Một số bệnh nhân đã được trở về nhà, thực hiện tái hòa nhập cộng đồng nhưng sau đó bệnh tái phát và phải trở lại Trung tâm tiếp tục điều trị.. Từ những thông tin đã đưa ra về thực trạng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CÔNG TÁC XÃ H ỘI
NGHIÊN C ỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NĂM 2017
Tên đề tài NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA BỆNH NHÂN TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN
(Điển cứu tại Trung tâm Điều dưỡng người bệnh Tâm thần Địa chỉ: số 37, đường Phú Châu, phường Tam Phú, quận Thủ Đức)
Gi ảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đỗ Hạnh Nga
Nhóm sinh viên th ực hiện:
Nguy ễn Thu Thảo 1456150067 (Ch ủ nhiệm)
H Sian Êban 1456150025
Lê Th ị Thuỳ Linh 1456150036
Nguy ễn Thị Thu Ngân 1456150045
Ninh Th ị Hồng Ngọc 1456150047
Trang 2MỤC LỤC
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT 12
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và cơ cấu nhân sự 30
2.1.4 Thông tin v ề bệnh nhân tại Trung tâm 34
2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong tái hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân
Trang 32.5.2 Nguyên nhân khách quan 52
Trang 5TÓM T ẮT CÔNG TRÌNH
Công trình nghiên cứu được chia làm 3 phần: phần dẫn nhập, phần nội dung, phần kết luận và kiến nghị
Ph ần dẫn nhập: Phần này nhóm nghiên cứu nêu lên lý do chọn đề tài, đối
tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên
cứu, mẫu nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Ph ần nội dung: Phần này gồm có hai chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên
quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài là người tâm thần và tái hòa nhập cộng đồng Bên cạnh đó, các lý thuyết làm cơ sở cho việc giải thích các vấn đề liên quan đến người bệnh tâm thần và các khái niệm liên quan đến đề tài cũng đã được trình bày
Chương 2: Kết quả nghiên cứu thực trạng nhu cầu tái hòa nhập của bệnh
nhân tâm thần tại Trung tâm điều dưỡng người bệnh tâm thần Thủ Đức Những thuận lợi và khó khăn trong việc tái hòa nhập của bệnh nhân tâm thần và nguyên nhân của thực trạng cũng được phân tích
Ph ần kết luận và kiến nghị: Tóm tắt kết quả nghiên cứu và những kết luận
rút ra từ kết quả nghiên cứu về nhu cầu tái hòa nhập của người bệnh tâm thần tại Trung tâm điều dưỡng người bệnh tâm thần Thủ Đức Các kiến nghị đến chính quyền địa phương, Trung tâm điều dưỡng, người nhà bệnh nhân và chính bản thân
bệnh nhân đã được đề cập đến trong báo cáo kết quả nghiên cứu này
Trang 6PH ẦN DẪN NHẬP
1 Lý do ch ọn đề tài
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), sức khỏe tâm thần được định nghĩa là một tình trạng sức khỏe mà mỗi cá nhân nhận thức rõ khả năng của mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và thành công và có thể đóng góp cho cộng đồng Một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp phải là bệnh rối loạn tâm thân Bệnh rối loạn tâm thần tuy chỉ dừng lại ở những rối loạn mang tính cảm xúc, suy nghĩ nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp gây rối loạn, lệch lạc hành vi, ảnh hưởng đến các chuẩn mực, văn hóa, niềm tin mà người bệnh đang theo đuổi, ngoài ra, nó còn mang đến những hệ quả tiêu cực cho gia đình của người bệnh, trở thành gánh nặng cho xã hội Vì vậy, đã từ lâu, vấn đề sức khỏe tâm thần đã nhận được sự quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Các thống kê về bệnh liên quan đến tinh thần cho thấy, trên thế giới hiện có khoảng hơn 60 triệu bệnh nhân tâm thần (BNTT) phân liệt, chiếm khoảng 1% dân
số, và con số này càng tăng lên do nhiều nguyên nhân khác nhau Theo thông báo của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì trên thế giới cứ 4 người thì có 1 người sẽ có một hay nhiều rối loạn tâm thần hoặc hành vi trong suốt cuộc đời Hiện trên thế giới
có khoảng 450 triệu có các rối loạn tâm thần, trong đó 120 triệu bệnh nhân trầm cảm, 50 triệu bệnh nhân động kinh và 40 triệu BNTT phân liệt, 1 triệu người tự sát ()
Nếu như ở các nước phát triển, hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần được đầu tư phát triển với y tế và nhân viên xã hội chuyên nghiệp, hướng đến việc điều trị cho BNTT dựa vào cộng đồng Thì ở tại Việt Nam, việc chăm sóc sức khỏe tâm thần nói chung và việc chăm sóc, phục hồi các chức năng xã hội dành cho BNTT còn nhiều hạn chế, khó khăn và vẫn đang trong giai đoạn phát triển, hoàn thiện
Trang 7Mặc dù, theo thống kê của Bộ Y Tế năm 2015 có gần 15% dân số (tương đương khoảng 13,5 triệu người) Việt Nam đang mắc các rối loạn tâm thần phổ biến và khoảng 3 triệu người mắc các rối loạn tâm thần nặng Trong khi đó, Việt Nam lại là
một trong 35 nước chưa có luật về sức khỏe tâm thần.Bên cạnh đó, công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho BNTT, phòng chống các chứng rối loạn tâm thần tại cộng đồng còn gặp phải nhiều khó khăn như: cơ sở vật chất chưa đảm bảo, nhân lực chuyên môn còn thiếu khá nhiều và yếu, rồi vẫn còn tồn tại những tình trạng kỳ thị,
phân biệt đối xử, xa lánh, hắt hủi BNTT (7)
Hiện nay, BNTT đại đa số đang được điều trị tập trung ở các bệnh viên, các trung tâm chuyên biệt dành cho đối tượng có vấn đề về sức khỏe tinh thần Trung tâm Điều dưỡng người bệnh tâm thần Thủ Đức là một trong những trung tâm đảm
nhận việc chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị cho BNTT tại TPHCM
Mỗi bệnh nhân tâm thần ở Trung tâm đều có những nhu cầu khác nhau Có
những người sau thời gian điều trị đã ổn định về mặt tâm lý vàhọ có nhu cầu to lớn
để được tái hòa nhập cộng đồng nhưng để đáp ứng nhu cầu tái hòa nhập cộng đồng
của họ không hề đơn gian Một số bệnh nhân đã được trở về nhà, thực hiện tái hòa
nhập cộng đồng nhưng sau đó bệnh tái phát và phải trở lại Trung tâm tiếp tục điều
trị Điều này cho thấy đã có những bất cập trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng
của bệnh nhân tâm thần Nguyên nhân của vấn đề này là do những bệnh nhân tâm
thần sau khi được trở về tái hòa nhập cộng đồng, họ chưa nhận được sự quan tâm và chăm sóc một cách khoa học và chưa tuân thủ những quy tắc điều trị tại gia Ngoài
ra, họ còn gặp phải sự kỳ thị và đả kích của xã hội
Từ những thông tin đã đưa ra về thực trạng bệnh tâm thần, về công tác chăm sóc và bảo vệ bệnh nhân tâm thần, về những khó khăn họ gặp phải trong quá
trình tái hòa nhập cộng đồng Đề tài “Những thuận lợi và khó khăn trong việc tái hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân tâm thần tại Trung tâm Điều dưỡng người bệnh Tâm thần” đã được chọn nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng và những
nguyên nhân gây khó khăn trong việc tái hòa nhập cộng đồng của các bệnh nhân đã
Trang 8nhân tâm thần tái hòa nhập cộng đồng một cách thuận lợi nhất và phát triển hệ thống chăm sóc bệnh nhân tâm thần dựa vào cộng đồng
2 M ục tiêu của đề tài
2.1 M ục tiêu tổng quát
Tìm hiểu thực trạng những thuận lợi và khó khăn mà bệnh nhân tâm thần thường gặp phải trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng Từ đó, đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hỗ trợ giải quyết những khó khăn của người bệnh tâm thần một cách hiệu quả nhất, giúp người bệnh trở lại hòa nhập với cộng đồng và giảm bớt gánh nặng cho xã hội
2.2 M ục tiêu cụ thể
- Tổng quan những khái niệm liên quan đến đề tài: tâm thần, bệnh nhân tâm
thần cộng đồng, tái hòa nhập, tái hòa nhập cộng đồng
- Thực trạng thuận lợi và khó khăn khi tái hòa nhập cộng đồng của người
bệnh tâm thần
- Phân tích những nguyên nhân cản trở quá trình tái hòa nhập công đồng
của người bệnh tâm thần - Đề xuất một số kiến nghị nhằm hỗ trợ và giảm thiểu
những khó khăn trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng của người bệnh tâm thần
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng những thuận lợi và khó khăn trong việc tái hòa nhập cộng đồng
của bệnh nhân tâm thần đã ổn định tâm lý tại Trung tâm điều dưỡng người bệnh Tâm thần
Trang 9- Nhân viên hiện đang làm việc tại Trung tâm
- Một số người dân ở ngoài cộng đồng (sinh viên, người bán hàng rong,…)
3.3 Ph ạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung vào việc nghiên cứu trong các phạm vi sau:
- Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung vào nghiên cứu những thuận lợi và
khó khăn trong việc THNCD của bệnh nhân có mức độ tâm thần nhẹ, ổn định hoặc
đã khỏi bệnh nhưng hiện vẫn sống tại Trung tâm điều dưỡng người bệnh Tâm thần
- Địa bàn nghiên cứu: Trung tâm Điều dưỡng người bệnh Tâm thần - số
37, đường Phú Châu, phường Tam Phú, quận Thủ Đức
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 2 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để tìm hiểu
một cách tổng quát và đầy đủ những nhu cầu cũng như khó khăn và thuận lợi của
việc tái hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân tâm thần Trong đó, cụ thể như phương pháp phân tích, tổng hợp, quy luật lượng biến đổi thành chất, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, vật chất quyết định ý thức, nhằm xem xét mối quan hệ
biện chứng qua lại giữa BNTT, gia đình bệnh nhân và Trung tâm điều dưỡng cũng như các yếu tố khác của xã hội bên ngoài
Trang 10Nghiên cứu sử dụng kết hợp logic diễn dịch và logic quy nạp nhằm phân tích rõ và sâu sắc hơn các vấn đề cũng như đưa ra được kết luận chung nhất về nghiên cứu
4.2 Các phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật điều tra
Trong quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu để thu thập thông tin Trong đó, có phương pháp nghiên cứu định tính là phương pháp chủ yếu
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với công cụ thu thập thông tin là phỏng vấn sâu đối với các khách thể (10 đơn vị mẫu), bao
gồm:
- Đại diện BNTT đã ổn định và có nhu cầu về nhà: 2
- Đại diện BNTT đã về nhà nhưng phải quay lại TT: 3
- Đại diện phía nhân viên chăm sóc bệnh nhân: 1
- Nhân viên xã hội: 1
- Đại diện phía người nhà bệnh nhân: 1
- Đại diện một số tầng lớp ngoài cộng đồng: 2
Cách chọn mẫu: mẫu phân tầng, mẫu phán đoán, mẫu thuận tiện
Các dữ liệu định tính sẽ được nhóm thu thập bởi công cụ phỏng vấn sâu, nhóm sẽ tiến hành ghi âm, sau đó gỡ băng và mã hóa theo nhóm chủ đề, một số thông tin sẽ được sử dụng để làm minh chứng cụ thể cho đề tài nghiên cứu
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích tư liệu sẵn có, phương pháp quan sát, phương pháp nghiên cứu định lượng
Trang 114.2.2 Phương pháp phân tích tư liệu có sẵn
Thu thập và xem xét các thông tin trong các tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết nhằm đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu của đề tài Với phương pháp này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành sưu tầm nghiên cứu và phân tích các tài liệu lý
luận, từ các đầu sách, các công trình nghiên cứu khoa học các cấp, các bài báo, tạp chí, bài viết trên website,… có liên quan đến đề tài
4.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát tham dự vào nhóm các BNTT tại TT, phỏng vấn các bệnh nhân để
nắm được họ có những nhu cầu, nguyện vọng gì sau khi đã điều trị ổn định và có
thể THNCĐ Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu sẽ quan sát và chú ý tới những lần thăm nuôi của gia đình bệnh nhân, nhất là những trường hợp đã từng đưa bệnh nhân
hồi gia và THNCĐ và tham gia trò chuyện cùng người nhà bệnh nhân để biết được
những khó khăn đã gặp trong quá trình tái hòa nhập đó của bệnh nhân Ngoài ra, nhóm cũng quan sát và tìm hiểu những biện pháp hỗ trợ bệnh nhân THNCĐ mà Trung tâm đã làm được và những điều chưa thực hiện được trong thời gian qua Từ
đó tìm ra nguyên nhân và hướng khắc phục những khó khăn về sau
bệnh nhân vào giấy Sau đó, tiến thành thống kê số liệu và xử lý số liệu bằng phần
mềm Microsoft office excel
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Thông qua đề tài, nhóm nghiên cứu làm rõ các lý thuyết: thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết nhận thức – hành vi, thuyết vai trò, và áp dụng chúng vào phân tích
thực tiễn, từ đó tìm ra những khó khăn và thuận lợi trong việc tái hòa nhập công
Trang 12Nghiên cứu đã chứng minh được thực trạng những thuận lợi và khó khăn còn tồn tại trong việc tái hòa nhập công động của bệnh nhân tâm thần đang sống tại Trung tâm Điều dưỡng người bệnh Tâm thần Qua đó, đề tài sẽ đóng góp phần nhỏ trong lý luận về việc tái hòa nhập của bệnh nhân tâm thần nói chung và bệnh nhân tâm thần đang sống ở Trung tâm Điều dưỡng người bệnh Tâm thần nói riêng
Từ đó, kết quả nghiên cứu được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu quan tâm đến cộng đồng người bệnh Tâm thần nói chung và việc tái hòa
nhập cộng đồng của người bệnh Tâm thần nói riêng
6 K ết cấu bài nghiên cứu
Đề tài “Những thuận lợi và khó khăn trong việc tái hòa nhập cộng đồng
c ủa bệnh nhân tâm thần tại Trung tam Điều dưỡng người bệnh Tâm thần” có
kết cấu như sau:
Ph ần I: Phần dẫn nhập
Ph ần II: Nội dung (gồm 2 chương, 10 tiết và 16 tiểu tiết)
Chương 1: Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận lý thuyết Chương 2: Kết quả nghiên cứu
Ph ần III: Phần kết luận và kiến nghị
Trang 13PH ẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT 1.1 T ổng quan tình hình nghiên cứu
có độ tuổi trên 60 chiếm 30% dân số thế giới Trong Tâm thần học người già, rối
loạn thường gặp nhất là các “trạng thái trầm cảm" Trầm cảm chiếm tỷ lệ từ 3 -5% dân số và tỷ lệ này khá cao ở người già (9%) Đây không chỉ là những con số, nó là
cả một vấn đề, một gánh nặng cho toàn cầu
Trước khi có thể đưa ra thực trạng về vấn đề THNCĐ của BNTT trên thế giới, ta có thể xem xét về thái độ của cộng đồng ở một vài nước tiêu biểu trên thế giới Từ đó có thể nắm được thực trạng việc THNCD của bệnh nhân trên thế giới đang diễn biến như thế nào
Bài báo “Opinions on mental illness in Israel” theo đó khi nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi Cohen và Struening OMI để khảo sát ý kiến về bệnh tâm thần và BNTT trong cộng đồng người dân Israel thì đã xác định được các lĩnh vực tiềm ẩn đằng sau những ý kiến này Dựa vào yếu tố phân tích điểm số người Israel được hỏi trên bảng câu hỏi OMI, ở đó đã được tìm thấy và đánh dấu tương tự dưới dạng tiềm
ẩn những ý kiến về bệnh tâm thần ở Israel Bên cạnh đó, trong nhiều cuộc nghiên
Trang 14biệt đằng sau ý kiến của người dân về bệnh tâm thần ở Israel bao gồm: Sự hạn chế của xã hội, tư tưởng về sức khỏe tâm thần, chủ nghĩa độc tài và nguyên nhân cá nhân Các phiếu sẽ báo điểm trên mỗi mục câu hỏi OMI Những dữ liệu này cho thấy rằng người dân ở Israel giữ suy nghĩ hai chiều, ý kiến không thống nhất về các BNTT Một mặt họ cho thấy rằng có một sự thỏa thuận rõ rang về chủ nghĩa tự do,
về sự khoan dung và sự định hướng con người về các vấn đề liên quan đến việc điều trị bệnh tâm thần, đến quyền dân sự và rồi chấp nhận họ trong chính xã hội của mình Mặt khác, có những người trả lời thể hiện sự sợ hãi, mất niềm tin và đã từ chối khi có sự tham gia, gần gũi của những BNTT đối với họ (3)
Ở Hy Lạp, có một nghiên cứu về thái độ đối với bệnh tâm thần được đo bằng một mẫu xác suất của 1.574 người lớn cả nam và nữ, các cư dân của hai quận trong khu vực rộng hơn Athens trước sự phát triển của các dịch vụ sức khỏe tâm thần cộng đồng trong khu vực Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các thành phần của những thái độ có tính thực tế rằng ý kiến của công chúng về bệnh tâm thần ảnh hưởng đến việc sử dụng các dịch vụ sức khỏe tâm thần cộng đồng và ảnh hưởng đến mức độ tái hòa nhập của BNTT vào xã hội
Các dụng cụ để đo chiều thái độ là ý kiến về quy mô bệnh tâm thần (Cohen
& Struening 1962) Theo đó, bài viết trình bày một cuộc điều tra sơ bộ về nhận thức
cả công chúng và thái độ về bệnh tâm thần Những người tham gia là 150 sinh viên đại học và người ta đã nghiên cứu ra năm khía cạnh thái độ như sau:
Thứ nhất là thái độ “kỳ thị xã hội”, là những ý kiến cho rằng những người
bị bệnh tâm thần không thể chịu trách nhiệm cho hành vi của mình và họ cần được
kiểm soát bởi xã hội Thứ hai là thái độ “hội nhập”, đây là một thái độ được đặt giữa lòng thương xót Thứ ba là thái độ “chăm sóc xã hội” cho rằng BNTT cũng
giống như các bệnh nhân khác và nó cần phải được điều trị đầy đủ bởi các chuyên
gia Thứ tư là “sự giới hạn xã hội”, ý kiến này cho rằng người bị bệnh tâm thần nên được giới hạn trong một số lĩnh vực xã hội Và cuối cùng là “nguyên nhân cá
nhân”, ý kiến này cho rằng nguyên nhân thực sự của BNTT chính là những mối liên hệ giữa các cá nhân có vấn đề
Trang 15Một số nhóm dân khác đáp lại bằng sự từ chối hay nghi ngờ và sợ hãi các BNTT Qua đó cho thấy sự cần thiết cho việc lập kế hoạch các chương trình can thiệp sức khỏe tâm thần cộng đồng thích hợp song song với sự phát triển của dịch
vụ y tế cộng đồng và tinh thần cải cách bệnh tâm thần ở Hy Lạp
vụ y tế cộng đồng và tinh thần cải cách tâm thần ở Hy Lạp (2)
Quan điểm của xã hội về rối loạn tâm thần ở Na Uy đã được điều tra vào tháng 9 năm 1992 bằng cách phỏng vấn một mẫu nghiên cứu phân tầng về dân số (n=1603) Các giả thuyết đưa ra là điều trị bệnh tâm thần và BNTT đã gặp phải định kiến và nhiều ý kiến của công chúng về những câu hỏi đánh giá thấp sự phổ biến của rối loạn tâm thần Một nghiên cứu nữa cho thấy được chất lượng điều trị bệnh tâm thần rất thấp so với việc điều trị các bệnh tim mạch và ung thư Một phần ba số người được hỏi đã nghĩ rằng có một sự khác biệt rất lớn giữa những người có rối loạn tâm thần với những người bình thường Thỉnh thoảng người ta vẫn có những mối quan tâm trong cuộc sống rằng họ cũng có thể có rối loạn tâm thần chiếm 27%
số người được hỏi Các hậu quả của thái độ tiêu cực đối với việc điều trị bệnh tâm
thần và BNTT đã được thảo luận, liên quan đến cả kết quả điều trị cá nhân và cách thức mà xã hội ưu tiên cho tâm thần học (3)
Qua bài viết này ta thấy được hiệu quả trị liệu bệnh tâm thần phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của cộng đồng Từ đó càng làm rõ vai trò của cộng đồng trong việc điều trị BNTT và kết quả của nó mang lại sau này
Một nghiên cứu khác của WHO đưa ra trong ngày “Sức khỏe tâm thần” đã
đưa ra những nhận định như sau
- Các rối loạn tâm- thần kinh và rối loạn liên quan đến sử dụng chất (gây nghiện), phổ biến ở tất cả các vùng trên toàn thế giới, tác động đến mọi độ tuổi và
cộng đồng với các mức thu nhập khác nhau
Trang 16- 14% gánh nặng bệnh tật toàn cầu liên quan đến các bệnh rối loạn về tâm-
thần kinh và sử dụng chất gây nghiện
- Trầm cảm là bệnh gây tử vong thứ 4 trên toàn thế giới và được dự báo là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong vào năm 2030
- Bệnh động kinh ảnh hưởng tới 50 triệu người trên toàn thế giới – 80% trong số họ sống ở các nước có thu nhập thấp
- Trên toàn thế giới, tự tử là nguyên nhân thứ 3 gây tử vong ở những người
trẻ
- Việc sử dụng rượu/cồn ở mức độ gây hại là nguyên nhân thứ 5 của tàn tật
và chết trẻ trên toàn thế giới
- Hơn 75% BNTT, động kinh và sử dụng chất gây nghiện ở các nước có thu
nhập thấp không được tiếp cận điều trị
- Các bạo lực và sự kỳ thị về quyền con người gây trở ngại cho việc phục
hồi, chăm sóc sức khỏe và cho việc xóa đói giảm nghèo
- Giá trị kinh tế và phi kinh tế như tiếp cận công bằng trong chăm sóc sức
khỏe, bảo vệ quyền con người và giảm đói nghèo cần tính đến trong quá trình sắp
xếp các ưu tiên trong sức khỏe tâm thần
Như vậy, có thể thấy, sức khỏe tâm thần nói chung và BNTT nói riêng vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức Nhưng điều đáng mừng là xã hội hiện nay
đã bắt đầu có những động thái và hành động thể hiện sự quan tâm đến đối tượng này, cụ thể như:
Thay vì điều trị, chăm sóc tại các bệnh viện chuyên khoa tâm thần lớn, WHO khuyến khích tất cả các quốc gia lồng ghép sức khỏe tâm thần vào chăm sóc
sức khỏe ban đầu, cung cấp điều trị, chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các bệnh viện
đa khoa và phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng
Các chính sách sức khỏe tâm thần quốc gia không chỉ đơn thuần quan tâm
tới các rối loạn sức khỏe tâm thần mà còn quan tâm đến việc phát hiện và khắc phục các vấn đề rộng hơn để tăng cường sức khỏe tâm thần Những vấn đề này bao gồm
Trang 17các yếu tố kinh tế xã hội và môi trường, cũng như là các hành vi của cá nhân Yêu
cầu này đòi hỏi lồng ghép nâng cao sức khỏe tâm thần vào các chính sách và chương trình của các ban, ngành của nhà nước và tư nhân, bao gồm giáo dục, lao
động, tư pháp, giao thông, môi trường, nhà ở và phúc lợi, cũng như ngành y tế
1.1.2 Ở Việt Nam
Hiện nay, các đề tài nghiên cứu về việc THNCĐ của BNTT ở nước ta còn
rất hạn chế Các đề tài nghiên cứu trong nước ta hiện nay đa số đều nghiên cứu về
sự phát triển của bệnh tâm thần, nguyên nhân dẫn tới bệnh, nguyên nhân bỏ điều
trị, Những nghiên cứu này cũng có nhiều đóng góp cho việc điều trị cũng như hạn
chế các trường hợp dẫn tới bệnh, tuy nhiên những nguyên cứu này chưa thực sự có
thể áp dụng hiệu quả cho việc THNCĐ của người bệnh tâm thần
Nghiên cứu về vấn đề THNCĐ của người bệnh tâm thần, nhóm nghiên cứu chúng tôi có tham khảo bài viết “Chăm sóc người bệnh tâm thần dựa vào cộng
đồng” của giảng viên Lương Bích Thủy, Bộ môn Công tác xã hội, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Bài nghiên cứu này đánh giá công tác chăm sóc BNTT ở Việt Nam đã có những kết quả nhất định Nhiều BNTT nặng được đưa vào chăm sóc và phục hồi chức năng trong các TT điều dưỡng, phục hồi chức năng chuyên biệt ở các tỉnh, thành và cơ sở bảo trợ xã hội Tuy nhiên trong xã hội vẫn còn nhiều người bệnh chưa được tiếp cận những dịch vụ này; thêm vào đó, số lượng người mắc các chứng bệnh tâm thần đang ngày càng gia tăng Trong khi đó, các cơ
sở chăm sóc tập trung có nguy cơ quá tải Chính vì thế, các mô hình chăm sóc BNTT dựa vào cộng đồng được coi là một giải pháp tốt Hơn nữa, mô hình dựa vào
cộng đồng lại có những ưu việt nhất định, là xu hướng mà thế giới đang đi theo Bài
viết đã đi sâu vào tìm hiểu các nội dung: Vài nét về thực trạng bệnh tâm thần và điều trị bệnh tâm thần ở Việt Nam, hoạt động điều trị và phục hồi chức năng tâm
thần dựa vào cộng đồng, mô hình tiêu biểu về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng và vai trò tham gia của Nhân viên xã hội Bài viết đã chỉ rõ hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần nói chung và điều trị, phục hồi chức năng tâm thần dựa vào
Trang 18nhiều hạn chế khác nhau, song trong thời gian tới, với sự nỗ lực của nhà nước, cũng như đội ngũ các cán bộ trực tiếp làm việc trong lĩnh vực này, chúng ta sẽ dần khắc
phục được những hạn chế trên
Bài viết "Phối hợp tay ba cho sự hòa nhập cộng đồng của BNTT Đà Nẵng"
của Như Hoa được đăng trên website TT công tác xã hội Đà Nẵng ngày 21/12/2015 Bài báo ngoài việc thống kê số lượng BNTT và tình hình điều trị của họ còn đưa ra
tầm quan trọng của cộng đồng đối với việc điều trị và phục hồi của BNTT Theo đó,
có bốn yếu tố mà cộng đồng có thể giúp đỡ BNTT là chấp nhận bệnh nhân, kiến
thức chăm sóc người bệnh, tạo cơ hội cho người bệnh và hơn hết là tình yêu thương, đồng cảm đối với người bệnh Bài viết còn đưa ra kết quả của việc áp dụng đề án
2015 của Chính phủ ra đời năm 2011, đó cũng là cơ sở của việc nhân viên công tác
xã hội tham gia vào việc chữa trị và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần
Bài viết "Gia đình với việc chăm sóc sức khỏe người bệnh tâm thần phân
li ệt tại nhà" của bác sĩ Trần Thị Thu Hồng đã đánh giá và nêu rõ được tầm quan
trọng của gia đình trong việc điều trị va phục hồi cho người bệnh tâm thần Trong bài viết có nêu rõ chăm sóc của gia đình ở đây nghĩa là nói đến thái độ quan tâm và cách ứng xử hợp lý của gia đình với người bệnh, chứ tuyệt đối không phải là phục tùng hoặc phục vụ thái quá Gia đình rất cần phải giúp người bệnh tự làm lấy những công việc thông thường trong sinh hoạt hàng ngày càng nhiều càng tốt Không để cho người bệnh ở trạng thái thụ động, hãy làm việc gì đó với họ, đưa họ đi chơi đây
đó, tạo cơ hội giao tiếp với xã hội Cũng đừng quá nóng vội mà bắt họ làm việc quá
khả năng của họ
Việc chăm sóc và chữa trị cho BNTT ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn
“Ước tính gần 3 triệu người Việt Nam mắc bệnh tâm thần nặng và sẽ không hồi
ph ục nếu không điều trị và hỗ trợ liên tục” Đội ngũ thầy thuốc chăm sóc sức khỏe
tâm thần ở nước ta còn thiếu khoảng 300 bác sĩ Dự báo hai năm nữa con số này sẽ lên tới 500 người Nguyên nhân của tình trạng này là do hoạt động trong lĩnh vực này còn nhiều khó khăn về môi trường và điều kiện làm việc Trong khi đó, sự phối
Trang 19hợp liên ngành trong chăm sóc sức khỏe tâm thần cũng chưa hiệu quả, gánh nặng
chỉ thuộc về một số ngành và gia đình người bệnh
Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần Chương trình “Mục tiêu Quốc gia” (chương trình ưu tiên hàng đầu) về sức khỏe tâm thần được hình thành năm 1999
Chương trình đã tập trung vào xây dựng "Mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa
vào c ộng đồng" Cho đến nay mô hình đã bao phủ trên toàn 63 tỉnh thành với gần
40% xã/phường của Việt Nam Nhờ có mô hình này những người bị tâm thần phân
liệt và động kinh đã được quản lý tại cộng đồng và sự miệt thị đã được giảm bớt Điều này đóng góp phần rất lớn trong việc giảm đau khổ và vất vả cho cả bệnh nhân
và gia đình họ
Ngày 10-10-1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký bổ sung Dự án Bảo vệ sức
khỏe Tâm thần cộng đồng (BVSKTT) vào Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng
chống một số bệnh xã hội-bệnh dịch nguy hiểm HIV & AIDS, nay thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế Từ khi đi vào hoạt động Dự án đã xây dựng mô hình về quản lý, điều trị và chăm sóc người bệnh Tâm thần phân liệt và Động kinh
tại cộng đồng
Từ năm 2001 đến nay, Dự án Bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng đã trải qua 3 giai đoạn với mỗi giai đoạn có những tên gọi khác nhau Giai đoạn 2001-2005
là dự án “Chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Tâm thần tại cộng đồng” (thuộc Chương trình
mục tiêu Quốc gia “Phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS”) Từ năm 2006-2010, đưa hai bệnh Động kinh và Trầm cảm thuộc dự
án “Phòng chống một số bệnh không lây nhiễm” lồng ghép vào dự án “Bảo vệ sức
kh ỏe tâm thần cộng đồng” (thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia “Phòng chống
một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm HIV & AIDS”) Giai đoạn 2011-2015 có tên gọi là dự án “Bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng và trẻ em” thuộc chương
trình Mục tiêu Quốc gia về Y tế Mục tiêu chung của dự án là xây dựng mạng lưới, triển khai mô hình lồng ghép nội dung chăm sóc sức khoẻ tâm thần với các nội
Trang 20dung chăm sóc sức khoẻ khác của trạm y tế xã, phường cùng với phát hiện, quản lý
và điều trị người bệnh kịp thời để họ sớm trở về sống hoà nhập với cộng đồng
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu còn tham khảo các bài báo, tạp chí và các trang thông tin có các bài viết về tâm thần và việc THNCĐ cho người bệnh Có thể
kể đến như bài viết “Giúp bệnh nhân tâm thần tái hòa nhập cộng đồng” trên trang
Báo Tuyên Quang Bài viết đã thống kê số lượng người bệnh tâm thần trong cả tỉnh, qua đó bài viết cũng nêu được một số kết quả khả quan trong việc áp dụng dự án
“B ảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng” mà đáng chú ý nhất là việc có rất nhiều
người bệnh tâm thần trong tỉnh đã được điều trị ổn định và THNCĐ thành công Có
thể thấy, việc quan tâm, chăm sóc sức khỏe và việc chữa trị bệnh tâm thần dựa vào
cộng đồng đã được địa phương chú trọng quan tâm và thực hiện có hiệu quả
Những chương trình, mô hình đã và đang được thực hiện ở Việt Nam cho
thấy sự quan tâm của nhà nước và xã hội dành cho BNTT, những người tưởng
chừng như đã bị gạt ra khỏi sự vận động của cuộc đời, xoa dịu đi nỗi đau, bất hạnh
mà họ đang gánh chịu Những nhà tâm lý học, xã hội học, các y bác sĩ, đã bắt tay vào nghiên cứu và quan tâm nhiều hơn đến đối tượng là BNTT Tuy nhiên nếu nói đến vấn đề “THNCĐ cho người bệnh tâm thần” thì các bài báo, nghiên cứu đều nói
một cách tổng quát và sơ sài Mặc dù vấn đề này rất đáng được quan tâm, xã hội đang cần nhiều hơn những bài nghiên cứu, bài báo và giải pháp cho người bệnh THNCĐ, ổn định cuộc sống đồng thời giảm cũng là động thái tích cực giảm sự quá
tải ở các bệnh viện, trung tâm và giảm đi gánh nặng trợ cấp của chính phủ
Trang 21Trong đó: S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi
Giải thích mô hình: Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành
định hành vi (Do trời mưa, do tắc đường nên nghỉ học…) Các mô hình trị liệu
hành vi vì thế mà nhiều khi được sử dụng một cách sai lầm như phương pháp thưởng phạt Phương pháp này gây cho đối tượng cảm giác bị áp đặt
Nội dung của thuyết: thuyết này cho rằng, chính tư duy quyết định phản ứng
chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi
Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức - hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác
với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết về tư duy
méo mó) Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại (Ví dụ, đứa trẻ suy nghĩ và chắc mẩm rằng mẹ mình không yêu thương mình bằng
em mình, từ đó đứa trẻ xa lánh mẹ và tỏ thái độ khó chịu với mẹ, không gần gũi…)
Trang 22Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức
Như vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm Đó cũng chính là điều chúng tôi quan tâm khi thực hiện đề tài nghiên cứu này
Dựa vào thuyết nhận thức - hành vi, chúng ta có thể thấy việc cộng đồng chưa thể chấp nhận những người bệnh tâm thần trở về cộng đồng, họ còn e dè né tránh những người bệnh tâm thần là do họ chưa có nhận thức đúng đắn về bệnh tâm thần
và người bệnh tâm thần Từ việc chưa nhận thức đúng đắn về những người bệnh tâm thần, tầm quan trọng của cộng đồng trong điều trị bệnh cho người bệnh tâm thần dẫn đến họ có những hành vi kỳ thị, xa lánh và không thể chấp nhận việc THNCD của BNTT hiện nay Muốn thay đổi tình trạng này, chúng ta cần tác động tới nhận thức của cộng đồng, thay đổi từ nhận thứ của họ dẫn đến thay đổi được hành vi của cộng đồng
1.2.2 Thuyết nhu cầu của A Maslow
Abraham Maslow (1908-1970) là một nhà tâm lý học người Mỹ Ông là
người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về “Tháp nhu cầu” và ông được xem là cha
đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng
đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể
Trang 23sinh trước sau của chúng để quy về năm tầng thang bậc về nhu cầu của con người từ
thấp đến cao”
Tầng thứ nhất: Các nhu cầu căn bản nhất thuộc “nhu cầu thể lý” như thức
ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi Đây là những nhu cầu
mạnh mẽ nhất vì sự sống của con người phụ thuộc vào những điều này Đặc biệt, nhu cầu này vô cùng cần thiết với trẻ nhỏ Con người không thể tồn tại nếu những nhu cầu căn bản này không được đáp ứng và cũng không thể tiến đến các bậc nhu
cầu cao hơn
Đối tượng nhóm nghiên cứu muốn hướng đến là BNTT Họ là những con người bị khuyết tật hoặc hạn chế về sức khỏe tâm thần, đối với những trường hợp
nặng thì việc đáp ứng một cách đầy đủ các nhu cầu căn bản này là rất khó Với người bình thường, khi những nhu cầu cơ bản không được đáp ứng sẽ dẫn đến việc
họ đấu tranh, làm nhiều cách khác nhau để được thỏa mãn Đối với BNTT cũng
vậy, họ cũng rất cần các điều kiện cơ bản này và thậm chí còn cần phải quan tâm hơn những người bình thường
Tầng thứ hai: “An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho
các n ội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp,
an toàn kinh t ế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,…
Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn
n ếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do đó chúng ta có thể
hi ểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét
vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác”
Khi các nhu cầu về thể lý được đảm bảo và các yếu tố về thể lý không còn chi phối đến suy nghĩ và hành vi của con người thì một người nào đó có thể tập trung vào nhu cầu được an toàn an toàn về cơ thể của bản thân người đó và gia đình
họ, yên tâm về tài sản, yên tâm về công việc,…
Trang 24Với người bệnh tâm thần thì nhu cầu an toàn vô cùng cần thiết vì năng lực trí tuệ của họ không đủ để tự bảo vệ bản thân
Tầng thứ ba: “Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm
trong xã h ội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình
c ảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong
mu ốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau Nội dung
c ủa nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong
mu ốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao
nh ất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan tr ọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại”
Khi một người cảm thấy tương đối an toàn và yên tâm, họ sẽ hướng đến nhu
cầu yêu thương, được yêu mến Nhu cầu này có ảnh hưởng, tác động rất lớn đến
bệnh nhân hồi gia, nó có thể làm tình trạng của bệnh nhân tốt hơn hoặc xấu đi Sự quan tâm, yêu mến của những người xung quanh giúp bệnh nhân thêm vui vẻ và tự tin hơn trong cuộc sống
Tầng thứ tư: “Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và
được người khác tôn trọng Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, t ự biểu hiện và tự hoàn thiện Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn tr ọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn
tr ọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn tr ọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người”
Khi ba bậc nhu cầu nêu trên đã được đảm bảo thì nhu cầu được quý trọng sẽ
trở nên nổi trội Khi các nhu cầu này được thỏa mãn, con người trở nên tự tin và có giá trị Trong trường hợp nhu cầu này không thể đạt được, con người sẽ cảm thấy mình thấp kém, yếu đuối, vô ích và vô giá trị Thông thường BNTT sẽ không có địa
Trang 25vị cao trong xã hội nên việc được người khác tôn trọng là rất hiếm BNTT dễ bị xã
hội kì thị, xa lánh,có cái nhìn không thiện cảm
Tầng thứ năm: “Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân
c ấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một
cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó”
Khi các nhu cầu nêu trên được thỏa mãn, thì đó chính là lúc nhu cầu được
tự khẳng định của con người xuất hiện Maslow mô tả về nhu cầu tự khẳng định chính là nhu cầu của 1 người nào đó trở thành người mà chính mình mong muốn và được làm những việc mà mình “sinh ra để làm việc đó” Nhu cầu về tự thể hiện bản thân: muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt
Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, nhóm nghiên cứu đã hiểu được con người có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh
thần Ai cũng cần được yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát huy bản ngã,…Đối với những BNTT, sau khi THNCĐ, thì những nhu cầu về thể lý và nhu cầu về sự an toàn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp
bệnh nhân được hòa nhập tốt với cộng đồng Bên cạnh đó, những BNTT có đủ quyền để mong muốn và đảm bảo cho họ cho các nhu cầu ở bậc cao hơn
1.2.3 Thuy ết vai trò
“ Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗi chức vị của con người trong xã hội đó Mỗi vai trò xã hội là một tập hợp các quyền, nghĩa vụ, kỳ vọng, định mức và hành vi mà một người phải đối mặt và thực hiện đầy
đủ Có hai loại vai trò khác nhau: vai trò hiện và vai trò ẩn Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọi người đều có thể thấy được Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà có khi chính người đóng vai trò đó cũng không biết Vì một người có thể có nhiều vai trò khác nhau, những khuôn mẫu ứng xử do xã hội áp đặt có thể mâu thuẫn với nhau, tạo ra khó khăn” Vì chỉ là các vai trò, người ta có thể thay đổi
không tiếp tục đóng một vai nào đó hoặc thể hiện một vai trò khác
Trang 26BNTT tuy không còn năng lực nhận thức hành vi của bản thân và gặp khó khăn trong việc thực hiện các chức năng xã hội, nhưng họ vẫn đang đóng những vai trò nhất định trong cuộc sống của gia đình mình và xã hội
Trong gia đình, họ đã từng đảm nhận vai trò người cha, mẹ, người lao động chính của gia đình, người kết nối các thành viên trong gia đình với nhau Việc mất
đi nhận thức năng lực hành vi dân sự của BNTT không chỉ khiến cuộc sống của chính họ thay đổi mà các thành viên gia đình bệnh nhân cũng chịu ảnh hưởng
Trong xã hội, BNTT cũng đã từng đảm nhận rất nhiều vai trò xã hội khi còn sinh sống ở cộng đồng Họ ngoài việc thể hiện vai trò hiện qua việc làm của mình, vai trò ẩn của họ trong xã hội cũng rất to lớn Họ chính là nhân tố ổn định xã hội thông qua việc đóng góp sức lao động và trí lực của mình trong công việc hàng ngày, xây dựng gia đình, một nhân tố cấu thành xã hội Khi một người không còn
có khả năng thực hiện tốt vai trò của mình, ngoài việc xã hội mất đi các nguồn lực đang có, đây cũng sẽ là gánh nặng cho hệ thống an sinh xã hội
Việc mất đi năng lực nhận thức khiến BNTT không nhận thức được vai trò của bản thân trên cả hai vai trò là vai trò ẩn và vai trò hiện Tuy nhiên, đối với các BNTT đã phục hồi, họ có sự nhận thức và khao khát thực hiện vai trò của mình đối với gia đình và xã hội Việc được thực hiện các vai trò của bản thân cũng là một trong những năng lực và nhu cầu cơ bản của mỗi con người Điều kiện sức khỏe tinh thần hiện tại và sự kỳ thị, định kiến của xã hội đối với BNTT khiến họ mất đi vai trò đã có của bản thân, hoặc bị chối bỏ việc thực hiện các vai trò đó, gán ghép với việc không hoàn thành vai trò của mình
Đối với thuyết vai trò, có một lý luận trong thuyết đề cập đến việc phân biệt
xã hội Nghĩa là một người sẽ bị phân biệt dựa trên những vai trò xã hội khác nhau của mình và cách mà người đó hoàn thành chúng dựa trên các hành vi mà xã hội áp đặt cho các vai trò cần hoàn thành Trong trường hợp này, BNTT đã không thực hiện được nghĩa vụ và đáp ứng cho các kỳ vọng cho các vai trò của mình, và theo
đó, BNTT cũng sẽ không nhận được những quyền lợi liên quan và sẽ phải nhận sự trừng phạt
Trang 27Thuyết vai trò đã thể hiện một phần những khó khăn và nguyên nhân dẫn đến khó khăn khi BNTT thực hiện THNCĐ BNTT không đủ sức khỏe tinh thần và thể lực để thực hiện vai trò của mình trong xã hội cũng như việc bị chối bỏ, phủ nhận vai trò của bản thân từ môi trường xung quanh Áp dụng thuyết này vào bài nghiên cứu, nhóm nghiên cứu sẽ tìm ra những khó khăn và đề xuất hướng giải quyết những khó khăn đó dựa trên góc nhìn về vai trò trong quá khứ, hiện tại và tương lai trong xã hội của BNTT
1.3 Các khái ni ệm có liên quan
1.3.1 B ệnh tâm thần
Bệnh tâm thần là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra: nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang chấn tâm thần, bệnh
cơ thể… làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại Các quá trình cảm giác, tri giác,
tư duy, ý thức bị sai lệch cho nên BNTT có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với môi trường xung quanh
Bệnh tâm thần là loại bệnh rất phổ biến, công nghiệp ngày càng phát triển,
sự tập trung dân cư vào các thành phố ngày càng đông, cuộc sống ngày càng căng
thẳng thì bệnh ngày càng tăng Có những bệnh tâm thần nặng (các bệnh loạn thần), quá trình phản ánh thực tại sai lệch trầm trọng, hành vi, tác phong bị sai lệch nhiều
Có những BNTT nhẹ (các bệnh tâm căn, nhân cách bệnh), quá trình phản ánh thực
tại cũng như hành vi tác phong rối loạn ít, bệnh nhân vẫn còn có thể sinh hoạt, lao động, học tập được, tuy có giảm sút
Bệnh tâm thần thường không gây chết đột ngột nhưng làm đảo lộn sinh
hoạt, gây căng thẳng cho các thành viên trong gia đình và tổn thất cả về kinh tế
Bệnh tâm thần nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn đến trạng thái tâm thần
sa sút, người bệnh trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Phát hiện sớm và ngăn chặn kịp thời là để ngăn chặn sự tiến triển xấu này
Trang 281.3.2 B ệnh nhân tâm thần
Bệnh nhân tâm thần là người có biểu hiện khác lạ về lời nói, hành vi, nhân cách so với những người bình thuờng Người có bệnh tâm thần thường không nhận
thức được khuyết tật và sự bất thường của mình Với những người này, khả năng
thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và làm việc đều giảm sút Tình trạng
bất thường về tâm thần có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau hàng tháng Người
bị bệnh tâm thần đôi khi cũng có những lúc có những biểu hiện bình thường như
trước khi mắc bệnh
1.3.3 Tái hòa nh ập cộng đồng
1.3.3.1 Khái ni ệm hòa nhập
Theo Từ điển Tiếng Việt Phổ thông và Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, hòa
nhập là sự tham gia vào, hòa vào để không có sự tách biệt, là sự nhập vào một tập
thể một cách hoàn toàn nhất
Việc hòa nhập có ba mức độ khác nhau:
Hòa nh ập về thể chất: Hòa nhập thể chất của người bệnh Tâm thần là người
đó có thể xuất hiện trong cộng đồng Đây là mức độ thấp nhất trong hòa nhập, trong
đó người bệnh Tâm thần chưa có cơ hội phát huy tối đa tiềm năng của mình
Hòa nh ập về chức năng, hoạt động: Hòa nhập về chức năng, hoạt động của
một người bệnh Tâm thần tức là người đó có khả năng tiếp cận và hoạt động ở
những môi trường bình thường trong xã hội như gia đình, nhà trường, các TT, cửa
hiệu, nhà hàng, các nơi công cộng…
Hòa nh ập về xã hội và khoa học: có nghĩa là người đó có những mối quan
hệ xã hội với cá nhân khác trong các môi trường như trường học, nơi ở, nơi làm
việc và trong công việc nói chung
Như vậy, để người bệnh tâm thần thật sự hòa nhập vào cộng đồng, có cơ
hội phát huy khả năng của mình để sống bình thường, họ phải tiến tới được hòa
nhập hoàn toàn, nghĩa là họ phải đạt được tất cả các cấp độ của việc hòa nhập nêu trên
Trang 29“Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tỉnh hoặc
một quốc gia và được xem như là một khối thống nhất” “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc
có tình trạng tương tự nhau về một khía cạnh nào đó” (Theo từ điển đại học Oxford)
1.3.3.3 Khái ni ệm tái hòa nhận cộng đồng
Tái hòa nhập cộng đồng là quá trình một cá nhân hòa nhập lại vào cộng đồng trước đây mà người đó đã từng hòa nhập nhưng chưa thành công, tạo cơ hội,
bình thường hóa các mối quan hệ để họ hội nhập với cộng đồng nơi cư trú với tư
cách là một công dân, một thành viên của gia đình, của cộng đồng
1.4 Câu h ỏi nghiên cứu
- BNTT nói chung và BNTT đang sống tại Trung tâm điều dưỡng người
bệnh Tâm thần nói riêng đã và đang gặp những thuận lợi và khó khăn gì trong việc THNCĐ?
- Nguyên nhân nào dẫn đến những khó khăn đó?
- Những khó khăn đó có tác động như thế nào đến với việc THNCĐ cho BNTT đang sống tại Trung tâm?
- Những giải pháp nào có thể giải quyết khó khăn này?
Trang 305 Khung phân tích
Vi ệc THNCĐ của bệnh nhân tâm thần
t ại Trung tâm điều dưỡng người bệnh
Tâm th ần
Thách th ức
Cơ hội Khó khăn
Trung tâm tâm
th ần
B ệnh nhân và
gia đình
Trang 31CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2.1 Gi ới thiệu tổng quan địa điểm nghiên cứu
Tên cơ sở: Trung tâm Điều dưỡng người bệnh tâm thần trực thuộc Sở
Lao động – Thương binh và Xã hội
Địa chỉ: 37 đường Phú châu, Phường Tam Phú, quận Thủ Đức, Thành phố
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức
Trang 322.1.2.2 Cơ cấu nhân sự
Tính đến ngày 9 tháng 01 năm 2016 tổng số cán bộ viên chức của TT là 206 cán bộ viên chức Trong đó nhân viên hành chánh có 50 người, nhân viên khối trực
tiếp chăm sóc bệnh nhân là 156 người
Trong năm TT đã tạo điều kiện cho 40 cán bộ viên chức theo học các lớp
bồi dưỡng nâng cao gồm: Bác sĩ: 01 người; cử nhân Điều dưỡng: 02 người; đại học:
15 người; y sĩ: 01 người; Trung cấp chính trị: 11 người; trung cấp lao động xã hội:
02 người; trung cấp điều dưỡng: 08 người Ngoài ra còn cử 27 cán bộ viên chức tham gia các lớp tập huấn ngắn ngày nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, năng lực chuyên môn
Có 04 phòng (Phòng Tổ Chức Hành Chánh, Phòng Quản Trị Hậu Cần, Phòng Công tác xã hội, Phòng Tài Chính – Kế Toán); 07 khoa (Khoa A, B, C, D, E,
H Trạm Y tế
Trang 332.3.1 Nhi ệm vụ
2.1.3.1 Nhi ệm vụ chung
TT có nhiệm vụ: thu nhận, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc, khám và chữa trị
bệnh cho những người già cả mắc bệnh tâm thần mãn tính, những người bệnh tâm
thần sống lang thang không nơi nương tựa Tổ chức lao động trị liệu, lao động sản
xuất phù hợp với người mắc bệnh tâm thần nhằm phát huy kết quả điều trị và cải thiện sinh hoạt
2.1.3.2 Nhi ệm vụ từng bộ phận
➢ Giám đốc: Chịu trách nhiệm trước pháp luật và Sở Lao động - Thương
binh và Xã hội Thành phố về toàn bộ hoạt động của TT; Giải quyết những vấn đề quan trọng có liên quan đến các cơ quan chức năng của Thành phố và chính quyền địa phương trong việc thực hiện các chính sách, chế độ, công tác tổ chức và kế
hoạch tài chính
➢ Phó giám đốc: Phó giám đốc là người tham mưu, giúp việc cho Giám
đốc, được Giám đốc phân công chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về nhiệm vụ của mình được phân công Có nhiệm vụ báo cáo với Giám đốc kết quả thực hiện những công việc được Giám đốc phân công phụ trách
➢ Trưởng, phó phòng, trạm y tế và các khoa bệnh: Trưởng phòng, trưởng
trạm y tế và trưởng các trại bệnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện công việc đúng theo chức năng, nhiệm vụ được quy định, chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của phòng, trạm và trại bệnh mình quản lý với Giám đốc và phó giám đốc phụ trách
khối
Các Phó phòng, trạm và trại bệnh giúp trưởng phòng, trạm và trại bệnh thực
hiện công việc của mình
➢ Phòng tổ chức hành chánh: Gồm 18 nhân viên (chuyên viên: 02; cán sự:
02; bảo vệ: 08; lưu trữ văn thư: 02; tài xế: 02; bảo trì: 02)
Trang 34Tham mưu cho giám đốc và tổ chức thực hiện nhiệm vụ về công tác chuyên môn, nghiệp vụ và phục vụ cho hoạt động chung của TT, bao gồm:
Thực hiện chế độ chính sách theo kế hoạch, Quản lý, cập nhật hồ sơ CBVC,
Quản lý ngày giờ công, chế độ nghỉ phép, chính sách nâng lương, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho CBVC tại TT theo đúng quy định;
Quản lý công tác hành chính của TT về soạn thảo văn bản, văn thư lưu trữ,
quản lý con dấu, tiếp khách, tổ chức họp, hội nghị, mítting trong dịp Lễ, Tết …
quản lý mua sắm, sửa chữa, quản lý trang thiết bị, phương tiện làm việc, tài sản của TT;
➢ Phòng tài chính –kế toán: 08 nhân viên - Tham mưu cho Giám đốc xây
dựng kế hoạch, lập dự toán ngân sách quý, năm của TT, Quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí Đảm bảo chế độ nuôi dưỡng, chế độ cấp phát cho người bệnh; Tham mưu cho Giám đốc TT về công khai tài chính
➢ Phòng quản trị hậu cần: 22 nhân viên - Đảm bảo đúng tiêu chuẩn chế độ
ăn cho bệnh nhân, thực hiện các chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân già yếu suy kiệt theo đề nghị của Trạm y tế; Theo dõi, cân đối khẩu phần ăn hàng ngày đúng số đối tượng hiện diện, chế biến thức ăn đảm bảo vệ sinh, không để xảy ra tình trạng ngộ độc thức ăn tại TT
➢ Phòng công tác xã hội: 13 nhân viên ( Đại học CTXH: 01, Trung cấp
CTXH: 07; Lưu trữ hồ sơ: 03; y sĩ : 02): Tổ chức tiếp nhận đối tượng khi đã có Quyết định tiếp nhận đối tượng bảo trợ xã hội vào nuôi dưỡng tập trung tại TT, báo cáo tăng, giảm đối tượng hàng ngày, hàng tuần, tháng cho Giám đốc và phòng Bảo
trợ xã hội Sở; Hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ hồi gia, phép và làm các thủ tục hồi gia,
vận động đón bệnh nhân đã ổn định về hòa nhập cộng đồng theo đúng qui trình,
thực hiện công tác tư vấn tâm lý, lao động trị liệu cho bệnh nhân, làm và trình hồ sơ xin cấp thẻ bảo hiểm y tế, thẻ xác định mức độ khuyết tật cho người bệnh
Trang 35➢ Trạm y tế: 22 người (bác sĩ: 01; y sĩ: 05; điều dưỡng: 08; hộ lý: 04,
dược: 04) tiếp nhận, khám và phân loại đối tượng ban đầu khi nhập vào TT trước khi chuyển đến các khoa; Đảm bảo công tác cấp cứu và chuyển viện kịp thời cho
những bệnh nhân quá nặng và ngoài khả năng điều trị của TT Theo dõi và thực
hiện thường xuyên công tác vệ sinh dịch tể, vệ sinh an toàn thực phẩm, có phương
án và chịu trách nhiệm về phòng chống dịch
➢ Các khoa: Tiếp nhận, quản lý, khám và điều trị, chăm sóc người bệnh
tâm thần Quản lý hồ sơ bệnh án cá nhân từng đối tượng theo thứ tự khoa học để dễ dàng theo dõi;
Thực hiện đúng y lệnh và đảm bảo cho bệnh nhân uống đúng, đủ liều lượng thuốc theo phác đồ điều tri;
Thực hiện quản lý, chăm sóc bệnh nhân, đảm bảo môi trường sống sạch sẽ,
vệ sinh, an toàn cho bệnh nhân, không để tình trạng bệnh nhân kích động, đánh nhau gây thương tích, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạnh bệnh nhân tử vong tại khoa;
2.1.4 Thông tin v ề bệnh nhân tại Trung tâm
2.1.4.1 Công tác ti ếp nhận, quản lý
Tổ chức tiếp, khám phân loại sức khỏe cho bệnh nhân, sắp xếp nơi ở phù
hợp cho từng đối tượng, thuận lợi trong quản lý, nuôi dưỡng chăm sóc và điều trị đạt hiệu quả tốt, công tác tiếp nhận và giải quyết hồi gia đúng quy định
Quân số đầu năm 2015: 1297 (820 nam, 477 nữ)
Tăng trong năm (tính đến 30/11/2015): 328 (203 nam, 125 nữ); tăng
13,08% so với cùng kì năm 2014, trong đó:
Số bệnh nhân diện thu gom: 222
Số bệnh nhân do các TT chuyển đến: 63
Số bệnh nhân diện khó khăn gia đình gửi: 43
Trang 36Giảm trong năm: 522 người (375 nam, 147 nữ); tăng 35,91% so với cùng kì
2014, trong đó:
Số bệnh nhân trốn viện: 10
Số bệnh nhân tử vong: 41 Chuyển TT Tân Định: 203 Chuyển TT Bình Đức: 120 Trong năm nhờ nỗ lực vận động thuyết phục của Ban giám đốc TT, Phòng công tác xã hội và các khoa bệnh, đã có 148 bệnh nhân có sức khỏe và tình trạng
bệnh tạm ổn được gia đình đón về chăm sóc và điều trị tại cộng đồng
2.1.4.2 Công tác nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe
Đảm bảo công tác nuôi dưỡng bệnh nhân đúng chế độ, tiêu chuẩn nhà nước quy định, thực hiện công khai hằng tháng, khẩu phần ăn cho bệnh nhân dưới 60 tuổi 1.140.000 đồng/người/tháng, bệnh nhân trên 60 tuổi và bệnh nhân dưới 16 tuổi 1.520.000 đồng/người/tháng TT lo bữa ăn sáng 5000 đồng/bệnh nhân nấu cháo thịt, đậu xanh, đường do người từ thiện ủng hộ cho bệnh nhân
Thường xuyên nhắc nhở nhân viên cấp dưỡng về vệ sinh an toàn thực
phẩm, kiểm tra lưu mẫu thực phẩm hằng ngày và thực phẩm từ thiện ủng hộ cho
bệnh nhân, để không xảy ra ngộ độc thực phẩm Nhìn chung, bữa ăn bệnh nhân ngày càng đảm bảo số lượng và chất lượng
2.1.4.3 Công tác khám b ệnh và điều trị
Tăng cường khám bệnh và theo dõi điều trị cho bệnh nhân tại các khoa
bệnh, tổng số lượt khám trong năm 2015 là 68.512 lượt bệnh nhân trong đó khám
đa khoa 21.251 lượt Ngoài ra, TT còn phối hợp với bệnh viện quận Thủ Đức khám
bảo hiểm y tế cho 5.688 lượt bệnh nhân
Ngoài ra, TT còn kết hợp lao động trị liệu cho bệnh nhân làm cỏ, vệ sinh khuôn viên, chăm sóc cây kiểng giúp bệnh nhân vận động thân thể, tâm lý thoải mái mau chóng hồi phục sức khỏe để hòa nhập với cộng đồng
Trang 37Công tác phòng dịch TT, trang bị thùng chứa rác dọc các lối đi, các khoa
bệnh, hằng ngày thu gom vệ sinh chuyển đến bộ rác công cộng Hằng tuần, đội vệ sinh môi trường thu gom và xử lý, hằng tháng đội vệ sinh phòng dịch tổ chức phun thuốc muỗi phòng bệnh 2 lần/tháng Trong năm 2015, TT phối hợp với TT y tế dự phòng quận Thủ Đức đến hỗ trợ phun thuốc trong đợt cao điểm có dịch sốt xuất huyết và tập huấn cho nhân viên về công tác phòng dịch
2.1.4.4 Công tác t ổ chức điều trị
Tiếp tục thực hiện tốt công tác tổ chức hồ sơ bệnh án, phác đồ điều trị và công tác quản lý, cấp phát thuốc Tổ chức khám bệnh, kiểm tra tình trạng sức khỏe
và khám bảo hiểm y tế cho người bệnh, theo dõi điều trị cho những bệnh nhân bị
bệnh nặng, đặc biệt là bệnh nhân mới, bệnh nhân già yếu, sức khỏe suy kiệt, các trường hợp bệnh nặng ngoài khả năng chữa trị của TT đều được chuẩn đoán và chuyển viện kịp thời, hạn chế thấp nhấp tình trạng tử vong tại TT
2.1.4.5 Công tác t ổ chức sinh hoạt vui chơi giải trí cho người bệnh
Trang bị cho mỗi Khoa bệnh Tivi, đầu đĩa, amly, loa để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt vui chơi giải trí cho người bệnh Phòng công tác xã hội cùng Đoàn thanh niên TT chủ động trong việc tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí cho người bệnh theo định kỳ hằng tháng, các dịp lễ, tết tạo sự thư giãn và giải tỏa tâm lý cho người
bệnh
2.1.4.6 Công tác gi ữ gìn an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ
Kiểm tra, giám sát chặt chẽ người và các phương tiện ra vào cơ quan, tuyệt đối không mang vật tư tài sản, hàng hóa ra vào TT khi chưa được phép của lãnh đạo
Thường xuyên tổ chức tuần tra quanh khu vực TT và các khoa bệnh, hỗ trợ
kịp thời các khoa bệnh khi có sự cố xảy ra Bệnh nhân ra khỏi cổng phải được phép
của Ban giám đốc TT
Thường xuyên kiểm tra các phương tiện, dụng cụ phòng cháy chữa cháy,
Trang 38chức cách sử dụng các phương tiện chữa cháy Định kỳ 06 tháng/lần tổ chức diễn
tập phương án phòng chống cháy nổ, sẵn sàng đối phó khi có tình huống xảy ra
2.2 Mô tả mẫu nghiên cứu
Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp
phỏng vấn sâu gồm 10 cuộc phỏng vấn với 10 mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên, trong đó bao gồm 4 nam và 6 nữ, cụ thể:
➢ Đại diện phía bệnh nhân có nhu cầu THNCD có 2 mẫu (1 nam và 1 nữ)
➢ Đại diện phía bệnh nhân đã tái hòa nhập nhưng chưa thành công có 3
mẫu (1 nam và 2 nữ)
➢ Đại diện phía gia đình bệnh nhân có 1 mẫu (1 nam)
➢ Đại diện phía nhân viên TT có 2 mẫu (1 nam, 1 nữ)
➢ Đại diện cộng đồng có 2 mẫu (2 nữ)
Với những mẫu đối tượng phỏng vấn được chọn trên, mục đích của nhóm
nhằm khai thác các thông tin phục vụ cho bài nghiên cứu về các vấn đề sau : tầm quan trọng của việc THNCĐ của BNTT, những thuận lợi và khó khăn gặp phải trong quá trình tái hòa nhập, nguyên nhân xuất hiện những khó khăn đó và mong
muốn cho bản thân của BNTT trong tương lai Ngoài ra, việc chọn và phỏng vấn người nhân viên Công tác xã hội tại TT giúp nhóm nghiên cứu nắm bắt được tầm nhìn của TT dành cho việc hỗ trợ cộng đồng người bệnh tâm thần THNCĐ Bên
cạnh đó, là những thông tin về những dự án, chương trình, hoạt động mà TT đã thực
hiện được, những kết quả cũng như tác động từ các hoạt động đó đối với cộng đồng BNTT như thế nào
2.3 Th ực trạng quá trình tái hòa nhập cộng đồng của BNTT tại TT điều
dưỡng BNTT
Từ số liệu TT đưa ra về số lượng bệnh nhân được tái hòa nhập trong năm
2015, chúng ta có thể thấy trong năm qua, TT đã giải quyết thành công 148 trường
hợp đưa bệnh nhân ở TT tái hòa nhập với cộng đồng Từ số liệu này cho thấy, tổng
Trang 39quân số bệnh nhân ở TT là 1297 người, nhưng mới chỉ tái hòa nhập được 148 người (chỉ chiếm 11,4%) Vậy tại sao số lượng bệnh nhân tái hòa nhập lại thấp như vậy?
Thực trạng những nhu cầu của bệnh nhân về việc THNCD như thế nào?
Để có cái nhìn cụ thể và chính xác hơn về nhu cầu muốn THNCĐ của BNTT của TT điều dưỡng người bệnh tâm thần, nhóm nghiên cứu đã tiến hành
phỏng vấn nhanh 75 bệnh nhân hiện đã được điều trị ổn định nhưng vẫn đang ở tại
TT Trong đó có 32 bệnh nhân nữ ở khoa C, D; 43 bệnh nhân nam ở khoa A, B, E
Với câu hỏi “Anh/chị có muốn được trở về nhà hay không?” thì chúng tôi nhận được 64 người (chiếm 85.3%) đã có câu trả lời “có” trong đó có nam chiếm tỷ lệ 56.25% với 36 người, tỷ lệ ở nữ là 43.75% với 28 người Có 11 người có câu trả lời
là “không” chiếm 14.7%, trong đó có nữ chiếm 4 người với 36.4%, nam có 7 người
với 63.6%
Khi được hỏi lý do tại sao bệnh nhân muốn trở lại cộng đồng thì câu trả lời chúng tôi nhận được câu trả lời với các nguyên nhân là: 31 bệnh nhân cảm thấy mình đã khỏi hết bệnh, có thể về nhà để sống như một người bình thường tại cộng đồng ( 48.4%.), 13 bệnh nhân khác thì cho rằng ở TT không thoải mái như ở nhà, chán ở TT (20.3%), 10 bệnh nhân khác thì đưa ra lý do là về nhà ở gần người thân, được người thân chăm sóc thì bệnh mới mau hết hẳn (15.6%), 7 bệnh nhân thì trả
lời rằng người nhà ở xa lắm nên ít lên thăm được nên muốn về nhà để người nhà đỡ
đi xa thăm, nhớ nhà lắm ( 10.9%), 3 bệnh nhân trả lời là về nhà thì sẽ được làm nhiều thứ, nhiều việc hơn ở mãi trung TT không có việc gì làm thấy không vui (4.6%)
Các bệnh nhân đưa ra câu trả lời là “không” với câu hỏi “Anh/chị có muốn được trở về nhà hay không?” cũng đưa ra các lý do như sau: gia đình không có ai
nhận về nên không muốn về nữa (chiếm 54.5%, với 6 người trả lời), bệnh nhân là người mồ côi không có gia đình (chiếm 27.3% với 3 người trả lời), và cuối cùng là
do ở TT vui hơn có người nói chuyện, ăn uống ngon, về nhà hay bị ám ảnh (chiếm 18.2 % với 2 người trả lời)
Trang 40Từ kết quả của cuộc phỏng vấn nhanh 75 BNTT đang điều trị tại TT điều dưỡng người bệnh tâm thần, nhóm chúng tôi nhận thấy đại đa số bệnh nhân đều
muốn trở về gia đình, tái hòa nhập lại cộng đồng Có thể thấy đây là một nhu cầu mong muốn thiết thực của bệnh nhân và cũng là nhu cầu cơ bản cần được đáp ứng
của mỗi con người, đó là các nhu cầu được tự do và được thuộc về, được yêu thương Việc giúp đỡ bệnh nhân được ổn định tâm lý và THNCĐ cũng là tạo điều
kiện giúp cho bệnh nhân có thể được điều trị tốt hơn và cơ hội mau chóng hết bệnh hơn vì gia đình là yếu tố quan trọng trong việc điều trị giúp đỡ bệnh nhân hết bệnh
2.4 Nh ững thuận lợi và khó khăn trong việc tái hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân tâm th ần
2.4.1 Thu ận lợi
Việc THNCĐ không chỉ là nhu cầu của đại đa số bệnh nhân mà đó còn là
việc làm ý nghĩa, phục hồi lại quyền làm người và các chức năng xã hội đã mất của các bệnh nhân Việc chuẩn bị, vận động gia đình và đưa bệnh nhân THNCĐ luôn được các nhân viên của TT chú trọng thực hiện và đây cũng là việc nhận được sự quan tâm, hợp tác nhiều nhất của các bệnh nhân Việc thực hiện THNCĐ tại TT đã
và đang có những thuận lợi nhất định phía TT, thân nhân người bệnh và cả chính
bệnh nhân Ngoài ra, cộng đồng và xã hội cũng đã có một số các hoạt động hỗ trợ dành cho BNTT trong quá trình chuẩn bị và THNCĐ
2.4.1.1 V ề phía bệnh nhân
Đối với bệnh nhân, nhu cầu được về nhà, được THNCĐ luôn là một nhu
cầu, một khát khao mãnh liệt nhất đối với họ Khi đã được chữa trị, hồi phục và ổn định tâm lý tại TT, họ luôn cố gắng lao động, trị liệu và uống thuốc đầy đủ, với mong muốn lớn nhất là sớm được trở về nhà, THNCĐ.”Chú không bỏ thuốc bữa
nào h ết, chỉ mong uống nhiều cho hết bệnh mau rồi xin về nhà.” (BBPVS01) Tuy
tâm thần là một bệnh mãn tính nhưng nó lại không phải bệnh nan y, chỉ cần uống thuốc đầy đủ kết hợp với các biện pháp tâm lý trị liệu, BNTT hoàn toàn có thể sống
và sinh hoạt, làm việc như những người bình thường khác Nếu các bệnh khác gây ảnh hưởng đến thể chất, sức khỏe của người bệnh hay gây ra các khiếm khuyết hạn