Mục đích nghiên cứu Dựa trên nền cơ sở văn hóa Việt Nam với những đặc trưng của văn hóa dân tộc, kết hợp với sự tìm hiểu về các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của Nam Bộ đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRẦN LÊ THÙY DƯƠNG
DUNG HỢP VĂN HÓA TRONG ĐẠO CAO ĐÀI
QUA CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC TÒA THÁNH TÂY NINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài Dung hợp văn hóa trong đạo Cao Đài qua công trình kiến trúc Tòa Thánh Tây Ninh là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Hồng Liên Nội dung nghiên cứu của đề tài chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
TRẦN LÊ THÙY DƯƠNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng
dẫn và chỉ bảo tận tình của PGS.TS Trần Hồng Liên Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc và gửi đến cô lời cảm tạ chân thành nhất Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến các thầy
cô khoa Văn hóa học đã chia sẻ cho tôi những kiến thức vô cùng hữu ích trong suốt
quá trình học tập
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu, Phòng Sau đại học, Ban
chủ nhiệm khoa Văn hóa học, Thư viện trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
đã tạo điều kiện cho tôi học tập, tra cứu và thực hiện luận văn này Tôi vô cùng biết
ơn Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh, quý Chức sắc, Chức việc cùng các Đạo hữu Cao
Đài, đã tạo điều kiện và nhiệt tình hỗ trợ, cung cấp những tư liệu quý giá cho tôi
trong suốt quá trình điền dã để có thể hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh, động viên, giúp
đỡ trong quá trình tôi thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Xin chân thành tri ân!
Trần Lê Thùy Dương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 6
7 Bố cục luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Các khái niệm 8
1.1.1 Dung hợp văn hóa 8
1.1.2 Văn hóa kiến trúc 9
1.2 Lý thuyết tiếp cận: Thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa 10
1.3 Sự hình thành đạo Cao Đài đầu thế kỷ XX 11
1.3.1 Tình hình tôn giáo trên thế giới 11
1.3.2 Bối cảnh chính trị - xã hội - văn hóa vùng đất Nam Bộ 13
1.3.3 Lịch sử hình thành và phát triển đạo Cao Đài 19
1.3.3.1 Giai đoạn manh nha trước năm 1925 19
1.3.3.2 Giai đoạn chính thức khai đạo và hình thành Hội Thánh Cao Đài (1926 -1934) 20
1.3.3.3 Giai đoạn phát triển sau 1934 cho đến hiện nay 23
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM TÍNH DUNG HỢP CỦA ĐẠO CAO ĐÀI 26
2.1 Nguồn gốc hình thành tính dung hợp văn hóa của đạo Cao Đài 26
2.1.1 Nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam 26
2.1.1.1 Tính tổng hợp và tính linh hoạt trong văn hóa 27
2.1.1.2 Truyền thống tín ngưỡng đa thần 28
Trang 52.1.2 Điều kiện tự nhiên Nam Bộ 29
2.1.3 Quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa phương Đông 32
2.1.3.1 Giao lưu với văn hóa Trung Hoa 32
2.1.3.2 Giao lưu văn hóa Ấn Độ 39
2.1.4 Quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa phương Tây 41
2.2 Đặc điểm tính dung hợp của đạo Cao Đài 46
2.2.1 Dung hợp tín ngưỡng người Việt với các tôn giáo ngoại lai 46
2.2.2 Dung hợp tôn giáo Đông- Tây 51
2.2.3 Tính đa nguyên dung hợp không kì thị tôn giáo 55
2.2.4 Tính thống nhất trong đa dạng 58
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63
CHƯƠNG 3 KIẾN TRÚC TÒA THÁNH CAO ĐÀI TÂY NINH –BIỂU HIỆN CỦA SỰ DUNG HỢP VĂN HÓA 64
3.1 Lịch sử kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh 64
3.2 Kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh 65
3.2.1 Vị trí 67
3.2.2 Phương hướng đền Thánh 69
3.2.3 Kiến trúc bên ngoài đền Thánh 70
3.2.3.1 Kết cấu kiến trúc tổng thể 70
3.2.3.2 Bạch Ngọc Chung Đài và Lôi Âm Cổ Đài 72
3.2.3.3 Hiệp Thiên Đài 74
3.2.3.4 Cửu Trùng Đài 77
3.2.3.5 Bát Quái Đài 81
3.2.4 Kiến trúc bên trong đền Thánh 82
3.2.4.1 Hiệp Thiên Đài 82
3.2.4.2 Cửu Trùng Đài 86
3.2.4.3 Bát Quái Đài 90
3.3 Ý nghĩa của công trình kiến trúc và các giá trị văn hóa 93
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 98
Trang 6KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC 111
Trang 7Danh mục hình ảnh
trang
2 Nguồn gốc hình thành tính dung hợp văn hóa của đạo Cao Đài 23
21 Tượng của Đức Hộ Pháp (ở giữa), Đức Thựơng Phẩm Cao
Quỳnh Cư (bên phải) và Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang
30
Trang 824 Hình chạm 6 con rồng trên trần gian giữa Cửu Trùng Đài 31
25 Hình chạm lân, quy, phụng trên trần hai gian bên Cửu Trùng
Đài
31
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nam Bộ tuy là vùng đất mà ông cha ta mới khai phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn hóa Nam Bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của cộng đồng dân tộc Việt
Nam với hơn mấy ngàn năm lịch sử Mà như Võ Văn Thành đã có nói “ Nam Bộ là
một vùng đất mới được khẩn hoang dần dần từ cách đây gần 400 năm khi một bộ phận đông đảo người Việt di cư vào sinh sống và lập nghiệp ở đây từ cuối thế kỷ 16 Thời gian khoảng 400 năm ấy, chưa phải là một tiến trình lịch sử - văn hóa dài lắm nhưng cũng không hẳn là ít để có thể hình thành nên một vùng văn hóa riêng có của nó” [Võ Văn Thành 2013:13]
Thật vậy, trong quá trình khai hoang lập ấp ở vùng đất phương Nam này người Việt đã mang theo những nét văn hóa của ông cha mình đến vùng đất mới rồi biến đổi để thích nghi với cuộc sống ở môi trường mới Trong quá trình phát triển với những biến cố của lịch sử văn hóa Nam Bộ có sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác như văn hóa Trung Hoa, văn hóa Pháp từ đó biến đổi, hình thành nên một vùng văn hóa Nam Bộ với những nét văn hóa rất riêng, rất đặc biệt và góp phần tạo nên bản sắc riêng của văn hóa Việt Nam
Tuy nhiên trong quá trình tiếp xúc và biến đổi đó văn hóa Việt Nam vẫn đậm
đà bản sắc dân tộc chứ không hề bị Trung Hoa hóa hay Âu hóa, đó chính là nhờ truyền thống dung hòa của văn hóa Việt Truyền thống ấy đã được người Nam Bộ vận dụng một cách nhuần nhuyễn và phát huy một cách tối đa trong môi trường cuộc sống vùng đất mới từ đó sản sinh cho dân tộc một tôn giáo hoàn toàn mới đó chính
là đạo Cao Đài “Trong đạo Cao Đài, Tam giáo với vai trò cốt lõi còn được dung
hợp với các tôn giáo Đông - Tây khác” [Trần Ngọc Thêm 2006: 564]
Đạo Cao Đài là một tôn giáo mới hình thành ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX nhưng
đã có sức ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa của người dân Nam Bộ Vì sao một tôn giáo mới lại được hình thành trên vùng đất này và lại có sức lan tỏa đến như vậy? Khi tìm hiểu về đạo Cao Đài ta sẽ nhìn thấy rõ tính dung hợp – một đặc tính nổi
Trang 10bật và chủ đạo Tìm hiểu tính dung hợp của tôn giáo Cao Đài chúng ta sẽ trả lời được câu hỏi trên, từ đó làm rõ thêm truyền thống dung hợp của văn hóa Nam Bộ nói riêng
và văn hóa Việt Nam nói chung
Và sự biểu hiện trực quan và sinh động nhất cho tính dung hợp trong đạo Cao Đài đó chính là công trình kiến trúc nổi bật và điển hình nhất cho tôn giáo này - Tòa
Thánh Cao Đài Tây Ninh Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Dung hợp văn hóa trong đạo Cao Đài qua công trình kiến trúc Tòa Thánh Tây Ninh” cho luận văn của
mình
2 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên nền cơ sở văn hóa Việt Nam với những đặc trưng của văn hóa dân tộc, kết hợp với sự tìm hiểu về các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của Nam Bộ để lý giải cho sự ra đời và tính dung hợp văn hóa trong đạo Cao Đài Bên cạnh đó, dựa trên cơ sở tìm hiểu và khảo sát thực tế công trình kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh để minh chứng cho những phân tích ở trên Qua đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu và nêu lên những đặc điểm của tính dung hợp trong đạo Cao Đài, qua đó làm rõ đặc tính văn hóa Nam Bộ, cũng như văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đạo Cao Đài được xem như một hiện tượng tôn giáo mới của Việt Nam và thế giới Nó có sự ảnh hưởng nhất định đến đời sống văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng của người Việt Nam Bộ vì vậy mà hiện ta ̣i đã có nhiều tác giả cả trong và ngoài nước nghiên cứu về đạo Cao Đài thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như sau:
Lịch sử Cao Đài
Nguyễn Trung Hậu “Đại Đạo Căn Nguyên”, tài liệu Ebook (1930) Tác giả là
một tín đồ Cao Đài đã trình bày chi tiết về các sự kiện, mốc lịch sử của quá trình hình thành đạo Cao Đài đến khi khai đạo và bắt đầu xây dựng Tòa Thánh Tây Ninh Một tác giả người Pháp cũng là một tín đồ của đạo Cao Đài, ông Gabriel Gobron đã xuất
bản cuốn sách “Histoire et philosophie du Caodaisme” (Lịch sử và triết học Cao
Trang 11Đài), năm 1949 Trong cuốn sách của mình, ông đã trình bày về phong trào Thông Linh Học (Spiritisme) và vai trò của nó trong quá trình hình thành đạo Cao Đài, bên
cạnh việc giới thiệu về giáo lý, nghi lễ, tổ chức của đạo Đặng Nghiêm Vạn "Bước
đầu tìm hiểu đạo Cao Đài", Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1995); Lê Anh Dũng,
“Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920-1926” (1996); Nguyễn Thanh Xuân "Một
số tôn giáo lớn ở Việt Nam", Nhà xuất bản tôn giáo (2007); Ngô Chơn Tuệ “Góp phần tìm hiểu sự ra đời của đạo Cao Đài” Luận văn Cao học chuyên ngành Lịch sử
Việt Nam (2008), … đã giới thiệu về bối cảnh lịch sử, đưa ra những nhân tố, cũng như quá trình hình thành, ra đời của tôn giáo này Và mới đây nhất Nguyễn Thanh
Xuân trong quyển “Đạo Cao Đài- hai khía cạnh Lịch sử và Tôn giáo” NXB Tôn giáo
(2015), công trình đã khái quát toàn bộ bức tranh về tôn giáo Cao Đài trong bối cảnh lịch sử Việt Nam từ những tiền đề khai đạo cho đến khi đạo hình thành và phát triển
cho đến tận thời kỳ đổi mới hiện nay
Tìm hiểu về giáo lý đạo Cao Đài có Thánh ngôn hiệp tuyển, Tân luật, Pháp Chánh Truyền,… do Tòa Thánh Tây Ninh phát hành
Văn hóa, tôn giáo Cao Đài
Bên cạnh đó cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khía cạnh văn hóa, tôn
giáo như: G.Coulet (1929) “Cultes et Religions de l’Indochine Annamite” (Thờ cúng
và tôn giáo ở các xứ Việt Nam trong Đông Dương) Tác giả đã phân tích bối cảnh văn hóa xã hội hỗn dung của Nam Bộ và tính cách khoan dung tôn giáo của người Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã dẫn đến sự pha trộn trong văn hóa tín ngưỡng trong đạo Cao Đài, bằng chứng là thuật chiêu hồn của phương Tây và thuật cầu cơ của phương Đông của đạo Cao Đài Năm 1975 Đinh Văn Khá đã viết luận
văn Cao học “Đại lễ vía Đức Chí Tôn trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Tòa Thánh
Tây Ninh)”, tác giả đã trình bày chi tiết về những nghi tiết và diễn biến của lễ hội lớn nhất của đạo Cao Đài Nguyễn Mạnh Tiến “Lễ hội Cao Đài nhìn từ góc độ văn hóa” Luận văn Cao học Văn hóa học (2006); Lê Anh Dũng (2009), “Đất Nam Kỳ tiền đề văn hóa mở đạo Cao Đài”; Huỳnh Ngọc Thu “Đời sống tôn giáo của tín đồ
Trang 12Đạo Cao Đài trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ” Luận án Tiến sĩ Lịch sử (2010);
Nguyễn Tiến Hưng “Ảnh hưởng của đạo Cao Đài Tây Ninh đối với lối sống của vùng
dân cư (Điển cứu trường hợp xã Trường Hòa, Trường Đông Thị trấn Hòa Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh)” Luận văn Thạc sĩ Xã hội học (2012)
Kiến trúc Cao Đài
Trong các công trình nghiên cứu về đạo Cao Đài ở nhiều khía cạnh khác nhau thì trong các công trình này cũng đã ít nhiều giới thiệu về kiến trúc Tòa Thánh Tây
Ninh như trong luận văn Cao học “Đại lễ vía Đức Chí Tôn trong Đại Đạo Tam Kỳ
Phổ Độ (Tòa Thánh Tây Ninh)” (1975) của Đinh Văn Khá, tác giả cũng đã miêu tả
công trình kiến trúc của đền Thánh như nơi diễn ra quá trình hành lễ chính của lễ vía Đức Chí Tôn, tác giả đã miêu tả ở cả phần ngoại điện và nội điện cũng như ý nghĩa của các biểu tượng trang trí trong đền Thánh dưới khía cạnh tôn giáo ; trong quyển
"Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài", Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1995) của Đặng
Nghiêm Vạn cũng đã giới thiệu sơ nét về đền Thánh ở Tây Ninh như một nơi thờ tự
ở trung ương với cấu trúc 3 đài nối tiếp nhau và đã miêu tả chi tiết về nghi tiết thờ phượng tượng trưng cho tôn chỉ “Tam giáo quy nguyên, ngũ chi hợp nhất” của đạo
Cao Đài trong đền Thánh Trong công trình “Đời sống tôn giáo của tín đồ Đạo Cao
Đài trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ” Luận án Tiến sĩ Lịch sử (2010) của Huỳnh
Ngọc Thu tác giả cũng đã mô tả và sơ đồ hóa về cách bày trí thờ tự trong đền Thánh
ở cả ba phần Bát Quái Đài, Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài; tác giả cũng đã nêu lên những giá trị về văn hóa mà công trình đã đóng góp vào sắc thái văn hóa Nam Bộ…
Bên cạnh đó cũng có những công trình chủ yếu viết về kiến trúc Tòa Thánh
Cao Đài như “Lược thuật Tòa Thánh Tây Ninh” (1963) của Thiền Giang; Nguyễn Văn Hồng “Giới thiệu Tòa Thánh Tây Ninh” (1999); “Cao Đài Tự điển” (2000) của
Đức Nguyên Các tác giả trên là những tín đồ đạo Cao Đài họ đã viết lại quá trình từ khi tìm đất đến khi xây dựng xong đền Thánh Cao Đài Tây Ninh, bên cạnh đó cùng
đã miêu tả một cách chi tiết ý nghĩa công trình kiến trúc này dưới góc nhìn triết lý
Trang 13tôn giáo Cao Đài Đặc biệt là quyển sách “Việt Nam Di Sản Văn Hóa- Tòa Thánh
Cao Đài Tây Ninh” do nhà xuất bản Trẻ xuất bản 2004 của tác giả Hồ Tường và
Nguyễn Huy Cường Quyển sách này là một trong số rất ít các công trình nghiên cứu
về kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh đã được xuất bản và phổ biến một cách rộng rãi trong thời gian gần đây Quyển sách đã giới giới thiệu những nét cơ bản nhất
về đạo Cao Đài như: lịch sử hình thành, cơ bản giáo lý, các vị thần thánh và mô tả kiến trúc Tòa Thánh Tây Ninh…Tuy nhiên, tác phẩm này nghiêng về việc mô tả một cách chi tiết về cấu trúc, các hình tượng trang trí của Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh
về khía cạnh tôn giáo, mà vẫn chưa giải thích về ý nghĩa văn hóa của công trình
Luận văn này tiếp thu và kế thừa các công trình đã có trước, nhưng chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu nguồn gốc và những đặc điểm tính dung hợp trong đạo Cao Đài, một đặc tính cơ bản và nổi bật của tôn giáo nội sinh này và chứng minh tính dung hợp đó qua công trình kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, dưới góc nhìn giao lưu tiếp biến văn hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: những nhân tố góp phần hình thành nên tính dung hợp
văn hóa và đặc điểm tính dung hợp văn hóa trong đạo Cao Đài, qua nghiên cứu một trường hợp cụ thể là công trình kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu kiến trúc đền Thánh, là công trình
quan trọng nhất của Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, mà không đi sâu tìm hiểu các công trình phụ khác trong nội ô Tòa Thánh, nằm trên địa phận Thị trấn Hòa Thành,
xã Long Thành Bắc (huyện Hòa Thành) và một phần Thành Phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
Thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu từ khi đạo Cao Đài chính thức khai đạo
năm 1926 cho đến nay
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp so sánh văn hóa: là cách thức để tìm ra sự tương đồng và khác
biệt mang tính chất đặc trưng Đề tài so sánh nội văn hóa (giữa đạo Cao Đài và các tôn giáo, tín ngưỡng khác ở Việt Nam)
-Phương pháp điền dã: quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, phỏng vấn tập
trung,… Là phương pháp đòi hỏi người nghiên cứu phải sống và sinh hoạt trong phạm vi nghiên cứu một thời gian nhất định để có những thông tin chính xác nhất Cùng với những cuộc đối thoại, những câu hỏi có chủ định để thu thập thông tin từ các cá nhân Trong phỏng vấn sâu, chúng tôi tiến hành phỏng vấn nhiều đối tượng là tín đồ Cao Đài cũng như một số Chức sắc, Chức việc Cao Đài Tây Ninh để ghi nhận
về quá trình xây dựng, cũng như những ý nghĩa, triết lý hàm chứa trong công trình Tòa Thánh Tây Ninh
-Phương pháp nghiên cứu lịch sử là phương pháp nghiên cứu, phân tích các
tài liệu, tư liệu điền dã để tìm hiểu những yếu tố văn hóa, tự nhiên, xã hội đã tồn tại trong diễn trình lịch sử phát triển vùng đất Nam Bộ đã tác động đến tính dung hợp của đạo Cao Đài
-Phương pháp thu thập và xử lý thông tin những tư liệu thu thập được qua
thực tế điền dã kết hợp với những tài liệu có liên quan đến đề tài trên các công trình
nghiên cứu trước đó, sách, báo, tạp chí, các website…có liên quan đến đạo Cao Đài
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Cung cấp thêm tư liệu về đặc tính của văn hóa Nam Bộ và văn hóa Việt Nam Cung cấp tư liệu về tính dung hợp của đạo Cao Đài Tây Ninh để bổ sung thêm một khía cạnh về nghiên cứu văn hóa tôn giáo
Góp phần nhận thức thêm về lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa
Ý nghĩa thực tiễn
Công trình nghiên cứu là nguồn tài liệu tương đối hoàn chỉnh nhất về sự dung hợp các luồng văn hóa trong đạo Cao Đài, góp phần phục vụ cho công tác nghiên
Trang 15cứu, giảng dạy và học tập về văn hóa, văn hóa tôn giáo ở các trường đại học, cao đẳng
Giới thiệu về kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh như một công trình có
ý nghĩa về văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng, phục vụ du lịch
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương này nêu lên những tiền đề
lý luận cho việc nghiên cứu đề tài, giải thích một số khái niệm có liên quan, lý thuyết tiếp cận của đề tài và trình bày cơ sở thực tiễn về những tiền đề hình thành, phát triển của đạo Cao Đài ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX
Chương 2: Nguồn gốc hình thành và đặc điểm tính dung hợp của đạo Cao Đài Chương này phân tích những đặc trưng của văn hóa Việt Nam, cũng như những
tác động bên ngoài đã góp phần hình thành nên tính dung hợp văn hóa của đạo Cao Đài và nêu lên những đặc điểm của tính dung hợp đó
Chương 3: Kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - biểu hiện của sự dung hợp văn hóa Chương này trình bày sự dung hợp giữa truyền thống văn hóa
Việt Nam với các nền văn hóa khác đã được thể hiện qua kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh cũng như thấy được những giá trị văn hóa của nó
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Dung hợp văn hóa
Trong từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên có giải nghĩa “dung hợp” là
trạng thái hòa lẫn vào nhau để tạo thành một thể thống nhất [Hoàng Phê 2003: 266]
Trong khi đó, Từ Điển tiếng Anh, “dung hợp” (fusion) được định nghĩa là
“The process or result of joining two or more things together to form a single entity”
(Quá trình hoặc kết quả của việc kết hợp hai hoặc nhiều thứ với nhau để tạo thành một thực thể duy nhất) [Oxford dictionaries.com 2015]
Nói về “dung hợp” trong tác phẩm “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” Trần Ngọc Thêm có nói: “Sự kết hợp chặt chẽ giữa tính tổng hợp và tính linh hoạt tạo nên
một đặc trưng cơ bản của văn hóa ứng xử với môi trường xã hội ở Việt Nam nói chung – đó là tính Dung hợp Dung hợp là sự tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau lại và biến đổi một cách linh hoạt để tạo nên cái mới: DUNG HỢP = TỔNG HỢP + LINH HOẠT Dung hợp là một dạng tiếp biến văn hóa đặc biệt” [Trần Ngọc Thêm
2006: 553]
Trong luận án Tiến sĩ của tác giả Huỳnh Quốc Thắng đã nhận định “tiếp biến
văn hóa (acculturation) là sự dung hợp, thanh lọc các giá trị văn hóa trong một quá trình tiếp xúc và giao lưu, hội nhập văn hóa tích cực, chủ động nhằm tiếp thu được tinh hoa văn hóa các dân tộc vừa vẫn giữ gìn, phát huy được bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình” [Huỳnh Quốc Thắng 1999: 42]
Trong lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo thì “dung hợp” cũng được coi là một loại hình của tôn giáo “Tôn giáo dung hợp” (religions syncretistic), theo nhà tôn giáo
học Nga N.C Capustine định nghĩa: “Tôn giáo dung hợp là sự pha trộn, kết hợp, sự
vay mượn, tiếp nhận một số yếu tố, bộ phận tôn giáo khác tạo thành tổ hợp niềm tin, nghi lễ và tổ chức giáo hội khác biệt” [Dẫn theo Trương Văn Chung , Vũ Thị Thanh
Thảo 2013: 83]
Trang 17Theo ông Capustine “các hình thức tôn giáo được “ Cấu trúc lại” dưới tác
động của hoàn cảnh, điều kiện lịch sử và sự lựa chọn có mục đích của nhóm người”
Các học giả tôn giáo ở Châu Âu và Bắc Mỹ cũng cho rằng: “Tôn giáo dung hợp là
hình thức pha trộn, hỗn hợp của các tôn giáo trước đó hoặc cùng thời…” Họ cho
rằng đây là một dạng tôn giáo mới (New Religion) Là hình thức dung hợp tam giáo [Dẫn theo Trương Văn Chung , Vũ Thị Thanh Thảo 2013: 84]
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu “dung hợp” là sự tổng hợp và dung hòa những yếu tố khác nhau để tạo thành một sản phẩm mới Trong phạm vi đề tài này này, chúng tôi xem “dung hợp” là một đặc tính của văn hóa tôn giáo Nam Bộ Đây được coi là một trong những đặc tính bao trùm và chi phối đạo Cao Đài Trên cơ sở
đó, chúng tôi xác lập một định nghĩa về “dung hợp” để làm việc như sau:
Dung hợp là một đặc tính của văn hóa, được hình thành trong quá trình tiếp biến giữa các nền văn hóa khác nhau, rồi tạo nên một hệ thống giá trị văn hóa mới với những đặc trưng văn hóa riêng biệt, gắn với một hệ tọa độ văn hóa nhất định
1.1.2 Văn hóa kiến trúc
Văn hóa kiến trúc là một bình diện của văn hóa, nó nghiên cứu kiến trúc dưới góc độ văn hóa học Văn hóa và kiến trúc có mối qua hệ biện chứng với nhau Kiến trúc có chức năng thỏa mãn những yêu cầu sinh hoạt vật chất và văn hóa tinh thần của con người cũng như đáp ứng những yêu cầu kinh tế, xã hội, chính trị Cho nên, văn hóa kiến trúc vừa có nhiệm vụ tìm hiểu những giá trị văn hóa ẩn chứa trong kiến trúc, vừa cho thấy được sự ảnh hưởng của văn hóa đến sự hình thành kiến trúc GS
KTS Hoàng Đạo Kính đã có nói “Các công trình kiến trúc không chỉ dừng lại ở việc
đưa ra giải pháp, những hợp đồng, mà còn phải dựa trên nền tảng văn hóa Nói cách khác, kiến trúc phải có bản chất văn hóa” [Dẫn theo Hồng Dương 2014: web]
Có thể nói, văn hóa kiến trúc là một trong những bộ phận khá quan trọng của văn hóa, bởi nó góp phần thể hiện diện mạo, bộ mặt của các nền văn hóa khác nhau Các đặc điểm về chế độ chính trị, hoàn cảnh xã hội, điều kiện tự nhiên, đặc trưng văn
Trang 18hóa…ở từng vùng miền, từng khu vực khác nhau sẽ sản sinh ra những nền văn hóa kiến trúc khác nhau
1.2 Lý thuyết tiếp cận: Thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa
Trong suốt quá trình vận động và phát triển của lịch sử nhân loại, nhiều nền văn hóa của thế giới đã được sinh ra và trong quá trình phát triển của nó không thể tránh khỏi những sự va chạm và tiếp xúc lẫn nhau mà các nhà nghiên cứu sau này thường gọi đó là quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Có thể nói, giao lưu tiếp biến văn hóa là một hiện tượng phổ biến và mang tính quy luật Trong tự nhiên cũng như trong xã hội, không có hiện tượng nào thuần túy tinh khiết, không bị ảnh hưởng hoặc
không pha trộn và văn hóa càng như thế Phan Ngọc đã nhận định “Không có văn
hóa tự lực cánh sinh Không có văn hóa tự túc” [Phan Ngọc 1998: 59] Thật vâỵ, mỗi
nền văn hóa trong quá trình phát triển phải mở cửa, giao lưu với thế giới bên ngoài
để có thể vừa học hỏi được cái hay cái tốt của nhân loại vừa quảng bá được những sản phẩm văn hóa truyền thống của mình Giao lưu tiếp biến văn hóa là điều kiện để mỗi nền văn hóa có thể phát triển Đặc biệt, trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, văn hóa truyền thống càng không nên bảo thủ với quan niệm đóng cửa hay co cụm lại để bảo vệ bản sắc dân tộc mà cần phải thích ứng với mọi sự thay đổi, sẵn sàng cho những cuộc tiếp xúc, những mối quan hệ mới Chính vì vậy mà thuyết “giao lưu và tiếp biến văn hóa” đã rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu về văn hóa trên thế giới đặc biệt quan tâm nghiên cứu
Giao lưu tiếp biến văn hóa (acculturation) là khái niệm do các nhà dân tộc học Pháp và nhân học phương Tây đưa ra vào cuối thế kỷ XIX, để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và hậu quả của cuốc tiếp xúc này là
sự thay đổi hoặc biến đổi của một số loại hình văn hóa của một hoặc cả hai nền văn hóa đó Giao lưu tiếp biến văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy Sự giao lưu tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục Tính tích cực của giao lưu tiếp biến văn hóa là tuy các thành
Trang 19tố của những nền văn hóa các dân tộc tiếp xúc với nhau có thể biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ được tính riêng biệt (bản sắc văn hóa) của mình và làm giàu thêm cho văn hóa của mình [Phan Thị Yến Tuyết 2011: 469]
Ở Việt Nam, Trần Quốc Vượng đã từng nhận định “giao lưu và tiếp biến văn
hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể Quá trình này luôn luôn đặt mỗi tộc người luôn luôn phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh” [Trần Quốc Vượng 1997: 51-52]
Giao lưu và tiếp biến văn hóa là một quá trình với các giai đoạn khác nhau Huỳnh Quốc Thắng trong luận án Tiến sĩ của mình ông đã chia ra làm ba giai đoạn
chính gồm: giai đoạn GIAO LƯU VĂN HÓA (échange culturelle) trong giai đoạn
này nhất thiết phải có sự “gặp nhau” giữa các nền văn hóa khác nhau, tức phải có
sự tiếp xúc văn hóa (contact cultural) nhất định; từ đó dẫn đến sự HỘI NHẬP VĂN
HÓA (intégration culturelle) là sự xen cài, tích hợp các giá trị văn hóa thông qua
sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố “nội sinh” và “ngoại sinh” đây là giai đoạn
thứ hai; giai đoạn ba là quá trình TIẾP BIẾN VĂN HÓA (acculturation) [Huỳnh
Quốc Thắng 1999 :41]
Như định nghĩa về “dung hợp” đã nêu ở trên mục 1.1.2 thì “dung hợp là kết
quả của quá trình tiếp biến văn hóa” mà quá trình tiếp biến văn hóa lại là giai đoạn
cuối cùng của giao lưu và tiếp biến văn hóa (Hình 1) Vì vậy khi nghiên cứu về tính
dung hợp văn hóa của đạo Cao Đài ta cần tiếp cận bằng lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa
1.3 Sự hình thành đạo Cao Đài đầu thế kỷ XX
1.3.1 Tình hình tôn giáo trên thế giới
Từ giữa thế kỷ XIX đến hết thế kỷ XX, lịch sử nhân loại đã có nhiều những biến đổi lớn, có tác động một cách mạnh mẽ đến đời sống xã hội loài người Một trong những cuộc vận động có tác động rõ nét nhất là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, ngày nay ta thường gọi là công cuộc hiện đại hóa Hiện đại hóa là một trong những biến thiên xã hội quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất Nó dẫn đến những biến đổi
Trang 20to lớn của nhiều phương diện từ đời sống văn hóa, xã hội, giáo dục, môi trường … cho đến khuynh hướng giá trị và phương thức sinh hoạt của con người Chính những biến động đó đã tạo nên những mảnh đất màu mỡ, rộng lớn cho những mầm móng
“tôn giáo mới” hình thành và phát triển
Những tôn giáo xuất hiện ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến tận mãi sau này được xem là “tôn giáo mới” Trong báo cáo tổng kết đề tài KH&CN với tên đề tài “ Hiện tượng tôn giáo mới và những vấn đề về chính sách và công tác tôn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” đã đưa ra một
định nghĩa “ Tôn giáo mới là những hình thức tổ chức, giáo lý, niềm tin khác biệt với
tôn giáo thông thường, phản ánh những biến động lớn của xã hội đương đại và nhu cầu chuyển đổi tâm linh của một nhóm người trong môi trường văn hóa- xã hội cụ thể” [Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2014: 72]
Tình hình tôn giáo trên thế giới có những biến chuyển rõ rệt Tại các nước
phương Tây đã và đang diễn ra hai xu thế đối lập trong đời sống tôn giáo: sự khủng hoảng của các tôn giáo chủ lưu vốn theo thuyết Toàn thống và sự lớn mạnh của xu hướng tôn giáo cá thể hóa Sự nảy sinh các “tôn giáo mới”, vì thế rất gắn với xu thế chiết trung và Thuyết hỗn dung và tích hợp Đặc biệt với các xã hội phương Tây, lối hỗn dung tích hợp trở thành nét đặc trưng tôn giáo mới ở xứ này [Đỗ Quang Hưng
do Mary Baker Eddy (1821-1910) sáng lập
Ở Châu Á mà một đại diện là Nhật Bản từ giữa thế kỷ XIX rất nhiều giáo phái
đã được thành lập có nguồn gốc từ Thần đạo (shinto) như: Oomoto giáo, Seichyonoie, Sekai-kyusei giáo, giáo đoàn PL và một số từ Phật giáo như: Reiyu,
Shinnyouen đã được thành lập “Nhật Bản là nước mà Thuyết hỗn dung được coi là
Trang 21có vị trí trung tâm của tôn giáo nước này Có thứ hỗn dung kiểu bác học mà cũng có thứ bình dân Hiện tượng tôn giáo mới có ở Nhật Bản từ cuối kế kỉ XIX thời Minh Trị (Meji), có tác động của tư duy thực chứng” [Đỗ Quang Hưng 2001: 9]
Ở Trung Đông vào những năm 1811-1852 cũng xuất hiện một tôn giáo mới là Baha’i Baha’i, theo cổ ngữ Ả Rập nghĩa là (Người noi theo ánh sáng của Thượng Đế) ra đời năm 1863 tại Ba Tư (cũ) nay là Iran, người sáng lập là Baha'u'llah (có nghĩa là vinh quang của Thượng Đế) Tôn giáo Baha’i bắt nguồn từ phong trào chủ nghĩa Babi (còn gọi là tôn giáo Babi) ra đời ở Ba Tư
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX ở nước ta bắt đầu xuất hiện những hiện tượng
có tính cách “tôn giáo mới” mà trong đó có những nhóm phái có tính dân tộc thậm chí còn lãnh đạo một bộ phận phong trào yêu nước chống Pháp Giáo sư Trần Văn Giàu có nhiều công sức trong việc khẳng định nét độc đáo ấy Ông đã có nhận xét hay rằng, khi phong trào yêu nước còn đang bị khủng hoảng trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thì cũng cần “ngả nón” trước các hành động yêu nước của các Hội kín Nam Kỳ, đánh Pháp ngay trung tâm Sài Gòn Lúc đó ta thấy, hiện tượng phong trào nông dân mang màu sắc tôn giáo chủ yếu tập trung ở Nam Kỳ với các Hội kín, các Thiên Địa hội và phong trào “các ông Đạo” (Kể cả Bửu Sơn Kỳ Hương cũng là một dạng như thế) [Đỗ Quang Hưng 2001: 11]
Cùng với những tôn giáo mới xuất hiện ở một số quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là những tiền đề cho một làn sóng các tôn giáo mới xuất hiện khắp nơi trên thế giới, mà giới nghiên cứu gọi là “hiện tượng tôn giáo mới” hay “phong trào tôn giáo mới” từ giữa thế kỷ XX đến nay
1.3.2 Bối cảnh chính trị - xã hội - văn hóa vùng đất Nam Bộ
Trước kia vùng đất Nam Bộ ngày nay là lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân Lạp Thời chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn, vùng đất này mới được khai khẩn từ thế kỷ
XVII Trải qua hơn ba thế kỷ vùng đất Nam Bộ đã 8 lần thay đổi tên gọi cũng như vị
trí của nó trong hệ thống hành chính: Gia Định Phủ (1698-1802), Gia Định Trấn (1802-1808), Gia Định Thành (1808-1832), Nam Kỳ (1832-1867), Cochinchine tức
Trang 22Nam Kỳ thuộc Pháp (1867-1945), Nam Phần (1945-1975), Nam Bộ (1945 đến nay)
Bối cảnh chính trị:
Sau khi áp đặt ách thống trị lên đất Nam Kỳ và về cơ bản đã đàn áp xong các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Nam Kỳ, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa của mình Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, để bù đắp lại những tổn thất trong chiến tranh, thực dân Pháp càng tăng cường công cuộc khai thác các thuộc địa mà Đông Dương được coi là một thuộc địa “quan trọng nhất, phát triển nhất và giàu có nhất” [Trần Đức Cường 2014: 407]
Với những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp của vùng đất Nam Kỳ trù phú bậc nhất Đông Dương, thực dân Pháp đã tận dụng ưu thế này để khai bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa mà trước hết là ngành trồng lúa rồi tiếp đến là cây cao su Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp ở Nam Kỳ thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, sản xuất lúa gạo luôn đứng vị trí hàng đầu, đứng thứ hai là cao su và sau đó là một số cây trồng thứ cấp khác như bông, dừa, mía, ngô, hạt tiêu… [Trần Đức Cường 2014: 412]
Từ cuối thế kỷ XIX, nhân dân Nam Bộ dưới sự đàn áp, bóc lột của bộ máy cai trị thực dân cùng với truyền thống yêu nước, yêu độc lập tự do khiến cho phần đông các giai cấp trong xã hội Nam Bộ lúc bấy giờ đứng lên đấu tranh chống lại chính quyền thực dân với những hình thức mới như phong trào Hội kín- Thiên Địa hội, phong trào Duy Tân…
Trang 23Sang đầu thế kỷ XX, thế lực của tư sản dân tộc cũng như tầng lớp tiểu tư sản trí thức càng được khẳng định trong đời sống kinh tế- xã hội của đất nước Họ bắt đầu ý thức về những trở ngại trên con đường phát triển của mình, ý thức về thân phận người dân mất nước và bắt đầu đấu tranh cho những quyền lợi kinh tế, quyền tự do, dân chủ của mình Cuộc đấu tranh của tầng lớp tư sản- địa chủ trong những năm 20 của thế kỷ XX được thể hiên rõ nét trong phong trào vận động “Tẩy chay Khách trú”, xảy ra vào năm 1919 và phong trào đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn năm 1923… [Trần Đức Cường 2014: 502]
Các phong trào đấu tranh dẫu đã phát triển mạnh, nhưng phần nhiều mới ở thành thị mà chưa đi sâu được vào nông thôn Phong trào từ địa phương này lan sang địa phương khác, từ giai tầng này sang giai tầng khác nhưng hầu hết là tự động, chưa có lãnh đạo thống nhất Động lực chính của phong trào là những thanh niên tiểu tư sản và tư sản Với nhiệt huyết của tuổi trẻ, họ hăng hái lao mình vào hoạt động cách mạng nhưng chưa có một đường lối, một ý thức hệ cách mạng thực sự, rõ ràng [Trần Đức Cường 2014: 527] Người dân Nam Bộ vẫn chưa có một chính Đảng
thật sự để lãnh đạo phong trào đấu tranh của mình
Bối cảnh xã hội
Sự phát triển của chế độ đại sở hữu trong nông nghiệp của thực dân Pháp làm cho ruộng đất của người nông dân ngày càng bị thu hẹp họ dần trở thành những người
tá điền làm thuê cho địa chủ và ngày càng đói khổ Đời sống khó khăn, tô thuế nặng
nề, tệ nạn cường hào ác bá ở thôn quê làm cho tình cảnh người nông dân nghèo điêu đứng Mâu thuẫn giữa các bộ phận dân cư ở nông thôn ngày càng trở nên gay gắt Điều đáng nói là sự có mặt của các điền chủ người Pháp và sự tham gia của tầng lớp này vào việc chiếm ruộng đất, vốn đã là vấn đề rất nhạy cảm ở nông thôn, nhất là những vùng đông dân, là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm căng thẳng ở nông thôn [Trần Đức Cường 2014: 469]
Bên cạnh vấn đề ruộng đất, một loạt chính sách về thuế khóa: thuế trực thu, thuế gián thu, thuế phụ thu, thuế đò, thuế chợ… đè nặng lên đời sống của nông dân
Trang 24Một số bộ phận nông dân mất đất hoặc vì không chịu đựng nổi chế độ thuế khóa ở nông thôn, phải ra thành phố, tới các đồn điền bán sức lao động kiếm sống [Trần Đức Cường 2014: 470]
Dưới chế độ cai trị của người Pháp với tô cao, thuế nặng, người công nhân cạo mũ ở các đồn điền cao su thì bị bóc lột thậm tệ và tàn nhẫn sức lao động, hàng chục ngàn công nhân tại các đồn điền đa bỏ mạng do chế độ lao động hà khắc và khí hậu khắc nghiệt của Miền Đông Nam Bộ Ở Miền Tây địa chủ cướp đất, bóc lột tá điền đẩy họ vào cuộc sống ngày càng đen tối
Cuộc sống khó khăn cùng khổ, bất lực trước chế độ chính trị và các quan hệ
xã hội, cứu cách duy nhất đối với người dân Nam Bộ lúc này chỉ còn trông mong vào những vị thần linh với sức mạnh siêu nhiên có thể cứu rỗi tâm hồn, họ đành cầu viện tới tôn giáo Trong khi các tôn giáo sẵn có hiện tại đã không thể giúp gì cho họ, không thể giúp họ bớt khổ nên họ chỉ còn trông mong vào những tôn giáo mới để giúp họ vượt qua được khó khăn, bệnh tật chiến thắng được kẻ thù Tôn giáo chính là chổ dựa tinh thần mà người dân có thể dựa vào trong điều kiện tự nhiên xã hội lúc bấy giờ của vùng đất Nam Bộ
Trong bối cảnh đó đạo Cao Đài ra đời, chủ trương “Quy nguyên tam giáo” (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo) nên vừa cũ vừa mới, bình mới rượu cũ, nên người dân dễ hưởng ứng, tin theo để mong thoát khổ
Bối cảnh văn hóa
Tín ngưỡng của nhân dân Nam Bộ cũng do những quá trình đi tìm miền đất hứa của những lưu dân Đàng Trong xuôi Nam tiếp tục phát huy truyền thống văn hóa Việt và tạo ra những sắc thái riêng biệt của văn hóa tín ngưỡng Nam Bộ
Theo bước chân của những lưu dân người Việt từ Bắc Bộ, Trung Bộ vào Nam
Bộ khẩn hoang vùng đất mới họ mang theo những tín ngưỡng, tôn giáo của ông cha
mình vào vùng đất mới Người Việt vào Nam khẩn hoang, đạo Phật với tư cách là
một tôn giáo truyền thống lâu đời của người Việt cũng được họ mang theo, tùy mức
Trang 25độ hiểu biết riêng của mỗi người về đạo Phật [Võ Văn Thành 2013: 118] Tín ngưỡng
của người Việt Nam Bộ có nguồn gốc từ đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, tín ngưỡng thờ Mẫu…., nhưng có tiếp biến thêm nhiều yếu tố từ phong tục của người Khmer, người Hoa
Người lưu dân Việt đã được tiếp cận với một số nền văn hoá bản địa ở Nam
Bộ Trước hết là người Minh Hương là một cụm từ dùng để chỉ chung tất cả những người thuộc sắc tộc Hoa đã rời bỏ đất nước họ sang “tỵ nạn chánh trị” tại Đàng Trong vào nửa cuối thế kỷ XVII (1679) sau khi nhà Minh bị bại vong và nhà Thanh thiết lập được chính quyền tại Trung Hoa Điều quan trọng cần lưu ý là về sau họ hoàn toàn hội nhập vào cuộc sống tại quê hương mới và trở thành những công dân Việt (khác hẳn với người Hoa kiều nhập cư vào Việt Nam trong thời Pháp thuộc) Họ đã cung ứng nhiều yếu tố rất tích cực vào văn hoá Việt nói chung và tín ngưỡng dân gian Việt nói riêng
Người Hoa đã đến Nam Bộ với một hành trang của các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, nếp sống truyền thống của văn hóa Trung Hoa, và đã có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống của văn hóa các cộng đồng cư dân ở Nam Bộ Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng việc truyền bá Nho giáo như kiểu của họ Mạc ở Hà Tiên là một thí dụ, đó là một thứ Nho giáo đã địa phương hóa, hoặc Nam Bộ hóa Đó là văn hóa truyền thống của một số địa phương vốn từ Trung Hoa đã có những thay đổi và chọn lựa cho thích ứng với vùng đất và cư dân Nam Bộ Người Hoa đã đem đến vùng đất Nam Bộ tín ngưỡng thờ bà Thiên Hậu, Ngũ Hành nương nương, đã được các cộng đồng cư dân Việt, Khmer, Chăm dễ dàng chấp nhận và bổ sung vào các vị nữ thần vốn có của mình như bà Chúa Xứ, Bà Đen, Những thương nhân người Việt cũng
đã chấp nhận việc thờ cúng thần tài, ông địa của người Hoa, với niềm hy vọng cho công cuộc kinh doanh, sản xuất của mình
Đạo Minh Sư theo chân những lưu dân người Hoa đi vào Nam Bộ ban đầu chỉ
là Hội kín sau này phát triển thành một tôn giáo ở Việt Nam Tôn giáo này cũng đóng
Trang 26một vai trò quan trọng trong sự ra đời của đạo Cao Đài Qua đạo Minh Sư một hình thức thông công giữa người sống với người chết của người Trung Quốc đã truyền sang Việt Nam đã góp phần hình thành “Thuật chiêu hồn” khá phổ biến ở đất Nam
Bộ lúc bấy giờ
Ngoài ra người Việt trong quá trình di cư vào Nam còn gặp gỡ và tiếp xúc với nền văn hóa Chăm ở khu vực Trung Bộ họ tiếp thu tín ngưỡng của văn hóa Chăm là Bàlamôn và Phật giáo Đạo Bàlamôn vốn được đưa vào bán đảo Đông Dương từ lâu Người Chăm, người Khmer đều theo đạo này, về sau mới chịu ảnh hưởng Phật giáo
Thần linh phổ biến của người Chăm là Pô Nagara tức Thiên Y A Na Người Việt
Nam Bộ còn thờ hai nhân vật con của bà Thiên Y A Na là Cậu Tài và Cậu Quý [Võ
Văn Thành 2013: 125]
Về mặt tín ngưỡng tôn giáo, cộng đồng cư dân Nam Bộ có những điểm tương đồng là chịu ảnh hưởng Bàlamôn, Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo nhưng đều không sâu đậm ổn định như ở đại bàn gốc của các cộng đồng dân tộc đó
Từ những cơ sở của biến đổi văn hóa Việt , tín ngưỡng Nam Bộ phản ánh rất
rõ những đặc trưng nông nghiệp lúa nước của nền văn hóa Việt Nam Ðó là: sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên (tín ngưỡng sùng bái tự nhiên) : là sự phản ánh đậm nét nguyên lý Âm - Dương (từ đối tượng thờ cúng như Trời - Ðất, Chim Thú, Rừng - Nước, cơ quan sinh dục Nam - Nữ cho đến cách thức giao lưu giữa con người và thần linh, trần gian và cõi linh thiêng ) là khuynh hướng đề cao nữ tính với hàng loạt nữ thần được thờ cúng ở mọi làng quê: Mẹ Trời, Mẹ Ðất, nữ thần Mây, Mưa ) là tính tổng hợp thể hiện ở tính đa thần, tính cộng đồng Tín ngưỡng của người Việt ở Nam Bộ thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái
tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người
Đến khoảng thế kỷ XVIII, văn hóa phương Tây đã theo chân những người truyền giáo, thương buôn du nhập vào vùng đất Nam Bộ Đến sau 1858, khi thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược nước ta thì văn hóa Pháp chính thức được truyền
bá vào nước ta dưới hình thức cưỡng bức về mặt chính trị Với sự quyết tâm xây
Trang 27dựng một thiết chế văn hóa mới trên vùng đất thuộc địa, văn hóa Pháp đã từng bước thâm nhập vào đời sống văn hóa Việt trên mọi phương diện
Vào đầu thế kỷ XX, phong trào Thần linh học, một môn khoa học nghiên cứu
về linh hồn của những người đã chết khá phát triển ở các nước Âu, Mỹ Đây là phương pháp rất kỳ diệu mà người ta nhờ phương pháp này để thông đồng với các Đấng Thiêng Liêng ở cỏi vô hình [Thiền Giang 1976: 10] Thần linh học được truyền
bá vào Việt Nam mà trước tiên là Nam Bộ qua giới trí thức bằng con đường báo chí
và sách vở
Chính nhờ hình thức xây bàn (của Thần linh học) này mà về sau một bộ phận công chức Việt như Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang… cùng với những người say mê thuật cầu cơ như Ngô Văn Chiêu, Vương Quan
Kỳ, Võ Văn Sang, Lý Trọng Quý,… đã dùng nó để làm cơ sở sáng lập nên Cao Đài
ở Nam Bộ [Huỳnh Ngọc Thu 2017: 14]
1.3.3 Lịch sử hình thành và phát triển đạo Cao Đài
1.3.3.1 Giai đoạn manh nha trước năm 1925
Cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX- đầu thế
kỷ XX càng trở nên trầm trọng với các sự kiện đàn áp chính trị của chính quyền thuộc địa, cảnh lầm than do đói kém, dịch bệnh… diễn ra liện tục trong đời sống nông dân Người dân tìm cách bám víu vào các tổ chức tôn giáo như Phật giáo hoặc các tôn giáo bản địa để có chổ dựa tinh thần Chính vì thế, tôn giáo ở Nam Bộ là một trong những nơi cứu cánh mà họ tìm đến Cầu cơ để mong tiếp xúc với các đấng siêu linh nhằm bàn luận thời cuộc, đàm đạo thơ văn, xin thuốc chữa bệnh, xin tiên đoán vận mệnh đất nước trong tương lai… là phong trào tôn giáo tâm linh ưa thích của một bộ phận không nhỏ cư dân Nam Bộ lúc bấy giờ Giới nhân sĩ, trí thức yêu nước cũng dựa vào hình thức cầu cơ để quy tụ lực lượng và che mắt chính quyền thuộc địa cho hoạt động chính trị của họ Do đó, vào khoảng đầu thế kỷ XX, phong trào cơ bút đã phát triển mạnh mẽ trong các cơ sở tôn giáo ở Nam Bộ [Huỳnh Ngọc Thu 2017: 15]
Trang 28Tại Sài Gòn, nhóm cầu cơ mà sau này có vai trò quan trọng trong việc gầy dựng nền đạo Cao Đài ở Nam Bộ là nhóm của ông Ngô Văn Chiêu và ông Vương Quan Kỳ, còn gọi là nhóm Chiêu – Kỳ Tài liệu đạo Cao Đài cho rằng ông Ngô Văn Chiêu là người có công đầu trong việc gầy dựng nền đạo Cao Đài ở Nam Bộ Ông Ngô Văn Chiêu làm công chức thời Pháp thuộc, là người rất say mê thuật cầu cơ Qua những buổi cầu cơ, ông đã đặt niềm tin vào “thế giới siêu linh”, một thế giới
“hư ảo” mà nội dung tôn giáo đề cập Vào năm 1919, trong một đàn cơ tại nhà ông
ở Tân An, đấng siêu linh đã xưng danh với ông là Cao Đài Tiên Ông Đến năm 1921 tại chùa Quan Âm ở Phú Quốc, đấng siêu linh ấy lại buộc ông phải ăn chay trường
ba năm, bắt đầu công việc học đạo và chỉ vẽ cách thờ tự Lúc này, danh xưng đầy đủ
là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” [Huỳnh Ngọc Thu 2017: 16- 18]
Đến năm 1925, tại Sài Gòn xuất hiện một đàn cơ mới của Cao Quỳnh Cư- Phạm Công Tắc- Cao Hoài Sang (gọi tắt là Cư tắc Sang) Việc xây bàn theo Thông linh học phương Tây Ban đầu nhóm dùng phương pháp xây bàn và được cho là tiếp xúc với Thượng Đế qua danh hiệu AĂÂ vào khoảng tháng 9 năm 1925 Đến ngày 16-12-1925, nhóm chuyển sang dùng đại ngọc cơ để cầu cơ theo phương pháp cổ truyền của Đạo giáo và lần đầu tiên vị tiên giáng cơ xưng danh: NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ VIẾT CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG [Đặng Nghiêm Vạn (cb) 1995: 105-110]
1.3.3.2 Giai đoạn chính thức khai đạo và hình thành Hội Thánh Cao Đài (1926 -1934)
Theo sử Cao Đài, vào đêm Noel năm 1925, trong một buổi cầu cơ bình thường như những buổi khác, những người cầu cơ đã tuyên bố rằng Đấng thiêng liêng xuất hiện nói rõ tá danh là Cao Đài Tiên ông Đại Bồ- Tát Ma- ha- tát và đã giao cho họ lập tôn giáo mới ở phía Nam lấy tên là Cao Đài Đại đạo Tam kỳ Phổ độ, gọi tắt là Cao Đài Sau đó Cơ bút đã hợp nhất hai nhóm Cao- Phạm và Chiêu –Kỳ để chuẩn bị cho việc ra đời đạo Cao Đài Tháng 2 năm 1926, Cơ bút đã chọn 12 người có sứ mạng khai đạo qua bài thơ:
Trang 29“Chiêu Kỳ Trung độ dẫn hoài sanh Bản đạo khai Sang Quí Giảng thành Hậu Đức Tắc Cư thiên địa cảnh Hườn Minh Mân đáo thủ đài danh”
(Cụ thể là các ông: Ngô Văn Chiêu, Vương Quan Kỳ, Lê Văn Trung, Nguyễn Văn Hoài, Đoàn Văn Bản, Cao Hoài Sang, Nguyễn Văn Quí, Lê Văn Giảng, Nguyễn Trung Hậu, Trương Hữu Đức, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc; các ông: Hườn, Minh, Mân là ba đồng tử phò cơ) [Nguyễn Thanh Xuân 2007: 315]
Sau khi hợp nhất hai nhóm Cơ bút, phong trào Cao Đài phát triển lan rộng thu hút được thêm nhiều công chức, trí thức, nghiệp chủ, điền chủ ở Nam Bộ tham gia Chỉ trong thời gian ngắn, số người theo Cao Đài lên đến hơn chục ngàn người Thấy lực lượng khá đông đảo, những người lãnh đạo Cao Đài thấy cần thiết phải tổ chức
lễ khai đạo, công khai hóa sự hiện diện của cộng đồng Cao Đài Ngày 27 tháng 10 năm 1926, dưới sự dẫn dắt của ông Lê Văn Trung, những người theo đạo Cao Đài đã làm đơn với 28 người đứng tên và bản chữ 247 chữ ký trình lên Thống đốc Nam Kỳ
Le Fol xin phép cho đạo Cao Đài hoạt động Giữa tháng 11 năm 1926 (ngày Rằm tháng Mười năm Bính Dần), không đợi Thống đốc Nam Kỳ đồng ý hay không, những chức sắc lãnh đạo Cao Đài tổ chức đại lễ tại chùa Gò Kén (Tây Ninh) chính thức cho
ra đời một tôn giáo mới: đạo Cao Đài, với sự hiện diện của một số quan chức người Pháp và người Việt [Nguyễn Thanh Xuân 2007: 316]
Tôn chỉ của đạo Cao Đài là "Tam giáo quy nguyên, Ng ̣ũ chi hiệp nhất", lấy
sự thương yêu làm nền tảng, lấy nhân nghĩa làm phương châm hành đạo, lấy việc phụng sự chúng sinh làm hành động, lấy sự cứu rỗi các chơn linh làm cứu cánh, phấn đấu xây dựng một xã hội đạo đức, an lạc bằng tinh thần thương yêu đồng đạo Giáo
lý của đạo Cao Đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của Cơ bút Luật lệ của đạo Cao Đài thực hiện theo Tân luật, Pháp Chánh truyền Lễ nghi của đạo Cao Đài khá cầu kì thể hiện tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” Đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn,
có nghĩa là “mắt Trời”, biểu tượng Đức Chí Tôn của đạo Cao Đài Cơ sở thờ tự có
Trang 30Toà Thánh ở Trung ương giáo hội và Thánh thất, điện thờ Phật Mẫu ở Họ đạo cơ sở [Nguyễn Thị Diệu Thúy: web]
Mô hình tổ chức của đạo Cao Đài theo 3 đài: Bát Quát Đài là đài vô vi thờ Đức Chí Tôn (Thiên Nhãn) và Phật, Tiên, Thánh, Thần; Hiệp Thiên Đài là cơ quan bảo pháp có hai chức năng thông công giữa Bát Quát Đài và Cửu Trùng Đài và bảo
vệ pháp luật Đạo, đồng thời giám sát các hoạt động của cơ quan Cửu Trùng Đài, đứng đầu Hiệp Thiên Đài là phẩm Hộ pháp; Cửu Trùng Đài là cơ quan hành pháp,
tổ chức hữu hình của đạo Cao đài, gồm 09 Viện và 9 phẩm, đứng đầu Cửu Trùng Đài
là phẩm Giáo Tông [Nguyễn Thị Diệu Thúy: web]
Sau ngày khai đạo, những chức sắc lãnh đạo giáo hội Cao Đài tiến hành xây dựng Toà Thánh, phát triển các thánh thất, điện thờ, xây dựng giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Giáo hội Trong 2 năm 1926 - 1927, thông qua Cơ bút đạo Cao Đài
đã tập trung xây dựng xong hai văn bản quan trọng qui định luật lệ, lễ nghi và tổ chức Giáo hội là Pháp Chánh truyền và Tân luật Vì vậy, đến năm 1930 hoạt động tại Toà Thánh dần dần được củng cố và đi vào nề nếp, những chức sắc thường trực đã thực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ, các cơ sở đạo phát triển, tổ chức Giáo hội hình thành từ Trung ương đến cơ sở theo 5 cấp hành chính đạo [Nguyễn Thị Diệu Thúy: web]
Từ 1931 đến 1934, mâu thuẫn giữa một số chức sắc Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài ngày càng nặng nề, tình hình nội bộ Giáo hội mất đoàn kết ngày càng tăng, một số chức sắc cao cấp bất đồng với Toà Thánh đã tự hoạt động theo ý riêng, tiến hành lập nhiều đàn cơ để lôi kéo tín đồ Vì vậy, nội bộ chức sắc xuất hiện tư tưởng ly khai khỏi Toà Thánh như các ông Nguyễn Văn Ca, Nguyễn Hữu Chính, Trần Đạo Quang, Nguyễn Ngọc Tương, Lê Bá Trang, các vị chức sắc rời Toà Thánh Tây Ninh về các địa phương lập ra các chi phái Cao Đài mới như: Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Cao Đài Tiên Thiên, Cao Đài Chơn lý, Cao Đài Minh Chơn đạo, Cao Đài Bạch y [Nguyễn Thị Diệu Thúy: web]
Trang 311.3.3.3 Giai đoạn phát triển sau 1934 cho đến hiện nay
Giai đoạn từ 1935 đến 1975, đạo Cao Đài phát triển mạnh mẽ nhất nhưng cũng xảy ra tình trạng phân chia thành nhiều chi phái, đã có lúc lên đến hơn 30 phái Cao Đài khác nhau Số lượng tín đồ đạo Cao Đài cũng phát triển nhanh chóng đến hơn 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở Nam Bộ và một vài tỉnh ở miền Trung, miền Bắc [Nguyễn Thị Diệu Thúy: web]
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay, sau năm 1975, các phái Cao Đài không hoạt động theo mô hình tổ chức cũ Các Hội Thánh Cao đài xây dựng tổ chức hành chính đạo theo hai cấp: cấp Trung ương là Hội Thánh, cấp cơ sở là Họ đạo Từ năm 1995 đến năm 2000, lần lượt 09 Hội Thánh Cao Đài có đông chức sắc, tín đồ tổ chức Đại hội thông qua Hiến chương, chương trình hành đạo, xây dựng tổ chức giáo hội 2 cấp, hoạt động theo 3 hội: Thượng Hội, Hội Thánh, Hội Nhơn sanh và xác định đường hướng hành đạo “Nước vinh, Đạo sáng” [Nguyễn Thị Diệu Thúy: web]
Hiện nay, đạo Cao Đài có 09 Hội Thánh có tổ chức giáo hội gồm: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Cao Đài Tiên Thiên, Cao Đài Minh Chơn đạo, Truyền giáo Cao Đài, Cao Đài Cầu Kho Tam Quan, Cao Đài Chơn lý, Cao Đài Chiếu Minh Long Châu, Cao Đài Bạch y [Nguyễn Thị Diệu Thúy: web]
Ngoài ra, đạo Cao Đài còn có tổ chức Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi là pháp môn tu hành của đạo Cao Đài theo “Nội giáo tâm truyền” không
có chức sắc, không lập giáo hội, chỉ chuyên tu tâm, luyện tánh theo truyền dạy của ông Ngô Minh Chiêu (được công nhận năm 2010) Giáo hội Cao Đài Việt Nam (Bình Đức) cũng là một phái Cao Đài có tổ chức Giáo hội 02 cấp nhưng mới được cấp đăng
ký hoạt động tôn giáo năm 2009 [Nguyễn Thị Diệu Thúy: web]
Bên cạnh các tổ chức giáo hội, đạo Cao Đài còn có trên 20 tổ chức Cao đài hoạt động độc lập không phụ thuộc vào các tổ chức Hội thánh nêu trên như: Cao Đài Thượng đế, Cao Thượng Bửu Toà, Nam Thành Thánh Thất, Cơ quan Phổ thông giáo
lý Đại đạo, Liên Hoa Cửu Cung Thiên đạo học đường, Thánh tịnh Tân Minh Quang, Thánh tịnh Huỳnh Quang Sắc, Thánh tịnh Thiên Trước, Thánh thất Bàu Sen [Nguyễn Thị Diệu Thúy: web]
Trang 32Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao Đài, đến nay đạo Cao Đài có trên
1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo
cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao Đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao Đài) [Nguyễn Thị Diệu Thúy: web]
Hiện nay, thống kê mới nhất của Ban Tôn giáo Chính phủ (năm 2015), tổng
số lượng chức sắc, chức việc, tín đồ của Cao Đài ở Việt Nam gần 2,7 triệu người.[ Dẫn theo Huỳnh Ngọc Thu 2017: 28]
Nhìn chung, đạo Cao Đài ra đời trong bối cảnh lịch sử nhất định và phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng cư dân Nam Bộ với tôn chỉ hòa bình, tự do, dân chủ Cơ
sở của đạo Cao Đài là người nông dân yêu nước, trong khi hạt nhân lãnh đạo lại là những trí thức, công chức do Pháp đào tạo và làm việc cho Pháp Về mặt tín đồ mà nói, thì mong muốn đoàn kết, độc lập, tự do, hạnh phúc vẫn là tư tưởng chủ đạo Người tín đồ Cao Đài gắn bó với đạo vì tư tưởng đoàn kết tương trợ, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, trong sản xuất và trong sinh hoạt xã hội
Trang 33Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật trong công cuộc hiện đại hóa thế giới đã thúc đẩy sự giao lưu mạnh mẽ giữa các quốc gia cũng như các nền văn hóa trên thế giới Đời sống của con người đã có những thay đổi rõ rệt cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thế giới đã bắt đầu xuất hiện một số “tôn giáo mới” mở đầu cho “Phong trào tôn giáo mới” bùng nổ trên toàn cầu
Việt Nam cũng không thoát khỏi quy luật chung đó Với những tiền đề tự nhiên, văn hóa của Nam Bộ trong bối cảnh chính trị- xã hội đầu thế kỷ XX, vùng đất này đã sản sinh cho Việt Nam một số tôn giáo mới gắn liền với xu thế hỗn dung và tích hợp các tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống đã suy thóai trước đó, mà đạo Cao Đài là một đại diện tiêu biểu
Lịch sử hình thành và phát triển của đạo Cao Đài từ lúc manh nha (trước năm 1925) đến hiện nay gắn liền với bối cảnh Nam Bộ, trên nền tảng tư tưởng văn hóa phương Đông trong sự gặp gỡ, giao lưu với văn hóa phương Tây Hệ tư tưởng, tôn chỉ, nội dung giáo lý, lễ nghi… Cao Đài từ trước đến nay vẫn luôn đề cao tinh thần dung hợp các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam, các giá trị văn hóa của các dân tộc khác, tinh thần hòa đồng tôn giáo đã tạo nên một nét đặc trưng nổi trội của đạo Cao Đài
Trang 34CHƯƠNG 2 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM TÍNH DUNG
HỢP CỦA ĐẠO CAO ĐÀI 2.1 Nguồn gốc hình thành tính dung hợp văn hóa của đạo Cao Đài
Đạo Cao Đài là một tôn giáo của người Việt Nam được hình thành ở mảnh đất Nam Bộ trong bối cảnh đầu thế kỷ XX Đây là một tôn giáo có tính dung hợp các tôn giáo lớn trên thế giới (chủ yếu là Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và Công giáo)
Có thể nói tính dung hợp là đặc điểm chính của tôn giáo này, nó phản ánh một cách
rõ nét đặc điểm của tính cách văn hóa Nam Bộ, như một phần của văn hóa Việt Nam,
mà Trần Ngọc Thêm cũng đã xác định : “Tính cách văn hóa người Việt Nam Bô ̣ là sản phẩm tổng hợp của ba nhân tố chính: truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam tiếp biến với văn hóa phương Tây trong bối cảnh tư ̣ nhiên - xã hội Nam Bộ” [Trần Ngọc
Thêm 2008] Vì vậy, khi tìm hiểu về nguồn gốc hình thành tín dung hợp của đạo Cao Đài như là một đặc tính của văn hóa Nam Bộ ta cần phân tích cả ba yếu tố trên
2.1.1 Nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam
Văn hóa Nam Bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam có hơn 4000 năm lịch sử Những người Việt từ vùng Thuận Quảng vào khai phá vùng đất Nam Bộ đã mang theo vốn văn hóa được đúc kết từ hàng ngàn năm của
dân tộc Dân Nam Bộ là dân có gốc gác khắp các vùng trong cả nước, mà nhiều nhất
là dân Thuận Quảng, phong tục tập quán của Nam Bộ từ buổi đầu là sự tiếp tục dòng phong tục tập quán Bắc Bộ, Trung Bộ mà sâu đậm nhất là vùng Thuận Hóa trở vào
Trang 35Những người Việt đi vào Nam khẩn hoang, mở đất thành phần chủ yếu là những người nông dân và thợ thủ công nghèo khổ bị bần cùng hóa, những tù nhân bị lưu đày, hay những người trốn tránh binh dịch… họ là những người thuộc tầng lớp thấp nhất của xã hội phong kiến lúc bấy giờ nên hành trang văn hóa họ mang theo cho mình đến vùng đất mới khá ít ỏi chủ yếu những phong tục tập quán dân gian và những đặc tính cơ bản của những cư dân nông nghiệp như tính tổng hợp, linh hoạt
và truyền thống tín ngưỡng đa thần của văn hóa truyền thống Việt Nam, đó là những đặc tính đã góp phần tạo nên tính dung hợp trong văn hóa của người Việt Nam Bộ- chủ thể chính hình thành đạo Cao Đài
2.1.1.1 Tính tổng hợp và tính linh hoạt trong văn hóa
Văn hóa Việt Nam hình thành trên nền của văn hóa Nam – Á và Đông Nam
Á với đặc điểm tự nhiên nhiệt đới đã sinh ra nền văn hóa gốc Nông nghiệp trồng lúa nước Chính lối sống nông nghiệp phụ thuộc vào tự nhiên đã hình thành cho người Việt lối nhận thức tư duy tổng hợp
Nghề nông, nhất là nông nghiệp lúa nước sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều Không phải chỉ phụ thuộc vào hiện tượng riêng lẽ nào, mà là cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả: trời, đất, nắng, mưa… Nắng, mưa nhiều quá, hoặc không nắng, không mưa đều nguy hiểm cả Đó chính là đầu mối của lối tư duy tổng hợp kéo theo biện chứng Cái mà người làm nông nghiệp quan tâm không phải là tập hợp của các yếu tố riêng rẽ mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng Tổng hợp có nghĩa là bao quát được mọi yếu tố, con biện chứng là chú trọng đến mối quan hệ giữa chúng
Đó chính là đặc trưng tư duy của văn hóa gốc nông nghiệp mà nông nghiệp lúa nước
là điển hình [Trần Quốc Vượng 1998: 70]
Một đặc tính thứ hai của tính cách văn hóa Việt Nam đó là tính linh hoạt Tính linh hoạt được Trần Ngọc Thêm nhắc đến như một trong các đặc điểm quan trọng
của văn hóa Việt Nam: “Việc chú trọng các mối quan hệ cũng dẫn đến một lối ứng
xử năng động, linh hoạt có khả năng thích nghi cao với mọi tình huống, mọi biến đổi Tính động, linh hoạt này xuất hiện khắp nơi- trong cách nghĩ; trong nghệ thuật giao tiếp, thanh sắc, hình khối; trong cách ăn, cách mặc, cách ở; trong cách tiếp
Trang 36nhận các giá trị văn hóa có nguồn gốc ngoại sinh, trong cách thức tiến hành chiến tranh, hoạt động ngoại giao bảo vệ đất nước” [Trần Ngọc thêm 2006: 577]
Từ hai đặc điểm trên của cư dân nông nghiệp đã hình thành nên một đặc tính
mới của văn hóa Việt Nam đó là tính dung hợp Sự kết hợp lối ứng xử tổng hợp với
linh hoạt tạo nên ở người Việt Nam một tinh thần dung hợp rộng rãi Tính dung hợp này khiến cho mọi tôn giáo du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận và phát triển chứ không có tình trạng xung đột hoặc một tôn giáo độc tôn như ở khu vực các quốc gia Đông Nam Á còn lại: ở Mianma, Campuchia, Lào, Thái Lan là Phật giáo tiểu thừa; ở Indonexia là Hồi giáo; ở Philippin là Kito giáo [Trần Ngọc thêm 2006: 578]
2.1.1.2 Truyền thống tín ngưỡng đa thần
Đời sống văn hóa nông nghiệp gắn liền, phụ thuộc với các yếu tố tự nhiên, chính vì quá phụ thuộc vào tự nhiên khiến cho con người có tâm lý kính sợ các hiện tượng thiên nhiên, nên việc thờ cúng các vị thần tự nhiên đã sớm hình thành trong
văn hóa Việt Tổ tiên ta ở đời thượng cổ tín ngưỡng một thứ tự nhiên đa thần giáo,
tin rằng phàm các hiện tượng và thế lực tự nhiên ở trong vũ trụ, như trời đất, mưa gió, sông núi, đều có thần linh chủ trương Những tín ngưỡng ấy về sau chịu ảnh hưởng của những điều tín ngưỡng quỷ thần của Trung Quốc mà thành nền gốc tôn giáo của nước ta [Đào Duy Anh 2014: 188]
Người Việt Nam tôn thờ và tin tưởng tất cả những sức mạnh hữu hình hay vô hình, do đó tất cả đời sống tôn giáo của ta đã dựa vào một tin tưởng vững chắc: sự hiện diện của thần linh ở khắp mọi nơi, ở trong nhà, ở ngoài sân, ở vườn, trên ngọn cây, ở đình làng và bất cứ nơi nào có một miếu thờ hoặc hoàn cảnh thuận tiện cho sự trú ngụ của một vị thần [Toan Ánh 1991: 109]
Tín ngưỡng truyền thống từ bao đời nay của tộc người Việt là tín ngưỡng đa thần: Thành Hoàng, Tổ tiên, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Mẫu… Các vị thần đó đồng thời tồn tại, không mâu thuẫn mà lại bổ sung cho nhau Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng– tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách
Trang 37thụ động, mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa Vì vậy,
ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển, thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ
vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Đó là một loại hình tín
ngưỡng đa thần, phiếm thần chấp nhận tính đa nguyên phi độc tôn và tính khoan dung trong nhận thức giáo lý cũng như trong việc hành lễ, thờ cúng nơi điện thần
[Nguyễn Thừa Hỷ 2011: 251]
2.1.2 Điều kiện tự nhiên Nam Bộ
Nam Bộ là vùng đất mới, được người Việt khai phá cách đây hơn 300 năm, với vị trí địa lý nằm ở dải đất cuối cùng của Việt Nam Vùng đất này, với những điều kiện tự nhiên đặc biệt khác hẳn với Bắc Bộ và Trung Bộ, đã góp phần hình thành nên một mảng màu mới cho bức tranh văn hóa Việt Nam
Nam Bộ có 3 mặt giáp biển, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc và tây Bắc giáp Campuchia và một phần phía Tây Bắc giáp Nam Trung Bộ Nam Bộ với vị trí trung tâm Đông Nam Á, được xem là vùng đất tiếp giáp của văn hóa Đông Bắc Á và Đông Nam Á, nằm trên con đường giao thương hàng hải nhộn nhịp của các thuyền buôn Ấn Độ, Trung Hoa, và các nước
phương Tây từ thế kỷ XVI-XVII cho đến tận ngày nay Do vậy, từ rất sớm, Nam bộ
đã là nơi hội tụ, gặp gỡ của các luồng văn hóa Đông –Tây, một giao điểm động, thoáng mở Nam Bộ được xem như một tiểu vùng văn hóa ở vào vị trí “ngã tư đường của các cư dân và nền văn hóa, văn minh” [Đinh Văn Hạnh 1999: 12]
Nam Bộ nằm trên lưu vực hai hệ thống sông lớn là sông Đồng Nai và sông Cửu Long, hai hệ thống sông này đã tạo nên một vùng đồng bằng châu thổ phì nhiêu vào rộng lớn nhất Đông Nam Á Hai hệ thống sông này có các cửa sông đổ ra biển Đông, tạo cho Nam Bộ một vị thế mở, dễ dàng đón nhận, tiếp cận với thế giới bên ngoài
Nam Bộ nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, một năm có hai mùa : mùa mưa và mùa khô Khí hậu nóng ẩm mưa nhiều ít có thiên tai, lũ lụt, hạn hán Nam Bộ được coi là có khí hậu thuận lợi cho nền nông nghiệp truyền thống của người Việt
Trang 38Đất Nam Bộ, cách đây 300 năm, khi người Việt chưa khai phá, vẫn còn là vùng đất hoang vu, đầm lầy đầy những muỗi mồng, rắn rít cực độc Rừng rậm nhiều lau sậy chứa đựng những hiểm nguy khôn lường, những ác thú như cọp, gấu, cá sấu
có thể giết và ăn thịt người Đó là những khó khăn ban đầu của công cuộc khai khẩn vùng đất mới, tuy nhiên nhìn chung thì thiên nhiên Nam Bộ khá ưu đãi cho những
lưu dân trong công cuộc mở cõi về phương Nam Đây là vùng đất bị bỏ hoang qua
nhiều thế kỷ, dân cư thưa thớt, nên tài nguyên tích tụ, Thiên nhiên vô cùng giàu có
và ưu đãi con người Nói như Sơn Nam, “so với một số địa phương khác thì đồng bằng sông Cửu Long là nơi lạc thổ” [Trần Ngọc Thêm 2013: 740] Chỉ trong vài thế
kỷ, cư dân Việt (cùng với người Hoa, người Chăm và người Khmer) đã khai khẩn được một vùng đất Nam Bộ rộng lớn, bao gồm cả Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long
Với những đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu, thiên nhiên nêu trên, cùng với một số yếu tố khác cộng hưởng, đã hình thành nên hai đặc điểm trong tính cách văn hóa Nam Bộ, góp phần tạo nên tính dung hợp của đạo Cao Đài là: tính thoáng mở và tính bao dung
-Tính thoáng mở
Nam Bộ là vùng đồng bằng rộng lớn, cư dân thưa thớt cư dân Nam Bộ thường xây dựng nhà cách xa nhau và rải rác dọc theo các con sông, trục lộ chính Làng ở Nam Bộ cũng được tạo lập với cấu trúc mở không có tường rào hay bị giao bọc giới
hạn trong các lũy tre làng như ở Bắc Bộ Vì làng có cấu trúc mở cho nên ảnh hưởng
từ bên ngoài dễ thâm nhập vào làng và tinh thần bảo thủ của dân làng thường là thấp [Đinh Gia Khánh 1993: 329] Ngoài mặt mở về cấu trúc thì làng Nam Bộ còn
mang tính mở về mặt thiết chế Giải thích lý do hình thành thiết chế mở ở làng Nam
Kỳ, điều mà làng Trung Kỳ và Bắc Kỳ không có, Thạch Phương lập luận rằng Nam
Kỳ là đất mới do lưu dân khai phá, “nên làng xóm ở đây có lịch sử hình thành và phát triển ngắn hơn làng ở Bắc và Trung Các sinh hoạt của cộng đồng thôn xã cũng lỏng lẻo hơn, không bị ràng buộc bởi hệ thống quy tắc chặt chẽ và những nghi thức rườm rà, phiền phức như ở nơi đất cũ” [Lê Anh Dũng 2009:15]
Trang 39Nam Bộ với vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao thương, gặp gỡ của các nền văn hóa khác nhau, không gian thiên nhiên rộng lớn, khí hậu ôn hòa, sản vật trù phú
đã hình thành ở người Việt Nam Bộ một tâm lý thoáng mở (thoáng mở với tự nhiên lẫn thoáng mở với môi trường xã hội) Tính thoáng mở trong văn hóa Nam Bộ đã góp phần tạo nên tính cởi mở, ít thành kiến của người Nam Bộ, họ dễ dàng chấp nhận
và tiếp thu những cái mới là nguồn gốc hình thành nên tính dung hợp của đạo Cao Đài
Văn hóa Việt Nam có tính dân chủ và bao dung Môi trường tự nhiên ở Nam
Bộ hào phóng, lúa gạo cây trái Nam Bộ dồi dào, giao thông sông nước Nam Bộ thuận tiện, thôn ấp Nam Bộ tổ chức theo lối mở… đã khiến cho người Nam Bộ phát triển
tư duy mở thoáng, có tính dân chủ và bao dung càng mạnh [Trần Ngọc Thêm 2013: 7]
Tính bao dung đã được Trần Ngọc Thêm nhắc đến trong hệ thống tính cách
văn hóa Nam Bộ, ông cho rằng: “Tính bao dung Nam Bô ̣ có nguồn gốc từ tính tổng
hợp và đă ̣c trưng thiên về âm tính của truyền thống văn hóa dân tộc, đă ̣t trong bối
cảnh nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận tiện Ba trong bốn hằng số văn
hóa Nam Bô ̣ đều mang tính tổng hợp rồi: Hằng số 1 (là nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận tiện), hằng số 2 (là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế), hằng số 3 (là nơi gặp gỡ của cư dân nhiều tộc người đến từ khắp mọi miền đất nước và khu vực)” [Trần Ngọc Thêm 2008: web]
Khi nói về tính bao dung của người Việt miền Tây Nam Bộ (một phần của
văn hóa Nam Bộ) Trần Phú Huệ Quang cũng đã có những nhận định: Tính bao dung
(khoan dung) là giá trị nằm trong hệ thống “chân – thiện – mỹ” mà nhân loại toàn
Trang 40cầu đánh giá cao, đã và đang hướng tới Người Việt Nam cũng hiểu rất rõ chân lý
“dây chùn khó đứt”, rất mở rộng tấm lòng để cùng chung sống trong hòa bình, về đối nội lẫn đối ngoại Người miền Tây được tôi luyện trong môi trường sống bất ổn, bấp bênh, xa lạ và chông gai, giá trị cao nhất của việc mở rộng lòng là để cùng sinh tồn Như một quy luật của triết lý âm dương, cảm giác bơ vơ, sợ hãi trước môi trường sống mới lớn bao nhiêu, thì “tấm lòng”, “tình người” rộng mở lớn bấy nhiêu Tính bao dung cùng với một số tính cách khác làm nên nét đặc trưng của người miền Tây
là những giá trị vô giá, tiếp tục duy trì và phát huy để tạo một môi trường sống chan hòa cùng thiên nhiên, đậm tình người cùng cộng đồng, hòa bình cùng thế giới, để tạo một vùng phát triển cao hơn với khả năng thích ứng và hội nhập nhanh Những biểu hiện của tính bao dung của người Việt biểu hiện từ việc dung nạp các thành phần xã hội: tầng lớp, cấp bậc, cư dân mới và cũ, tộc ta và khác ta đến Dung nạp và điều hòa về mặt tôn giáo tín ngưỡng [Trần Phú Huệ Quang 2011: web]
2.1.3 Quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa phương Đông
2.1.3.1 Giao lưu với văn hóa Trung Hoa
Là một quốc gia nằm cạnh một nền văn hóa lớn như Trung Hoa, thì việc giao lưu, tiếp xúc thường xuyên giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa là không thể tránh khỏi Hơn nữa, với lịch sử Việt Nam, hơn ngàn năm Bắc thuộc, thì việc ảnh hưởng Văn hóa Trung Hoa là điều tất yếu Qua mấy ngàn năm, văn hóa Trung Hoa
ít nhiều đã dần thâm nhập vào văn hóa Việt Nam và bị Việt hóa, trở thành một phần của văn hóa Việt, khác xa với nguyên thể của nó ở Trung Hoa Lịch sử giao lưu văn hóa giữa Trung Hoa và Việt Nam là cả một quá trình bền bỉ và kéo dài qua hàng thế
kỷ, từ thời Bắc thuộc cho đến khi nước ta giành được quyền tự chủ Quá trình ấy, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, sẽ có những đặc trưng riêng biệt, với mức độ giao lưu đậm nhạt là khác nhau ở mỗi thời kỳ
Thời kỳ hòa bình và ổn định kéo dài trong ba thế kỷ (XVI, XVII, XVIII) là thời kỳ giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa hai nước Việt- Trung theo con đường dân gian phát triển mạnh mẽ [Phạm Đức Dương 1998:27]