1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuỗi vị từ trong tiếng việt vận dụng vào việc dạy tiếng việt cho người nước ngoài

96 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuỗi vị từ trong tiếng việt – vận dụng vào việc dạy tiếng việt cho người nước ngoài
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Trúc
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Huệ
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Việt Nam học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 5,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, có thể kể đến một số tác giả như: Bùi Minh Toán 1980, Cao Xuân Hạo 1991, 2006, Nguyễn Thị Quy 1995,… Với mong muốn cung cấp cho người nghiên cứu ngôn ngữ, người nước ngoài học

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -NGUYỄN THỊ THANH TRÚC

CHUỖI VỊ TỪ TRONG TIẾNG VIỆT –

VẬN DỤNG VÀO VIỆC DẠY TIẾNG VIỆT

CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

PGS.TS Nguyễn Văn Huệ

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2017

Trang 3

đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong thời gian tôi nghiên cứu học tập và giảng dạy tại khoa Cám ơn các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp đã hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm, lẫn kiến thức về việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ giúp tôi có thêm tư liệu bổ sung cho luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Huệ đã động viên, khích

lệ, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cám ơn các anh chị học viên, sinh viên người nước ngoài đang làm việc và học tập tại Khoa đã nhiệt tình cộng tác, thực hiện phiếu khảo sát tiếng Việt giúp tôi có thêm dữ liệu phân tích thực hiện đề tài

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn tất cả

Tp Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2017

Nguyễn Thị Thanh Trúc

Trang 4

MỤC LỤC

trang

Mở đầu 01

1 Lý do chọn đề tài 01

2 Mục đích nghiên cứu 02

3 Lịch sử nghiên cứu 02

4 Đối tượng và phạm vụ nghiên cứu 05

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 06

6 Phương pháp nghiên cứu 06

7 Bố cục của luận văn 07

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chuỗi vị từ (SVC) 09

1.1 Định nghĩa SVC 09

1.1.1 Đinh nghĩa SVC dựa vào ngữ nghĩa 11

1.1.2 Định nghĩa SVC dựa trên cú pháp-ngữ nghĩa 13

1.2 Đặc điểm của SVC 14

1.2.1 Vị ngữ chứa chuỗi động từ 16

1.2.2 Tính hình hiệu 17

1.2.3 Mệnh đề đơn như là nét đặc trưng của SVC 17

1.2.4 Về tiếp cận đặc trưng điệu tính 17

1.3 Phân loại SVC 18

1.3.1 Phân loại SVC dựa trên tính chuyển tác 19

1.3.2 Phân loại SVC dựa vào tính chia sẻ tham tố 20

1.3.3 Phân loại SVC dựa trên sự tích hợp ngữ nghĩa 21

Tiểu kết chương 1 22

Chương 2: Chuỗi vị từ trong tiếng Việt 22

2.1 SVC và chuỗi vị từ tình thái 22

Trang 5

2.2 Một số kiểu SVC phổ biến trong tiếng Việt 24

2.2.1 SVC chuyển động 24

2.2.2 SVC hoạt động 27

2.2.3 SVC chuyển vị 31

2.2.4 SVC chuyển thái 32

2.2.5 SVC tác động (với vị từ “cho”) 33

2.2.6 SVC gây khiến 35

2.2.7 SVC kết quả 36

2.3 Cú pháp của SVC trong tiếng Việt 39

2.3.1 So sánh SVC với cấu trúc đằng kết 39

2.3.1.1 Phân bố hình vị phủ định 39

2.3.1.2 Giới hạn trong cấu trúc đẳng kết 42

2.3.2 Mối quan hệ phụ kết trong tiếng Việt 45

Tiểu kết chương 2 47

Chương 3: So sánh chuỗi vị từ tiếng Việt và động từ chuỗi tiếng Anh - Vận dụng vào việc dạy chuỗi vị từ tiếng Việt cho người nước ngoài 48

3.1 Động từ chuỗi tiếng Anh (Catenative Verb Constructions -CVC) 48

3.1.1 Tiêu chí phân loại động từ chuỗi tiếng Anh 49

3.1.2 Phân loại động từ trong CVC tiếng Anh – So sánh với SVC tiếng Việt 52

3.2 So sánh thuộc tính của SVC tiếng Việt với CVC tiếng Anh 59

3.3 Khảo sát cách chuyển dịch từ câu tiếng Anh, tiếng Hàn sang câu tiếng Việt 61

3.3.1 Các bước tiến hành khảo sát 62

3.3.2 Nhận xét 63

3.4 Vận dụng vào việc dạy SVC tiếng Việt cho người nước ngoài 65

3.4.1 Các mô hình SVC vận dụng trong giảng dạy 65

3.4.2 Phương pháp dạy SVC tiếng Việt như một ngoại ngữ 71

Tiểu kết chương 3 74

Kết luận 76

Trang 6

Tài liệu tham khảo 78 Phụ lục

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thuật ngữ “Chuỗi vị từ” (Series of verbs/ Sequence of verbs) là khái niệm

mở rộng đề cập đến bất kỳ hiện tượng có hai hay nhiều vị từ xuất hiện cùng nhau

và có cùng chủ ngữ trong một câu đơn Một kết cấu vị từ chuỗi (Serial Verb Construction) có thể là chuỗi của nhiều vị từ hay vị từ kết hợp với danh từ (Butt 2003)

Trong tài liệu nghiên cứu ngôn ngữ Tây Phi, chuỗi vị từ được xem như là kết cấu đa vị từ (Multi verb constructions – MVC) Theo Hellan & Dakubu (2010), MVC chia thành 4 loại: Serial Verb Construction (SVC), Extended Verb Complexes, Auxiliary Verb Constructions and Verbids Trong đó, kết cấu vị từ chuỗi (Serial Verb Constructions– SVC) được coi là kết cấu phổ biến nhất trong nhiều ngôn ngữ thế giới

“Chuỗi vị từ” mà chúng tôi muốn khảo sát trong luận văn chính là “Kết cấu vị từ chuỗi” (Serial Verb Constructions – SVC) SVC là thuật ngữ được dùng để chỉ một hiện tượng cú pháp khá phổ biến trong các ngôn ngữ Creole, các ngôn ngữ Tây Phi (nhóm Kwa), các ngôn ngữ khu vực Đông Nam Á (Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Khmer, Việt Nam…) hoặc vùng Amazon, châu Đại Dương, New Guiea Dixon (2006) cho rằng SVC được tìm thấy trong khoảng 1/3 ngôn ngữ trên thế giới

Những nghiên cứu về SVC trong các ngôn ngữ biến hình hay chắp dính khá phong phú: Li & Thompson (1973, 1981), Sebba (1987), Baker (1989, 1997), Collin (1997), Bodomo (1997), Duries (1997), … Trong khi đó nghiên cứu SVC trong tiếng Việt chưa nhiều, chưa có tài liệu nào thật sự nghiên cứu

Trang 8

SVC tiếng Việt một cách hệ thống Tuy nhiên, có thể kể đến một số tác giả như: Bùi Minh Toán (1980), Cao Xuân Hạo (1991, 2006), Nguyễn Thị Quy (1995),…

Với mong muốn cung cấp cho người nghiên cứu ngôn ngữ, người nước ngoài học tiếng Việt có cái nhìn hệ thống và toàn diện về phương thức cấu tạo,

cú pháp-ngữ nghĩa của các kiểu SVC tiếng Việt, từ đó giúp người học dễ dàng sử

dụng đúng SVC tiếng Việt, nên chúng tôi chọn đề tài “Chuỗi vị từ trong tiếng

Việt – Vận dụng vào việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.”

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát về phương thức cấu tạo, cú pháp-ngữ nghĩa các kiểu SVC tiếng Việt và vận dụng vào việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Cụ thể:

- Miêu tả và xác lập những đặc điểm về ngữ nghĩa-cú pháp của SVC tiếng Việt;

- Đối chiếu một số SVC tiếng Việt với động từ chuỗi (catenative verb constructions (CVC) / chain verbs) tiếng Anh tương đương;

- Vận dụng kết quả nghiên cứu trong việc dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài

3 Lịch sử nghiên cứu

Christaller (1875) là người tiên phong trong việc nghiên cứu chuỗi vị từ

trong tiếng Twi Theo ông chuỗi vị từ có “hai hay nhiều động từ không có liên từ liên kết giữa chúng, có cùng chủ ngữ” (1875:144) Sau Christaller là

Westermann (1930), ông miêu tả chuỗi vị từ trong tiếng Ewe Hai tác phẩm này hoàn toàn mang tính miêu tả; cho đến khi Chomsky (1957) đưa ra lý thuyết ngữ pháp cải biến, bác bỏ câu đơn chỉ có một vị từ thì có hàng loạt nghiên cứu về

Trang 9

Awobuluyi (1973) nghiên cứu trong tiếng Yoruba thuộc hệ ngôn ngữ

Đến thập niên 80, sau thời gian tập trung khá lâu vào các ngôn ngữ Tây Phi, các nhà nghiên cứu về SVC nay lại chuyển hướng nghiên cứu sang một số

ngày càng mở rộng thêm: Mark Sebba (1987), Clark (1989), Baker (1989), Bisang (1993), Martisoff (2001), Goddard (2005), Jarkey (2006); các nghiên cứu

về SVC trong các ngôn ngữ châu Đại Dương của Crowley (1982,1987), Lefebvre (1991), Lord (1993), Hamel (1993), Alsina (1997)

Foley và Olson (Clause and Verb Serialization, pp 17-60 of “Grammar inside

and outside the clause: some approaches to theory from the field”, 1985), Sebba

(The Syntax of Serial Verbs, 1987), Lefebvre (Serial verb constructions:

Grammatical, Comparative and Cognitive Approaches, 1991), Lord (Historical change in serial verb constructions, 1993), Bradshaw, J (Subject relationships within serial verb constructions in Numbami and Jabêm, 1993), v.v nhưng vẫn

chưa có định nghĩa xác đáng nào về SVC, ngay cả sự nhất trí về những thuộc tính cần và đủ cho một SVC phải có

Dưới những góc nhìn khác nhau, các nhà ngôn ngữ học định danh SVC

cũng khác nhau Chẳng hạn như Omar (1976), dùng thuật ngữ “vị từ chuỗi” (serial verbs), “động ngữ phức” (complex verb phrases); Smith (1979) và

Hansson (1985) gọi là “sự kết chuỗi của động từ” (verb concatenation), còn các

nhà ngôn ngữ khác như Filbuck (1975), Clark (1992), Goddard (2005), Jenkins

(2006), thì gọi là “chuỗi hóa vị từ” (serialization) và “sự liên tiếp”

(consecutivization)

Trang 10

Nghiên cứu về SVC tiếng Việt chưa có hẳn tài liệu nào nghiên cứu toàn diện về lĩnh vực này nhưng vấn đề chuỗi vị từ có đề cập rải rác trong các công trình viết về ngữ pháp tiếng Việt của những tác giả sau:

- Nguyễn Kim Thản (1977) cho rằng có một loại động từ phức mà các thành tố

của chúng kết hợp theo quan hệ chính phụ như: hành kết quả, hoạt

động-trạng thái, hoạt động-đích,

- Cao Xuân Hạo (2006) nêu ra có những hành động chuyển tác gây nên một quá trình mà chủ thể chính là đối thể của quá trình chuyển tác ấy Khi quá trình được hiển ngôn bằng một vị từ riêng đi liền với vị từ chỉ hành động tạo thành chuỗi, hành động chuyển tác kia gọi là hành động gây khiến (causative) Khi cái quá trình ấy được biểu hiện bằng một vị từ riêng đi liền với vị từ hành động làm thành một vị ngữ kết chuỗi, cấu trúc được hình thành từ đấy được gọi là cấu tạo kết quả (resutative) [8:439]

- Diệp Quang Ban (2009) trong chương 5 viết về cụm từ tiếng Việt đã đề cập đến phần trung tâm của cụm động từ: có thể gặp một động từ riêng rẻ với một chuỗi gồm nhiều động từ với các kiểu quan hệ nội tại khá đa dạng, cần xem xét trường hợp động từ chuỗi theo từng ngữ cảnh

- Nguyễn Thị Thu Hương (2010) với luận án tiến sĩ “Cấu trúc gây khiến-kết quả

tiếng Anh và tiếng Việt”, tác giả miêu tả cấu trúc gây khiến-kết quả tiếng Anh và

tiếng Việt trên hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp Đối chiếu nhằm chỉ ra những tương đồng và khác biệt về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc này trong tiếng Anh – tiếng Việt

- Dương Hữu Biên (2003) với đề tài luận án tiến sĩ “Câu có vị từ chuyển tác

trong tiếng Việt”

Trang 11

- Lê Tuấn Minh (2010) với luận văn thạc sĩ “Argument sharing in Vietnamese

SVC” (Chia sẻ tham tố trong SVC tiếng Việt),

- Bùi Minh Toán, “Về các câu có vị ngữ liên hiệp được biểu hiện bằng động từ

trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ số 4/1980; “Chung quanh việc xác định các

hệ ngữ pháp liên hiệp và chính phụ trong chuỗi động từ”, Tạp chí Ngôn ngữ số

4/1984 Trong hai bài viết này, tác giả đã đưa ra một số tiêu chí để nhận diện chuỗi động từ liên hợp và chuỗi động từ chính phụ

- Nguyễn Văn Hiệu, “Xem xét thành phần trạng tố chỉ mục đích trong vị ngữ từ

hành động tiếng Mông Lềnh”, Tạp chí Ngôn ngữ số 186 tháng 11/2004 Tác giả

xem V2 trong ngữ động từ V1-V2 là những trạng tố đi sau vị từ trung tâm để chỉ thời gian, địa điểm trong không gian, nguyên nhân, mục đích, cách thức trong tiếng Mông Lềnh Tác giả đã đối chiếu với một số chuỗi tương ứng trong tiếng Việt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số chuỗi vị từ trong tiếng Việt hiện đại

4.2 Về phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu một số chuỗi vị từ điển mẫu của tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa-ngữ pháp

Những chuỗi vị từ tiếng Việt được khảo sát dựa trên kiểu câu trần thuật, trong đó chuỗi vị từ làm thành phần thuyết hay vị ngữ của câu; có đối chiếu với một số kiểu vị từ kết chuỗi tương ứng trong tiếng Anh Luận văn không nghiên

cứu đối tượng chuỗi đa vị từ (Multi verb constructions), SVC thành ngữ (cày sâu

Trang 12

cuốc bẵm, cao chạy xa bay, đứng núi này trông núi nọ, …); không phân tích thì,

thề, thức (TAM) và tính đa dạng của cấu trúc sự tình

5 Ý nghĩa của luận văn

Về mặt lý luận: luận văn góp phần làm rõ hơn các chức năng ngữ pháp, ngữ nghĩa qua các kiểu kết cấu chuỗi vị từ; đối chiếu một số kết cấu tương đồng trong tiếng Việt và tiếng Anh để có thể so sánh cách diễn đạt giữa hai ngôn ngữ

Về mặt thực tiễn: luận văn sẽ góp phần giúp người dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ hiểu được các quy tắc chung trong cách kết hợp của các vị từ tạo thành chuỗi vị từ trong tiếng Việt, từ đó giúp việc dạy và học tiếng Việt được hiệu quả hơn

Ngoài ra, luận văn cung cấp thêm nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, lý luận về ngữ pháp tiếng Việt và cho những ai quan tâm đến vấn đề này

6 Phương pháp nghiên cứu

Trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ những quan hệ ngữ nghĩa và quan

hệ ngữ pháp của SVC trong tiếng Việt và các tham tố xung quanh nó

Trong quá trình tiếp cận đối tượng nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp miêu tả với thủ pháp phân tích ngữ nghĩa cú pháp Ở mỗi dạng thức biểu hiện của chuỗi vị từ đang nghiên cứu, luận văn cố gắng phát hiện những vấn đề nghĩa tố trong quan hệ tương ứng với phương thức ngữ pháp của nó, đặc biệt là vai trò của các tác tố bên trong cấu trúc Sự gắn bó hai mặt giữa ngữ nghĩa và cú pháp sẽ giúp luận văn lý giải được các hiện tượng đặc trưng cú pháp của chuỗi vị

từ tiếng Việt

Bên cạnh phương pháp miêu tả, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu với các thủ pháp: phân tích lỗi, thống kê,…

Trang 13

Ngữ liệu được sử dụng để minh họa và dẫn chứng dựa trên một số tác phẩm văn học song ngữ, văn học Việt Nam, từ điển, các bài báo về chuỗi vị từ đăng trên các tạp chí ngôn ngữ học trong và ngoài nước

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm ba chương như sau:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI VỊ TỪ

Trong chương này luận văn trình bày khái quát về hiện tượng SVC trong các ngôn ngữ có SVC nói chung và SVC trong tiếng Việt nói riêng, đồng thời thảo luận một số vấn đề về định nghĩa, nhận diện thuộc tính chung của chuỗi vị từ trong các ngôn ngữ có SVC cũng như tìm ra thuộc tính đặc trưng trong chuỗi vị

từ tiếng Việt

Chương 2 của luận văn tập trung miêu tả mối quan hệ cú pháp-ngữ nghĩa giữa V1-V2 qua một số kiểu SVC phổ biến trong tiếng Việt; so sánh SVC với cấu trúc đẳng kết và quan hệ phụ kết, chứng minh và giải thích về chia sẻ tham tố chủ ngữ và bổ ngữ, trình bày mối quan hệ thời gian giữa các sự tình trong kết cấu

Nội dung chương 2 mong muốn cung cấp những quan hệ cơ bản giữa V2 trong SVC tiếng Việt nhằm giúp người học và người nghiên cứu ngôn ngữ có cái nhìn toàn diện trong việc khảo sát cách sử dụng SVC, đây cũng là cơ sở lý thuyết áp dụng trong thực hành giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài CHƯƠNG III: SO SÁNH CHUỖI VỊ TỪ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ ĐỘNG

V1-TỪ CHUỖI TRONG TIẾNG ANH - VẬN DỤNG VÀO VIỆC DẠY CHUỖI VỊ

TỪ TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Trang 14

Trong chương 3, luận văn thực hiện so sánh động từ chuỗi tiếng Anh với một số SVC tiếng Việt có ý nghĩa tương đương Việc so sánh này nhằm nhận diện và phân biệt những kết cấu tương đồng và khác biệt giữa hai tiếng để học viên học tiếng Việt dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ

Ngoài ra, chúng tôi tiến hành khảo sát khả năng hiểu và sử dụng SVC tiếng Việt của học viên nước ngoài đang học tiếng Việt tại Khoa Việt Nam học – Trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia TP.HCM) qua phiếu khảo sát chuyển dịch song ngữ Với mong muốn giúp người học có thể sử dụng kết cấu SVC tiếng Việt tốt hơn, luận văn sẽ tìm ra nguyên nhân mắc lỗi, phân tích và đề xuất một số giải pháp khắc phục cho người học

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI VỊ TỪ

Nội dung chính của chương này đưa ra những cơ sở lý thuyết về SVC như những định nghĩa về SVC dưới các góc nhìn khác nhau; những đặc điểm về SVC

và những cách phân loại SVC theo nhiều hướng tiếp cận

1.1 Định nghĩa SVC

Theo Osam (1994:190), “Một trong những vấn đề liên quan đến việc

nghiên cứu chuỗi vị từ (serial verbs) trong các ngôn ngữ là khó có hai tác giả cùng đồng ý hoàn toàn một hiện tượng gọi là kết cấu vị từ chuỗi (serial verb construction – SVC) Điều này chứng minh rằng có nhiều định nghĩa khác nhau

(về chuỗi vị từ) của nhiều tác giả khác nhau.”

Lord (1993:1) cũng có ý kiến tương tự khi đề cập về SVC: “Sự khái quát hóa về chuỗi vị từ trong ngôn ngữ này không nhất thiết áp dụng vào những kết cấu tương tự trong ngôn ngữ khác.”

Quan sát và giải thích SVC sớm nhất là Christaller (1875) Ông cho rằng

có 2 kiểu kết hợp vị từ: (i) kết hợp ngẫu nhiên (accidental combination) và (ii) kết hợp phụ thuộc (essential combination) Ông giải thích như sau:

(i) Kết hợp ngẫu nhiên là kết hợp có hai hay nhiều vị từ (có hay không có bổ ngữ) thực hiện những hành động liên tiếp khác nhau, biểu thị một trạng thái hay hành động đồng thời nhưng có cùng chủ ngữ; không có liên từ và không lặp lại chủ ngữ

(ii) Kết hợp phụ thuộc là ngữ vị từ có một vị từ chính và một vị từ khác là trợ động từ bổ sung Trợ động từ bổ sung có thể là trạng ngữ thời gian, phương thức, phụ ngữ, bổ ngữ, …Những hành động thực hiện bởi hai vị

Trang 16

từ là đồng thời, có quan hệ nội tại không thể tách rời, liên kết nhau (1875:144)

Foley và Olson (1985:18) đưa ra nhiều tác tử hơn: thể của chủ ngữ, chia sẻ tham tố, không có bất cứ liên từ nào đan xen SVC chứa hai hay nhiều vị từ, mỗi

vị từ trong chuỗi có thể có một tham tố không chia sẻ với vị từ khác

Baker (1989) xem kết cấu có nhiều vị từ kết chuỗi như một vị từ đơn; thường có một giá trị thì thể cho toàn bộ SVC; có cấu trúc vị ngữ đơn và có cùng tham tố Ông cũng cho rằng các SVC hành chức khác nhau trong những ngôn

ngữ khác nhau

Goldberg (1995) quan niệm SVC là chuỗi gồm các vị từ hành chức như một vị ngữ đơn nhất, không có bất kỳ liên từ nào đánh dấu quan hệ cú pháp giữa các vị từ thành tố SVC miêu tả một sự tình đơn nhất, có cấu trúc nội tại gồm các

sự tình bộ phận do các vị từ thành tố biểu thị

Aikhenvald (2006) cho rằng SVC là sự kết hợp của các vị từ với nhau, hành chức như một ngữ vị ngữ đơn, không có bất kỳ sự đánh dấu bởi liên từ và phụ từ hay cú pháp thuộc bất cứ kiểu nào SVC mô tả một câu đơn và mang thuộc tính ngữ điệu của một câu đơn SVC có thể chia sẻ tham tố trực tiếp và gián tiếp

Tập hợp từ những định nghĩa về SVC của các nhà nghiên cứu khác nhau như Baker (1989), Goldberg (1995), Aikhenvald (2006), chúng tôi rút ra định nghĩa chung cho chuỗi vị từ (SVC):

(i) Đó là chuỗi có nhiều động từ cùng xuất hiện bên cạnh nhau như một vị thể đơn nhất, biểu hiện nhiều tiểu sự tình gắn bó mật thiết với nhau và có tính tuần tự, kế tiếp nhau trong một sự tình phức hợp, không có bất kỳ liên từ nào đánh dấu quan hệ cú pháp giữa các vị từ trong chuỗi

Trang 17

(ii) Chuỗi vị từ là kết cấu “gồm hai hay nhiều vị từ mô tả những sự tình

phức” (Quigley 2002:14), hay kết cấu “có hai hay hơn nhiều vị từ là thực từ, không có trợ vị từ” (Wilawan 1995:54), và chúng “có khả năng xuất hiện như vị

từ duy nhất trong câu đơn” (Sebba 1987: 39)

Ngoài ra, định nghĩa SVC có thể dựa vào ngữ nghĩa hay cú pháp-ngữ nghĩa:

1.1.1 Định nghĩa SVC dựa vào ngữ nghĩa

Dựa vào đặc tính cú pháp của SVC, Li và Thompson (1981, 1989) xác định SVC trong tiếng Hán theo ngữ nghĩa là câu có hai hay nhiều động ngữ liền

kề hoặc những cú không có bất kỳ sự đánh dấu chỉ ra mối quan hệ giữa chúng Yin (2007) viết: “SVC đề cập đến chuỗi vị từ hoặc ngữ vị từ trong câu mà không

có liên từ đan xen” Lipenkova và Müller (2009) coi SVC như “một cấu trúc vị ngữ phức hình thành do hai hay nhiều động ngữ có cùng một chủ ngữ”, còn Tao (2009) cho rằng SVC đề cập đến “một cấu trúc cú pháp có hai hay nhiều động từ liền kề hình thành một vị ngữ phức biểu thị chuỗi hành động có quan hệ với nhau trong câu đơn”

Công trình nghiên cứu đầu tiên của Li và Thompson (1973) về SVC trong tiếng Mandarin–Trung Quốc đã tập trung vào ngữ nghĩa Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đưa ra 4 kiểu kết cấu cơ bản của SVC dựa vào tính thời gian hay vào mục đích quan hệ: tính liên tục, mục đích, đồng thời và tính luân phiên

(i) Tính liên tục (consecutive)

Vd: Thằng bé thay quần áo, ném trên sàn nhà

(ii) Mục đích (purpose)

Vd: Chúng tôi tổ chức họp báo giải trình vấn đề đó

(iii) Tính đồng thời (simultaneous)

Trang 18

Vd: Hoàng lấy xe chạy đi

(iv) Tính luân phiên (alternating)

Vd: Mỗi ngày, Hoàng nhận khách, sắp xếp phòng cho khách

Tuy nhiên theo nhận xét của một số nhà ngôn ngữ học, định nghĩa SVC

dựa trên ngữ nghĩa là “cực kỳ khó để tìm tiêu chí phi cú pháp cho việc xác định

SVC" (Sebba, 1987:3) Thứ nhất là thuộc tính phi cú pháp không phải lúc nào cũng thích hợp trong việc phân loại (Yin 2007)

Thứ hai là khó phân biệt SVC với “những kết cấu chứa bổ ngữ nguyên dạng” (infinitival complements); những kết cấu này không khác biệt với SVC về mặt hình thái (Sebba, 1987)

Vấn đề thứ ba, liên quan đến SVC là trật tự của các thành tố SVC thường

có nhiều cách sắp xếp khác nhau trong những câu đa vị từ Sau đây là một số ví

dụ minh họa trật tự thành tố trong tiếng Mandarin, Trung Quốc:

Trang 19

nghĩa khác nhau, trong khi các vị từ trong SVC của tiếng Mandarin có “mối

quan hệ dường như liên quan đến thời đoạn và ngữ dụng” (1987:4)

1.1.2 Định nghĩa SVC dựa trên cú pháp-ngữ nghĩa

Khác với cách tiếp cận SVC ở một bình diện, cú pháp hay ngữ nghĩa, còn có cách tiếp cận SVC trên cả bình diện cú pháp và ngữ nghĩa (Sebba 1987:5)

Theo cách tiếp cận SVC dựa trên đặc trưng cú pháp-ngữ nghĩa, SVC đề cập đến vấn đề tham tố, chỉ có một chủ ngữ cách (về mặt cú pháp) đại diện trong SVC (Goddard, 2005), cùng chia sẻ ít nhất một tham tố (Aikhenvald, 2006) Chủ ngữ của chuỗi vị từ đồng sở chỉ với vị từ chính (Clark 1992:147)

Vd: - Cái chai trôi vào bờ biển

- Chúng tôi mua cá về, làm sạch, chiên ăn

- Anh ấy cầm dao chặt thịt

Những câu có bổ ngữ vừa là bổ ngữ trực tiếp của vị từ thứ nhất vừa là chủ ngữ cho vị từ thứ hai cũng được coi là một kiểu chuỗi (Aikhenvald 2006 & Sebba 1997: tr.43-44, 87)

Vd: - Thằng bé xô bạn ngã

- Cô ấy giặt quần áo sạch

cú, sự tình, thuộc tính thời gian: tất cả vị từ phải xuất hiện trong một cú (Foley

và Olsen 1995, Baker 1989), đề cập đến “một sự tình đơn nhất” (single unitary event) (Aikhenvald, 2006) hay “sự tình khái niệm” (conceptual event) (Jarkey:

12), Trong trường hợp có tiểu sự tình (sub-events), các sự tình này được coi là sự

tình vệ tinh của “sự tình mẹ” (macro-events) (Payne) Giải thích cho sự tình này

có thể dựa vào trải nghiệm hay ngữ cảnh văn hóa (Goddard 2005: 122-124)

Trang 20

Thuộc tính thời gian của SVC phải đồng thời với thì của vị từ đứng trước (Clark 1992: tr.148), nếu chuỗi vị từ biểu thị một sự tình chuyển động thì yếu tố

thời gian có thể ở sau vị từ đứng trước cùng thì, thể, thức (Tense-Aspect-Mood:

TAM) yếu tố thời gian phải áp dụng cho toàn bộ cấu trúc (Aikhenvald: 2006) Trong chuỗi vị từ, TAM có thể đánh dấu trên một hoặc hai vị từ, mỗi vị từ được đánh dấu có cùng thì, thể, thức hay lực ngôn trung như vị từ chính

Định nghĩa SVC dựa trên ngữ nghĩa hay cú pháp- nghĩa thì trên thực tế, các nhà nghiên cứu thường xây dựng định nghĩa theo cách riêng phù hợp cho từng loại ngôn ngữ mà họ nghiên cứu Chẳng hạn như SVC trong tiếng Mandarin – Trung Quốc, tiếng Việt cho phép có bổ ngữ khác nhau còn SVC trong tiếng Hmong Trắng thì có tham tố cách khác nhau (Aikhenvald) Clark

không nhất trí với quan điểm của Fuller đã tuyên bố (1989) “lược bỏ danh ngữ

đồng sở chỉ” Các yếu tố khác nhau được phép hay không được phép đề cập

trong định nghĩa chuỗi vị từ phụ thuộc vào tiếng nói và ngôn ngữ đó

1.2 Đặc điểm của SVC

Trong những nghiên cứu gần đây, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã mô tả hiện tượng SVC trong các ngôn ngữ dần dần có nhiều chi tiết hơn, nhiều nghiên cứu bổ sung được cập nhật, phân tích thêm nhiều khía cạnh khác nhau của SVC, giúp chúng ta hiểu và nhìn nhận thấu đáo hơn về chúng Tuy nhiên, vẫn có vài khía cạnh khác về SVC vẫn chưa được thống nhất Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tranh luận về các định nghĩa, đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa của SVC, việc xác

định phạm trù SVC, kiểu SVC

Aikhenvald (2006) đã phân loại đặc điểm SVC dựa trên một số tham tố gồm:

(a) Sự cấu tạo (composition): SVC đối xứng (symmetrial SVC) gồm hai hay

nhiều vị từ, thuộc lớp vị từ có ngữ nghĩa và ngữ pháp không hạn định; trong khi

Trang 21

SVC phi đối xứng (asymmertrial SVC) gồm vị từ thuộc lớp vị từ có ngữ nghĩa

và ngữ pháp hạn định (như vị từ chuyển động hay vị từ tư thế…)

(b) Sự liền kề hay không liền kề của các thành tố (Contiguity versus

non-contiguity of components): những vị từ hình thành nên SVC phải là những vị từ

liền kề nhau, không có thành tố nào xen giữa chúng; trong khi các cấu trúc khác với SVC thì cho phép có tác tử đan xen giữa các vị từ

(c) Từ tố của các thành tố (Wordhood of components): các thành tố của SVC có

hoặc không có hình thức ngữ pháp hay âm vị độc lập

(d) Đánh dấu phạm trù ngữ pháp trong SVC (Marking of grammatical category

in a SVC): các đơn vị/ý nghĩa ngữ pháp như vị từ, chủ ngữ, bổ ngữ, thì, thể, thức,

tác tử phủ định hoặc thay đổi diễn trị có thể được đánh dấu chỉ một lần trên kết cấu (đánh dấu đơn) hay có thể đánh đấu trên mỗi thành tố (đánh dấu phù ứng) (Aikhenvald 2006:3)

Theo Aikhenvald (2006:1), “SVC là chuỗi những vị từ hoạt động cùng nhau như

vị ngữ đơn, không có bất kỳ sự đánh dấu của liên từ đẳng kết, phụ kết hay bất cứ quan hệ cú pháp phụ thuộc nào” Aikhenvald (sđd) đã tập hợp khá đầy đủ những

đặc điểm về SVC trong một số loại hình ngôn ngữ thế giới; chúng được miêu tả

khá chi tiết trong công trình “Serial Verb Constructions – Across linguistic

Typology”, đó là:

a Mệnh đề đơn

b Miêu tả khái niệm như sự tình đơn

c Thuộc tính ngữ điệu giống như mệnh đề vị ngữ đơn

d Có chỉ một thì, thể hay lực ngôn trung

e Có thể chia sẻ tham tố nòng cốt hay tham tố khác

f Mỗi thành tố của SVC chắc hẳn xuất hiện theo cách riêng của chúng

Trang 22

g Những vị từ riêng có thể giống hoặc khác giá trị chuyển tác

h Hành động cùng nhau như một cú pháp trọn vẹn

Theo Ailkenvald, “trong ngôn ngữ đơn lập, SVC được kỳ vọng có nhiều thuộc

tính nhất, nhưng không nhất thiết phải có tất cả những thuộc tính nêu trên Điều này cho thấy những SVC nào gần giống SVC điển mẫu thì có nhiều thuộc tính nhất” (Aikhenvald 2006:3)

Không phải SVC nào cũng hội tụ đầy đủ những đặc điểm trên Điều đó có nghĩa là nếu một SVC mang nhiều thuộc tính nêu trên thì nó gần với SVC “điển mẫu” Ngược lại, nếu một SVC thiếu một số thuộc tính nêu trên thì nó cũng vẫn được coi là SVC nhưng nó không phải là một SVC điển mẫu

Bisang (1986) cho rằng SVC có những đặc trưng phổ quát như sau:

(i) Điệu hình ngữ điệu đơn bao trùm lên toàn bộ cấu trúc;

(ii) Không có liên từ, kết từ xen vào giữa những vị từ;

(iii) Toàn bộ cấu trúc biểu thị một sự tình khái niệm đơn

Hai đặc điểm (i) & (ii) cho thấy SVC là câu đơn, đặc điểm này dễ dàng tìm thấy trong các ngôn ngữ Tính hình điệu và điểm dừng trong kết cấu cũng được chú trọng

b Cảnh sát truy đuổi/ tên cướp bị thương (Tên cướp bị thương)

Sau đây là những phân tích sâu hơn về một số đặc điểm chính của SVC:

1.2.1 Vị ngữ chứa chuỗi vị từ

Trong định nghĩa SVC, một số tác giả như Sebba (1987) đề cập đến chuỗi vị từ (serial verbs) là chuỗi của một hay nhiều vị từ kết hợp với nhau Theo Sebba, chuỗi vị từ có hai phương thức kết hợp sau: (i) V1 NP V2 NP và (ii) V1 NP V2 với V2 hiển nhiên không phải là một vị tử nguyên mẫu như trong tiếng Anh

Trang 23

Ví dụ: (i) V1 - NP - V2 - NP

Anh đứng trên cầu đợi em

Nhân viên cây xanh gom dọn những nhánh cây gãy trên đường (ii) V1 – NP - V2

Bà Hai đi chợ mua cua, cá

1.2.2 Tính hình hiệu

Tính hình hiệu tồn tại trong SVC theo hình thức chuỗi thời gian Tuy nhiên, cũng có giả định về sự tích hợp ngữ nghĩa, hàm ý rằng sự hợp nhất ngữ nghĩa trong SVC càng nhiều thì càng ít có thể phân biệt những yếu tố do vị từ biểu thị là những sự tình riêng lẻ, do chúng tích hợp thành sự tình đơn thống nhất Vì thế, cả tính hình hiệu và sự hòa hợp ngữ nghĩa đồng tồn tại là không thể

phân biệt được

Theo Soethero (1997:8), “Tiêu chí cơ bản của SVC đó là các sự kiện được miêu tả theo thứ tự Vị từ V1 miêu tả chuỗi sự tình hay hành động xuất hiện đầu tiên, các vị từ còn lại miêu tả tính chất quyết định của sự tình”

1.2.3 Mệnh đề đơn như là nét đặc trưng của SVC

Ý tưởng coi SVC là một mệnh đề đơn là không mới Bendix (1972:2) cho rằng SVC là “chuỗi là những vị từ và ngữ vị từ kết hợp cùng nhau để hình thành ngữ vị từ đơn mở rộng” Còn Boadi (1968:84) cũng có tiêu chí tương tự khi định nghĩa về SVC là “những kết cấu chứa những chuỗi có hai hay nhiều ngữ vị từ hình thành một cấu trúc đơn nội tại chặt chẽ”

1.2.4 Về tiếp cận đặc trưng điệu tính

Trong khi những tính chất của SVC được liệt kê ở trên là khá rõ ràng nhưng cũng có một số tác giả, chẳng hạn như Newmeyer cho rằng vẫn còn thấy mơ hồ

về các thuật ngữ như “mệnh đề đơn” (monoclausal), “khái niệm như một sự tình

Trang 24

đơn” (conceptualized as single event) Ông cho rằng cần bổ sung ý “miêu tả những gì được khái niệm như một sự tình đơn” (describe what is conceptualized

as a single event) vào cách xác định đặc trưng của SVC (Newmeyer 2004:1) Newmeyer kế thừa quan điểm của Givón (1991) trong cách dùng trọng âm để thực hiện điểm ngừng (ngắt câu) giữa các thành tố của SVC Điểm dừng và ngữ điệu có thể gọi là cách tiếp cận điệu tính trong việc định nghĩa chuỗi vị từ

1.3 Phân loại SVC

Phân loại SVC là vấn đề khá phức tạp, hiện vẫn chưa có sự nhất trí về vấn đề này Trong những nghiên cứu ban đầu thì việc phân loại SVC khá đơn giản Omar (1976:960) chia ngữ vị từ phức (complex verb phrases) thành 3 nhóm: (i)

VP1, VP2 là hai vị từ khác nhau ; (ii) VP1 là tính từ, VP2 là vị từ; (iii) VP1 là vị

từ, VP2 là tính từ

Li & Thompson (1989) cho rằng “động ngữ trong chuỗi vị từ luôn đề cập đến sự tình hay trạng thái sự việc có liên quan đến sự tình hay trạng thái sự việc toàn bộ”(1989: 594) Dựa trên miêu tả này, Li và Thompson chia SVC tiếng Hán thành 4 tiểu nhóm : (i) Sự tình riêng lẻ (Separate events), (ii) Mệnh đề chứa chủ ngữ/ bổ ngữ) (Subject/Object Clauses), (iii) Cấu trúc vị ngữ nòng cốt (Pivotal Construction), (iv) Mệnh đề miêu tả (Descriptive Clauses)

Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu lại chia chuỗi vị từ theo thuộc tính ngữ nghĩa và cú pháp Aikhenvald (2006), chia chuỗi vị từ thành 4 loại : (i) Chức năng luân chuyển (Switch function SVCs) ; (ii) Chủ ngữ tích lũy (Cumulative subject SVCs) ; (iii) Tham tố sự tình (Event-argument) ; (iv) Chuỗi kết quả (Resultative SVCs)

Trang 25

Sudmud (2006) chia SVC thành 8 loại dựa vào ngữ nghĩa và hình thức đặc

trưng của vị từ: chuyển động, tư thế, từ công cụ “lấy” (take), “dùng” (use), lớp

từ mở “cho”, (give), gây khiến và kết quả

Có tác giả chỉ dựa vào thuộc tính cú pháp để phân loại SVC Jenkins (2006:7) chia SVC theo chuỗi đẳng kết và phụ kết; ông cũng chú ý đến kiểu chuỗi phối hợp với cùng chủ ngữ hoặc khác chủ ngữ Jarkey (2006:117) chia

SVC trong tiếng Hmong Trắng thành 4 loại: (i) thuộc tính thời gian (contemporal); (ii) diễn tố nòng cốt (pivotal); (iii) sự hoàn thành (attainment); (iv) sự hủy diệt (disposal)

Ngoài những cách phân loại ở trên, có tác giả phân loại SVC dựa trên nguyên tắc tổ chức riêng lẻ hay kết hợp của chuỗi hành động

SVC còn có thể được phân loại dựa trên các tham số sau: (i) tính chuyển tác (transivity); (ii) chia sẻ tham tố (argument sharing); (iii) sự tích hợp ngữ nghĩa (Semantic intergration)

1.3.1 Phân loại SVC dựa trên tính chuyển tác

SVC trong tiếng Việt có thể phân loại theo tính chuyển tác của động từ xuất hiện trong kết cấu Sau đây là những cách kết hợp thường gặp trong tiếng Việt:

(i) V1- động từ ngoại động, V2- động từ ngoại động (V1-transitive –V2-transitive)

Bé bôi bẩn sách anh trai

Nam đập vỡ cái ly

Vụ bán cá lần trước đã muốn bắn bể đầu nhau rồi [36:146]

(ii) V1-động từ nội động – V2- động từ nội động (V1-intransitive - V2-intransitive)

Bà Năm đứng lên đi vào nhà

Bé An chạy đến bên mẹ (iii) V1- động từ ngoại động, V2- động từ nội động (V1-transitive- V2-intransitive)

Trang 26

Người nông dân cột bò vào cọc Đứa bé xô bạn ngã xuống đất (iv) V1 động từ nội động –V2 động từ ngoại động (V1-intransitive-V2- transitive)

Nam đứng gọi đàn bò Học sinh đứng lên chào cô giáo

SVC có thể phân loại dựa vào tính chuyển tác, đây cũng là một trong những phương thức thường dùng giải thích các kiểu SVC khác nhau trong ngôn ngữ nhất định (given language) hay các ngôn ngữ khác trên thế giới Tuy nhiên, SVC cũng được phân loại dựa trên phương thức khác như chia sẻ tham tố được

trình bày sau đây trong mục 1.3.2

1.3.2 Phân loại SVC dựa vào tính chia sẻ tham tố

Quan hệ giữa mỗi động từ và tham tố danh ngữ gắn liền với chúng là cung cấp tham số khác hữu ích cho khung tiểu phạm trù hóa (Foley và Olson 1985,

Crowley 1987:38, Osam 1994:197, Hiraiwa và Bodomo 2008)

- Chuỗi có cùng chủ ngữ (Same-Subject Serialization)

b An cầm bịch thức ăn đổ vào đĩa ăn cho mèo

- Chuỗi có chủ ngữ luân phiên (Switch-Subject Serialization)

Chuỗi có chủ ngữ luân phiên (Foley và Olson 1985:25; Crowley 1987:39) là tương đương với cấu trúc SVC gây khiến, ở chỗ “bổ ngữ của động từ thứ nhất và chủ ngữ của động từ thứ hai đồng sở chỉ” (Osam 1994:198)

b Đứa bé trêu bạn bỏ chơi

- Chuỗi có chủ ngữ phối hợp (Combined-Subject Serialization)

Trang 27

Kiểu chuỗi này có chủ ngữ và bổ ngữ trực tiếp của V1, đồng thời cả hai là chủ

xuất hiện trong tiếng Việt xem các ví dụ sau:

b Cảnh sát áp tải phạm nhân đến tòa án

b Nam dùng cưa máy cưa cây

Kiểu cuối cùng Osam dựa vào tham số của chia sẻ tham tố là kiểu SVC có đa bổ ngữ (multiple-object) tương ứng với kiểu vị từ V1 ngoại động - V2 ngoại động đã trình bày ở trên dựa theo tính chuyển tác

- Chuỗi có nhiều bổ ngữ (Multiple Object Serialization)

b Nam đánh thằng bé đau

Mặc dù (4) được xem như là chuỗi đa bổ ngữ nhưng có sự khác nhau giữa (1) và (4) Trong ví dụ (1) các bổ ngữ là những danh ngữ khác nhau, ví dụ (4) chúng ta

có danh ngữ đồng sở chỉ Vì thế, kiểu chuỗi có đa bổ ngữ có thể gọi là kiểu chuỗi

bổ ngữ đồng sở chỉ (Co-referential Object Serialization)

Mục đích phần này biểu thị tiêu chí luân phiên trong phân loại SVC trên cơ sở chia sẻ tham tố

1.3.3 Phân loại SVC dựa trên sự tích hợp ngữ nghĩa

Phân loại SVC tiếng Việt có thể dựa trên tiêu chí tính chuyển tác và chia

sẻ tham tố Ngoài ra, còn có cách phân loại khác dựa vào mức độ tích hợp ngữ nghĩa Trong khung lý thuyết của Osam (1994), chúng tôi xác nhận có 3 kiểu SVC: (i) kiểu SVC có mệnh đề kết chuỗi (Clause Chaining Serial Construction –CSC), (ii) kiểu SVC có tích hợp từ vựng cục bộ (Partically Lexicalized-Integrated Serial Verb Construction - PL-ISVC) và (iii) kiểu SVC có tích hợp từ

Trang 28

vựng toàn bộ (Full Lexicalized-Integrated Serial Verb Construction-FL-ISVC) Tuy nhiên, có sự khác nhau trong 3 kiểu SVC trên, kiểu FL-ISVC được tích hợp

về mặt ngữ nghĩa và từ vựng nhiều hơn những kiểu khác như CSC và PL-ISVC

Theo Lawal (1989) bình luận về cách phân loại SVC cho rằng “không một

sự phân loại nào mà chưa đề cập đến những kiểu SVC, thường là người nghiên cứu sau mở rộng dữ liệu hơn Vấn đề này cho thấy khuynh hướng nghiên cứu ngày càng tăng lên với những đóng góp mới trong ngôn ngữ” Lawal (1989:3)

Tuy nhiên, cách phân loại của Osam cung cấp khung lý thuyết đầy triển vọng đó

là tính khái quát đủ để bao quát cho việc phân loại SVC trong các ngôn ngữ thế giới, trong khi tính chi tiết có ý nghĩa liên quan đến mặt ngôn ngữ học

Tiểu kết

Có nhiều cách định nghĩa SVC dưới những góc nhìn khác nhau và SVC có thể được phân loại khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau

Tuy những nhà nghiên cứu về SVC vẫn chưa thống nhất về thuật ngữ, định nghĩa

và cách phân loại SVC, nhưng có thể khái quát những đặc trưng sau:

(i) Tuy bao gồm nhiều vị từ nhưng câu có SVC vẫn là một câu đơn như trong các ngôn ngữ không có SVC;

(ii) Câu có SVC có ngữ điệu tương ứng với câu đơn;

(iii) SVC chỉ có một giá trị ‘thì’, ‘thể’, ‘tình thái’ hay một lực ngôn trung; (iv) Các vị từ thành tố của SVC có chung ít nhất một tham tố, có thể thuộc cùng lớp hoặc khác lớp nghĩa và hành chức với chức năng khác nhau

Trang 29

Chương 2 CHUỖI VỊ TỪ TRONG TIẾNG VIỆT

SVC tiếng Việt miêu tả những sự tình được nhận thức, được thực hiện theo trật tự tuyến tính Sự tình được nhận thức hay thực hiện trước trong thế giới khách quan sẽ được biểu thị bằng một vị từ hay ngữ vị từ ở vị trí thứ nhất trong cấu trúc của vị ngữ (V1/VP1), còn sự tình được nhận thức hay thực hiện sau đó sẽ lần lượt xuất hiện theo trật tự V2, V3…

2.1 SVC và chuỗi vị từ tình thái

Trước khi tiến hành phân tích SVC tiếng Việt, cần nêu ra một vài khác biệt giữa SVC và chuỗi vị từ tình thái

Chuỗi vị từ tình thái hay vị ngữ phức (complex verbal predicate) gồm ít nhất hai

vị từ, một vị từ giữ vai trò trung tâm ngữ nghĩa, vị từ còn lại – vị từ véc-tơ (vector verb) – là trung tâm cú pháp của vị ngữ, hành chức như chỉ tố đánh dấu

thì, thể, thức, hoặc tình thái

Sự khác nhau giữa SVC và chuỗi vị tình thái từ: SVC dùng ít nhất hai vị từ để biểu thị hai biến cố, còn chuỗi vị từ tình thái dùng ít nhất hai vị từ để biểu thị một biến cố

So sánh hai câu dưới đây:

a Nam vẫn đang chơi game

b Nam vẫn đang ngồi chơi game

Ngữ vị từ chơi game trong (a) là trung tâm ngữ nghĩa của vị ngữ phức, còn các

vị từ khác vẫn đang là các vị từ véc-tơ đánh dấu ý nghĩa thể của sự tình do vị ngữ phức biểu thị Trong khi đó, câu (b) gồm hai ngữ vị từ ngồi chơi làm trung

Trang 30

nghĩa thể như trong (a)

Xét về cấu trúc vị ngữ, (a) gồm nhiều vị từ kết chuỗi, nhưng chỉ miêu tả một biến cố, nên (a) là vị ngữ phức Còn (b) miêu tả hai biến cố khác nhau đồng hành trong thời gian nên (b) được xem là một SVC

2.2 Một số kiểu SVC phổ biến trong tiếng Việt

Dựa trên các đặc trưng cú pháp–ngữ nghĩa của các SVC, chúng tôi chia SVC tiếng Việt thành một số loại như sau:

1 SVC chuyển động

(i) Chuyển động-đích (motion-goal)

(ii) Phương thứ-chuyển động (manner-motion)

(iii) Chuyển động ngược hướng (opposing motions)

2 SVC hoạt động

(i) Tư thế-hoạt động (posture-activity)

(ii) Hoạt động-đích (activity-goal)

(iii) Hoạt động-kết quả (activity–result)

động thành các tiểu loại sau:

(i) Chuyển động-đích (motion–goal)

Trang 31

SVC loại này rất phổ biến trong tiếng Việt SVC chuyển động-đích thường bao gồm một vị từ chuyển động và theo sau vị từ này là một vị từ biểu thị một hoạt động – được xem là đích của chuyển động Kết cấu này miêu tả hai quá trình nối tiếp nhau trong thời gian: (i) một chuyển động do ngữ vị từ thứ nhất biểu thị hướng đến một đích nào đó; và (ii) hoạt động do ngữ vị từ thứ hai biểu thị sẽ diễn ra khi chuyển động đạt đích Nói một cách chính xác hơn, chuyển động phải được thực hiện trước để hoạt động theo sau có thể được hiện thực hóa

b Tôi sang nhà Nam chơi

c Tôi về khám bệnh ngay

SVC kiểu [đi + V] rất phổ biến trong tiếng Việt và nó nhấn mạnh đến quá trình chuyển động ‘rời xa’ hoặc ‘lại gần’ một địa điểm trước khi thực hiện hoạt động

tiếp theo trong chuỗi

Quan hệ ngữ nghĩa giữa các vị từ thành tố trong SVC (1) có thể được giải thích như sau: (i) vị từ thứ hai trong SVC biểu thị mục đích của chuyển động do vị từ thứ nhất biểu thị; (ii) SVC miêu tả một chuỗi hoạt động, gồm hai hoạt động diễn

ra kế tiếp nhau, không gián đoạn

Trong SVC chuyển động-đích, danh ngữ xuất hiện giữa hai vị từ trong SVC giữ hai vai nghĩa: (i) hướng của chuyển động và (ii) nơi chốn mà hoạt động diễn ra

Cả hai vị từ trong SVC có cùng hai tham tố: chủ ngữ/hành thể (agent) và bổ ngữ/tham tố hướng-nơi chốn

b Anh Park đến/sang Việt Nam làm việc

Tuy nhiên, quan hệ cú pháp-ngữ nghĩa này sẽ thay đổi khi chủ ngữ trong những

SVC này không giữ vai hành thể mà giữ vai tặng cách (dative/recipient), người

thụ hưởng từ những hoạt động do những vị từ này biểu thị

Trang 32

(ii) Phương thức-chuyển động (manner-motion)

SVC phương thức-chuyển động chỉ hướng hoặc đích bao gồm hai vị từ chuyển động: (i) vị từ chuyển động biểu thị sự thay đổi vị trí; và (ii) vị từ chuyển động chỉ hướng Về mặt ngữ nghĩa, SVC này miêu tả sự thay đổi vị trí của chủ thể thông qua một phương thức nào đó do vị từ chuyển động thứ nhất biểu thị:

b Con chim bay lên trời

c Cua bò vào trong hang

d Sáng mai, tôi bay ra Hà Nội

e Đứa bé chạy đến mẹ

Sự chuyển vị trí này được xem là phương thức mà chủ thể sử dụng để thực hiện chuyển động do V2 biểu thị Hiện nay, trong tiếng Việt các vị từ chuyển động chỉ hướng đều được xem là giới từ chỉ hướng hoặc đích (directional prepostion) Sự chuyển loại này là kết quả của một quá trình ngữ pháp hóa Tuy nhiên, những đơn vị này vẫn hành chức như những vị từ chuyển động vì nếu lược bỏ các vị từ chuyển động thứ nhất, ý nghĩa chuyển động có hướng hay đích vẫn được giữ nguyên, chỉ có ý nghĩa phương thức bị mất đi

(iii) Chuyển động ngược hướng (opposing motion)

Loại SVC này bao gồm các vị từ chuyển động ngược hướng như ra vào, lên

xuống, qua lại, lui tới, đi lại Xét các ví dụ sau:

b Tên kia cứ lui tới nãy giờ Để mắt đến hắn đấy

c Gần đây, cô ta hay lui tới tiệm cà phê này lắm

d Ông ta qua lại Paris-Sài Gòn cứ mỗi 2 tháng

e Giá xăng dầu lên xuống bất thường cả tháng nay

Trang 33

f Cô ta qua lại với nhiều hạng người lắm

g Anh đừng nên đi lại với cô ta

Về mặt ngữ nghĩa-cú pháp, SVC này bao gồm hai động từ phi chuyển tác, miêu

tả những chuyển động ngược hướng nhau Về bản chất đây là những chuyển động giống nhau, diễn ra liên tục theo hướng ngược nhau Vì vậy, SVC này được xem là miêu tả một SVC sự tình đơn nhất, gồm các khúc đoạn đồng nhất Trên phương diện thể của sự tình, thì SVC miêu tả một sự tình tái diễn (reiterative situation)

Về mặt ngữ nghĩa, SVC trong (4f) và (4g) đã chuyển nghĩa và qua lại/đi lại có thể được xem như một vị từ đa âm tiết có nghĩa ‘có quan hệ, giao du với’ Do đã chuyển nghĩa, qua lại/đi lại không còn hành chức như một SVC đích thực, vì đặc

trưng miêu tả một chuỗi các hoạt động khác nhau đã bị triệt tiêu

2.2.2 SVC hoạt động

SVC hoạt động gồm 3 tiểu loại: (i) tư thế-hoạt động; (ii) hoạt động-đích; và (iii) hoạt động-kết quả Ngoài ra, trong nhóm này còn có loại SVC đồng nghĩa có kiểu vị từ quan hệ nghĩa phóng chiếu

(i) Tư thế-hoạt động (posture-activity)

SVC tư thế-hoạt động được hình thành dựa trên sự kết hợp giữa ngữ vị từ chỉ tư thế và một vị từ hoạt động (chuyển tác hoặc phi chuyển tác, phi chuyển động) SVC loại này biểu thị trật tự các biến cố theo cách miêu tả của người bản ngữ Việt: sự tình xảy ra trước miêu tả trước Xét các ví dụ sau:

b Thằng bé đang ngồi ngủ gật trên ghế

c Bếp trưởng đang đứng chỉ bảo những phụ bếp chọn nguyên liệu

d Bà Vú nằm võng ru đứa bé ngủ

Trang 34

biết trước, tiếp đến là hoạt động của đối tượng Đối tượng được miêu tả trong (5) được nhận biết trước tiên thông qua tư thế, sau đó mới đến hoạt động đối tượng đang thực hiện Trong SVC tư thế-hoạt động, bổ ngữ nơi chốn của vị từ tư thế cũng có thể là bổ ngữ nơi chốn của vị từ hoạt động (5 b, c, d) theo sau hoặc có thể là bổ ngữ chỉ nguồn (source) của hoạt động mà đối tượng thực hiện (5a)

Về mặt ngữ nghĩa, vị từ hoạt động không biểu thị mục đích của vị từ tư thế Vị

từ tư thế hành chức như một tác tử tạo nền cho hoạt động do vị từ thứ hai biểu

thị, vì thế nó quan trọng trong việc miêu tả các chuỗi sự việc diễn ra theo cách nhìn của người Việt

Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, SVC tư thế-hoạt động trong nhiều trường hợp được dùng để miêu tả thái độ của một đối tượng nào đó với một sự việc đang diễn ra:

(6) a Thiếu tá công an đứng nhìn dân bị hành hung

(ii) Hoạt động-đích (activity-goal)

SVC hoạt động-đích bao gồm các vị từ chỉ các hoạt động khác nhau do cùng một chủ thể thực hiện SVC loại này cũng miêu tả chuỗi hoạt động diễn ra theo trật tự

Trang 35

trước-sau trên trục thời gian và trật tự thời gian này, tương tự như SVC tư thế-hoạt động, cho thấy trật tự trong nhận thức và miêu tả thế giới của người Việt

Về mặt cú pháp-ngữ nghĩa, vị từ thứ nhất trong SVC là vị từ chuyển tác, có chủ ý; còn vị từ thứ hai hoặc cũng là một vị từ chuyển tác có chủ ý (d, e), hoặc là một vị từ phi chuyển tác (vị từ chuyển động) (a, b, c):

b Hoa cầm dao cắt bánh mì

c Nam lên xe phóng đi

d Nam mua sách đọc

e Nam pha cà phê uống

Trong các câu trên, ngữ vị từ thứ hai hành chức như một tác tử đánh dấu mục đích của hoạt động do ngữ vị từ thứ nhất biểu thị Ý nghĩa này hình thành trên quan hệ phóng chiếu ngữ nghĩa giữa hai vị từ thành tố trong SVC hoạt động-đích

Tuy nhiên, ở đây phát sinh vấn đề là giới từ mục đích ‘để’ có thể xuất hiện giữa các vị từ thành tố trong SVC hoạt động-đích để đánh dấu một cách hiển ngôn ý nghĩa mục đích hay không Để trả lời câu hỏi này, chúng ta so sánh các câu trong (7) với các câu trong (8):

b Nam làm việc vất vả để kiếm tiền

Sự có mặt của ‘để’ với tư cách là trung tâm ngữ giới từ chỉ mục đích trong (8)

mang tính bắt buộc để câu đúng ngữ pháp Về mặt ngữ nghĩa, các ngữ vị từ học

tiếng Anh, làm việc vất vả không được mặc định là cùng trường nghĩa với các

ngữ vị từ theo sau; tức trong nhận thức của người bản ngữ những vị từ thứ hai

không được mặc định như mục đích tự thân của ngữ vị từ thứ nhất Vì vậy, vai

Trang 36

ngữ vị từ theo sau nó

(iii) Hoạt động-kết quả (Activity-result)

SVC hoạt động-kết quả có V1 là nhóm vị từ tri giác, chỉ hoạt động nghe-nhìn, quá trình nhận thức, v.v.; V2 đánh dấu kết quả của hoạt động nghe-nhìn hay nhận thức; trật tự các thành tố trong SVC hoạt động-kết quả là [V1 – V2 – O]

b Sương mù dày đặc, cô khó nhìn thấy chiếc thuyền

c Khi bước vào đây, tôi ngửi thấy mùi khét

d Nam tìm được một công việc rất tốt

e Christopher Columbus tìm ra châu Mỹ

f Hơn 10 năm rồi, làm sao tôi nhận ra anh ngay chứ?

SVC trong (9 a, b, c) có các V1 là các ngữ vị từ biểu thị hoạt động nghe nhìn của chủ thể do bổ ngữ trực tiếp biểu thị; V2 đánh dấu kết quả của hoạt động nghe nhìn, được cụ thể hóa bằng bổ ngữ trực tiếp đứng ngay sau nó Kiểu SVC này không miêu tả hoạt động mà miêu tả trạng thái kết quả của quá trình; nó kết hợp

với các yếu tố “đã, rồi” đánh dấu ý nghĩa hoàn thành hay đánh dấu sự biến đổi

trạng thái

SVC hoạt động-kết quả cho phép không, chưa xuất hiện giữa hai ngữ vị từ và tác

động đến V2trong SVC

(10) a Tôi tìm không thấy nhà anh Nam

b Tôi nghe không ra từ này

c Tôi nhớ không ra đã gặp cô ấy ở đâu

d Cả tháng nay tôi tìm chưa được việc làm thích hợp

Trong SVC hoạt động-kết quả còn có loại SVC đồng nghĩa (synonymous SVC) SVC này trong tiếng Việt gồm hai vị từ thành tố có quan hệ phóng chiếu ngữ

Trang 37

nghĩa Vị từ thứ nhất, chủ yếu là vị từ ngoại động có các danh ngữ chỉ bộ phận

cơ thể như đầu, mắt, tay, biểu thị một cử chỉ; vị từ thứ hai biểu thị một hành vi

giao tiếp xã hội hoặc một thái độ, trạng thái tình cảm Quan hệ ngữ nghĩa giữa hai vị từ này hình thành trên cơ sở ẩn dụ: thành tố thứ nhất được xem là lĩnh vực nguồn (source domain), thành tố thứ hai là lĩnh vực đích (target domain) Quan

hệ giữa hai hoạt động do hai vị từ thành yếu tố biểu thị là quan hệ được mặc định

(chẳng hạn như gật đầu là đồng ý) trong giao tiếp xã hội Hành vi, thái độ, v.v

được suy ra từ một hoạt động cụ thể của chủ thể Trong thực tế, đây không phải

là một chuỗi hoạt động mà chỉ có một hoạt động được thực hiện và ý nghĩa được suy ra từ hoạt động đó Tuy nhiên, trong quá trình giao tiếp, quan hệ này được

mã hóa bằng các ngữ thức ngôn ngữ Các ngữ động từ này có thể kể: gật đầu

đồng ý, lắc đầu từ chối, vẫy tay chào, cúi người chào, chấp tay chào, khoanh tay chào (thưa), bắt tay chào, ôm nhau chào, cúi đầu tạ lỗi, chắt lưỡi tiếc rẻ, liếc mắt nhìn trộm, liếc mắt đưa tình, lườm nguýt coi thường (cự tuyệt, miệt thị, không vừa lòng), nháy mắt ra hiệu,…

Trật tự của các thành tố trong SVC đồng nghĩa không mang tính hình hiệu, vì trật tự của hai vị từ thành tố không phản ánh trật tự thời gian của hai sự tình trong thực tại như các chuỗi SVC khác

2.2.3 SVC chuyển vị (locative-motion)

SVC chuyển vị bao gồm vị từ tĩnh [Ở + NPnơi chốn] và vị từ chuyển động có hướng Xét các ví dụ sau:

b Bác tôi ở Đà Nẵng vào Sài Gòn thăm gia đình

c Kim ở Sài Gòn lên

d Kim ở Sài Gòn lên Đà Lạt xem Festival hoa

Trang 38

ngữ cho vị từ ‘ở” Về mặt ngữ nghĩa, danh ngữ này giữ hai vai nghĩa: (i) nơi

chốn (locative) gắn với vị từ ‘ở’; và (ii) nguồn (source) gắn với vị từ chuyển động xuất hiện phía sau Hướng hoặc đích của vị từ chuyển động trong SVC loại này thường là nơi người phát ngôn đang nói Chẳng hạn như trong (11a), người

phát ngôn đang ở Sài Gòn thì Sài Gòn là hướng/đích của chuyển động vào;

tương tự với (11c), người phát ngôn đang ở Đà Lạt thì nơi này trở thành

hướng/đích của chuyển động lên

SVC chuyển vị có thể được mở rộng về bên phải cùng với sự xuất hiện của một ngữ vị từ hành động biểu thị mục đích của của chuyển động có hướng/đích (11b, d)

2.2.4 SVC chuyển thái

SVC chuyển thái miêu tả sự chuyển hướng tâm lý của chủ thể bao gồm (i)

vị từ tĩnh chỉ trạng thái và (ii) vị từ chuyển động Sự chuyển trạng thái được hiểu

là sự chuyển đổi từ thấp lên cao của cùng một trạng thái theo hướng tâm lý tiêu cực, tích cực, trung tính

Các vị từ chỉ hướng tâm lý tích cực ra, lên, như đẹp ra, khỏe ra, mập ra,

cao lên, tăng lên,…; chỉ hướng tâm lý tiêu cực đi, như gầy đi, sạm đi, xấu đi, ốm, nghèo đi, …; chỉ hướng tâm lý trung tính lại, như ốm lại, khỏe lại…

(12) a Từ sau khi lấy chồng Mai đẹp ra

b Dạo này, anh làm gì mà gầy đi vậy?

c Cô mới đi biển về hay sao mà da sạm đi vậy?

d Uống thuốc này, chị sẽ khỏe lại thôi

Các SVC trạng thái thuộc nhóm này, giữ nét nghĩa ‘rời xa’ đối với vị từ đi hoặc nét nghĩa ‘xuất hiện, bổ sung’ đối với vị từ ra Các SVC này biểu thị ý

nghĩa so sánh giữa trạng thái hiện tại với trạng thái trước đây và cho biết chủ thể

Trang 39

ở thời điểm phát ngôn ‘đẹp hơn, gầy hơn, da sạm hơn hay khỏe hơn’ so với

trước, chứ không hề cho biết chủ thể đang ở trạng thái do vị từ tĩnh biểu thị

Ngoài ra, đi, vị từ chuyển động có hướng lên cũng xuất hiện khá nhiều sau các

vị từ tĩnh chỉ mức độ

Vị từ chuyển động lên mang nét nghĩa di chuyển từ ‘vị trí/mức độ’ thấp

lên ‘vị trí/mức độ’ cao hơn SVC này cũng biểu thị một sự chuyển dịch trạng thái đến một thang độ cao hơn hoặc mạnh hơn trạng thái trước thời điểm phát ngôn SVC loại này cũng có thể được xem là SVC có ý nghĩa so sánh (comparative SVC) Nó so sánh trạng thái hiện tại với trạng thái trước đây của chủ thể được suy ra từ tiền giả định của SVC

(13) a Bó rau to thế mà sau khi xào nó teo lại còn một đĩa thế này

b Đô thị phình ra, đồng ruộng thu hẹp lại

c Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới

d Em ơi vút lên một tiếng đàn.

Các SVC trong (13) miêu tả một sự chuyển thái hoàn toàn của chủ thể Sự chuyển thái này là kết quả của một quá trình tác động từ ngoài hoặc của một sự biến đổi nội tại Về mặt sự tình, SVC này miêu tả một quá trình dịch chuyển trạng thái của chủ thể, vì vậy nó miêu tả sự tình dưới giác độ động (dynamic viewpoint)

Vị từ chuyển động tiếng Việt có những thuộc tính khác nhau, ở những vị trí cú pháp khác nhau Những vị từ này này sẽ biểu thị những nét nghĩa khác nhau về sự chuyển động, từ sự chuyển động mang tính cơ học cho đến sự chuyển động mang tính tâm lý trong SVC chuyển thái Nói chung, sự hiện diện của các

vị từ chuyển động như đi, ra, lại, lên, v.v trong SVC chuyển thái làm biến đổi

ngữ nghĩa của sự tình, đó là thay đổi từ sự tình trạng thái sang quá trình, từ tĩnh sang động

Trang 40

Kiểu SVC tác động với vị từ “cho” có phương thức cấu tạo [cho+obj+ verb] là một kiểu SVC khá phổ biến trong tiếng Việt Căn cứ vào cách hành chức của vị từ đứng sau “cho”, chúng tôi chia SVC loại này thành 2 phương thức kết hợp: (i) [cho + O + Vnhận thức]; (ii) [cho+ O + V hoạt động]

SVC [cho+ O + Vnhận thức] miêu tả phương thức tác động; tác động vào đối tượng do bổ ngữ trực tiếp biểu thị ở vào trạng thái hay điều kiện nào đó theo ý chí của chủ thể Trạng thái hay điều kiện đó được đánh dấu bằng những vị từ

nhận thức như biết, hay, thấy, xem, nhìn, nghe,

b Cô giáo cho phụ huynh xem chương trình cắm trại của lớp

Các SVC trên cho thấy kết quả của quá trình tác động là hiện thực, đó là phụ

huynh biết kết quả thi và chương trình cắm trại của các em học sinh

Trong khi đó, SVC [cho + Obj + Vhoạt động] lại cho thấy kết quả tác động có hiện thực hay không không tùy thuộc vào ý chí của chủ thể tác động mà lại phụ thuộc vào đối tượng chịu tác động:

b Mẹ cho bé ngủ, nhưng nó chưa muốn ngủ

c Nam cho máy chạy

Vì vậy, vị từ cho (15) là vị từ gây khiến, biểu hiện một hành động tác động gây

nên một quá trình mà chủ thể của quá trình chính là đối thể của hành động chuyển tác ấy; nhưng vì tiếp thể khác nhau [+/- hữu sinh] nên việc hiểu ý nghĩa của các câu (15) cũng khác nhau Các câu (15a,b) là “làm người nào đó thực hiện một việc gì đó”; (15c) là “làm cho cái gì đó thay đổi trạng thái của nó”

Nếu đối tượng chịu tác động [hữu sinh] không chủ ý thực hiện hành động

mà chủ thể tác động thì trong tiếng Việt người nói sẽ lựa chọn một trong số vị từ

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
2. Dương Hữu Biên (2016), Câu có vị từ chuyển tác trong tiếng Việt: Cấu trúc ngữ nghĩa-cú pháp, Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu có vị từ chuyển tác trong tiếng Việt: Cấu trúc ngữ "nghĩa-cú pháp
Tác giả: Dương Hữu Biên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM
Năm: 2016
3. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb THCN
Năm: 1975
4. Đỗ Hữu Châu, (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
5. Lâm Quang Đông (2013), “Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có kết cấu vị từ chuỗi trong tiếng Việt và kết cấu tương ứng trong tiếng Anh”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có kết cấu vị từ chuỗi trong tiếng Việt và kết cấu tương ứng trong tiếng Anh”, "Tạp chí Khoa học Đại học
Tác giả: Lâm Quang Đông
Năm: 2013
6. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
7. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng 1, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng 1
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
8. Cao Xuân Hạo (2006), Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2006
9. Nguyễn Văn Hiệp (2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
10. Nguyễn Văn Hiệp (2009), Cú pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
11. Nguyễn Văn Hiệu (2004), “Xem xét thành phần trạng tố chỉ mục đích trong vị ngữ từ hành động tiếng Mông Lềnh”, Tạp chí ngôn ngữ số 186 tháng 11/2004, tr.60-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xem xét thành phần trạng tố chỉ mục đích trong vị ngữ từ hành động tiếng Mông Lềnh"”, Tạp chí ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu
Năm: 2004
12. Nguyễn Đình Hòa (1996), “Vietnamese verbs”, Mon-Khmer Studies 25:141-159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnamese verbs”, "Mon-Khmer Studies
Tác giả: Nguyễn Đình Hòa
Năm: 1996
13. Nguyễn Văn Huệ (2007), “Vấn đề dạy ngữ pháp tiếng Việt cho người nước ngoài”, Nghiên cứu và giảng dạy Viêt Nam học cho người nước ngoài, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.191-196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dạy ngữ pháp tiếng Việt cho người nước ngoài”, "Nghiên cứu và giảng dạy Viêt Nam học cho người nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Văn Huệ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
14. Nguyễn Thị Thu Hương (2010), “Cấu trúc gây khiến–kết quả từ vựng tính trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, 6 (176), tr.33-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc gây khiến–kết quả từ vựng tính trong tiếng Việt”, "Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2010
15. Mark Halliday (2001), Dẫn luận ngữ pháp chức năng, Hoàng Văn Vân dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngữ pháp chức năng
Tác giả: Mark Halliday
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
16. Lê Văn Lý (1968), Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Lý
Năm: 1968
17. Hoàng Trọng Phiến (1980), Ngữ pháp tiếng Việt – câu, Nxb ĐHTHCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – câu
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb ĐHTHCN
Năm: 1980
18. Nguyễn Thị Quy (1995), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt – Vị từ hành động, Nxb Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt – Vị từ hành động
Tác giả: Nguyễn Thị Quy
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1995
19. N.V.Stankevich (1982), Loại hình ngôn ngữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình ngôn ngữ
Tác giả: N.V.Stankevich
Năm: 1982
20. W.M.Solncev (1986), Những thuộc tính về mặt loại hình các ngôn ngữ đơn lập, TCNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thuộc tính về mặt loại hình các ngôn ngữ đơn lập
Tác giả: W.M.Solncev
Năm: 1986

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm