Ba thứ báu vật được nhắc đến ở đây chính là biển – nguồn sống của cư dân trên đảo, núi Halla Halla-san, 한라산 – nơi sinh trưởng của hơn 1.700 loài thực vật, và ngôn ngữ Jeju – thể hiện tro
Trang 1oOo
LƯƠNG QUỐC AN
NHỮNG ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA ĐẢO JEJU (HÀN QUỐC)
QUA TỤC NGỮ ĐỊA PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
MÃ SỐ: 60 31 50
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN VĂN TIẾNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình do tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn trực tiếp của TS Trần Văn Tiếng Các tài liệu tham khảo dùng trong luận văn
đều được trích dẫn đầy đủ tên tác giả, tên công trình, thời gian và địa điểm công bố
Học viên cao học Châu Á học khóa 2015 – 2017
Lương Quốc An
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến Thầy Trần Văn Tiếng đã hết
lòng hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Em xin
chân thành cảm ơn Thầy vì đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức quý báu cũng như
luôn luôn động viên và lo lắng cho em kể từ ngày ngồi trên giảng đường đại học
cho đến khi em hoàn thành được đề tài luận văn này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô của Khoa Đông Phương, Trường
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng
dạy và hỗ trợ, tạo điều kiện để em có thể hoàn thành tốt chương trình cao học Đồng
thời, xin cảm ơn các anh, chị, em lớp Châu Á học khóa 2015 đợt 1, khóa 2015 đợt 2
và khóa 2016 đợt 1 đã luôn động viên, giúp đỡ em trong suốt hai năm học vừa qua
Nhân đây, em cũng xin cảm ơn quý thầy cô, đồng nghiệp Khoa Ngôn ngữ và
Văn hóa Phương Đông, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí
Minh đã tạo điều kiện để em có thể vừa học tập nâng cao kiến thức, vừa yên tâm
công tác và hoàn thành công việc
Cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè đã luôn kề vai sát cánh, động viên tinh thần
cho em trong suốt những năm qua, đặc biệt là khoảng thời gian thực hiện đề tài luận
văn này
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn tất cả thầy cô, bạn hữu
Học viên cao học Châu Á học khóa 2015 – 2017
Lương Quốc An
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 8
6 Ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu 9
7 Bố cục luận văn 10
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1.1 Một số khái niệm 12
1.1.1 Khái niệm “văn hóa” 12
1.1.2 Khái niệm “tục ngữ” 15
1.1.3 Quan hệ giữa văn hóa và tục ngữ 18
1.2 Tổng quan về đảo Jeju 21
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 21
1.2.1.1 Vị trí địa lý và đơn vị hành chính 21
1.2.1.2 Điều kiện tự nhiên 22
1.2.2 Lịch sử hình thành cư dân đảo Jeju 25
1.2.3 Cộng đồng cư dân trên đảo Jeju 33
1.2.4 Phương ngữ Jeju 36
1.3 Khái quát về tục ngữ địa phương Jeju 42
1.3.1 Cấu trúc cú pháp của tục ngữ Jeju 43
1.3.2 Cấu tạo ngữ nghĩa của tục ngữ Jeju 46
1.3.3 Chất liệu sử dụng trong tục ngữ Jeju 47
Tiểu kết 50
Trang 5CHƯƠNG 2: VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA CƯ DÂN ĐẢO JEJU QUA TỤC
NGỮ ĐỊA PHƯƠNG 52
2.1 Văn hóa mưu sinh 52
2.1.1 Ý thức về giá trị của lao động 52
2.1.2 Một số nghề truyền thống trên đảo Jeju 54
2.1.2.1 Nghề biển 54
2.1.2.2 Nghề làm nông 63
2.1.2.3 Nghề chăn nuôi 72
2.2 Văn hóa ẩm thực 76
2.2.1 Ăn uống trong đời sống người Jeju 77
2.2.2 Sắc thái ẩm thực Jeju 80
2.2.1.2 Bữa ăn ngày thường 80
2.2.1.2 Bữa ăn lễ tết 85
2.3 Văn hóa trang phục 86
2.3.1 Quan niệm về ăn mặc của người Jeju 86
2.3.2 Trang phục truyền thống của người Jeju 88
2.3.3 Trang phục lặn biển của hải nữ 89
2.4 Văn hóa cư trú 90
2.4.1 Quan niệm về nhà ở của người Jeju 90
2.4.2 Nhà ở truyền thống trên đảo Jeju 92
Tiểu kết 95
CHƯƠNG 3: VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CƯ DÂN ĐẢO JEJU QUA TỤC NGỮ ĐỊA PHƯƠNG 97
3.1 Văn hóa phong tục 97
3.1.1 Phong tục hôn nhân 97
3.1.1.1 Lựa chọn đối tượng kết hôn 98
3.1.1.2 Quá trình chuẩn bị và diễn ra hôn lễ 102
3.1.1.3 Đời sống hôn nhân 105
3.1.1.4 Chế độ đa thê ở Jeju 109
3.1.2 Phong tục sinh nở 112
3.1.2.1 Quan niệm về sinh nở và con cái 112
Trang 63.1.2.2 Kiêng cử trong sinh nở 116
3.1.2.3 Một số phong tục truyền thống liên quan đến sinh nở 120
3.1.3 Phong tục tang ma 124
3.1.3.1 Chuẩn bị trước tang lễ 124
3.1.3.2 Cử hành tang lễ 125
3.1.3.3 Quá trình chôn cất người mất 127
3.1.3.4 Hậu tang lễ 129
3.1.4 Phong tục cúng kiếng 130
3.2 Văn hóa tôn giáo và tín ngưỡng 134
3.2.1 Shaman giáo 134
3.2.2 Phật giáo 140
3.2.2.1 Phật giáo ở đảo Jeju 140
3.2.2.2 Triết lý Phật giáo trong tục ngữ 141
3.2.3 Nho giáo 144
3.2.3.1 Nho giáo ở đảo Jeju 144
3.2.3.2 Tư tưởng Nho giáo trong tục ngữ 145
Tiểu kết 149
KẾT LUẬN 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156
A - Tài liệu tiếng Việt 156
B - Tài liệu tiếng Hàn 158
C - Tài liệu trên mạng 162
PHỤ LỤC: NHỮNG CÂU TỤC NGỮ ĐỊA PHƯƠNG JEJU 165
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các giai đoạn hình thành núi Halla và đảo Jeju 22
Bảng 1.2 Một vài thông số về khí hậu ở đảo Jeju năm 2014 24
Bảng 1.3 Bảng tóm tắt các sự kiện lịch sử trên đảo Jeju 31
Bảng 1.4 Biến đổi dân số toàn quốc và đảo Jeju trong 20 năm (1995 – 2015) 35
Bảng 1.5 Hệ thống phụ âm trong phương ngữ Jeju 37
Bảng 1.6 Hệ thống nguyên âm và thang nguyên âm đơn trong phương ngữ Jeju 38
Bảng 1.7 Bảng tổng hợp các dạng câu chia theo những thể kính ngữ đối phương trong phương ngữ Jeju 40
Bảng 1.8 Phân loại tục ngữ Jeju dựa theo cấu tạo câu 46
Bảng 1.9 Chất liệu con người trong tục ngữ Jeju 48
Bảng 1.10 Chất liệu sinh vật trong tục ngữ Jeju 49
Bảng 1.11 Chất liệu ăn mặc ở trong tục ngữ Jeju 50
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1 Bản đồ hành chính đảo Jeju qua các thời kỳ 33
Hình 1.2 Bản đồ phân bố đất đai trên đảo Jeju 35
Trang 8do, 삼보도) Ba thứ báu vật được nhắc đến ở đây chính là biển – nguồn sống của cư dân trên đảo, núi Halla (Halla-san, 한라산) – nơi sinh trưởng của hơn 1.700 loài thực vật, và ngôn ngữ Jeju – thể hiện trong những loại hình văn học dân gian ở địa phương
Trong ba thứ kể trên thì biển và núi Halla là hai thứ thuộc về khía cạnh tự nhiên và sinh thái, đang được chính quyền địa phương ra sức bảo tồn và gìn giữ Ngược lại, phương ngữ Jeju là báu vật đang có nguy cơ bị diệt vong cao Trong số những ngôn ngữ đang đứng trước nguy cơ bị diệt vong trên thế giới thì phương ngữ Jeju được UNESCO xếp vào vào loại “ngôn ngữ bị đe dọa rất nghiêm trọng” (critically endangered language) [81] Một khi phương ngữ Jeju biến mất và không còn ai sử dụng nữa thì kéo theo đó là sự biến mất của những loại hình văn học dân gian như tục ngữ, đồng dao, thần thoại hay truyền thuyết Vì vậy, việc nghiên cứu, bảo tồn phương ngữ Jeju là hết sức cấp thiết và đang là chủ đề được nhiều nhà ngôn ngữ học Hàn Quốc quan tâm
Trang 9Ngôn ngữ và văn hóa là hai đối tượng có mối quan hệ hữu cơ với nhau Ngôn ngữ của một cộng đồng dân cư cũng phản ánh nền văn hóa của cộng đồng dân cư ấy
ở một mức độ nào đó Đảo Jeju cũng không ngoại lệ Nằm tách biệt khỏi đất liền hơn 100km nên từ lâu cư dân trên đảo đã sáng tạo ra một nền văn hóa rất đặc trưng
và độc đáo, mang đậm màu sắc của biển Nét văn hóa ấy của họ được thể hiện rõ rệt nhất thông qua những câu tục ngữ địa phương Trải qua quá trình sinh tồn và mưu sinh giữa đại dương trong thời gian dài, người Jeju đã đúc kết được rất nhiều kinh nghiệm sản xuất, tri thức bản địa về thời tiết, thiên nhiên, biển cả cũng như nhân sinh quan, cái nhìn về cuộc đời và con người vào trong những câu tục ngữ Tìm hiểu về những câu tục ngữ Jeju là nhằm tìm ra những nét đặc trưng riêng biệt trong văn hóa của cư dân đảo Jeju để từ đó phát huy những giá trị vốn có, song song với việc bảo tồn, gìn giữ những giá trị đang dần bị mai một
Một lý do khác cũng không kém phần quan trọng thôi thúc chúng tôi lựa chọn
đề tài này là vì chúng tôi đã từng sống trên đảo Jeju trong một năm suốt nên có tình cảm đặc biệt dành cho mảnh đất này Kết quả nghiên cứu đề tài này có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo nhằm bảo tồn, quảng bá văn hóa và du lịch Jeju đến với người dân Việt Nam cũng như làm tiền đề cho những nghiên cứu về văn hóa và ngôn ngữ Jeju sau này Đặc biệt, nó cũng được dùng làm tư liệu phục vụ cho công tác giảng dạy môn Địa lý Hàn Quốc nói riêng và các môn chuyên ngành Hàn Quốc
học nói chung ở giảng đường đại học
Đồng thời, đối tượng nghiên cứu của ngành Châu Á học, Khu vực học là các vấn đề ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia, dân tộc trong khu vực châu Á đương đại Vì thế, nghiên cứu về văn hóa của cộng đồng cư dân trên đảo Jeju thông qua những câu tục ngữ địa phương là đề tài có phạm vi nghiên cứu phù hợp với chuyên ngành mà chúng tôi đang theo học
Tổng hợp những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Những đặc trưng văn hóa đảo Jeju (Hàn Quốc) qua tục ngữ địa phương” làm đề tài luận
văn thạc sĩ
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Đề tài luận văn này được thực hiện nhằm khái quát được đặc trưng của văn hóa đảo Jeju ở hai phương diện văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần qua những câu tục ngữ địa phương Thông qua quá trình chọn lọc, phân loại và phân tích những câu tục ngữ ấy, chúng tôi muốn tìm ra những nét riêng biệt về hình thức sản xuất kinh tế, văn hóa ăn – mặc – ở, các nghi lễ vòng đời, hoạt động tôn giáo – tín ngưỡng cũng như quan niệm về con người và thế giới quan của cư dân đảo Jeju
Ngoài ra, đề tài này còn góp phần giúp cho người dân Việt Nam hiểu biết hơn
về văn hóa, ngôn ngữ cũng như con người Jeju – một mảnh đất mà hiện nay chưa được nhiều nhà ngôn ngữ học, văn hóa học Việt Nam quan tâm và nghiên cứu đến
3 Lịch sử vấn đề
3.1 Trước đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và cuộc sống của cư dân trên đảo Jeju Những công trình này đã nêu lên rất cụ thể hoạt động sản xuất kinh tế, đời sống văn hóa và đời sống vật chất của người dân trên hòn đảo này Tuy nhiên, đa số đều là những công trình của các tác giả Hàn Quốc
Tác phẩm “제주도 사람들의 삶” (Cuộc sống của người dân đảo Jeju) của
Hyun Yong Joon (2009) đã đưa ra cái nhìn tổng quát về đời sống văn hóa của người dân trên đảo Jeju trên các khía cạnh như văn hóa ăn – mặc – ở, các nghi lễ vòng đời, văn hóa cộng đồng ở các ngôi làng trên đảo cũng như một số tôn giáo, tín ngưỡng bản địa với nền tảng là Shaman giáo mang đậm sắc thái đảo Jeju
Tác phẩm “제주 해양산업의 이해” (Tìm hiểu về công nghiệp biển Jeju) của
Seo Doo Ok và Lee Chang Heon (2009) có nội dung viết về một số ngành nghề liên quan đến biển ở trên đảo Jeju như nghề đánh bắt hải sản, nghề nuôi trồng thủy hải sản, nghề chăn nuôi các loại gia súc trên các nông trại ven biển Còn trong công
trình “제주도의 생산기술과 민속” (Kỹ thuật sản xuất và truyền thống của đảo Jeju) của Go Gwang Min (2004) thì lại viết về kỹ thuật sản xuất của ba nghề chính
ở Jeju đó là ngành canh tác nông nghiệp trên những thửa ruộng khô ven biển, ngành
Trang 11đánh bắt và khai thác thủy sản xa bờ và dưới đáy biển và ngành chăn nuôi các loại gia súc
Viết về văn hóa ẩm thực của đảo Jeju thì có tác phẩm “제주도 음식” (Ẩm thực đảo Jeju) của Kim Ji Sun (1998) giới thiệu về các món ăn truyền thống của cư
dân hòn đảo này trong việc vận dụng khéo léo những nguyên liệu sẵn có là các loài sinh vật biển phong phú được đánh bắt trực tiếp ở vùng biển này Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra được sự ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến các món ăn cũng như sự khác biệt của từng loại thức ăn theo mùa
Trong luận văn thạc sỹ “제주도 해녀복 연구” (Nghiên cứu về trang phục hải nữ Jeju) (1989), Kim Jung Suk đã khảo sát về lịch sử hình thành và phát triển
của loại trang phục lặn biển dành riêng cho hải nữ2 Trong công trình này, Kim Jung Suk đã phân tích từng bộ phận cụ thể trong bộ đồ lặn biển và các vật phụ kiện đi kèm Đồng thời, tác giả cũng cho thấy được sự thay đổi của bộ trang phục truyền thống của hải nữ từ quá khứ đến hiện tại nhằm thích nghi với thời đại và sự biến đổi của môi trường tự nhiên
Luận văn thạc sỹ “제주도 기후와 관련된 전통 가옥 경관 특성” (Đặc điểm cảnh quan nhà cửa truyền thống liên quan đến khí hậu của đảo Jeju) của Kim
Gi Deok (1999) đã chỉ ra sự ảnh hưởng của những yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm và gió đến kiểu dáng nhà ở của cư dân Jeju Thông qua việc khảo sát 84 ngôi làng ở hai vùng chính là vùng ven biển và trên sườn núi, tác giả đã nêu
ra được sự khác biệt giữa kiến trúc nhà ven biển và kiến trúc nhà trên sườn núi bởi ảnh hưởng của đặc điểm khí hậu và môi trường xung quanh đảo
Trong bài “제주도 해양문화 전통의 단절과 계승” (Văn hóa biển Jeju, sự gián đoạn và kế thừa truyền thống) in trong Tạp chí Văn hóa Đàm La (2013), Jo
Seong Yoon đã khảo sát về cách thức mà cư dân đảo Jeju đón nhận biển và lợi dụng
2 Hải nữ (haenyeo, 해녀) là những người phụ nữ làm nghề lặn biển để thu lượm hải sản bằng tay không chỉ
có ở Hàn Quốc và Nhật Bản nhưng phổ biến nhất ở đảo Jeju Nội dung liên quan đến hải nữ sẽ được đề cập chi tiết ở chương 2 của luận văn
Trang 12nó để sinh tồn Tác giả đã nhận định rằng, cư dân đảo Jeju chỉ được xem là “hải dân” (haemin, 해민) cho tới trước khi hòn đảo này trở thành một bộ phận của quốc gia trên đất liền là Vương triều Joseon Nghĩa là sau khi sáp nhập vào Vương triều Joseon thì văn hóa biển của cư dân đảo Jeju bị thu hẹp và gián đoạn Đồng thời, tác giả đưa ra ý kiến cần phải tìm kiếm một phương hướng tích cực trong chính sách về văn hóa biển trên lập trường của cư dân đảo Jeju
3.2 Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tục ngữ Hàn Quốc nói chung và tục ngữ địa phương Jeju nói riêng dù dưới góc nhìn của ngôn ngữ học hay là văn hóa học
Một trong những công trình tiêu biểu ở Việt Nam có thể kể đến luận án tiến sĩ
ngôn ngữ học so sánh đối chiếu của Trần Văn Tiếng (2006) với đề tài “So sánh một
số đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa của tục ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn” Thông qua
việc phân tích những câu tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc trên hai bình diện cú pháp
và ngữ nghĩa, tác giả đã làm rõ đặc điểm và sự khác nhau của cấu trúc ngữ nghĩa và cấu tạo ngữ pháp giữa tục ngữ Việt Nam và tục ngữ Hàn Quốc
Luận văn thạc sĩ “Văn hóa ứng xử của người Hàn Quốc qua tục ngữ, thành ngữ (so sánh với Việt Nam)” của Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2013) đã khái quát được
những nét đặc trưng trong văn hóa ứng xử trong quan hệ gia đình và trong quan hệ
xã hội của người Hàn Quốc thông qua những câu thành ngữ, tục ngữ Qua công trình này, tác giả đã chỉ ra được nét tương đồng và khác biệt giữa văn hóa ứng xử xã hội của người Việt Nam và người Hàn Quốc
Hai công trình kể trên đều là những công trình nghiên cứu về tục ngữ, thành ngữ của Hàn Quốc nói chung, chưa có một công trình nào ở Việt Nam lấy đối tượng nghiên cứu là tục ngữ địa phương ở Jeju Tuy nhiên, trước nguy cơ biến mất của phương ngữ Jeju thì đã xuất hiện ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu về tục ngữ địa phương Jeju ở Hàn Quốc
Bài báo “제주도 속담의 특징” (Đặc điểm của tục ngữ đảo Jeju) của Hyun
Yong Jun đăng trên Tạp chí Hyang-lim của Trường trung học Thương nghiệp Jeju,
Trang 13quyển số 1 (1959) dù chỉ là một bài viết ngắn nhưng được xem là bài viết đầu tiên nghiên cứu về tục ngữ Jeju Bằng việc phân tích hơn 180 câu tục ngữ trong số hơn
700 câu tục ngữ Jeju mà ông tìm được, tác giả đã đưa ra những phân tích cơ bản về đặc điểm của tục ngữ Jeju trên ba bình diện: chất liệu, cấu trúc và ngữ nghĩa
Tác phẩm “제주속담총론” (Tổng quan về tục ngữ Jeju) của Go Jae Hwan
(1993) cũng có thể được xem là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về tục ngữ địa phương Jeju trên các phương diện cú pháp, ngữ nghĩa Tác giả đã phân loại ra được những chủ đề thường xuất hiện trong tục ngữ Jeju như hoạt động nông – lâm – ngư nghiệp hay quan hệ ứng xử của người dân trên đảo trong gia đình và ngoài xã hội Ngoài ra, bên cạnh việc phân tích tục ngữ Jeju như một đối tượng nghiên cứu chính thì đồng thời, tác giả cũng so sánh tục ngữ Jeju với tục ngữ của vùng Jeolla-nam để cho thấy được sự khác biệt trong nội dung cũng như chất liệu được sử dụng trong những câu tục ngữ giữa hai vùng miền này
Tác phẩm “제주민의삶과문화” (Đời sống và văn hóa của cư dân đảo Jeju)
của Kim Young Don (1993) là công trình nghiên cứu chủ yếu về những bài dân ca, hải nữ và ông già đá ở Jeju dành cho những người muốn tìm hiểu văn hóa của hòn đảo này Trong mục “Những câu tục ngữ hiếm gặp về xã hội hải nữ” của tác phẩm này có đề cập đến những câu tục ngữ địa phương Jeju về nghề lặn biển của hải nữ
Ngoài ra, cũng cần kể đến tác phẩm “제주여성 속담의 미학” (Phụ nữ Jeju,
mỹ học trong tục ngữ) của Moon Soon Deok (2012) đã làm nổi bật hình ảnh người
phụ nữ Jeju xuất hiện trong những câu tục ngữ địa phương Đó là hình ảnh người phụ nữ trong cuộc sống mưu sinh (các hải nữ làm nghề lặn biển), trong những dịp nghi lễ vòng đời (hôn nhân, sinh nở, tang ma, giỗ chạp) và nhất là trong quan hệ ứng xử với nam giới (tôn trọng hoặc xem thường) Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu bật những điểm tương đồng và khác biệt của hình ảnh người phụ nữ Jeju với người phụ nữ sinh sống trên những hòn đảo khác của Hàn Quốc thông qua những câu thành ngữ địa phương ở những hòn đảo đó
Trang 14Bên cạnh việc phân tích và nghiên cứu những câu tục ngữ địa phương Jeju thì cũng có nhiều công trình thu thập những câu tục ngữ địa phương Jeju và được biên
soạn thành từ điển tục ngữ Sớm nhất có thể kể đến tác phẩm “제주도 방언집” (Tuyển tập phương ngữ Jeju) của Seok Ju Myeong (1947) với 22 câu tục ngữ và tác phẩm “속담론” (Thảo luận về tục ngữ) của Kim Sa Yeop (1953) với 103 câu tục ngữ được thu thập Sau đó, trong tác phẩm “제주도 속담” (Tục ngữ đảo Jeju) của
Jin Seong Gi (1958) đã sưu tầm được hơn 400 câu tục ngữ nhưng đó không chỉ có tục ngữ địa phương Jeju mà còn bao gồm cả những câu tục ngữ toàn dân được sử dụng phổ biến trên đảo Jeju
Đặc biệt, tác phẩm “제주속담사전” (Từ điển tục ngữ Jeju) của Go Jae Hwan
(1999) có thể được xem là công trình tập hợp tục ngữ Jeju đầy đủ và chi tiết nhất Trong quyển từ điển này, tác giả đã liệt kê được hơn 1640 câu tục ngữ địa phương Jeju mà ông tìm được trong suốt 20 năm (từ năm 1978 đến năm 1997) Trong số hơn 1640 câu tục ngữ này, có đến hơn 1200 câu được liệt kê kèm theo những giải thích ý nghĩa, trường hợp sử dụng cũng như những câu tục ngữ tiếng Hàn có nghĩa tương đương với câu tục ngữ đó Bên cạnh đó, tác giả cũng thu thập và đưa vào quyển từ điển này hơn 430 câu tục ngữ không phải là tục ngữ địa phương nhưng được cư dân trên đảo sử dụng phổ biến
Nhìn chung, ở Hàn Quốc cũng như Việt Nam cũng đã có những công trình nghiên cứu về văn hóa Jeju, tục ngữ, thành ngữ Hàn Quốc và tục ngữ địa phương Jeju nhưng chúng tôi thấy rằng, chưa có nhiều công trình khái quát toàn bộ văn hóa Jeju thể hiện qua các câu tục ngữ mà chỉ có các công trình nghiên cứu một số nét
hoặc yếu tố nhất định Đồng thời, những công trình nghiên cứu của Hàn Quốc về
văn hóa Jeju đa số cũng chỉ đi sâu vào từng khía cạnh riêng biệt của đời sống cư dân nơi đây chứ chưa có một công trình nào tổng quát hết toàn bộ đời sống của cư dân Jeju trên cả hai phương diện văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, những công trình kể trên là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng kết hợp với kết quả
Trang 15phân loại và phân tích tục ngữ Jeju sẽ giúp ích cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu về văn hóa của cư dân đảo Jeju
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là văn hóa đảo Jeju (Hàn Quốc) được thể hiện qua những câu tục ngữ địa phương Luận văn sẽ trình bày lần lượt các yếu
tố của văn hóa Jeju biểu hiện trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cư dân trên đảo
Bên cạnh đó, đối tượng nghiên cứu của đề tài còn là những câu tục ngữ địa phương Jeju có liên quan đến văn hóa vì đó là tư liệu khảo sát chính để chúng tôi tìm hiểu về văn hóa đảo Jeju
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi chỉ giới hạn ở đảo Jeju (Hàn Quốc) Về mặt thời gian, vì tục ngữ có tính lịch sử và tính kế thừa, ra đời từ rất lâu trong lịch sử và được truyền lại cho đến ngày nay nên phạm vi nghiên cứu của luận văn là từ truyền thống đến hiện đại
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Bằng việc nghiên cứu văn hóa của đảo Jeju thông qua những câu tục ngữ địa phương, đề tài luận văn góp phần khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Bên cạnh đó, ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về văn hóa vùng miền cũng như phương ngữ của quốc gia khác Vì vậy, luận văn cũng sẽ trở thành nguồn tư liệu phục vụ cho những công trình khoa học sau này thuộc nhóm đề tài văn hóa và ngôn ngữ địa phương, đặc biệt là đảo Jeju của Hàn Quốc
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 16Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn này có thể được sử dụng trong học tập
và giảng dạy một số môn học thuộc chương trình đào tạo của chuyên ngành Hàn Quốc học, Văn hóa học, Văn học ở Việt Nam Đồng thời, nó sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho những người muốn tìm hiểu về văn hóa bản địa của cư dân đảo Jeju, nhất là những người đang công tác trong lĩnh vực du lịch tại Việt Nam và Hàn Quốc
6 Ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu
6.1 Ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu chính mà chúng tôi sử dụng để hoàn thành đề tài luận văn này
là hơn 1600 câu tục ngữ địa phương Jeju được tổng hợp trong quyển
“제주속담사전” (Từ điển tục ngữ Jeju) của Go Jae Hwan (2013) vì cho đến hiện
nay, đây là quyển từ điển đầy đủ nhất về những câu tục ngữ địa phương Jeju ở Hàn Quốc Công trình này hiện vẫn chưa được biên dịch sang tiếng Việt
Bên cạnh đó, trong quá trình khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi còn tham khảo thêm những công trình nghiên cứu khác, sách chuyên khảo, bài báo khoa học đã được công bố có liên quan đến văn hóa và tục ngữ Jeju
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu về văn hóa đảo Jeju thông qua việc khảo sát những câu tục ngữ địa phương là công việc đòi hỏi phải áp dụng nhiều phương pháp Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ áp dụng ba phương pháp nghiên cứu chính, bao gồm:
Phương pháp phân loại và tổng hợp
Đây là phương pháp chính được áp dụng xuyên suốt đề tài luận văn Áp dụng phương pháp này nhằm tìm ra những câu tục ngữ Jeju có liên quan đến văn hóa, sau
đó phân loại những câu tục ngữ có cùng chủ đề theo từng phương diện của văn hóa
để phân tích chúng
Phương pháp so sánh đối chiếu
Trang 17Phương pháp này được áp dụng nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa văn hóa đảo Jeju với văn hóa của những vùng miền khác của Hàn Quốc, giữa những câu tục ngữ địa phương Jeju và những câu tục ngữ tiếng Hàn khác để từ
đó tìm ra nét đặc trưng của văn hóa đảo Jeju
Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Phương pháp nghiên cứu liên ngành là phương pháp áp dụng những tri thức và
lý thuyết tiếp cận từ nhiều ngành khoa học khác nhau có liên quan đến đề tài luận văn để nghiên cứu và là xu hướng quan trọng trong nghiên cứu Khu vực học, trong
đó có ngành Châu Á học Khi áp dụng phương pháp này, người nghiên cứu phải xác định ngành nghiên cứu chính và các ngành bổ trợ Đối với đề tài luận văn này, chúng tôi xác định Đông Phương học là ngành nghiên cứu chính và các ngành bổ trợ khác bao gồm Văn hóa học, Ngôn ngữ học, Nhân học, Lịch sử, Địa lý…
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn có ba chương chính:
Chương 1: Những vấn đề lí luận và thực tiễn
Chương này sẽ giới các khái niệm và thuật ngữ có liên quan đến đề tài luận văn như văn hóa, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, tục ngữ và mối quan hệ giữa văn hóa và tục ngữ Bên cạnh đó, chúng tôi cũng khái quát về địa bàn mà chúng tôi nghiên cứu là hòn đảo Jeju (bao gồm vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành và phát triển của đảo, cộng đồng dân cư và phương ngữ Jeju) và tục ngữ Jeju (bao gồm cấu trúc cú pháp, cấu tạo ngữ nghĩa và chất liệu sử dụng trong tục ngữ Jeju)
Chương 2: Văn hóa vật chất của cư dân đảo Jeju qua tục ngữ địa phương
Chương này trình bày về văn hóa vật chất của cư dân đảo Jeju trên cơ sở khảo sát những câu tục ngữ địa phương có liên quan Về văn hóa mưu sinh, chúng tôi sẽ nghiên cứu về các ngành, nghề chính của cư dân Jeju như nghề đánh bắt cá và các sinh vật biển, nghề nông nghiệp ven biển, nghề chăn nuôi gia súc và gia cầm Về
Trang 18đời sống vật chất, chúng tôi sẽ tìm ra nét đặc trưng của văn hóa Jeju trong ba khía
cạnh là ẩm thực, trang phục, nhà cửa
Chương 3: Văn hóa tinh thần của cư dân đảo Jeju qua tục ngữ địa phương
Cũng thông qua việc khảo sát những câu tục ngữ Jeju, ở chương này chúng tôi
sẽ trình bày các mặt trong đời sống tinh thần của cư dân đảo Jeju như các phong
trục truyền thống như hôn nhân, sinh nở, tang ma, cúng kiếng , lồng ghép vào đó
là những điều mê tín và cấm kị trong đời sống và hình ảnh của người phụ nữ Mặt
khác, chúng tôi cũng trình bày về các tôn giáo, tín ngưỡng phổ biến của người dân
Jeju như tín ngưỡng Shaman giáo, Phật giáo và Nho giáo
Phần phụ lục của luận văn là tập hợp những câu tục ngữ địa phương Jeju xuất
hiện trong đề tài được chúng tôi chọn lọc và biên dịch sang tiếng Việt
Trang 19CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm “văn hóa”
1.1.1.1 Văn hóa là một khái niệm khá phức tạp và đa dạng Tùy theo góc độ
và phương pháp tiếp cận mà giới nghiên cứu văn hóa đã đưa ra những định nghĩa và cách giải thích khác nhau
Nhà nhân học Edward Burnett Tylor được xem là người đầu tiên đưa ra định
nghĩa về văn hóa trong quyển “Văn hóa nguyên thủy” xuất bản năm 1871: “Văn
hóa hay văn minh là một phức hợp bao gồm kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ khả năng và thói quen nào khác mà con người
có được như là một thành viên của xã hội” [6, tr 13] Như vậy, với định nghĩa của Tylor thì văn hóa tương đương với văn minh Định nghĩa này khá hẹp, chỉ gói gọn trong việc miêu tả khía cạnh văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội của con người, chưa khái quát được hết toàn bộ các lĩnh vực mà văn hóa chạm đến Sau Taylor đã
có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa trên thế giới
Theo UNESCO: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Chính văn hóa mang lại khả năng suy xét bản thân, chính văn hóa làm cho con người trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản có lý tính, có
óc phê phán và dấn thân có đạo lý Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán những giá trị và thực thi có lựa chọn Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện tự ý thức được bản thân, tự biết mình là phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công trình vượt trội lên bản thân” [Dẫn theo 30, tr 23, 24] Với định
Trang 20nghĩa này của UNESCO thì văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh vật chất, tinh thần và
nó mang đặc trưng của xã hội và con người sinh sống trong xã hội đó
Khi phân tích về mặt ngữ nghĩa của từ “văn hóa”, Trần Ngọc Thêm cho rằng:
“Trong từ “văn hóa” thì “văn” (ở Đông phương đối lập với “võ”) có nghĩa là “vẻ đẹp” (giá trị), “hóa” là “trở thành”, “văn hóa” có nghĩa là “trở thành cái đẹp, trở thành giá trị” Văn hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa cái có giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người” [19, tr 21] Đồng thời, Trần Ngọc Thêm cũng định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [20,
tr 56] Từ định nghĩa này, có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của văn hóa Thứ nhất, chủ thể của văn hóa phải là con người vì nó là sản phẩm do con người sáng tạo và tồn tại trong xã hội loài người Thứ hai, văn hóa là sản phẩm được con người
sáng tạo và tích lũy thông qua những hoạt động thực tiễn như lao động, sản xuất,
sinh hoạt Thứ ba, điều kiện không gian để hình thành văn hóa đó là môi trường tự
nhiên và môi trường xã hội
Tóm lại, có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa tùy vào góc độ nghiên cứu của từng học giả Trong luận văn này, chúng tôi chọn định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm làm cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1.2 Trên thế giới, có nhiều hướng phân loại văn hóa Ở Việt Nam, có học giả như Trần Quốc Vượng đã phân chia cấu trúc văn hóa thành ba thành tố là văn hóa sản xuất, văn hóa vũ trang và văn hóa sinh hoạt [30, tr 104 – 107] Trong khi
đó, Trần Ngọc Thêm chia văn hóa thành văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử với môi trường Văn hóa nhận thức bao gồm văn hóa nhận thức về vũ trụ và nhận thức về con người, văn hóa tổ chức gồm có tổ chức đời sống tập thể và
tổ chức đời sống cá nhân, còn văn hóa ứng xử với môi trường được chia thành ứng
xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội Để củng cố cho cấu trúc trên, Trần Ngọc Thêm cũng đã sử dụng một cấu trúc văn hóa mới gồm năm
Trang 21thành tố: văn hóa nhận thức, văn hóa tận dụng, văn hóa đối phó, văn hóa lưu luyến
và văn hóa sùng bái [19, tr 62 – 65]
Dưới góc độ văn hóa tộc người, giới nghiên cứu còn chia văn hóa theo văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội
Văn hóa vật chất (material culture): Văn hóa vật chất theo nghĩa rộng là
tổng hòa tất cả sản phẩm vật chất, hữu hình do lao động sáng tạo của con người tạo nên trong một xã hội nhất định [16, tr 169] Chẳng hạn, cư dân sinh sống trên đảo Jeju có hệ thống văn hóa vật chất vô cùng phong phú Đó là loại nhà ở truyền thống được thiết kế phù hợp với sinh thái tự nhiên của đảo, những loại trang phục truyền thống và trang phục lặn biển dành riêng cho hải nữ hay các món ăn đặc sản với nguyên liệu chủ yếu là các loại sinh vật biển được đánh bắt tại chỗ Các loại công
cụ sử dụng khi lặn biển hay phương tiện di chuyển trên biển truyền thống của các ngư dân trên đảo là thuyền te-woo (테우) cũng là một nét văn hóa vật chất đặc trưng của đảo Jeju
Văn hóa tinh thần (spiritual culture): Văn hóa tinh thần hội tụ những khía
cạnh thuộc về các lĩnh vực học thuật, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật… [16, tr 169] Lấy ví dụ, đặc trưng văn hóa tinh thần của người dân đảo Jeju được thể hiện ở nhiều dạng thức như trong văn học dân gian có những câu tục ngữ địa phương đúc kết những kinh nghiệm sống và tri thức dân gian của cư dân trên đảo hoặc một số tín tưỡng mà chỉ được tìm thấy trên đảo Jeju chứ không
phải nơi nào khác trong đất liền như Nghi lễ bà Linh Đăng (Youngdeung-gut, 영등굿) và Nghi lễ Hải nữ (Jamsu-gut, 잠수굿) được thực hiện bởi các hải nữ
nhằm cầu mong thần linh phù hộ cho những chuyến ra biển bình an và mang về nhiều cá
Văn hóa xã hội (social culture): Văn hóa xã hội bao gồm những ứng xử
trong gia đình, cộng đồng, xã hội, các quy tắc xã hội về hôn lễ, tang lễ, hội đoàn, tổ chức hôn nhân gia đình, các thiết chế văn hóa, xã hội, đời sống pháp luật, tổ chức chính trị… [16, tr 169] Chúng tôi thấy ở đảo Jeju, văn hóa xã hội thể hiện qua thái
Trang 22độ và cách ứng xử của người dân với các nghi lễ vòng đời như hôn lễ, tang lễ, chuyện sinh con đẻ cái cũng như nhân sinh quan, vũ trụ quan và cách nhìn nhận vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội
Sự phân chia văn hóa thành hai thành tố vật chất và phi vật chất hay vật chất
và tinh thần hay vật chất, tinh thần và xã hội chỉ có ý nghĩa tương đối vì giữa các thành tố này không có sự phân chia ranh giới rạch ròi mà thành tố này là tiền đề, là hình thức tồn tại của của thành tố kia, chúng bổ sung và có mối liên hệ hỗ tương lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau để tạo thành tổng thể văn hóa tộc người [16, tr 169] Với đề tài luận văn này, chúng tôi chia văn hóa thành hai thành tố là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, trong đó văn hóa tinh thần bao gồm cả văn hóa tinh thần
và văn hóa xã hội bên trong Đây là cách phân chia mang tính hệ thống và tính toàn diện
1.1.2 Khái niệm “tục ngữ”
1.1.2.1 Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận đơn vị được gọi là “tục ngữ”
Theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê, tục ngữ là “câu nói ngắn gọn,
thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của
nhân dân” [17, tr 1062] “Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam” của Hữu Ngọc thì
nêu lên khái niệm tục ngữ như là “những câu nói ngắn gọn, có vần, dễ nhớ, thường
có nhiều nghĩa, được dùng hằng ngày, nội dung là những nhận xét, kết luận về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người” [14, tr 657] Một cách hiểu
khác về tục ngữ của của Chu Xuân Diên trong “Từ điển văn học” như sau: Tục ngữ
“là những câu nói ngắn gọn, có nhịp điệu, có hình thức bền vững, được dùng trong lời nói hằng ngày, thường có nhiều nghĩa, hình thành bằng cách liên tưởng loại suy” [Dẫn theo 10, tr 37] Ngoài ra, khi đề cập đến khái niệm tục ngữ dưới góc nhìn của
ngôn ngữ học, Nguyễn Văn Mệnh trong bài viết “Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ” cho rằng “tục ngữ nói về những vấn đề triết học, tư tưởng, đạo đức, chân
lý, kinh nghiệm sản xuất, đấu tranh xã hội và cách đối nhân xử thế… Những nội
Trang 23dung đó được biểu hiện bằng câu hoàn chỉnh” [Dẫn theo 25, tr 38] Bên cạnh đó,
trong luận án tiến sỹ “So sánh một số đặc điểm cú pháp – ngữ nghĩa của tục ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn”, tác giả Trần Văn Tiếng đã tiếp thu những kết quả nghiên
cứu về tục ngữ của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và Hàn Quốc, sau đó nêu ra
nhận định chung về tục ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hàn như sau: “Tục ngữ là những đơn vị thông báo, được hình thành từ trong hoạt động nói năng nhưng tồn tại như là một đơn vị của ngôn ngữ, nội dung của tục ngữ phản ánh nhiều mặt của đời sống, phản ánh tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của nhân dân, nó đúc kết những bài học kinh nghiệm thành chân lý, đạo lý…” [35, tr 64, 65]
1.1.2.2 Nhiều học giả Hàn Quốc cũng đưa ra những cách hiểu khác nhau nhưng cũng thống nhất về đơn vị được gọi là “tục ngữ” Giống như trong tiếng Việt, giới nghiên cứu ngôn ngữ Hàn Quốc đã có những cách nhìn nhận khác nhau về “tục ngữ” với các đơn vị ngôn ngữ khác Tuy nhiên, chúng tôi thống nhất sử dụng từ sok-dam (속담) tương đương với đơn vị “tục ngữ” trong tiếng Việt xuyên suốt đề tài
Theo “국어대사전” (Đại từ điển Quốc ngữ) của Lee Hee Seung thì sok-dam
(tục ngữ) là “những câu nói ngắn gọn hàm chứa ý nghĩa giáo huấn, châm biếm, kinh nghiệm và giải trí như những lời cách ngôn của dân gian được truyền lại từ thời xa xưa” [57, tr 2113].3 Với giải thích nêu trên, có thể thấy được ba đặc trưng
cơ bản của tục ngữ Thứ nhất là tính giáo dục, tính chân lý thể ở chỗ tục ngữ là những “cách ngôn”, hàm chứa ý nghĩa “giáo huấn” Thứ hai là tính đại chúng vì không gian mà tục ngữ được truyền bá và sử dụng là trong “dân gian” Thứ ba là
tính kế thừa bởi vì tục ngữ “được truyền lại từ thời xa xưa” cho đến nay Như vậy, tục ngữ mang tính giáo dục, tính đại chúng và tính kế thừa
Trong giáo trình “한국어 4” (Tiếng Hàn 4) của Trường đại học Yonsei cũng
có một phần nói về về tục ngữ như sau “Tục ngữ là một trong những câu nói được
3 Nguyên văn: 예적부터 내려오는 민간의 격언으로 교훈ㆍ풍자ㆍ경험ㆍ유희 등의 뜻이 담긴 짧은
말
Trang 24truyền lại từ thời xa xưa và trong những câu nói đó hàm chứa những lời giáo huấn đúc kết kinh nghiệm sống Đặc biệt, ý nghĩa của nó vừa rõ ràng mà cũng vừa súc tích nên dễ học thuộc và cũng dễ sử dụng” [51, tr 104].4 Định nghĩa này khá giống với các định nghĩa của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam ở điểm: là câu nói súc tích, ngắn gọn và đúc kết những kinh nghiệm sống từ thời xa xưa
Lee Eul Hwan cũng đưa ra định nghĩa về tục ngữ dựa trên hai phương diện
hình thức và nội dung trong bài viết “언어에 관한 속담고” (Kho tàng tục ngữ về ngôn ngữ) Về mặt nội dung, tác giả cho rằng “tục ngữ là những tri thức sinh hoạt,
triết học, giáo huấn được dân chúng thông qua kinh nghiệm trong đời sống từ thời
xa xưa chiêm nghiệm ra được và cũng là biểu hiện của quy phạm hành động” Còn
về mặt hình thức thì “tục ngữ là những mệnh đề ngắn được nén lại một cách đơn giản và rõ ràng” [54, tr 25].5
Một ý kiến khác của nhà nghiên cứu về tục ngữ Jeju là của Go Jae Hwan đề
cập trong “제주속담총론” (Tổng quan về tục ngữ Jeju) cho rằng tục ngữ “là
những lời giáo huấn trong đời sống mà những người đương thời thích nghi với môi trường và rút ra được, có năm đặc tính chủ yếu, đó là tính súc tích về mặt hình thức
và tính giáo huấn, tính dân gian, tính đồng cảm, tính ẩn dụ về mặt nội dung” [33, tr 21].6
Nhìn chung, khi bàn về tục ngữ, các học giả Hàn Quốc đều đưa ra một số điểm chung sau đây:
Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn Trong số 25.557 câu tục ngữ được sưu tầm trong “우리말 속담 큰사전” (Đại từ điển tục ngữ của chúng ta) thì có đến
4 Nguyên văn: 속담은 먼 옛날부터 전해 오는 말 중의 하나이며 그 말 속에는 여러가지 경험에서 얻은 교훈이 담겨 있다 특히 뜻이 분명하면서도 간결하기 때문에 외우기도 쉽고 쓰기도 쉽다
5
Nguyên văn: 내용적인 면으로 보면 속담은 예로부터 민중이 생활경험을 통하여 체득한 생활의 지식이요, 철학이요, 교훈이며, 행동규범의 표현이고 형식적인 면에서 속담은 간단명료하게 압축된
짧은 구절로 표현된 것이라 하여…
6 Nguyên văn: 속담은 형태적인 기능 요소로서는 간명성, 의미적 기능 요소로서는 교훈성, 통속성, 공감성, 비유성 등 다섯 가지 속성을 주축으로 당대를 살아온 선인들이 시세에 대응했던 생태를 표출한 생활훈이다
Trang 2595,78% tục ngữ Hàn Quốc dưới 20 từ [50, tr 3] Vì ngắn gọn nên tục ngữ có nội dung súc tích và dễ nhớ
Tục ngữ mang nội dung giáo huấn, châm biếm, đúc kết từ kinh nghiệm sống thực tế Ví dụ như khi đề cao vai trò của hàng xóm, láng giềng thì tục ngữ Hàn
Quốc có câu 가까운 남이 먼 일가보다 낫다 (Người dưng ở gần tốt hơn người thân mà ở xa) Hoặc là khi châm biếm thói tham ăn của con người cũng có những câu tục ngữ như 소같이 먹는다 (Ăn như bò), 두꺼비 파리 잡아 먹듯 (Như cóc đớp ruồi)
Tục ngữ được truyền lại từ thời xa xưa Tục ngữ nằm trong nhóm văn học dân gian nên không thể biết được ai là tác giả và được ra đời từ khi nào
Tổng hợp những nhận định trên, chúng tôi thấy rằng khái niệm về tục ngữ dù dưới góc nhìn của các học giả Việt Nam hay Hàn Quốc thì cũng bao hàm hai nội dung chính là:
Về mặt hình thức: là câu nói ngắn gọn, súc tích và dễ nhớ
Về mặt nội dung: phản ánh nhiều mặt của đời sống con người, đúc kết
những kinh nghiệm sống, triết lý, đạo đức, cách đối nhân xử thế
Từ những điều đã nêu ở trên, trong luận văn này, chúng tôi xem sok-dam
(hoặc tục ngữ) là: Những câu nói hoàn chỉnh, súc tích và dễ nhớ, phản ánh nhiều mặt của đời sống con người, nó đúc kết những bài học kinh nghiệm về triết lý, đạo đức, cách đối nhân xử thế
1.1.3 Quan hệ giữa văn hóa và tục ngữ
Văn hóa của một tộc người được thể hiện qua nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có ngôn ngữ “Bản sắc của mỗi dân tộc luôn luôn được thể hiện qua tiếng
mẹ đẻ của họ; ngôn ngữ là nơi bảo lưu tinh thần, văn hóa dân tộc…” (W Humbold) [Dẫn theo 3, tr 485] Bất kỳ ngôn ngữ nào cũng hàm chứa những giá trị văn hóa của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó Văn học dân gian cũng là một bộ phận hình thành, tồn tại và phát triển trên cái nền của ngôn ngữ nên nó cũng có chức năng như thế
Trang 26Giống như các loại hình văn học dân gian khác, tục ngữ là lời ăn tiếng nói hằng ngày của con người được hình thành trên nền tảng đúc kết những kinh nghiệm sống
mà người xưa quan sát, trải nghiệm trong thực tiễn lao động sản xuất, trong sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần
Dù là bất kỳ cộng đồng xã hội nào thì chính bản thân mỗi câu tục ngữ cũng đã chứa đựng yếu tố con người ở bên trong Con người vừa là chủ thể sáng tạo ra tục ngữ, vừa là khách thể mà tục ngữ muốn hướng đến Trong tất cả các loài động vật trên thế giới thì chỉ có con người mới có ngôn ngữ và cũng vì có ngôn ngữ nên con người mới sáng tạo ra được những câu tục ngữ như vậy Tục ngữ tồn tại trong cộng đồng xã hội mà mục đích của nó là truyền tải những lời khuyên để con người sống hướng thiện, phê phán những thói hư tật xấu và hướng dẫn cho con người hành xử đúng đắn trong giao tiếp, ứng xử hoặc trong lao động sản xuất Do đó, tục ngữ phản ánh được trình độ, năng lực, phẩm chất của con người qua nhiều thời đại khác nhau Chính vì thế, tục ngữ cũng là một bộ phận của văn hóa, được xếp vào trong lĩnh vực văn hóa tinh thần
Dấu ấn văn hóa của mỗi dân tộc được in đậm trong tục ngữ của dân tộc đó, phản ánh đời sống nhiều mặt của con người Chẳng hạn, tục ngữ Việt phản ánh
những phạm trù như: Giới tự nhiên, quan hệ của con người với giới tự nhiên, Con người – đời sống vật chất, Con người – đời sống xã hội, Con người – đời sống tinh thần, những quan niệm về nhân sinh và vũ trụ (Chu Xuân Diên) Còn ở Hàn Quốc, các phạm trù mà tục ngữ phản ánh là: Quan hệ giữa con người với thiên nhiên, đất nước, Con người và đời sống vật chất, Con người và đời sống xã hội, Con người và đời sống tinh thần, Phạm trù cho mọi đối tượng [25, tr 161, 165] Từ hai ví dụ của
Việt Nam và Hàn Quốc, không thể phủ nhận rằng phạm trù của tục ngữ rất rộng, nó chạm vào gần như toàn bộ các khía cạnh của văn hóa, từ văn hóa vật chất cho đến tinh thần và xã hội Như vậy, tục ngữ chứa đựng cả một kho tàng văn hóa của dân tộc Đồng thời, nó cũng là một lăng kính phản ánh một cách rõ nét và chân thật đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc và không thể trộn lẫn với bất kì một dân tộc nào khác trên thế giới
Trang 27Khi nhìn vào tục ngữ của hai dân tộc, người ta dễ dàng nhận ra được những nét tương đồng và dị biệt của hai nền văn hóa đó Chẳng hạn khi nhắc về người phụ
nữ, Hàn Quốc có những câu tục ngữ khá khắt khe như 여인은 돌며 버리고 가구는
빌리면 버린다 (Phụ nữ hay ra ngoài thì hỏng, đồ dùng mượn được thì dễ hư), 여자는 사흘을 안 때리면 여우가 된다 (Phụ nữ ba ngày không đánh thì trở thành cáo), 여편네 셋만 모이면 접시 구멍 뚫는다 (Ba bà tụ tập lại thì đâm thủng được cái đĩa), 딸 둔 죄인 (Sinh con gái là có tội) Ngược lại, Việt Nam cũng có nhiều
câu tục ngữ về phụ nữ nhưng lại toát lên cái đẹp, toát lên sự trân trọng hoặc đề cao
vai trò của người phụ nữ trong gia đình hoặc xã hội như: Đàn ông cười hoa, đàn bà cười nụ, Đàn ông cắm chà, đàn bà làm tổ, Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp, Lệnh ông không bằng cồng bà, Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh [26, tr
449] Những câu tục ngữ nêu trên đã phần nào cho thấy sự khác biệt trong văn hóa ứng xử với người phụ nữ của hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc Một ví dụ khác là hình ảnh hải nữ Jeju cũng xuất hiện nhiều trong tục ngữ địa phương trên đảo như 녀 아긴 사을이민 체에 눅져 뒁 물질 다7 (Hải nữ sinh em bé ba ngày thì đặt con lên giỏ rơm rồi lặn biển), 녀 애긴 일눼만에 아귀것 멕인다 (Cho đứa bé mới sinh bảy ngày của hải nữ ăn cơm dặm) Dấu ấn của văn hóa biển hay
văn hóa mưu sinh của đảo Jeju mà cụ thể ở đây là nghề lặn biển của hải nữ cũng đã được khắc họa một cách chân thật trong hai câu tục ngữ trên Lặn biển là một nghề phổ biến của cộng đồng phụ nữ sinh sống trên đảo và đòi hỏi phải có sự bền bỉ, kiên cường cũng như tấm lòng hy sinh to lớn mới có thể làm được nghề này Bởi vì mới sinh em bé ba ngày là phải để con lại trên bờ rồi lao vào công việc dưới biển, mỗi lần lặn biển phải mất trên năm giờ đồng hồ nên phải tập cho con ăn cơm dặm từ khi mới bảy ngày tuổi để chúng không đòi bú những khi mẹ vắng nhà
Nhìn chung, tục ngữ là một bộ phận cấu thành nên văn hóa và chính tục ngữ cũng là tấm gương phản ánh toàn bộ đặc trưng văn hóa của dân tộc Vì thế, nghiên
7 Trong luận văn này, khi trích dẫn một câu tục ngữ địa phương Jeju, chúng tôi chỉ trích dẫn câu tục ngữ gốc viết bằng phương ngữ Jeju Jeju, đi kèm với một câu dịch tiếng Việt để trong ngoặc Còn phần dịch câu tục ngữ phương ngữ Jeju đó sang tiếng Hàn toàn dân, chúng tôi sẽ tổng hợp và liệt kê trong phần phụ lục
Trang 28cứu tục ngữ là một phương thức nhằm làm rõ những giá trị văn hóa của một dân tộc Đồng thời, tiếp cận những bản sắc văn hóa truyền thống của một cộng đồng xã hội theo hướng nghiên cứu tục ngữ cũng là một cách tiếp cận mang tính toàn diện và phổ quát
1.2 Tổng quan về đảo Jeju
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý và đơn vị hành chính
Đảo Jeju nằm ở phía Nam bán đảo Triều Tiên, với diện tích 1833,2km2 (tương đương 1,83% tổng diện tích cả nước), là hòn đảo lớn nhất Hàn Quốc Toàn bộ đảo
có hình dáng giống hình elip nằm trong vĩ độ 33o06‟ – 34o00‟ Bắc và kinh độ
126o08‟ – 126o58‟Đông, với chiều dài tính theo hướng Đông – Tây là 73 km và chiều rộng tính theo hướng Bắc – Nam là 31 km [83]
Đảo Jeju có các điểm cực sau:
Cực Bắc là bãi biển Kimnyeong (김녕해수욕장)
Cực Nam là núi Songak (송악산)
Cực Tây là đỉnh Soowoel (수월봉)
Cực Đông là đỉnh Seongsan Ilchul (성산일출봉)
Đảo Jeju tiếp giáp với Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản thông qua biển Hwanghae (황해), biển Donghae (동해), biển Đông Trung Quốc nên được xem là nằm ở vị trí chiến lược quan trọng về mặt chính trị, kinh tế và quân sự của Hàn Quốc
Về mặt hành chính, toàn bộ đảo Jeju là Tỉnh tự trị đặc biệt Jeju (제주특별자치도), cùng với một số đảo có người sinh sống là đảo Chuja (추자도), đảo Woodo (우도), đảo Gapa (가파도), đảo Mara (마라도), đảo Biyang (비양도)… và 55 hòn đảo không có người sinh sống khác Tỉnh Tự trị Đặc biệt Jeju được chia thành hai thành phố chính là thành phố Jeju (제주시) nằm ở phía Bắc của
Trang 29đảo và thành phố Seogwipo (서귀포시) nằm ở phía Nam của đảo Đơn vị hành chính cấp dưới gồm có 19 phường, 7 thị trấn và 5 xã [84]
1.2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Jeju là hòn đảo được kiến tạo thông qua quá trình phun trào núi lửa vào giữa
kỷ Neogen và kỷ Đệ tứ của Đại Tân sinh (Cenozolic) cách đây khoảng 2 triệu năm
về trước Núi lửa Halla cao 1950m nằm ở vị trí trung tâm của đảo Xét về mặt tổng thể thì nó là một dạng núi lửa hình khiên với độ dốc thoai thoải nhưng phần đỉnh núi được xếp vào loại núi lửa dạng tầng với độ dốc cao Núi Halla được hình thành
từ nhiều đợt phun trào và được xem là ngon núi cao nhất ở Hàn Quốc Trên đỉnh núi Halla có một hồ nước được tạo ra từ miệng núi lửa có tên gọi là Baengnokdam
(백록담 - 白鹿潭, Bạch Lộc đàm) với đường kính khoảng 500m và độ sâu khoảng
6m Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa có nhiều hươu trắng đến đây uống nước nên người xưa đặt tên hồ này là Bạch Lộc Đàm (Bạch Lộc là hươu trắng trong tiếng Hán) Bên cạnh đó, còn có khoảng 400 ngọn núi lửa nhỏ hình thành do những đợt phun trào có quy mô bé hơn phân bố khắp mọi nơi trên đảo, tạo nên những cảnh quan thần kỳ và hùng vỹ Trong phương ngữ Jeju, những ngọn núi lửa nhỏ này được gọi là “orum” (오름) Ngoài ra, trên đảo còn có một số dạng địa hình mang đặc trưng của một hòn đảo núi lửa như các hang động dung nham và các cột bazan Quá trình hình thành núi Halla cũng như đảo Jeju chia thành 6 giai đoạn chính
và được tóm tắt ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Các giai đoạn hình thành núi Halla và đảo Jeju
trước
Hòn đảo hình thành bởi quá trình phun trào núi lửa Sau đó núi lửa ngừng hoạt động khoảng 100.000 năm trước khi bước vào giai đoạn 3
Trang 303
Cho đến khoảng 300.000 năm trở về
Những ngọn núi lửa ký sinh bên cạnh núi Halla hoạt động, tạo nên các orum
6 Cho đến ngày nay
Núi lửa ngừng hoạt động, địa hình ngày nay được tạo nên do quá trình phong hóa và xâm thực
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ https://ko.wikipedia.org/wiki/제주도) Được hình thành từ quá trình phun trào của núi lửa nên 90% bề mặt của đảo Jeju là đất bazan Đất bazan có đặc tính dễ tạo ra khe nứt nên tính thấm nước rất cao
Vì vậy, dù Jeju là vùng đất có độ ẩm cao và mưa nhiều nhất Hàn Quốc nhưng sông ngòi khó phát triển Bởi đặc tính này mà những dòng nước chảy từ trên núi xuống, luồn dưới mặt đất rồi phụt ra như nước suối ở khu vực ven biển Do đó, đa số những ngôi làng ở Jeju đều được phân bố dọc ven biển, nơi dễ tìm thấy nguồn nước sinh hoạt [53, tr 237] Ngoài ra, tính thấm nước của đất bazan không chỉ ảnh hưởng đến
sự phân bố dân cư mà còn ảnh hưởng đến loại hình canh tác trên đảo Khí hậu Jeju thích hợp cho việc trồng lúa nước nhưng do đất bazan có nhiều vết nứt và tính thấm nước cao nên không tích trữ được nước để canh tác lúa Bởi vì lí do trên mà lúa nước hiếm khi được trồng trên đảo
Jeju là nơi cư trú của nhiều loài động vật vùng hàn đới và ôn đới, trong đó có
77 loài động vật có vú, 198 loài chim, 8 loài bò sát, 8 loài lưỡng cư, 873 loài côn trung và 74 loài nhện Có đến 2.001 loài thực vật gồm những loài cận nhiệt đới, ôn đới và hàn đới, được phân bố khác nhau tùy theo độ cao [60, tr 5] Ở những vùng ven biển, người ta trồng nhiều loài cây nhiệt đới đa dạng như cây quýt và trà xanh, càng lên cao so với mực nước biển thì nhiệt độ càng xuống thấp nên rừng ôn đới và rừng hàn đới phát triển [53, tr 237]
Trang 31Vì nằm ở phía Nam của bán đảo Triều Tiên và xung quanh được bao bọc bởi đại dương nên khí hậu Jeju mang tính đại dương cao Tính đại dương thể hiện ở nhiệt độ trung bình năm cao, biên độ nhiệt thấp và lượng mưa hằng năm cũng nhiều Jeju mưa nhiều một phần cũng do vị trí của đảo nằm trên đường đi ngang qua của những cơn bão và hằng năm nhiều cơn bão đổ bộ lên đảo từ tháng 6 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình vào tháng 1 ở Jeju khoảng 5oC nên khí hậu vào mùa đông tương đối ôn hòa Do nằm cách xa đất liền nên Jeju cũng chịu ảnh hưởng của gió quanh năm Khí hậu phía Bắc (thành phố Jeju) và phía Nam (thành phố Seogwipo) cũng
có sự khác biệt rõ rệt Vào mùa đông, thành phố Jeju ở phía Bắc có nhiệt độ thấp hơn và tuyết cũng rơi nhiều hơn do chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi gió mùa Tây Bắc Ngược lại vào mùa hè, thành phố Seogwipo chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi gió mùa Tây Nam, gió mùa Đông Nam và những cơn bão lớn nên lượng mưa cũng nhiều hơn Nguyên nhân là do núi Halla vừa là ranh giới địa lý tự nhiên của hai thành phố này và cũng vừa là bức tường góp phần làm suy yếu đi những cơn gió mùa trước khi nó thổi qua sườn bên kia
Bảng 1.2 Một vài thông số về khí hậu ở đảo Jeju năm 2014
Trang 321.2.2 Lịch sử hình thành cư dân đảo Jeju
Con người được cho là bắt đầu xuất hiện trên đảo Jeju từ thời kỳ đồ đá cũ, cách đây khoảng 70.000 đến 80.000 năm về trước Vào thời kỳ này, cư dân chủ yếu sống trong các hang động và dưới các tảng đá lớn Một số di vật của thời kỳ này được tìm thấy như các công cụ bằng đá hoặc những mẩu xương người Kế đó, người ta cũng tìm thấy một số di vật vào thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt như các
mộ đá, những vật dụng bằng đá được mài nhẵn, đồ gốm Tất cả những di vật được xem là minh chứng cho sự tồn tại của con người trên đảo Jeju từ cổ đại
Jeju ngày xưa có nhiều tên gọi khác nhau như Do-i” (도이), Dongyeongju (동영주), Tammora (탐모라), Tangna (탁라) Trong đó, ngoài tên Dongyoungju ra thì tất cả những tên còn lại đều mang nghĩa “đảo quốc” Lịch sử Jeju gắn liền với thần thoại Tam tánh (ba họ) Chuyện kể rằng có ba vị thần nhân tên là Goeulla (고을나), Yangeulla (양을나) và Bueulla (부을나) bay ra từ trong lòng đất ở một nơi gọi là “huyệt Moheung” (모흥혈) rồi mặc áo da thú và săn bắt động vật để sinh sống Ba vị thần nhân này đã gặp gỡ Tam công chúa ngồi thuyền từ nước Byeongnang (벽랑국), mang theo hạt giống ngũ cốc, bê, ngựa cập bến tại vùng biển phía Bắc đảo Jeju Kể từ sau cuộc gặp gỡ đó, họ kết hôn với nhau và bắt đầu cuộc sống bằng việc trồng ngũ cốc và nuôi bò với ngựa Sau đó, ba anh em Hu (후), Cheong (청) và Gye (계) là hậu duệ đời thứ 15 của Goeulla đã xin Vương triều Silla (57 TCN – 935 SCN) để được cấp quốc hiệu Tamna (탐라 - 耽羅, Đàm La) Cũng
từ đó, Tamna trở thành nước phụ thuộc của Silla [82]
Cũng vào thời kỳ này, Jeju đã bắt đầu trở thành địa danh quan trọng trong giao thương đường biển vì đây là nơi mà các tàu thuyền Trung Quốc dừng chân khi qua lại với Nhật Bản hay khu vực Đông Nam Á Vào năm 1928, tại công trường xây dựng Cảng quốc tế Jeju, các công nhân đã phát hiện ra loại đồng tiền Ngũ Châu (五銖錢) và đồng tiền Hóa Tuyền (貨泉) là những loại tiền xu được sử dụng vào thời nhà Hán ở Trung Quốc Điều này cho thấy trong quá khứ, đảo Jeju đã đóng vai
Trang 33trò trung gian trên con đường thương mại giữa Trung Quốc với Triều Tiên và Nhật Bản [75] Một tên gọi khác của đảo Jeju là Châu Hồ (州胡) cũng đã xuất hiện lần đầu trong Tam Quốc Chí (quyển 30) của Trần Thọ (Trung Quốc)
“Châu Hồ nằm trên hòn đảo lớn ở giữa biển phía Tây của Mã Hàn Người dân nơi đó có dáng người nhỏ hơn so với người Mã Hàn và ngôn ngữ cũng không giống với dân tộc Hàn Tất cả họ đều để tóc và thích nuôi
bò hoặc lợn như tộc người Tiên Ty Áo thì làm từ da động vật, chỉ có thượng y chứ không có hạ y nên gần như là lõa thể Họ ngồi thuyền đi lại đến nước Hàn để mua bán hàng hóa” 8
Thông qua miêu tả như trên, có thể thấy được phần nào đời sống của cư dân Jeju ngày xưa qua cách ăn mặc và hoạt động kinh tế của họ Trong quyển sách lịch
sử “Tân Đường thư” (新唐書) ghi chép sự hưng thịnh đến lúc suy vong của thời
nhà Đường cũng có đoạn nhắc đến đảo quốc nhỏ bé này
“Nước Đàm La nằm trên hòn đảo phía nam Vũ Châu của Tân La, phong tục chất phác, mặc áo làm từ da lợn Mùa hè sống trong nhà rơm, mùa đông thì chui vô hang ở Trên mặt đất trồng ngũ cốc, không biết dùng trâu
bò để cày bừa, chỉ dùng cái cào sắt để cày ruộng” 9
Cùng thời kỳ đó, trong quyển “Đường hội yếu” (唐会要) cũng có đoạn ghi
chép về đất nước này
“Nước Đàm La nằm trên vùng biển Vũ Châu của Tân La Trên đảo có núi và xung quanh bao bọc bởi biển Từ phía Bắc đảo đi Bách Tế mất năm ngày Vua họ Nho Lý, tên Đô La, không có Thành Hoàng và được chia thành năm bộ lạc Nhà cửa được bao bọc bởi bức tường đá và bị cỏ cây che
Trang 34lấp Có khoảng 8.000 hộ dân, có cung, dao, khiên và giáo nhưng không có văn tự, chỉ thờ cúng quỷ thần Luôn nằm dưới sự quản lý của Bách Tế và tháng 8 năm Long Sóc thứ 1 (năm 661), cử sứ thần triều cống đến nước Đường” 10
Đương nhiên tác giả của hai ghi chép trên chưa từng đi đến đảo Jeju để quan sát Tất cả cũng chỉ là ghi chép lại từ việc nghe lại từ những người xung quanh Tuy nhiên, tổng hợp hai đoạn ghi chép trên có thể đoán được đại khái về vị trí, tên gọi, vua, phong tục, hoạt động sản xuất, hoạt động tính ngưỡng thành quách, nơi cư ngụ,
vũ khí của người Jeju thời bấy giờ
Vào thời kỳ Tam Quốc, Tamna chịu sự quản lý của Baekje Tuy nhiên, sau khi Baekje bị diệt vong bởi liên quân Silla và Đường thì Tamna chuyển sang làm thuộc địa của Silla thống nhất Lúc ấy, vua Silla là Munmuwang (문무왕) đã ban tặng cho vua nước Tamna danh xưng Seongju (성주 - 星主, Tinh chủ) [76]
Bước sang thời kỳ Vương triều Goryeo (918 SCN – 1392 SCN), vào năm Taejo (태조) thứ 21 (năm 938), thái tử nước Tamna Gomallo (고말로) đã triều cống cho triều đình Goryeo và nước Tamna bị sáp nhập vào nhà nước Goryeo Cho
dù vậy, trong suốt thời kỳ Goryeo thì tên nước Tamna và Seongju vẫn tồn tại, điều này cho thấy tính tự trị vẫn được duy trì Đến năm Sukjong (숙종) thứ 10 (năm 1105), Goryeo chuyển toàn bộ nước Tamna thành quận Tamna, chính thức đặt ách thống trị trực tiếp lên đảo quốc này Thế nhưng, các Seongju vẫn tồn tại và truyền ngôi cho con cháu mãi đến tận thời kỳ đầu của vương triều Joseon Sang thời đại vua Euijong (의종), quận Tamna bị giáng cấp xuống thành huyện Tamna sau đó
đến thời vua Gojong (고종) được chuyển lại thành quận Tên gọi Jeju hoặc Tế Châu
cũng được ra đời trong thời kỳ này và được sử dụng rộng rãi nhưng đến khi quân Mông – Nguyên xâm lược nhà nước Goryeo, nhà Nguyên vẫn gọi đảo Jeju với cái
10 Trích từ 唐會要(Đường hội yếu) Nguyên văn:
耽羅。在新羅武州海上。居山島上。週回並接於海。北去百濟可五日行。其王姓儒李。名都羅。無 城隍。分作五部落。其屋宇為圓牆,以草蓋之。戶口有八千。有弓刀楯鞘。無文記。唯事鬼神。常 役屬百濟。龍朔元年八月。朝貢使至。
Trang 35tên Tamna hay nước Tamna với ý đồ biến đảo Jeju thành một vùng đất tự trị của mình Đến năm Chungryeolwang (충렬왕) thứ 20 (năm 1294), tên gọi Jeju được trả lại cho hòn đảo này và mục Jeju11 (제주목) cũng được thiết lập [77]
Đến đầu thời kỳ vương triều Joseon (1392 SCN – 1910 SCN), về mặt hành chính thì mục Jeju xếp vào đạo12 Jeolla nhưng đến năm Taejong (태종) thứ 16 (năm 1416), toàn bộ đảo Jeju được chia thành ba đơn vị hành chính là mục Jeju, huyện Joeongeui (정의현), huyện Daejeong (대정현) Vì thế đảo Jeju còn được gọi là Jeju-sameup (제주삼읍 – 濟州三邑, Tế Châu tam ấp) Đến đời vua Sejong (세종) thì dân số đảo Jeju đã tăng lên đến 9.935 hộ với 63.474 người (so với năm Wonjong (원종) thứ 15 của triều đại Goryeo (năm 1274) chỉ có 10.223 người) Triều đình Joseon đã đưa ra chính sách làm dịu đi tình trạng bão hòa dân số bằng cách cưỡng chế di dời người thất nghiệp đến đạo Joeolla và đạo Chungcheong và cưỡng chế di dời những người phạm tội đến đạo Hwanghae và đạo Pyeongan nhằm điều chỉnh lại dân số trên đảo Tuy nhiên, chỉ 30 năm sau đó, tình trạng ngược lại đã xảy ra Trong suốt 150 năm, từ năm Seongjong (성종) thứ 1 (năm 1470) đến năm Injo (인조) thứ
2 (năm 1624), nạn đói xảy ra trên đảo khiến người dân phải bỏ xứ đi những nơi khác làm cho dân số ba ấp giảm đáng kể Trước tình hình đó, triều đình đã ra lệnh cấm bỏ trốn và xử phạt những người bỏ trốn ra ngoài đảo trong suốt 200 năm sau đó
Do đó, đảo Jeju như một nhà tù nổi giữa biển và cư dân ở đây phải duy trì cuộc sống khép kín trong khoảng thời gian đó
Bên cạnh đó, trong suốt chiều dài lịch sử 500 năm của vương triều Joseon, đảo Jeju cũng trở thành nơi lưu đày phổ biến Với điều kiện địa lý cách biệt hoàn toàn
so với đất liền như vậy, đảo Jeju được triều đình Joseon xem là nơi thích hợp nhất làm nơi lưu đày Vì thế, trong suốt 500 năm đó, hơn 200 người bị lưu đày và phải
11 Mục là một đơn vị hành chính của bán đảo Triều Tiên thời kỳ vương triều Goryeo và Joseon Mục là đơn
vị hành chính dưới đạo và giới, và ngang hàng với kinh và đô hộ phủ Vào cuối vương triều Goryeo, cả bán đảo Triều Tiên được chia thành 5 đạo và 2 giới, bên dưới có 3 kinh, 4 đô hộ phủ và 8 mục Mỗi mục sẽ do một Mục sứ Tam phẩm đứng đầu, quản lý công việc hành chánh
12 Đạo là một đơn vị hành chính của bán đảo Triều Tiên thời kỳ vương triều Goryeo đến nay, tương đương với đơn vị tỉnh của Trung Quốc và Việt Nam
Trang 36sống cuộc sống cách ly như thế tại đảo Jeju Những người này thuộc nhiều tầng lớp khác nhau từ phế vương như Gwanghaegun (광해군), vương tộc, chính trị gia, học
giả cho đến tăng lữ và hoạn quan, tội phạm cướp bóc Trong quyển “Jeju-pungtogi” (제주풍토기 – 濟州風土記, Tế Châu phong thổ ký) của một học giả bị lưu đày vào
giữa thời kỳ Joseon có đoạn mô tả như sau
“Thứ đau đớn nhất là cơm trộn kê, thứ sợ hãi nhất là rắn, thứ buồn bã nhất là tiếng sóng vỗ”.13
Câu văn trên đã phản ánh phần nào cuộc sống vất vả của những người bị đày
ải đến miền đảo xa trong thời kỳ ấy Đó không phải là hình phạt có thời hạn mà nó không khác gì hình phạt chung thân Trừ phi có chính biến hoặc được chính quyền
ân xá hay chuyển chỗ lưu đày sang khu vực khác trong đất liền, bằng không họ sẽ phải sống cuộc sống đày đọa suốt đời trên đảo Jeju [78]
Mãi cho đến cuối triều đại Joseon, chế độ hành chính “một mục hai huyện” bắt đầu có sự thay đổi Vào năm Gojong (고종) thứ 1 (năm 1864), huyện Daejeong và Jeongeui được thăng cấp thành quận, sau đó vào năm Cao Tông thứ 17 (năm 1880)
bị chuyển lại thành huyện Đến năm Gojong thứ 32 (năm 1895), triều đình Joseon sửa đổi chế độ hành chính địa phương, chia cả nước thành 23 phủ (부) Lúc này, phủ Jeju được thiết lập trên toàn bộ đảo và chuyển hết tất cả những đơn vị hành chính cũ như mục, phủ, quận, huyện thành “quận” và người đứng đầu mỗi quận là
“quận thủ” Như vậy, ba đơn vị hành chính bên dưới của phủ Jeju được đổi tên thành quận Jeju (제주군), quận Daejeong (대정군) và quận Jeongeui (정의군) Tuy nhiên, chế độ này chỉ được duy trì một năm, sau đó 23 phủ bị xóa bỏ và thay thế bằng 13 đạo (hoặc tỉnh) Lúc này, huyện Jeju được chuyển trở lại thành mục Jeju nên trên đảo Jeju ba đơn vị hành chính gồm một mục hai huyện trực thuộc tỉnh Jeolla (전라도) Tuy nhiên, đến năm Gwangmu (광무) thứ 10 (năm 1906), triều đình Joseon lại chuyển mục Jeju trở lại thành huyện Jeju [79]
13 Trích từ Jeju-pungtogi Bản dịch tiếng Hàn: 가장 괴로운 것은 조밥이고, 가장 두려운 것은 뱀이며,
가장 슬픈 것은 파도소리다
Trang 37Nhật Bản bắt đầu chiếm đóng bán đảo Triều Tiên và đảo Jeju kể từ năm 1910 Vào năm 1914, chính quyền đô hộ gộp quận Jeju, quận Jeongeui, quận Daejeong và một phần quận Wando lại thành một quận duy nhất dưới tên gọi là quận Jeju Quận Jeju lúc bấy giờ gồm có 13 xã Một năm sau đó, chính quyền Nhật Bản xóa bỏ chế
độ “quận” trên đảo Jeju, đổi sang chế độ “đảo” nên tên gọi quận Jeju được chuyển thành đảo Jeju, bên dưới đảo Jeju có 13 xã Năm 1931, xã đông dân nhất đảo Jeju là
xã Jeju (제주면) được nâng cấp thành thị trấn Jeju (제주읍) [89] Suốt 35 năm Nhật trị, nhân dân đảo Jeju đã tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại sự đàn áp của chính quyền đô hộ Nhật Bản, điển hình là cuộc vận động chống Nhật của các hải nữ trong hai năm 1931 và 1932
Sau khi giành được độc lập năm 1945, vào ngày 1.8.1946, chính quyền Mỹ tách đảo Jeju ra thành một một đạo riêng gọi là đạo Jeju (hay còn gọi là tỉnh Jeju), ngang hàng với đạo Jeolla Nam mà trước đây Jeju trực thuộc Bên dưới tỉnh Jeju gồm có hai huyện Bắc Jeju (북제주군) và huyện Nam Jeju (남제주군) Từ ngày 3.4.1948 đến ngày 21.9.1954 đã xảy ra “Sự kiện 3 tháng 4 tại Jeju” Đây là cuộc nổi dậy của các chiến binh du kích của Đảng Lao động Nam Triều Tiên do lo ngại cuộc bầu cử dự kiến diễn ra ngày 10.5.1948 chỉ được lên kế hoạch tổ chức ở miền Nam
sẽ làm tăng thêm ly tán Cuộc đụng độ giữa quân đội Mỹ và cảnh sát cùng với các chiến binh du kích đã dẫn đến rất nhiều thương vong Ước tính có đến 60.000 người
đã chết, tương đương một phần năm dân số đảo Jeju [72] Đây được xem là sự kiện
bi thảm nhất trong lịch sử đảo Jeju
Sau Chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) và Sự kiện 3 tháng 4 ở Jeju, đảo Jeju bắt đầu xây dựng và phát triển kinh tế theo xu hướng chung của cả nước Cùng với sự gia tăng dân số, hai thành phố Jeju và Seogwipo lần lượt ra đời vào năm
1955 và năm 1981 Như vậy, tỉnh Jeju có 4 đơn vị hành chính bên dưới là thành phố Jeju, thành phố Seogwipo, huyện Bắc Jeju và huyện Nam Jeju Sân bay quốc tế Jeju cũng được xây dựng năm 1968 để đón du khách nước ngoài đến đảo (thay vì phải dựa vào đường biển như trước đây) Đặc biệt, ngày 1.7.2006, Tỉnh Tự trị Đặc biệt
Trang 38Jeju (제주특별자치도) ra đời trên cơ sở toàn bộ tỉnh Jeju trước đây nhằm trao quyền tự trị cao cho người dân và chính quyền hòn đảo này Đơn vị hành chính bên dưới gồm có hai thành phố Jeju ở phía Bắc đảo và thành phố Seogwipo ở phía Nam đảo sau khi sáp nhập huyện Bắc Jeju vào thành phố Jeju và huyện Nam Jeju vào thành phố Seogwipo Ngày 27.6.2007, đảo núi lửa và hang động nham thạch ở Jeju được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Ngày nay, tỉnh Jeju sử dụng thế mạnh là những cảnh quan thiên nhiên kỳ vỹ đã phát triển như một thành phố du lịch bền vững, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước
Bảng 1.3 Bảng tóm tắt các sự kiện lịch sử trên đảo Jeju
Nước Tamna tồn tại trên đảo Jeju, là thuộc quốc
của Baekje rồi đến Silla
giữ quốc hiệu Tamna
Năm 1105 Quốc hiệu Tamna bị phế bỏ, chuyển thành quận
Tamna của nước Goryeo
Niên đại Gojong (1192 – 1259) Tên gọi Jeju ra đời
Năm 1231 Phát động cuộc kháng chiến chống Mông Cổ trong
suốt 30 năm Năm 1275 Nước Tamna được phục hồi
Năm 1294 Trực thuộc trở lại Goryeo, mục Jeju được thiết lập
và tên Tamna chính thức bị xóa sổ
Trang 39Năm 1896
Đảo Jeju có ba đơn vị hành chính là mục Jeju và hai huyện Jeongeui và Daejeong, trực thuộc tỉnh
Jeolla Nam
Năm 1906 Chuyển mục Jeju thành quận Jeju Nhƣ vậy, đảo
Jeju có 3 quận trực thuộc tỉnh Jeolla Nam
quận Jeju có 13 xã
Năm 1915 Chuyển chế độ quản lý kiểu quận thành chế độ
quản lý kiểu đảo ở Jeju Jeju đƣợc gọi là đảo Jeju Năm 1931 Xã Jeju đƣợc nâng cấp thành thị trấn Jeju Năm 1931 – 1932 Nổ ra khởi nghĩa của các hải nữ ở Jeju
Năm 1955 Thị trấn Jeju đƣợc nâng cấp thành thành phố Jeju
Lúc này tỉnh Jeju có 1 thành phố và 2 quận Năm 1956 Xã Seogwi đƣợc nâng cấp thành thị trấn Seogwi Năm 1968 Sân bay Jeju đƣợc khởi công
Năm 1981 Thành phố Seogwipo ra đời qua sự sáp nhập của thị
trấn Seogwi và xã Jungmun
Năm 2005 Tỉnh Jeju có hai thành phố (Jeju và Seogwipo) và
hai quận (Bắc Jeju và Nam Jeju)
Năm 2006
Tỉnh Tự trị Đặc biệt Jeju ra đời, sáp nhập quận Bắc Jeju vào thành phố Jeju và sáp nhập quận Nam Jeju vào thành phố Seogwipo và hai thành phố mới này đƣợc chuyển sang hình thức thành phố hành chính Năm 2007 Đảo núi lửa và hang động nham thạch ở Jeju đƣợc
UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Trang 40Hình 1.1 Bản đồ hành chính đảo Jeju qua các thời kỳ
(Nguồn: Tác giả chú thích lại)
1.2.3 Cộng đồng cƣ dân trên đảo Jeju
Theo Cục thống kê Hàn Quốc thì dân số toàn tỉnh Jeju tính đến năm 2015 là 641.355 người Thành phần dân cư chủ yếu là người Hàn Quốc, còn người nước ngoài chỉ có 16,960 người, chiếm 2,64% Trong số những người nước ngoài sinh sống trên đảo Jeju thì chiếm tỷ lệ nhiều nhất là người Trung Quốc, tiếp đến là Việt Nam và tộc người Choseon quốc tịch Trung Quốc Mặc dù được mệnh danh là hòn đảo có nhiều phụ nữ nhưng kể từ sau năm 2005, tỷ lệ dân số nam liên tục gia tăng nên đến năm 2015, dân số nam là 322.954 người còn dân số nữ là 318.401 người, với tỷ lệ 101:100
Cư dân Jeju truyền thống tập trung nhiều ở ven biển vì đó là nơi có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất kinh tế nông nghiệp (xem mục 1.2.1.) và đánh bắt thủy hải sản Từ lâu, ở những vùng ven biển này đã hình thành nên những ngôi làng là nơi mà cộng đồng cư dân quần tụ sinh sống và tham gia hoạt động kinh tế Những