1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ em có hiv (điển cứu tại trung tâm nuôi dưỡng và bảo trợ trẻ em linh xuân – thủ đức)

90 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 902,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở trung tâm, hầu hết các em đến trường đều gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với bạn bè, với thầy cô, với thể chế nhà trường cũng như với việc học.. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Giảng viên hướng dẫn: Th.s Phạm Thị Tâm

Nhóm sinh viên thực hiện:

Trang 2

1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5

2.1 Mục tiêu tổng quát 5

2.2 Mục tiêu cụ thể 5

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu 6

3.2 Khách thể nghiên cứu 6

3.3 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 6

4.1 Ý nghĩa lí luận 6

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

5.1 Phương pháp luận 7

5.2 Các phương pháp nghiên cứu và kĩ thuật điều tra 7

6 Kết cấu bài nghiên cứu 10

II PHẦN NỘI DUNG 12

Chương 1: Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận lý thuyết 12

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 12

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 15

2 Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng 21

2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow 21

2.2 Thuyết hành vi 23

2.3 Thuyết phát triển nhận thức của Piaget 25

3 Các khái niệm liên quan 26

4 Câu hỏi nghiên cứu 28

Trang 3

5.Giả thuyết nghiên cứu 28

6 Khung phân tích 30

Chương 2: Kết quả nghiên cứu 31

1 Mô tả địa bàn nghiên cứu 31

2 Mô tả mẫu nghiên cứu 32

3 Mục tiêu nghiên cứu 33

3.1 Khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ cấp 1, trẻ cấp 2, trẻ cấp 3 và trẻ học nghề ở Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ trẻ em Linh Xuân 33

3.2 So sánh mức độ khó khăn và khả năng hòa nhập giáo dục của các nhóm trẻ trên, tìm ra sự khác biệt 40

3.3 Ảnh hưởng của những khó khăn trên đối với tâm lý, sự hòa nhập của các em 46

3.4 Những giải pháp CTXH mang tính bền vững 52

III PHẦN KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 55

1 Kết luận 55

2 Khuyến nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 60

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 1 60

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 2 63

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 3 66

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 4 72

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 5 78

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 6 81

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 7 84

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 8 86

Trang 4

đó đồng nghĩa với việc có khoảng 700 ca nhiễm HIV mới mỗi ngày Theo đó, có hàng trăm nghìn trẻ em mỗi năm bị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp bởi các tác động của đại dịch HIV, những ảnh hưởng đó có tác động vô cùng tiêu cực cho chính bản thân các

em, gia đình và cộng đồng nơi mà các em hiện đang sinh sống Cũng theo trang này, vào cuối năm 2015, trên toàn thế giới có khoảng 2.6 triệu trẻ em sống với HIV và phần lớn các em thuộc các quốc gia châu Phi (nơi AIDS là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến việc tử vong ở lứa tuổi thanh thiếu niên) Trong những con số đáng chú ý đó, chỉ có 32% trẻ em sống chung với HIV đã được điều trị ARV (ART) Trong năm 2013, 190.000 trẻ em chết vì các bệnh liên quan đến AIDS Nếu trẻ em có HIV thường xuyên được kiểm tra, điều trị, theo dõi và chăm sóc theo tiến trình có thể giúp các em sống lâu và khỏe mạnh như những đứa trẻ bình thường khác Tuy nhiên, việc thiếu trang thiết bị, thiếu sự đầu tư cần thiết và các nguồn lực, thiếu thuốc kháng virus ARV (ART) và các chương trình phòng chống đã dẫn đến việc trẻ em phải tiếp tục gánh chịu những hậu quả đáng tiếc của nạn dịch HIV/AIDS.1 Đó là những con số và những thông tin đại diện cho phần nổi của tảng băng mà chúng ta có thể thống kê và thu thập được Tuy nhiên, những con số, những thông tin đó không chỉ thể hiện cho chúng ta biết được số trẻ hiện đã và đang sống với HIV hay việc chúng ta thiếu các tiềm năng như thế nào để giúp đỡ các em mà còn giúp chúng ta suy nghĩ sâu sắc hơn về các vấn đề có thể xảy đến với các em Một vấn đề mà bất cứ ai trong chúng ta đều có thể nhận thức được đó là việc trẻ em có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV khi hòa nhập vào môi trường

1

http://www.avert.org/professionals/hiv-social-issues/key-affected-populations/children

Trang 5

xã hội luôn phải chịu sự kì thị, xa lánh, dè bỉu từ phía cộng đồng Với sự phát triển của các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của các nhà chức trách, nhà chuyên môn thì trong những năm gần đây, số trẻ em có HIV trở thành trẻ mồ côi, chịu

sự phân biệt đối xử, hắt hủi, kì thị và xa lánh từ phía cộng đồng đã giảm Tuy nhiên, những hệ lụy đáng tiếc từ những vấn đề trên vẫn diễn ra hằng ngày, chúng ta vẫn cần nhiều nỗ lực, cố gắng hơn để giảm sự kì thị, phân biệt này đến mức tối thiểu

Như chúng ta đã biết, mỗi đứa trẻ đều là một nhân tố tiềm ẩn, các em cần được tạo mọi điều kiện và động lực để phát triển, tăng cường năng lực, nhận thức rõ ràng về bản thân Trẻ em có HIV được xem là một trong những đối tượng đặc biệt, các em cần nhận được nhiều sự quan tâm và chú ý hơn từ phía môi trường và cộng đồng nơi mà các em đang sinh sống Các em là một bộ phận công dân có sự tác động, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và đổi thay của đất nước Như bất kì một đứa trẻ nào khác, trẻ em

có HIV cũng có quyền được hưởng đầy đủ các quyền lợi, sự chăm sóc và hỗ trợ từ phía

xã hội Điều đáng nói là, phần lớn trẻ em có HIV đều phải sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội Các em sống trong các trung tâm thường là do các bệnh viện hoặc các gia đình không có khả năng chăm sóc đã gửi các em đến, không ngoại trừ trường hợp các em bị bỏ rơi được gom về Các em bị mất gia đình, mất lai lịch và sự thừa kế Nguồn kế sinh nhai đảm bảo cuộc sống cho các em bị hạn chế Bên cạnh đó, các em thiếu thốn tình cảm ruột thịt và nhận được rất ít tình thương yêu, sự vuốt ve như các trẻ nhỏ khác Cuộc sống của các em gặp rất nhiều khó khăn không chỉ bởi căn bệnh các

em đang mang trong cơ thể mà những khó khăn còn đến từ phía cộng đồng nơi mà các

em đang sinh sống, trong đó có môi trường học đường Trường học là môi trường giáo dục thứ hai, đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc hình thành nhân cách và năng lực của mỗi cá nhân Trường là nơi sinh hoạt, học tập lành mạnh, bổ ích cho trẻ để trẻ nhận thấy tầm quan trọng của việc học cũng như ý thức được giá trị của chính bản thân mình Trẻ có HIV được đưa đến trường học với mong muốn các em sẽ hòa nhập, sẽ học tập thật tốt, sẽ phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác Nhà nước trong những năm gần đây đã cố gắng phát huy vai trò lãnh đạo của mình, nỗ lực trong việc giúp trẻ

có HIV đến trường, chủ trương vận động trường học chấp nhận việc nhận và dạy dỗ trẻ

có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV Nhưng thực tế cho thấy, tình trạng kì thị, phân biệt

Trang 6

5

đối xử với trẻ em có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV hiện đang rất nổi cộm ở các nhà trường Điều đáng nói là tư tưởng này chủ yếu xuất phát từ các bậc phụ huynh, các bậc cha mẹ thậm chí là cả giáo viên đứng lớp Rất ít trường học chấp nhận dạy dỗ trẻ em có HIV, giúp đỡ các em trong việc hòa nhập với những trẻ khác và môi trường xã hội

Trung Tâm Nuôi Dưỡng và Bảo Trợ Trẻ Em Linh Xuân – Thủ Đức thành lập

ra có chức năng bảo trợ xã hội cho trẻ em có HIV từ 0-16 tuổi với sứ mạng tiếp nhận, nuôi dưỡng, giáo dục, hướng nghiệp cho trẻ, đảm bảo cuộc sống của các em được tốt hơn Ở trung tâm, hầu hết các em đến trường đều gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với bạn bè, với thầy cô, với thể chế nhà trường cũng như với việc học Những khó khăn đó đến từ phía mọi mặt, mọi khía cạnh, chúng rất đa dạng và phức tạp Nhận thấy được tầm quan trọng và cấp thiết của việc tìm ra những khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục hiện đang tồn tại của trẻ em có HIV, nhóm nghiên cứu chọn thực hiện đề tài

“Những khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ em có HIV”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài nghiên cứu này nhằm tìm hiểu, làm rõ những khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ em có HIV tại Trung Tâm Nuôi Dưỡng và Bảo Trợ Trẻ Em Linh Xuân - Thủ Đức Từ kết quả đã được phân tích, nhóm nghiên cứu sẽ đề xuất những khuyến nghị và giải pháp mang tính thiết thực nhằm giảm bớt khó khăn cho trẻ có HIV Qua

đó, giúp đỡ trẻ có thể hòa nhập giáo dục dễ dàng, bớt đi các áp lực trong môi trường học đường của trẻ, giúp trẻ tự tin, phát triển bình thường và toàn diện như bao đứa trẻ đồng trang lứa khác

Trang 7

2.2.4 Những giải pháp công tác xã hội mang tính bền vững

3 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của nhóm trong đề tài là những khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ em có HIV tại Trung Tâm Nuôi Dưỡng và Bảo Trợ Trẻ Em Linh Xuân- Thủ Đức

3.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu trong đề tài này là trẻ có HIV và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV hiện đang được nuôi dưỡng và giáo dục tại Trung Tâm Nuôi Dưỡng và Bảo Trợ Trẻ Em Linh Xuân – Thủ Đức cùng với người quản lý đang công tác ở tại cơ sở

3.3 Phạm vi nghiên cứu

3.3.1 Phạm vi không gian: Khoa Tuổi Hồng và Khoa Tuổi Xanh (2 trong 4

khoa) thuộc Trung Tâm Nuôi Dưỡng và Bảo Trợ Trẻ Em Linh Xuân, số 30/3 Bà Giang, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh

3.3.2 Phạm vi thời gian: Từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017 (tính từ

thời gian bắt đầu làm đề cương nghiên cứu)

3.3.3 Phạm vi nội dung: Nội dung đề tài sẽ xoay quanh vấn đề về việc tìm

hiểu thực trạng, những khó khăn khi hòa nhập vào môi trường học đường của trẻ có HIV

4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

4.1 Ý nghĩa lí luận

Trong đề tài nghiên cứu, nhóm đã sử dụng một số thuyết khoa học như: thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết hành vi, thuyết nhận thức của Piaget để nghiên cứu và phân tích vấn đề về những khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ có HIV Từ

đó, nhóm đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp phù hợp, thiết thực nhằm nâng cao chất lượng học tập của các em và giúp các em có thể hòa nhập vào môi trường học đường một cách tốt nhất

Mặt khác, kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hệ thống lý luận, định hướng nhận thức cho sinh viên ngành công tác xã hội nói riêng và sinh viên các ngành khác

Trang 8

7

nói chung để họ có cái nhìn tích cực hơn về trẻ em có HIV và trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV, từ đó góp tiếng nói chung của mình vào cộng đồng để bảo vệ trẻ em có HIV và trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV

4 2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài nghiên cứu của nhóm sẽ là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho các cá nhân và tổ chức quan tâm đến vấn đề hòa nhập giáo dục của trẻ em có HIV Qua đó, đề tài giúp họ hiểu hơn về thực tế đời sống học tập của trẻ có HIV để từ đó nỗ lực, cố gắng giúp trẻ có một môi trường học tập bổ ích và lành mạnh hơn, có đủ mọi điều kiện

để phát triển

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao nhận thức cũng như phát huy vai trò của cán bộ, nhân viên trung tâm trong việc hỗ trợ trẻ có HIV tham gia vào quá trình học tập, rèn luyện nhằm nâng cao khả năng hòa nhập giáo dục

Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài hướng đến những giải pháp thiết thực mang tính công tác xã hội trong việc giúp đỡ, tạo điều kiện phát triển cho các em có HIV Nhóm nghiên cứu hi vọng xã hội quan tâm hơn đến vấn đề sinh hoạt, học tập và những khó khăn trong việc hòa nhập vào môi trường học đường của trẻ có HIV, giúp các em tránh được những sự kì thị, sự phân biệt không đáng có Từ đó, các em có thể phát triển một cách toàn diện, tự tin hòa nhập vào môi trường học đường, môi trường

xã hội Đồng thời, các em sẽ nhận được những thứ đáng lẽ ra các em phải được nhận, khẳng định giá trị của chính bản thân mình, góp phần sức của mình vào việc xây dựng

và phát triển đất nước ngày một giàu mạnh, phát triển thêm

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ tương tác, tác động qua lại với nhau Phân tích, nhìn nhận vấn đề một cách

đa diện, nhiều chiều từ đó phát hiện ra khía cạnh mấu chốt của vấn đề

5.2 Các phương pháp nghiên cứu và kĩ thuật điều tra

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Trang 9

Mục tiêu của đề tài là nhằm đi sâu tìm hiểu về những khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ có HIV tại Trung Tâm Nuôi Dưỡng và Bảo Trợ Trẻ Em Linh Xuân – Thủ Đức Để phân tích, nghiên cứu vấn đề, phương pháp được nhóm nghiên cứu sử dụng là phương pháp nghiên cứu định tính

Trong phương pháp này nhóm sử dụng công cụ phỏng vấn sâu, đây là công cụ nghiên cứu chính nhóm sử dụng trong đề tài, cụ thể như sau Nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu theo kiểu cơ cấu hóa chặt chẽ, câu hỏi được các thành viên trong nhóm thảo luận, đặt ra sẵn nhằm khai thác thông tin một cách triệt để và tránh phạm phải những sai lầm không đáng có trong quá trình phỏng vấn Đối tượng nhóm nghiên cứu hướng đến là trẻ có HIV, trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV và người quản lý trung tâm (hay còn được gọi là trưởng khoa) Nhóm nghiên cứu tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó bao gồm:

Sau khi lấy thông tin từ phương pháp định tính với công cụ là phỏng vấn sâu, nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng công cụ xử lí số liệu nhằm xử lý thông tin theo phương pháp phân tích nội dung

5.2.2 Quan sát

Đây là bộ công cụ thu thập thông tin xã hội sơ cấp về đối tượng nghiên cứu, bằng cách tri giác trực tiếp và ghi chép tỉ mỉ mọi nhân tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu có ý nghĩa đối với mục tiêu nghiên cứu.2 Thông qua đó, nhóm nghiên cứu

2

http://14.176.231.50/lib/file/xahoi/phuong_phap_nghien_cuu_xa_hoi_hoc_5721.pdf

Trang 10

có hay bị các trẻ khác bắt nạt, ức hiếp, cô lập hay không? … Về phía người quản lý trung tâm thì nhóm sẽ tiến hành quan sát xem nhân viên trung tâm có thái độ quan tâm đến hoạt động sinh hoạt của trẻ (học tập, vui chơi, ăn uống, ngủ nghỉ, bệnh tật, các tâm

tư nguyện vọng của trẻ,…) hay không thông qua lời nói, cử chỉ, hành động như thế nào như (nhẹ nhàng, trìu mến, la mắng, đánh đập,…) Quan sát xem nhân viên trung tâm có khả năng truyền đạt kiến thức, chỉ dạy các em khi các em không biết làm bài tập hay có tìm cách giải quyết khi các em bị cô lập, ghét bỏ hay không? Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng quan sát xem các trẻ có nhận được sự quan tâm từ phía gia đình mà đã đưa trẻ đến trung tâm hay không (thăm nuôi, dẫn về nhà, dẫn đi chơi,…) Các thông tin mà nhóm quan sát được từ hai nhóm đối tượng trên nhằm hiểu rõ hơn về những khó khăn nhất định trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ có HIV tại trung tâm nói chung cũng như các nhóm trẻ cấp 1, nhóm trẻ cấp 2, nhóm trẻ cấp 3 và nhóm trẻ học nghề ở Trung Tâm Nuôi Dưỡng và Bảo Trợ Trẻ Em Linh Xuân – Thủ Đức nói riêng Từ đó, nhóm có thể phân tích, so sánh và đưa ra được mức độ của những khó khăn và khả năng hòa nhập giáo dục của các nhóm trẻ trên, tìm ra được sự khác biệt giữa các nhóm trẻ

5.2.3 Nghiên cứu tài liệu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu là phương pháp thu thập thông tin thông qua đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng cơ bản là cơ sở cho lý luận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán về

Trang 11

những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu, xây dựng những mô hình lý thuyết hay thực nghiệm ban đầu.3

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài như sách, luận án, tạp chí, bài báo, các công trình nghiên cứu trong nước…Bên cạnh đó, nhóm cũng nghiên cứu tình hình giáo dục của trẻ có HIV và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV trên các trang mạng, website trong nước và ngoài nước Đồng thời, nhóm cũng cố gắng tìm ra những khía cạnh mới của đề tài chưa được nghiên cứu, chưa được nhắc đến Các tài liệu này được tổng hợp lại, sắp xếp thành danh mục trong tài liệu tham khảo

6 Kết cấu bài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của nhóm có nội dung và kết cấu như sau:

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

5.2 Các phương pháp nghiên cứu và kĩ thuật điều tra

6 Kết cấu đề tài nghiên cứu

3

http://phuongphapnghiencuukhoahoc.com/phuong-phap-nghien-cuu-ly-thuyet/

Trang 12

11

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận lý thuyết

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2 Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng

2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow

2.2 Thuyết hành vi

2.3 Thuyết phát triển nhận thức của Piaget

3 Các khái niệm liên quan

4 Câu hỏi nghiên cứu

5 Giả thuyết nghiên cứu

6 Khung phân tích

Chương 2 Kết quả nghiên cứu

1 Mô tả địa bàn nghiên cứu

2 Mô tả mẫu nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ cấp 1, trẻ cấp 2, trẻ cấp 3 và trẻ học nghề ở Trung Tâm Bảo Trợ Và Nuôi Dưỡng Trẻ Em Linh Xuân

3.2 So sánh mức độ khó khăn và khả năng hòa nhập giáo dục của các nhóm trẻ trên, tìm ra sự khác biệt

3.3 Tìm ra ảnh hưởng của những khó khăn trên đối với tâm lý, sự hòa nhập của các

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

HIV/AIDS là cơn ác mộng của mọi người, trong hơn ba thập kỉ qua, kể từ lúc

ca nhiễm HIV/AIDS đầu tiên được phát hiện thì đến nay nó đã trở một thảm họa, một vấn nạn lớn của xã hội loài người Nó gây ra nỗi khốn khổ lớn cho các quốc gia, các cộng đồng và các gia đình trên toàn thế giới Hiện nay, đã có rất nhiều sách báo, bài thống kê, luận án, luận văn, trang web trên thế giới… đề cập đến vấn đề này Để đi sâu hơn về bài nghiên cứu “Những khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ em có HIV”, nhóm nghiên cứu đã thực hiện tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để

có cái nhìn tổng quan hơn cho bài nghiên cứu Dưới đây là một số dẫn chứng, số liệu, thông tin mà nhóm nghiên cứu tìm hiểu được về tình hình HIV/AIDS trên thế giới

Theo Trung tâm phòng chống HIV/ AIDS của Sở Y Tế tỉnh Quảng Ninh về

“Cập nhật tình hình dịch HIV trên thế giới qua các con số” thì trong năm 2008, thế giới đã có tới 430.000 trẻ em sinh ra bị nhiễm HIV, việc này đưa tổng số trẻ em (dưới

15 tuổi) có HIV còn sống trên thế giới lên 2,1 triệu em Phần lớn các em này bị lây truyền HIV từ mẹ khi mang thai, khi sinh và khi cho con bú Tuy nhiên, có một tín hiệu khả quan là con số trẻ em mới có HIV trong năm 2008 đã giảm 18% so với năm 2001 nhờ những nỗ lực dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con Báo cáo cũng cho biết, trong tổng số người lớn (15 - 49 tuổi) có HIV còn sống trên thế giới tính đến cuối năm

2008 thì có khoảng 40% là những người trẻ tuổi và 50% là phụ nữ Bên cạnh đó, báo cáo cũng đưa ra một vài con số đáng chú ý về dịch HIV Trên thế giới hiện nay có chưa tới 40% thanh niên có được kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và có dưới 40% số người

có HIV biết được tình trạng nhiễm HIV của mình; còn tới hơn một nửa (58%) số người

có HIV cần điều trị nhưng chưa được điều trị và tỷ lệ này trong trẻ em là 62% Tóm tắt tình hình dịch AIDS toàn cầu đến cuối năm 2008: Tổng số người có HIV còn sống: 33,4 triệu, trong đó số người lớn (15 - 49 tuổi) là 31,3 triệu; số phụ nữ (trong số người lớn) là 15,7 triệu và trẻ em (dưới 15 tuổi) là 2,1 triệu Tổng số người mới nhiễm trong

Trang 14

13

năm 2008 là 2,7 triệu, trong đó số người lớn (15 - 49 tuổi) là 2,3 triệu và trẻ em (dưới

15 tuổi) là 430.000 em Tổng số người chết do AIDS trong năm 2008 là 2,0 triệu, trong

đó số người lớn (15 - 49 tuổi) là 1,7 triệu, trẻ em (dưới 15 tuổi) là 280.000 em.4

Bên cạnh đó, theo Trung tâm phòng chống HIV/AIDS của Sở Y Tế tỉnh Thừa -Thiên Huế về tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới thì HIV/AIDS kể từ khi mới xuất hiện thì tính đến năm 2014 đã có khoảng 80 triệu người đã bị nhiễm virus HIV và khoảng

40 triệu người đã chết vì HIV.5

Theo UNICEF, trên thế giới ước tính có khoảng 36.9 triệu người đang sống với HIV trong năm 2014 Trong số này, 2.6 triệu là trẻ em dưới 15 tuổi và khoảng 18.6 triệu là phụ nữ và trẻ em gái Mỗi ngày trong năm đó, có khoảng 5.600 người đã bị nhiễm HIV mới và khoảng 3.200 người chết vì AIDS, chủ yếu là vì chưa tiếp cận đầy

đủ các dịch vụ chăm sóc phòng ngừa và điều trị HIV Tuy nhiên, nhiễm HIV mới ở trẻ

em đang giảm nhanh chóng - gần 60% kể từ năm 2001, phần lớn là do những nỗ lực,

cố gắng để ngăn ngừa lây truyền HIV từ con đường mẹ sang con Số người nhiễm HIV

và AIDS vẫn tiếp tục được tìm thấy, đặc biệt là ở châu Phi cận Sahara Trong năm

2014, châu Phi cận Sahara chiếm phần lớn dân số thế giới đang sống chung với AIDS, nhiễm mới HIV và tử vong liên quan đến AIDS Trong khu vực này, HIV được lây truyền chủ yếu qua đường quan hệ tình dục khác giới.6

Ngoài ra, theo trang Averting HIV and AIDS, trên thế giới, người ta ước tính rằng có khoảng 17,8 triệu trẻ em dưới 18 tuổi mồ côi do AIDS, và điều này sẽ tăng lên

25 triệu vào năm 2015 Trong đó, có khoảng 15.1 triệu, tương đương 85% trong số những trẻ em đó sống ở tiểu vùng Sahara châu Phi Ở một số nước chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh, có một tỷ lệ lớn số trẻ em mồ côi - ví dụ 74% ở Zimbabwe , và 63% ở Nam Phi…Con số đó dự kiến vẫn sẽ tiếp tục tăng lên nếu không có sự can thiệp kịp thời vào những năm tiếp theo Các chương trình HIV tập trung vào trẻ em mồ côi

và trẻ em dễ bị tổn thương (đôi khi được gọi là trẻ OVC - Orphans and Vulnerable

4http://quangninhpac.vn/index.php/tin-tuc/tinh-hinh-dich-hiv-aids

5http://hiv.thuathienhue.gov.vn/?gd=1&cn=87&tc=1386

6

https://data.unicef.org/topic/hivaids/global-regional-trends/#

Trang 15

Children) là một chiến lược quan trọng để giảm thiểu tổn thương với HIV ở trẻ

em Các chương trình này tập trung vào việc hỗ trợ người chăm sóc trẻ em, đảm bảo các em được đến trường, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và quyền con người của các em, đảm bảo rằng nhu cầu tình cảm của các em được đáp ứng.7

Đồng thời, cũng theo trang Averting HIV and AIDS, trong năm 2015, ước tính

có khoảng 36,7 triệu người đang sống với HIV (bao gồm 1,8 triệu trẻ em), trong đó, tỷ

lệ nhiễm HIV toàn cầu là 0,8% Phần lớn số này sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình Trong cùng năm đó, 1.1 triệu người chết vì các bệnh liên quan đến AIDS Kể từ khi dịch HIV/AIDS bắt đầu, ước tính có 78 triệu người đã bị nhiễm HIV

và 35 triệu người đã chết vì các bệnh liên quan đến AIDS Có khoảng 25.5 triệu người sống chung với HIV sống ở tiểu vùng Sahara châu Phi Phần lớn trong số họ (khoảng

19 triệu) sống ở phía đông và phía nam châu Phi chiếm 46% các ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu trong năm 2015 Khoảng 40% tất cả những người sống chung với HIV không biết rằng họ có virus Trong năm 2015, đã có khoảng 2,1 triệu người nhiễm mới HIV, 150.000 trong số đó là trẻ em Hầu hết trẻ em sống ở tiểu vùng Sahara châu Phi

và bị nhiễm thông qua các bà mẹ nhiễm HIV khi họ mang thai, sinh con hoặc cho con

bú Một trong những tiến bộ là việc lây nhiễm HIV mới ở người trưởng đã chậm lại trong những năm gần đây Từ năm 2010, số lượng hằng năm của các ca nhiễm mới ở người lớn (15+) vẫn tĩnh tại 1.9 triệu

Tính đến năm 2014, ước tính có khoảng 13,3 triệu [11,1-18,0 triệu] trẻ em trên toàn thế giới đã mất đi một hoặc cả hai cha mẹ do AIDS Hơn 80 phần trăm những trẻ em trong

số đó (11,0 triệu) sống ở tiểu vùng Sahara châu Phi Bên cạnh đó, nhiều trẻ em khác bị

mồ côi do nhiều lý do khác nhau Các em đều được xếp vào đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là trẻ em có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV

Theo trang web này, trường học được xem là một nguồn quan trọng để bảo vệ và đảm bảo sự ổn định cho trẻ em dễ bị tổn thương Nhiều nước ở châu Phi cận Sahara đã có những bước tiến ấn tượng hướng tới việc được đến trường trong độ tuổi đi học giữa các

7

http://www.avert.org/professionals/hiv-social-issues/key-affected-populations/children

Trang 16

15

trẻ em mồ côi và không mồ côi Con số này ngày càng tăng ở các nước ở châu Phi và các nơi khác, họ đang xây dựng kế hoạch hành động quốc gia để hỗ trợ trẻ em mồ côi, trẻ có AIDS, trẻ bị ảnh hưởng bởi AIDS và những trẻ em khác có nguy cơ, ôm lấy một định nghĩa rộng của sự “tổn thương”.8

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

HIV/AIDS được xem là căn bệnh của thế kỉ, nó là mối đe dọa lớn đối với tính mạng và tài sản của con người Cũng như bất cứ một quốc gia nào khác trên thế giới, ở Việt Nam, HIV/AIDS được xem là một vấn đề nghiêm trọng và đòi hỏi rất nhiều sự quan tâm của xã hội Những bất cập và thông tin xoay quanh vấn đề này luôn được cập nhật liên tục và luôn phản ánh được hiện tại một cách rất khách quan

Theo tạp chí Y học thực hành thì vào năm 2012 thì toàn quốc có trên 67.000 bệnh nhân đang được điều trị ARV Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, 9 tháng đầu năm 2012 số trường hợp có HIV mới phát hiện là 8560 Tính đến 30/9/2012, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 206.435 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 59.206 và 62.073 trường hợp tử vong do AIDS Tỷ lệ có HIV tính trên 100.000 dân là 257, Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệ có HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (992,8), tiếp sau là thành phố Hồ Chí Minh (665), thứ 3 là Thái Nguyên (579) Trong tổng số người có HIV được phát hiện trong 9 tháng đầu năm 2012, tỷ lệ người nhiễm phân theo giới tính ở nam giới giảm 0,7% và ở nữ giới tăng 0,7% so với tỷ lệ nhiễm HIV ở nam và nữ cùng kỳ năm 2011 Riêng TP.HCM có 25.000 trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS TP.HCM hiện có khoảng 1,8 triệu trẻ em, trong đó có hơn 1,4 triệu trẻ em có hộ khẩu thường trú và trên 300.000 trẻ em tạm trú, chiếm 27,3% dân số thành phố Số trẻ em dưới 16 tuổi có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ước tính khoảng 25.000 trẻ.Khoảng 1/4 trẻ em có HIV trên địa bàn TP.HCM đang được chăm sóc và điều trị ARV Số lượng trẻ em được tiếp cận, chăm sóc còn rất thấp so với thực tế, chỉ

có khoảng 6.050 trẻ (chiếm 24,2%), trong đó, trẻ có HIV khoảng 1.228 em, trẻ đang điều trị ARV là 1.162 em.9

8http://www.avert.org/global-hiv-and-aids-statistics#footnote3_bor026s

9

http://www.yhth.vn/tintonghopvehivaidstrongcanuoc_d2824.aspx

Trang 17

Bên cạnh đó, theo Thống kê, Báo cáo của trang điện tử Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy mại dâm thì ở Việt Nam, tính đến cuối năm 2013

có khoảng 256.000 trường hợp nhiễm HIV đã được phát hiện Tính từ đầu vụ dịch thì

số người tử vong do AIDS ở Việt Nam là gần 71.000 người Đối với việc lấp khoảng trống về dự phòng lây nhiễm HIV, năm 2013 ở Việt Nam đã phát hiện gần 8.500 ca nhiễm HIV mới trong 9 tháng năm 2014 Về lấp khoảng trống ngăn chặn tử vong do AIDS, ở Việt Nam đã có hơn 1.500 người đã tử vong do AIDS trong 9 tháng đầu năm

2014 Trong công tác lấp khoảng trống về điều trị kháng HIV thì ở Việt Nam, tính đến tháng 9 năm 2014, có gần 89.000 người nhiễm HIV đang được điều trị ARV, chiếm 36% tổng số người nhiễm HIV; gần 4.500 em nhỏ được điều trị kháng vi-rút, chiếm hơn 90% số trẻ em nhiễm HIV.10

Theo Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS của Sở Y Tế tỉnh Thừa - Thiên Huế thì ở Việt Nam tính đến ngày 31/5/2015, số người nhiễm HIV phát hiện mới là 3.204,

số người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS là 1.326, số người nhiễm HIV đã tử vong là 438 Lũy tích đến tháng 5/2015, số người nhiễm HIV hiện đang còn sống là 227.114 người, số bệnh nhân AIDS là 71.115 và đã có 74.442 trường hợp tử vong do AIDS Trong 5 tháng đầu năm 2015 đã phát hiện thêm 35 xã có người nhiễm HIV được phát hiện, như vậy toàn quốc có 90,8% xã và 98,9% huyện có người nhiễm HIV HIV còn sống đang tập trung tại 10 tỉnh, thành phố sắp xếp theo thứ tự như sau: Thành phố

Hồ Chí Minh là 54.705 người, Thành phố Hà Nội là 21.316 người, tỉnh Thái Nguyên là 7.502 người, tỉnh Sơn La là 7.326 người, thành phố Hải Phòng là 7.282 người, tỉnh Nghệ An là 6.521 người, tỉnh Đồng Nai là 6.156 người, tỉnh Thanh Hóa là 5.493 người, tỉnh An Giang là 5.240 người và tỉnh Quảng Ninh là 5.230 người

Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo số báo cáo là 253 người trên 100.000 dân, tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (883 người), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (712 người), thứ 3 là tỉnh Thái Nguyên (652 người), tiếp đến là tỉnh Sơn La (646 người), tỉnh Lai Châu (535 người), tỉnh Yên

10

http://tiengchuong.vn/HIVAIDS/Nhung-con-so-biet-noi-trong-phong-chong-HIVAIDS/11907.vgp

Trang 18

Tỷ lệ nhiễm HIV phát hiện mới đa số thuộc độ tuổi từ 20-40) Những năm gần đây lây nhiễm HIV chủ yếu qua đường quan hệ tình dục.11

Ở trên là những con số thực tế về HIV/AIDS mà nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu, quan sát, tìm kiếm được từ những trang web cũng như tạp chí, sách báo Những con số sống động trên đã phần nào giúp chúng ta hiểu được những hậu quả và hiểm họa khôn lường của HIV/AIDS Những cái chết thương tâm, những mất mát đau thương vẫn tiếp tục diễn ra hằng ngày do HIV/AIDS Sau đây, nhóm nghiên cứu sẽ đi sâu hơn về vấn

đề này thông qua một số quyển sách, tạp chí, nghiên cứu khoa học

Kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ em có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV là do thiếu hiểu biết về HIV, do các quan niệm sai lầm về sự lây truyền HIV và do coi HIV

là tệ nạn xã hội Đó là một trong những nội dung của quyển “Sự thật về trẻ em và HIV/AIDS” được Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản năm 2010 Sách cung cấp cho

chúng ta rất nhiều những kiến thức cơ bản về căn bệnh HIV/AIDS và đã đưa ra 9 sự thật có liên quan đến đường đi và sự lây nhiễm của HIV với đối tượng trẻ em Sách phê phán việc thiếu hiểu biết về HIV/AIDS, từ đó dẫn đến việc sợ hãi, kì thị người có HIV

“Sự thật về trẻ em và HIV/AIDS” đã đề cập việc lây nhiễm HIV như thế nào, nó có

đáng sợ như nhiều người nghĩ không? Ranh giới giữa việc phòng tránh và sự kỳ thị ra sao? Cuốn sách này giải đáp một số câu hỏi cơ bản như HIV là gì? Đường lây và không lây nhiễm HIV? Người có HIV có nên đi học không? Người có HIV có khả năng đóng góp cho xã hội không? Đặc biệt, sách đề cập đến việc trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng có những nhu cầu, nguyện vọng như bất cứ đứa trẻ nào khác.Từ quyển sách này, nhóm nghiên cứu đã có cái nhìn khách quan, sâu rộng hơn về

11

http://hiv.thuathienhue.gov.vn/?gd=1&cn=95&tc=1281

Trang 19

trẻ em có HIV Nhóm cũng tiếp thu thêm được nhiều kiến thức về HIV, đặc biệt là nguyên nhân dẫn đến việc trẻ có HIV bị xa lánh, kì thị Phần lớn trẻ bị xa lánh là do việc con người thiếu hiểu biết, do các quan niệm sai lầm về sự lây truyền HIV và do coi HIV là tệ nạn xã hội Nếu nhận thức của họ được nâng cao thì việc kì thị, xa lánh này sẽ được giảm bớt Tuy nhiên, sách cũng có mặt hạn chế là chỉ tập trung vào việc phê phán sự sợ hãi, kì thị HIV chứ chưa nghiên cứu sâu cũng như đề ra được những biện pháp cụ thể để con người xóa bỏ những định kiến, suy nghĩ sai lầm về căn bệnh này

Một cuốn sách đáng lưu ý là “HIV là gì?” - sách do Hội Y khoa Australia xuất

bản và đã được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau được ra mắt ngày 12/3 bởi Hội Y khoa lâm sàng HIV/AIDS Việt Nam Mục tiêu của sách là nâng cao nhận thức của nhân viên y tế và giúp họ làm quen với các biểu hiện lâm sàng bệnh lý liên quan đến virut gây suy giảm miễn dịch ở người nhiễm HIV, từ đó có thể nhận biết được các trường hợp nghi nhiễm HIV để chỉ định xét nghiệm phù hợp Cuốn sách này gồm 15 chương, nó cung cấp những lý thuyết cơ bản về HIV/AIDS với nhiều minh chứng sinh động trên cơ sở các ca lâm sàng thực tế về bệnh nhiễm trùng cơ hội hay gặp ở người nhiễm HIV/AIDS cũng như chẩn đoán HIV và tư vấn xét nghiệm cho người nhiễm HIV như bệnh lý thần kinh liên quan đến HIV, bệnh lý huyết học liên quan đến HIV, nhiễm HIV ở trẻ em, bệnh lý mắt liên quan đến HIV Sách cũng chỉ rõ những điều cần biết về HIV/AIDS như cơ chế lây nhiễm của nó, cách chăm sóc cho người bị nhiễm HIV/AIDS cũng như cách phòng, chống để không bị lây nhiễm HIV/AIDS Đây là một quyển sách hay và bổ ích dành cho mọi người, nó cung cấp rất nhiều kiến thức về HIV/AIDS Thông qua quyển sách này, nhóm nghiên cứu tiếp thu thêm được nhiều kiến thức như cách phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS khi tiếp xúc với trẻ có HIV cũng như tiến trình, cách chăm sóc cho trẻ có HIV Tuy nhiên sách cũng có khuyết điểm khá lớn là mang tính chuyên môn sâu, phần lớn chỉ dành cho những nhân viên trong lĩnh vực y tế, mọi người dân khó có thể tiếp cận và hiểu được hết ý nghĩa của nó

Vấn đề HIV/AIDS cũng được đề cập trong "Tạp chí AIDS và cộng đồng" của

Cục phòng, chống HIV/AIDS thuộc Bộ Y tế Tạp chí AIDS và cộng đồng được thành lập ngày 01/12/1998 trên cơ sở nâng cấp Bản tin AIDS và Cộng đồng của Văn phòng

Trang 20

19

Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS Ngày 25/3/1999 tạp chí đã xuất bản ra số đầu tiên Tạp chí AIDS và cộng đồng được giao nhiệm vụ tổ chức tuyên truyền, khai thác, phổ biến các thông tin trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS Đồng thời, thông tin về các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm trên phạm vi toàn quốc; thông tin về chiến lược, chiến dịch, kế hoạch, các mô hình hoạt động y tế,

xã hội có hiệu quả của các cấp, ngành trong công tác phòng, chống HIV/AIDS nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân đối với công cuộc phòng, chống HIV/AIDS Tạp chí AIDS và cộng đồng là một trong những kênh truyền thông chính xác, mang tính chính thống của Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế Các thông tin được đăng tải mang ý nghĩa thực tiễn rất lớn, nhờ đó phần nào có thể có cái nhìn tổng quan về tình hình HIV/AIDS trong nước và quốc tế

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu về đề tài nghiên cứu khoa học

“Công tác xã hội với trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS” được thực hiện vào tháng 10 năm 2009 tại Hà Nội Đây là đề tài mang đến nhiều thông tin bổ ích và ảnh hưởng sâu sắc nhất đến đề tài nghiên cứu khoa học của tôi Đề tài tập trung trình bày nghiên cứu

về trẻ có HIV như mô tả nhóm đối tượng là trẻ có HIV về đặc điểm sinh lý của trẻ, đặc điểm tâm lý của trẻ cũng như mong muốn của các em trong việc đáp ứng các nhu cầu của bản thân Đề tài cũng chỉ ra được cách phản ứng của gia đình và xã hội đối với trẻ

có HIV, bao gồm cả phản ứng tiêu cực và tích cực, qua đó ta thấy được xu hướng 2 chiều trong cách phản ứng đối với trẻ có HIV Một điểm rất đáng chú ý của đề tài là đã chỉ ra được các nguồn lực khách quan và nguồn lực chủ quan trong việc hỗ trợ trẻ có HIV Phần nhóm nghiên cứu thấy nổi bật và mang tính thực tiễn cao nhất của đề tài là bài nghiên cứu cho thấy được mục đích của ngành công tác xã hội đối với nhóm trẻ có HIV và đưa ra được vai trò, giải pháp công tác xã hội, áp dụng trường hợp cụ thể để người xem có thể lĩnh hội được ý chính mà đề tài hướng đến Đây là tài liệu vô cùng quý giá đối với nhóm, giúp nhóm có thêm nhiều kiến thức về trẻ em có HIV cũng như thái độ của gia đình, cộng đồng và xã hội đối với các em Từ đó, nhóm nghiên cứu hoàn thiện hơn cho phần bài làm của mình

Trang 21

Sau khi nghiên cứu về tình hình HIV/AIDS thông qua tổng quan tài liệu, về nội dung, nhóm nghiên cứu đã có được cho mình rất nhiều kiến thức về đại dịch HIV

và trẻ em có HIV Nhóm thấy được sức tàn phá khủng khiếp của đại dịch HIV đối với tính mạng, tài sản của con người Hằng năm, nó cướp đi tính mạng của biết bao nhiêu con người, làm cho biết bao nhiêu trẻ em trở thành trẻ mồ côi, trở thành đối tượng dễ bị tổn thương HIV không chỉ là vấn đề riêng của một đất nước, một quốc gia, một vùng lãnh thổ nào mà đó là vấn đề chung của toàn xã hội, của toàn nhân loại Có khá nhiều bài báo, tạp chí, website nói đến vấn đề HIV nhưng đó chỉ là những khảo sát để thống

kê cụ thể số người, số trẻ em có HIV chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu sâu ảnh hưởng của HIV đối với con người, chưa có sự tiếp cận bằng phương pháp cụ thể nào cũng như chưa đưa ra được sự đánh giá chung nhất Điểm tiến bộ của sách so với các website, bài báo là nêu ra được cụ thể hơn về vấn đề HIV/AIDS như cách phòng tránh, ngăn ngừa HIV cũng như đưa ra sự phê phán, tố cáo những trường hợp kì thị, phân biệt đối với người có HIV Sách chỉ ra được những nguyên nhân dẫn đến việc trẻ có HIV và trẻ

bị ảnh hưởng bởi HIV bị xa lánh, hắt hủi, cự tuyệt, không được yêu thương Có một vài quyển sách còn cung cấp được cho người đọc các kiến thức về các bệnh lý lâm sàng, bệnh cơ hội, bệnh nhiễm trùng do HIV mang lại nhưng thông thường những quyển sách này chỉ mang tính chất lý thuyết nhiều hơn thực tiễn, nó khô khan, ích gây hứng thú cho người đọc Nghiên cứu khoa học về HIV đã có nhiều bước đột phá hơn về nội dung cũng như phương pháp nghiên cứu, các nghiên cứu này gắn liền với đời sống thực tiễn Các tác giả đã phân tích, lý giải sâu sắc, hoàn chỉnh bài nghiên cứu, truyền tải được nội dung Đây là tài liệu tôi cảm thấy tâm đắt nhất khi tìm kiếm được Tuy nhiên, bên cạnh đó, nghiên cứu vẫn còn một số mặt hạn chế như chỉ ra được những khó khăn của trẻ có HIV nhưng chỉ mang tính sơ bộ, rời rạc, chưa đi sâu đồng đều vào các phần Nghiên cứu đã đi sâu vào vai trò, chức năng cũng như hướng tiếp cận, quy trình của nhân viên xã hội khi tiếp xúc với trẻ có HIV nhưng chưa chỉ ra được phương pháp nghiên cứu chính và kĩ năng cần thiết khi làm việc với trẻ

Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp thu những kiến thức, kĩ năng đã tìm tòi, học hỏi được và phát huy thêm những kiến thức, kĩ năng mới Đề tài của nhóm

sẽ đi sâu vào nghiên cứu những khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ có HIV

Trang 22

21

Đây là lĩnh vực chưa được nghiên cứu sâu, rộng cũng như chưa thật sự nhận được quan tâm Không ai được lựa chọn cách mình sinh ra nhưng ta chọn được cách mình sẽ sống Câu nói đó trở nên vô cùng khó khăn đối với những trẻ có HIV, đặc biệt là trong việc hòa nhập, tái hòa nhập Với đề tài này, nhóm hi vọng sẽ thu hút được sự chú ý, quan tâm của các cá nhân, tổ chức và xã hội để từ đó họ có cái nhìn tích cực, cảm thông cho trẻ em có HIV

2 Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng

2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow

Nhu cầu của trẻ em có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV rất đa dạng và phong phú Các em cần được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ y tế, giáo dục, được hướng dẫn

về chăm sóc dinh dưỡng cũng như được xóa bỏ hoàn toàn sự kỳ thị và phân biệt đối xử

từ phía gia đình, nhà trường và xã hội

Trong báo cáo nghiên cứu đánh giá về tình hình trẻ em mồ côi và dễ bị tổn thương do HIV tại Việt Nam (Uỷ ban DS-GĐ-TE (cũ) phối hợp với Tổ chức Save the children

UK thực hiện tháng 12/2005):Trong số trẻ em gặp khó khăn, 50% trẻ nhắc đến sự thiếu thốn về kinh tế, 25% lo lắng thiếu thốn tình cảm; gần 10% các em cho biết vấn đề chính của các em là thường xuyên đau ốm.12

Nhu cầu vật chất: Đây được xem là nhu cầu đầu tiên và thiết thực nhất của bất

cứ một thành viên nào đang tồn tại trong xã hội Một điều mang tính hiển nhiên chúng

ta không cần phải bàn cãi là trẻ có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV cũng có những nhu cầu đó Các em đều muốn được đảm bảo các nhu cầu chính đáng của bản thân về thức

ăn, nước uống, đặc biệt là nơi ở Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, đây là quyền đầu tiên trong số những quyền các em đáng được hưởng Chỉ khi được đáp ứng đầy đủ về nhu cầu này thì trẻ mới có thể phát triển bình thường

Hiện nay những trẻ có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV phần lớn đều sống trong tình trạng thiếu thốn, khó khăn về kinh tế Đa số các em sống trong cảnh nghèo và rất nghèo (75%),các em rất cần có sự quan tâm, đáp ứng kịp thời về nhu cầu vật chất 13

12 http://forum.hiv.com.vn/default.aspx?g=posts&t=136748#post136748

13https://www.facebook.com/vietnamsocialwork/posts/1447042345515645

Trang 23

Nhu cầu an toàn xã hội: Được đảm bảo an toàn về sức khỏe, tính mạng, được

tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh tốt là nhu cầu cấp thiết cần được đáp ứng đối với tất cả mọi người Đối với những trẻ có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV nhu cầu này là rất cần thiết và cần được quan tâm Các em đã mang trong mình căn bệnh quái ác, khả năng miễn dịch của các em rất yếu, không thể so với những trẻ bình thường khác Các

em cần được cấp thuốc ARV miễn phí cũng như cần được kiểm tra sức khỏe một cách đầy đủ và thường xuyên

Bên cạnh việc được đảm bảo về mặt sức khỏe thì các em cũng cần được yêu thương, chăm sóc đặc biệt từ những người thân thuộc Đối với những trẻ có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV thì gia đình được xem là nơi an toàn nhất, thoải mái nhất và là chỗ dựa tinh thần quan trọng Nếu không nhận được che chở, yêu thương từ gia đình, trẻ dễ rơi vào tâm trạng lo sợ, sống khép kín và dễ có có nguy cơ bị trầm cảm Hầu hết trẻ có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV đều bị mất cha hoặc mẹ, thậm chí là cả 2 từ khi các em còn rất nhỏ Các em bị đưa vào trung tâm, mái ấm, nhà mở vì không có sự chăm sóc, trông nom từ phía những người thân thuộc

Nhu cầu được coi trọng: Trẻ em có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV thường lo

sợ, tự ti khi đối mặt với thái độ kỳ thị, xa lánh của những người xung quanh Các em luôn mong muốn mình được chấp nhận, được mọi người tôn trọng, được sống trong một xã hội mà ở đó sự kỳ thị, sự phân biệt đối xử, sự phán xét không tồn tại Các em mong muốn mình được như bao đứa trẻ khác, vô tư, hồn nhiên, vô lo vô nghĩ Những người có HIV (trong đó có cả trẻ em), họ có thể tự đương đầu với bệnh tật một cách nhưng họ lại gặp rất nhiều khó khăn để có thể vượt qua được rào cản tâm lý xã hội Làm sao họ có thể sống tốt, thoải mái khi ngoài kia sự kì thị, phân biệt vẫn đang tồn tại? Vì vậy, nhu cầu được coi trọng là hết sức cần thiết và cũng là điều mà các nhà hoạt động trong lĩnh vực xã hội, bảo vệ con người luôn mong muốn, phấn đấu để đạt được

Nhu cầu xã hội: Đi cùng với mong muốn được coi trọng, trẻ có HIV và bị ảnh

hưởng bởi HIV cũng mong muốn được hòa nhập vào môi trường học đường và môi trường xã hội Các em mong muốn được tới trường học tập, vui chơi cùng bạn bè như những đứa trẻ bình thường khác

Trang 24

23

Mỗi giai đoạn của cuộc đời trẻ đều có những hoạt động chủ đạo có tính chất quyết định trực tiếp đến việc hình thành tâm lý Vui chơi, học tập và giao lưu bạn bè đều là những hoạt động chủ đạo của trẻ, do đó nếu những nhu cầu xã hội được đáp ứng thì các

em sẽ có điều kiện phát triển bình thường về trí não cũng như tâm lý Nhưng hiện nay nhu cầu này của trẻ vẫn chưa được đáp ứng bởi rất nhiều những định kiến tiêu cực trong xã hội và để các em có thể đến trường, có thể hòa nhập vào cuộc sống như những đứa trẻ khác là một việc cần nhiều thời gian mới có thể đạt được

Nhu cầu được khẳng định mình: Trẻ có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV cũng có

mong muốn tìm được một vị trí thích hợp trong xã hội, được thể hiện bản lĩnh, được thử sức trong những vai trò mới với tư cách là mộtthành viên của xã hội Các em không chỉ khao khát đến trường để học chữ, vui chơi cùng bạn bè, mà còn muốn qua học hành

để khẳng định bản thân mình, để được người khác tin tưởng, để có việc làm ổn định trong tương lai

2.2 Thuyết hành vi 14

Thuyết hành vi được hình thành bởi nhà tâm lí học người Mỹ John B Watson năm 1913, cho rằng tâm lí học giải thích hành vi của con người không dựa trên quá trình nhận thức diễn ra trong não hay những hành vi không thấy rõ (covert behaviors),

mà là những quan sát hành vi được nhận ra (overt behaviors) Học thuyết này sau đó đã được phát triển thành hai luận thuyết nổi tiếng bởi Ivan Pavlov và Burrhus Frederic

14https://vietpsy.wordpress.com/2011/10/08/vi-sao-nguoi-ay-van-chua-ngo-loi-hen-ho/

Trang 25

Skinner Theo lý thuyết hành vi, hành vi của con người được học thông qua trải nghiệm

và là chức năng tương tác giữa họ và môi trường Cả những hành vi bình thường và bất thường đều được hình thành theo chuỗi kích thích – phản ứng trên ba quá trình cơ bản: điều kiện hóa cổ điển, điều kiện hóa tạo tác và học qua quan sát

2.2.1 Điều kiện hoá cổ điển (Classical Conditioning)

Pavlov cho rằng hành vi là kết quả của quá trình thành lập phản xạ có điều kiện Ông khám phá ra điều này khi làm thí nghiệm trên con chó của mình Ban đầu, ông chỉ muốn thí nghiệm điều kiện làm một con chó rõ nước dãi Ông thường rung chuông trước khi mang thức ăn đến cho con chó và phát hiện rằng con chó nhỏ nước dãi trước khi thức ăn thật sự đưa tới miệng Ngạc nhiên hơn, ngay cả khi ông rung chuông mà không mang theo thức ăn, con chó vẫn nhỏ nước dãi nhiều hơn bình thường

Từ đó, Palov kết luận rằng một kích thích có điều kiện (Conditioned Stimulus – CS) nếu luôn xảy ra ngay sau (hoặc cùng lúc với) kích thích không điều kiện (Unconditioned Stimulus – US) có thể dẫn tới phản ứng vốn chỉ chịu tác động bởi kích thích không điều kiện (Unconditioned -> Conditioned Response – U/CR) Ở đây, con chó luôn ngửi thấy mùi thức ăn ngay sau khi (hoặc cùng lúc với) nghe tiếng chuông rung thì ngay cả khi lúc không có thức ăn, nó vẫn rõ nước dãi nhiều hơn bình thường

2.2.2 Điều kiện hoá từ kết quả (Operant Conditioning)

Skinner cho rằng hành vi chịu ảnh hưởng của kết quả mà chính nó gây ra Con người luôn muốn giành được những gì tốt đẹp nhiều nhất có thể như thành công, hạnh phúc, và tránh những hậu quả xấu như sự đau đớn, thất bại, trừng phạt Vì thế, chúng ta luôn muốn làm những gì mà trong quá khứ đã, và mặc niệm rằng trong tương lai sẽ, dẫn tới một kết quả tốt đẹp Khi ấy, hành vi của chúng ta “được củng cố” (reinforced),

và những yếu tố củng cố hành động được gọi là “reinforment” Ngược lại, chúng ta cũng không muốn làm những gì đã và sẽ đưa đến kết quả không tốt đẹp, vì điều đó sẽ gây bất lợi hay mang đến những kết quả tai hại cho chúng ta (punishment)

2.2.3 Chúng ta đưa ra quyết định hành vi như thế nào?

Trang 26

25

Các quyết định và hành vi của con người được đưa ra dựa trên từng loại điều kiện hóa hành vi riêng biệt hoặc cả hai loại điều kiện này Ví dụ: Bạn thoáng nhìn thấy một cái gì dài và thon nhỏ (có thể là một sợi dây) cựa quậy như con rắn Bạn cảm thấy

sợ đến “bủn rủn chân tay” và vội vàng chạy vọt đi Con người có thể học cả hai loại điều kiện hóa hành vi mà không cần trải qua quá trình tương tác với các kích thích hay trải qua quá trình được thưởng và bị phạt một cách trực tiếp Điều này là do con người

có khả năng “học” bằng cách quan sát người khác (học thuyết Social Learning Behavior của Bandura) Ví dụ, khi ta thấy một con rắn, mặc dù chưa hề bị rắn cắn, chúng ta vẫn cảm thấy sợ, một vài người nổi da gà Đó là vì chúng ta đã “học” nỗi sợ

đó qua ti vi, phim ảnh hay các phương thức khác Hay bạn biết mình không thể nói xấu sếp trên Facebook, vì bạn đã từng đọc câu chuyện về những người bị đuổi việc vì hành

vi tương tự

Nhóm nghiên cứu ứng dụng thuyết này trong việc quan sát các hành vi của trẻ (ví dụ như những cử động, tư thế cơ thể, giọng nói, nét mặt, phản ứng với mọi thứ xung quanh…) từ đó có thể hiểu hơn về hoạt động tâm lí, sinh lý của trẻ Mặt khác, từ việc phân tích các hành vi của trẻ diễn ra trong Trung tâm cũng một phần giúp nhóm nghiên cứu có thể hình dung được cách mà trẻ phản ứng lại với môi trường học đường bên ngoài, những con người và các yếu tố tác động khác từ xã hội Từ đó có thể nắm sơ lược những khó khăn mà trẻ mắc phải khi hòa nhập giáo dục Đồng thời, từ những hành vi đó, nhóm nghiên cứu cũng sẽ suy luận, phân tích ra được về cách mà trẻ có thể ứng phó với các điều kiện môi trường giáo dục, xã hội bên ngoài, xem xét xem các em ứng phó với các vấn đề theo cách tiêu cực hay tích cực để có sự can thiệp và giúp đỡ cho phù hợp

2.3 Thuyết phát triển nhận thức của Piaget 15

Piaget cho rằng, trẻ em là một cơ thể sinh vật hoạt động rất tích cực trong một thế giới phong phú xung quanh chúng Trẻ không chịu hoạt động một cách thụ đọng của môi trường, chính điều này giúp trẻ bồi đắp linh nghiệm sống của mình và trưởng

15

TS Ines Danao, ThS Hà Thị Thư, ThS Tiêu Thị Minh Hường Hành vi con người và môi trường xã hội Dự án

đào tạo CTXH tại Việt Nam, 2012

Trang 27

thành Do vậy, trẻ cần có cơ hội được học hỏi, trải nghiệm để từ đó phát triển trình độ trí tuệ của mình

Khi trẻ lớn lên sẽ trải qua nhiều biến đổi về chất trong cách hiểu và học tập, kết quả thích nghi, quá trình phát triển dẫn tới sự xuất hiện những kiểu tưu duy mới Có sự phất triển về chất trong sự gia tăng về số lượng của các yếu tố thói quen nơi trẻ Một trẻ có thể nói tên những thủ đô của tất cả các nước có nhiều thông tin hơn là đứa trẻ chỉ

kể được tên của năm thủ đô

Mọi hiện tượng tâm lý đặc trưng từ đơn giản đến phức tạp đều là kết quả của những ảnh hưởng của các yếu tố bẩm sinh đan xen với môi trường Đối với Piaget mỗi giai đoạn là một thời kì mà ở đó tư duy và hành vi của trẻ, trong tình huống khác nhau phản ánh một kiểu cấu trúc tâm lí Các giai đoạn được xem xét như trình độ liên tiếp và

sự thích nghi với môi trường Mỗi giai đoạn và là kết quả của giai đoạn trước vừa là điều kiện phát triển giai đoạn sau

Nhóm trẻ mà nhóm nghiên cứu hướng tới là nhóm trẻ có độ tuổi từ 6 đến 18 tuổi Trong khoảng tuổi này lại có những thời kì khác nhau mà mỗi thời kì lại mang những đặc điểm về nhận thức và hành vi khác nhau Chúng đều phản ánh đến các hành

vi bên ngoài mà trẻ hòa nhập với cuộc sống xung quanh, từng vào thời kì thì lại có các phản ứng khác nhau Khi lớn lên, trẻ học cách thích nghi và ứng phó với môi trường của người lớn Chúng thay đổi những khuôn mẫu, những hành vi sẵn có và sắp xếp lại những tri thức đã có để nhìn sự vật, sự việc một cách khách quan từ nhiều khía cạnh có

lý giải và logic hơn

3 Các khái niệm liên quan

Trẻ em

Trẻ em theo Luật bảo vệ trẻ em của Việt Nam: "Trẻ em là tất cả con người dưới 16 tuổi"16

Trẻ em theo quan điểm Xã hội học, là nhóm nhân khẩu đặc biệt trong quá trình

xã hội hóa, đang học đóng vai trò cũng như tiếp thu những kiến thức, kỹ năng để tham gia hành động xã hội với tư cách là một chủ thể.17

16http://myweb.pro.vn/chuyen_huong/tai_lieu/63273

Trang 28

(Human-Immuno-AIDS là những chữ cái viết tắt theo tiếng Anh của cụm từ Acquired -Immuno - Deficiency - Syndrome, được dịch theo tiếng Việt là "Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải" AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV

Hội chứng: Tập hợp nhiều triệu chứng và dấu hiệu bệnh

Suy giảm miễn dịch: Suy giảm chức năng bảo vệ cơ thể chống lại sự tấn công của các mầm bệnh (vi trùng, virus, vi nấm )

Mắc phải: Không phải do di truyền mà do bị lây lan từ bên ngoài

Trẻ em có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV 20

Trẻ em có HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV là những trẻ em bị nhiễm HIV hoặc những trẻ có người thân bị nhiễm HIV/AIDS.Những trẻ này thường có tâm lý mặc cảm, rụt rè khi tiếp xúc với người khác Sự phát triển về tâm lý tình cảm ở những trẻ trong hoàn cảnh này cũng chịu nhiều cản trở khiến các em khó phát triển một cách toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần

Giáo dục

Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó

kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn

ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành

Trang 29

động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học.21

Hòa nhập 22

- Hòa nhập là sự tham gia hòa vào để không có sự tách biệt

- Tái hòa nhập là tham gia hòa vào để không có sự tách biệt nhưng trước đó đã có sự tách biệt

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Các em có HIV ở Trung tâm Bảo trợ Nuôi dưỡng Trẻ em Linh Xuân gặp khó khăn gì khi hòa nhập giáo dục? Đối với các em, khó khăn nào khó vượt qua nhất?

- Mức độ khó khăn và khả năng hòa nhập giáo dục của các em có HIV qua các nhóm tuổi, độ tuổi khác nhau như thế nào?

- Những khó khăn trên gây ra ảnh hưởng như thế nào đối với tâm lý, khả năng hòa nhập giáo dục của các em?

- Những giải pháp công tác xã hội mang tính bền vững nào cần được đưa ra để giúp đỡ trẻ có HIV và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV?

- Những giải pháp thiết thực và khuyến nghị nào cần được đưa ra để giảm thiểu những khó khăn mà các em đang gặp phải khi hòa nhập giáo dục?

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Khi hòa nhập vào môi trường học đường, trẻ em có HIV gặp rất nhiều khó khăn như các em cảm thấy mặc cảm, rụt rè, thiếu tự tin Tuy nhiên, đối với các em khó khăn khó vượt qua nhất là việc phải che giấu bản thân, căn bệnh mà các em đang mang

- Khi tuổi đời càng lớn, mức độ khó khăn của trẻ có HIV càng giảm, khả năng hòa nhập của các em được tăng lên

- Những khó khăn khi hòa nhập vào môi trường học đường sẽ làm trẻ em có HIV mất niềm tin, suy nghĩ tiêu cực vào bản thân, vào xã hội và những người xung quanh

21

coi-tai-lang-thieu-nien-thu-duc.htm?page=7

http://123doc.org/document/2303750-kha-nang-hoa-nhap-cong-dong-cua-tre-em-mo-22mo-coi-tai-lang-thieu-nien-thu-duc.htm

Trang 30

http://text.123doc.org/document/2303750-kha-nang-hoa-nhap-cong-dong-cua-tre-em-29

- Một trong những giải pháp công tác xã hội cần được đưa ra là nhân viên xã hội ở trung tâm cần cung cấp cho trẻ những thông tin cần thiết về căn bệnh HIV/ AIDS mà các em đang mắc phải cũng như các quyền mà các em được hưởng để các em có ý thức đầy đủ về bản thân, cách giữ an toàn cho bản thân và những người xung quanh

- Một trong những giải pháp thiết thực cần được đưa ra là nhà nước có các chính sách

để khuyến khích các hoạt động học tập, vui chơi, giúp các em có HIV hòa nhập dễ dàng hơn với các bạn trẻ cùng lứa tuổi

Trang 31

Điều kiện Kinh tế - Văn hóa – Xã hội

Trang 32

31

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Mô tả địa bàn nghiên cứu

1.1 Lịch sử hình thành

Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Linh Xuân là cơ sở xã hội được thành lập trên cơ sở tách ra từ cơ sở 2 của Trung tâm Nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Tam Bình theo Quyết định số 1427 ngày 30 tháng 3 năm 2010 cuẩ Chủ tịch UBND TPHCM về thành lập Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Linh Xuân trực thuộc Sở Lao động Tuy mới được thành lập từ tháng 4 năm 2010 nhưng Trung tâm nuôi dưỡng và bảo trợ trẻ em Linh Xuân có một quá trình hình thành từ năm 1996 khi TPHCM phát sinh thêm đối tượng xã hội là trẻ em nhiễm HIV/AIDS thì Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Tam Bình nhận thêm chức năng là nuôi dưỡng và bảo trợ trẻ em nhiễm HIV Loại đối tượng này ngày một tăng thêm nên UBND thành phố cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định đầu tư xây dựng thêm cơ sở hạ tầng để chăm lo cho loại đối tượng xã hội đặc biệt này Ngày 01 tháng 12 năm 2002, cơ sở Nuôi dưỡng Trẻ mồ côi nhiễm HIV/AIDS (gọi tắt là cơ sở 2) của Trung Tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Tam Bình được khánh thành, đây chính là tiền thân của Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Linh Xuân ngày nay

Khi mới thành lập cơ sở, một số người cho rằng trẻ nhiễm HIV khó có thểsống lâu và số lượng sẽ không tăng nhiều hoặc không còn trẻ nhiễm Thế nhưng, sau 8 năm hoạt động đã có 320 lượt trẻ mồ côi nhiễm HIV/AIDS được tiếp nhận, nuôi dưỡng và điều trị tại cơ sở Đến năm 2010 có 112 em, có độ tuổi từ sơ sinh đến 14 tuổi, nhu cầu phát triển của trẻ đòi hỏi cơ sở phải đầu tư về mọi mặt Trước tình hình đó, Giám đốc Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Tam Bình kiến nghị Sở Lao động – Thương binh

và Xã hội trình UBND thành phố cho phép tách cơ sở II của Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Tam Bình thành lập cơ sở độc lập nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong công tác chuyên biệt của cơ sở cũng như thực hiện các chế độ chính sách cho các em và cho công chức, viên chức, người lao động của Trung tâm

Trang 33

1.2 Mục đích và sứ mạng

Trung tâm thành lập ra có chức năng bảo trợ xã hội cho trẻ em nhiễm HIV

từ0-16 tuổi với sứ mạng tiếp nhận, nuôi dưỡng, giáo dục, hướng nghiệp cho trẻ, đảm bảo cuộc sống của các em được tốt hơn Tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất phù hợp với trẻ em; trợ giúp các đối tượng trong các hoạt động tự quản, vănhóa, thể thao và các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe của từng nhóm đối tượng Phối hợp với các đơn vị, tổ chức để dạy văn hóa, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp đối tượng phát triển về thể chất, trí tuệ và nhân cách Chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương đưa đối tượng đủ điều kiện hoặc tự nguyện xin

ra khỏi cơ sở bảo trợ xã hội trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng; hỗ trợ tạo điều kiện cho đối tượng ổn định cuộc sống

2 Mô tả mẫu nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu 6 trẻ, trong đó có 3 trẻ nữ và 3 trẻ nam Sáu mẫu này có độ tuổi khoảng từ 10 đến 18 tuổi, hiện đang theo học từ lớp 4 đến lớp 10 hoặc thậm chí là đang theo học các lớp học nghề Nhóm nghiên cứu không thực hiện phỏng vấn với các em từ lớp 4 trở xuống vì hầu hết các em này đều được sắp xếp, học tập tại trung tâm Đến khi các em đủ trình độ lớp 4 thì trung tâm mới đưa các

em ra ngoài để sinh hoạt, học tập, hòa nhập với những trẻ khác Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng tiến hành phỏng vấn sâu 2 người quản lý đang công tác ở cơ sở gồm 1 nam, 1 nữ là trưởng khoa Tuổi Hồng và trưởng khoa Tuổi Xanh Hai mẫu này có độ tuổi từ 50 đến 55 tuổi

Như vậy, các em được phỏng vấn đang trong ở trong giai đoạn phát triển với hoạt động chủ đạo là học tập Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã thu thập được khá nhiều thông tin để phục vụ cho bài nghiên cứu Đồng thời, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 2 người quản lý đang công tác ở cơ sở – người trực tiếp quản lí và điều hành các trẻ ở trung tâm cũng như giám sát, kiểm tra việc học tập của các em Hai cô chú cũng vô cùng vui vẻ chia sẻ, cung cấp nhiều thông tin xoay quanh vấn đề nhóm đang tiến hành nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu theo cơ cấu câu hỏi được đặt ra sẵn Câu hỏi được đặt ra với nội dung khai thác thông tin một cách bao quát và đa dạng

Trang 34

33

xoay quanh vấn đề học tập của các em Nhóm nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu theo hình thức câu hỏi đặt ra sẵn vì nhóm đã có thời gian dài thực tập tại nơi điển cứu Nhóm đã tạo được niềm tin nhất định trong lòng các em và các cô, các chú

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ cấp 1, trẻ cấp 2, trẻ cấp 3 và trẻ học nghề ở Trung tâm Nuôi dƣỡng Bảo trợ trẻ em Linh Xuân

Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương về sức khỏe tinh thần và thể chất, đặc biệt là trẻ có HIV và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV Hiện nay, ở Việt Nam chưa thống kê được chính xác số trẻ có HIV được đi học cùng với các bạn tại cộng đồng Việc đưa các em hòa nhập vào môi trường học đường là một điều vô cùng quan trọng, cần thiết nhưng trên thực tế, việc này vẫn là một vấn đề vô cùng nan giải, khó giải quyết Các

em gặp rất nhiều khó khăn, cản trở cũng như thách thức Sau khi tiến hành nghiên cứu phỏng vấn sâu tại nơi điển cứu, nhóm đã tìm hiểu được những khó khăn nhất định trong việc hòa nhập giáo dục của trẻ em có HIV Khó khăn của các em đến từ nhiều phía khác nhau, rất đa dạng và phức tạp, cụ thể là từ 3 khía cạnh chính: nhà trường, trung tâm và ở chính bản thân các em

3.1.1 Khó khăn từ phía nhà trường

Về phía nhà trường, các em gặp những khó khăn như thiếu sự quan tâm từ giáo viên chủ nhiệm, thầy cô bộ môn Giáo viên và thầy cô hầu hết đều biết tình trạng của các em nhưng họ chưa đưa ra biện pháp gì cụ thể để giúp đỡ các em Nếu có, đó cũng chỉ là những lời nói suông, qua loa, hời hợt Các em ít nhận được những lời thăm hỏi, động viên, an ủi về tinh thần cũng như sự kèm cặp, chỉ dẫn về kiến thức từ phía giáo viên đứng lớp

NPV: Thầy cô giáo ở trường á có biết tình trạng của em không?

N.V.T: Có Giáo viên chủ nhiệm biết

NPV: Rồi họ có hay quan tâm, trò chuyện, hay giúp đỡ em không T?

N.V.T: Không Chừng nào quậy lắm mới kêu lên nói chuyện à Chứ bình thường thì em cũng giống mấy đứa kia thôi (trích biên bản phỏng vấn số 1)

Trang 35

Không dừng lại ở việc thiếu quan tâm, giáo viên chủ nhiệm, bao gồm cả hiệu trưởng, những người mang trong mình tri thức, truyền dạy cho biết bao thế hệ con người Họ vốn dĩ rất am hiểu về căn bệnh này nhưng đôi khi cũng khó tránh khỏi những thái độ kì thị, phân biệt đối với các em Tâm lý của họ bị chi phối, bị ảnh hưởng rất nhiều bởi sự tác động của môi trường xung quanh Một số hiệu trường sợ các em sẽ làm ảnh hưởng đến việc học của các học sinh khác hay ảnh hưởng đến trường học của

em, lúc đó tự nhiên cô hiệu trưởng á nhìn tụi em xong rồi nói như là ví dụ như tụi em

có triệu chứng gì đó, ví dụ như bé này mắt đỏ sao cho đi học được rồi lỡ lây lan cho ta rồi thì sao, rồi mấy cô ở trong đây mới ráng năn nỉ cho tụi em đi học, lúc đó em bắt đầu có mặc cảm với trường

PPV: Em cảm nhận được trong em là sự phân biệt đối xử giữa tụi em với mấy bạn ở ngoài Ngoài việc đó ra em có cảm thấy khó khăn trong việc học tập ví dụ như mấy bạn khác được đi học thêm còn em thì không

Th: Có (trích biên bản phỏng vấn số 4)

Đối với bạn bè trong lớp, các em phải giấu đi tình hình của bản thân mình, giấu căn bệnh mà các em đang mang Các em e ngại, lo sợ nếu nói ra có thể bạn bè sẽ kì thị, phân biệt và không chơi với các em nữa Ánh mắt kỳ thị, xa lánh của bạn bè xung quanh vô hình chung “đẩy” các em đi vào con đường tự ti, mặc cảm Có những trường hợp như bạn bè trong lớp các em biết các em là trẻ có HIV và hiện đang sống ở trung tâm, bạn đó về nói cho phụ huynh biết Phụ huynh, những người mang nặng tâm lý bảo

vệ con cái trước những hiểm nguy lại đâm đơn kiện, bắt trường phải đuổi học các em Nếu không giải quyết họ sẽ cho con em nghỉ học chứ không thể để con em mình học

Trang 36

35

chung với trẻ có HIV Các cô chú trưởng khoa và người quản lý trung tâm phải gặp rất nhiều khó khăn, vất vả mới trấn an, hòa giải được với họ

PPV: …ở lớp á, em có thường chơi chung với ai không?

Tr: Dạ có với mấy bạn trong lớp

PPV: Hầu như ai cũng chơi phải không? Không biết là mấy bạn có biết em bị bệnh không?

Tr: Dạ không

PPV: Cái này là mình phải giấu, mà khi mà giấu em thấy như thế nào?

Tr: Em vậy, phải giấu chứ không nó biết nó không chơi (hơi ấp úng) (trích biên bản phỏng vấn số 2)

Th: … có đứa em ghét em bực mình nhất, buồn nhất luôn á là lúc tự nhiên tụi

nó biết em ở trong này nè bị bệnh nữa rồi tụi về nói với gia đình tụi nó, ba mẹ tụi nó lên kiện trường hổng muốn cho tụi em đi học sợ lay lan cho con họ, em bực vụ đó, cô giáo phải cố gắng thuyết phục, giống như là thuyết phục học sinh đó với phụ huynh để cho em học (trích biên bản phỏng vấn số 4)

3.1.2 Khó khăn từ phía trung tâm

Về phía trung tâm, các em gặp khó khăn khi đến năm lớp 4 mới được ra bên ngoài để hòa nhập vào môi trường học đường thay vì lớp 1 như những đứa trẻ cùng trang lứa khác Từ lớp 3 trở về trước, trung tâm sắp xếp, mời giáo viên cho các em học tập và sinh hoạt tại trung tâm Điều đó dẫn đến Các em cảm thấy bỡ ngỡ, chưa quen bạn quen thầy, khó hòa nhập vì lúc đó các em đã có một khoảng thời gian dài học tập ở trung tâm cũng như đã có nhận thức khá đầy đủ về bản thân mình

NPV: Như em cũng biết, thông thường lớp 1 các bạn đã học ở ngoài môi trường học đường, còn em đến tận lớp 4 mới ra khỏi trung tâm, lúc mới ra em cảm thấy như thế nào?

Q.N: Em cảm thấy lạc lõng, bỡ ngỡ lắm chị Nhìn đâu cũng thấy toàn người lạ

Em phải mất thời gian lâu lắm mới thích nghi được Em quen với học trong đây rồi (trích biên bản phỏng vấn số 2)

Trang 37

NPV: …học lớp 3 ở đây, rồi lên lớp 4 học ở trường ngoài, vậy thì cái lúc mà khoảng cách từ lớp 3 lên lớp 4 học ở ngoài lúc mà vừa bước ra học trường ở ngoài thì

số em học lớp 2, lớp 3 vẫn đọc chữ chưa rành, các em chỉ lắp bắp được vài ba từ đơn giản Đối với các môn học khác các em cũng gặp phải tình trạng tương tự Việc không lĩnh hội được kiến thức cũng như không có động lực thúc đẩy đã dẫn đến việc các em chán nản, bỏ bê việc học

NPV: Ở trường, cô giáo em dạy có khó hiểu lắm không, sao em được học sinh trung bình?

N.V.T: Không phải, mà là không học bài Dô lớp em toàn ngủ không à

NPV: Bữa mấy anh chị bên Sư phạm kĩ thuật qua dạy á, em có học không? N.V.T: Có

NPV: Mấy anh chị dạy dễ hiểu không?

N.V.T: Không, có đi mấy buổi xong thấy dạy không ra gì nên nghỉ ở phòng luôn Khó hiểu muốn chết (trích biên bản phỏng vấn số 1)

NPV: … Ở trường em có hay gặp khó khăn về điều gì không kể chị nghe đi? Q.N: Dạ có chị, nhưng em hơi ngại

NPV: Có gì đâu mà ngại, chị không nói ai nghe đâu

Trang 38

37

NTL: Dạ, mỗi khi đến trường em làm biếng lắm, thích ở nhà chơi thôi, đi học chán lắm chị Mấy lúc kiểm tra hay thi em gặp áp lực ghê lắm, nhất là môn Toán Em làm bài điểm cao toàn nhờ thằng kế bên chỉ bài chứ em không biết làm Cô giáo mà khó là em tiêu luôn (trích biên bản phỏng vấn số 2)

Song song với việc thiếu giáo viên, người hướng dẫn thì việc thiếu người quản

lý, giám sát cũng là một trong những yếu tố dẫn đến việc các em gặp nhiều khó khăn

về học tập Ở lứa tuổi gặp nhiều biến động như các em, việc có người quản lý, giám sát chặt chẽ là điều không thể thiếu Các em dễ bị cám dỗ bởi nhiều thứ hơn việc học, các

em rơi vào tình trạng mất phương hướng, sống không có mục tiêu Số lượng trẻ ở trung tâm quá đông so với số người quản lý /người bảo mẫu chăm lo cho các em Thông thường, chỉ có từ 2 đến 3 người trong một ca trực ở một khoa, nhưng lại có đến khoảng

40 chục em cần được giám sát nên việc họ không thể kiểm soát, giám sát được hết tất thảy các em là điều đương nhiên và dễ hiểu

Chú T :“Ngoài ra, về phần học tập, các cháu cũng khó khăn như thiếu người quản lý, kèm cặp tuy các cô chú luôn cố gắng tạo mọi điều kiện, quản lý các cháu chặt chẽ nhất có thể nhưng vẫn còn nhiều bất cập Ở đây còn một điều hạn chế nữa gây ra khó khăn mà các con cũng biết là các cháu ở đây đến lớp 4 mới được ra môi trường bên ngoài để học tập, từ lớp 1 đến lớp 3 các cháu phải học tập ở trung tâm Quan trọng nhất ở đây là giáo viên, giáo viên ở đây làm sao bằng ở ngoài, môi trường các cháu học tập không phải môi trường nhà trường Ở đây, quản lý cuộc sống của các cháu nhiều hơn là dạy học.” (trích biên bản phỏng vấn số 8)

Cô N: “… Một phần nữa là do tụi nó thiếu người quản lý, kèm cặp, 40 đứa mà

có mấy cô quản lý à sao chịu nổi Với lại tụi nó lớp 3 mới ra khỏi trung tâm, nền tảng không vững chắc, các con biết đó, giáo viên ở đây đâu có chuyên môn như giáo viên ở ngoài” (trích biên bản phỏng vấn số 7)

PPV: Sao hồi đó học sinh khá mà giờ trung bình rồi?

Tr: Lớp 4, lớp 5 là học sinh khá tại siêng học, lớp 6 học sinh khá siêng học, lớp 7 trung bình làm biếng học

PPV: Phải có lí do gì đó mới làm biếng học, hay có người yêu rồi? (đùa)

Trang 39

Tr: Hông Tại lúc trước còn mấy cô kia mấy cô còn ép học, giờ làm biếng học, mấy cô dễ quá làm biếng học

PPV: Mấy cô trung tâm hay mấy cô ở trường?

Tr: Mấy cô trung tâm

PPV: Bây giờ mấy cô dễ rồi lõng lẽo không chịu học phải không?

Tr: Không, mấy cô cũng bắt học

PPV: Không giống mấy cô trước đúng không?

Tr: Không học thì quýnh (trích biên bản phỏng vấn số 2)

3.1.3 Khó khăn từ phía chính bản thân các em

Những khó khăn trong việc hòa nhập giáo dục cũng xuất phát từ chính bản thân các em Vốn đã mang bệnh trong người nên sức khỏe các em rất yếu, chỉ cần ngồi hơi lâu các em cũng sẽ cảm thấy mệt Hằng ngày các em còn phải uống thuốc ARV Như chúng ta đã biết, ARV là một loại thuốc có tác dụng vô cùng khủng khiếp, một phần nó ảnh hưởng đến tâm lý các em, một phần nó làm các em không nhớ được bài học, học trước quên sau Bên cạnh đó, vì sức khỏe yếu nên có em thường xuyên phải nhập viện để theo dõi tình trạng Mỗi khi nhập viện, các em thường phải nghỉ học đến

1 đến 2 ngày Việc đó ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập và tiếp thu kiến thức của các em

NPV: Đối với những em có thành tích học tập không tốt, cô có suy nghĩ gì về nguyên nhân dẫn đến tình trạng này được không ạ? Cô nghĩ học tập không tốt là do bản thân em hay do một số yếu tố khách quan nào?

Cô N: Nguyên nhân là do tụi nó sức khỏe yếu, phải uống ARV thường xuyên nên bị ảnh hưởng, học bài hôm trước là hôm sau quên hết à Tụi nó có cố gắng nhưng

do ảnh hưởng bởi thuốc nên tâm lý cũng không ổn định (trích biên bản phỏng vấn số 7)

NPV: Đối với những em có thành tích học tập không tốt, chú có suy nghĩ gì về nguyên nhân dẫn đến tình trạng này được không ạ? Chú nghĩ các em có thành tích học tập không tốt là do bản thân em hay do một số yếu tố khách quan khác ạ?

Trang 40

NPV: Điều gì khiến em cảm thấy khó khăn nhất khi đến trường?

T.H: Dạ, đó là làm bài tập ở nhà ạ, bài nhiều lắm Mấy bài không biết làm là

em không làm luôn Vào lớp em mới mượn tập bạn chép dô Với lại em cũng hay bị bệnh khó thở nên thường xuyên nhập viện Mỗi khi nhập viện là em phải nghỉ học 1 đến 2 ngày Dô lớp nhiều cái không biết gì là gì luôn (trích biên bản phỏng vấn số 5)

Các em gặp khó khăn trong việc không biết cách chia sẻ cảm xúc, khó khăn của mình cho ai, kể cả việc học Các em dường như đã quá quen thuộc với việc che giấu cảm xúc của bản thân Khi được phỏng vấn, nhóm nghiên cứu cũng gặp rất nhiều khó khăn vì các em tuy chơi thân, tin tưởng anh, chị nhưng vẫn không quen trả lời những câu hỏi quá riêng tư Thành viên nhóm phải gợi mở, gợi ý, khuyên nhủ rất nhiều các em mới chịu trả lời Nhiều em trả lời với thái độ rất dửng dưng, trả lời cho có, không mảy may suy nghĩ, không đắn đo Khi các em không hiểu bài, các em cũng không hỏi bài, không cố gắng làm gì để có thể cải thiện được tình trạng học tập của mình Các em chưa thật sự nhận thức được tầm quan trọng của việc học, chỉ xem việc học như một nghĩa vụ cần thực hiện

NPV: Em học ở trường á cô giáo giảng bài em có hiểu không nè?

Q.N: Lúc hiểu lúc không chị (cười cười)

NPV: Nếu như không hiểu bài em có hỏi cô giáo hay bạn bè gì không nè? Q.N: Không chị (trích biên bản phỏng vấn số 2)

PPV: Ở trong lớp á, có chuyện gì hay là gì thì em thường chia sẻ nó với ai, ở trong lớp á?

Tr: Ở trong lớp hổng chia sẻ ai hết

PPV: Hổng chia sẻ ai hết, sao vậy, hổng có thân hả, giống như bình thường mình gặp khó khăn làm bài tập không được, gặp cái vấn đề gì đó, tâm sự với bạn bè, nói chuyện với bạn bè cũng không có luôn?

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w