1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa nâng đỡ xã hội và ý thức về giá trị bản thân với thích nghi đại học ở tân sinh viên tại đại học quốc gia thành phố hồ chí minh

64 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 487,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO T ỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG M

Trang 1

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO T ỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

M ỐI QUAN HỆ GIỮA NÂNG ĐỠ XÃ HỘI VÀ Ý THỨC VỀ GIÁ TRỊ

B ẢN THÂN VỚI THÍCH NGHI ĐẠI HỌC Ở TÂN SINH VIÊN TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thu ộc nhóm nghành khoa học: Khoa học xã hội và nhân văn

Trang 2

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO T ỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

M ỐI QUAN HỆ GIỮA NÂNG ĐỠ XÃ HỘI VÀ Ý THỨC VỀ GIÁ TRỊ

B ẢN THÂN VỚI THÍCH NGHI ĐẠI HỌC Ở TÂN SINH VIÊN TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thuộc nhóm nghành khoa học: Khoa học xã hội và nhân văn

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Oanh Giới tính: Nữ

Trang 3

M ỤC LỤC

Danh m ục bảng biểu………

Danh m ục những từ viết tắt………

Thông tin k ết quả nghiên cứu của đề tài………

TÓM T ẮT ĐỀ TÀI………

PH ẦN MỞ ĐẦU I Lý do ch ọn đề tài………

II T ổng quan tình hình nghiên cứu………

1 Nghiên c ứu trong nước………

2 Nghiên c ứu ngoài nước………

III Câu h ỏi nghiên cứu………

IV M ục tiêu đề tài………

V Đối tượng khách thể phạm vi nghiên cứu………

PH ẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận I CƠ SỞ LÝ LUẬN………

1 Tân sinh viên …….………

2 Thích nghi và thích nghi đại học………

3 Ý thức về giá trị bản thân………

4 Nâng đỡ xã hội………

5 Nâng đỡ xã hội và thích nghi đại học………

6 Ý th ức về giá trị bản thân và thích nghi đại học………

7 Ý th ức về giá trị bản thân và nâng đỡ xã hội ………

II GI Ả THUYẾT NGHIÊN CỨU………

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu 1 Thành ph ần tham gia………

3

4

5

7

8

12

12

16

20

20 21

22

22

23

25

28

30

31

31

33

34

Trang 4

2 Thang đo………

3 Ti ến trình thực hiện………

Chương 3: Kết quả nghiên cứu 1 Mức độ thích nghi đại học của tân sinh viên tại đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh………

2 M ức độ ý thức về giá trị bản thân ở tân sinh viên tại đại học Quốc gia thành ph ố Hồ Chí Minh………

3 M ức độ nâng đỡ xã hội của tân sinh viên tại đại học Quốc gia thành phố H ồ Chí Minh………

4 M ối quan hệ giữa thích nghi đại học, ý thức về giá trị bản thân và nâng đỡ xã h ội ở tân sinh viên tại đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh………

PH ẦN KẾT LUẬN I K ết luận………

II Th ảo luận………

2.1 Th ảo luận……… ………

2.2 M ột số kiến nghị………

2.3 Đạo đức nghiên cứu………

2.4 Nh ững hạn chế và đề xuất cho những nghiên cứu tương lai………

Tài li ệu tham khảo………

Ph ụ lục………

36

37

39

40

41

42

45

45

45

46

47

50

57

Trang 5

DANH M ỤC BẢNG BIỂU

B ảng

Bảng1: Bảng thống kê tần số sinh viên tham gia nghiên cứu ở sáu trường

đại học thuộc ĐHQG TPHCM

B ảng 2: Bảng thống kê tần số sinh viên ở từng khoa khác nhau

B ảng 3: Trung bình và độ lệch chuẩn của các loại thích nghi

B ảng 4 : Phân loại ý thức về giá trị bản thân

Bảng 5: Trị trung bình và độ lệch chuẩn của các kiểu nâng đỡ xã hội

B ảng 6: Mối quan hệ giữa thích nghi đại học, ý thức về giá trị bản thân và

Trang 6

DANH M ỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Ngôn ngữ TBN

Ngữ văn TQ ĐTVT

Kỹ thuật XD MMT và TT KHMT KHKTTT CNTT

Quản lý CN K/h ứng dụng KTHTCN KTPM

Quản lý CN K/h ứng dụng KTHTCN KHXH&NV

Đh KHTN

Đh CNTT

Đh BK

Đh KT-L ĐHQG TPHCM

Ý nghĩa

Ngôn ngữ Tây Ban Nha

Ngữ văn Trung Quốc Điện tử viễn thông

Kỹ thuật hệ thống công nghiệp

Kỹ thuật phần mềm

Quản lý công nghệ Khoa học ứng dụng

Kỹ thuật hệ thống công nghiệp Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Khoa học tự nhiên

Đại học Công nghệ thông tin Đại học Bách Khoa

Đại học Kinh tế - Luật Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Mối quan hệ giữa nâng đỡ xã hội và ý thức về giá trị bản thân với thích nghi đại học ở tân sinh viên tại Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

- Người hướng dẫn: Ts Trì Thị Minh Thúy

- Sinh viên thực hiện:

Khoa Tâm lý học Tâm lý học Tâm lý học Tâm lý học

2 M ục tiêu của đề tài

- Cung cấp số liệu khảo sát về mức độ thích nghi đại học của tân sinh viên tại đại

học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

- Tìm ra mối tương quan giữa các biến nâng đỡ xã hội, ý thức về giá trị bản thân, thích nghi đại học với nhau ở tân sinh viên tại đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

- Đưa ra một số khuyến nghị giúp làm tăng khả năng thích nghi đại học ở tân sinh viên tại đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

3 K ết quả nghiên cứu

Tân sinh viên tại ĐHQG TPHCM có mức độ thích nghi đại học, mức độ ý thức về giá trị

bản thân và mức độ nâng đỡ xã hội đều ở mức trên trung bình Số lượng các sinh viên có ý thức

về giá trị bản thân cao hơn gấp 3 lần các sinh viên có ý thức về giá trị bản thân thấp hơn Đồng

Trang 8

thời, giữa 3 yếu tố: nâng đỡ xã hội, ý thức về giá trị bản thân và thích nghi đại học ở tân sinh viên ĐHQG TPHCM đều có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê với nhau

Ngày 15 tháng 05 năm 2017

Chủ nhiệm đề tài

Trang 9

TÓM T ẮT ĐỀ TÀI

Nghiên cứu được tiến hành để tìm ra mối quan hệ giữa thích nghi đại học, ý thức về giá

trị bản thân và nâng đỡ xã hội ở tân sinh viên tại đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Kết

quả của nghiên cứu thu được thông qua việc tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi theo cách lấy mẫu thuận tiện được tiến hành trên 460 tân sinh viên đến từ nhiều khoa khác nhau thuộc sáu trường đại học (đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đại học Công nghệ thông tin, đại học Quốc tế, đại học Kinh tế- Luật, đại học Khoa học Tự nhiên, đại học Bách Khoa) thuộc đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Thông tin thu được sau khi phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản 20 cho thấy tân sinh viên tại đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh có mức độ thích nghi đại học ở mức trên trung bình Kết quả từ việc phân tích chỉ số tương quan r cho thấy

có mối tương quan thuận khá mạnh giữa ý thức về giá trị bản thân và thích nghi đại học; Có mối tương quan thuận trung bình giữa nâng đỡ xã hội và thích nghi đại học; Ý thức về giá trị bản thân và nâng đỡ xã hội cũng có mối tương quan thuận trung bình với nhau Nghiên cứu nhấn

mạnh tầm quan trọng của nâng đỡ xã hội và ý thức về giá trị bản thân đối với quá trình thích nghi

của tân sinh viên với đại học

Trang 10

PH ẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI

Tân sinh viên hay sinh viên năm nhất bắt đầu học đại học thường có những kỳ vọng về

cuộc sống đại học từ lâu trước khi thực sự rời khỏi nhà Dù kỳ vọng ấy là gì đi nữa, gần như mọi sinh viên đều gặp phải những trải nghiệm đầy thách thức khi bước vào trường đại học mà họ không lường trước được Cuộc sống thay đổi thường tạo ra sự căng thẳng, và chắc chắn những thay đổi liên quan đến việc rời khỏi nhà để học đại học là cần thiết và nó có thể dẫn đến những

cảm xúc khác nhau trong đó có nỗi buồn, sự cô đơn và lo lắng Những cảm xúc này là điển hình

và là một phần của quá trình chuyển đổi phát triển bình thường để học đại học (“Adjusting To College”, n.d.)

Khi có sự thay đổi thì cần phải có sự thích nghi Thích nghi đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của tất cả mọi người cho dù người đó có nhận ra hay không Bởi thế giới chúng

ta đang sống là một thế giới động Không có gì là vĩnh viễn Mọi thứ có thể thay đổi không lúc này thì lúc khác ( Powell, 1983, được trích dẫn bởi Thúy, Hema, 2003) Đối với tân sinh viên, chuyển đến học đại học thường gắn liền với mức độ cao của sự cô đơn, sự thích nghi không tốt

về mặt tình cảm và sự trầm cảm, những điều mà có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc thể hiện tại đại học (Wintre & Yaffe, 2000, trích dẫn trong Alt& Itzkovich, 2016) Hơn nữa, những sinh viên năm nhất có hoàn cảnh khác nhau thì có sự thích nghi khác nhau với đại học Có những sinh viên có mức độ thích nghi đại học cao hơn những sinh viên khác Độ cần thiết của sự thích nghi phụ thuộc vào số lượng các thay đổi và mức ý nghĩa của các thay đổi đó (Thúy, Hema, 2003) Những sinh viên rời khỏi trường trung học để học đại học toàn thời gian và sống trong khuôn viên trường có xu hướng sẽ trải qua nhiều sự điều chỉnh nhất Những sinh viên còn đang

Trang 11

sống ở nhà và duy trì tình bạn trung học sẽ phải điều chỉnh ít hơn Sinh viên là người trưởng thành đang theo học bán thời gian và được cân bằng bởi trường học, nơi làm việc, và gia đình có yêu cầu điều chỉnh ít nhất (Chickering, Schlossberg, 1995, được trích dẫn bởi Love, 2014)

Môi trường đại học mang đến cho sinh viên một thời gian độc lập với các quy tắc và giới

hạn độ tuổi Sinh viên đại học có thể cảm thấy mình đầy quyền năng và có khả năng chấp nhận

rủi ro với việc mình làm Nhưng những cơ hội và cả những hậu quả đều có thể rất cao Các sinh viên năm nhất đại học sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực liên quan đến các tình huống xã hội - quan hệ tình dục, ma túy và rượu bia Với sự phát triển của tri thức, sinh viên ngày nay đang

cảm thấy áp lực ngày càng tăng để biết những gì họ muốn làm, chọn một con đường sự nghiệp

và kế hoạch cho tương lai của họ Áp lực này đang gây ra những tình trạng đáng buồn như lạm

dụng chất, lo lắng và thậm chí trầm cảm (Shatkin, 2015)

Trong một cuộc khảo sát năm 1999 trên 683 trường cao đẳng và đại học được thực hiện trong những ngày đầu tiên đi học thực hiện bởi Đại học California tại Los Angeles, 30,2% tân sinh viên thừa nhận rằng họ thường xuyên cảm thấy bị quá tải, tỷ lệ này gần gấp đôi tỷ lệ trong năm 1985 (Altschuler, 2000, được trích dẫn trong Santrock, 2009) Theo một nghiên cứu quốc gia trên hơn 300 000 sinh viên tại hơn 500 trường cao đẳng và đại học ở Mỹ thì sinh viên ngày nay trải qua nhiều căng thẳng và áp lực hơn trong quá khứ (Pryor & cộng sự, 2007) Một cuộc

khảo sát quốc gia khác được thực hiện bởi “the American College Health Association”(2008) trên 90 000 sinh viên thuộc 177 đại học Kết quả cho thấy cảm nhận mọi thứ vô ích, cảm thấy quá tải với tất cả những gì phải làm, cảm thấy tinh thần kiệt quệ, cảm thấy buồn chán và trầm

cảm, không phải là không phổ biến ở sinh viên (được trích dẫn từ Santrock, 2009) Một nghiên

cứu khác lại chỉ ra rằng bối cảnh học tập tạo ra nhiều sự căng thẳng nhất cho sinh viên là các bài

kiểm tra, thi cuối khóa, các cuộc thi, giảng viên và môi trường lớp học, quá nhiều bài kiểm tra

Trang 12

giấy và bài luận, công việc và tương lai (Murphy, 1996, được trích dẫn từ Santrock, 2009) Tại

Việt Nam trong một cuộc điều tra xã hội về lối sống của sinh viên ở đại học Quốc gia thành phố

Hồ Chí Minh, thạc sỹ Nguyễn Ánh Hồng (n.d) đã rút ra ba kiểu sống cơ bản của sinh viên: 60%

sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội; 10 % hướng vào vui chơi và hưởng thụ; 30% có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng và say mê học tập (được trích dẫn từ Đỗ Văn Biên, 2013)

Vì vậy, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, việc sinh viên gặp khó khăn để thích nghi và thành công với đại học không phải là không phổ biến Tác động của nó có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai Việc này khiến cho nhiều nhà chuyên môn phải băn khoăn trăn trở và tìm cách để giúp cho sinh viên có thể đối phó với những khó khăn của họ ngay từ những năm đầu tiên

Gray và cộng sự (2013) kết luận là nâng đỡ xã hội (social support) giúp tiên đoán một cách mạnh mẽ sự thích nghi xã hội với đại học Nâng đỡ xã hội là những nguồn lực, bao gồm

viện trợ vật chất, hỗ trợ cảm xúc xã hội và hỗ trợ thông tin được cung cấp bởi những người xung quanh để giúp một người đối phó với những khó khăn và căng thẳng trong cuộc sống ( Gerrig và

cộng sự, 2002) Ở sinh viên năm nhất, nhiều tài liệu nói về vai trò của nâng đỡ xã hội trong quá trình thích nghi lấy quan điểm từ góc độ của căng thẳng mà nâng đỡ xã hội là một cơ chế đệm và nguồn lực cho phép các sinh viên thực hiện quá trình chuyển đổi sang một môi trường học tập và

xã hội mới Nâng đỡ xã hội cũng làm giảm khả năng gặp phải căng thẳng trong cuộc sống Các nghiên cứu trước đây đã xem xét các tác động nâng đỡ xã hội từ nhiều nguồn khác nhau, kể cả cha mẹ, gia đình rộng lớn hơn, bạn bè, các giảng viên và công nhân viên (Credé & Niehorster, 2012)

Trang 13

Ngoài nâng đỡ xã hội thì ý thức về giá trị bản thân cũng là một trong những yếu tố có thể tiên đoán cho quá trình thích nghi ở tân sinh viên (Dubois, Bull, Sherman, 1998) Bởi ý thức về giá trị bản thân được xem như một nguồn lực hiệu quả giúp vượt qua stress ( Fleish & Hojat,

1983, được trích dẫn bởi Thúy, Hema, 2003) Ý thức về giá trị bản thân là một thái độ đánh giá

tổng quát về phía bản thân mà có thể gây ra ảnh hưởng đến cả tâm trạng và hành vi đồng thời có tác động như một hiệu ứng mạnh mẽ lên một loạt các hành vi cá nhân và xã hội (Gerrig và cộng

sự, 2002) Vì vậy ý thức về giá trị bản thân có thể tác động đến cách thức mà sinh viên đối phó

với các vấn đề, nhận thức môi trường mới và những tình huống mới lạ họ có thể gặp phải (Credé

ở sinh viên Việt Nam, qua những tìm hiểu về mối quan hệ giữa thích nghi đại học với nâng đỡ xã

hội và ý thức về giá trị bản thân ở sinh viên năm nhất tại sáu trường đại học thành viên (đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đại học Quốc tế, đại học Khoa học Tự nhiên, đại học Bách khoa, đai học Kinh tế- Luật, đại học Công nghệ Thông tin) thuộc đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

II T ỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Các nghiên cứu trên tân sinh viên hay sinh viên năm nhất nói riêng và trên sinh viên nói chung đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước thực hiện Bên cạnh các đề tài

về lối sống và các tệ nạn xã hội ở sinh viên hay vấn đề ngoại ngữ và hội nhập, thì cũng có nhiều

đề tài tìm hiểu về thích nghi và các khía cạnh liên quan đến sự thích nghi ở sinh viên Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này chúng tôi đã cố gắng để có thể tiếp cận nhiều nhất với các đề tài nghiên cứu về thích nghi hoặc có liên quan đến chủ đề này ở sinh viên nói chung và sinh viên năm nhất nói riêng Việc tìm hiểu các đề tài này giúp chúng tôi nắm được các khía cạnh trong

vấn đề thích nghi ở sinh viên đã được nghiên cứu như thế nào, những mặt nào mà các nghiên cứu trước thực hiện tốt, đáng học tập và những mặt nào cần phải cải thiện Bởi có những sự khác

biệt trong cấu trúc và cách thức nghiên cứu giữa các đề tài trong nước và ngoài nước nên chúng tôi xin được phân chia các nghiên cứu ở trong nước ra riêng so với các nghiên cứu ngoài nước

1 Nghiên c ứu trong nước

Đã có một số đề tài trong nước nghiên cứu về thích nghi hay có liên quan đến vấn đề thích nghi ở sinh viên và đặc biệt là sinh viên năm nhất Các đề tài đó thường nói đến những thay đổi trong cuộc sống sinh viên, những khó khăn mà sinh viên Việt Nam gặp phải và cần phải

khắc phục để có được thành công

Khi chọn con đường học đại học, đồng nghĩa với việc sinh viên chọn làm quen với những

sự thay đổi liên quan đến phương thức và môi trương học tập hoàn toàn mới Một trong những thay đổi mà sinh viên cần phải làm quen là phương thức học tập theo tín chỉ Quan tâm tơi vấn

đề này, Đặng Thanh Nga (2014) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số

Trang 15

yếu tố đến sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên Trường Đại Học Luật Hà Nội Nghiên cứu được thực hiện trên khách thể là 355 sinh viên đang

học năm thứ nhất, năm thứ hai, năm thứ ba Phương pháp nghiên cứu là sự kết hợp giữa điều tra

bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu Nghiên cứu đã chỉ ra cả yếu tố chủ quan và khách quan đều có ảnh hưởng đến quá trình thích ứng với hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên Trong đó các yếu tố chủ quan gây ra khó khăn nhiều nhất cho sinh viên là: Bản thân chưa tự giác và chủ động trong học tập, chưa có kỹ năng phương pháp học tập phù hợp với hình thức đào tạo tín chỉ Còn yếu tố khách quan có ảnh hưởng lớn nhất là khối lượng kiến thức mà sinh viên phải tiếp thu trong một ngày quá nặng

Đối với các sinh viên năm nhất vấn đề thích nghi với phương thức học tập theo tín chỉ không phải là khó khăn duy nhất mà họ phải đối mặt Những khó khăn đó đã được chỉ ra trong nghiên cứu của Đặng Thị Lan (2014) về “Một số khó khăn trong hoạt động học của sinh viên

những năm đầu ở trường đại học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc Gia Hà Nội Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra viết và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được tiến hành trên 506 sinh viên Kết quả chỉ ra sinh viên năm nhất đang gặp khó khăn ở phương pháp học đại học, nội dung

học và khả năng học tập Ngoài ra sinh viên năm nhất còn gặp khó khăn ở nhịp độ nhanh của

việc học ở đại học và việc giảng dạy ở đại học Sinh viên năm nhất gặp ít khó khăn nhất về vấn

đề thi và kiểm tra, phân phối và sắp xếp thời gian trong quá trình học đại học Đi sâu hơn nữa thì

có một nghiên cứu khác về các tình huống có vấn đề trong hoạt đông học tập của sinh viên Nghiên cứu này tiến hành trên hai nhóm khách thể là sinh viên và giảng viên và kết luận có 15 tình huống học tập có vấn đề được đánh giá xuất hiện ở mức độ thường xuyên ở cả hai nhóm khách thể này Nguyên nhân phổ biến làm nảy sinh các tình huống có vấn đề trong hoạt động

học tập của sinh viên tập trung ở ba yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ học tập của sinh viên

Trang 16

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi xác lập 45 tình huống học tập chứa đựng sự mâu thuẫn giữa yếu cầu của hoạt động học tập với khả năng hiện có của sinh viên xảy ra trong quá trình thực hiện các hoạt động học tập Mẫu nghiên cứu là mẫu ngẫu nhiên trên 268 sinh viên và 96 giảng viên (Hoàng Thị Quỳnh Lan, 2015)

Các chủ đề về tương hợp hay vấn đề tâm lý mà sinh viên trong đó có sinh viên năm nhất đang gặp phải cũng được nhiều nghiên cứu trong nước đề cập Lê Minh Nguyệt (2014) nghiên

cứu mức độ tương hợp tâm lý giữa giảng viên và sinh viên Trường đại học Sư phạm Hà Nội Nghiên cứu này sử dụng mẫu gồm 316 sinh viên năm thứ nhất, sinh viên năm thứ ba và 42 giảng viên với phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và quan sát Nghiên cứu đã chỉ ra mức độ tương hợp tâm lý giữa giảng viên và sinh viên trường đại học Sư phạm Hà Nội chỉ ở mức trung bình và biểu hiện tương đối rõ ở sự đồng cảm,

tiếp đến là sự hiểu biết và cuối cùng là sự hợp tác lẫn nhau Nhìn chung sự tương hợp giữa sinh viên năm thứ ba với giảng viên cao hơn tương hợp giữa sinh viên năm thứ nhất với giảng viên Nguyễn Xuân Long, Vũ Ngọc Hà (2014) nghiên cứu : “ Một số yếu tố ảnh hưởng đến trí thông minh và trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường đại học Ngoại ngữ , đại học Quốc Gia Hà Nội” Nghiên cứu được tiến hành trên 175 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ ba của các khoa tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nga và tiếng Pháp Với phương pháp điểu tra bằng bảng hỏi và xử lý số

liệu bằng SPSS nghiên cứu đã chỉ ra không nhiều sinh viên cho rằng họ thường xuyên làm chủ được cảm xúc của mình, hiểu cảm xúc của người khác và ứng xử tốt với người xung quanh Yếu

tố tích cực của bản thân trong học tập, rèn luyện và yếu tố giáo dục của nhà trường là hai yếu tố

có ảnh hưởng mạnh nhất đến trí thông minh trí tuệ cảm xúc của sinh viên Nghiên cứu “Thực

trạng kỹ năng sống của sinh viên trong giai đoạn hiện nay” cho thấy giáo dục kỹ năng sống có vai trò quan trọng trong giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xã

Trang 17

hội nhưng nhìn chung kỹ năng sống của sinh viên vẫn còn hạn chế Có nhiều yếu tố tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển kỹ năng sống của sinh viên Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và được tiến hành trên 66 giảng viên và 900 sinh viên của

một số trường đại học thuộc khu vực Hà Nội (Nguyễn Thị Hà Lan, 2015)

Một nghiên cứu của Trần Hữu Luyến, Bùi Thị Hồng Thái (2015) trình bày kết quả điểu tra về bảo mật thông tin trên mạng xã hội và tự đánh giá bản thân của 4205 sinh viên sử dụng

mạng xã hội Với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, các số liệu điều tra được xử lý bằng phần

mềm SPSS 16.0 gồm các phép thống kê mô tả (tính giá trị phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn), các phép toán tìm mối liện hệ giữa các biến (chi bình phương, so sánh giá trị trung bình

bằng t-test, phân tích phương sai ANOVA) nghiên cứu chỉ ra 81,80 % sinh viên khi sử dụng

mạng xã hội có bảo vệ thông tin cá nhân, nhưng có đến 73,20% sinh viên bảo mật thông tin ở

mức độ thấp Các sinh viên đều có xu hướng đánh giá bản thân ở mức chuẩn và cao, trong đó

những sinh viên có bảo mật thông tin và bảo mật thông tin càng ở mức độ cao, càng có xu hướng

tự đánh giá bản thân tích cực hơn so với những sinh viên không có bảo mật thông tin và bảo mật thông tin ở mức độ thấp Mối quan hệ giữa số giờ sử dụng mạng xã hội và tự đánh giá bản thân

của người sử dụng được điều tiết bởi việc có bảo mật thông tin hay không

Trên đây là những đề tài nghiên cứu trong nước mà nhóm nghiên cứu nhận thấy có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của mình Các nghiên cứu trong nước này đã phần nào chỉ ra được

những vấn đề mà sinh viên Việt Nam gặp phải trong quá trình thích nghi với cuộc sống đại học Tuy nhiên những vấn đề nghiên cứu về thích nghi ở trong nước vẫn còn ít và vẫn chưa có đề tài nào quan tâm nghiên cứu tới những mối quan hệ giữa việc thích nghi ở sinh viên với những yếu

tố như nâng đỡ xã hội hay ý thức về giá trị bản thân Nhóm nghiên cứu nghĩ rằng cần phải có

Trang 18

nhiều đề tài hơn nữa trong nước đi sâu tìm hiểu về vấn đề đóng góp cho những nổ lực nhằm thúc đẩy sự thành công ở sinh viên

2 Nghiên c ứu ngoài nước

Bên cạnh các đề tài nghiên cứu trong nước thì có một lượng lớn và đa dạng các đề tài nghiên cứu ngoài nước nói về vấn đề thích nghi trên sinh viên và sinh viên năm nhất Nhóm xin tóm lược một số đề tài như sau:

2.1 Những nghiên cứu về thích nghi

Trong một nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thích nghi của sinh viên ở một trường đại học tại Zimbabwe, Canada ( Julia & Veni, 2012) Các vấn đề về nhân cách, cảm xúc,

xã hội và trường học ở sinh viên được phân tích trên mẫu ngẫu nhiên là 115 sinh viên tham gia

ba học kì đầu tiên Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc bao gồm các câu hỏi mở và đóng Nghiên cứu phát hiện một lượng lớn sinh viên đã thất bại trong việc thích nghi với các yêu cầu đến từ trường đại học, điều này có liên quan tới các điều kiện kinh tế hiện hành tại Zimbabwe Al-khatib, Awamleh, Samawi (2012) nghiên cứu sự thích nghi với cuốc sống đại học của sinh viên tại đại học Albalqa Applied, Jordan Nghiên cứu tiến hành với 334 đơn vị mẫu bao gồm

171 sinh viên nam và 163 sinh viên nữ được chọn ngẫu nhiên là đại diện cho 10% tổng thể mẫu Nghiên cứu tìm ra tỉ lệ thích nghi của sinh viên với cuộc sống đại học là khiêm tốn và không có khác biệt ý nghĩa thống kê trên thang đo sự thích nghi ở đại học với giới tính, trường đại học,

mức học và sự tương tác giữa những yếu tố này

Cũng trong một nghiên cứu khác thì ở sinh viên năm nhất có sự trưởng thành trong cảm xúc kém hơn và do đó thấy khó khăn trong việc thích nghi về mặt cảm xúc trước sự thay đổi của môi trường khi so với sinh viên năm cuối Do sinh viên năm cuối là những người có sự quen thuộc với môi trường xung quanh, nên dễ dàng hội nhập vào cơ cấu xã hội của trường đại học

Trang 19

(Sharma, 2012) Cuộc khảo sát của Lai (2014) với 279 tân sinh viên từ khoa khoa học xã hội, nghệ thuật và nhân văn ở một trường đại học tư nhân đã cho thấy sinh viên năm nhất càng thích nghi xã hội, cảm xúc - cá nhân, học thuật thì càng thích nghi tốt và gắn bó chặt chẽ với trường đại học của mình hơn

Về vấn đề sự khác biệt trong thích nghi đại học giữa nam và nữ, một nghiên cứu được

tiến hành trên 80 sinh viên đại học (40 nam và 40 nữ) của trường Cao đẳng công lập Ganderbal, Kashmir, Ấn Độ, đã chỉ ra không có sự khác biệt đáng kể nào được tìm thấy giữa các sinh viên nam và nữ về tổng điểm số thu được trên thang đo mức độ thích nghi Hai nhóm cũng không có

sự khác nhau về điểm số thu được riêng biệt trên bất kỳ khía cạnh nào của thang đo mức độ thích nghi Hơn nữa hai nhóm cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về thành tích học tập của họ (Ganai & Mir, 2013) Trong một nghiên cứu nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của giới tính và nơi cư trú đến việc thích nghi đại học của tân sinh viên Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu một mẫu 117 tân sinh viên tại đại học Kỹ thuật Tafila Các khách thể đến từ các vùng khác nhau ở Jordan

Kết quả cho thấy nam sinh viên có sự thích nghi tốt hơn so với nữ sinh viên Đồng thời, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tân sinh viên đến từ các thành phố khác không có khả năng thích nghi với môi trường đại học vì sự khác biệt, vì môi trường, vị trí của trường đại học, ngoài những cảm giác cô lập từ gia đình và bạn bè (Al-Qaisy, 2010)

2.2 Nh ững nghiên cứu về nâng đỡ xã hội ở sinh viên

Gray và cộng sự (2013) tiến hành nghiên cứu về thích nghi xã hội ở đại học trong thời đại

của phương tiện truyền thông đại chúng và những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi thành công và bền bỉ lên đại học Đi từ việc nhận thấy rằng những phương tiện truyền thông xã hội như Facebook được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng có tiềm năng thúc đẩy một cách tích cực

sự chuyển đổi lên đại học bằng khuyến khích kết nối và tương tác giữa những người bạn cùng

Trang 20

tuổi với nhau Nghiên cứu muốn kiểm tra vai trò của Facebook đối với sự thích nghi xã hội ở sinh viên trong năm đầu ở trường đại học bằng sử dụng dữ liệu khảo sát trên 338 sinh viên và xem việc sử dụng Facebook là một yếu tố tiên đoán cụ thể cho sự nâng đỡ xã hội và thích nghi

xã hội Kết quả cho thấy mối tương quan thuận giữa hai biến là số lượng bạn bè trên Facebook

của sinh viên và việc họ giải quyết các hành vi hợp tác với bạn học Nghiên cứu cũng đo lường nâng đỡ xã hội và sự thích nghi xã hội, cũng như mối tương quan thuận giữa thích nghi xã hội và

sự kiên trì ở đại học Kết luận rằng nâng đỡ xã hội giúp tiên đoán một cách mạnh mẽ sự thích nghi xã hội với đại học Cũng theo nghiên cứu này thì dùng tên Facebook để kết nối với bạn học

và hợp tác trong những dự án giáo dục giúp sinh viên cảm thấy kết nối hơn với trường đại học,

việc dùng Facebook thực sự nâng đỡ những hành vi tiền xã hội có liên hệ với sự thích nghi của sinh viên với đại học, điều này làm gia tăng khả năng sinh viên trở lại trường trong những năm

tiếp theo

Trong một nghiên cứu với 250 sinh viên năm thứ nhất các trường đại học về giáo dục ở bang Kwara, Nigeria, để kiểm tra sự đóng góp của yếu tố tâm lý và xã hội dự đoán các thích nghi đại học Kết quả chi ra rằng sự tự đánh giá bản thân, trí thông minh cảm xúc, nâng đỡ xã hội đều

là các giá trị tiên đoán sự thích nghi (Salami, 2011)

Những ảnh hưởng đáng kể của sự quan tâm về mặt tài chính, về mặt thương lượng hỗ trợ gia đình và về trách nhiệm, cùng với sự đa dạng chủng tộc (nhận thức và hành vi) có ảnh hưởng đến thích nghi của sinh viên và ý thức hội nhập trong năm đầu tiên Nhận thức về ảnh hưởng của

môi trường cạnh tranh, sự hài lòng với các môn học và khả năng thay đổi là chìa khóa cho vấn đề chuyển đổi môi trường của tất các sinh viên năm đầu (Hurtado và cộng sự, 2006)

Trang 21

2.3 Nh ững nghiên cứu về ý thức về giá trị bản thân ở sinh viên

Pritchard, Wilson, Yamnitz, (2007), đã tiến hành một cuộc điều tra Bảng hỏi được phát cho 525 sinh viên năm nhất thuộc đại học Evansville thực hiện vào 2 thời điểm: 1 tuần trước năm

học mới và 1 tháng trước khi kết thúc năm học Kết quả cho thấy rằng các chiến thuật đối phó tiêu cực và cầu toàn sẽ dự đoán sức khỏe thể chất kém hơn và dự đoán việc sử dụng rượu vào

cuối năm Đồng thời, sự lạc quan và ý thức về giá trị bản thân dự đoán kết quả thể chất và tâm lý

tốt hơn Một nghiên cứu khác đã thu thập dữ liệu câu hỏi từ 79 sinh viên tại 2 thời điểm trong năm đầu đại học của họ để kiểm tra những thay đổi trong ý thức thuộc về trường đại học, chất lượng của các mối quan hệ bạn bè, và những thích nghi tâm lý có liên quan Kết quả cho thấy

những sinh viên có những thay đổi tích cực trong ý thức thuộc về trường đại học cũng đồng thời thay đổi tương ứng tích cực trong việc tự nhận thức (ví dụ, năng lực học thuật, giá trị bản thân)

và giảm trong các vấn đề hành vi nội hóa của họ Đồng thời, chất lượng của mối quan hệ bạn bè cũng có liên hệ với việc giảm mức độ của các vấn đề về mặt hành vi Như vậy, có thể thấy rằng

ý thức thuộc về trường đại học và chất lượng tình bạn là những yếu tố quan trọng trong việc thích nghi đại học của tân sinh viên (Pittman & Richmond, 2008)

Một nghiên cứu khác được tiến hành đo đạc trong hai khoảng thời gian khác nhau của năm học đã cho kết quả về việc thích nghi học tập ở cuối năm nhất đại học đã được tiên lượng

bởi sự phát triển của ý thức về giá trị bản thân gắn liền với tập thể Đồng thời, sự phát triển của

ý thức về giá trị bản thân gắn liền với tập thể có mối liên hệ với sự phát triển của thích nghi đại

học từ học kỳ I đến học kỳ II của sinh viên Ngoài ra, sự thay đổi trong sự tự đánh giá bản thân

cá nhân cũng như chất lượng của các mối quan hệ ở trường đại học của sinh viên và số lượng của các hoạt động ngoại khóa có ảnh hưởng đến sự thích nghi trong môi trường đại học (Bettencourt

và cộng sự, 1999)

Trang 22

mức ý nghĩa và độ mạnh của các kết quả nghiên cứu

III CÂU H ỎI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này được thực hiện để trả lời những câu hỏi liên quan đến sự thích nghi và

những mối quan hệ giữa sự thích nghi, nâng đỡ xã hội và ý thức về giá trị về bản thân như sau :

1 Mức độ thích nghi đại học của tân sinh viên tại đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?

2 Có mối quan hệ có ý nghĩa giữa nâng đỡ xã hội và thích nghi đại học ở tân sinh viên hay không?

3 Có mối quan hệ có ý nghĩa giữa ý thức về giá trị bản thân và thích nghi đại học ở tân sinh viên hay không?

4 Có mối quan hệ có ý nghĩa giữa nâng đỡ xã hội và ý thức về giá trị bản thân ở tân sinh viên hay không?

IV M ỤC TIÊU ĐỀ TÀI

1 Cung cấp số liệu khảo sát về mức độ thích nghi đại học của tân sinh viên tại đại học

Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

2 Tìm ra mối tương quan giữa các biến nâng đỡ xã hội, ý thức về giá trị bản thân, thích nghi đại học với nhau ở tân sinh viên tại đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

Trang 23

3 Đưa ra một số khuyến nghị giúp làm tăng khả năng thích nghi đại học ở tân sinh viên tại đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

V ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa nâng đỡ xã hội và ý thức về giá trị bản thân với thích nghi đại học ở tân sinh viên tại đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

2 Khách th ể và phạm vi nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu bao gồm toàn bộ tân sinh viên năm học 2016-2017 tại đại học

Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh (đại học Bách Khoa, đại học Khoa học Tự nhiên, đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đại học Quốc tế, đại học Công nghệ Thông tin, đại

học Kinh tế-Luật)

Trang 24

PH ẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Tân sinh viên

Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng 2 thuật ngữ là tân sinh viên và sinh viên năm nhất

với ý nghĩa như nhau để chỉ những sinh viên đang theo học năm đầu tiên tại các trường đại học Nghiên cứu này quan tâm tới đối tượng là những người có trải nghiệm học đại học lần đầu tiên, không bao gồm những người đang học năm nhất nhưng đã có kinh nghiệm học đại học trong

những năm trước đây (chuyển trường, chuyển nghành, năm thứ nhất hệ văn bằng 2, thi lại,…) Các sinh viên năm nhất điều đang ở trong độ tuổi từ 18 đến 25, là một giai đoạn phát triển đặc

biệt đánh dấu sự chuyển đổi từ vị thành niên sang người lớn Giai đoạn này có những đặc trưng như: Nhận dạng bản thân, đặc biệt là trong tình yêu và công việc; Bất ổn định trong tình yêu, công việc và giáo dục; Có ít các nghĩa vụ xã hội so với những người ở độ tuổi lớn hơn, chủ yếu

lo cho bản thân mình và ít có những cam kết, trách nhiệm với người khác khiến họ có cơ hội tạo

lập sự tự chủ và tự kiểm soát cuộc sống riêng; Có những cảm giác ở giữa khi mà nhiều người trong độ tuổi này không xem mình là vị thành niên hay là một người lớn thực thụ; Mọi thứ đều

có thể xảy ra với người ở độ tuổi này khi họ có được thời gian và cơ hội để thay đổi cuộc sống

của mình (Arnett, 2006) Cũng trong giai đoạn phát triển này rất nhiều bạn vẫn đang trong giai đoạn xác định công việc nào họ muốn theo đuổi, bản sắc nào họ muốn trở thành và phong cách

sống nào họ muốn theo đuổi (ví dụ như độc thân, sống chung hay kết hôn) (Santrock, 2009)

Một trong những thay đổi quan trọng ở tân sinh viên là thay đổi môi trường học tập

Việc chuyển đổi từ môi trường học phổ thông sang môi trường học đại học đòi hỏi tính tự chủ nhiều ở tân sinh viên khi có những thúc đẩy thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc và sự hình thành

Trang 25

các vòng tròn bạn bè mới (Ellison và cộng sự, 2002) Đối với rất nhiều sinh viên năm nhất, sự chuyển đổi này bao gồm sự di chuyển đến một môi trường rộng lớn hơn, tương tác nhiều hơn với các bạn học đến từ những vùng địa lý khác nhau và có những quan niệm đạo đức khác nhau Hơn nữa, đi từ học sinh năm cuối ở trường cấp ba đến sinh viên năm đầu tại trường đại học gây

ra một hiện tượng có thể gọi là “lên voi xuống chó” ở các bạn sinh viên này, khi họ phải trải qua quá trình chuyển đổi từ nhóm lớn tuổi và có nhiều quyền lực nhất ở trường phổ thông sang nhóm

nhỏ tuổi và có ít quyền lực nhất ở môi trường đại học (Santrock, 2009) Tuy nhiên sự chuyển đổi từ trường phổ thông sang đại học cũng bao gồm những đặc điểm tích cực Sinh viên sẽ có

cảm giác trưởng thành hơn, có nhiều mục tiêu để lựa chọn và theo đuổi hơn, có nhiều thời gian dành cho bạn bè, có nhiều cơ hội để khám phá nhiều phong cách sống và giá trị khác nhau, tận hưởng khoảng thời gian được sống độc lập và ít chịu sự giám sát từ bố mẹ, có thể thử thách khả năng trí tuệ bằng các bài tập ở trường (Santrock & Halonen, 2008)

Vì vậy, sinh viên năm nhất được kỳ vọng phải tạo ra một chuỗi những sự thích nghi để đối phó với những chặng đường mới trong cuộc sống; Những sự thích nghi này bao gồm từ thích nghi với môi trương học thuật, xã hội, đến thích nghi với những con người mới, cảm xúc mới,… (Baker & Siryk, 1984; Hiester, Nordstrom & Swenson, 2009) nếu không họ có thể bị loại ra khỏi môi trương đại học ngay chính năm đầu tiên (Rausch & Hamilton, 2006)

2 Thích nghi và thích nghi đại học

Có nhiều định nghĩa về sự thích nghi, theo Sufian (2004) thích nghi là khả năng một cá

nhân đáp ứng được nhu cầu tâm lý của mình và biết tự chấp nhận cũng như yêu thích cuộc sống

mà không xảy ra các xung đột, biết chấp nhận và tham gia vào các hoạt động xã hội Thích nghi được Al-ananni (2005) định nghĩa là những hành vi được vạch ra để vượt qua khó khăn hay

những kĩ thuật được con người sử dụng để thõa mãn nhu cầu, đáp ứng các động cơ cũng như làm

Trang 26

giảm áp lực để đạt được cân bằng và sự hài lòng Còn Al-azza (2004) định nghĩa thích nghi là

khả năng cân bằng những nhu cầu riêng của một cá nhân với môi trường xung quanh và sự mở

rộng những hành vi cá nhân phù hợp với những mệnh lệnh của xã hội (được trích dẫn bởi khatib, Awamleh, Samawi, 2012) Thích nghi là những đáp ứng phù hợp trong một môi trường

Al-cụ thể Thay đổi suy nghĩ hay hành động để tương tác với môi trường vật lý, văn hóa và xã hội

của một người theo những cách thỏa mãn hơn Thích nghi, trong khuôn khổ của môn tâm lý học, thường được quan niệm là học tập để đối phó tốt hơn với những thay đổi trong cuộc sống (Matsumoto, 2009) Thích nghi là quá trình hành vi mà con người và các động vật khác duy trì

trạng thái cân bằng giữa các nhu cầu khác nhau của mình hoặc giữa các nhu cầu của mình và

những trở ngại của môi trường (Ganai& Mir, 2013)

Quá trình thích nghi g ồm bốn phần: (1) nhu cầu hoặc động cơ dưới dạng một kích thích

liên tục mạnh mẽ, (2) những điều gây trở ngại hoặc gây ra sự không thể đạt được các nhu cầu này, (3) các dạng hoạt động hoặc hành vi thăm dò kèm theo việc giải quyết vấn đề, (4) một số

phản ứng loại bỏ hoặc ít nhất là làm giảm các kích thích khởi phát ban đầu và hoàn thành việc thích nghi (Ganai& Mir, 2013)

Thích nghi đại học (University Adjustment) là khả năng thấu hiểu các thủ tục và bắt đầu

các mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè và giảng viên cũng như khả năng giải quyết các vấn đề tâm lý

và xã hội, bao gồm: Thích nghi học thuật (Academic Adjustment)– hài lòng với sự thể hiện của

bản thân ở trường; Thích nghi xã hội (Social Adjustment)– sự thích nghi với mội trường bên ngoài; Thích nghi c ảm xúc_cá nhân (Personal- Emotional Adjustment)– khả năng đạt được sự

hài lòng về bản thân giữa nhiều hoạt động khác nhau (Al-khatib, Awamleh, Samawi, 2012)

Những loại thích nghi đại học liên quan đến những thay đổi về vai trò, mối quan hệ, nhu cầu học

tập và nhu cầu xã hội (Love, 2014) Thích nghi với cuộc sống đại học được xem như là một

Trang 27

trong những yếu tố chính dẫn đến thành công ở đại học, bởi nó là yếu tố cho thấy khả năng đối

mặt với những khó khăn đến từ môi trường học tập, xã hội và những nhu cầu tình cảm Nếu biết thích nghi với cuộc sống đại học thì sinh viên có thể xây dựng cho mình những mối quan hệ tốt đẹp với mọi người và thông qua đó có thể nâng cao những thành tựu của mình (Al-khatib, Awamleh, Samawi, 2012) Các cơ sở lý thuyết đều cho rằng thích nghi đại học đặt nên tảng cho

khả năng duy trì thời gian học đại học của sinh viên (Bean, 1980, 1982; Tinto, 1975, 1986, trích

dẫn trong Backhaus, 2009) Một sự thích nghi đại học thành công thường được xác định bởi các tiêu chí như việc tiếp tục ở lại trường đại học, tâm lý lành mạnh, và thể hiện tốt trong học tập (Julia & Veni, 2012)

3 Ý th ức về giá trị bản thân

Ý th ức về giá trị bản thân (self- esteem) được định nghĩa bởi rất nhiều người Theo

Salami (2011) ý thức về giá trị bản thân là việc đánh giá mang tính cảm xúc của cá nhân về bản thân mình, thường là dưới hình thức đồng ý hay không Nó chỉ ra mức độ mà người ta tin rằng

bản thân mình có khả năng, có ý nghĩa, có thành công và xứng đáng Ý thức về giá bản thân là thái độ của cá nhân hướng tới giá trị của chính bản thân mình trong nhiều khía cạnh khác nhau

của nhân cách (Đẹp & Nhất, 2014) Ý thức về giá trị bản thân còn là giá trị, ý nghĩa mà cá nhân

tự xác định cho bản thân nói chung cũng như các khía cạnh riêng lẻ của nhân cách, của hoạt động, của hành vi (Dũng, 2008) Ý thức về giá trị bản thân là một sự phán xét cá nhân về giá trị

và việc chấp nhận hay không chấp nhận bản thân mình xuất hiện trong thái độ của một người (Narimania&Mousazadeha, 2010) Ý thức về giá trị bản thân là mức độ mà thái độ, các ý kiến

và đánh giá của một người về cơ thể, lịch sử, quá trình tinh thần và hành vi của họ là tích cực, có liên quan đến nhiều khía cạnh về tư tưởng, cảm xúc, và hành vi và thường được coi là một phần trung tâm của sự hiểu biết một cá nhân (Matsumoto, 2009) Nói một cách chung nhất ý thức về

Trang 28

giá trị bản thân là mức độ chúng ta thích hoặc chấp nhận tri giác bản thân của chúng ta như một toàn thể, còn nói một cách cụ thể là mức độ chúng ta cảm nhận về những phần nhất định của bản thân mình (ví dụ: như tôi là một vận động viên hoặc tôi là một học sinh, vẻ ngoài của tôi trông như thế nào… vv) (American Psychological Association, 2002) Ý thức về giá trị bản thân là

mức độ một người thích mình; mức độ giá trị mà một người tự xét thấy mình (Statt, 2003)

Trong nghiên cứu này ý thức về giá trị bản thân được định nghĩa là sự tự đánh giá của

một người về giá trị của họ Là cách mà họ nghĩ về bản thân mình, miêu tả về bản thân mình, và

tập hợp những niềm tin có liên quan đến khả năng và giá trị của họ (Sherman, 2015)

Ý thức về giá trị bản thân không thuộc về vấn đề về gene hay di truyền mà thuộc về

những niềm tin mà một người học được trong quá trình phát triển Một trong những tầm quan

trọng của ý thức về giá trị bản thân là nó sẽ ảnh hưởng tới cách mà một người ứng xử và lý giải

thế giới xung quanh người đó Cụ thể là ý thức về giá trị bản thân sẽ ảnh hưởng tới cách mà một người suy nghĩ, cảm thấy và ra quyết định đối với những sự việc có liên quan đến họ (Sherman, 2015) Ý thức về giá trị bản thân bắt đầu hình thành từ giai đoạn đầu của tuổi thơ Những yếu

tố có thể ảnh hưởng đến ý thức về giá trị bản thân bao gồm: Những suy nghĩ và nhận thức riêng

của một người; cách những người xung quanh phản ứng với người đó; những trải nghiệm ở nhà,

ở trường, trong công việc và trong cộng đồng; bệnh tình, tàn tật hay thương tích; văn hóa và tôn giáo; vai trò và địa vị xã hội; những thông điệp từ truyền thông Những niềm tin của một người

về bản thân họ ở thời điểm hiện tại phản ảnh những thông điệp mà người đó nhận được trong các

mối quan hệ và đặc biệt là từ những mối quan hệ gần gũi với họ (bố mẹ, anh chị em, giáo viên,

bạn bè,…) từ trước đến giờ Nếu như đó là những mối quan hệ vững chắc và một người thường xuyên nhận được những phản hồi tích cực, người đó sẽ có xu hướng nhìn thấy bản thân có giá trị

và có ý thức về giá trị bản thân lành mạnh hơn Ngược lại nếu một người nhận được những phản

Trang 29

hồi tiêu cực từ người khác, thậm chí là phê bình, chỉ trích, làm nhục… Họ sẽ dễ gặp khó khăn xoay xở với ý thức về giá trị bản thân thấp Nhưng có lẽ yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến ý thức

về giá trị bản thân của một người chính là những suy nghĩ của họ (Mayo clinic, 2014) Một người có ý thức về giá trị bản thân không lành mạnh khi họ cứ tập trung chú ý vào những yếu đuối hay thiếu sót của mình và tin rằng bản thân không được yêu, không giỏi dang và bị loại

bỏ,…(Krucik, 2013)

Ý thức về giá trị bản thân có xu hướng thay đổi theo thời gian Ý thức về giá trị bản thân

có thể thấp, cao hay ở mức trung bình và phụ thuộc vào bối cảnh sống của một người (Mayo clinic , 2014; McLeod, 2012) Sẽ là bình thường nểu một người cảm thấy tồi tệ về bản thân mình không lúc này thì lúc khác Nhưng khi những cảm xúc tiêu cực này bắt đầu tồn tại một cách thường xuyên xung quanh cuộc sống của họ thì đó là dấu chỉ cho ý thức về giá trị bản thân thấp

Một người có ý thức về giá trị bản thân thấp và không lành mạnh thường có những đặc điểm như: Thường tự chỉ trích và không hài lòng với bản thân; Tập trung vào các tiêu cực và bỏ qua những thành tựu của mình; So sánh bản thân với người khác; Không chấp nhận bất cứ lời khen nào mà

họ nhận được; Tự nói với bản thân những lời tiêu cực (Haylix, 2016) Ý thức về bản thân thấp

sẽ làm cho người ta khó thành công ở trong công việc và cuộc sống (Mayo Clinic, 2014) Ngược

lại, khi một người có ý thức về giá trị bản thân tốt, họ sẽ cảm thấy an toàn và đáng giá, họ sẽ có được những mối quan hệ tốt đẹp với những người khác và cảm thấy tự tin về khả năng của mình Khi có ý thức về giá trị bản thân khỏe mạnh thì một người sẽ cảm thấy được cân bằng và có một cái nhìn chính xác về bản thân, điều đó sẽ giúp họ cởi mở để học tập và nhận những phản hồi thông qua đó có thể đạt được nhiều kĩ năng và trở nên giỏi hơn (Mayo Clinic, 2014) Đối với

lứa tuổi sinh viên, việc tự đánh giá bản thân ở mức độ phù hợp sẽ giúp cho sự điều khiển, điều

Trang 30

chỉnh bản thân một cách hợp lí, đúng đắn, tạo thuận lợi cho sinh viên trong quá trình học tập cũng như trong các hoạt động khác của cuộc sống (Đẹp & Nhất, 2014)

4 Nâng đỡ xã hội

Nâng đỡ xã hội (social support) cũng được nhiều người định nghĩa theo nhiều cách thức

khác nhau Theo Matsumoto (2009) nâng đỡ xã hội là sự trợ giúp hoặc hỗ trợ tinh thần cho

những người khác và đặc biệt là trong những tình huống căng thẳng Nâng đỡ xã hội thường chỉ đơn giản là liên quan đến việc thiết lập mối quan hệ với một người trong một tình huống căng

thẳng nhưng cũng có thể bao gồm việc cung cấp sự bảo hộ, hỗ trợ vật chất hoặc bất kỳ hình thức khác nhằm để lại cho người nhận một cảm giác về sự kết nối, sự thuộc về, và có giá trị với người khác Nâng đỡ xã hội là sự tiếp nhận những hỗ trợ về mặt phương tiện và / hoặc về mặt biểu

cảm được cung cấp bởi bạn bè, gia đình hay một người quan trọng nào đấy (Zimet, 1988, trích

dẫn trong Bitz, 2011) Mattson & Hall (2010) thì định nghĩa nâng đỡ xã hội là một quá trình giao tiếp qua lại, bao gồm cả giao tiếp bằng lời nói và / hoặc không bằng lời, nhằm mục đích cải thiện cảm nhận của một cá nhân về khả năng đối phó, năng lực, sự thuộc về và / hoặc ý thức về giá trị bản thân Nâng đỡ xã hội là cảm giác hay kinh nghiệm của việc có những người yêu thương và chăm sóc cho mình, những người mà mình có thể nhờ sự giúp đỡ trong những lúc cần thiết Hỗ trợ có thể đến dưới hình thức hỗ trợ tài chính hoặc vật chất hoặc chỉ đơn giản là một người bạn lắng nghe hoặc đưa ra lời khuyên Nâng đỡ xã hội là sự giao tiếp bằng lời và không

lời giữa người nhận và những người cung cấp sự nâng đỡ xã hội mà qua đó làm giảm sự không

chắc chắn về hoàn cảnh, về bản thân, về người khác, hoặc các mối quan hệ, và các chức năng

nhằm tăng cường nhận thức về kiểm soát cá nhân trong kinh nghiệm của một người (Albrecht & Adelman, 1987)

Trang 31

Mỗi một định nghĩa nói về nâng đỡ xã hội theo những cách thức khác nhau, chúng không

loại bỏ mà bổ sung cho nhau Ngoài những cách nhìn về nâng đỡ xã hội như trên trong nghiên

cứu này nâng đỡ xã hội được hiểu là sự hỗ trợ tinh thần và / hoặc sự hỗ trợ hữu hình lúc có nhu

cầu bởi những thành viên trong gia đình, bạn bè và những người quan trọng khác (Samuel và

cộng sự, 2008)

Nâng đỡ xã hội thường được phân thành hai (đôi khi ba) loại chính: Hỗ trợ về mặt tình

cảm, phương tiện (và thông tin) Hỗ trợ tình cảm (emotional support) đề cập đến những điều

mà mọi người làm khiến cho chúng ta cảm thấy được yêu và được chăm sóc, điều đó giúp tăng

cảm giác của chúng ta về giá trị bản thân (ví dụ, nói chuyện về một vấn đề, khuyến khích / phản

hồi tích cực); Những hỗ trợ như vậy thường là dạng hỗ trợ vô hình Ngược lại, hỗ trợ phương

ti ện (instrumental support) là các loại khác nhau của sự giúp đỡ hữu hình mà những người khác

có thể cung cấp (ví dụ, giúp việc trông trẻ / giữ nhà, hỗ trợ di chuyển hoặc cung cấp tiền của)

H ỗ trợ thông tin (informational support) (đôi khi được ghi nhận bao gồm trong phân loại hỗ trợ

phương tiện) đề cập đến sự giúp đỡ mà người khác có thể cung cấp thông qua việc cung cấp thông tin (Seeman, 2008)

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nâng đỡ xã hội là một cơ chế đối phó quan trọng với căng

thẳng, và cải thiện sức khỏe Những người được nâng đỡ xã hội đầy đủ thì ít có khả năng bị

bệnh hơn những người đang bị cô lập về mặt xã hội ( Matsumoto, 2009) Nâng đỡ xã hội cũng

đã được chứng minh là giúp làm giảm những căng thẳng vè mặt tâm lý và thể lý và có thể giúp tăng cường chức năng của hệ miễn dịch Ngoài ra thì những mạng lưới xã hội, dù chính thức (như ở nhà thờ hay một câu lạc bộ xã hội) hay không chính thức ( những lần gặp mặt bạn bè) điều giúp cho người ta cảm thấy được thuộc về, an toàn (Towey, 2016) Những người được nâng đỡ bởi những mối quan hệ gần gũi từ bạn bè, gia đình, hay những thành viên khác ở nhà

Trang 32

thờ, nơi làm việc thì ít bị tổn thương hơn vì sức khỏe yếu hay chết sớm Những người có những

mối quan hệ cá nhân gần gũi thì đối phó tốt hơn với những yếu tố gây căng thẳng và đau thương như mất mát người thân, mất việc làm, hiếp dâm, và bệnh tật (Salovey, 2000; được trích dẫn trong Towey, 2016) Có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc có một mạng lưới các mối quan hệ mang tính nâng đỡ thì đóng góp cho những lợi ích về mặt tâm lý Cụ thể là khi một người có được một mạng lưới nâng đỡ xã hội, những lợi ích mà người đó có thể có bao gồm:

Cảm giác được thuộc về, gia tăng cảm giác về giá trị bản thân, cảm thấy an toàn (Mayo Clinic, 2015)

Hai cách đo lường nâng đỡ xã hội thường được đề cập đến là : nhận thức nâng đỡ xã hội

(perceived social support) và nhận được nâng đỡ xã hội (received social support) Nhận được

nâng đỡ xã hội là sự mô tả về các kiểu nâng đỡ xã hội và mức độ nâng đỡ xã hội mà họ nhận được Bên cạnh đó nhận thức nâng đỡ xã hội là sự đánh giá về chất lượng và sự sẵn có của các

kiểu nâng nâng đỡ xã hội (Lakey & Cohen, 2000) Trong nghiên cứu này chúng tôi đo lường

nhận thức nâng đỡ xã hội trên cả ba kiểu của nâng đỡ xã hội

5 Nâng đỡ xã hội và thích nghi đại học

Khả năng phát triển các mối quan hệ có ý nghĩa ảnh hưởng đến sự thành công trong thích nghi đại học Gray và cộng sự (2013) kết luận trong một nghiên cứu là nâng đỡ xã hội giúp tiên đoán một cách mạnh mẽ sự thích nghi xã hội với đại học Iglesia, Stover, Liporace (2014) thì

nhấn mạnh rằng nhận thức về nâng đỡ xã hội càng cao có mối liên hệ với sự thành công ở đại

học cao hơn Theo Gerdes and Mallinckrodt (1994), phát triển và duy trì một mạng lưới hỗ trợ địa phương là một trong những yếu tố tiên đoán sự thích nghi của sinh viên Đối phó với chuyển đổi môi trường học tập và phải tạo ra các mối quan hệ tình cảm thân thiết là một trong những điều quan trọng trong năm đầu tiên ở đại học (Hays& Oxley, 1986) Một nghiên cứu khác cũng

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w