1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hệ thuật ngữ tiếng hoa chuyên ngành công nghệ thông tin (so sánh với tiếng việt)

145 65 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích hệ thuật ngữ tiếng hoa chuyên ngành công nghệ thông tin (so sánh với tiếng việt)
Tác giả Phạm Thị Xuân Hân
Người hướng dẫn PGS-TS Đinh Điền
Trường học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp…, sau đó được đưa vào tìm hiểu, làm quen, học tập và nghiên cứu tại Việt Nam cũng như tại Trung Quốc, vì vậy, hệ thuật ngữ tiếng Hoa và tiếng Việt của ngành khoa học này đa phần đượ

Trang 2

– 2017

Trang 3

LỜI CẢM Ơ

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng Sau đại học đã tạo điều kiện để tôi được học tập và nâng cao kiến thức

Xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô Bộ môn Ngôn ngữ học đã truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích cho tôi tiếp thu và hình thành ý tưởng cho đề tài

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với tới thầy PGS-TS Đinh Điền – người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian qua

Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên

và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Trang 4

LỜI CAM OAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ đề tài “Phân tích hệ thuật ngữ tiếng Hoa chuyên ngành công nghệ thông tin (so sánh với tiếng Việt)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự dẫn dắt của PGS-TS Đinh Điền Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn này có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định và được chỉ rõ nguồn trích dẫn Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tìm hiểu, phân tích một cách trung thực và khách quan

Tác giả luận văn

Phạm Thị Xuân Hân

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT Công nghệ thông tin

TV-NN Từ vựng- ngữ nghĩa

Trang 6

MỤC LỤC iêu đề Trang

MỞ ẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2.Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

2.1.Đối tượng nghiên cứu 2

2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 ịch sử nghi n cứu đề tài 3

4.Phương pháp nghi n cứu 5

5 nghĩa khoa học và thực ti n của đề tài 5

5.1 nghĩa khoa học 5

5.2 nghĩa thực ti n 5

6.Bố cục của luận văn 6

ƢƠ 1: Ơ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1.Tiểu dẫn 7

1.2.Một số vấn đề lí luận về thuật ngữ 7

1.3.Từ điển và từ điển thuật ngữ 16

1.4.Tổng quan về dịch thuật 20

1.5.Tổng quan về thuật ngữ CNTT 25

1.6.Tiểu kết 31

ƢƠ 2: Á ỨC TIẾP NHẬN, CẤU T O TỪ, TỪ LO I VÀ ƢỜNG TV-NN THUẬT NGỮ TIẾNG HOA VÀ TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH CNTT 32

2.1.Tiểu dẫn 32

2.2.Cách thức tiếp nhận, cấu tạo từ và từ loại của thuật ngữ tiếng Hoa chuyên ngành CNTT 32

2.2.1.Cách thức tiếp nhận thuật ngữ tiếng Hoa chuyên ngành CNTT từ tiếng nước ngoài 32

Trang 7

2.2.1.1.Phiên âm tiếng nước ngoài 33

2.2.1.2.Dịch sát nghĩa 34

2.2.1.3.Giữ nguyên dạng gốc 35

2.2.1.4.Viết tắt nước ngoài 36

2.2.1.5.Dịch thoát nghĩa 36

2.2.1.6.Dịch kết hợp (Ghép lai) 38

2.2.2.Thuật ngữ tiếng Hoa chuy n ngành CNTT xét tr n phương diện cấu tạo từ 39

2.2.2.1.Thuật ngữ tiếng Hoa chuyên ngành CNTT có cấu tạo là một từ 39

a.Thuật ngữ tiếng Hoa chuyên ngành CNTT có cấu tạo là từ đơn 39

b.Thuật ngữ tiếng Hoa chuyên ngành CNTT có cấu tạo là từ ghép 39

2.2.2.2.Thuật ngữ tiếng Hoa chuyên ngành CNTT có cấu tạo là cụm từ 41

2.2.3.Thuật ngữ tiếng Hoa chuyên ngành CNTT xét từ gốc độ từ loại 42

2.3.Cách thức tiếp nhận, cấu tạo từ và từ loại của thuật ngữ tiếng Việt chuyên ngành CNTT 43

2.3.1.Cách tiếp nhận thuật ngữ tiếng Việt chuyên ngành CNTT từ tiếng nước ngoài 43

2.3.1.1.Phiên âm tiếng nước ngoài 45

2.3.1.2.Dịch sát nghĩa 45

2.3.1.3.Giữ nguyên dạng gốc 47

2.3.1.4.Viết tắt nước ngoài 47

2.3.1.5.Dịch thoát nghĩa 48

2.3.1.6.Dịch kết hợp (Ghép lai) 49

2.3.2.Thuật ngữ tiếng Việt chuyên ngành CNTT xét từ gốc độ cấu tạo từ 50

2.3.2.1.Thuật ngữ tiếng Việt chuyên ngành CNTT có cấu tạo là một từ 50

a.Thuật ngữ tiếng Việt chuyên ngành CNTT có cấu tạo là từ đơn 50

b.Thuật ngữ tiếng Việt chuyên ngành CNTT có cấu tạo là từ ghép 52

2.3.2.2.Thuật ngữ tiếng Việt chuyên ngành CNTT có cấu tạo là cụm từ 54

Trang 8

2.3.3.Thuật ngữ tiếng Việt chuyên ngành CNTT xét từ gốc độ từ loại 54

2.4.So sánh thuật ngữ tiếng Hoa và tiếng Việt chuyên ngành CNTT 55

2.4.1.Những nét tương đồng 55

2.4.2.Những nét khác biệt 57

2.5.Trường TV-NN thuật ngữ tiếng Hoa và tiếng Việt chuyên ngành CNTT 59

2.5.1.Trường TV-NN thuật ngữ chỉ các thiết bị dùng trong CNTT 59

2.5.2.Trường TV-NN thuật ngữ chỉ chủ thể hoạt động trong CNTT 60

2.5.3.Trường TV-NN thuật ngữ chỉ các quá trình, hoạt động, các hiện tượng xảy ra trong CNTT 61

2.5.4.Trường TV-NN thuật ngữ chỉ các đại lượng, các đơn vị dùng trong CNTT 62

2.5.5.Trường TV-NN thuật ngữ chỉ các sự vật là đối tượng của các hoạt động xảy ra trong CNTT 63

2.5.6.Trường TV-NN thuật ngữ chỉ các tên riêng trong CNTT 64

2.6.Tiểu kết 65

ƢƠ 3: Ề XUẤT BIÊN SO N TỪ IỂN THUẬT NGỮ SONG NGỮ HOA - VIỆT CHUYÊN NGÀNH CNTT 67

3.1.Vấn đề chuyển dịch các thuật ngữ tiếng Hoa và tiếng Việt chuyên ngành CNTT 67

3.2.Đề xuất cấu trúc vĩ mô của Từ điển thuật ngữ song ngữ Hoa – Việt chuyên ngành CNTT 70

3.2.1.Đặc điểm đơn vị mục từ của Từ điển thuật ngữ song ngữ Hoa - Việt chuyên ngành CNTT 70

3.2.2.Cách bố trí mục từ của Từ điển thuật ngữ song ngữ Hoa - Việt chuyên ngành CNTT 70

3.2.3.Phụ lục của Từ điển thuật ngữ song ngữ Hoa-Việt chuyên ngành CNTT 71

3.3.Đề xuất cấu trúc vi mô của Từ điển thuật ngữ song ngữ Hoa-Việt chuyên ngành CNTT 72

Trang 9

3.4.Đề xuất biên soạn Từ điển thuật ngữ song ngữ Hoa – Việt chuyên ngành

CNTT 77

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC THUẬT NGỮ HOA-VIỆT CHUYÊN NGÀNH CNTT 90

Trang 10

MỞ ẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong cuộc sống bận rộn vội vã hiện nay, mọi người thường đơn giản

và tối ưu hóa thời gian thông qua những ứng dụng hữu ích của CNTT để xử lý các vấn đề trong công việc lẫn cuộc sống Có thể thấy, khoảng hơn hai thập kỉ trở lại đây, CNTT đã dần trở nên phổ biến, quen thuộc và gần như gắn liền với

đời sống xã hội của con người Các thiết bị như máy tính để bàn, máy tính xách tay, điện thoại di động, thư điện tử, Internet… đã trở thành những phần quan

trọng không thể thiếu trong văn hóa và cộng đồng của nhiều quốc gia trên thế giới, là mắt xích trong quá trình toàn cầu hóa và hiện đại hóa Phát triển CNTT

sẽ giúp các nước có cơ hội tiếp cận với nền kinh tế toàn cầu, với công nghệ tiên tiến của nhân loại, dần dần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo Bên cạnh đó, CNTT còn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và với việc ứng dụng rộng rãi CNTT trong các lĩnh vực của nền kinh tế, sẽ giúp đẩy nhanh và mạnh hơn nữa việc hình thành nền kinh tế tri thức tại các nước Có thể khẳng định rằng, CNTT chính là một trong những chiếc chìa khoá quan trọng để mở cánh cổng vào nền kinh tế tri thức

Theo các nhà từ điển học, trong những năm gần đây đa phần các từ ngữ mới xuất hiện trong từ điển đều là các thuật ngữ Do vậy, cùng với sự phát triển mạnh của CNTT, kéo theo đó là số lượng các thuật ngữ chuyên ngành này không ngừng gia tăng Tuy nhiên, để hiểu và nắm vững được hết các thuật ngữ chuyên ngành này là điều hoàn toàn không đơn giản và cần nhiều thời gian nghiên cứu Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong chuyên ngành CNTT đến từ các quốc gia Trung Quốc, Đài oan, Singapore, Hồng Kông…, được thành lập ngày càng nhiều tại Việt Nam, nên công tác phiên dịch hay biên dịch qua lại Hoa- Việt các thuật ngữ chuyên ngành này là vô cùng quan trọng và cần thiết Như chúng ta biết, CNTT là một ngành khoa học xuất phát từ các nước có nền khoa học kĩ thuật phát triển như: Anh, Mĩ,

Trang 11

Pháp…, sau đó được đưa vào tìm hiểu, làm quen, học tập và nghiên cứu tại Việt Nam cũng như tại Trung Quốc, vì vậy, hệ thuật ngữ tiếng Hoa và tiếng Việt của ngành khoa học này đa phần được tạo nên chủ yếu qua con đường vay mượn tiếp nhận từ các ngôn ngữ như: Anh, Pháp dưới nhiều hình thức dịch thuật khác nhau, phổ biến như: phiên âm tiếng nước ngoài, dịch sát nghĩa, ghép lai, giữ nguyên dạng, dịch thoát nghĩa Đặc biệt, trong đó cũng cần kể đến các thuật ngữ CNTT tiếng Việt được dịch ra tiếng Việt tr n cơ sở sử dụng yếu tố từ Hán - Việt và các thuật ngữ này chiếm một số lượng không nhỏ Do vậy, việc đi sâu vào nghiên cứu, phân tích thuật ngữ tiếng Hoa, tiếng Việt chuyên ngành CNTT

là một điều vô cùng thiết thực và có tính ứng dụng cao Thông qua việc phân tích cách tiếp nhận thuật ngữ từ tiếng nước ngoài, phương thức cấu tạo từ, từ loại của

hệ thuật ngữ này, từ đó, chỉ ra mối liên hệ trong thuật ngữ CNTT giữa hai ngôn ngữ Hoa - Việt, và tiến hành phân tích trường từ vựng – ngữ nghĩa của hệ thuật ngữ CNTT tiếng Hoa và tiếng Việt cùng với việc chỉ ra một số vấn đề về dịch thuật ngữ CNTT trong tiếng Hoa và tiếng Việt và đề xuất biên soạn Từ điển thuật ngữ song ngữ Hoa-Việt chuyên ngành này Tất cả các kết quả của việc nghiên cứu, phân tích sẽ là cơ sở cho học tập, giảng dạy, dịch thuật và còn góp phần trong việc hoàn thiện hệ thống, chuẩn hóa thuật ngữ CNTT trong tiếng Việt và làm giàu thêm cho hệ thống ngôn ngữ khoa học Việt Nam Ngoài ra, còn khẳng định vai trò của tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học công nghệ này Từ

thực tế các vấn đề n u tr n, mà người viết chọn đề tài: “ hân tích hệ thuật ngữ tiếng Hoa chuyên ngành công nghệ thông tin (so sánh với tiếng Việt)”

2 ối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn này, đối tượng nghiên cứu là thuật ngữ chuyên ngành CNTT trong tiếng Hoa và tiếng Việt cùng với những yếu tố có

li n quan đến quá trình hình thành, phát triển của hệ thuật ngữ này như cách tiếp nhận thuật ngữ từ tiếng nước ngoài, phương thức cấu tạo từ, từ loại, trường

Trang 12

TV-NN…

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để có được những các đặc điểm cơ bản của hệ thuật ngữ tiếng Hoa và tiếng Việt chuyên ngành CNTT, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu cách tiếp nhận thuật ngữ từ tiếng nước ngoài, phương thức cấu tạo từ, từ loại của thuật ngữ CNTT trong hai ngôn ngữ trên Dựa trên những đặc điểm đã phân tích đó, luận văn sẽ chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của thuật ngữ CNTT giữa tiếng Hoa và tiếng Việt Luận văn cũng sẽ đưa ra một bức tranh tổng quát về các trường TV-NN thuật ngữ chuyên ngành CNTT trong tiếng Hoa và tiếng Việt Thông qua đó, luận văn chỉ ra các vấn đề thiếu nhất quán và bất cập trong vấn đề dịch thuật ngữ CNTT của tiếng Hoa và tiếng Việt, đồng thời, đề xuất việc biên soạn Từ điển thuật ngữ song ngữ Hoa – Việt chuyên ngành CNTT, như một tài liệu tra cứu, tham khảo, phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu liên quan đến chuyên ngành CNTT song ngữ Hoa - Việt

3 ịch nghiên cứu đề t i

Bước vào thế kỉ 21 cũng là bước vào thời kì phát triển rực rỡ của CNTT Thậm chí, có thể ví von thế kỷ 21 như là kỷ nguyên của CNTT Và CNTT được xem như là một trong các động lực quan trọng nhất cho sự phát triển mọi mặt xã hội, kinh tế, hỗ trợ hiệu quả cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân CNTT xuất hiện và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nhiều lĩnh vực như: y tế, giáo dục, kinh doanh… , tác động của nó đối với xã hội loài người vô cùng to lớn Chính vì thế, nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau trong CNTT như nhu cầu học tập của sinh viên, học vi n đang theo học ngành này, các đối tượng đang làm tại các doanh nghiệp có li n quan đến lĩnh vực CNTT, nên nhiều sách, tài liệu chuyên ngành CNTT đã được xuất bản không ngừng Đáng kể trong số đó là những cuốn từ điển có li n quan đến hệ thuật ngữ CNTT lần lượt được xuất bản với những tên gọi khác nhau

Trang 13

Hiện nay, thị trường từ điển li n quan đến CNTT phổ biến vẫn là song

ngữ Anh - Việt hoặc là Anh – Hoa, cụ thể như: Từ điển công nghệ thông tin điện tử viễn thông Anh-Việt của tác giả Nguy n Ái và nhiều tác giả; Từ điển điện tử và tin học Anh - Việt của tác giả Phạm Văn Bảy; Từ điển công nghệ thông tin - điện tử - viễn thông Anh - Việt của Ban Từ điển Nxb Khoa học & Kĩ thuật; Đại từ điển công nghệ thông tin Anh-Hán (英汉信息技术大辞典) của tác

giả Bạch Anh Thái (白英彩); Từ điển máy tính giải thích song ngữ Anh-Hán Microsoft (英汉双解微软计算机辞典) do tác giả Chương Hồng Du (章鸿猷)

biên dịch; Từ điển thuật ngữ công nghệ thông tin Anh-Hán (英汉信息技术词典) của ba tác giả là Hạ Hoa (夏华), Quách Kiến Trung (郭建中) và Lâm Phong (林峰) chủ biên

Bên cạnh đó, tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng có các tài liệu nghiên cứu li n quan đến thuật ngữ CNTT, điển hình như luận án tiến sĩ

“Khảo sát hệ thuật ngữ Tin học- Vi n thông tiếng Việt” của Nguy n Thị Kim Thanh, luận văn thạc sĩ “Nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo và nghĩa của thuật ngữ tin học tiếng Anh (so sánh với tiếng Việt)” của Cao văn Ninh Còn tại Trung Quốc, cũng có nhiều luận văn được bảo vệ li n quan đến chuyên ngành này, ví dụ: luận văn thạc sĩ “Cấu tạo từ của thuật ngữ tiếng Anh trong chuyên ngành máy tính và cách dịch sang tiếng Hoa” (“计算机英语术语的构词方法及其汉译方法”) của ưu Hàng Anh (刘航英), luận văn “Về cách dịch Trung-Anh trong văn bản CNTT” (“On EC Translation in IT text”) của Từ Di m (徐艳) hoặc “Tìm hiểu sự khác biệt về thuật ngữ máy tính giữa Đài oan và Trung Quốc đại lục” (“Inquring into the differences in computer terms between Taiwan and Mainland China”) của Hoàng Kim Liên (黄金莲) Nhìn chung, các luận văn được bảo vệ tại Trung Quốc và Việt Nam chủ yếu đều tiến hành so sánh với tiếng Anh, nay luận văn này đi vào đề tài “Phân tích hệ thuật ngữ tiếng Hoa chuyên ngành công nghệ thông tin (so sánh với tiếng Việt) ” cho đến

Trang 14

nay vẫn chưa có công trình nào tiến hành khảo sát nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện

4 hương pháp nghiên cứu

Phương pháp mi u tả phân tích giúp xác định được các cách thức tiếp nhận thuật ngữ từ tiếng nước ngoài, cấu tạo từ và từ loại của thuật ngữ CNTT trong tiếng Hoa và tiếng Việt

Phương pháp so sánh chỉ ra điểm giống và khác nhau của thuật ngữ CNTT giữa tiếng Hoa và tiếng Việt xét từ góc độ cách tiếp nhận thuật ngữ từ tiếng nước ngoài, cấu tạo từ và từ loại

Phương pháp liệt kê thuật ngữ CNTT, thông qua tham khảo các tài

liệu: Đại từ điển công nghệ thông tin Anh-Hán (英汉信息技术大辞典) của tác

giả Bạch Anh Thái (白英彩); Từ điển giải thích song ngữ Anh- Hán cao cấp Oxford (牛津高阶英汉双解词典) do tác giả Chương Hồng Du (章鸿猷) biên dịch và Từ Điển Công Nghệ Thông Tin Điện Tử Viễn Thông Anh-Việt của tác giả

- Góp phần vào việc xây dựng và chuẩn hóa chính xác, đầy đủ và rõ ràng các thuật ngữ tiếng Việt chuy n ngành CNTT được dịch trên cơ sở có sử dụng yếu

Trang 15

6 Bố cục của uận v n

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn này bao gồm 3 chương, cụ thể như sau :

Chương 1 Cơ sở lí luận :

Chương 2 Cách thức tiếp nhận, cấu tạo từ, từ loại và trường TV-NN thuật :

ngữ tiếng Hoa và tiếng Việt chuyên ngành CNTT Chương 3 Đề xuất biện soạn Từ điển thuật ngữ song ngữ Hoa-Việt chuyên :

ngành CNTT

Trang 16

ƢƠ 1: Ơ SỞ LÍ LUẬN

1.1.Tiểu dẫn

Vấn đề thuật ngữ nói chung và nghiên cứu các phương thức, mô hình cấu tạo của thuật ngữ nói ri ng đã ít nhiều được các tác giả trong và ngoài nước tiến hành nghiên cứu từ khá lâu Nhưng tr n thực tế, thuật ngữ đã xuất hiện và được sử dụng rộng rãi trước khi các chuyên gia ngôn ngữ đưa ra cách định nghĩa về chúng Để hình dung rõ hơn về thuật ngữ, trong chương này của luận văn sẽ phân tích và đưa ra một bức tranh tổng quát về thuật ngữ Mà cụ thể, ở đây là thuật ngữ CNTT Trong những năm gần đây, CNTT là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời có tốc độ phát triển nhanh và mạnh, đó chính là điều kiện tốt và quan trọng cho sự ra đời của hàng loạt thuật ngữ mới trong ngành CNTT Tuy nhiên, vì là một hệ thuật ngữ trẻ cho nên trong tiếng Hoa lẫn tiếng Việt, hệ thuật ngữ này vẫn chưa thật sự ổn định và thống nhất CNTT là một ngành khoa học xuất phát từ nước ngoài, dẫn đến hiện tượng hệ thuật ngữ này trong hai ngôn ngữ trên chủ yếu là các từ vay mượn từ thuật ngữ nước ngoài, và các thuật ngữ vay mượn đó được tạo thành đa phần thông qua phương thức dịch thuật Trong chương này, luận văn cũng sẽ đi sâu nghi n cứu các phương thức dịch thuật và đồng thời cũng tiến hành phân tích các vấn đề liên quan xung quanh từ điển, tr n cơ sở nghiên cứu đó sẽ là nền tảng tiến hành phân tích các chương tiếp theo

1.2 Một số vấn đề lí luận về thuật ngữ

Khi đọc một bài báo khoa học hay một quyển sách chuyên môn bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài, chúng ta thường gặp các từ hay cụm từ khó hiểu, mà ngay cả những người làm khoa học, nghiên cứu chuyên môn ở lĩnh vực khác cũng khó biết nó có nghĩa gì hay muốn nói gì Ví dụ trong CNTT, những từ

quen thuộc như: con chuột, bàn phím, hệ điều hành, máy vi tính, phần cứng, phần mềm, dữ liệu thì người đọc có thể d dàng nhận biết, nhưng nếu với

Trang 17

những từ phức tạp như: giá trị mặc định, máy ảo, ngôn ngữ C, kĩ nghệ đảo ngược, nhị phân… hoặc những từ viết tắt như: WAP (Wireless Application Protocol: giao thức ứng dụng không dây), FAT (File Allocation table: bảng cấp phát tập tin)…những từ như thế này sẽ gây không ít khó khăn trong việc hiểu

được ý nghĩa của chúng Hơn thế nữa, những từ chuy n ngành như tr n lại thường xuyên xuất hiện Nguyên nhân khiến người đọc khó hiểu có thể do còn lạ lẫm với các khái niệm được đề cập đến trong các sách báo chuyên ngành, vì các

từ hoặc cụm từ đó chính là thuật ngữ, một thành phần cơ bản của mọi ngành khoa học và là một yếu tố quan trọng của ngôn ngữ khoa học Mặc dù, thuật ngữ được xem là lớp từ vựng quan trọng và mang tính quốc tế cao trong hệ thống ngôn ngữ, nhưng việc nghiên cứu về lĩnh vực thuật ngữ ra đời muộn hơn so với các phân nhánh khác trong chuyên ngành ngôn ngữ học, và phải tới tận thế kỷ

XX, thuật ngữ học mới thực sự được khẳng định như một ngành khoa học

“Nói đến thuật ngữ học trước hết không thể không nhắc tới các nhà thuật ngữ học như: E.Wuster (Đức), J.C.Boulanger (Anh), R.W.Brown (Mĩ), W.E.Flood (Mĩ), J.C.Segen (Mĩ) Ngoài việc định nghĩa thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức năng của chúng, các nhà nghiên cứu này còn có xu hướng tìm cách xác định các tiêu chuẩn cụ thể cần phải có của thuật ngữ” [20, tr.3]

Đặc biệt trong đó, nhà thuật ngữ học người Đức Eugen Wuster, một trong những người có cống hiến lớn đối với ngành khoa học thuật ngữ ngày nay Năm

1931, với công trình nghiên cứu mang tên Quy phạm ngôn ngữ quốc tế trong công trình kĩ thuật, đặc biệt là trong ngành điện công nghiệp (International language standardization in technology, particularly in electrical engineering),

ông đã đề xuất phương pháp và nguy n tắc cơ bản của thuật ngữ học, xây dựng

n n tư tưởng để hệ thống hóa thuật ngữ, thiết lập cho hệ thuật ngữ hiện đại một nền tảng lí luận cơ bản

Bên cạnh đó, trong lĩnh vực này cũng phải kể đến các nhà thuật ngữ

học người Nga như L A Kapanadze , A.C Gerd… và thậm chí “để trả lời cho

Trang 18

câu hỏi “Thuật ngữ là gì?”, nhà thuật ngữ học Nga Rêformatxikiy, A.A còn khẳng định rằng là cần phải viết hẳn một cuốn sách Trong công trình của mình

“Về một vài hiện tượng cấu tạo trong thuật ngữ kĩ thuật Nga”, Vinôcua, G.O (1939) đã cho rằng thuật ngữ, đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt, chức năng đặc biệt mà từ với tư cách là thuật ngữ đảm nhiệm đó là chức năng gọi tên” [theo ưu Trọng Tuấn (2009), Dịch thuật văn bản khoa học, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tr.178] Khi đã có thể xác định

được mối quan hệ thuật ngữ với khái niệm, tác giả Olga Akhmanova đã đưa ra

một định nghĩa về thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kĩ thuật, v.v…) được sáng tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn, v.v…) để biểu hiện chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn” [theo Nguy n Đức Tồn

(2010), “Một số vấn đề về nghiên cứu, xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng

Việt trong thời kì hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 12,

tr.1-9, tr.3] Còn hiểu đơn giản theo tác giả Juan Sager [61] thì thuật ngữ là sự thể hiện có tính chất ngôn ngữ học về những khái niệm Hai tác giả Jack C

Richards và Richard W Schmidt thì cho rằng: “thuật ngữ là những đơn vị từ vựng đặc biệt xuất hiện trong một môn học hay một chủ đề chuyên ngành” [60, tr

376] Còn theo tác giả Tanja Collet [47] hiểu về thuật ngữ như là một cấu trúc tuyến tính mang nghĩa, đặt tên cho một thực tế trừu tượng hay cụ thể được nghiên cứu thuộc một lĩnh vực chuyên ngành Theo tác giả A.C Gerd đã viết

rằng: “Thuật ngữ là từ mà một định nghĩa nào đó kèm theo nó một cách nhân tạo,

có ý thức Định nghĩa này có liên quan đến một khái niệm khoa học nào đó”

[theo Mai Thị oan (2011), “Thống nhất các yêu cầu của một thuật ngữ chuẩn”,

Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Ngoại ngữ số 27, tr.53-66, tr.53]

Tại Trung Quốc việc nghiên cứu về thuật ngữ được khởi xướng khá muộn so với các nước phương Tây cũng như so các nước tại châu Á Mãi cho

đến khi quyển sách mang tên Dẫn luận thuật ngữ học hiện đại (现代术语学引论)

Trang 19

của tác giả Phùng Chí Vĩ (冯志伟) được xuất bản năm 1997 đánh dấu bước ngoặt cho ngành thuật ngữ học tại Trung Quốc, và tác giả cũng dựa trên những nghiên cứu của các nhà thuật ngữ học phương Tây để đưa ra quan niệm về thuật

ngữ như sau: “Thông qua cách biểu đạt bằng ngữ âm hay chữ viết hoặc là đối tượng mang tính ước định của khái niệm trong một chuyên ngành cụ thể nào đó gọi là thuật ngữ Thuật ngữ có thể là một từ hoặc một cụm từ” [69, tr.1] Còn theo quan điểm của tác giả Hồ Sinh “thuật ngữ có thể là từ, cũng có thể là nhóm

từ, dùng để ghi chú chính xác những sự vật, hiện tượng, đặc trưng, quan hệ và quá trình xuất hiện trong các lĩnh vực kĩ thuật sản xuất, khoa học, nghệ thuật, cuộc sống xã hội ” [theo ý Sương (2015), “So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế

thương mại Việt-Trung”, uận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.]

Tại Việt Nam, kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tiếng Việt đóng một vị thế quan trọng trong xã hội nước ta và được sử dụng trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội cũng như các ngành khoa học Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự hội nhập quốc tế, hơn thế nữa là sự phát triển bùng nổ của khoa học kĩ thuật - công nghệ, là động lực và yêu cầu buộc tiếng Việt cũng phải phát triển không ngừng, trước ti n là trong lĩnh vực thuật ngữ khoa học Chính vì thế, việc nghiên cứu thuật ngữ cũng được các chuyên gia ngôn ngữ học tại Việt Nam bắt đầu quan tâm từ sớm, nhưng do điều kiện lịch sử

và xã hội, phải đến những năm 60 của thế kỉ XX, vấn đề này mới thực sự trở thành đề tài nghiên cứu trong ngành khoa học nói chung và ngành ngôn ngữ học

nói riêng Trong quyển Từ vựng tiếng Việt, hai tác tác giả Nguy n Công Đức – Nguy n Hữu Chương đã chỉ ra rằng “Trước Cách mạng tháng Tám, nước ta chỉ

có 3 tập thuật ngữ Trong kháng chiến chống Pháp (1943-1954) chúng ta có 7 tập với 4 vạn thuật ngữ Từ sau hoà bình lập lại đến nay, chúng ta đã xây dựng trên 40 tập với trên 90 vạn thuật ngữ” [22, tr.179] Đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ

học Việt Nam đã đi vào nghi n cứu và đưa ra những định nghĩa khác nhau về

Trang 20

thuật ngữ, làm cho khái niệm thuật ngữ cũng như bức tranh về ngành thuật ngữ học trong nước ngày càng phong phú đa dạng và chính xác hơn

Năm 1960, tác giả Nguy n Văn Tu trong Khái luận ngôn ngữ học đã

đưa ra định nghĩa thuật ngữ bằng cách xác định thuật ngữ trong mối quan hệ với

khái niệm như sau: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học, kĩ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật v.v và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên” [38,

tr.176] Năm 1983, tác giả Hoàng Văn Hành đã n u quan điểm về thuật ngữ như

sau: “Thuật ngữ là từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ” [9, tr.26] Trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến nhận định rằng: “Thuật ngữ là những từ ngữ làm tên gọi cho các khái niệm, các đối tượng được xác định một cách chặt chẽ, chuẩn xác trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực khoa học chuyên môn” [17, tr 219] Trong Giáo trình Việt ngữ, tác giả Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa về thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kĩ thuật nào đấy” [5, tr.167] Năm 2008, trong cuốn Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế

kỉ XX, tác giả Hà Quang Năng viết: “Thuật ngữ là từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định” [7, tr.94] Quá trình xây dựng và phát triển thuật ngữ khoa ở nước ta còn có quan điểm của nhiều tác giả khác như Lưu Vân Lăng, Đái Xuân Ninh, Trương Công Quyền, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Như Ý, Lê Khả Kế, Lê Văn Thới,

Võ Xuân Trang, Vũ Quang Hào…

Từ những quan điểm về thuật ngữ nói trên của các nhà thuật ngữ học trên thế giới cũng như các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, có thể thấy rằng thuật ngữ cơ bản là một từ hay một cụm từ được sử dụng cho một ngành chuyên môn

Trang 21

nào đó So với từ ngữ thông thường thì thuật ngữ có phạm vi sử dụng tương đối hẹp nhưng chứa đựng nội dung sâu sắc, cụ thể, súc tích, lô-gíc, có mối quan hệ chặt chẽ, đồng thời, có những tính chất, đặc điểm riêng khác với lớp từ ngữ thông thường, tạo thành một hệ thống từ vựng được sử dụng trong một lĩnh vực nhất định

Thuật ngữ là một bộ phận từ ngữ rất quan trọng của bất kì các ngôn ngữ nào trên thế giới, đối với những quốc gia có hệ thống ngôn ngữ phát triển mạnh, thì thuật ngữ chiếm tỉ lệ khá đáng kể, thể hiện trình độ phát triển cũng như tốc độ bắt kịp khoa học - kĩ thuật của một đất nước, điển hình như thuật ngữ CNTT trong tiếng Hoa lẫn tiếng Việt chủ yếu vay mượn thuật ngữ từ các nước đặt nền tảng cho ngành CNTT và phát triển không ngừng như Mĩ, Anh… Mặc

dù, thuật ngữ không phải hoàn toàn cách biệt với lớp từ toàn dân và các lớp từ khác không thuộc về hệ thuật ngữ, nhưng so với các lớp từ khác thì thuật ngữ là lớp từ gần như phát triển nhất trong hệ thống ngôn ngữ Vậy nên, cần có những đặc điểm cơ bản để xác định thuật ngữ của một ngôn ngữ nhất định Các tác giả ngôn ngữ học ở nước ngoài và ở Việt Nam có nhiều quan điểm và tranh luận về

các đặc điểm của thuật ngữ “Ở nước ngoài, kế thừa những công trình về thuật ngữ của nhà thuật ngữ học nổi tiếng D.S Lotte và của Ủy ban khoa học kĩ thuật thuộc Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô, Coosunôp và Xumburôva đưa ra những đặc điểm của thuật ngữ như: 1)Không có thuật ngữ đa nghĩa trong một ngành; 2)Không có từ đồng nghĩa; 3)Phản ánh những đặc trưng cần và đủ của khái niệm; 4 Tính hệ thống” [theo Mai Thị oan (2011), “Thống nhất các yêu cầu của một thuật ngữ chuẩn”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Ngoại

ngữ số 27, tr.53-66., tr.59]

Tại Trung Quốc, tác giả Phùng Chí Vĩ [69] cho rằng thuật ngữ có những đặc điểm sau: 1) Tính chính xác; 2) Tính đơn nghĩa; 3) Tính hệ thống; 4) Tính ngắn gọn; 5) Tính ổn định; 6) Tính phái sinh Các nhà thuật ngữ học nước

Trang 22

ngoài nhấn mạnh đến tính chính xác và tính hệ thống của thuật ngữ và họ xem đây là hai đặc điểm tiêu biểu của thuật ngữ

Tại Việt Nam, cũng có nhiều quan điểm đưa ra về các đặc điểm cho thuật ngữ như: thuật ngữ phải có tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn, tính đơn nghĩa… Có thể thấy rằng, trong rất nhiều đặc điểm của thuật ngữ, có những đặc điểm chỉ là thứ yếu, không phải thuộc bản thể của thuật ngữ Theo như tác giả ưu Vân ăng [14] cho rằng thuật ngữ tiếng Việt nên: 1) Chính xác; 2) Có hệ thống; 3) Có tính bản ngữ (dân tộc); 4) Ngắn gọn, cô đọng; 5) D dùng Trong đó, ba đặc điểm đầu là 3 yêu cầu cơ bản mà tính chính xác là quan trọng nhất Còn tác giả ưu Trọng Tuấn [13] nêu

ra thuật ngữ có những đặc điểm :1) Thuật ngữ phải phản ánh đúng nội dung một khái niệm; 2) Tính chuyên biệt; 3) Tính hệ thống; 4) Tính hài âm; 5) Tính ngắn gọn, súc tích; 6) Hiệu năng của thuật ngữ Tuy còn có những điểm khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều nhất trí và nhấn mạnh ở hai đặc điểm,

đó là tính chính xác và tính hệ thống Tác giả Nguy n Thiện Giáp [34] trong giáo

trình Từ vựng học tiếng Việt chỉ ra thuật ngữ cần có: 1) Tính chính xác, 2) Tính

hệ thống, 3) Tính quốc tế Trong phạm vi luận văn này, sẽ đề cập đến 4 đặc điểm sau của thuật ngữ cụ thể là: 1) Tính chính xác; 2) Tính hệ thống; 3) Tính đơn nghĩa; 4) Tính quốc tế

Tính chính xác: “Chính xác ở đây là chính xác và chuẩn tắc về nội

dung khái niệm do nó biểu thị Nội dung đó có thay đổi hay không, thay đổi như thế nào là tuỳ theo sự phát triển, khám phá của ngành khoa học chứ không lệ thuộc vào những biến đổi của hệ thống từ vựng, ngôn ngữ như các từ thông thường” [16, tr.220] Nội dung của thuật ngữ phải đảm bảo di n đạt được ý

nghĩa rõ ràng mang một nội dung nghĩa cụ thể, để có thể phân biệt và tách rời được với nội dung khái niệm của một thuật ngữ khác Trong khi ý nghĩa từ vựng của lớp từ vựng thông thường được giải thích ít nhiều phụ thuộc vào tính chủ quan của nhà ngôn ngữ, còn nội dung giải thích của thuật ngữ là một khái niệm

Trang 23

mang tính lô-gíc cao, đồng thời đòi hỏi sự hiểu biết tường tận về ngành khoa học

đó Trong một số trường hợp, nếu cần thiết, cần có sự kết hợp giữa nhà ngôn ngữ

và một chuyên gia thuộc lĩnh vực tương ứng Thuật ngữ thuộc về lớp từ vựng khoa học chuyên ngành, khác với từ ngữ thông thường được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày Do vậy, khi sử dụng thuật ngữ, cần phải dùng đúng với khái niệm khoa học, có tính chính xác cao Không những thế, trong từ điển thuật ngữ thường được trình bày dưới hình thức định nghĩa Ví dụ, với thuật ngữ “pointer”

(con trỏ) trong Từ điển máy tính giải thích song ngữ Anh-Hán Microsoft (英汉双解微软计算机辞典) tương ứng có từ “指针” có giải thích là trong lập trình và

xử lý thông tin, một lượng có chứa vị trí bộ nhớ (địa chỉ) của một số dữ liệu chứ

không phải là dữ liệu của chính nó [71], cũng với từ “指针” trong Từ điển Hán ngữ hiện đại (现代汉语词典) có được giải thích với nội dung là kim chỉ thời gian trên bề mặt đồng hồ, gồm các kim giờ, phút và giây hoặc là kim chỉ mức độ

của thiết bị đo [82] Hoặc với thuật ngữ “window”, trong Từ Điển Công Nghệ Thông Tin Điện Tử Viễn Thông Anh-Việt [21], chúng ta có được từ đối chiếu trong tiếng Việt là “cửa sổ” và được giải thích cụ thể như sau “trong đồ hoạ máy tính kỹ thuật phần mềm để chia màn hình hiện thị đồ hoạ ánh xạ bit thành một số hình hiện hoặc cửa sổ hình chữ nhật độc lập” [21, tr.1403], nhưng cũng với từ

“cửa sổ”, trong từ điển giải thích tiếng Việt phổ thông, chúng ta sẽ có được giải

thích là “cửa ở lưng chừng tường, vách, để lấy ánh sáng và làm thoáng khí ” [8,

tr.229]

Tính hệ thống: Mỗi lĩnh vực khoa học để xây dựng cho mình một hệ

thống định nghĩa có tính liên kết cao, nếu tách rời một thuật ngữ ra khỏi hệ thống, thì nội dung thuật ngữ của nó không còn nữa, hay nói cách khác, các thuật ngữ không thể đứng độc lập một mình, mà bao giờ cũng là yếu tố của một hệ thống thuật ngữ nhất định, và trong hệ thống đó, chúng được gắn kết với nhau bởi mối

quan hệ gọi là quan hệ định vị Tính hệ thống có thể hiểu là “từ tính hệ thống về nội dung, dẫn đến tính hệ thống về hình thức biểu hiện Tính hệ thống về hình

Trang 24

thức, ngược lại giúp cho ngừời ta biểu thị được và nhận ra được tính hệ thống trong nội dung” [17, tr.221] Ví dụ, loạt thuật ngữ CNTT trong tiếng Việt cùng cấu tạo với yếu tố “đầu”: đầu ra, đầu vào, đầu nối hay trong tiếng Hoa các

thuật ngữ có cùng cấu tạo với yếu tố “件”: 软件 (phần mềm), 硬件 (phần cứng),

固件 (phần mềm cố định)…

Tính đơn ngh a: Hiện tượng nhiều nghĩa trong lớp từ vựng thông

thường là đặc điểm rất hiển nhiên và phổ biến Còn đối với thuật ngữ mặc dù cũng thuộc về bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nhưng do chúng thuộc một lĩnh vực chuyên môn cố định, và có tính xác định rõ ràng về ngữ nghĩa, cho nên mỗi thuật ngữ thông thường chỉ có một nghĩa hay có tính đơn nghĩa í tưởng nhất vẫn là mỗi sự vật, mỗi khái niệm có được một tên duy nhất, rõ ràng và như vậy không gây sự nhầm lẫn hay cụ thể hơn là một thuật ngữ phải chỉ một khái niệm

mà thôi Tuy nhiên, tính chất này nếu đạt được thì rất tốt nhưng xem ra nó chỉ có thể mang tính tương đối, vì vẫn có quá nhiều trường hợp một thuật ngữ xuất hiện trong nhiều hệ thống thuật ngữ của các chuyên ngành khác nhau, và đa số các nhà ngôn ngữ học cho là hiện tượng đồng âm Bàn về tính đơn nghĩa của thuật

ngữ, tác giả Heribert Picht và Jennifer Draskau viết: “Một thuật ngữ là đơn nghĩa nó biểu thị chỉ một khái niệm Nếu khái niệm này chỉ có thể được thể hiện qua thuật ngữ đó, chúng ta có thể nói là đơn nghĩa tuyệt đối Hiển nhiên là tính đơn nghĩa thể hiện tình huống tối ưu về mối quan hệ thuật ngữ/ khái niệm trong thuật thuật ngữ Tuy nhiên, tình huống lí tưởng này hiếm khi xảy ra” [theo ưu Trọng Tuấn (2009), Dịch Thuật Văn Bản Khoa Học, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà

Nội, tr.185] Chúng ta có thể đưa ra một ví dụ cụ thể như sau: trong tiếng Việt, thuật ngữ “vi-rút” vừa là thành viên của hệ thuật ngữ CNTT và cũng là một

phần của hệ thuật ngữ Sinh học Trong Sinh học, “vi-rút” hiểu đơn giản là “vi sinh vật nhỏ nhất, không thể nhìn thấy cả bằng kính hiển vi, phần lớn có thể gây bệnh” [8, tr.117], với CNTT thuật ngữ này có nghĩa là “chương trình gắn thêm vào các chương trình máy tính khác, rất khó phát hiện, có tác dụng phá hoại tổ

Trang 25

chức dữ liệu và chương trình đang chạy trong bộ nhớ và có khả năng tự lây lan sang các chương trình khác” [8, tr 117-118] Hiện tượng đồng âm trong thuật

ngữ là một vấn đề khó tránh, do vậy trước khi tạo một thuật ngữ mới, các nhà ngôn ngữ học cũng như các nhà chuy n môn trong lĩnh vực khoa học tương ứng nếu có thể thì nên làm công tác kiểm tra thuật ngữ đó đã được sử dụng chưa Giai đoạn này có thể hạn chế trường hợp thuật ngữ đồng âm trong nhiều ngành, dẫn đến tình trạng nhầm lẫn

Tính quốc tế: Thuật ngữ khoa học còn đòi hỏi tính quốc tế, và khi bàn

về tính quốc tế của thuật ngữ, tác giả Nguy n Thiện Giáp đã cho rằng: “Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các tiếng khác nhau Vì vậy, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ” [33, tr.120] Có thể thấy rằng, nếu chú ý tới mặt nội dung của thuật ngữ, thì

tính quốc tế của thuật ngữ là một đặc trưng quan trọng, phân biệt thuật ngữ với những bộ phận từ vựng khác, và giúp bảo đảm tính chất riêng của thuật ngữ cũng như bảo đảm cả những tính chất chung của thuật ngữ với những lớp từ vựng khác khi xây dựng thuật ngữ Tính quốc tế của thuật ngữ đòi hỏi một thuật ngữ phải có nội dung và hình thức biểu đạt gần gũi đối với cộng đồng các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới

1.3.Từ điển và từ điển thuật ngữ

Hiểu một cách truyền thống thì từ điển được xem như một tài liệu ghi chép đáng tin cậy và cung cấp tương đối đầy đủ thông tin về từ ngữ, đồng thời cũng có chức năng xã hội rất cao Bên cạnh việc cung cấp lượng từ ngữ phong phú cũng như cách sử dụng chúng trong giao tiếp hằng ngày, hỗ trợ việc học tập tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ, góp phần chuẩn hóa ngôn ngữ, từ điển còn giúp mở rộng kiến thức của con người về sự vật, khái niệm, định nghĩa vốn là một mặt quan trọng không thể thiếu được trong ý nghĩa của từ Từ điển là một trong những sản phẩm khoa học chịu ảnh hưởng khá trực tiếp của nền văn hóa xã hội,

Trang 26

tuy nhiên, công tác biên soạn từ điển là một trong những tiêu chí dùng để đánh giá trình độ phát triển giáo dục, văn hóa của một đất nước, ví dụ có bao nhiêu loại từ điển, chất lượng từ điển phát hành, số lượng phát hành hàng năm…

Các nhà từ điển học cũng có những cái nhìn rộng hơn về khái niệm từ điển Tác giả Zgusta Ladislav [66] cho rằng, từ điển là bản kiểm kê từ vựng của một ngôn ngữ cụ thể, và là công cụ giao tiếp trong một ngôn ngữ cụ thể hay trong các ngôn ngữ khác nhau Còn theo tác giả Nielsen Sandro [58] cho rằng, từ điển là một sản phẩm tập hợp các từ vựng bao gồm các chức năng hữu dụng, được thiết kế trên cơ sở dữ liệu được chọn lọc, và có cách trình bày thể hiện rõ mối quan hệ giữa các dữ liệu đó Còn tại Việt Nam, tình hình biên soạn và xuất bản từ điển trong những năm trở lại đây có những phát triển mới, mà theo như

hai tác giả Hoàng Phê và Nguy n Ngọc Trâm trong bài “Một số vấn đề về Từ điển học (Qua việc biên soạn quyển Từ điển tiếng Việt)” có nhận định sau:

“Những năm gần đây, ở nước ta tình hình rất nhiều từ điển đủ các loại hằng năm được xuất bản, từ điển đơn nghĩa (Tiếng Việt) cũng như từ điển song ngữ,

từ điển ngữ văn cũng như từ điển có tính bách khoa Theo thống kê chưa đầy đủ, chủ yếu dựa vào thư mục của Thư viện Quốc gia, trong số tổng 447 quyển từ điển đã xuất bản ở nước ta từ xưa đến nay, có 239 quyển (trên 53%) đã được xuất bản từ sau 1975, bao gồm 35 quyển từ điển tiếng Việt, 64 quyển từ điển chuyên môn các ngành” [24, tr.7] Với sự thống kê như trên, thật sự là một thông

tin đáng mừng cho ngành từ điển học Việt Nam, việc ngành từ điển học ngày nay đã trở thành một môn học ngôn ngữ học ứng dụng là không thể thiếu

Tác giả Nguy n Ngọc Trâm trong bài viết “Một vài nhận xét về cấu trúc vĩ mô của từ điển giải thích tiếng Việt (qua tư liệu của từ điển tiếng Việt)” cho rằng:“Từ điển là loại sách tra cứu, ở đó thu thập và cung cấp những thông tin về kí hiệu ngôn ngữ Đúng như tên gọi của mình, các thông tin trong từ điển

có tính chất khách quan, thường được coi là một chân lí Từ điển không phải là một công trình sáng tác nhằm trình bày những kiến giải cá nhân mà là công

Trang 27

trình biên soạn, dựa vào tư liệu ngôn ngữ mà tổng hợp, đúc rút và soạn thảo ra”

[24, tr.26] Có thể thấy rằng, từ điển là một dạng sách mang tính công cụ, là một sản phẩm mang tính ứng dụng cao trong ngôn ngữ học để phục vụ rộng rãi cho bạn đọc, hỗ trợ nhiều đối với công tác chuẩn hóa ngôn ngữ Biên soạn từ điển là một công việc đòi hỏi nhiều thời gian và công sức và theo một kế hoạch nhất định Ở nước ta, hàng năm có hàng trăm quyển từ điển các loại được xuất bản, in

ấn trình bày rõ ràng bắt mắt, nội dung ngày càng phong phú Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận rằng, sự phát triển đó có khuynh hướng về lượng hơn về chất Hiện tại, chúng ta đang đứng trước nhu cầu từ điển không ngừng phát triển, do vậy, ngoài việc chú trọng việc biên soạn một vài quyển từ điển đáp ứng nhu cầu thị trường, mà đặc biệt cần có sự quan tâm và đầu tư hơn nữa đối với công tác nghiên cứu biên soạn từ điển Cần có những trung tâm biên soạn và xuất bản từ điển, những trung tâm từ điển học

Trong xu hướng lượng kiến thức và các khái niệm ngày càng tăng nhanh và có thể biến đổi, thì vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ cũng theo đó mà tăng lên Mỗi một hiện tượng, phát minh mới, cần có một tên để gọi và nếu có sự thay đổi thì những từ đã có cũng biến đổi theo Mỗi ngôn ngữ đều có đời sống riêng của nó và tiếp tục thay đổi chứ không phải ở trạng thái tĩnh và thuật ngữ được xem là bộ phận động nhất trong kho từ vựng, chúng luôn thay đổi Nếu so với các lớp từ vựng khác, thuật ngữ là bộ phận từ vựng có sự phát triển mạnh nhất trong hệ thống ngôn ngữ

Theo các nhà chuyên môn, khoảng nhiều năm trở lại đây, đa phần các

từ ngữ mới xuất hiện trong từ điển đều là các thuật ngữ thuộc nhiều ngành khoa học, trong đó thuật ngữ thuộc ngành CNTT cũng không ngoại lệ Và quyển sách tập hợp các thuật ngữ có quan hệ ngữ nghĩa với nhau và sử dụng riêng cho một chuyên ngành khoa học, một lĩnh vực chuyên biệt, được xem là từ điển thuật ngữ Việc thu thập và giải thích thuật ngữ là một trong những giai đoạn phức tạp của công tác biên soạn từ điển Nguyên tắc và cách thức chọn lựa những thuật ngữ

Trang 28

để quyết định đưa vào từ điển không giống nhau, nhận định về vai trò, đặc điểm, chức năng của từ điển, cỡ của từ điển sẽ không giống nhau Để thu thập và định nghĩa tốt các thuật ngữ trong quyển từ điển của một ngôn ngữ nhất định cần phải xuất phát từ yêu cầu chung của đất nước đó, từ tính chất và đối tượng phục vụ của quyển từ điển và đặc điểm của hệ thống thuật ngữ trong nước Và vấn đề này

có thể hoàn thành chuẩn xác trên nền tảng hiểu biết đầy đủ sự quan trọng và chính xác của thuật ngữ trong quá trình phát triển khoa học, kinh tế, xã hội,cũng như trong giao tiếp, chuẩn hóa ngôn ngữ, về vai trò và vị trí của từ điển giải thích, về sự phân biệt từ điển giải thích với từ điển thuật ngữ chuyên ngành, thông tin ngôn ngữ học với thông tin của một chuyên ngành khoa học cụ thể Theo tác giả Juan Sager [61] đã chỉ ra, từ điển thuật ngữ là một bản ghi chép các

hệ thống biểu tượng và kí hiệu ngôn ngữ được con người áp dụng trong giao tiếp thuộc các khu vực tri thức và hoạt động có tính chuyên môn hoá, thông qua bản ghi chép này, các thuật ngữ được miêu tả, xử lí và trình bày một cách nhất quán theo hệ thống của mỗi chuyên ngành

Từ điển phổ thông hay từ điển thuật ngữ đều có đối tượng phục vụ là những người có trình độ văn hóa nhất định Tuy nhiên, theo đà phát triển khoa học kĩ thuật và văn hóa xã hội, trình độ phổ thông cũng ngày được nâng cao, người dùng muốn hiểu rõ các khái niệm rõ ràng và chính xác hơn, cũng xuất phát từ nhu cầu đó mà có sự khác nhau giữa hai loại từ điển kể trên Nếu như từ điển thuật ngữ ghi chép và hệ thống hóa các từ ngữ có tính chuyên môn hóa theo từng lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ chuyên ngành, thì từ điển thông thường chỉ đơn giản ghi chép, miêu tả và lưu giữ các từ ngữ trong kho từ vựng, và sử dụng ngôn ngữ toàn dân Do chỉ tìm kiếm các khái niệm và hướng tới sự chuẩn hoá, từ điển thuật ngữ thường quan tâm đến ngôn ngữ viết, đặc biệt chú trọng tới ngôn ngữ khoa học, chuyên ngành, và gần như bỏ qua ngôn ngữ nói Nêu như từ điển thuật ngữ có thể được sắp xếp theo cấu trúc khái niệm hệ thống, với danh sách ngang

Trang 29

theo thứ tự bảng chữ cái còn từ điển phổ thông thì chỉ được được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái

Chỉ với tên gọi là từ điển, thường mang lại cho nó sự tin cậy nhất định

Do vậy, việc biên soạn một quyển từ điển phổ thông hay từ điển thuật ngữ đều

có tầm quan trọng như nhau Người dùng từ điển để tra cứu nắm được thông tin

đó, hiểu được từ ngữ, do đó mà hiểu rõ các văn bản, các tài liệu và ở một mức độ cao hơn nữa đó là sử dụng được các từ đó trong giao tiếp nói chung và trong một lĩnh vực chuyên ngành nói riêng

1.4.Tổng quan về dịch thuật

Trong lịch sử nhân loại, giao lưu văn hóa bắt đầu cùng với sự xuất hiện của văn hóa Dịch thuật là một hiện tượng văn hóa và ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp, chia sẻ kinh nghiệm của con người với các dân tộc khác không nói cùng một ngôn ngữ Nói cách khác, hoạt động dịch thuật thúc đẩy sự trao đổi tri thức, giao lưu văn hóa giữa con người và các dân tộc trên thế giới Theo tác giả Louis G Kelly [theo uu Trong Tuan (2011), “The application of Coordinate

translation model (CTM) in medical translation practice”, Theory and practice in language studies, Vol.1.] đã từng phát biểu rằng nếu không có dịch thuật, sẽ

không có lịch sử thế giới Sự ra đời của dịch thuật giúp liên kết cả không gian lẫn thời gian của lịch sử thế giới, đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong tiến

trình phát triển nhân loại “Dịch thuật không những làm phong phú ngôn ngữ của các dân tộc mà còn thúc đẩy sự phát triển và sự sản sinh văn hóa của nhiều dân tộc khác nhau, truyền đi những kiến thức văn hóa tiên tiến, đồng thời còn là đồng lực cho sự tiến bộ của xã hội loài người, dịch thuật mang đến những cống hiến to lớn cho quá trình phát triển và xây dựng nền văn minh thế giới” [78]

Những năm gần đây, khoa học kĩ thuật, văn hóa xã hội luôn vận động và phát triển cho nên nhu cầu đối với dịch thuật ngày càng nhiều, và cũng đòi hỏi ở mức

độ cao, trở thành một hoạt động cực kì quan trọng trong đời sống con người

“Tuy nhiên mặc dù dịch là một việc đã có từ lâu đời, nhưng nghiên cứu về công

Trang 30

việc ấy chỉ phát triển thành một bộ môn học thuật trong nửa sau thế kỉ 20 Trước

đó, dịch thuật thường chỉ là một phần của việc học ngoại ngữ” [19, tr.24]

Không những thế, dịch thuật còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như ngôn ngữ học, tâm lí học, dân tộc học Trong đó, ngành ngôn ngữ học với dịch thuật có mối quan hệ tương đối nhiều Đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động ngôn ngữ, nên dịch thuật là đối tượng nghiên cứu cho các nhà ngôn ngữ học đó là một chuyện đương nhi n

Dịch thuật hiểu một cách đơn giản là việc chuyển một chữ, một câu, một văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác mà không làm thay đổi nghĩa của chúng, là hoạt động liên quan đến hai ngôn ngữ trở l n Và theo như định

nghĩa của của tác giả M Fyodorov: “Dịch là chuyển đạt một văn bản từ một ngôn ngữ này (nguồn) sang một ngôn ngữ khác (đích) một cách trung thành trong chừng mực có thể, cả về nội dung lẫn về hình thức” [theo Cao Xuân Hạo

(2005), “Bàn về dịch thuật”, Tạp chí Tia Sáng-Bộ khoa học và công nghệ] Còn theo hai tác giả Eugene Albert Nida và Charles Russell Taber thì xem dịch thuật công việc đi tìm sự tương đương giữa hai hay nhiều ngôn ngữ, và hai tác giả đã

cho rằng: “Dịch thuật là tái tạo lại trong ngôn ngữ tiếp nhận sự tương đương mang tính tự nhiên và gần sát với nội dung của ngôn ngữ nguồn, đầu tiên là về mặt nghĩa, tiếp đến là về mặt phong cách” [theo ưu Trọng Tuấn (2009), Dịch Thuật Văn Bản Khoa Học, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tr.29] Hartmann K

và Stock C [49] thì cho rằng dịch thuật là việc thay thế văn bản của một ngôn ngữ bằng văn bản có sự tương đương trong ngôn ngữ thứ hai Hiểu một cách đơn giản như tác giả George Steiner [62] thì dịch thuật là sự chuyển di nghĩa của hai ngôn ngữ trở lên Các trình bày trên là một số định nghĩa về dịch thuật của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, họ đưa ra theo hướng sau: dịch thuật là một công việc bao gồm quá trình luận giải ý nghĩa của một đoạn văn trong một ngôn ngữ nào đó - văn nguồn - và chuyển sang một ngôn ngữ khác thành một đoạn văn mới và tương đương - văn đích hay là bản dịch, nhằm đạt đến mục đích chung là

Trang 31

ít nhất cũng có được sự tương đương về nghĩa, hoặc là tương đương gần nhất nhưng đảm bảo nghĩa và phong cách không thay đổi, để có thể giúp người đọc văn bản dịch thuật nắm rõ được nội dung của văn bản gốc muốn gửi gắm

Khi cố gắng thực hiện và hoàn thành công việc mô tả và giải thích mối quan hệ giữa văn bản của ngôn ngữ nguồn và văn bản của ngôn ngữ đích trong quá trình dịch thuật, người dịch sẽ gặp phải khái niệm tương đương Các nhà dịch thuật luôn mong muốn đạt được tính tương đương cao trong việc chuyển ngữ của văn bản Tuy nhiên, để có được điều đó trong dịch thuật là không hề d dàng, vì không tồn tại hai thứ tiếng giống hệt nhau, không có mối quan hệ tuyệt đối giữa các ngôn ngữ, vì mỗi ngôn ngữ đều mang cho mình một nét đặc trưng riêng mà các ngôn ngữ khác không thể có Thậm chí, ngay từ đồng nghĩa còn không thể đảm bảo đầy đủ tính tương đương Ngoài sự khác biệt giữa hai hệ thống ngôn ngữ, khác biệt văn hóa cũng đặt ra những rào cản rất lớn cho công

tác dịch thuật Năm 1959, sau khi xuất hiện khái niệm “tương đương trong dịch thuật” (translation equivalence) được tác giả Roman Jakobson lần đầu tiên đề

cập đến trong bài “Bàn về những khía cạnh của ngôn ngữ dịch thuật” (“On inguistic Aspects of Translation”) [52], cũng từ đó, khái niệm này là trọng tâm của các nghiên cứu dịch thuật và một khái niệm trung tâm trong lí thuyết biên phiên dịch trong hơn hai thập kỉ, đã có không ít các quan điểm được đưa ra của

các tác giả trên thế giới như: Eugene Albert Nida, John Cunnison Catford , Werner Koller…Tác giả John Cunnison Catford [46] đưa ra tương đương chất

liệu văn bản khi ông quan niệm rằng dịch là sự thay thế chất liệu văn bản ngôn ngữ gốc bằng chất liệu văn bản tương đương ở ngôn ngữ nhận Theo hai tác giả Jack C Richards và Richard W Schmidt [60] định nghĩa tương đương dịch thuật là hai đơn vị có cùng nghĩa ở hai ngôn ngữ được gọi là những tương đương dịch thuật Còn tác giả Peter Newmark [57] thì cho rằng tương đương không phải là để chỉ sự bằng nhau, cân đối về nghĩa mà là một quy trình dịch và quy tắc

dịch Trong khi đó, “Eugene Albert Nida và Taber bàn đến sự "tương đương

Trang 32

động" (dynamic equivalence) khi các tác giả bàn đến sự cần thiết phải thiết lập một sự tương đương chức năng, tức là sự tương đương về tác động của bản dịch lên người đọc bản dịch và tác động của bản gốc lên người đọc bản gốc và cho rằng đó mới là mục đích đích thực của dịch thuật” [theo Lê Hùng Tiến (2010),

“Tương đương dịch thuật và tương đương trong dịch Anh Việt”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Ngoại ngữ số 26, tr.141-150]

Bên cạnh các khái niệm về tương đương các nhà dịch thuật còn phân

chia các hình thức tương đương khác nhau trong dịch thuật như: tương đương hoàn toàn, tương đương chức năng, tương đương phong cách Tác giả Werner Koller [53] đưa ra năm loại tương đương dịch thuật như sau: tương đương iểu niệm, tương đương iểu thái, tương đương chuẩn văn ản, tương đương ngữ dụng, tương đương hình thức Còn tác giả Juliance House [50] chỉ ra tương

đương trong dịch thuật là tương đương ngữ nghĩa và tương đương ngữ dụng Năm 1970, tác giả Anton Popovic [59] đã đưa ra bốn loại tương đương trong dịch thuật như sau:

 Tương đương ngôn ngữ học: Sự tương đồng của những từ giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích

 Tương đương kiểu mẫu: đó là sự tương đồng giữa các thành phần ngữ pháp

 Tương đương phong cách học: đó là sự tương đồng trong ý nghĩa hay tác động của văn bản

 Tương đương văn bản (cú pháp): là sự giống nhau trong cấu trúc và hình thức văn bản

Mỗi nhà ngôn ngữ học đưa ra các những nhận định cũng như phân loại khác nhau về khái niệm tương đương trong dịch thuật, và quan trọng hơn hết

là họ đều thống nhất có sự tương đương trong dịch thuật thuộc về một hình thức

cụ thể nào đó Và theo như tác giả Werner Koller [53] cũng đã chỉ ra dịch thuật không thể bảo đảm hoàn toàn công việc giữ gìn được toàn bộ những giá trị của

Trang 33

văn bản gốc mà đây sẽ là quá trình mà người dịch cần ưu ti n một sự lựa chọn nào đó Vì xét cho cùng, dịch thuật không phải là một môn khoa học chính xác

mà có thể xem đó là một sản phẩm trí tuệ Nên trong dịch thuật, nếu như có sự tồn tại của tương đương thì hiệu quả của nó chỉ có thể chấp nhận ở mức tương đối

Dịch thuật là việc truyền đạt ý nghĩa của một văn bản ngôn ngữ nguồn bằng một văn bản ngôn ngữ mục ti u tương đương Người dịch không được sáng tác ra văn bản mới mà chỉ tái hiện nội dung của văn bản nguồn bằng một ngôn ngữ khác, trên nguyên tắc bảo toàn nội dung Dịch thuật là không chỉ chuyển đổi giữa hai thứ tiếng, mà đó còn là sự trao đổi của hai nền văn hóa Văn hóa khác biệt để tạo ra một thế giới đầy màu sắc, mà còn để truyền thống dân tộc xuyên

văn hóa khác nhưng đồng thời cũng đặt ra đặt ra một rào cản “Theo Werner Koller, phương pháp dịch thuật là thái độ ứng xử của người dịch trên cơ sở chú

ý đến phương diện tiếp xúc ngôn ngữ và tiếp xúc văn hóa Xét về phương diện tiếp xúc văn hóa, ông phân biệt hai phương pháp dịch thuật, đó là phương pháp dịch thích nghi (cải biên) và phương pháp dịch mô phỏng văn hóa” [theo Lê Hoài Ân (2015), “Thủ pháp sao phỏng dựa trên cứ liệu một bản dịch văn học từ tiếng Đức sang tiếng Việt”, tr.8] Bàn về các phương pháp dịch, hai tác giả Jean- Paul Vinay và Jean Darbelnet [65] đã đưa ra 6 phương pháp là: 1) vay mượn (borrowing); 2) sao phỏng (calque); 3) dịch nguyên văn (literal); 4) chuyển đổi

từ loại (transposition); 5) biến điệu (modulation); 6) tương đương (equivalence); 7) dịch thoát (adaptation) Còn tác giả Peter Newmark [57] đã đưa ra 8 phương thức dịch như sau: 1) phương pháp dịch từ đối từ (word-for-word translation); 2) phương pháp dịch nguyên văn (literal translation); 3) phương pháp dịch trung thành (faithful translation); 4) phương pháp dịch ngữ nghĩa (semantic translation); 5) phương pháp dịch thích ứng (adaption); 6) phương pháp dịch tự

do (free translation); 7) phương pháp dịch đặc ngữ (idomatic translation); 8) phương pháp dịch giao tiếp (communicative translation) Tại Việt Nam, trong

Trang 34

quyển Dịch thuật: Từ lý thuyết đến thực hành, tác giả Nguy n Thượng Hùng [36]

đã tổng hợp lại các loại hình dịch khác nhau như: 1) dịch ngữ nghĩa; 2) dịch truyền đạt; 3) dịch từ đối từ; 4) dịch nguyên văn; 5) dịch phiên âm; 6) chuyển chữ và dịch sao phỏng; 7) dịch miêu tả; 8) dịch tự do hay dịch ý

Các nhà dịch thuật trên trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đều đưa ra những phương pháp dịch thuật khác nhau nhằm giúp người dịch từng trường hợp cụ thể mà áp dụng phương pháp thích hợp để có được một bản dịch tốt Nhưng tr n thực tế, dịch thuật không hề đơn giản, vì tồn tại nhiều yếu tố chồng chéo và tác động qua lại, các vấn đề liên quan giữa ngôn ngữ và văn hoá khó lòng có thể tách rời một cách độc lập và rõ ràng

1.5.Tổng quan về thuật ngữ CNTT

Trong những thập kỉ 80, 90 và đặc biệt là những năm cuối của thế kỷ

XX, cuộc cách mạng thông tin ở trên thế giới phát triển với một tốc độ vũ bão, còn thời điểm hiện tại, CNTT là nội dung, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, từng bước đưa đất nước tiến tới nền kinh tế tri thức CNTT ngày càng trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu trong công cuộc làm biến đổi xã hội, đồng thời, cũng có ảnh hưởng tới nhiều ngành nghề khác nhau của xã hội Không những thế, tại Việt Nam CNTT cũng đang trở thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp trực tiếp vào sự tăng trưởng GDP của quốc gia Trong cuộc sống, CNTT đã trở nên quen thuộc cũng như gắn liền với đời sống

xã hội của người dân Việt Nam Có thể khẳng định rằng, chúng ta đang sống trong một thời đại mới, thời đại phát triển rực rỡ của CNTT

CNTT có thể hiểu đơn giản là ngành sử dụng các phần mềm của máy tính và mạng Internet để tiến hành lưu trữ, khôi phục, truyền tải, và xử lí dữ liệu

[48] Theo trang mạng điện tử Vietnam Open Course Ware, CNTT là “tập hợp các ngành khoa học kĩ thuật nhằm giải quyết vấn đề xác định hệ thống thông tin, thu nhận thông tin, quản lí thông tin, xử lí thông tin, truyền thông tin và cung cấp thông tin Để giải quyết những vấn đề này, người ta đã nghiên cứu và đưa ra

Trang 35

hướng phát triển của CNTT gồm các nội dung như: đa dạng hoá thông tin, chính xác hoá thông tin, phát triển phần cứng và phần mềm hệ thống, phát triển kĩ thuật xử lí thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển mạng thông tin và kĩ thuật truyền tin, phát triển kĩ thuật thu nhận và cung cấp thông tin” [theo Trịnh

Thị Thu Hiền (2011), “Một số vấn đề về cấu trúc vĩ mô của Từ điển thuật ngữ

Công nghệ thông tin ở Việt Nam”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số

03.] Còn tại Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị

quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là

kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội ” [theo Trịnh Thị Thu Hiền (2011), “Một số

vấn đề về cấu trúc vĩ mô của Từ điển thuật ngữ Công nghệ thông tin ở Việt

Nam”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 03]

Hiện nay, ngành CNTT thường phân chia thành 5 chuyên ngành phổ biến: khoa học máy tính, kĩ thuật máy tính, hệ thống thông tin, mạng máy tính truyền thông, kĩ thuật phần mềm CNTT mang một ý nghĩa bao trùm rộng rãi, nó vừa là khoa học, vừa là công nghệ, vừa là kĩ thuật, vừa là tin học, vi n thông và

tự động hoá Chính vì thế, thuật ngữ CNTT đang hội nhập vào các lĩnh vực khoa học và đời sống con người Và khối lượng từ ngữ của nhiều ngôn ngữ trên thế giới nói chung và tiếng Việt nói riêng ngày càng tăng lên là một phần nhờ sự phát triển của thuật ngữ CNTT

Và các thuật ngữ CNTT được hiểu là các từ hay cụm từ được sử dụng phổ biến trong ngành CNTT, dùng để biểu hiện chính xác các khái niệm và biểu thị các đối tượng CNTT Và khi kể đến thuật ngữ CNTT ngoài các đặc điểm như tính chính xác, tính quốc tế, tính đơn nghĩa, tính hệ thống, có lẽ sẽ là một thiếu

sót nếu không nhắc đến triết lí “bình dân” trong thuật ngữ CNTT “Triết lý “ ình dân” ở đây có thể được hiểu một cách nôm na là các thuật ngữ sẽ được hình

Trang 36

thành từ những khái niệm, sự vật thông thường, bình dân, dễ hiểu, gần gũi với mọi người trong cuộc sống hàng ngày Còn đứng trên quan điểm ngôn ngữ học, thì triết lý “ ình dân” này sẽ được hiểu là các thuật ngữ được xây dựng bởi các thực từ (danh từ, động từ, tính từ) thuộc lớp từ cơ ản Trong ngôn ngữ học, lớp

từ cơ ản bao gồm những từ có tần suất xuất hiện cao nhất trong thực tế cuộc sống, như những từ chỉ về: quan hệ thân thuộc trong gia đình (cha mẹ, con cái, anh em, bạn è,…), những sự vật quen thuộc (các động vật thường gặp, các đồ vật thiết yếu trong đời sống xã hội,…),…”[4] Và triết lý này đã được thể hiện

khá rõ trong thuật ngữ CNTT tiếng Anh, một ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trong chuyên ngành này Và có lẽ triết lý “bình dân” cũng là một trong những nguyên nhân giúp cho tiếng Anh đã và đang trở nên phổ biến, chiếm ưu thế trong ngành CNTT Kiểm tra một vài thuật ngữ chuyên ngành này, chúng ta sẽ d dàng thấy được sự tồn tại của triết lý “bình dân” trong thuật ngữ CNTT tiếng Anh:

“Dùng các quan hệ thân thuộc trong gia đình, xã hội” [4], ví dụ:

“parent folder” (thư mục mẹ), “parent directory” (thư mục cha), “father file” (tệp tin cha), “mother board” (bản mạch mẹ/chính), “child class” (lớp con), “child object” (đối tượng con), “child domain” (vùng con) các thuật ngữ kể trên đã sử dụng các danh từ chỉ mối quan hệ thân thuộc trong gia đình như “parent” (cha mẹ), “father” (cha), “child” (con cái), “mother” (mẹ)…

“Dùng các từ ngắn gọn để gọi tên các hiện tượng, sự việc cần phải mô

tả dài dòng” [4]: trong tiếng Anh đã dùng thuật ngữ rất ngắn gọn là “orphan”

(mồ côi) để miêu tả cho hiện tượng dòng cuối của một đoạn cũ lại nằm ở đầu của trang mới và dùng thuật ngữ “widow” (góa phụ) để chỉ hiện tượng dòng đầu của

một đoạn mới lại nằm ở cuối của trang cũ “Chỉ cần một từ “mồ côi” đơn giản

để chỉ đến “sự ơ vơ một mình của đứa trẻ mồ côi khi cha mẹ, anh em ở bên kia” và khiến mọi người liên hệ ngay với hình ảnh trực quan “có dòng lẻ loi

Trang 37

phải nằm ở một trang mới trong khi toàn bộ các dòng khác của đoạn đó lại nằm trang cũ””[4]

“Các thuật ngữ mang tính thực dụng, không câu nệ” [4]: điều đó d

bắt gặp khi tên con vật được sử dụng trong thuật ngữ CNTT, ví dụ: “mouse” (con chuột), “mouse icon” (biểu tượng chuột), “bug” (con bọ)

“Cụm thuật ngữ danh từ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể” [43]: các từ chỉ

bộ phận cở thể thường dùng như: head (đầu), face (mặt), arm (cánh tay), hand (bàn tay), foot (bàn chân) , ví dụ: headphone (tai nghe), headset (tai nghe có kèm theo micrô), headline (dòng đầu), footnote (cước chú), handheld (thiết bị cầm tay), handset (ống điện thoại (cầm tay)), typeface (mặt chữ in), boldface (mặt chữ đậm), modern face (kiểu chữ hiện đại)

Mặc dù, các thuật ngữ CNTT tiếng Hoa lẫn tiếng Việtđa phần là tiếp nhận từ tiếng nước ngoài, mà chủ yếu là từ tiếng Anh nhưng “cái hồn” của triết

lý “bình dân” trong thuật ngữ chuyên ngành này vẫn lưu giữ phần nào trong cả hai ngôn ngữ trên, chính vì thế, thuật ngữ tiếng Hoa và tiếng Việt chuyên ngành này không những được mọi người d dàng chấp nhận mà còn được sử dụng ngày càng nhiều và phổ biến Ví dụ:

Tiếng Anh Ngh a tiếng Việt Ngh a tiếng Hoa

Mouse Con chuột 鼠标 (鼠: con chuột) Child class Lớp con 子类 (子: con)

Parent directory Thư mục cha 父目录 (父: cha)

Father file Tệp tin cha 父文件 (父: cha)

Daughter board Bảng mạch con 子板 (子: con)

Handwriting input Nhập bằng viết tay 手写输入 (手: tay)

Page footer Chân trang 页脚 (脚: chân)

Trang 38

Thế giới luôn phát triển liên tục không ngừng, luôn hướng tới những cái mới, cũng như cố gắng tạo ra nhiều tri thức mới để phục vụ cho cuộc sống con người Và những tác động của CNTT đối với xã hội loài người vô cùng to lớn, nó không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, mà còn kéo theo

sự biến đổi trong phương thức sáng tạo của cải, trong lối sống và tư duy của con người trong nền kinh tế tri thức, các quy trình sản xuất đều được tự động hoá CNTT không còn gói gọn trong một chuyên ngành nhất định, mà đã đến với từng người dân từ những nhà khoa học cho đến những học sinh tiểu học… Dường như không có lĩnh vực nào, không có nơi nào không có mặt của CNTT CNTT đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội con người

Đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, CNTT làm cho kho tri thức của nhân loại ngày càng phong phú đa dạng, con người có nhiều cơ hội tiếp xúc với nguồn tri thức đó một cách đơn giản hơn, nhanh chóng hơn và thậm chí có tính chọn lọc cũng như chủ động hơn trước Chính vì thế, đã

và đang ngày càng đẩy mạnh sự phát triển của nhiều ngành khoa học khác Chẳng hạn như, đối với hoạt động của ngành y tế, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng, đóng vai trò vai trọng trong quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lí, điều hành của cơ quan quản lí mà còn làm giảm thời gian khám bệnh, giúp cho bệnh nhân không phải chờ đợi lâu so với trước kia, vì vậy, đã giúp ích rất tốt cho công tác khám chữa bệnh ngày nay Hơn nữa, CNTT cũng có những đóng góp không nhỏ cho ngành giáo dục, CNTT thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp mọi người tiếp cận rất nhiều thông tin, thông tin đến từ nhiều nguồn khác nhau, tốc độ cập nhật rất nhanh, rút ngắn mọi khoảng cách, thu hẹp mọi không gian; từ đó, con người có khả năng phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức, trí tuệ và tư duy Thông qua đó, CNTT giúp tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao

Trang 39

Trong bài viết “Một số vấn đề tiếng Việt và công nghệ thông tin hiện nay”, các tác giả Nguy n Văn Lợi, Phạm Hùng Việt, Ngô Trung Việt đã chỉ

ra rằng “CNTT cũng cung cấp cho người nghiên cứu ngôn ngữ những phương pháp và phương tiện mới, hữu hiệu hơn CNTT cho phép người ta có thể bao quát khối lượng thông tin khổng lồ, điều mà bộ óc con người không làm nổi Ngôn ngữ thường được xem là hệ thống cấu trúc-chức năng phức tạp Với CNTT, nhà ngôn ngữ học có thể tiếp cận với ngôn ngữ cần nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, có thể khảo sát các yếu tố, quan hệ các yếu tố, trên từng cấp độ

và tất cả các cấp độ, trên các bình diện khác nhau, để từ đó tìm ra các quy luật của ngôn ngữ, hay những quan sát của từng nhà nghiên cứu riêng rẽ CNTT giúp cho nhà nghiên cứu có thể thu thập, lưu giữ, hệ thống hoá, xử lí khối lượng khổng lồ các thông tin (ngân hàng dữ liệu tiếng nói và chữ viết) về ngôn ngữ”

[37]

CNTT đã và đang đi vào cuộc sống sẽ lan toả đến mọi nơi, mọi lĩnh vực, và điều d nhận thấy rằng, máy tính đã có mặt ở khắp mọi nơi, b n cạnh đó việc kết nối mạng từ có dây đến không dây cũng đã trở nên d dàng và thuận tiện nhất cho tất cả mọi người dân CNTT xuất hiện đã tạo ra bước phát triển vượt bậc giúp ích cho đời sống xã hội và con người, nó đã ảnh hưởng to lớn tới tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, mở ra những chân trời mới, những khám phá sáng tạo mới cho con người Vì với sự phát triển vũ bão của CNTT như hiện nay, quốc gia nào, dân tộc nào nhanh chóng nắm bắt và làm chủ được CNTT thì sẽ khai thác được nhiều hơn, nhanh hơn, từ đó hỗ trợ hiệu quả cho quá trình hội nhập quốc tế, cũng như đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mình

Trang 40

1.6 Tiểu kết

Qua những phân tích trên, thuật ngữ có thể xem là một bộ phận không thể thiếu được trong vốn từ vựng của của mỗi ngôn ngữ Đồng thời, còn là bộ phận đóng vai trò quan trọng của mỗi ngành khoa học nói chung và ngành CNTT nói riêng Mà trong tiếng Hoa và tiếng Việt, thuật ngữ chuyên ngành này chủ yếu là các từ vay mượn của thuật ngữ tiếng nước ngoài thông qua các cách thức khác nhau Và dịch thuật hiểu một cách đơn giản là việc chuyển một chữ, một câu, một văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác mà không làm thay đổi nghĩa của chúng, là hoạt động liên quan đến hai ngôn ngữ trở lên Trong đó,

có các phương pháp dịch thuật phổ biến như: dịch nguyên văn, dịch phiên âm, dịch tự do Dựa trên nền tảng lí thuyết trong chương này là cơ sơ cần thiết để

có thể tiến hành triển khai những nội dung nghiên cứu ở các chương tiếp theo

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Từ điển Nxb. Khoa học & Kĩ thuật (2004), Từ điển công nghệ thông tin - điện tử - viễn thông Anh - Việt, Nxb. Khoa học & Kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển công nghệ thông tin - điện tử - viễn thông Anh - Việt
Tác giả: Ban Từ điển Nxb. Khoa học & Kĩ thuật
Nhà XB: Nxb. Khoa học & Kĩ thuật (2004)
Năm: 2004
2. Cao Văn Ninh (2008), “Nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo và nghĩa của thuật ngữ tin học tiếng Anh (so sánh với tiếng Việt)”, uận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo và nghĩa của thuật ngữ tin học tiếng Anh (so sánh với tiếng Việt)
Tác giả: Cao Văn Ninh
Năm: 2008
3. Cao Xuân Hạo (2005), “Bàn về dịch thuật”, Tạp chí Tia Sáng-Bộ khoa học và công nghệ, từ: http://vnn.vietnamnet.vn/vanhoa/chuyende/2006/01/533571/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về dịch thuật
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Năm: 2005
4. Đinh Điền (2003), “Triết lý bình dân trong thuật ngữ tin học tiếng Anh”, Tạp chí tin học Echip Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý bình dân trong thuật ngữ tin học tiếng Anh
Tác giả: Đinh Điền
Năm: 2003
5. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, Tập 2, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ, Tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1962
6. Hà Quang Năng (Chủ biên) (2010), Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỷ XX, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỷ XX
Tác giả: Hà Quang Năng (Chủ biên)
Nhà XB: NXB.Khoa học xã hội
Năm: 2010
7. Hà Quang Năng (2010), “Đặc điểm của thuật ngữ tiếng Việt”, Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 1, tr. 38-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của thuật ngữ tiếng Việt”, Tạp chí "Từ điển học & Bách khoa thư
Tác giả: Hà Quang Năng
Năm: 2010
9. Hoàng Văn Hành (1983), “Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, tr. 26-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt”, Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1983
10. Hoàng Xuân Hãn (1942), Danh từ khoa học, Khoa học tùng thư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ khoa học
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Năm: 1942
11. Lê Hoài Ân (2015), “Thủ pháp sao phỏng dựa trên cứ liệu một bản dịch văn học từ tiếng Đức sang tiếng Việt”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội:Nghiên cứu Nước ngoài, tập 31, số 2, tr.8-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ pháp sao phỏng dựa trên cứ liệu một bản dịch văn học từ tiếng Đức sang tiếng Việt”, Tạp chí "Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: "Nghiên cứu Nước ngoài
Tác giả: Lê Hoài Ân
Năm: 2015
12. Lê Hùng Tiến (2010), “Tương đương dịch thuật và tương đương trong dịch Anh Việt”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Ngoại ngữ số 26, tr.141-150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương đương dịch thuật và tương đương trong dịch Anh Việt”, Tạp chí "Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Lê Hùng Tiến
Năm: 2010
13. ưu Trọng Tuấn (2009), Dịch thuật văn bản khoa học, Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch thuật văn bản khoa học
Tác giả: ưu Trọng Tuấn
Nhà XB: Nxb. Khoa Học Xã Hội
Năm: 2009
14. ưu Văn Lăng (1977), Về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học
Tác giả: ưu Văn Lăng
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1977
15. ý Sương (2015), “So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại Việt- Trung”, uận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại Việt-Trung
Tác giả: ý Sương
Năm: 2015
16. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1997
17. Mai Thị Loan (2011), “Thống nhất các yêu cầu của một thuật ngữ chuẩn”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Ngoại ngữ số 27, tr.53-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống nhất các yêu cầu của một thuật ngữ chuẩn”, Tạp chí "Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Mai Thị Loan
Năm: 2011
18. Mai Thị Loan (2011), “Về những con đường tạo ra thuật ngữ - Luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt”, tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống , số 1và 2, tr.22-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những con đường tạo ra thuật ngữ - Luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt”, tạp chí "Ngôn ngữ & Đời sống
Tác giả: Mai Thị Loan
Năm: 2011
19. Munday Jeremy (2009), Nhập môn nghiên cứu dịch thuật: lý thuyết và Ứng dụng (Trịnh Lữ dịch), Nxb. Trí Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn nghiên cứu dịch thuật: lý thuyết và Ứng dụng (Trịnh Lữ dịch)
Tác giả: Munday Jeremy
Nhà XB: Nxb. Trí Thức
Năm: 2009
20. Ngô Phi Hùng (2014), “Nghi n cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng việt (tr n tư liệu thuật ngữ toán - cơ - tin học, vật lí)”, uận văn Tiến sĩ, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi n cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng việt (tr n tư liệu thuật ngữ toán - cơ - tin học, vật lí)
Tác giả: Ngô Phi Hùng
Năm: 2014
21. Nguy n Ái và nhiều tác giả (2000), Từ điển công nghệ thông tin điện tử viễn thông Anh-Việt, Nxb. Khoa Học Kỹ Thuật, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển công nghệ thông tin điện tử viễn thông Anh-Việt
Tác giả: Nguy n Ái và nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Khoa Học Kỹ Thuật
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w