” của D.R.Levine và M.B.Adelman (năm 1993)

Trong cuốn sách này, ngoài những đóng góp bổ sung và làm phong phú thêm các công trình nghiên cứu trước, hai tác giả đã cho thấy rằng giao tiếp phi ngôn từ không chỉ có ngôn ngữ cơ thể, mà còn bao gồm cả các yếu tố thuộc về môi trường diễn ra giao tiếp đó, cụ thể là khoảng cách giữa những người đối thoại

Ngoài ra, còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác về vấn đề này như của

J.Dwyer (cuốn “the business Communication handbook”), hay của Allan Pease (cuốn

“signals – how to use body language for power, success and love”) Đây đều là những

công trình được đánh giá cao và được độc giả khắp thế giới đón nhận, với những trình bày khá đầy đủ về các tín hiệu giao tiếp cơ thể, tầm quan trọng của các yếu tố thuộc về môi trường giao tiếp, và những vật phẩm được sử dụng trong giao tiếp Đây cũng chính là cơ sở để chúng tôi tiến hành phân chia giao tiếp phi ngôn từ thành ba thành tố chính như sẽ được trình bày trong luận văn

Tuy nhiên, các tác phẩm trên đều là các nghiên cứu nhìn giao tiếp phi ngôn từ dưới góc độ xã hội học và tâm lý học, chứ chưa có công trình nào tập trung vào góc

độ phản ánh văn hóa của các yếu tốc giao tiếp phi ngôn từ này Thêm nữa, các tác giả đều đã đưa ra những nhận định và những bằng chứng thuyết phục về cách con người

sử dụng các tín hiệu phi ngôn từ để giao tiếp, nhưng đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên là con người nói chung, tuy thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau nhưng đều có những phản ứng tâm lý khá giống nhau trong quá trình giao tiếp – điều có ảnh hưởng trực tiếp đến vệc sử dụng các tín hiệu giao tiếp phi ngôn từ Ví dụ, các tác giả đưa ra nhận định cho rằng khi một người sử dụng tư thế đứng khoanh tay trước ngực,

có nghĩa là anh ta đang có tâm lý đề phòng, có thể đoán được là anh ta đang không muốn tham gia tích cực vào cuộc nói chuyện hoặc đang nghi ngờ ý định của người nói Và nhận định này đúng với hầu hết mọi người ở mọi nền văn hóa, vì nó liên quan đến phản ứng tâm lý chung của con người Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi chưa tiếp cận được bất cứ công trình nào tập trung làm rõ đặc điểm giao tiếp phi ngôn từ đặc trưng của một cộng đồng nào đó, ví dụ như của người Việt, người Anh, người Mỹ, …mặc dù đó có thể là một kênh khá hiệu quả để thể hiện các đặc

Trang 11

trưng văn hóa của một dân tộc Chính vì vậy, có thể nói quá trình nghiên cứu của chúng tôi có gặp một số khó khăn về vấn đề tư liệu tham khảo

Riêng về giao tiếp phi ngôn từ của người Ý, chúng tôi đã tham khảo được một vài

công trình của các nhà nghiên cứu người Ý như cuốn “Mani che parlano” (những đôi tay biết nói) của Magno Caldognetto và Isabella Poggi năm 1997, hoặc cuốn “Le parole nella testa” (Những từ ngữ trong đầu) của Isabella Poggi & M Zomparelli,

năm 1987 Đây là hai công trình nghiên cứu tỉ mỉ những giá trị giao tiếp của ngôn

ngữ cơ thể của người Ý, chủ yếu là ngôn ngữ đôi tay mà người Ý gọi là gestualita`

Đó là một thứ ngôn ngữ giao tiếp rất đặc trưng của người Ý, khác biệt hẳn với các quốc gia khác, và nó được sử dụng phổ biến trong hầu hết các hoàn cảnh giao tiếp Các tác giả đã phân loại các ký hiệu đôi tay này căn cứ vào mục đích giao tiếp và ý nghĩa biểu đạt của chúng Tuy đây là những nghiên cứu rất sâu sắc, nhưng lại mới chỉ tập trung vào ngôn ngữ cử chỉ, các ký hiệu của đôi tay mà chưa có một cái nhìn thực

sự khái quát và hệ thống về các thành tố khác tham gia vào giao tiếp phi ngôn từ như khoảng cách giao tiếp, thời gian giao tiếp, trang phục, hương thơm… tức là còn để ngỏ một cái nhìn toàn diện về giao tiếp phi ngôn từ Hơn nữa, những nghiên cứu trên, mặc dù có đề cập đến vai trò của văn hóa trong giao tiếp phi ngôn từ, nhưng chưa công trình nào thực sự xem giao tiếp phi ngôn từ từ góc độ văn hóa học, coi đó như là một kênh thể hiện các đặc trưng văn hóa của một đất nước, một dân tộc

Năm 2015, tiến sỹ Pierangela Diadori cùng với các đồng nghiệp của mình tại trường giảng dạy tiếng Ý cho người nước ngoài tại Siena – Italia đã công bố một bài

viết với tựa đề “Comunicazione non verbale nell‟insegnamento dell‟Italiano a stranieri in prospettiva interculturale” (Giao tiếp phi ngôn từ trong giảng dạy tiếng Ý

cho người nước ngoài trong môi trường liên văn hóa), trong đó tác giả đã đưa ra những nhìn nhận khái quát về các yếu tố khác của giao tiếp phi ngôn từ, ngoài ngôn ngữ cử chỉ, như khoảng cách giao tiếp, thời gian giao tiếp của người Ý, … Tuy nhiên những đánh giá của tác giả mới chỉ là những nhận định khá khái quát, chưa đi sâu vào phân tích cụ thể, và các vấn đề đưa ra đều được nhìn nhận từ góc độ ngôn ngữ học và giáo dục học, nhằm hỗ trợ cho mục đích giảng dạy ngôn ngữ Ý cho người nước ngoài

Trang 12

Tại Việt Nam, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn từ của người Ý, có lẽ bởi cho tới những năm gần đây chưa có nhiều những hoạt động ngoại giao giữa hai nước và cũng chưa có nhiều những tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Trong nước hiện mới chỉ có những công trình nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn từ nói chung

Một trong số những công trình được đánh giá cao là cuốn “Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hóa” - 2008 của PGS.TS Nguyễn Quang, thuộc trường ĐH Ngoại Ngữ -

ĐH Quốc gia Hà Nội, hoặc công trình của tác giả Nguyễn Văn Lê là “Giáo tế nhân sự

- giao tiếp phi ngôn ngữ” Những nghiên cứu trên cũng đều nhìn giao tiếp phi ngôn từ

ở tầm phổ quát chung, chứ không đi vào làm rõ các đặc điểm văn hóa khác nhau giữa các quốc gia Tuy vậy, các công trình này đã cung cấp những kiến thức nền tảng quan trọng và khá sâu sắc cho những nghiên cứu cụ thể hơn về giao tiếp phi ngôn từ ở các quốc gia, các nền văn hóa cụ thể

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn hóa giao tiếp phi ngôn từ của người Ý Cụ thể

hơn, chủ thể nghiên cứu của chúng tôi là người Ý bản địa, hiện đang sinh sống tại Ý Không gian văn hóa trong nghiên cứu là toàn nước Ý, bao gồm cả lãnh thổ lục địa và các đảo Thời gian văn hóa là nước Ý trong thời điểm hiện tại, có khảo sát các điển tích, nguồn gốc sự kiện trong quá khứ

từ đặc trưng của một nhóm người, một xã hội hay một nền văn hóa mà không xét đến

ba loại giao tiếp phi ngôn từ còn lại Cụ thể, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là giao tiếp phi ngôn từ văn hóa của người Ý

Theo PGS.TS Nguyễn Quang, tác giả cuốn “giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hóa” mà chúng tôi đã đề cập ở trên, thì giao tiếp phi ngôn từ có thể được phân loại

dựa vào các thành tố tham gia vào hoạt động giao tiếp Như vậy, giao tiếp phi ngôn từ

Trang 13

được chia thành các yếu tố cận ngôn (paralanguage), gồm các đặc tính ngôn thanh như cường độ, tốc độ, cao độ…các yếu tố xen ngôn thanh, sự im lặng,…; và các yếu tố ngoại ngôn (extralanguage), gồm ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ môi trường và ngôn ngữ vật thể (Nguyễn Quang, 2007) Trong luận văn này, chúng tôi sẽ khảo sát những đặc điểm nổi bật trong toàn bộ các thành tố kể trên

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

Phương pháp nghiên cứu:

Xuất phát từ yêu cầu của đề tài và mục đích nghiên cứu, chúng tôi áp dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành văn hóa học và xã hội học

Văn hóa giao tiếp, với tư cách là một bộ phận của văn hóa nói chung, là đối tương nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học xã hội và cả khoa học tự nhiên Vì vậy, nghiên cứu văn hóa giao tiếp phi ngôn từ của người Ý, chúng tôi cần tới sự hỗ trợ của rất nhiều các kiến thức và nghiên cứu từ các chuyên ngành khác như tâm lý học, tâm lý học thần kinh, xã hội học, nhân học, ngôn ngữ học, …nên trong luận văn,

chúng tôi có sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành Thêm nữa, để khảo sát một

cách toàn diện các giá trị và đặc điểm của văn hóa giao tiếp phi ngôn từ của người Ý, chúng tôi sẽ tiếp cận đối tượng tại nhiều thời điểm khác nhau, không chỉ tập trung vào những hiện tượng giao tiếp phi ngôn từ đã xuất hiện và hình thành từ rất lâu trong lịch

sử, mà còn khảo sát cả những hiện tượng và những giá trị mới hình thành trong thời

gian gần đây Chính vì vậy, luận văn của chúng tôi có sử dụng phương pháp lịch sử -

xã hội

Ngoài ra, để có được những số liệu khảo sát đáng tin cậy và những tri thức thực

tế, chúng tôi có tiến hành những điều tra bằng bảng hỏi và bằng phỏng vấn trực tiếp nhiều đối tượng người Ý bản địa Đồng thời chúng tôi cũng sử dụng những kết quả khảo sát của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này để làm rõ hơn các vấn đề Để tiến

hành những thao tác đó, chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra – thống kê xã hội học

Để phân tích rõ hơn hệ thống các cử chỉ biểu tượng mà người Ý sử dụng trong

giao tiếp, chúng tôi có sử dụng Phương pháp phân tích biểu tượng

Trang 14

Nhằm làm nổi bật những gì được coi là đặc điểm của văn hóa giao tiếp của

người Ý, chúng tôi có tiến hành thao tác so sánh liên văn hóa khi đặt các thành tố

thuộc giao tiếp phi ngôn từ của người Ý trong so sánh với các thành tố giao tiếp phi ngôn từ của các nền văn hóa khác thuộc các châu lục khác nhau, qua đó nhấn mạnh vào những khác biệt và tìm cách giải thích lý do của những khác biệt đó

Nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu vận dụng hai lý thuyết chính: Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa, và lý thuyết về về các chiều kích văn hóa của Hofstede và Trompenaars (Culture dimensions)

Nguồn tư liệu:

Tư liệu nghiên cứu chủ yếu tham khảo từ các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về đề tài giao tiếp phi ngôn từ; các tài liệu bằng tiếng Anh về giao tiếp phi ngôn từ và ngôn ngữ cơ thể; các tài liệu bằng tiếng Ý (bao gồm sách, bài báo, tiểu luận) về ngôn ngữ cơ thể đặc trưng của người Ý (gestualita`)

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các kết quả khảo sát và các biên bản phỏng vấn do chúng tôi thực hiện trên đối tượng là người Ý bản địa trong khoảng thời gian

từ 2016 đến 2017, kết hợp với các hình ảnh và tư liệu từ các ghi chép tại nhiều vùng ở

Ý trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến 2007

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN

Ý nghĩa khoa học: Trong điều kiện hiện nay khi giới khoa học Việt Nam đang

mở rộng những nghiên cứu của mình nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn về nhiều nền văn hóa trên thế giới, đây sẽ là một trong số rất ít những nghiên cứu mang tính khoa học tại Việt Nam về văn hóa Ý – một trong những nền văn hóa nổi bật nhất của Châu Âu Có thể công trình này sẽ chưa thực sự toàn diện, đầy đủ và sâu sắc, tuy nhiên chúng tôi hy vọng sẽ có những đóng góp nhất định, trở thành nguồn tư liệu tra cứu, tham khảo cho những ai quan tâm về văn hóa giáo tiếp của người Ý, bổ sung thêm một phần những tri thức khoa học cần thiết cho Việt Nam về văn hóa Ý

Ý nghĩa thực tiễn: Bài nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin đáng tin cậy và

minh chứng cho những ai quan tâm và muốn tìm hiểu về văn hóa Ý, đặc biệt là thói

Trang 15

quen giao tiếp của người Ý Những thông tin trên là cần thiết và hữu ích, giúp cho hoạt động giao tiếp giữa người Việt với người Ý được diễn ra suôn sẻ và dễ dàng hơn, trong cả đời sống hằng ngày lẫn trong hoạt động giao thương, kinh doanh…với các đối tác Ý Hiểu biết về thói quen và văn hóa Ý trong giao tiếp phi ngôn từ sẽ giúp đem lại sự chủ động trong các hoạt động giao tiếp, tránh những hiểu lầm đáng tiếc do sự khác biệt văn hóa gây ra

7 BỐ CỤC CHÍNH CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bố cục của luận văn được chia thành 4 chương

Chương 1: Các vấn đề lý thuyết

Trong chương 1, chúng tôi chủ yếu làm rõ các vấn đề lý luận, trình bày khái niệm của các thuật ngữ sẽ sử dụng trong bài viết, các lý thuyết áp dụng để làm rõ các luận điểm về giao tiếp, văn hóa giao tiếp, giao tiếp phi ngôn từ và văn hóa giao tiếp phi ngôn từ

Chương 2: Các yếu tố cận ngôn và ngôn ngữ cơ thể trong giao tiếp của người Ý

Trong chương 2 và chương 3, chúng tôi trình bày chi tiết hệ thống các yếu tố giao tiếp phi ngôn từ của người Ý Chương II sẽ tập trung vào các yếu tố cận ngôn và ngôn ngữ cơ thể, Ở mỗi mục, chúng tôi sẽ phân chia thành những thành tố chi tiết hơn

và trình bày cụ thể ý nghĩa giao tiếp của từng thành tố đồng thời cũng thực hiện các thao tác so sánh với các thành tố tương đương ở các nền văn hóa khác

Chương 2 cũng sẽ tập trung nhiều hơn đến hệ thống ngôn ngữ cơ thể của người

Ý, đặc biệt là ngôn ngữ của đôi tay, vì đây được coi là một trong những đặc điểm nổi bật nhất, có thể được sử dụng để phân biệt người Ý với những người ở hầu hết các nước châu Âu khác

Chương 3: Ngôn ngữ môi trường và ngôn ngữ vật thể trong giao tiếp của người Ý

Chương 3 sẽ tiếp tục các nội dung của chương 2, làm rõ ý nghĩa và cách sử dụng của các thành tố trong giao tiếp phi ngôn từ của người ý, nhưng tập trung vào ngôn ngữ môi trường và ngôn ngữ vật thể

Trang 16

Chương 4: Các biểu hiện của tính cách Ý trong văn hóa giao tiếp phi ngôn từ của

họ

Nội dung chương 4 sẽ tập trung vào khía cạnh văn hóa của các yếu tố giao tiếp phi ngôn từ Dựa trên những nội dung đã trình bày ở phần trên, chương 4 sẽ khái quát các đặc điểm văn hóa và tính cách của người Ý thể hiện qua thói quen sử dụng các yếu tố giao tiếp phi ngôn từ đó

Trang 17

vì chúng ta đã uống thử hoặc chạm vào bằng tay (cảm nhận bằng vị giác hoặc xúc giác); hoặc một ai đó đã uống và nói cho chúng ta biết (giao tiếp); hoặc bởi chúng ta thấy xung quanh ly có các hạt nước đọng lại (suy luận nhờ kiến thức vật lý đã biết rằng khi gặp lạnh thì hơi nước trong không khí sẽ ngưng tụ và tạo thành các hạt nước nhỏ xung quanh) Nhờ có quá trình giao tiếp và suy luận mà lượng kiến thức chúng ta thu thập được sẽ lớn hơn rất nhiều so với những gì chúng ta biết được thông qua những gì ta thực sự trải nghiệm bằng các cơ quan cảm giác của chính chúng ta

Đối tượng chính trong nghiên cứu này của chúng tôi chính là giao tiếp – một phương tiện vô cùng quan trọng giúp mỗi cá nhân nhận biết thế giới, thiết lập các mối quan hệ và trở thành một phần của thế giới đó

Theo Castelfranchi và Parisi (1980), giao tiếp là quá trình người phát tín hiệu truyền đạt đến người nhận tín hiệu một tri thức nào đó nhằm thỏa mãn một mục đích xác định nào đó Phương tiện mà chúng ta sử dụng để truyền đạt được gọi là “tín hiệu”; ngôn từ, cử chỉ, ánh mắt, chữ viết… là những ví dụ điển hình về “tín hiệu” trong giao tiếp Toàn bộ những kiến thức được truyền từ trí óc của người này sang người khác được gọi là “ý nghĩa” hoặc “nội dung” của giao tiếp

Trang 18

Có rất nhiều loại tín hiệu, có những tín hiệu giao tiếp và có những tín hiệu không nhằm mục đích giao tiếp Nếu trong phòng làm việc, một đồng nghiệp đang làm việc chăm chú bỗng nhiên nhìn đồng hồ rồi vội vã thu dọn đồ đạc và đi nhanh ra cửa, chúng ta có thể suy luận rằng anh ta đã bị muộn giờ làm một việc gì đó Chúng ta hiểu điều đó là nhờ quan sát những tín hiệu anh ta phát ra, nhưng anh ta hoàn toàn không có mục đích giao tiếp với chúng ta rằng anh ta đang bị muộn giờ Chúng ta chỉ

có thể coi đó là tín hiệu giao tiếp khi anh ta nhìn chúng ta đồng thời chỉ tay vào đồng

hồ, hoặc vẫy tay chào,…để báo rằng anh ta bị muộn và phải rời đi ngay Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề cập đến giao tiếp với nghĩa đầy đủ của nó, là khi một tín hiệu được gửi đi với mục đích truyền đạt một thông điệp, một kiến thức nào đó tới một hay nhiều người khác; đó là khi thông điệp có mục đích giao tiếp

Bất cứ khi nào một cá nhân muốn truyền đạt một kiến thức nào đó đến một cá nhân khác bằng cách tạo ra một tín hiệu mang nghĩa, khi đó người ấy đang thực hiện hành động giao tiếp Người muốn thực hiện mục đích giao tiếp được gọi là ĐỐI TƯỢNG PHÁT, người còn lại là ĐỐI TƯỢNG ĐÍCH Những tri thức mà người phát muốn truyền đạt được gọi là Ý NGHĨA/NỘI DUNG, và nội dung này có thể liên quan đến mọi thứ: sự vật, sự việc hiện tượng, thời gian, địa điểm, cảm xúc, mục đích, … Phương tiện vật lý được sử dụng để truyền tải tri thức trong quá trình này được gọi là TÍN HIỆU Tất cả các phương tiện có thể tiếp nhận được như lời nói, cử chỉ, biểu hiện khuôn mặt, cử động và tư thế cơ thể, mùi hương, hoa, hình vẽ, điệu nhảy, trang phục, những cuộc đình công, thậm chí sự im lặng,…đều có thể được sử dụng như những tín hiệu trong giao tiếp ( I Poggi và E M Caldognetto, 1997)

Để đạt được mục đích giao tiếp, thì các tín hiệu mang ý nghĩa muốn truyền đạt phải được gửi thành công đến đối tượng đích, người này phải tiếp nhận và hiểu đúng ý nghĩa của tín hiệu đó Để làm được điều này, người phát tín hiệu phải sử dụng các phương tiện phù hợp với điều kiện và khả năng tiếp nhận của đối tượng đích Nếu đối tượng đích là một người khiếm thính, thì phương tiện ngôn từ sẽ là không phù hợp,

mà khi đó phải dùng đến các hình vẽ hoặc cử chỉ; nếu là nói chuyện qua điện thoại thì chỉ cần kênh ngôn từ là đủ, các cử chỉ mà người phát tín hiệu thực hiện sẽ không thể được đối tượng đích tiếp nhận Và sau cùng, để các tín hiệu được hiểu đúng, thì hai người phải cùng sử dụng một HỆ THỐNG GIAO TIẾP – là tập hợp những quy tắc tạo

Trang 19

nên một mối liên hệ nhất định giữa tín hiệu và ý nghĩa; có nghĩa là những tín hiệu phát

ra phải được cả hai người hiểu cùng một nghĩa giống nhau Một người Việt không thể hiểu khi người Ý nói vì hai người sử dụng hai hệ thống giao tiếp khác nhau, và mục đích giao tiếp không được thực hiện

1.1.2 Một số hình thức giao tiếp cơ bản

Giao tiếp là một hiện tượng không chỉ tồn tại ở xã hội loài người mà còn rất phổ biến giữa các loài vật Các loài vật không có ngôn ngữ, nhưng chúng cũng có những hình thức giao tiếp riêng để truyền đạt cho đồng loại của chúng những thông điệp cụ thể Xét về mặt đặc điểm sinh học, Thorpe (1971) chia giao tiếp thành các hình thức sau:

Hình thức sinh hóa – khứu giác: là hình thức giao tiếp phổ biến ở các động vật

có tuyến mùi, có khả năng phát ra các tín hiệu hóa học cụ thể Các tín hiệu này sẽ được giải mã nhờ các cơ quan cảm thụ mùi ở các cá thể cùng loài hoặc khác loài Ví

dụ mùi xạ hương ở hươu đực cuốn hút các cá thể hươu cái bởi nó thông báo thời điểm hươu đực sẵn sàng cho hoạt động giao phối; một số loài động vật như chó, sư tử,… sử dụng mùi nước tiểu của mình để đánh dấu lãnh thổ

Hình thức bắt chước – xúc giác: là hình thức giao tiếp giữa các loài động vật sử dụng các cử động của cơ thể theo một nhịp điệu nhất định để truyền thông tin, hoặc thông qua tiếp xúc Ví dụ như loài kiến truyền tin bằng cách chạm râu (antene) vào nhau; loài ong thông báo vị trí có mật hoa bằng một điệu nhảy vòng tròn, hoặc bằng các nhịp đập bụng vào thành tổ trong điều kiện không có ánh sáng; hoặc điệu nhảy của các loài chim để thu hút bạn tình

Hình thức âm thanh-tín hiệu âm thanh: đây là hình thức giao tiếp phổ biến ở người và các loài động vật sử dụng tiếng kêu, tiếng hót Ví dụ loài khỉ sẽ cất tiếng kêu

để cảnh báo nguy hiểm; một vài loài chim sử dụng tiếng hót để gọi bạn; và giao tiếp ngôn từ ở con người

Con người khi giao tiếp không chỉ sử dụng một hình thức giao tiếp đơn lẻ mà

có thể sử dụng đồng thời nhiều hình thức khác nhau, với nhiều cách khác nhau Ngoài giao tiếp thực hiện qua ngôn từ, con người còn sử dụng các hình thức giao tiếp phi

Trang 20

ngôn từ Ricci Bitti (1983) cho rằng con người giao tiếp trước tiên thông qua cơ thể: toàn bộ cử chỉ, nét mặt, tư thế, khoảng cách giao tiếp…đều có thể truyền đạt những nội dung cụ thể Đặc điểm của những tín hiệu này là thời gian tồn tại rất ngắn Ngoài

ra, còn có các dạng tín hiệu khác, ví dụ như chữ viết trong một văn bản, hoặc bảng chỉ đường Các tín hiệu này tồn tại lâu hơn và có thể giao tiếp với nhiều đối tượng khác nhau tại nhiều thời điểm khác nhau

Những phương thức giao tiếp mà con người sử dụng có thể độc lập với nhau (ví

dụ cái vẫy tay có thể thay cho lời nói “tạm biệt”, hoặc có thể nói “tạm biệt” mà không cần vẫy tay), nhưng trong phần lớn trường hợp chúng được sử dụng kết hợp với nhau,

hỗ trợ nhau làm rõ nội dung và mục đích giao tiếp (ví dụ nét mặt hoặc âm điệu giúp thể hiện rõ hơn nội dung được truyền tải bằng tín hiệu ngôn từ) Sự kết hợp giữa giao tiếp ngôn từ và phi ngôn từ khiến cho hiệu quả giao tiếp được nâng cao, mục đích giao tiếp được thực hiện dễ dàng và chính xác hơn

1.1.3 Văn hóa giao tiếp

Tại Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về văn hóa giao tiếp Chúng tôi đã tiếp cận được một vài khái niệm về văn hóa giao tiếp như sau:

Theo tác giả Trần Tuấn Lộ (1995), “Văn hóa giao tiếp của một xã hội, một dân tộc là toàn bộ những nguyên tắc, những chuẩn mực và những qui định chỉ đạo hoạt động giao tiếp giữa người với người trong xã hội đó, thuộc dân tộc đó, để sự giao tiếp

đó được đánh giá là có giá trị đạo đức, có giá trị thẩm mỹ, hợp lý, phù hợp với quan niệm của xã hội đó và dân tộc đó về văn hóa và văn minh, về truyền thống và bản sắc của dân tộc mình và phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế, văn hóa của dân tộc đó Văn hóa giao tiếp của một xã hội, một dân tộc được thể hiện thành tập quán, phong tục, truyền thống của xã hội đó”

Trong định nghĩa này, tác giả tập trung chủ yếu vào khía cạnh tinh thần, phi vật chất của giao tiếp mà chưa quan tâm tới các phương tiện mang tính vật chất được sử dụng hằng ngày Trong khi trong thực tế, người ta có thể sử dụng rất nhiều các yếu tố thuần vật chất để phục vụ cho giao tiếp Câu nói “trông mặt mà bắt hình dong”, hay

“quen sợ dạ, lạ sợ áo quần” là những ví dụ cho thấy những biểu hiện bên ngoài của

Trang 21

Theo tác giả Hữu Đạt (2000), “Văn hóa giao tiếp là một khái niệm dùng để chỉ các hình thức giao tiếp mang tính đặc thù cho hoàn cảnh giao tiếp hoặc trình độ giao tiếp ở những cộng đồng người thuộc các nhóm nghề nghiệp hoặc xã hội khác nhau”

Hoặc tác giả Phạm Vũ Dũng (1996) có định nghĩa văn hóa giao tiếp như sau:

“Văn hóa giao tiếp chính là những định chuẩn giao tiếp được tinh chuyển, được tạo thành nền nếp, được hoàn thiện và nâng cao cả về cách thức, nếp ứng xử ngôn ngữ lời nói và cử chỉ hành vi, cả về phương thức trao đổi và tiếp xúc với nhau trong xã hội”

Trong hai khái niệm này, tác giả đã khái quát được những giá trị văn hóa trong hoạt động giao tiếp của con người, và đã nhắc đến không chỉ giao tiếp ngôn từ mà cả

giao tiếp phi ngôn từ (cử chỉ hành vi, phương thức trao đổi và tiếp xúc với nhau) Nếu hiểu những phương thức trao đổi và tiếp xúc với nhau trong xã hội mà tác giả nhắc

đến trong định nghĩa là bao gồm cả việc trao đổi cảm xúc, quà tặng, ấn tượng, lời chào…, bao gồm cả khoảng cách và thời gian tiếp xúc trong quá trình giao tiếp, thì đây có thể được coi là một khái niệm khá đầy đủ về văn hóa giao tiếp Tuy được thể hiện dưới dạng liệt kê các thành tố (thường thì dạng thức này không thể kể hết các thành tố và làm nổi bật tính hệ thống của văn hóa), nhưng với nghiên cứu này, chúng tôi thấy đây là một định nghĩa phù hợp với mục đích nghiên cứu của chúng tôi Theo

đó, việc tinh chuyển các định chuẩn giao tiếp thể hiện giá trị truyền thống, lịch sử của văn hóa giao tiếp, việc hoàn thiện và nâng cao thể hiện hệ giá trị và tính nhân văn của

văn hóa giao tiếp Chúng tôi sẽ dựa trên khái niệm này để triển khai các nghiên cứu về văn hóa giao tiếp phi ngôn từ

1.2 GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ VÀ VĂN HÓA GIAO TIẾP PHI NGÔN

TỪ

1.2.1 Giao tiếp phi ngôn từ

Cho tới thời điểm hiện tại, thông qua rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học

về giao tiếp phi ngôn từ đã được công bố của các nhà ngôn ngữ học, xã hội học và tâm

lý học… trên thế giới , chúng ta có thể khẳng định rằng giao tiếp phi ngôn từ có một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động giao tiếp Hiện nay, bất cứ một nghiên cứu hiện đại nào về giao tiếp cũng đều không thể không nhắc đến giao tiếp phi ngôn từ,

Trang 22

mặc dù mỗi nhà nghiên cứu, đứng trên quan điểm của mình, sẽ đưa ra những nhận định không hoàn toàn giống nhau; hoặc sẽ quan sát, phân tích những bình diện khác nhau của hiện tượng này

Giao tiếp phi ngôn là một hình thức giao tiếp đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch

sử loài người Nhiều minh chứng và phân tích nhân học và xã hội học đã cho thấy rằng rất có thể đây chính là một hình thức giao tiếp sơ khai, xuất hiện từ thời tiền sử khi con người chưa phát triển ngôn ngữ để giao tiếp Không quá khó khăn để chứng minh rằng giao tiếp phi ngôn từ đã luôn hiện diện trong các hình thức giao tiếp xã hội

từ xưa đến nay Mặc dù cho tới tận thế kỷ thứ XIX thế giới mới ghi nhận những công trình nghiên cứu chuyên sâu về hiện tượng này, nhưng không có nghĩa là trong lịch

sử con người không nhận thức được sự tồn tại và tầm quan trọng của nó Ví dụ như

nhận định của Francis Bacon trong cuốn The Advancement of learning năm 1605:

“những đường nét đặc trưng của cơ thể có thể tiết lộ vị trí và khuynh hướng chung của trí não; nhưng những cử động của cơ mặt và các bộ phận cơ thể sẽ tiết lộ nhiều hơn về tâm trạng hiện tại cũng như trạng thái của tâm trí và ý muốn”

Năm 1871, Charles Darwin trong cuốn The Expression of the Emotions in Man and Animals cũng đã đưa ra những quan sát của mình về những biểu hiện cảm xúc của

con người, ông cho rằng những biểu hiện đó có mối liên hệ trực tiếp với mặt sinh học của cơ thể Năm 1882, Francis Warner viết một bài tham luận đăng trên tạp chí

Popular Science Monthly với tựa đề Muscular Expression of Nervous Conditions ,

trình bày nghiên cứu của ông về những đáp ứng của cơ thể và các cơ mặt tương ứng với những thay đổi trong trạng thái thần kinh của não bộ Năm 1885, ông tiếp tục cho

xuất bản cuốn Physical Expression: its modes and principles”, được coi là một trong

những phân tích đầu tiên về ngôn ngữ cơ thể

Những nghiên cứu đầu tiên kể trên, mặc dù chưa thực sự nhìn nhận các biểu hiện cơ thể như một nhân tố có đóng góp to lớn trong giao tiếp, nhưng đã bắt đầu khẳng định sự hiện diện và tầm quan trọng nhất định của các biểu hiện cơ thể trong đời sống, đồng thời chứng minh một cách khoa học mối liên hệ giữa những biểu hiện

đó và trạng thái cảm xúc, tinh thần và thể chất của mỗi người Những minh chứng này

Trang 23

là cơ sở để khẳng định tính đáng tin của các tín hiệu cơ thể, tạo tiền đề cho những nghiên cứu chuyên sâu về giao tiếp sau này

Một nghiên cứu đáng chú ý khác là công trình của Levett J.Davidson mang tên

Some Current Folk gesture and Sign languages (1950) Đây là một tác phẩm dân tộc

ký về giao tiếp phi ngôn từ quan sát ở từng nhóm xã hội khác nhau Davidson miêu tả các hình thức giao tiếp ngoài lời nói và hiện tượng sử dụng cử chỉ trong các mối quan

hệ hằng ngày, khi tham gia giao thông, trên sàn giao dịch thương mại Chicago, trong thể thao, quân đội và trong các thực hành tôn giáo (Davidson 1950:4) Bản dân tộc ký này đã thể hiện tầm quan trọng của các cử chỉ được sử dụng cùng với ngôn ngữ giao tiếp, tác giả đồng thời cũng cho rằng việc hiểu rõ về biểu hiện ngoài lời nói trong giao tiếp không chỉ giúp hiểu người khác dễ dàng hơn, mà còn có tác dụng tích cực trong gắn kết xã hội

Năm 1952, nhà nhân học người Mỹ Ray Birdwhistell lần đầu tiên giới thiệu

thuật ngữ Kinesics trong một tài liệu hội thảo với tiêu đề Introduction to Kinesics: An annotation system for the analysis of body motion and gesture (Giới thiệu về Kinesics: một hệ thống ghi chú để phân tích các chuyển động cơ thể và cử chỉ) Kinesics có

nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “cử động” Thuật ngữ Kinesics được dùng với nghĩa bao gồm tất cả những kênh giao tiếp không lời liên quan đến cơ thể như cử chỉ, dáng điệu, biểu hiện nét mặt, ánh mắt…được sử dụng như một phương tiện truyền đạt thông tin và cảm xúc Thuật ngữ này sau đó được sử dụng để chỉ ngành khoa học nghiên cứu tất cả các biểu hiện giao tiếp ngoài lời nói

Thuật ngữ giao tiếp phi ngôn từ (non-verbal communication) - với tư cách là một thuật ngữ khoa học được lần đầu giới thiệu vào năm 1956 bởi nhà tâm thần học

Jurgen Ruesch và nhà phê bình – nhà sản xuất điện ảnh Weldon Kees trong cuốn

“Giao tiếp phi ngôn từ: Những ghi chú về nhận thức thị giác về các quan hệ con người” khi khi họ tiến hành một nghiên cứu về sự tinh vi của hoạt động giao tiếp,

trong đó có sử dụng một loạt các hình ảnh và đoạn phim ngắn thể hiện mối quan hệ giữa lời nói và các yếu tố giao tiếp không lời như dáng điệu, cử chỉ, biểu hiện nét mặt,

Năm 1972, Knapp đưa ra định nghĩa về giao tiếp phi ngôn từ như sau:

Trang 24

Giao tiếp phi ngôn từ hàm chỉ các hành động hoặc các biểu hiện ngoài ngôn từ Các hành động hoặc biểu hiện vốn có ý nghĩa được chia sẻ về mặt xã hội đó được gửi đi một cách có chủ đích hoặc được diễn giải như là có chủ đích và được gửi đi hoặc tiếp nhận một cách có ý thức […]Giao tiếp phi ngôn từ là một thuật ngữ để miêu tả tất cả các sự kiện giao tiếp vượt lên trên ngôn từ khẩu ngữ và bút ngữ

Nhận định trên của Knapp thực chất mới chỉ ghi nhận các biểu hiện, hành động

có chủ đích trong quá trình giao tiếp, trong khi những nghiên cứu sau này đã khẳng định rằng, nhiều khi các tín hiệu phi ngôn từ được gửi đi một cách hoàn toàn vô thức, không nằm dưới sự kiểm soát của người phát ra tín hiệu đó Ví dụ, chúng ta hay có thói quen nhận định một người là không đáng tin khi ta quan sát thấy người đó liên tục liếc ngang liếc dọc Tất nhiên anh ta rõ ràng không chủ động gửi đi tín hiệu là mình thuộc kiểu người không đáng tin, nhưng chính những cử động vô thức của mắt và nét mặt đã vô tình thể hiện thông điệp trái ngược với mong muốn của anh ta Chính những tín hiệu vô thức này khiến cho việc kiểm soát và hiểu các tín hiệu giao tiếp phi ngôn

từ trở nên phức tạp và dễ gây hiểu lầm hơn

Năm 2000, Dwyer trong cuốn Business communication handbook đưa ra một khái

niệm khác về giao tiếp phi ngôn từ, theo đó “Giao tiếp phi ngôn từ bao gồm toàn bộ các bộ phận của thông điệp không được mã hóa bằng từ ngữ, ví dụ: giọng nói, hiện diện, cử chỉ và chuyển động”

Với nhận định này, Dwyer đã đưa ra cái nhìn tổng quát hơn về giao tiếp phi ngôn từ Tuy từ ví dụ trong khái niệm, ta thấy tác giả chưa đề cập đến các yếu tố như khoảng cách giao tiếp, trang phục, thời gian, … (các yếu tố thuộc môi trường và vật thể), nhưng theo chúng tôi, đây là một khái niệm khá đơn giản và khái quát được các yếu tố của giao tiếp phi ngôn từ

Trong các nghiên cứu tai Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Viện (trích theo

Nguyễn Văn Lê, 2000) cho rằng: “Giao tiếp phi ngôn từ là những biểu diễn thông qua

cơ thể, như cử động, tư thế, hoặc một số đồ vật gắn liền với thân thể như áo, mũ, hoặc thông qua việc tạo ra những khoảng cách gần xa giữa người này và người khác”

Trang 25

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm của tiến sỹ Nguyễn Quang:

“Giao tiếp phi ngôn từ là toàn bộ các bộ phận kiến tạo nên giao tiếp không thuộc mã ngôn từ (verbal code), có nghĩa là không được mã hóa bằng từ ngữ, nhưng có thể thuộc về cả hai kênh (channels) ngôn thanh (vocal) và phi ngôn thanh (non-vocal) Nó bao gồm các yếu tố cận ngôn (phi ngôn từ - ngôn thanh) như tốc độ, cường độ ngữ lưu và các yếu tố ngoại ngôn (phi ngôn từ - phi ngôn thanh) thuộc về ngôn ngữ cơ thể như cử chỉ, dáng điệu, diện hiện…, thuộc ngôn ngữ vật chất như áo quần, trang sức…, và thuộc ngôn ngữ môi trường như khoảng cách đối thoại, địa điểm giao tiếp.”

1.2.2 Văn hóa giao tiếp phi ngôn từ

Về văn hóa giao tiếp phi ngôn từ, hiện chúng tôi chưa tiếp cận được các khái niệm chính thức của các học giả uy tín, vì việc nghiên cứu về văn hóa giao tiếp phi ngôn từ vẫn còn khá hạn chế cả ở Việt Nam và trên thế giới Hầu hết các tác giả hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các khái niệm về giao tiếp, về văn hóa giao tiếp, và giao tiếp phi ngôn từ Chính vì vậy, dựa vào các khái niệm về văn hóa giao tiếp đã nêu trên, chúng tôi xin phép được đưa ra một khái niệm về văn hóa giao tiếp phi ngôn từ, một dạng khái niệm tạm thời để phục vụ cho nghiên cứu này của chúng tôi Theo đó:

Văn hóa giao tiếp phi ngôn từ là khái niệm dùng để chỉ các hình thức giao tiếp phi ngôn từ mang tính đặc thù cho hoàn cảnh giao tiếp hoặc trình độ giao tiếp ở những cộng đồng người thuộc các xã hội khác nhau Nó đồng thời là biểu hiện của những giá trị truyền thống của cộng đồng người đó hay của xã hội đó

1.3 CÁC THUỘC TÍNH CHUNG CỦA GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ

Như đã biết, giao tiếp phi ngôn từ hiện diện trong mọi hoàn cảnh giao tiếp trực tiếp giữa người với người, và tồn tại trong mọi nền văn hóa Bàn về giao tiếp phi ngôn

từ, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra những nhận định khác nhau về mặt nguyên tắc, chức năng hay thuộc tính của nó Tuy nhiên, phần lớn các tác giả đều khá thống nhất ở

các đặc điểm sau:

a Người ta không thể không giao tiếp phi ngôn từ

Chúng ta hẳn không xa lạ gì với một nhận định nổi tiếng trong nghiên cứu về

giao tiếp: “người ta không thể không giao tiếp” Tương tự như vậy, Người ta không

Trang 26

thể không giao tiếp phi ngôn từ Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là ngay cả khi chúng

ta không hề nói gì, thì chính thái độ im lặng của chúng ta đã là một tín hiệu giao tiếp Khi chúng ta tưởng rằng chúng ta đang “không hề làm gì”, thì cơ thể của chúng ta vẫn liên tục gửi đi hàng loạt những tín hiệu qua thái độ thờ ơ của chúng ta, qua cái nhìn lơ đãng, qua tư thế đứng, ngồi… của chúng ta Xin phép được trích dẫn nhận xét nổi tiếng của nhà phân tâm học Sigmund Freud:

“…không một hữu tử nào có thể giữ được bí mật cho riêng mình Nếu cặp môi của anh ta im lặng, anh ta sẽ chuyện trò bằng các đầu ngón tay của mình; sự phản bội toát ra khỏi con người anh ta từ mọi lỗ chân lông.”

(“sự phản bội” trong lời dẫn hàm ý chỉ việc không thể giữ được bí mật)

b Các thông điệp phi ngôn từ biểu hiện cảm xúc và trạng thái tinh thần của con người hiệu quả hơn là thông điệp ngôn từ

Như đã trình bày ở phần trên, nếu thông điệp ngôn từ có chức năng chính là truyền đạt nội dung thông tin, hoặc những kiến thức, hiểu biết, thì thông điệp phi ngôn

từ sẽ cho thấy cách mà người nói thực sự cảm nhận, hoặc họ thực sự nghĩ gì về nội

dung thông tin đó Ví dụ, cùng một thông điệp ngôn từ: “anh ấy đi rồi”, nếu người nói

sử dụng giọng trầm, nhịp độ chậm vừa, cùng với biểu hiện khuôn mặt buồn bã, sẽ khiến người “nghe” hiểu là người nói thực lòng không muốn anh ta đi Ngược lại, nếu câu nói đó được kết hợp với giọng điệu vui vẻ, nét mặt tươi tỉnh, mắt mở to…, người nghe sẽ hiểu là người nói mong muốn anh ta rời đi càng sớm càng tốt, hoặc việc anh

ta ra đi là một việc tốt đáng mừng Những xúc cảm này sẽ không thể được thể hiện chỉ riêng với thông điệp ngôn từ (trường hợp “anh ấy đi rồi” được viết trên một mẩu giấy)

c Các thông điệp phi ngôn từ có thể được gửi đi có ý thức hoặc hoàn toàn vô thức; và những tín hiệu vô thức (hay vô tình) lại có độ tin cậy rất cao

Chúng ta vẫn hay lầm tưởng là chúng ta có khả năng kiểm soát được tất cả những thông điệp mà chúng ta muốn truyền đạt, cả về mặt ngôn từ và phi ngôn từ, nhưng trên thực tế, trong rất nhiều trường hợp cơ thể của chúng ta còn “gửi thêm”

Trang 27

cho phép; và chính những tín hiệu vô tình này lại tiết lộ nhiều sự thật hơn là yếu tố ngôn từ và những hành vi cố ý thể hiện Đó cũng chính là lý do tại sao chúng ta lại dễ dàng nhận ra khi những đứa trẻ nói dối, bởi thông tin được gửi qua ngôn từ và thông tin mà cơ thể chúng biểu đạt một cách vô thức không khớp nhau Với những người trưởng thành, điều này khó nhận ra hơn bởi người trưởng thành có sự kiểm soát hành

vi tốt hơn trẻ nhỏ, nhưng những người nói dối vẫn luôn để lộ những sơ hở mà họ không hay biết Có một điều thú vị là phụ nữ đặc biệt “nhạy cảm” khi đàn ông nói dối

họ, bởi họ giỏi đọc các tín hiệu phi ngôn từ hơn đàn ông

d Giao tiếp phi ngôn từ là giao tiếp hai chiều

Nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn từ, rất nhiều người đã bắt đầu luyện tập khả năng “đọc” các tín hiệu không lời của người khác nhằm khiến cho hoạt động giao tiếp diễn ra suôn sẻ, thuận lợi hơn Quá trình “đọc” tín hiệu này thực chất là một quá trình phức tạp nhằm giải mã các tín hiệu mà chúng ta liên tục nhận được trong quá trình giao tiếp chủ yếu thông qua thị giác, và một phần nhỏ hơn

từ các giác quan khác (thính giác, xúc giác, khứu giác) với mục đích hiểu rõ hơn những gì người khác muốn truyền đạt, hay nói một cách khoe khoang là “đọc suy nghĩ” của người khác Tuy nhiên, rất nhiều người quên rằng hoạt động giao tiếp phi ngôn từ, cũng giống như giao tiếp ngôn từ, là hoạt động có tính chất hai chiều, nghĩa

là trong khi ta tiếp nhận và cố gắng giải mã những tín hiệu của người khác thì cơ thể

ta cũng đồng thời gửi đi những tín hiệu giao tiếp tương tự, và phần nhiều trong những tín hiệu đó nằm ngoài tầm kiểm soát của ý thức chúng ta Vì vậy để giao tiếp phi ngôn

từ hiệu quả, cần phải trau dồi cả hai kỹ năng này: kỹ năng đọc ngôn ngữ cơ thể của người khác, và kỹ năng kiểm soát ngôn ngữ cơ thể của chính mình

1.4 PHÂN LOẠI GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ

1.4.1 Phân loại theo nguồn gốc

Dwyer, trong cuốn Business communicatioin handbook (dẫn theo Nguyễn

Quang, 1997), đã đề xuất cách phân loại giao tiếp phi ngôn từ theo nguồn gốc như sau:

Trang 28

Giao tiếp phi ngôn từ cá nhân: Gồm các hành vi phi ngôn từ đặc biệt của

riêng một cá nhân nào đó, chỉ họ mới có, và thông thường, chỉ họ (và một vài người thân thiết) mới hiểu được chính xác thông điệp mà họ gửi đi trong giao tiếp Do đây là những hành vi đặc trưng nên nó không mang tính phổ quát, chính vì vậy ý nghĩa của các hành vi cá nhân này thường là khó nắm bắt, hoặc bị hiểu sai Ví dụ một người cứ buồn ngủ là cắn móng tay, trong khi hành vi này ở nhiều người khác có thể được hiểu

là dấu hiệu của tâm trạng bồn chồn, lo lắng, bất an…

Giao tiếp phi ngôn từ văn hóa: Nếu giao tiếp phi ngôn từ cá nhân là đặc trưng

riêng của mỗi cá thể và không phổ quát, thì giao tiếp phi ngôn từ văn hóa lại hoàn toàn ngược lại Nó bao gồm những hành vi phi ngôn từ đặc trưng của một nhóm người, một cộng đồng người có chung một nền văn hóa Các hành vi này mang tính quy ước,

và được chọn lọc dựa trên hệ giá trị riêng của mỗi nền văn hóa để xác định hành vi nào được cho là phù hợp, và hành vi nào là không phù hợp Mỗi nền văn hóa đều có

hệ giá trị riêng của nó, do đó nó cũng quy định những đặc điểm riêng trong giao tiếp phi ngôn từ Một hành vi có thể được xem là bình thường trong nền văn hóa này, nhưng có thể bị coi là bất thường, không phù hợp trong nền văn hóa khác Nếu ở Mỹ, một người nam, trong giao tiếp với một người nữ, có thể đôi khi có những hành vi động chạm (ôm, khoác vai, chạm tay…) và được coi là hoàn toàn bình thường, thì cũng những hành vi đó, ở Việt Nam có thể bị đánh giá là “sàm sỡ”, hoặc “thiếu tôn trọng” Mặc dù người Việt cũng có thói quen đôi khi chạm vào nhau khi giao tiếp, nhưng chỉ phổ biến giữa những người cùng giới, đặc biệt là giữa phụ nữ với nhau mà thôi

Giao tiếp phi ngôn từ phổ niệm: Bao gồm những hành vi, cử chỉ phổ biến ở

tất cả mọi người, không phân biệt giới tính, độ tuổi hay văn hóa Đó là những biểu hiện như khóc khi buồn, cười khi vui, nhăn mặt khi khó chịu, nhíu mày khi giận giữ,

… Những biểu hiện này mang tính phổ quát, và được mọi người hiểu/diễn giải giống nhau ở mọi nền văn hóa, với mọi đối tượng

Giao tiếp phi ngôn từ phi quan yếu: Bao gồm các hành vi thuần túy sinh học của

cơ thể như hắt hơi, ngáp, ho, … và thường không có mấy liên hệ với các thông điệp ngôn từ Trong giao tiếp, những hành vi này thông thường không thực sự truyền đạt

Trang 29

một nội dung nào cụ thể, tuy nhiên trong một vài trường hợp, nó cũng có thể cho thấy một vài điều liên quan Ví dụ, nếu trong quá trình nói chuyện một người liên tục ngáp,

ta có thể diễn giải hành vi ngáp này theo hai hướng: hoặc là anh ta thực sự thiếu ngủ

và cần nghỉ ngơi, hoặc cuộc chuyện trò không hề khiến anh ta hứng thú mà ngược lại, phát chán đến mức buồn ngủ Hoặc nếu một người hắt hơi trong khi nói chuyện, có thể anh ta có vấn đề về đường hô hấp, cũng có thể do căn phòng quá lạnh, hoặc do ai

đó hút thuốc, hoặc do anh ta dị ứng với mùi nước hoa của chúng ta Để xem xét các yếu tố phi ngôn từ phi quan yếu này, cần khảo sát từng hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, đồng thời kết hợp với nhiều yếu tố ngôn từ và phi ngôn từ khác nhằm diễn giải chính xác thông điệp muốn truyền đạt

Trong cách phân loại trên, Dwyer đã khái quát các hành vi phi ngôn từ tồn tại trong giao tiếp trực tiếp, mỗi kiểu hành vi đều có giá trị giao tiếp nhất định, dù nhiều hay ít Nghiên cứu của chúng tôi với đề tài “văn hóa giao tiếp của người Ý – trường hợp giao tiếp phi ngôn từ” sẽ không đi sâu phân tích tất cả các dạng tín hiệu phi ngôn

từ phổ quát trong đời sống của con người (giao tiếp phi ngôn từ phổ niệm và giao tiếp phi ngôn từ phi quan yếu), cũng không khảo sát các tín hiệu mang tính cá nhân đơn lẻ

(giao tiếp phi ngôn từ cá nhân), mà chỉ tập trung chủ yếu vào loại thứ hai, tức là giao tiếp phi ngôn từ văn hóa nhằm tìm hiểu những đặc điểm, những yếu tố trong hệ giá

trị văn hóa Ý được thể hiện thông qua các cách thức giao tiếp phi ngôn từ của họ

1.4.2 Phân loại theo thành tố

Tất cả các yếu tố ngoài ngôn từ như biểu hiện khuôn mặt, ánh mắt, tư thế, khoảng cách, cử động cơ thể… được sử dụng trong quá trình giao tiếp trực tiếp giữa hai hay nhiều cá nhân hiện đều được coi là những thành tố của giao tiếp phi ngôn từ Ngoài cách phân loại theo nguồn gốc như đã trình bày ở mục trên, còn có một cách phân loại khác hiện được áp dụng phổ biến trong phần lớn các công trình nghiên cứu

về giao tiếp phi ngôn từ nói chung, đó là cách phân loại theo thành tố, theo đó, giao tiếp phi ngôn từ được chia thành:

- Ngôn ngữ cơ thể (kinesics – body language)

- Không gian giao tiếp (Proxemics – space language)

Trang 30

- Thời gian giao tiếp (Chronemics – time language)

- Tiếp xúc cơ thể trong giao tiếp (Haptics - touching)

- Các yếu tố cận ngôn (Vocalics)

1.4.2.1 Ngôn ngữ cơ thể - Kinesics

Ngôn ngữ cơ thể (body language) là thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất khi

nói đến giao tiếp phi ngôn từ Ngôn ngữ cơ thể bao gồm toàn bộ những cử động của bàn tay, cánh tay, cơ thể, đầu và các cử động của cơ mặt có tham gia vào quá trình

giao tiếp Ngành khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ cơ thể được gọi là Kinesics

Để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, ngôn ngữ cơ thể còn được phân loại nhỏ hơn thành cử chỉ, cử động của đầu và tư thế cơ thể, ánh mắt, và biểu hiện của khuôn mặt

Cử chỉ (gestures) chủ yếu được dùng để nói về cử động của bàn tay và cánh tay trong

khi giao tiếp Andersen (1990) chia cử chỉ thành ba loại chính: cử chỉ thích ứng (adaptors), cử chỉ biểu tượng (emblems) và cử chỉ diễn tả (illustrators)

Cử chỉ thích ứng bao gồm những hành động tự chạm vào mình hoặc một đồ vật

khác, hoặc thay đổi vị trí, tư thế cơ thể nhằm làm cho bản thân cảm thấy thoải mái hơn, giải phóng năng lượng dư thừa, hay để giảm căng thẳng hay lo lắng Nói tóm lại,

nó khiến cơ thể chúng ta thích ứng tốt hơn với hoàn cảnh Các cử chỉ thích ứng thường diễn ra vô thức Phần lớn chúng ta không hề nhận ra khi nào chúng ta thực hiện những cử chỉ này, và thực hiện như thế nào cho đến khi có ai đó nói với chúng ta

về điều đó: Có người liên tục bấm đầu bút bi khi nói chuyện, có người luôn rung chân,

có người gõ nhịp tay xuống bàn khi phải ngồi chờ ai đó, có người bẻ hay vặn ngón tay khi thấy bối rối, lo lắng… chúng thông thường luôn mang một thông điệp nhất định, nhưng đôi khi cũng không có ý nghĩa gì rõ ràng Ví dụ, cử chỉ gãi đầu một cách vô thức của một học sinh khi đứng trước mặt giáo viên có thể gợi ý cho chúng ta rằng em học sinh đó chưa thuộc bài; cử chỉ kéo tai của một học sinh khác trong khi làm bài kiểm tra lại không cho phép ta đưa ra một dự đoán nào cụ thể, bởi đó chỉ là một hành động vô thức khiến cơ thể cảm thấy thoải mái hơn Trong nghiên cứu về giao tiếp phi

Trang 31

ngôn từ, thì những cử chỉ thích ứng loại này không được coi là một cử chỉ giao tiếp

đúng nghĩa

Cử chỉ biểu tượng là những cử chỉ cụ thể có ý nghĩa được quy ước rõ ràng Tuy

nhiên, những cử chỉ này khác với những cử chỉ được sử dụng trong ngôn ngữ ký hiệu dành cho những người khiếm thính, được quy chuẩn và giảng dạy theo hệ thống cho một nhóm người cụ thể Đó có thể là biểu tượng “OK” khi người ta giơ ngón tay cái hướng lên trên với những ngón tay khác nắm hờ, hoặc biểu tượng với nghĩa “Không được” với ngón trỏ hướng lên trên và các ngón tay khác khép hờ, bàn taydi chuyển dao động theo chiều ngang, lòng bàn tay hướng ra phía ngoài, hoặc vẫy tay theo chiều ngang với nghĩa “tạm biệt”… Khác với cử chỉ thích ứng, những cử chỉ này thường được thực hiện một cách có chủ đích và phục vụ một mục đích giao tiếp rõ ràng Ở các nền văn hóa khác nhau, các cử chỉ này được sử dụng tuân theo những quy ước khác nhau, và sẽ được những người cùng thuộc nền văn hóa đó diễn giải chính xác theo những ý nghĩa đã quy ước trong hầu hết mọi hoàn cảnh

Cử chỉ diễn tả là loại cử chỉ hay gặp nhất, được dùng để diễn tả nội dung của

ngôn ngữ lời nói, và thường đi kèm với lời nói Nó mang tính tức thời, và không thống nhất giữa tất cả mọi người Đó là khi ngón tay chúng ta “vẽ” một đường tròn trong không khí khi miệng chúng ta đồng thời nói từ “đường tròn” hay “hình tròn”; hoặc ngón tay chuyển động theo đồ thị hình sin khi chúng ta đang nói đến tình hình sản xuất của một công ty lúc tăng lúc giảm… Các cử chỉ này giúp cho nội dung thông điệp được diễn tả bằng ngôn từ trở nên dễ hiểu hơn, trực quan hơn, đồng thời giúp cho người nói thấy rõ ràng hơn trong việc diễn đạt Và có một điều thú vị là chúng ta vẫn thường xuyên sử dụng các cử chỉ loại này ngay cả trong các cuộc nói chuyện điện thoại, mặc dù người nghe không thể thấy được chúng ta

Cử động của đầu và tư thế cơ thể (head momevents and postures)

Thông thường, các cử động của đầu thường đi kèm với các tín hiệu ngôn ngữ

cơ thể khác để tạo thành một cụm tín hiệu và cho ta một ý nghĩa cụ thể; tuy nhiên cũng có những thông điệp có thể được truyền tải hiệu quả chỉ với một cử động đơn lẻ của đầu Hai trong số đó là cử động gật đầu với nghĩa “có”, và lắc đầu với nghĩa

“không” Cử động gật đầu, ngoài nghĩa là “có”, ở nhiều quốc gia còn có vai trò thay

Trang 32

một lời chào hỏi Nếu chúng ta đã biết rằng trong quá khứ, người ta hay cúi người để chào nhau, thì cái gật đầu chào hỏi ngày nay rất có thể là một hành động cúi người được đơn giản hóa Còn hành động lắc đầu lại có nguồn gốc từ cử chỉ liên tục quay đầu sang trái và sang phải của trẻ nhỏ để tránh bị đút thức ăn vào miệng, hành động này giống nhau ở trẻ em ở mọi quốc gia, và dần dần phát triển thành một quy ước

“không” trên toàn thế giới Ngoài ra còn có các cử động khác như hất hàm kết hợp với biểu hiện của khuôn mặt, có thể có nghĩa là “anh muốn nói gì” hoặc thậm chí mang nghĩa thách thức tương đương với câu “anh muốn gì?”; hoặc tư thế ngẩng cao đầu thường thể hiện sự tự tin, trong khi tư thế cúi đầu lại cho thấy sự rụt rè, hoặc trạng thái tâm lý tiêu cực, hoặc thái độ hối lỗi, … (Allan & Barbara Pease, 2014)

Tư thế cơ thể cũng có thể cho ta biết khá nhiều điều trong giao tiếp Thông thường có các tư thế chính như đứng, ngồi, nằm… nhưng phần lớn các hoạt động giao tiếp đều diễn ra khi ta đứng hoặc ngồi Một người đứng chống nạnh sẽ khiến người khác dè dặt khi đến gần, bởi hai cánh tay chống vào hông tạo cảm giác cơ thể to lớn hơn, và người ta sử dụng tư thế này khi cảm thấy cần tự vệ, cần thể hiện mức độ quan trọng của bản thân, hoặc cho thấy họ sẵn sàng hành động khi cần thiết; tư thế đứng thẳng khi nói chuyện hay đứng dựa vào tường cũng cho ta những thông điệp khác nhau Cũng như vậy, khi một người ngồi nói chuyện, nếu anh ta ngả hẳn ra phía sau,

ta sẽ có cảm giác anh ta không mấy hứng thú với nội dung cuộc trò chuyện, còn tư thế ngồi hướng về phía trước lại cho thấy điều ngược lại

Giao tiếp qua ánh mắt (eye contact)

Ánh mắt và biểu hiện khuôn mặt thường là hai yếu tố thu hút nhiều sự chú ý nhất trong quá trình giao tiếp Để biết một người có đang lắng nghe mình hay không, người ta thường đặc biệt chú ý đến ánh mắt của người đối diện Trong nghiên cứu về ngôn ngữ cơ thể, nhãn giao được xem xét như là một phần trong toàn bộ hệ thống ngôn ngữ cơ thể của một cá nhân; nhưng xét mức độ quan trọng của yếu tố này, các nhà nghiên cứu đã lập ra một ngành chuyên nghiên cứu về các cử động của mắt và ánh

nhìn trong giao tiếp với tên gọi Oculetics (bắt nguồn từ Oculus, có nghĩa là “mắt”

trong tiếng Hy Lạp)

Trang 33

Những cử động của mắt có thể mang rất nhiều thông điệp khác nhau Cái nhìn chăm chú cho thấy chúng ta đang có hứng thú với cuộc nói chuyện; cái nhìn lơ là thể hiện sự thiếu tập trung, đồng thời cũng cho thấy cuộc trò chuyện có dấu hiệu trở nên nhàm chán; cái nhìn chằm chằm vào ai đó có thể khiến họ cảm thấy bối rối, thiếu tự nhiên; cái liếc mắt của một cô gái với một chàng trai có thể là tín hiệu “bật đèn xanh” cho đối phương; ….rất nhiều thông tin về cảm xúc, ý muốn, thái độ có thể được truyền tải và tiếp nhận chỉ qua cử động của đôi mắt Không chỉ có vậy, nhãn giao trong giao tiếp còn giúp thiết lập mối quan hệ hoặc một sự liên kết nhất định với những người khác Ở những nơi đông người, như ở nhà chờ xe buýt hoặc trong một phòng tập, nơi người ta có thể dễ dàng bắt đầu một cuộc trò chuyện nho nhỏ với người khác, nếu một người thực sự muốn tránh phải nói chuyện, anh ta sẽ tránh giao tiếp bằng mắt với những người còn lại, giống như anh ta đang gửi đi một thông điệp không lời: “tôi không có hứng thú nói chuyện vào lúc này”

Ngoài cử động của mắt, kích thước của đồng tử cũng có chức năng truyền tải thông điệp đáng ngạc nhiên Về mặt vật lý, ta biết rằng đồng tử của chúng ta co lại khi tiếp xúc với ánh sáng mạnh, và mở rộng ra hơn trong điều kiện ánh sáng yếu Ngoài

ra, những nghiên cứu chuyên sâu gần đây trong lĩnh vực tâm lý học còn cho biết thêm rằng sự co giãn của đồng tử cũng phụ thuộc vào trạng thái tâm lý và tình cảm của chúng ta Đồng tử thường giãn nở ít nhiều khi chúng ta thấy những gì khiến ta cảm thấy hứng thú, yêu thích (khuôn mặt người chúng ta yêu quý, một món ăn yêu thích, một tác phẩm nghệ thuật….) Chính vì vậy, trong giao tiếp, phản ứng co giãn của đồng tử mắt người đối diện có thể cho ta nhiều thông tin thú vị Sẽ có ý kiến cho rằng nhận xét này là phiến diện, bởi người ta ít khi quan sát được đồng tử của người khác trong cuộc nói chuyện Sự thực là chúng ta đều có khả năng nhận diện được điều này một cách hoàn toàn vô thức Như người ta hay nói mắt những người đang yêu thường trở nên long lanh hơn, thực ra là vì đồng tử của họ mở rộng hơn khi họ thấy hoặc khi nghe nói về người họ yêu Chúng ta nhận ra được sự giãn đồng tử trong mắt họ hoàn toàn vô thức, khiến ta tưởng rằng mắt họ thực sự long lanh hơn Hay trong số bạn bè người quen của chúng ta hẳn sẽ có những người “cứ nghe nói đến đồ ăn là mắt sáng như đèn pha”, đây thực chất cũng là một trong những phản ứng của đồng tử trong mắt

họ mà chúng ta tiếp nhận được, thể hiện niềm yêu thích của họ với đồ ăn Một ví dụ

Trang 34

kinh điển khác đã được nhà nghiên cứu Andersen phân tích: bữa tối lãng mạn dưới ánh nến Ánh nến tạo không gian mờ ảo và hơi thiếu sáng, nó khiến đồng tử mắt chúng ta phải mở rộng để nhận được nhiều ánh sáng hơn Mặc dù mục đích chính của nến chỉ là tạo không gian lãng mạn, ấm cúng, chứ không nhằm tác động lên đồng tử, nhưng đồng tử mở rộng trong điều kiện thiếu sáng lại được tiếp nhận một cách vô thức như một dấu hiệu của sự hấp dẫn, hoặc thể hiện sự hứng thú của người đối diện trong không gian này

Biểu hiện khuôn mặt (facial expressions)

Khuôn mặt là phần có khả năng biểu đạt cao nhất trong ngôn ngữ cơ thể Nhìn những biểu hiện trên khuôn mặt của một người, ta có thể hiểu được phần lớn những thông tin về tình cảm, tâm trạng, thái độ… của họ trong quá trình giao tiếp Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất phân chia các biểu hiện khuôn mặt thành các nhóm, thể hiện cảm xúc vui, buồn, giận dữ, sợ hãi và khinh ghét Các biểu hiện cảm xúc này về cơ bản có những điểm tương đồng ở hầu hết các dân tộc trên thế giới; có nghĩa là chúng ta có khả năng nhận ra những cảm xúc vui buồn của một người thuộc một nền văn hóa khác chúng ta thông qua nét mặt của anh ta Tuy nhiên, mức độ thể hiện những cảm xúc này lại bị chi phối nhiều bởi các yếu tố văn hóa và chuẩn mực xã hội Ở trẻ em, những cảm xúc của chúng được biểu hiện trên khuôn mặt một cách thuần khiết nhất, rõ ràng nhất, và ít khi bị hạn chế bởi các quy định xã hội Chúng có thể nhăn mặt trước một món ăn mà chúng không thích, có thể biểu lộ thoải mái sự tức giận khi gặp điều gì không vừa lòng,… nhưng khi lớn dần lên, mỗi chúng ta sẽ học cách kiểm soát tốt hơn những biểu hiện trên khuôn mặt mình, tuân theo những quy định và chuẩn mực nhất định của mỗi nền văn hóa

Trong số các biểu hiện khuôn mặt, nụ cười là một yếu tố phổ biến nhất Tuy cười là một phản xạ bẩm sinh, nhưng không phải nụ cười nào cũng có liên quan trực tiếp đến trạng thái tinh thần và những tác động sinh học trong cơ thể Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy nhiều kiểu cười khác nhau, trong đó có nụ cười thật sự và nụ cười xã giao Có một sự thật thú vị là phần lớn nụ cười của chúng ta được thực hiện có chủ đích, phục vụ cho một mục đích xã hội nhất định, và là dành cho người khác, chứ

ít khi chúng ta cười vì cơ thể thực sự chịu tác động của một tác nhân sinh học tự thân,

Trang 35

hoặc do ta thực sự buồn cười (Anderson, 1999) Quan sát ai đó cười, người ta có khả năng phân biệt được đó là nụ cười thực sự hay nụ cười xã giao thông qua những cử động của các cơ quanh mắt, cơ khóe miệng, quanh mũi và các đơn vị cơ mặt khác Sự khác biệt này khá dễ nhận thấy ngay cả khi chỉ thông qua một tấm ảnh Đó là lý do tại sao các nhà nhiếp ảnh lại hay kể chuyện cười trước khi bấm máy, để có thể nắm bắt được khoảnh khắc của một nụ cười thực sự

1.4.2.2 Không gian giao tiếp - Proxemics

Nghiên cứu về không gian giao tiếp tức là nghiên cứu và khảo sát sự ảnh hưởng của không gian, khoảng cách lên quá trình giao tiếp, hay nói cách khác, là nghiên cứu

về cách con người ứng xử và quản lý không gian của mình cũng như khoảng cách giữa mình với người khác trong quá trình giao tiếp

Sự ảnh hưởng của khoảng cách lên các cảm xúc của chúng ta trong quá trình giao tiếp là một điều khá hiển nhiên, và nó được thể hiện ngay trong ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng để biểu hiện những cảm xúc ấy Trong tiếng Việt, chẳng phải chúng

ta vẫn nói chúng ta cảm thấy “gần gũi” với một người nào đó; hay ai đó có vẻ “xa cách”? Gần hay xa trong cách nói này hoàn toàn không mang nghĩa đen, không chỉ ra

khoảng cách thật, mà được dùng để chỉ mức độ thân thiết của chúng ta khi tiếp xúc

với một người nào đó Mỗi người đều có một giới hạn không gian cá nhân cho riêng

mình Không gian này có thể rộng hay hẹp tùy theo từng hoàn cảnh giao tiếp, và sự

“xâm phạm” của người khác vào trong miền không gian riêng đó có thể có những ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và phản ứng của chủ thể Một người Việt Nam có thể có cảm giác bị “lấn lướt” trong cuộc nói chuyện với một người Brasil khi người kia liên tục tiến lại quá gần trong khi nói chuyện, từ đó sinh ra cảm giác không thoải mái, bị

đe dọa, có thể sinh ra tâm lý đề phòng Nhưng trong một hoàn cảnh khác, ví dụ trong một sân vận động đông nghẹt người trước một trận đấu, khi một người đã có chuẩn bị tâm lý sẵn sàng cho việc phải chấp nhận một không gian riêng vô cùng chật hẹp, thì người đó sẽ cảm thấy thoải mái hơn mặc dù phải đứng rất gần những người không quen biết Trong hoàn cảnh ngày, việc thậm chí đôi khi bị va chạm cũng sẽ không gây

ra tâm lý tiêu cực

Trang 36

Không gian trong giao tiếp của một cá nhân có thể thay đổi tùy theo đối tượng giao tiếp, hay hoàn cảnh diễn ra hoạt động giao tiếp đó Thông thường, khi nói tới không gian như một yếu tố có chức năng giao tiếp, hầu hết các nhà nghiên cứu đều

thống nhất phân chia theo mô hình của Edward T Hall (1968) Theo đó, nếu lấy vị trí

của một người làm điểm tham chiếu, thì không gian và môi trường bao quanh anh ta

sẽ được chia thành bốn vòng tròn, mỗi vòng tròn lần lượt thể hiện không gian công cộng, không gian xã hội, không gian cá nhân, và không gian thân mật – là khoảng không gian ở gần anh ta nhất

Hình 1: Không gian giao tiếp (theo E.T Hall)

Không gian công cộng là khoảng cách vật lý xa trung tâm nhất, nó được tính

từ khoảng 12 feet (3,5 m) trở ra Đây là khoảng cách mà người ta hay sử dụng trong các buổi nói chuyện, phát biểu trước công chúng, hoặc khi một nhà quản lý phát biểu trước đám đông nhân viên (khoảng cách này giúp người nói bao quát đám đông tốt hơn, đồng thời cũng là một dấu hiệu để thể hiện quyền lực); hoặc khi một người nổi tiếng, một chính trị gia tiếp xúc với công chúng, khoảng cách này giúp cho các vệ sỹ thuận lợi hơn trong việc đảm bảo anh ninh Hiển nhiên, ở một khoảng cách xa như vậy, nếu muốn người khác nghe thấy mình, anh ta buộc phải nói lớn, và do vậy không thể trao đổi những thông tin mang tính thân mật, đồng thời cũng không đủ gần để tạo

Trang 37

ra cảm giác gần gũi, tạo điều kiện cho việc chia sẻ một cảm xúc thân mật nào đó với đối tượng giao tiếp Điều này cũng có nghĩa là nếu một người xuất hiện trong khoảng không gian công cộng của anh ta, anh ta cũng không nhất thiết phải chú ý đến người

đó hoặc tương tác với người đó

Không gian xã giao (từ 1,2m đến 3,5m) là khoảng cách chúng ta hay sử dụng

khi nói chuyện với một người quen biết, hoặc với đồng nghiệp trong môi trường làm việc E.T.Hall xác định khoảng cách này thực ra là có lý do, bởi nếu chúng ta đặt hai người đứng trước mặt nhau, họ cùng giơ thẳng cánh tay ra trước mặt để các ngón tay chạm nhau, thì khoảng cách giữa họ sẽ xấp xỉ bằng 1,2 m (hay 4 feet) Đây là khoảng cách để một người cảm thấy đủ thoải mái để nói chuyện với một người không quá thân, đồng thời cũng là khoảng cách “an toàn” có thể tránh được những đụng chạm vô tình hay hữu ý trong khi giao tiếp Một hướng dẫn viên du lịch khi thuyết minh cho khách của mình cũng sẽ giữ họ ở trong không gian xã giao, không quá xa cách như không gian công cộng (không thuận lợi cho việc giao tiếp), nhưng cũng không quá gần gũi khiến cả hai bên đều không thấy thoải mái Một giáo viên khi giảng bài cho các sinh viên cũng sẽ giữ khoảng cách này Tuy nhiên, trong khoảng cách xã giao có rìa ngoài (từ 2m trở ra đến 33,5m) và rìa trong (từ 1,2m đến 2m) Những quan sát thực nghiệm đã cho thấy những sinh viên ngồi gần giáo viên hơn (thuộc phạm vi rìa trong của không gian xã giao ) sẽ có tương tác tốt hơn với giáo viên, chú ý tới bài giảng hơn

và nhớ nhiều thông tin hơn so với những sinh viên ngồi xa (thuộc rìa ngoài của không gian xã giao) Trong giao tiếp xã hội, nếu một người vô tình xuất hiện ở rìa ngoài không gian xã giao của chúng ta, chúng ta có thể không nhất thiết phải tương tác với người đó, nhưng nếu người đó tiến gần hơn vào rìa trong của không gian này, chúng

ta sẽ cảm thấy bắt buộc phải có những tương tác nhất định, hoặc ít nhất cũng là để ý tới sự hiện diện của người đó

Không gian cá nhân/riêng tư (từ 45cm đến 1,2m) là khoảng cách vật lý

thường quan sát thấy trong giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình hoặc giữa bạn

bè thân thiết Khi một người giữ khoảng cách giao tiếp này đối với một người thân của anh ta, anh ta sẽ gửi đi một thông điệp rằng quan hệ giữa họ là quan hệ gần gũi và tin tưởng Những người nằm trong khoảng cách giao tiếp này có thể đôi khi sử dụng các

cử chỉ đụng chạm nhẹ nhàng (như đặt tay lên vai, lên tay người đối diện, đôi khi chạm

Trang 38

vào người họ …) để việc giao tiếp được diễn ra thuận lợi và tự nhiên Không gian cá nhân nằm khá gần chủ thể giao tiếp, tuy nhiên vẫn nằm ngoài không gian thân mật Khi hai người nói chuyện trực tiếp với nhau, họ có thể thay đổi khoảng cách giữa họ

và lần lượt xuất hiện trong không gian cá nhân hoặc không gian thân mật của người kia, nhưng thông thường, một người thân, bạn thân sẽ có xu hướng không ở quá lâu trong không gian thân mật của người kia nếu không thực sự cần thiết, mà sẽ cảm thấy thoải mái hơn nếu tiếp xúc trong không gian cá nhân của mỗi người

Không gian thân mật là khoảng không gian từ chủ thể trở ra tới 45 cm Thông

thường chỉ khi tiếp xúc với những người đặc biệt thân thiết (bạn rất thân, người thân trong gia đình, người yêu…) người ta mới sử dụng khoảng cách này Chúng ta cũng

có thể dễ dàng quan sát thấy các hành động thân mật khác như ôm hôn, khoác vai, thì thầm, ….diễn ra trong khoảng không gian thân mật của một người Có những trường hợp chúng ta buộc phải chấp nhận sự hiện diện của một người khác trong không gian thân mật của mình, và mặc dù có sự chuẩn bị tâm lý từ trước, sự “xâm phạm” đó vẫn gây ra một cảm xúc nào đó Đó là trường hợp chúng tôi đã nêu ở trên, khi chúng ta phải chen chúc trên một khán đài đông nghẹt người trước một trận bóng, hoặc trong thang máy, trong rạp chiếu phim,…Ở mỗi người sẽ xuất hiện một cảm xúc, một phản ứng không hoàn toàn giống nhau Và chắc chắn rằng nếu một người xuất hiện trong không gian thân mật của chúng ta, chúng ta sẽ không thể không để ý đến sự hiện diện của người đó, mặc dù bề ngoài ta vờ như không để ý

Có một chi tiết thú vị là hành động bắt tay hoặc ôm hôn trong ngoại giao hoặc trong giao dịch thương mại cũng diễn ra trong không gian thân mật Tất nhiên thời gian họ lưu lại trong không gian thân mật của nhau thường rất ngắn (chỉ vài giây) Hành động đó giống như một thông điệp thể hiện thiện chí của mỗi bên với đối tác của mình, nhằm bước đầu thiết lập mối quan hệ tốt đẹp cho những đàm phán, trao đổi trong tương lai

Trong cách phân loại trên, không gian công cộng, không gian xã giao và không gian thân mật có mức độ phổ quát nhất định, còn không gian cá nhân lại thể hiện nhiều khác biệt giữa những người thuộc những nền văn hóa khác nhau, hay nói cách khác, không gian cá nhân do văn hóa quy định (Allan & Barbara Pease, 2014) Một người

Trang 39

sống ở thành phố đông đúc như Tokyo, Sài Gòn… sẽ quen với cảnh chật hẹp; một người quen sống ở nông thôn sẽ cần một không gian thoáng mở hơn Một người Việt Nam thường có cảm nhận về không gian cá nhân rộng hơn so với một người Ý, điều này cũng có nghĩa là khi nói chuyện trực tiếp, hai người Việt sẽ có xu hướng đứng cách xa nhau hơn, trong khi hai người Ý sẽ đứng gần nhau hơn Chính sự khác biệt này sẽ tiết lộ những đặc điểm văn hóa thú vị mà chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn ở những chương sau

1.4.2.3 Thời gian giao tiếp – Chronemics

Ngoài không gian, thời gian cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến giao tiếp của con người Mỗi người có cách cảm nhận về thời gian nhau, và thời gian cũng ảnh hưởng tới tâm trạng, cảm xúc, hiệu quả công việc, ….của mỗi người một cách khác nhau Ngành nghiên cứu về những ảnh hưởng của yếu tố thời gian lên giao tiếp được gọi là Chronemics

Theo Andersen (1990), yếu tố thời gian có thể được chia thành bốn loại: thời gian sinh học, thời gian cá nhân, thời gian vật lý, và thời gian văn hóa

Thời gian sinh học (còn được gọi là nhịp sinh học) chính là nhịp điệu của các

cơ thể sống, được hình thành từ thói quen sinh hoạt của mỗi cá nhân Thời gian sinh học quy định khi nào cơ thể chúng ta cần ăn, cần ngủ, khi nào tỉnh táo Khi thời gian sinh học tự nhiên của cơ thể bị ảnh hưởng (do lệch múi giờ, do thay đổi thói quen, …) thì các hoạt động sinh học khác của cơ thể, trong đó có khả năng giao tiếp, cũng sẽ bị ảnh hưởng theo Ví dụ, khi một người có thói quen ngủ 30’ buổi trưa, tức là cơ thể của anh ta đã được lập trình để nghỉ ngơi trong 30’ đó Vì một lý do nào đó anh ta phải gặp đối tác trong giờ trưa, rất có thể anh ta sẽ không thể có đủ sự tỉnh táo cần thiết, hoặc có thể dễ nóng nảy, hấp tấp, … giống như hệ quả của việc bắt cơ thể làm việc trong khi đúng ra nó đã được lập trình để nghỉ ngơi theo thời gian sinh học sẵn có Vì vậy, nếu chúng ta có một cuộc hẹn với một người có thói quen này vào buổi trưa, có lẽ chúng ta cũng nên thông cảm nếu anh ta cần thêm một chút thời gian để thích nghi với

sự thay đổi đột ngột trong nhịp sinh học của mình

Trang 40

Thời gian cá nhân chính là cách mà mỗi người cảm nhận về thời gian Cảm

nhận này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể phụ thuộc vào tâm trạng, vào sở thích, hoặc các yếu tố khác Ví dụ, 10 phút cuối cùng của một bài kiểm tra quan trọng dường như trôi qua rất nhanh, nhưng cũng 10 phút đó, khi chúng ta phải đứng dưới trời nắng chói chang chờ đợi một người bạn, lại dường như dài vô tận; Một giờ học của môn học chúng ta yêu thích có vẻ kết thúc nhanh hơn nhiều so với giờ học của môn mà chúng ta không có hứng thú; … Thời gian cá nhân đôi khi còn liên quan đến tính cách của một người Có những người thường hay coi trọng khoảng thời gian trong quá khứ,

họ hay liên lạc với bạn bè cũ, hay ôn lại những kỷ niệm, ghi chép nhật ký, làm album ảnh gia đình, … Ngược lại có những người lại có xu hướng hướng tới tương lai nhiều hơn Họ hay dành thời gian lên kế hoạch cho công việc, cho các chuyến đi, viết lịch công tác cho tuần tới, hay những việc cần phải làm; họ thích kết giao những người bạn mới, khám phá những môi trường mới…; hoặc đơn giản là nghĩ xem bữa trưa, bữa tối

sẽ ăn món gì, hoặc sẽ đi xem bộ phim gì Tất cả những đặc điểm về cách một người cảm nhận về thời gian đều có ảnh hưởng tới cách họ giao tiếp, ứng xử với người khác

Khi nói tới Thời gian vật lý là nói tới ảnh hưởng của các khoảng thời gian cố

định như ngày, tháng, năm, các mùa….tới tâm trạng và cảm xúc của một cá nhân Thực ra đây không phải là một đặc điểm phổ quát, những thay đổi về thời gian này chỉ

có tác động lên một số người, không phải tất cả Dễ quan sát thấy nhất là sự thay đổi tâm trạng của một số người khi giao mùa, sự chuyển biến từ mùa xuân, mùa hạ sang mùa thu, mùa đông có thể gây ra những thay đổi đáng kể về tâm lý và cảm xúc Tại sao một vài người hay nói “ngày hôm nay có vẻ buồn buồn”, hoặc họ thấy tâm trạng của họ đột nhiên bị chùng xuống; tại sao mùa thu lại thường là mùa của lãng mạn, của nhớ nhung, … Tất cả những biểu hiện đó đều là sự ảnh hưởng của thời gian vật lý lên tâm lý và cảm xúc của con người Tất nhiên, yếu tố thời gian vật lý ở đây không thể tách rời khỏi yếu tố thời tiết và nhiệt độ, giữa nóng và lạnh, giữa sáng và tối, giữa nắng và mưa

Thời gian văn hóa là mảng nghiên cứu về cách mà một nhóm người, một cộng

đồng người cùng chia sẻ khái niệm về thời gian Có những cộng đồng có cái nhìn “đa tuyến” về thời gian (Polychronic people), bên cạnh đó lại có những cộng đồng lại có cái nhìn “đơn tuyến” về thời gian (monochronic people) Những cộng đồng theo xu

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Vũ Dũng (1996): Văn hóa giao tiếp, NXB. Văn hóa thông tin, Hà Nội 2. Hữu Đạt (2000): Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, NXB. Văn hóathông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa giao tiếp", NXB. Văn hóa thông tin, Hà Nội 2. Hữu Đạt (2000): "Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tác giả: Phạm Vũ Dũng (1996): Văn hóa giao tiếp, NXB. Văn hóa thông tin, Hà Nội 2. Hữu Đạt
Nhà XB: NXB. Văn hóa thông tin
Năm: 2000
3. Trần Tuấn Lộ (1995): Khoa học và nghệ thuật giao tiếp. NXB. Tổng hợp Đồng Tháp, Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và nghệ thuật giao tiếp
Tác giả: Trần Tuấn Lộ
Nhà XB: NXB. Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1995
4. Nguyễn Quang (2008): Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hóa, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hóa
Tác giả: Nguyễn Quang
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 2008
5. Nguyễn Văn Lê (1998): Nhập môn khoa học giao tiếp, NXB. Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: NXB. Giáo Dục
Năm: 1998
6. Pease. A (1994): Ngôn ngữ của cử chỉ: Ý nghĩa củ cử chỉ trong giao tiếp (Nguyễn Hữu Thành dịch), NXB. Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ của cử chỉ: Ý nghĩa củ cử chỉ trong giao tiếp
Tác giả: Pease. A
Nhà XB: NXB. Đà Nẵng
Năm: 1994
7. Pease A. (2004): Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể, (Lê Huy Lâm dịch), NXB Tổng hợp TP.HCM.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể
Tác giả: Pease A
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP.HCM. TIẾNG ANH
Năm: 2004
1. Andersen P. A. (1999), Nonverbal communication: forms and functions, Mayfield pub. New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nonverbal communication: forms and functions
Tác giả: Andersen P. A
Năm: 1999
2. Argyle M.(1972) : The Psychology of interpersonal behaviour. Harmondsworth, Penguin Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Psychology of interpersonal behaviour
3. Argyle M. (1992): Bodily communication. London, Methuen Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bodily communication
Tác giả: Argyle M
Năm: 1992
4. Birdwhistell R. (1970): Kinesics and context. Philadelphia, University of Pennsylvania Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinesics and context
Tác giả: Birdwhistell R
Năm: 1970
5. Brown & Levinson (1987): Politeness: some universals in language usage, Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Politeness: some universals in language usage
Tác giả: Brown & Levinson
Năm: 1987
6. Ekman P. (1982): Emotion in the Human Face. Cambridge, Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emotion in the Human Face
Tác giả: Ekman P
Năm: 1982
7. Ekman P. and Friesen W.V. (1972), Hand Movements, Journal of communication Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hand Movements
Tác giả: Ekman P. and Friesen W.V
Năm: 1972
8. Hall E. T. (1968), “Proxemics (Understanding Personal space)” – www.edwardhall.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proxemics (Understanding Personal space)”
Tác giả: Hall E. T
Năm: 1968
9. Jones R. G., (2013)“Communication in the Real world, an introduction to communication studies”, Flatworld Knowledge Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2013)“Communication in the Real world, an introduction to communication studies”
10. Jurgen Ruesch and Weldon Kees (1956) “Nonverbal Communication: Notes on the Visual Perception of Human Relations”, University of California Press, Berkeley and Los Angeles Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nonverbal Communication: Notes on the Visual Perception of Human Relations”
11. Kendon A. (1980) Gesticulation and Speech: Two aspects of the Process of Utterance”, The Hague, Mouton Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gesticulation and Speech": Two aspects of the Process of Utterance
12. Knapp. M. (1978): Non-verbal communication in Human interaction, Holt, Rinehart and Winston, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non-verbal communication in Human interaction
Tác giả: Knapp. M
Năm: 1978
13. Krauss R., (1998), Why do we gesture when we speak, Current Direction (Psicological Science), Columbia University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why do we gesture when we speak
Tác giả: Krauss R
Năm: 1998
14. Mehrabian A. (1972): Non verbal communication. Aldine –Atherton, Chicago – New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non verbal communication
Tác giả: Mehrabian A
Năm: 1972

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w