TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Đề tài : “Sự chuẩn bị của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cho nghề nghiệp tương lai trong thời kì hội nhập Cộng đồng Kin
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người thực hiện:
Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Thảo, Xã hội học, 2014-2018
Thành viên: Phạm Giao Tiểu Ái, Xã hội học, 2014-2018
GVHD: TS Nguyễn Thị Hồng Xoan
Lĩnh vực chuyên môn: Xã hội học Đơn vị công tác: Khoa Xã hội học, KHXH&NV HCM
Hồ Chí Minh, tháng 4 – năm 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
- Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, Nhóm nghiên cứu xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa
Xã Hội Học – Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian làm nghiên cứu tại trường
- Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Hồng Xoan đã tận tâm hướng dẫn Nhóm nghiên cứu qua những buổi thảo luận, góp ý về lĩnh vực chuyên môn trong nghiên cứu khoa học
- Với nền kiến thức còn hạn chế, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô
để kiến thức của Nhóm nghiên cứu trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Trang 3DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
AEC: Cộng đồng Kinh tế ASEAN
ĐHKHXHNV – ĐHQGHCM: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia
Hồ Chí Minh
SV: Sinh viên
Trang 4TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Đề tài : “Sự chuẩn bị của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cho nghề nghiệp tương lai trong thời kì hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2015” hướng đến tìm hiểu sự chuẩn bị các kĩ năng, kiến thức của sinh viên cho nghề nghiệp tương lai trong thời kì hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN như thế nào Qua đó, giúp sinh viên có thái độ học tập đúng đắn và phù hợp
Với đề tài trên, nhóm nghiên cứu dùng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm tìm hiểu về sự chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai của sinh viên trong thời kì hội nhập Cộng đồng Kinh tế Asean 2015 Bên cạnh đó, tìm ra một số yếu tố tác động đến mức độ chuẩn bị của sinh viên
Qua quá trình nghiên cứu có thể thấy thực trạng hiểu biết và quan tâm của sinh viên vẫn còn mơ hồ Bên cạnh đó, sinh viên có chọn lọc các yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của mình sau khi hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN, nhưng hầu hết bản thân sinh viên vẫn chưa có sự chuẩn bị tốt những yếu tố để sẵn sàng cho việc cạnh tranh việc làm trong quá trình hội nhập Từ những kết quả nghiên cứu trên, nhóm đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên đối với quá trình hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Từ khóa : Cộng đồng kinh tế ASEAN; việc làm sinh viên; Cơ hội và thách thức đối với Cộng đồng kinh tế ASEAN
Trang 5Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4
2.1 Các nghiên cứu về cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập AEC 4
2.2 Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam đối với AEC 6
2.3 Đánh giá chung 7
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 8
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 9
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 9
6 Phương pháp nghiên cứu 10
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu 10
6.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý dữ liệu 10
7 Cấu trúc của đề tài 14
8 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 15
9 Lý thuyết áp dụng 15
9.1.Thuyết hành động xã hội 15
9.2.Thuyết hành động xã hội 17
9.3 Khung phân tích 119
10 Giả thuyết nghiên cứu 119
11 Vài nét về AEC 19
PHẦN NỘI DUNG 25
CHƯƠNG I.TÌM HIỂU MỘT VÀI HIỂU BIẾT CỦA SINH VIÊN VỀ AEC 26
1 Sự tham gia vào các chương trình liên quan đến AEC 26
1.1 Ngành học 26
1.2 Năm học 27
2 Sự hiểu biết của sinh viên về một số kiến thức về AEC 28
Trang 63 Nhận định của sinh viên về sự lồng ghép nội dung AEC trong chương trình đào tạo
……….32
3.1 Năm học 32
3.2 Ngành học 33
4 Sự lo lắng của sinh viên khi Việt Nam tham gia AEC 33
CHƯƠNG II SỰ CHUẨN BỊ CỦA SINH VIÊN CHO NGHỀ NGHIỆP 35
KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP AEC 35
CHƯƠNG II MỘT SỐ YẾU TỐ TAC ĐỘNG 35
1 Ngành học 42
2 Niên khóa học 43
3 Mức độ lo lắng khi Việt Nam tham gia AEC 44
4 Học lực 45
5 Điều kiện sống 45
6 Khu vực sống 46
7 Việc đi làm thêm 46
8 Mong muốn của sinh viên 46
KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ 48
1.Kết luận 49
2.Khuyến nghị 49
2.1 Đẩy mạnh phổ biến hiểu biết về AEC đến phụ huynh và giáo viên bậc phổ thông 50 2.2 Củng cố mục đích, động cơ cho sự chuẩn bị nghề nghiệp hội nhập AEC 50
2.3 Tổ chức nhiều hoạt động tìm hiểu về AEC 50
2.4 Chuẩn hóa chất lượng đào tạo đại học theo tiêu chí AUN-QA 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Khoa bộ môn (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề tài) 11
Biểu đồ 2 Tỷ lệ nam nữ (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề tài) 11
Biểu đồ 3 Niên khóa (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề tài) 12
Biểu đồ 4 Điều kiện gia đình (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề tài) 13
Biểu đồ 5 Nơi sinh sống (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề tài) 13
Biểu đồ 6 Sinh viên làm thêm (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề tài) 13
Biểu đồ 7 Học lực trung bình học kỳ gần nhất 14
Biểu đồ 8 Nghe nói về AEC 28
Biểu đồ 9 Sự hiểu biết về AEC 29
Biểu đồ 10 Nguồn thông tin 31
Biểu đồ 11 Sự chuẩn bị của sinh viên về một số kỹ năng 35
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 91 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 31/12/2015 cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức hoạt động với mục tiêu tạo ra một khu vực kinh tế thịnh vượng, ổn định và có tính cạnh tranh cao Đây sẽ là thị trường có quy mô dân số lớn thứ 3 trên thế giới với hơn 600 triệu người, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ Việc hội nhập AEC đem lại cơ hội phát triển kinh kế đồng thời cũng mang lại rủi ro, thách thức cho các nước thành viên Trước bối cảnh đó, Việt Nam hội nhập AEC không chỉ là một cơ hội tốt thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn góp phần nâng cao vị thế quốc gia, tạo tiền đề quan trọng cho việc hội nhập về văn hóa, chính trị, xã hội với các nước trong khu vực
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội sau 30 năm đổi mới với sự cải cách toàn diện nền kinh tế và chủ động đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, giữa Việt Nam và các nước ASEAN còn có sự chênh lệch về trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh Tính theo GDP bình quân đầu người, Việt Nam chỉ cao hơn Lào, Campuchia và Myanmar, và thấp hơn nhiều so với Singapore (Võ Trí Thành 2015a) Chỉ số phát triển con người (HDI) cũng có
sự khác biệt lớn giữa Việt Nam và các nước ASEAN Theo bảng xếp hạng của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc năm 2013, Việt Nam xếp hạng 121, cao hơn Lào (139), Campuchia (136), Myanma (150) nhưng thấp hơn nhiều so với Singapore (9), Brunei (30) và Malaysia (62) [UNDP 2014] Để hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả, đóng góp chung vào xây dựng AEC, Việt Nam và các nước ASEAN cần có những điều chỉnh phù hợp để thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh hiệu quả hơn
Có thể nói, nguồn lực lao động trẻ đặc biệt là bộ phận sinh viên đóng vai trò vô cùng quan trọng Hằng năm, có khoảng 1,2 - 1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động Năm 2008, số thanh niên hoạt động kinh tế của cả nước hơn 16 triệu người chiếm 38,7% lực lượng lao động xã hội; năm 2009, số thanh niên hoạt động kinh tế tăng lên gần 18 triệu người 36,6% lực lượng lao động xã hội; năm 2010
Trang 10con số đó là 17,1 triệu người, chiếm 33,7% lực lượng lao động xã hội)1 Có thể nói, nguồn lực và tiềm lực của thanh niên là rất lớn
Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên hiện nay ngày càng tăng Tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi lao động thiếu việc làm tăng từ 3% năm 2008 lên 5,6% năm 2009 và 4,1% năm 2010 Trong đó, khu vực thành thị là 2%, khu vực nông thôn là 4,9% Tình trạng thất nghiệp cũng có xu hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu ở nhóm thanh niên đô thị Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chiếm 4,2% năm 2008, 4,1% năm 2009 và tăng lên 5,2% năm 2010, trong đó ở khu vực đô thị là 7,8%, cao gần gấp hai lần khu vực nông thôn (4,3%) Số đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp ở nhóm thanh niên cũng chiếm tỷ lệ khá cao Trong số những người hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng, số người ở độ tuổi dưới 24 là 12.275 người (chiếm 24,5%); từ 25 - 40 tuổi là 31.366 người (chiếm 62,7%); trên 40 tuổi là 6.416 người (chiếm 12,8%)2 Lực lượng lao động là thanh niên có trình độ trình độ cao đẳng, đại học tăng nhanh từ 5,5% năm 2008 lên 7,8% năm 2009 và 8,7% năm 2010 Mỗi năm có từ 70 đến 80 nghìn sinh viên hệ cao đẳng và 143 đến 160 nghìn sinh viên đại học tốt nghiệp, bổ sung cho lực lượng lao động xã hội(3) Như vậy, lực lượng lao động là thanh niên được đào tạo ngày càng tăng lên, nhưng tỷ lệ vẫn rất thấp so với tổng số lao động thanh niên (chưa đến 10%)
Xu thế hội nhập toàn cầu hóa khiến lao động nước ngoài (đặc biệt là lao động có kỹ thuật, trình độ quản lý,…) tham gia vào thị trường lao động Việt Nam nhiều hơn, cạnh tranh về lao động trình độ cao ngày càng gay gắt Do vậy, sinh viên Việt Nam ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn thì các yêu cầu khác
về chất lượng nguồn nhân lực đang được đặt ra Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và văn hóa ứng xử công nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ
Trang 11quốc tế,… Điều này đòi hỏi sinh viên phải nhanh chóng học tập những cái mới những cũng cần phải loại bỏ những yếu tố không phù hợp
Bên cạnh đó, nhận thức của nhiều sinh viên về hội nhập quốc tế còn đơn giản, thiếu toàn diện Phó thủ tướng, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã nói tại buổi tọa đàm “Hội nhập quốc tế về một số vấn đề đặt ra đối với nước ta từ 2015” rằng thực tế VN đã sống trong cộng đồng AEC từ nhiều năm qua, tuy nhiên người dân chưa nắm và hiểu rõ quá trình mà VN đã thực hiện Theo Phó thủ tướng, so với các nước trong khu vực, tỉ lệ người dân VN hiểu rõ những lợi ích đem lại từ AEC còn rất thấp, khoảng 60-70% người được hỏi không hiểu về AEC
Sự chuẩn bị của mỗi cá nhân góp phần quan trọng trong việc tìm nghề nghiệp tương lai Điều đó không những chỉ có ý nghĩa đối với bản thân sinh viên
ấy mà còn có ý nghĩa đến phát triển nguồn nhân lực cho cả nước Thông thường sự chuẩn bị khi còn ngồi trên giảng đường là quan trọng và rèn luyện trong thời gian dài Từ những thực tế trên, đề tài tiến hành nghiên cứu sự chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai của SV ĐH KHXH&NV TPHCM, phân tích một vài hiểu biết của sinh viên về AEC, tìm hiểu về sự chuẩn bị của sinh viên cho nghề nghiệp tương lai trước sự hội nhập của Việt Nam vào AEC và một số yếu tố tác động đến
sự chuẩn bị của sinh viên
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Việt Nam gia nhập AEC chính thức vào ngày 31/12/2015 nhưng việc định hướng hình thành AEC đã được thông qua từ 12/1997 Từ thời điểm này, vấn đề
về AEC đã bắt đầu thu hút nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các tổ chức nghiên cứu của các nước trên nhiều lĩnh vực khoa học quan tâm Các công trình có thể tạm phân thành hai chủ đề:
2.1 Các nghiên cứu về cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập
AEC
Về cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập AEC thì có những nghiên cứu sau: “Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN và những tác động đến
Trang 12thương mại quốc tế của Việt Nam” của Hà Văn Hội đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 4 (2013) , ngày 23/12/2013 cho thấy tác động tích cực và tiêu cực của AEC đối với thương mại Việt Nam.Tác động tích cực gồm: Thứ nhất, tham gia AEC sẽ giúp Việt Nam tăng thêm khối lượng trao đổi thương mại với các nước trong khu vực Thứ hai, tác động của AEC tới tăng trưởng xuất khẩu Thứ ba, tham gia AEC sẽ tác động tới việc thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo chiều hướng tích cực Thứ tư, tham gia AEC sẽ tác động tích cực tới việc mở rộng thị phần của hàng hóa Việt Nam trên các thị trường
có liên quan, thể hiện rõ nhất là tại các nước ASEAN, Hàn Quốc và Nhật Bản Thứ năm, tham gia AEC sẽ gia tăng năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu Việt Nam Tác động tiêu cực gồm: Thứ nhất, với việc đẩy mạnh tự do hóa thương mại nội khối, hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các quốc gia thành viên AEC
sẽ dần xóa bỏ Thứ hai, các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sẽ phải đối mặt với
sự cạnh tranh của hàng hóa các nước khác trên thị trường ASEAN Thứ ba, thuận lợi hóa thương mại trong AEC sẽ tạo ra sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu đối với các sản phẩm, ngành hay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ngay tại thị trường Việt Nam Hiện nay, tại các thành phố lớn của Việt Nam như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, các sản phẩm có nguồn gốc từ ASEAN xuất hiện ngày càng nhiều
Bên cạnh đó, có những bài viết về AEC cũng được đăng trên trang web của
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), cụ thể là bài viết : “Thiếu kỹ năng và hiểu biết
về cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 – mối lo ngại lớn của doanh nghiệp”.Trong
đó, đề cập một xu hướng đáng chú ý là tốc độ tăng của năng suất lao động giảm đi tại Việt Nam Một cuộc khảo sát về nhu cầu về kỹ năng với hơn 200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch ở khu vực miền trung Việt Nam, tất cả chủ lao động đều cho rằng sinh viên tốt nghiệp các trường dạy nghề không đáp ứng được yêu cầu của họ Nguyên nhân là vì thiếu sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo
Trang 13Báo cáo “Cộng đồng ASEAN 2015 : quản lý hội nhập hướng tới việc làm tốt hơn và thịnh vượng chung” do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) thực hiện, nghiên cứu tác động của AEC đối với các thị trường lao động bằng cách mô phỏng những mô hình kinh tế
2.2 Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam đối với AEC
Ngoài việc nghiên cứu về các cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp như bài báo cáo “Con đường đến Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2015: Những thách thức và cơ hội đối với các doanh nghiệp”, một số công trình khác cũng viết về vấn
đề này nhưng đi theo hướng khác như nhận xét đánh giá về nguồn nhân lực, điển hình như: Hội thảo khoa học “Cộng đồng kinh tế ASEAN Cơ hội và thách chức cho thị trường lao động TP.HCM” do Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM tổ chức ngày 25/8, Trung tâm WTO – VCCI, cũng đã có bài “Đánh giá nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia AEC” đăng vào ngày 2/7/2015 hay bài viết “Chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam” của ThS Hà Huy Ngọc,
Dù là vấn đề doanh nghiệp hay nhân lực thì cả hai hướng đều nhìn nhận thực trạng các nhân tố để phát triển kinh tế của Việt Nam còn quá nhiều hạn chế
Hội thảo “Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách chức cho thị trường lao động TP.HCM” của TS Trần Văn Thận đưa ra những mặt yếu kém của nguồn nhân lực nước ta rất rõ ràng, cụ thế để người đọc dễ dàng nắm bắt những thông tin cốt lõi Bên cạnh đó bài “Đánh giá nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia AEC” đăng vào ngày 2/7/2015 đánh giá khách quan hơn về ưu khuyết điểm của lao động Việt Nam so với Hội thảo khoa học “Cộng đồng kinh tế ASEAN Cơ hội và thách chức cho thị trường lao động TP.HCM”
Cả hai bài viết đều nhìn thẳng vào thực trạng trình độ lao động của Việt Nam, không trốn tránh việc nguồn nhân lực nước ta còn quá yếu kém về nhiều mặt Song chỉ dừng lại ở mức độ khái quát mà không đi sâu vào các mặt yếu kém
đó là gì? Tại sao lại yếu kém? Cả hai bài viết đều nhìn nhận đúng đắn vấn đề nhưng lại không nêu ra được yếu kém như thế nào, so với khu vực thì trình độ nguồn nhân lực của nước ta xếp thứ mấy, để giải quyết có hiệu quả thì hướng giải
Trang 14quyết đi theo hướng ra sao Do đó cả hai bài đều chỉ dừng lại ở mức là báo cáo tình hình, nhận xét và đưa ra hướng giải quyết trước mắt
Mặt khác bài viết: “Chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam“ của ThS Hà Huy Ngọc cũng bàn về vấn đề này, tuy nhiên bài viết đã bổ sung được những mặt hạn chế của hai bài viết trên Những số liệu cụ thể giúp bài viết có mức độ tin cậy cao hơn, đồng thời nhấn mạnh được những mặt hạn chế của nguồn nhân lực Việt Nam, giúp người đọc có ấn tượng mạnh về các luận điểm, lý luận mà tác giả đưa
ra Tuy nhiên, bài viết này chỉ đưa ra các thực trạng mà lại không đề xuất các khuyến nghị và hướng giải quyết cho từng vấn đề mình đưa ra
Các bài viết về cơ hội, thách thức của AEC đối với Việt Nam cùng với những bài về thực trạng nguồn nhân lực đều cho thấy thực trạng về trình độ lao động của nước ta còn quá thấp Song mỗi tác giả với góc nhìn khác nhau sẽ có những nhận xét, đánh giá của riêng mình nhưng chúng sẽ bổ sung cho nhau Từ đó làm đa dạng hơn các công trình nghiên cứu về đề tài này Nhìn về các nhà doanh nghiệp thì chúng ta vẫn còn nhiều mặt hạn chế, nhìn về nguồn nhân lực chúng ta cũng còn tồn tại quá nhiều khó khăn, các công trình cho ta cái nhìn hoàn thiện hơn
về thực trạng các yếu tố xã hội của Việt Nam khi hội nhập ASEAN
Nhìn chung các bài viết đều phản ánh đúng hiện thực, nhưng hầu hết đều chỉ tập trung vào khía cạnh kinh tế như: doanh nghiệp, nguồn nhân lực, thị trường, lao động mà không đi sâu tìm hiểu sinh viên _ nguồn nhân lực có triển vọng nhất Đa số các bài nghiên cứu chỉ quan tâm về các vấn đề của sinh viên hiện nay như: sống ảo, sống thử, vô cảm, thiếu kỹ năng sống, lười đọc, vô lễ mà chưa nói nhiều về mức độ quan tâm của sinh viên đến các vấn đề xã hội, đặc biệt là việc hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) hiện nay Do đó nhóm chúng tôi tiến hành
đề tài “Mức độ quan tâm của sinh viên trường ĐHKHXH&NV về cơ hội việc làm trong thời kì hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015” nhằm góp thêm một cách nhìn khác cho các công trình nghiên cứu về vấn đề này
Trang 152.3 Đánh giá chung
Các bài viết, các cuộc nghiên cứu trên đây cho thấy cái nhìn tổng quan về
sự hình thành AEC, chỉ rõ các cơ hội, thách thức cũng như đánh giá một cách rõ ràng về nguồn nhân lực khi Việt Nam hội nhập AEC Nhìn chung các bài viết đều phản ánh đúng hiện thực, nhưng hầu hết đều chỉ tập trung vào khía cạnh kinh tế như: doanh nghiệp, nguồn nhân lực, thị trường, lao động Khách thể nghiên cứu của các công trình tập trung vào người lao động nói chung và các doanh nghiệp, doanh nhân mà chưa có nghiên cứu cụ thể đối với sinh viên, nguồn nhân lực có triển vọng nhất
Đa số các bài nghiên cứu chỉ quan tâm về các vấn đề của sinh viên hiện nay như: sống ảo, sống thử, vô cảm, thiếu kỹ năng sống, lười đọc, vô lễ mà chưa nói nhiều về mức độ quan tâm của sinh viên đến các vấn đề xã hội, đặc biệt là việc hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) hiện nay Do đó nhóm chúng tôi tiến hành
đề tài “Mức độ quan tâm của sinh viên trường ĐHKHXH&NV về cơ hội việc làm trong thời kì hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015” nhằm góp thêm một cách nhìn khác cho các công trình nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu nhằm nhận diện những khó khăn, thách thức mà sinh viên đang phải đối mặt trong bối cảnh Việt Nam hội nhập AEC, đồng thời tìm hiểu sự chuẩn
bị của sinh viên KHXHNVHCM cho nghề nghiệp tương lai
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Với đề tài “Sự chuẩn bị của SV ĐH KHXHNVHCM cho nghề nghiệp tương lai trong thời kì hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN”, nhóm nghiên cứu tập trung làm rõ 3 mục tiêu chính sau:
- Tìm hiểu một vài hiểu biết của sinh viên về AEC
- Tìm hiểu về sự chuẩn bị của sinh viên cho nghề nghiệp tương lai trước sự hội nhập của Việt Nam vào AEC
- Tìm hiểu một số yếu tố tác động đến sự chuẩn bị của sinh viên
Trang 164 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm làm rõ sự chuẩn bị của sinh viên cho nghề nghiệp tương lai trong thời kì hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015
4.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể mà đề tài hướng đến là sinh viên trường ĐH KHXHNV- ĐHQGHCM Nhóm nghiên cứu nhắm đến các khoa/bộ môn chịu nhiều tác động bởi quá trình hội nhập AEC nhất Trong tổng số 27 khoa/bộ môn đang đào tạo tại trường, khoa Du lịch, Đông phương và Quan hệ quốc tế là những ngành mang tính đặc thù, đóng vai trò tích cực trong việc đào tạo nhân lực cho cả nước và hướng tới hội nhập thị trường khu vực ASEAN, cung ứng nguồn nhân lực trình độ cao và có bản sắc riêng, đòi hỏi sinh viên sẵn sàng hoà nhập với cộng đồng khu vực Đông Nam Á nói riêng và quốc tế nói chung Bên cạnh đó, một số khoa/bộ môn khác cũng chịu ảnh hưởng lớn từ quá trình hội nhập, tuy nhiên, vì nguồn lực còn hạn chế, đề tài chỉ nghiên cứu thử trên 3 khoa đã nêu với mong muốn thực hiện nghiên cứu mang tính phát hiện vấn đề là chủ yếu
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát tại trường ĐHKHXHNV-
ĐHQGHCM
Thời gian: năm học 2016 – 2017
Phạm vi nghiên cứu là sinh viên đại học chính quy thuộc 3 khối ngành Du lịch, Đông phương và Quan hệ quốc tế của trường ĐHKHXHNV – ĐHQGHCM
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Trang 17giáo dục phù hợp giúp nâng cao cơ hội việc làm của sinh viên trong trường cũng như sinh viên Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với phương pháp định tính Phương pháp nghiên cứu định lượng có kết quả là những con số phản ánh những đặc trưng cần nghiên cứu của tổng thể, cho cái nhìn chung, bao quát về toàn bộ đối tượng nghiên cứu Qua đó giúp nhóm tác giả đưa ra những bằng chứng chứng minh và kiểm nghiệm lại các giả thuyết Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu định tính nhằm giúp hiểu sâu về đặc tính, tính chất, bản chất của đối tượng nghiên cứu Để giải thích sự chuẩn bị khác nhau giữa các nhóm sinh viên thì không chỉ tìm hiểu những yếu tố tác động từ bên ngoài qua tỷ lệ, qua con số mà phải tìm hiểu cả những yếu tố bên trong khách thể nghiên cứu là sinh viên để có cách lý giải xác đáng Chính vì vậy, trong đề tài này, nhóm tác giả đã có sự kết hợp cả hai phương pháp trên
6.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý dữ liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập, tổng hợp từ các nguồn tài liệu, tư liệu khác nhau như tạp chí chuyên ngành Số liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn theo bảng hỏi 158 SV ĐH KHXH&NV và phỏng vấn sâu 3 trường hợp
Đối với phương pháp định lượng, nghiên cứu này sử dụng công cụ thu thập thông tin bằng bảng hỏi được thực hiện cho các nội dung về sự am hiểu, quan tâm, nhận thức và sự chuẩn bị của sinh viên cho nghề nghiệp tương lai, đồng thời có những câu hỏi về nhân khẩu đề cho thấy sự tác động từ các yếu tố đến sự chuẩn bị của sinh viên Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, cụ thể là mẫu chỉ tiêu Qua nhận thực một cách chủ quan của nhóm tác giả về mức độ chịu tác động của các khoa mạnh nhất từ việc hội nhập của Việt Nam vào AEC, chọn ra 3 Khoa là Du lịch, Đông phương và Quan hệ quốc tế Sau đó, dựa trên lịch học của các khoa, tiến hành đến và thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi
Trang 18Nhóm nghiên cứu đã khảo sát 158 sinh viên, bao gồm các sinh viên thuộc 3 khoa/bộ môn: Du lịch 23%, Đông phương học 45%, Quan hệ quốc tế 32% Trong
số đó có 22,8% sinh viên nam và 77,2% sinh viên nữ Tỷ lệ nam nữ không đồng đều là đặc điểm nổi bật của sinh viên trường ĐH KHXH&NV và duy trì trong nhiều năm qua Trong các năm học, sinh viên năm 4 chiếm số lượng nhiều nhất là 34%, sinh viên năm nhất, năm hai và năm ba có số lượng trả lời gần bằng nhau lần lượt là 21%, 23% và 22% sinh viên
Biểu đồ 1 Khoa bộ môn (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề tài)
Biểu đồ 2 Tỷ lệ nam nữ (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề tài)
Để lý giải các yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên trong việc chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai thời kì hội nhập AEC, Nhóm nghiên
23%
45%
Đông phương Quan hệ quốc tế
Nam, 22.8
Nữ, 77.2
Trang 19cứu đã khảo sát một số đặc điểm nhân khẩu như: điều kiện gia đình, khu vực sống,
đi làm thêm hay không và học lực trung bình của sinh viên Trong nghiên cứu này,
tỷ lệ sinh viên có điều kiện gia đình trung bình (do SV tự đánh giá) chiếm tỷ lệ cao nhất 70%, đứng nhì là mức khá chiếm tỷ lệ 23% và thấp nhất là mức nghèo chiếm 7% Nhìn chung, sinh viên có điều kiện gia đình khá tương đồng, hầu hết đều trên mức trung bình Một bộ phận lớn sinh viên đến từ các vùng nông thôn, chiếm 54% Số lượng sinh viên sinh sống ở nông thôn và thành thị không chênh lệch quá lớn Số lượng sinh viên làm thêm và không làm thêm không có nhiều sự khác biệt
Số sinh viên làm thêm chiếm 46% và số sinh viên không làm thêm chiếm 54% Nhìn vào kết quả học lực trung bình học kỳ vừa qua, ta thấy học lực của sinh viên rất đa dạng từ trung bình khá đến khá và giỏi- xuất sắc Trong đó, số sinh viên có học lực khá chiếm tỷ lệ cao nhất 56%, thứ nhì là số sinh viên có học lực trung bình khá, chiếm 30% và thấp nhất là sinh viên có học lực giỏi- xuất sắc 14%
Biểu đồ 3 Niên khóa (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề tài)
Trang 20Biểu đồ 4 Điều kiện gia đình (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề
tài)
Biểu đồ 5 Nơi sinh sống (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của đề tài)
Biểu đồ 6 Sinh viên làm thêm (Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích của
Trang 21Biểu đồ 7 Học lực trung bình học kỳ gần nhất (Nguồn: Số liệu điều tra và
phân tích của đề tài)
Đồng thời, phương pháp định tính cho phép sử dụng công cụ phỏng vấn sâu thông qua các câu hỏi tập trung vào việc tìm hiểu các yếu tố tác động, mức độ ảnh hưởng, những lý giải từ chính những câu hỏi trong phương pháp định lượng Phỏng vấn sâu đối với 3 sinh viên, trong đó có 2 sinh viên là năm thứ nhất và năm thứ 4 thuộc khoa Đông phương và một sinh viên năm 3 thuộc khoa Quan hệ quốc
tế
Phương pháp xử lý dữ liệu được sử dụng chủ yếu là phần mềm SPSS kết hợp với Excel để thống kê mô tả, bảng phối hợp 2 biến và vẽ biểu đồ
7 Cấu trúc của đề tài
Cấu trúc đề tài gồm 3 chương Nội dung mỗi chương nhằm làm sáng tỏ các mục tiêu ban đầu đặt ra Đầu tiên, chương 1 tìm hiểu một vài hiểu biết của sinh viên về AEC thông qua việc đo lường sự tham gia của sinh viên vào các chương trình về AEC, sự lồng ghép các nội dung về AEC trong chương trình đào tạo và mức độ lo lắng khi Việt Nam hội nhập AEC Đây là cơ sở hình thành bức tranh tổng quát về thực trạng quan tâm đến quá trình hội nhập AEC của VN ở SV
Kế đến, nội dung chương 2 nhằm tìm hiểu về sự chuẩn bị của sinh viên cho nghề nghiệp tương lai trước sự hội nhập của Việt Nam vào AEC Sự chuẩn bị này
do sinh viên tự đánh giá lần lượt về kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng mềm và kỹ năng chuyên môn của bản thân và đã có những trang như thế nào để gia nhập thị trường lao động trong khu vực Đông Nam Á
Từ những phát hiện thực trạng ở chương 1 và chương 2, chương 3 chỉ ra một
số yếu tố có tác động đến sự chuẩn bị của sinh viên từ đó giúp người đọc hiểu
30%
56%
14%
Trung bình khá Khá
Giỏi và xuất sắc
Trang 22được các đặc điểm như ngành học, niên khóa, học lực, khu vực sống có ảnh hưởng
gì đến hiểu biết và sự chuẩn bị của SV
Ngoài ra, dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đưa ra những kết luận ban đầu và đề xuất một số kiến nghị mang tính tham khảo
8 Hạn chế của đề tài nghiên cứu
Mặc dù đã cố gắng thực hiện thật trọn vẹn nhưng đề tài vẫn còn nhiều thiếu sót xuất phát từ các yếu tố khách quan và chủ quan Do nguồn lực và tài lực có hạn nên nghiên cứu chỉ thực hiện tại 3 khoa/bộ môn của trường ĐHKHXHNV-ĐHQGHCM với mục tiêu nghiên cứu phát hiện vấn đề, làm cơ sở cho những nghiên cứu lớn hơn sau này, chưa khái quát được cho toàn bộ sinh viên nói chung
9 Lý thuyết áp dụng
9.1 Thuyết hành động xã hội
Hành động xã hội là một bộ phận cấu thành trong hoạt động sống của cá nhân Các
cá nhân hành động chính là thể hiện hoạt động sống của mình Hành động xã hội luôn gắn với tính tích cực của các cá nhân, bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị của chủ thể hành động
Khái niệm hành động xã hội được coi là hoàn chỉnh nhất là định nghĩa của nhà xã hội học người Đức Max Weber (1864-1920): “Hành động xã hội là một hành vi mà chủ thể gán cho một ý nghĩa chủ quan nhất định” Như vậy, hành động bao giờ cũng có động
cơ nhất định Nhưng không phải hành động nào cũng là hành động xã hội
Hành động luôn được xác định bởi những động cơ đằng sau nó, người ta thực hiện hành động khi muốn một cái gì đó, để đạt một cái gì đó
Một số kết quả nghiên cứu rút ra từ đề tài có thể được lý giải theo lý thuyết hành động xã hội Số liệu điều tra và phỏng vấn chỉ ra rằng phần đông sinh viên có sự chuẩn bị cho việc hội nhập AEC ở mức trung bình và tốt (trên 50%) Trong bối cảnh nước ta đang trong gia đoạn hội nhập vào nền kinh tế khu vực, cơ hội việc làm được mở rộng tuy nhiên
đi cùng với nó là sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nước trong khu vực Hành động chuẩn bị này xuất phát từ nhu cầu có được việc làm tốt sau khi tốt nghiệp đại học, phù hợp với sở
Trang 23thích, năng lực, mức thu nhập cao, môi trường làm việc năng động, thích ứng tốt với quá trình hội nhập kinh tế
Công thức hành động xã hội: Hoàn cảnh tác động tới cá nhân nhưng cá nhân trước khi hành động suy nghĩ về những nhu cầu, những động cơ của mình về hành động đó, Từ
đó sẽ tính toán những phương cách thực hiện các mục tiêu (Trần Thị Kim Xuyến, Nguyễn Thị Hồng Xoan, 2007)
Tương tự, khi xu hướng toàn cầu hóa tác động đến nhận thức, sinh viên trường
ĐH KHXH&NV đã có những suy nghĩ và tính toán riêng trước khi có những hành động
cụ thể nhằm phản ứng lại với các tác động từ bên ngoài Cụ thể sinh viên trường ĐH KHXH&NV đã đề ra các mục tiêu kèm theo đó là phương thức thực hiện các mục tiêu
Hành động hợp mục đích là hành động thực hiện có cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho hiệu quả nhất Một số sinh viên xác định được mục tiêu nghề nghiệp của mình do đó đã có những chuẩn bị cụ thể Tuy vậy, phần đông sinh viên vẫn chưa xác định được công việc phù hợp sau khi ra trường Những sinh viên này vẫn tham gia các chương trình về AEC, hoặc các lớp học tăng cường kỹ năng như lớp tiếng Anh, lớp tin học nhưng mục tiêu của các bạn chủ yếu là để có được giấy chứng nhận, điểm rèn luyện hoặc do bắt buộc thực hiện theo yêu cầu của chương trình đào tạo
để đủ điều kiện tốt nghiệp đại học,
Tóm lại, theo thuyết Hành động hợp lý, thái độ quan tâm và sự chuẩn bị của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi các tác nhân bên ngoài (xu hướng hội nhập AEC) và sự lý giải
Trang 24chủ quan của bản thân sinh viên đó Sinh viên mới vào trường có thái độ quan tâm và sự chuẩn bị hội nhập AEC chưa cao do ảnh hưởng từ truyền thống gia đình và môi trường THPT (hành động mang tính truyền thống) Ngược lại, sinh viên có sự quan tâm và chuẩn
bị tốt chủ yếu là nhóm sinh viên năm 3, năm 4 Tuy vậy, động cơ hành động của họ rất khác nhau Một số sinh viên quan tâm đến việc hội nhập AEC nhằm chuẩn bị cho công việc tương lai Bên cạnh đó nhiều sinh viên quan tâm việc hội nhập AEC chỉ để có được thành tích cao trong thi đua
9.2 Thuyết xã hội hóa
Xã hội hóa là một khái niệm của xã hội học được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình (Macionis John, J, 1987) Nói một cách khác, đó chính là quá trình con người liên tục tiếp thu văn hóa vào nhân cách của mình để sống trong xã hội như là một thành viên Xã hội hóa là nền tảng quan trọng của loài người, không như các sinh vật khác, con người cần phải có hiểu biết xã hội để sống
Gia đình là tác nhân xã hội hóa đầu tiên và quan trọng, khi mới sinh ra, con người hoàn toàn phụ thuộc vào người khác trong việc đáp ứng các nhu cầu của mình Đối với hầu hết các cá nhân, gia đình là tập thể cơ bản đầu tiên, dạy cho trẻ em những kinh nghiệm xã hội, các giá trị, tiêu chuẩn văn hóa và dần dần trẻ em kết hợp được nó vào ý thức của cá nhân
Nhà trường là nơi con người bắt đầu được tiếp xúc với tính đa dạng xã hội, tương tác với những thành viên không phải trong tập thể cơ bản làgia đình mình, được dạy dỗ nhiều điều khác với nền tảng trong gia đình Nhà trường cung cấp cho trẻ em những kiến thức và kỹ năng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp mà có những thứ không phải các thành viên lớn tuổi trong gia đình của chúng đã được hấp thụ
Nhóm tương đương là nhóm bạn cùng lứa tuổi có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình xã hội hóa Hầu hết trẻ em đã có nhóm bạn, thường là cùng lứa tuổi, cùng mối quan tâm và quan điểm xã hội ở trường học hay gần nơi cư trú Đây là bối cảnh khác với gia đình, trường học khi mà trẻ có thể tham gia các hoạt động không hoặc ít có sự giám sát trực tiếp của người lớn
Trang 25Có thể thấy, gia đình, nhà trường và bạn bè là những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, hành vi của mỗi người, đặc biệt trong giai đoạn còn nhỏ tuổi Tuy nhiên, trong giai đoạn này, mối quan tâm của phụ huynh, gia đình và bạn bè về vấn đề chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai cũng như xu hướng hội nhập quốc tế còn rất hạn chế Khi bước chân vào môi trường đại học, sinh viên bắt đầu có những ý thức ban đầu về việc hội nhập AEC qua các bài giảng của thầy cô và trong quá trình tìm kiếm việc làm Trong đó, bài giảng của thầy cô có ảnh hưởng sớm và mạnh mẽ nhất đến nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên
Trang 269.3 Khung phân tích
10 Giả thuyết nghiên cứu
- Sinh viên có hiểu biết rất ít về AEC
- Sinh viên có sự chuẩn bị chưa tốt cho nghề nghiệp tương lai khi Việt Nam hội nhập AEC
- Một số yếu tố về niên khóa học, ngành học, học lực, điều kiện sống, nơi sống, việc làm thêm có tác động đến sự chuẩn bị của sinh viên
11 Vài nét về AEC
Cộng đồng kinh tế ASEAN (tiếng Anh: ASEAN Economic Community, viết tắt: AEC) là một khối kinh tế khu vực của 10 quốc gia thành viên ASEAN chính thức được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 2015, khi bản tuyên bố thành lập chính thức có hiệu lực[1][1] AEC là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020 Hai trụ cột còn lại là: Cộng đồng
An ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN
AEC là một trong 3 trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020, và được khẳng định lại trong Tuyên bố Hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali II): tạo dựng một khu vực kinh tế ASEAN ổn định,
Yếu tố bên trong (nhận thức)
Năng lực
Kỹ năng Hiểu biết
Sự chuẩn bị của sinh viên
Yếu tố bên ngoài (khóa học, ngành học, điều kiện sống, )
Trang 27thịnh vượng và cạnh tranh cao, nơi có sự di chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ và đầu
tư, di chuyển tự do hơn của các luồng vốn, phát triển kinh tế đồng đều và giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về kinh tế-xã hội
Năm 1992: khái niệm hội nhập kinh tế ASEAN lần đầu tiên được đưa ra trong Hiệp định khung về Thúc đẩy Hợp tác Kinh tế ASEAN ký tại Singapore Hiệp định này nhấn mạnh tầm quan trọng trong hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, công nghiệp, năng lượng và khoáng sản, tài chính và ngân hàng, thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp, giao thông và truyền thông
Năm 1992: Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết, sau đó được thay thế bởi Hiệp định về Thương mại Hàng hoá ASEAN 2010
Năm 1995: Hiệp định khung về Dịch vụ ASEAN được ký kết
Năm 1998: Hiệp định khung về Đầu tư ASEAN được ký kết, sau đó được thay thế bởi Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN 2012
Năm 2003: Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 9, các nhà lãnh đạo ASEAN lần đầu tiên tuyên bố mục tiêu hình thành một Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Mục tiêu này cũng phù hợp với Tầm nhìn ASEAN 2020 thông qua vào năm 1997 với mục tiêu phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN
Năm 2006: Tại cuộc họp các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) đã được đưa ra với các mục tiêu và lộ trình cụ thể cho việc thực hiện AEC
Năm 2007: Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12, các nhà lãnh đạo ASEAN đã đồng ý đẩy nhanh việc hình thành AEC vào năm 2015 thay vì 2020 như kế hoạch ban đầu
Ngày 22/11/2015: Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập AEC
Kế hoạch trung hạn 6 năm lần thứ hai của ASEAN (2004-2010) nhằm thực hiện Tầm nhìn 2020, Chương trình hành động Viên Chăn (VAP), đã xác định rõ hơn mục đích
Trang 28của AEC là tăng cường năng lực cạnh tranh thông qua hội nhập nhanh hơn, nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của ASEAN
Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN một bộ phận của Lộ trình xây dựng Cộng đồng 2009-2015 đã xác định các biện pháp chính mà ASEAN sẽ thực hiện để xây dựng một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm: dỡ bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm (hợp chuẩn) và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan
và xuất nhập khẩu, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư, tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuyển hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyển thể nhân v.v., song song với việc củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua đẩy mạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông, cũng như phát triển các kỹ năng thích hợp
Các biện pháp nói trên đều đã và đang được các nước thành viên ASEAN triển khai cụ thể thông qua các thỏa thuận và hiệp định quan trọng như Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS), Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) và Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA), Hiệp định khung
về Hợp tác Công nghiệp ASEAN (AICO), Lộ trình Hội nhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN, v.v … Thành tựu đáng kể nhất trong xây dựng AEC tới nay là ASEAN đã cơ bản giảm được thuế quan cho các mặt hàng trong danh sách giảm thuế về từ 0-5% từ năm
2010 đối với 6 nước thành viên ban đầu và vào 2015 với 4 nước thành viên mới, hình thành nên một thị trường mở không còn các rào cản thuế quan đối với hàng hóa Nói cách khác, AEC là mô hình liên kết kinh tế khu vực dựa trên nâng cao những cơ chế liên kết kinh tế hiện có của ASEAN, có bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao động và di chuyển vốn tự do hơn
Trang 29Nhằm xây dựng một khu vực cạnh tranh về kinh tế, ASEAN thúc đẩy chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thương mại điện tử v.v Hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế đồng đều, ASEAN đã thông qua và đang triển khai Khuôn khổ ASEAN về Phát triển Kinh tế Đồng đều (AFEED), trong đó đáng chú ý là hỗ trợ các nước thành viên mới, khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển Mở rộng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, ASEAN đẩy mạnh triển khai các FTA với 6 đối tác lớn là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôx-trây-lia và Niu Di-lân, đồng thời tích cực đàm phán xây dựng Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) nhằm tạo ra một không gian kinh tế mở ở Đông Á
12 Vài nét về trường ĐHKHXH&NV
Trường ĐHKHXH&NV có lịch sử gần 60 năm hình thành và phát triển Sau Hiệp định Genève 1954, trên cơ sở Đại học Văn khoa ở Hà Nội, Trường được tái lập ở Sài Gòn vào tháng 11 năm 1955 với tên gọi là Trường Cao đẳng dự bị Văn khoa Pháp và là trường thành viên của Viện Đại học Quốc gia Việt Nam ở Sài Gòn
Đến ngày 01-3-1957, Trường được chính thức thành lập với tên gọi Trường Đại học Văn khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn Từ năm 1976 đến năm 1996, Trường trở thành bộ phận các ngành khoa học xã hội và nhân văn trong Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 30-3-1996, Trường mang tên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc hệ thống Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 1233/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Hồng Quân
Hiện nay, Trường ĐH KHXH & NV có 930 cán bộ, giảng viên, trong đó hơn 99 % giảng viên có trình độ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ Các chương trình đào tạo của Trường đáp ứng tốt nhu cầu học tập, nghiên cứu đa dạng của người học, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước
Cơ cấu ngành đào tạo của Trường được xác lập theo định hướng nghiên cứu; củng
cố và nâng cao chất lượng các ngành học cơ bản - truyền thống, đồng thời chú trọng phát triển các ngành học ứng dụng - hiện đại; thực hiện quy mô hợp lý đối với các phương
Trang 30thức và loại hình đào tạo: ổn định quy mô hệ chính quy và văn bằng 2, giảm quy mô hệ vừa làm vừa học, và mở thêm hệ đào tạo chất lượng cao (hai ngành Quan hệ quốc tế; Báo chí – Truyền thông)
Nhà trường là đơn vị tiên phong trong việc khai mở ra những ngành đào tạo, nghiên cứu khoa học mới, đáp ứng nhu cầu xã hội, như: Việt Nam học, Đông phương học, Nhân học, Quan hệ quốc tế, Đô thị học, Ngữ văn Tây Ban Nha, Ngữ văn Ý ; là đơn
vị dẫn đầu cả nước về việc thu hút sinh viên và học viên quốc tế với trên 250 học viên cao học, nghiên cứu sinh, sinh viên đến từ 73 quốc gia và vùng lãnh thổ đến học tập toàn thời gian và trên 2.500 lượt học viên, sinh viên đến học tập, nghiên cứu ngắn hạn tại Trường hàng năm
Hiện nay, có hơn 22.000 sinh viên các hệ đại học và sau đại học được đào tạo theo
54 chương trình giáo dục (phân ngành) thuộc 27 ngành đào tạo bậc đại học, 43 chương trình sau đại học và trên 10 chương trình liên kết quốc tế Chương trình đào tạo Việt Nam học, Ngữ văn Anh, Quan hệ quốc tế đã được Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN-QA) kiểm định chất lượng… Sinh viên trường với đặc trưng ngành học về văn hoá, ngôn ngữ của nhiều quốc gia như: Hoa Kỳ, Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Nga, Italia, Pháp, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia… đã hoà mình vào môi trường văn hoá, học thuật đa văn hoá Hàng năm, có hàng trăm sinh viên tham gia các chương trình giao lưu, trao đổi văn hoá với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới Trường
ĐH KHXH&NV cũng là nơi có rất đông đảo sinh viên được tiếp nhận các học bổng học tập ở các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc
Các hoạt động hợp tác quốc tế là điểm mạnh của Nhà trường Hiện nay, Trường có quan hệ đối tác với hơn 250 trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn thế giới Quan
hệ quốc tế được thể hiện trong nhiều hình thức đa dạng bao gồm: 1) Trao đổi sinh viên và giảng viên theo các chương trình ngắn hạn và dài hạn; 2) Các chương trình học tập ở nước ngoài; 3) Các chương trình đào tạo chung và công nhận tín chỉ lẫn nhau cấp đại học học sau đại học; 4) Các dự án nghiên cứu chung và 5) Tổ chức hội nghị/ hội thảo khoa học quốc tế và liên kết xuất bản ấn phẩm khoa học về các vấn đề đương đại trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
Trang 31Chỉ tính từ năm 1975 đến nay trường đã cung cấp cho đất nước một đội ngũ trí thức đông đảo với trên 70.000 cử nhân khoa học, hơn 6000 Thạc sỹ và trên 600 Tiến sĩ thuộc các ngành KHXH-NV Đội ngũ trí thức này đã cùng tham gia vào đội nguồn nhân lực đất nước trước đổi mới và trong công cuộc đổi mới Trong đó, nhiều người đã trở thành những nhà giáo ưu tú, nhà khoa học xuất sắc, những chuyên gia lớn về KHXH-NV; nhiều cựu SV của Trường đã và đang trở thành những nhà lãnh đạo hàng đầu của đất nước , đã và đang có những đóng góp có ý nghĩa lớn cho đất nước Nhiều cựu sinh viên của trường đã là những “công dân toàn cầu” (global citizen), tham gia lao động ở nhiều tổ chức, nhiều trường Đại học, nhiều công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia, ở nhiều nước trên thế giới
Hiện nay, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGTP.HCM là một trong hai trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn nhất về các ngành KHXH&NV của Việt Nam Nhà trường luôn là đơn vị đi tiên phong trong việc khai mở ra những ngành đào tạo, nghiên cứu khoa học mới, đáp ứng nhu cầu xã hội
Trang 32PHẦN 2: NỘI DUNG
Trang 33CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU MỘT VÀI HIỂU BIẾT CỦA SINH VIÊN VỀ AEC
Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự chuẩn bị của sinh viên cho nghề nghiệp tương lai trong thời kì hội nhập AEC đó là mức độ hiểu biết của sinh viên đối với lĩnh vực này
1 Sự tham gia của sinh viên vào các chương trình có liên quan đến AEC
Bảng 38 (phụ lục 3) cho thấy tỷ lệ sinh viên tham gia những chương trình có liên quan đến AEC là rất thấp, chỉ chiếm 7,7% trên tổng số câu trả lời
Những chương trình có các bạn sinh viên tham gia được kể đến như: Cuộc thi Khám phá phương Đông, Điểm hẹn văn hóa nhân văn số 10, Giáo dục chính trị, Hội trại
Du lịch, Hợp tác kinh tế, Lễ hội văn hóa Đông phương, Tuần lễ Việt Nam – Indonesia
Và những chương trình này hầu như đều do Đoàn – Hội của Khoa và của Trường tổ chức
Khi được hỏi về việc rút ra được những điều gì khi tham gia các chương trình này, sinh viên cho biết: Biết thêm về văn hóa các nước, về kiến thức các nước, về việc luân chuyển lao động trong cộng đồng ASEAN, những thách thức khi gia nhập ASEAN, vai trò của ASEAN, những thuận lợi và khó khăn đối với sinh viên Việt Nam…Qua đó cho thấy, việc tổ chức những chương trình có liên quan đến ASEAN cũng cung cấp cho sinh viên một lượng kiến thức nhất định về những vấn đề liên quan đến ASEAN mà cụ thể là một số vấn đề có liên quan đến AEC như những thuận lợi và khó khăn của sinh viên Việt Nam khi hội nhập AEC, và vấn đề luân chuyển lao động trong AEC,
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích kết quả tham gia hay không tham gia các chương trình về AEC theo 2 biến: ngành học và năm học
1.1 Ngành học
Kết quả cho thấy trong tổng số 156 SV trả lời có 7,7% SV thuộc các khoa/bộ môn
đã tham gia các chương trình về AEC, tập trung chủ yếu ở bộ môn Du lịch (tỷ lệ 16,7%)
Có đến 92,3% SV chưa tham gia bất kỳ chương trình nào, tập trung chủ yếu ở khoa Quan
hệ quốc tế (tỷ lệ 100%) (Bảng 1, phụ lục 3) Nói cách khác, có sự khác nhau giữa 3 Khoa
Trang 34trong việc tham gia vào những chương trình có liên quan đến AEC, cụ thể là khoa Du lịch có sự tham gia nhiều hơn khoa Đông phương và khoa Quan hệ quốc tế
1.2 Năm học
Trong tổng số 155 người trả lời có 7,7% đã tham gia các chương trình về AEC, chủ yếu tập trung ở nhóm SV năm 3, năm 4 (tỷ lệ 11,5%) Trong khi đó, có 92,3% SV chưa từng tham gia bất kỳ chương trình nào, tập trung chủ yếu ở nhóm sinh viên năm 1,
năm 2 (Bảng 2, phụ lục 3)
Như vậy, nhóm SV năm 3, năm 4 tham gia các chương trình về AEC nhiều hơn nhóm sinh viên năm nhất và năm hai
Về lý do ít tham gia các hoạt động Đoàn, một sinh viên chia sẻ: “Thứ nhất là
những thông tin thì em nắm thông tin rất là muộn, ít cập nhật thông tin của các câu lạc
bộ, đoàn hội cũng như ở trường, em ít quan tâm lắm nên hầu như những cái về AEC thường là em nghe thầy cô nói hoặc là nghe trên phương tiện truyền thông (…) Em rất hạn chế với những chương trình của Đoàn Hội tổ chức Tại vì bản thân em không thích (…) Thật ra thì em cũng không có nghĩ xấu gì về đoàn hội hết nhưng mà cơ bản là tại vì
em gặp một số chuyện, nên là em cảm thấy mình không phù hợp với những nơi như vậy nên là em không quan tâm và cũng không ghét gì lắm (…) Không phù hợp với em (…) Theo em nghĩ là do nhân sự (…) Từ năm nhất đến giờ thì em chỉ tham gia cộng tác viên
của những chương trình đó” (Nữ, SV năm 3, khoa Quan hệ quốc tế)
Nội dung các buổi hội thảo về AEC qua lời kể cỉa một sinh viên năm 3 : « Chị
cũng không nhớ rõ, giống như là những buổi hội thảo này nọ, khoa chị có tổ chức hoặc
là có mấy giáo sư tiến sĩ về giảng như vậy thôi, nói chung là rất là nhiều hoạt động nhưng mà chị không nhớ rõ tên (…) Cũng xoay quanh cái việc hội nhập này nọ, cũng phát triển như thế nào, triển vọng trong tương lai như thế nào, kiểu vậy đó (…) Dấu ấn không mạnh lắm (…) Chị thấy hứng thú em, nhưng mà chị thấy có nhiều cái trùng lặp quá (…) Ví dụ như mấy cái hội thảo đó nó cứ trùng lặp mấy cái chủ đề này nọ, tức là cái tên cái chủ đề đó là khác nhau nhưng mà cái nội dung thì người ta nói nó cũng giống giống nhau (…) Khái niệm ASEAN là cái gì đó, giới thiệu mấy cái khu vực địa lý đồ
Trang 35này nọ, nói chung cái gì cũng bốc vô đó hết (…) Cũng không (nhớ rõ) tại vì chị cũng không có để ý nhiều lắm, chị nhớ sơ sơ vậy thôi” (Nữ, SV năm 4, khoa Đông Phương)
2 Sự hiểu biết một số kiến thức về AEC của sinh viên
Nhóm nghiên cứu đã đặt câu hỏi liệu các bạn sinh viên đã từng nghe nói về Cộng đồng kinh tế AEC hay chưa Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết sinh viên (95%) đã từng nghe nói về AEC Như vậy, phần lớn sinh viên các khoa Du lịch, Đông Phương, Quan hệ quốc tế có hiểu biết ban đầu về AEC Để làm rõ hơn về mức độ hiểu biết của sinh viên về việc hội nhập AEC của nước ta, Nhóm nghiên cứu đã có một số câu hỏi kiểm tra kiến
này
Nhóm nghiên cứu đã đưa ra 3 nội dung cơ bản về AEC làm cơ sở đánh giá mức độ hiểu biết của sinh viên về AEC, đó là:
- Ngày 31/12/2015 AEC đi vào hội nhập chính thức
- Sau khi hội nhập AEC lao động các nước có thể tự do di chuyển, làm việc ở các nước khác trong khu vực AEC
- Tất cả các nước trong ASEAN đều tham gia vào AEC
95%
5%
Có nghe qua Chưa từng nghe
Biểu đồ 1 Nghe nói về AEC (Nguồn: Theo số liệu điều tra của đề tài)
Trang 36Kết quả khảo sát cho thấy, trong tổng số 158 người trả lời, có 85 sinh viên biết ngày hội nhập chính thức của AEC, chiếm 54,5%
Tiếp theo có 133 sinh viên chiếm tỷ lệ 85,5% biết về vấn đề di chuyển lao động giữa
các nước trong khu vực ASEAN
Cuối cùng, có 90 sinh viên, chiếm tỷ lệ 57,7% SV biết về các nước tham gia AEC Vậy nhìn chung, sự hiểu biết của sinh viên về một số kiến thức về AEC không phải ở mức rất ít hay rất thấp như giả thuyết ban đầu đạt ra, kết quả cho thấy tỷ lệ biết về một số kiến thức cơ bản về AEC cao hơn tỷ lệ sinh viên không biết, đặc biệt là sinh viên dường như đều biết về vấn đề di chuyển lao động trong ASEAN khi hội nhập AEC
“Chắc là mình chỉ mới biết cái bề ngoài của ASEAN đó thôi chứ chưa biết ở trong, ví dụ như khi mà gia nhập như vậy thì mình sẽ lợi về nhiều thứ như thế nào? Về từng mặt như thế nào? Cụ thể khi mà gia nhập thì kinh tế sẽ thay đổi về thuế… thuế quan hay bất cứ gì đó Mình chỉ biết những thứ liên quan đến thực tế như là giáo dục: sau khi tốt nghiệp xong mình có bằng tương đương với bên đó Tại vì những cái khác mình được
Sự hiểu biết về vấn đề
di chuyển lao động trong ASEAN
Tất cả các nước trong ASEAN đều tham gia
AEC
Biết Không biết
Biểu đồ 2 Sự hiểu biết về AEC (Nguồn: Theo số liệu điều tra của đề tài)
Trang 37biết trong chương trình đào tạo còn AEC mình chỉ mới biết gần đây.” (Nữ, SV năm 3, khoa Quan hệ quốc tế)
Bên cạnh đó, Nhóm nghiên cứu còn quan tâm đến nguồn thông tin cung cấp thông tin về việc hội nhập AEC mà sinh viên thường tiếp cận Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy phần lớn thông tin đến sinh viên là từ các phương tiện truyền thông như mạng Internet, sách báo,… chiếm 39% tỷ lệ người trả lời Chỉ thấp hơn phương tiện truyền thông 6% và giữ vị trí cao thứ nhì là trường lớp
Đa số sinh viên đồng ý rằng thầy cô thông qua các bài giảng trên lớp đã truyền đạt những thông tin, kiến thức về AEC đến cả lớp nhưng chỉ là nói sơ sơ qua, ở một mức độ nhất định, thông qua những cuộc phỏng vấn sâu như sau
“Khoảng năm 2, năm 3, căn bản thầy cô có giảng trong những môn đại cương này
nọ, hay là cái môn chuyên ngành kinh tế, kinh tế trung quốc này nọ các thầy cô cũng có nói (…) Không có nói cụ thể em à, tại dạy môn đại cương nên chỉ nói liên quan chút ít thôi còn học kì vừa rồi chị mới được tiếp xúc rõ hơn (…)Tức là trong hợp tác phát triển thì hiện tại về triển vọng về cái mối quan hệ đó thì như thế nào, trong tương lai như thế nào” (Nữ, SV năm 4, khoa Đông Phương)
“Chắc là ở trường, năm nhất (…) Nghe thầy cô nói Học về những môn có liên quan đến chính trị nè, mà kiểu cũng có chính trị, kinh tế…” (Nữ, SV năm 3, khoa Quan
là em cũng có biết” (Nữ, SV năm 2, Đông phương)
Trang 38“Chị còn đọc, sách, đọc báo trên vnexpress đồ đó, rồi báo online tại vì chị tìm tài liệu để làm bài đó (…) Trước kia thì chị ít đọc (…) À, chỉ là trong lớp , khi mà thầy cô
có nhắc tới làm bài hay là có liên quan chút íu thì chị mới về đọc thôi, thường thì chị, chị tìm hiểu nhiều về trung quốc, tìm hiểu về trung quốc nhiều hơn.” (Nữ, SV năm 4, khoa Đông Phương)
“Qua báo, Youtube, BBC, CNN,… (…) Nó liên quan đến môn học nữa Tại vì, giống như là thầy cô yêu cầu mình phải có chút hiểu biết về cái đó nên mình về nhà tự tìm Có những môn phải về nhà thuyết trình, làm bài luận Nó có liên quan một chút thì tụi mình phải tìm hết.” (Nữ, SV năm 3, khoa Quan hệ quốc tế)
“Em đọc báo (…) Tại hồi trước nhà em có 1 thói quen là đọc báo, tại nhà mẹ em
có bán báo, cho nên em có thòi quen là ngày nào em cũng đọc báo hết em đọc báo hoa học trò mà mẹ không cho em đọc, còn tuổi trẻ, sinh viên em cũng lấy đọc đại, dần trở thành thói quen đọc báo (…) Ngày nào cũng đọc báo thanh niên, tuổi trẻ nên nắm được những thông tin này Nó nói rất là nhiều, nhưng mà thỉnh thoảng nhiều lúc em cảm thấy không nhớ gì hết nên là em đọc (…) Em biết được nhiều là do bạn thân trong lớp của em nón tại gì nó là nằm trong liên chi hội của Đoàn ở khoa em cho nên là thường thường thì
em sẽ biết trước biết trước các bạn mà Nó cứ kể với em vậy Mặc dù nó biết em không quan tâm” (Nữ, SV năm 2, Đông phương)
Phương tiện truyền thông
Biểu đồ 3 Nguồn thông tin
(Nguồn: Theo số liệu điều tra của đề tài)
Trang 393 Nhận định của sinh viên về sự lồng ghép nội dung về AEC trong cương trình đào tạo
Khi được hỏi về sự lồng ghép những nội dung về AEC trong chương trình đào tạo, thì gần một nửa số sinh viên nhận định là không có sự lồng ghép có chiếm 48,7% và hơn
một nửa còn lại nhận định là có sự lồng ghép, chiếm 50,6% (Bảng 39, phụ lục 3)
Và với những sinh viên trả lời có sự lồng ghép thì đồng thời cũng cho biết thêm về những môn học có sự lồng ghép này, được kể đến như: Chất lượng nhân sự, Đại cương,
Cơ hội và thách thức nghề nghiệp, Cộng đồng kinh tế, Kiến thức về các nước ASEAN, Kinh tế các nước phương Đông, Phát triển kinh tế du lịch, Sinh hoạt chính trị,Sự tác động tới kinh tế Việt Nam và khu vực, Toàn cầu hóa, môn ASEAN, Nhập môn quan hệ quốc
tế, Kinh tế châu Á Thái Bình Dương, Nhập môn cộng đồng châu Á, Kinh tế chính trị quốc tế…
3.1 Năm học
Trong tổng số 155 SV trả lời có 48,4% số SV cho biết không được lồng ghép những nội dung về AEC trong chương trình đào tạo, tập trung chủ yếu ở nhóm SV năm 1, năm 2 (72,1%) Trong khi đó, có 51,6% SV cho biết được lồng ghép những nội dung về AEC trong chương trình đào tạo, tập trung chủ yếu ở nhóm SV năm 3, năm 4 (70,1%)
“Ví dụ như là môn nghiên cứu khoa học… khoan để suy nghĩ! Nghiên cứu khoa học… rồi gần đây nhất là chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, chính sách đối ngoại Việt Nam và… nhiều quá không nhớ nữa Rồi môn Đàm phán, toàn cầu hóa,… gì nữa quên mất tiêu rồi
(H: Còn môn ASEAN?) Môn đó học kỳ sau
Mình học môn toàn cầu hóa thì nó liên quan rất nhiều Tại vì toàn cầu hóa thì tất
cả các nước đều hội nhập, nó phải giảm bớt một số thứ để hòa vào cái chung nhưng vẫn giữ được bản sắc của mình
Học kỳ sau mình mới học Mình chỉ nghe nói, nghe thầy cô nhắc tới kiểu như là Việt Nam gia nhập AEC thì khi mình tốt nghiệp ở đây thì bằng cũng có giá trị như ở các
Trang 40nước ASEAN, có thể qua bên đó làm việc Người ta sẽ công nhận cái bằng đại học ở đây cũng như những bằng đại học ở bên đó
Trong chương trình học có học sơ qua như là giới thiệu một số tổ chức trên thế giới FHO, WTO hay là một số cái gì đó liên quan đến kinh tế Nó cũng có ASEAN trong đó.” (Nữ, SV năm 3, khoa Quan hệ quốc tế)
“Năm nay em sắp được học cái môn Nhưng do khoa em là khoa Đông Phương cho nên là, những cái môn khác thì thầy cô cũng có nhắc về (…) Cái môn đó thì… là nhập môn quan hệ quốc tế, kinh tế châu Á Thái Bình Dương (…) Cái này thì em nghe thầy cô nói trước thôi (…) Thì đi học thì phải chăm vì nó rất là quan trọng (…) Theo em thì rất là quan trọng bởi vì em muốn sang Thái Lan làm việc (…) Em biết những thông tin đó (ngày hội nhập, di chuyển lao động và các nước AEC) đều là do giảng viên nói (…) Trong chương trình học chính thì em chưa có được học, em chỉ mới nghe thầy cô nói
sơ sơ thôi, thì cũng chỉ biết những thông tin cơ bản thôi, em cũng hy vọng là trong rất sớm tụi em sẽ được học nhiều rõ hơn” (Nữ, SV năm 2, Đông phương)
3.2 Ngành học
Trong tổng số 156 SV trả lời có 48,7% cho biết không có sự lồng ghép những nội dung về AEC trong chương trình đào tạo, tập trung chủ yếu ở các khoa/bộ môn như Du lịch (55,6%) và Đông phương học (57,1%) Trong khi đó, có 51,3% SV cho biết được lồng ghép những nội dung về AEC trong chương trình đào tạo, tập trung chủ yếu ở khoa
Quan hệ quốc tế (68%) (Bảng 8, phụ lục 3)
4 Sự lo lắng của sinh viên trước việc Việt Nam tham gia AEC
Trong tổng số 155 SV trả lời câu hỏi có 43,9% SV cảm thấy lo lắng về việc hội nhập AEC, tập trung chủ yếu ở nhóm SV năm 1 (63,6%), năm 3 (50%) Trong khi đó có 56,1% SV cảm thấy không lo lắng, tập trung chủ yếu ở nhóm SV năm 2 (75%) và năm 4
(59,6%) (Bảng 9, phụ lục 3)
“Chị ở khoa Đông Phương thì em cũng biết rồi đó học về ngoại ngữ kinh tế văn hóa chính trị đường này nữa Tức là cái gì liên quan tới đất nước đó mình cũng sẽ học Thì bây giờ Việt Nam mình cũng hội nhập với các nước đó cũng có qua lại thì mình học mấy cái này là thách thức đó, thì chị cũng có lo nhưng mà chị học ngôn ngữ nên chị cũng