Thông qua phân tích tài chính, nhà quản trị có thể đánh giá, nhìn nhận về điểm mạnh, điểm hạn chế của ngân hàng, từ đó đưa ra những mục tiêu, chiến lược kinh doanh hiệu quả; phát hiện, n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THU TRANG
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THU TRANG
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hồng Thúy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi và được sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Thị Hồng Thúy Các số liệu, kết quả nghiên cứu chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tôi có tham khảo một số tài liệu và việc sử dụng, trích dẫn tài liệu tham khảo đảm bảo theo đúng quy định
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả
Nguyễn Thu Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận văn này, cùng với những nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của Quý trường, Quý thầy cô, Gia đình, Bạn bè, Đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Thị Hồng Thúy – người đã trực tiếp hướng dẫn luận văn, tận tâm chỉ dạy cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Tài chính – Ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ để tôi có thể hoàn thành luận văn đúng hạn
Bên cạnh đó, gia đình, bạn bè, thầy cô và các anh/chị cùng lớp cao học khóa QH-2016-E.CH là những người đã luôn động viên, quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Trân trọng!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2 Cơ sở lý luận về phân tích tài chính ngân hàng thương mại 6
1.2.1 Khái niệm về phân tích tài chính và ý nghĩa của phân tích tài chính ngân hàng thương mại 6
1.2.2 Đặc điểm của Ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến phân tích tài chính 8
1.2.3 Nguồn thông tin phục vụ cho tính toán và phân tích 10
1.2.4 Quy trình phân tích tài chính 14
1.2.5 Nội dung phân tích tài chính của ngân hàng thương mại 16
1.2.6 Rủi ro tài chính tại ngân hàng thương mại 22
CHƯƠNG 2 30
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 30
2.2 Phương pháp tổng hợp dữ liệu 30
2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 30
2.3.1 Phương pháp so sánh 30
2.3.2 Phương pháp tỷ lệ 31
2.3.3 Phương pháp phân tích Dupont 32
CHƯƠNG 3 35
THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI 35
3.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 35
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng 35
3.1.2 Ngành nghề và địa bàn kinh doanh 37
Trang 63.1.3 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng 38
3.1.4 Phân tích SWOT 41
3.2 Phân tích thực trạng tình hình tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 48
3.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 48
3.2.2 Phân tích chi tiết tình hình tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 68
3.3 Đánh giá chung về tình hình tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 80
3.3.1 Những kết quả đạt được 80
3.3.2 Hạn chế 81
CHƯƠNG 4 85
GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI 85
4.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng giai đoạn 2020 – 2025 85
4.2 Giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 86
4.2.1 Tăng quy mô vốn 86
4.2.2 Tăng cường công tác quản lý tài sản 89
4.2.3 Nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng các giải pháp nâng cao thu nhập, giảm thiểu chi phí 89
4.2.4 Nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế nợ quá hạn 90
4.2.5 Nâng cao hiệu quả thu hồi và xử lý nợ 91
4.2.6 Thực hiện dự báo tài chính 92
4.3 Một số kiến nghị 93
4.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 93
4.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 94
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Kết quả kinh doanh của Ngân hàng giai đoạn 2017 – 2019 47
4 Bảng 3.4 Tiền gửi của khách hàng theo đối tƣợng khách hàng, loại
6 Bảng 3.6 Dƣ nợ cho vay theo đối tƣợng khách hàng và theo loại
7 Bảng 3.7 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2017-2019 61
12 Bảng 3.12 Bảng so sánh các chỉ số của công ty với chỉ số trung
17 Bảng 3.17 Trạng thái tiền tệ quy đổi VND của SHB năm 2017 – 2019 79
Trang 9DANH MỤC HÌNH
5 Hình 3.5 Thu nhập ngoài lãi của các Ngân hàng trong 6
7 Hình 3.7 Lợi nhuận trước thuế của một số ngân hàng năm
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ theo hướng năng động hơn, cạnh tranh hơn và sẵn sàng đổi mới để hòa nhập với nền kinh tế thế giới Là một trụ cột quan trọng trong nền kinh tế, ngành ngân hàng cũng đã nỗ lực thay đổi để phù hợp với xu thế phát triển của các ngành khác, hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp trong nước Ngân hàng là cầu nối giữa các ngành, giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư, giúp lưu chuyển tiền tệ, điều tiết và cung ứng vốn, tạo tiền cho nền kinh tế,… Hệ thống ngân hàng
là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô, từ đó ứng phó với các biến động trong nước và tác động của thế giới Trong môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh khốc liệt, các ngân hàng cần phải chủ động đưa ra định hướng, chiến lược phát triển phù hợp để tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động Trong quá trình phân tích để đưa ra được chiến lược kinh doanh, việc phân tích, đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng là vấn đề trọng tâm hàng đầu Tài chính là huyết mạch của một ngân hàng, mọi hoạt động đều liên quan đến tài chính
Để tồn tại, phát triển và tạo được chỗ đứng trên thị trường, ngân hàng cần phải nắm được thực trạng tài chính của mình, đánh giá được vị trí của ngân hàng thông qua các chỉ số tài chính Thông qua phân tích tài chính, nhà quản trị có thể đánh giá, nhìn nhận về điểm mạnh, điểm hạn chế của ngân hàng, từ đó đưa ra những mục tiêu, chiến lược kinh doanh hiệu quả; phát hiện, ngăn ngừa kịp thời các rủi ro trong
hệ thống ngân hàng,… Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng sử dụng các chỉ số trong phân tích tài chính để đánh giá hiệu quả, khả năng đầu tư trước khi đưa ra quyết định đầu
tư Từ đó ta nhận rõ được sự cần thiết và vai trò của việc phân tích tình hình tài chính của ngân hàng Trong những năm qua, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
đã nỗ lực cải thiện năng lực, hiệu quả tài chính để xây dựng uy tín, thương hiệu trong ngành tài chính ngân hàng, và đặt ra mục tiêu đến năm 2020 sẽ đưa ngân hàng
Trang 11trở thành một tập đoàn tài chính mạnh theo chuẩn quốc tế Để hiểu rõ ràng hơn về
tình hình “sức khỏe tài chính” của Ngân hàng này, tôi đã chọn đề tài “Phân tích tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội” nhằm phân tích, đánh giá thực trạng,
khả năng tài chính và đưa ra những giải pháp cải thiện tài chính của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung giải quyết, làm rõ các vấn đề sau:
Câu hỏi 1: Nội dung phân tích tài chính ngân hàng là gì? Sử dụng phương pháp phân tích nào? Những chỉ số, chỉ tiêu nào được đưa ra để phân tích?
Câu hỏi 2: Thực trạng tình hình tài chính tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội giai đoạn 2017-2019 như thế nào? Đánh giá tình hình tài chính tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội?
Câu hỏi 3: Giải pháp nào để cải thiện tình hình tài chính của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội?
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài này là nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tình hình tài chính của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, từ đó đánh giá được thực trạng tài chính của Ngân hàng và đưa ra các kiến nghị, giải pháp để ngân hàng có thể cải thiện tình hình tài chính
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phân tích tài chính của ngân thương mại
- Thứ hai: Đánh giá trực trạng tài chính tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Từ đó đưa ra các điểm đạt được và các điểm còn tồn tại
- Thứ ba: Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng tài chính của Ngân hàng TMCP Sài Gòn –
Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu:
Trang 12- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung vào việc phân tích tình hình tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng tình hình tài chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội giai đoạn 2017 – 2019
- Phạm vi nội dung: Các vấn đề, số liệu liên quan đến phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn gồm: Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh Từ đó phân tích, đánh giá tình hình tài chính của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Nguồn dữ liệu: Luận văn chủ yếu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các Báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội trong các năm 2017 – 2019 và tình hình thực tế của ngành tài chính ngân hàng Bên cạnh đó, Luận văn cũng sử dụng các bài viết được đăng trên các tạp chí; các báo cáo; các giáo trình; sách; luận án, luận văn; đề tài nghiên cứu và tài liệu liên quan
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục
tài liệu tham khảo, Luận văn được trình bày trong 4 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phân tích tài chính ngân hàng thương mại
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng tài chính tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Chương 4: Giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Phân tích tài chính ngân hàng thương mại là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản trị, nhà đầu tư quan tâm Thực tế cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả có tham khảo một số đề tài nghiên cứu có liên quan như:
- Luận văn “Phân tích tình hình tài chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Hà Nội” của tác giả Đặng Thùy Linh (2015), Trường Học viện Tài chính: Nghiên cứu này đã làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản về NHTM (như: đặc điểm, hoạt động của NHTM, hiệu quả kinh doanh của NHTM, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM,…) Tuy nhiên, định hướng phát triển
và vai trò của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có tính đặc thù riêng nên việc đánh giá tình hình tài chính cũng sẽ có khác biệt với các ngân hàng thương mại khác
- Luận văn “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” của tác giả Trần Thanh Phương (2015), Trường Đại học Đà Nẵng: Nghiên cứu này nêu rõ quy trình về công tác phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Các phương pháp phân tích trong nghiên cứu này được vận dụng linh hoạt, hiệu quả Trong nội dung phân tích đã đưa
ra được một số nhận định về xu hướng biến động Hạn chế của nghiên cứu là chưa
có đánh giá kết quả tài chính cho từng nghiệp vụ, chưa áp dụng một số phương pháp phân tích như SWOT, Dupont
- Luận văn “Phân tích tình hình tài chính ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Bắc Hải Dương” của tác giả Nguyễn Thị Vân (2016), Trường Học viện Tài chính: Nghiên cứu đã trình bày các lý luận cơ bản về tài chính
Trang 14và NHTM; nêu rõ thực trạng về tình hình tài chính của ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Bắc Hải Dương thông qua phân tích hoạt động kinh doanh và các chỉ số tài chính, từ đó đưa ra được một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hoạt động tài chính Tuy nhiên, quy mô chi nhánh nhỏ, các chính sách quản lý phụ thuộc lớn vào Hội sở chính nên các giải pháp chưa thực sự hiệu quả
- Luận văn “Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Thị Huệ (2017), Trường Đại học Thái Nguyên: nghiên cứu này đã trình bày, hệ thống hóa các lý luận cơ bản về tài chính và năng lực tài chính của ngân hàng thương mại; phân tích thực trạng và đề ra giải pháp nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng Tuy nhiên, nghiên cứu này không phân tích sâu về các chỉ số tài chính và các rủi ro, tập trung vào nhóm các giải pháp để nâng cao khả năng tài chính của ngân hàng
- Luận văn “Phân tích và dự báo tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Đầu tư
hạ tầng Intracom” của tác giả Nguyễn Đăng Cường (2017), Trường Đại học Kinh tế
- Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu đã trình bày cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêu phân tích tài chính tại doanh nghiệp, đề cập đến nội dung dự báo tài chính Người viết đã rút ra sự giống nhau và khác nhau giữa phân tích tài chính của một doanh nghiệp và một ngân hàng để lựa chọn hướng nghiên cứu phù hợp cho bài luận văn của mình
Khoảng trống nghiên cứu:
Từ những đề tài nghiên cứu đã thực hiện, người viết đã học hỏi thêm được những kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực tài chính ngân hàng và có nghiên cứu, tìm hiểu thêm những nội dung phù hợp để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình Thứ nhất: Chính sách quản lý của NHNN hiện nay đã có nhiều điểm thay đổi so với thời điểm các nghiên cứu trên được thực hiện Thứ hai: Sự phát triển, vận động của nền kinh tế trong những năm gần đây cũng ảnh hưởng và có tác động lớn đến các NHTM, đặc biệt là những rủi ro mà NHTM phải đối mặt sẽ tăng lên, từ đó ngân hàng phải có những chính sách và kiểm soát rủi ro kịp thời
Trang 15 Các đề tài nghiên cứu trên đã trình bày, hệ thống hóa các lý luận cơ bản của phân tích tài chính, vận dụng vào phân tích tại từng ngân hàng cụ thể, và đưa ra được những giải pháp, đề xuất khắc phục các vấn đề còn tồn tại ở các ngân hàng Tuy nhiên việc áp dụng các lý luận vào phân tích thực tế tại các ngân hàng sẽ có sự khác nhau, tùy thuộc vào chính sách về quản trị ngân hàng, về quản lý tài chính, huy động vốn và đầu tư cũng như định hướng chiến lược, mục tiêu phát triển của từng ngân hàng
Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về phân tích tài chính tại các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề này tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội Vì vậy, đề tài này đã kế thừa kết quả của các nghiên cứu trên, đồng thời đi sâu vào phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội giai đoạn 2017 – 2019
1.2 Cơ sở lý luận về phân tích tài chính ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về phân tích tài chính và ý nghĩa của phân tích tài chính ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Khái niệm về phân tích tài chính
Giáo trình Phân tích Tài chính doanh nghiệp (Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng
Cơ, 2008) có nêu: “Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng
để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp” Như vậy, có thể hiểu phân tích tài chính là thông qua các phương pháp, kỹ thuật và công cụ thích hợp để xem xét, kiểm tra, đối chiếu, so sánh tài chính hiện hành với quá khứ và tạo ra các thông tin tài chính có giá trị giúp người sử dụng thông tin có thể đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá về tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro có thể xảy ra trong tương lai
Phân tích tài chính có các chức năng cụ thể như sau:
- Chức năng đánh giá: phân tích tài chính làm rõ về quá trình dịch chuyển và
sự vận động của các nguồn tài chính; tác động của quá trình này đến hoạt động kinh doanh; quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn hoạt động, các quỹ của doanh
Trang 16nghiệp diễn ra như thế nào, tác động ra sao đến kết quả hoạt động Việc làm rõ, trả lời các vấn đề này là thực hiện chức năng đánh giá tài chính
- Chức năng dự đoán: Doanh nghiệp đi vào hoạt động sẽ phải đặt ra những mục tiêu nhất định để hướng tới Muốn đề ra những mục tiêu phù hợp với điều kiện chủ quan và khách quan, doanh nghiệp cần căn cứ vào tình hình tài chính hiện tại để quyết định hướng đi và tổ chức thực hiện Mục tiêu đặt ra của doanh nghiệp chính
là điều mà doanh nghiệp dự đoán và mong muốn sẽ thực hiện được trong tương lai Đây chính là chức năng dự đoán của phân tích tài chính
- Chức năng điều chỉnh: Phân tích tài chính giúp doanh nghiệp và người quan tâm nhận thức rõ nội dung, tính chất, hình thức, và xu hướng phát triển của các quan hệ tài chính có liên quan, từ đó doanh nghiệp sẽ điều chỉnh để phát triển các mối quan hệ nội sinh, ngoại sinh một cách hài hòa nhất
1.2.1.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính ngân hàng thương mại
Hoạt động tài chính của NHTM có mối quan hệ và tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của NHTM Nếu tình hình tài chính tốt sẽ là cơ sở để thúc đẩy, phát triển hoạt động kinh doanh, còn nếu tình hình tài chính xấu thì nó là lực cản kìm hãm hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngược lại, tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của ngân hàng Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với chủ sở hữu, nhà quản trị doanh nghiệp, cơ quan nhà nước quản lý ngân hàng (như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính,…) và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của ngân hàng như: nhà đầu tư, khách hàng
- Đối với nhà quản trị: Hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm và nhiều rủi ro Nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như hiệu quả hoạt động kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ,
hạ chi phí thấp nhất, quản trị rủi ro hiệu quả, Như vậy đối với các nhà quản trị ngân hàng, việc nắm rõ và đầy đủ thông tin tài chính là rất quan trọng để thực hiện chính sách về cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính từ đó tiến hành cân đối tài chính trong thời gian tiếp theo Một số thông tin tài chính cần thiết mà
Trang 17dụng vốn, tài sản; chỉ số về kết quả kinh doanh, thu nhập, chi phí; chỉ số về khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản Từ đó, nhà quản trị đề ra mục tiêu, chiến lược kinh doanh phù hợp và định hướng cho các quyết định của ban điều hành trong việc
sử dụng nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực, quyết định đầu tư, tài trợ,… Phân tích tài chính cũng giúp các nhà quản trị trong quá trình đánh giá, đo lường mức độ thực hiện cũng như tính đúng đắn của chiến lược kinh doanh, từ đó đưa ra những điều chỉnh kịp thời, tránh cho Ngân hàng đi chệch hướng so với mục tiêu đề ra
- Đối với các nhà đầu tư: Mối quan tâm của các nhà đầu tư chủ yếu tập trung vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và mức độ rủi ro Vì thế mà họ sẽ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và mức độ tiềm năng của ngân hàng Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý Nếu các chỉ số tài chính này ổn định, công ty được quản lý tốt thì các nhà đầu tư sẽ cảm thấy an tâm vào việc đầu tư sẽ mang lại hiệu quả
- Đối với khách hàng gửi tiền, bên cho vay: Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng Qua việc phân tích tài chính của ngân hàng,
họ có thể so sánh và biết được khả năng thanh toán của ngân hàng Ngoài ra họ cũng quan tâm đến khả năng sinh lời của ngân hàng vì nó đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để đánh giá việc ngân hàng sẽ hoàn trả vốn và lãi vay cho Khách hàng đúng hạn
- Đối với cơ quan nhà nước: Đối với cơ quan quản lý nhà nước (như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính,…) qua việc phân tích tài chính ngân hàng, sẽ đánh giá được sức khỏe tài chính, mức độ gánh chịu rủi ro của các ngân hàng để có những cảnh báo kịp thời cho một ngân hàng thương mại nói riêng và cả hệ thống ngân hàng nói chung, tránh được những nguy cơ gây ảnh hưởng lớn cho cả nền kinh tế
1.2.2 Đặc điểm của Ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến phân tích tài chính
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thông qua ngày 16 tháng 6
năm 2010: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng” “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được
Trang 18thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng” “Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách,
ngân hàng hợp tác xã” “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực
hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.”
Như vậy, có thể hiểu Ngân hàng thương mại là một loại doanh nghiệp đặc thù, thực hiện các hoạt động ngân hàng: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và các dịch vụ khác nhằm thỏa mãn nhu cầu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng của xã hội
Ngân hàng thương mại tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau: NHTM Quốc doanh, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh, chi nhánh nước ngoài và NHTM 100% vốn nước ngoài Dù tồn tại dưới hình thức sở hữu nào thì NHTM luôn thực hiện 3 nghiệp vụ cơ bản: Nghiệp vụ tài sản nợ là nghiệp vụ dùng để hình thành vốn; Nghiệp vụ tài sản có là nghiệp vụ sử dụng vốn của NHTM; Nghiệp vụ trung gian hoa hồng để có được lợi nhuận từ việc cung ứng dịch vụ cho khách hàng
Ngân hàng thương mại có nhiều đặc điểm giống với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, đó là: đều sử dụng yếu tố đầu vào giống nhau như: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động (tiền vốn)), để sản xuất những yếu tố đầu ra Tuy nhiên, khác biệt với các doanh nghiệp sản xuất thì đầu ra của NHTM là các hình thức dịch vụ tài chính mà khách hàng yêu cầu Ngoài ra, ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong hoạt động kinh doanh, thể hiện qua các đặc điểm sau:
- Vốn và tiền vừa là phương tiện vừa là mục đích kinh doanh, đồng thời cũng
là đối tượng kinh doanh của NHTM Đây là đặc điểm quan trọng cho thấy sự khác biệt giữa ngân hàng và các loại hình doanh nghiệp khác
- NHTM có kết cấu vốn rất đặc biệt Nếu các DN sản xuất thường sử dụng nguồn vốn tự có là chính, tỷ trọng vốn tự có tối thiểu phải đạt được là 30% trong tổng nguồn vốn kinh doanh của DN thì ngược lại, NHTM kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn của người khác Vốn tự có của NHTM chiếm tỷ trọng thấp trong tổng
Trang 19nguồn vốn hoạt động của ngân hàng (vào khoảng 10%) Do đó, ngân hàng buộc phải chấp nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh với một mức độ mạo hiểm nhất định Ngân hàng luôn phải đảm bảo dòng tiền ra vào ổn định nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả các khoản như mọi loại hình doanh nghiệp khác, đồng thời phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng
- Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, nhiều loại đối tượng khách hàng Tình hình tài chính của ngân hàng
ổn định hay bất ổn đều sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp, của người dân cũng như của cả nền kinh tế Do đó, việc phân tích, đánh giá tình hình tài chính của NHTM không chỉ là nhu cầu cấp thiết phục vụ cho hoạt động quản lý của nhà quản trị ngân hàng mà còn là đòi hỏi mang tính bắt buộc của Ngân hàng trung ương, của Chính phủ Bên cạnh đó, tình hình hoạt động và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp cũng sẽ là yếu tố quyết định đến năng lực và sức mạnh tài chính của ngân hàng
- Hoạt động kinh doanh của NHTM chứa đựng nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng hợp tất cả các rủi ro từ khách hàng, từ các yếu tố khách quan và chủ quan Vì ngân hàng
là trung gian của cả hệ thống kinh tế nên nếu xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì sẽ gây ảnh hưởng rất lớn, nó sẽ gây ra hiệu ứng dây chuyền có thể làm rung chuyển cả nền kinh tế Vì vậy, trong quá trình hoạt động, các NHTM cần phải thường xuyên phân tích, đánh giá, dự báo, quản trị rủi ro và có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả
- Mỗi loại hình nghiệp vụ và các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Do đó, nếu thực hiện tách riêng các loại hình sản phẩm hay chia các mảng hoạt động để phân tích kết quả tài chính của ngân hàng sẽ rất khó khăn
1.2.3 Nguồn thông tin phục vụ cho tính toán và phân tích
1.2.3.1 Bảng cân đối kế toán
- Là báo cáo tổng hợp phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có được
sử dụng như thế nào và nguồn gốc hình thành tài sản đó của ngân hàng tại một thời điểm nhất định Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng thương mại phải lập bảng
Trang 20cân đối kế toán gửi cho Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng theo đúng quy định
- Bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại về mặt hình thức gồm 2 phần: Tài sản Có (Tài sản, Sử dụng vốn) và Tài sản Nợ (Vốn, Nguồn vốn) Trong
đó, giá trị của tổng tài sản Có (Tổng Tài sản) ở bất kỳ thời điểm nào cũng bằng giá trị tổng tài sản Nợ (Tổng Nguồn vốn) Tài sản Có phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của NHTM, thể hiện nguồn vốn của ngân hàng đang sử dụng vào đâu, chủ yếu là các khoản tín dụng và đầu tư Tài sản Nợ bao gồm Nợ phải trả (là những tài sản mà ngân hàng đang phải thanh toán, chủ yếu là những khoản tiền gửi của khách hàng, tiền vay NHNN và các tổ chức tín dụng,…) và vốn chủ sở hữu
Ngoài phần chính được theo dõi trong Bảng cân đối kế toán, NHTM còn có một bộ phận tài sản được theo dõi tại ngoại bảng Các tài sản ngoại bảng không thuộc quyền sở hữu của các NHTM như: các tài sản giữ hộ, quản lý hộ khách hàng, các giao dịch chưa được thừa nhận là tài sản hoặc nguồn vốn dưới dạng các cam kết bảo lãnh, cam kết mua bán hối đoái có kỳ hạn,…
- Bảng cân đối kế toán phản ánh điều kiện tài chính của NHTM tại một thời điểm nhất định Các số liệu trên Bảng cân đối kế toán phản ánh số dư nên chúng thay đổi theo thời điểm Dựa trên Bảng cân đối kế toán tại thời điểm cuối các năm, ta tính được các chỉ tiêu tài chính Do đó Bảng cân đối kế toán là tài liệu, công cụ quan trọng
để tổng hợp số liệu từ đó làm cơ sở so sánh các chỉ tiêu tài chính giữa các thời kỳ khác nhau.Ngoài ra, từ Bảng cân đối kế toán, ta có thể đánh giá tổng quát về cơ cấu
và sự biến đổi trong Bảng cân đối kế toán
Sự khác nhau giữa Bảng cân đối kế toán của Ngân hàng với Doanh nghiệp:
- Phần TS sẽ ko chia TS ngắn hạn, dài hạn mà sẽ chia hình thức tồn tại trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng và cũng được trình bày theo tính thanh khoản giảm dần; Có thêm khoản mục các công cụ tài chính phái sinh và các tài sản tài chính khác; Không có khoản mục về hàng tồn kho, bất động sản đầu tư
- Phần nợ phải trả trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng sẽ không chia thành nợ phải trả ngắn hạn và nợ phải trả dài hạn giống như trong bảng cân đối kế
Trang 21toán của doanh nghiệp, mà chia theo hình thức tiền gửi Nguyên do là vì phần lớn
nợ phải trả của ngân hàng đều có thể thực hiện hay thanh toán trong thời gian gần
- Ngoài ra trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng còn phải trình bày thêm phần nợ tiềm tàng và các cam kết tín dụng, cam kết khác Nội dung và giá trị các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và các cam kết được trình bày phần ngoại bảng
1.2.3.2 Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQKD)
- Là báo cáo tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, phản ánh thu nhập hoạt động chính và các hoạt động khác qua một chu kỳ kinh doanh (chu kỳ kế toán) của NHTM Lãi hay lỗ được tính trên báo cáo kết quả kinh doanh sẽ làm tăng hay giảm vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán Như vậy, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một tài liệu bổ sung cần thiết giải thích thành phần thay đổi quan trọng trong vốn chủ sở hữu
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay còn gọi là báo cáo hoạt động hoặc báo cáo thu nhập chi phí trình bày doanh thu được công nhận trong một thời kỳ cụ thể, và các khoản chi phí được tính vào các khoản doanh thu này, gồm các khoản xóa sổ (như khấu hao và khấu trừ các loại tài sản)
- Báo cáo kết quả kinh doanh của NHTM gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau: Thu nhập từ lãi; Chi phí trả lãi; Thu nhập lãi thuần; Thu khác; Chi phí khác; Thu nhập từ hoạt động khác; Thu nhập trước thuế; Thu nhập sau thuế
1.2.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (hay còn gọi là báo cáo dòng tiền) là một báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu và chi tiền trong kỳ của NHTM về hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính Mục đích của BCLCTT là nhằm trình bày các thông tin về luồng vào luồng ra của tiền và các khoản coi như tiền trong kỳ báo cáo
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giải thích sự khác nhau giữa lợi nhuận của NHTM và các dòng tiền có liên quan, cung cấp các thông tin về dòng tiền gắn liền với những biến động về tài sản, công nợ và vốn chủ sở hữu Thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ, ngân hàng thương mại có thể đánh giá các khả năng tạo ra dòng tiền
Trang 22từ các hoạt động của ngân hàng để xem xét khả năng đáp ứng thanh toán kịp thời các khoản nợ cho các chủ nợ, cổ tức cho các cổ đông hoặc nộp thuế cho Nhà nước Trên cơ sở BCLCTT nhà quản trị ngân hàng có thể dự đoán các dòng tiền phát sinh trong hoạt động kinh doanh để có biện pháp quản lý trong tương lai
1.2.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận của báo cáo tài chính Nó cung cấp thêm các thông tin chi tiết cho báo cáo tài chính Nội dung chủ yếu của một bản thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm:
- Đặc điểm hoạt động của tổ chức tín dụng
- Kỳ kế toán, đơn vị sử dụng trong kỳ kế toán
- Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng
- Chính sách kế toán áp dụng tại tổ chức tín dụng
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế toán, trong báo cáo kết quả kinh doanh
- Quản lý rủi ro tài chính
Trong đó, nội dung bổ sung cho các khoản mục trong báo cáo tài chính là nội dung quan trọng nhất cần được các nhà phân tích quan tâm, lưu ý
1.2.3.5 Cơ sở dữ liệu khác
- Các thông tin chung: đó là thông tin chung về tình hình kinh tế chính trị, môi trường pháp lý, kinh tế,… Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Những thông tin về các cuộc thăm dò thị trường, triển vọng phát triển trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ thương mại ảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh trong từng thời kỳ
- Các thông tin theo ngành kinh tế: Thông tin theo ngành kinh tế là những thông tin mà kết quả hoạt động của doanh nghiệp mang tính chất của ngành kinh tế như đặc điểm của ngành kinh tế liên quan đến thực thể của sản phẩm, tiến trình kỹ thuật cần tiến hành, cơ cấu sản xuất có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay
Trang 23vốn, nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế, độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển
- Các thông tin của bản thân doanh nghiệp: Thông tin về bản thân doanh nghiệp là những thông tin về chiến lược, sách lược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, tình hình và khả năng thanh toán Những thông tin này được thể hiện qua những giải trình của các nhà quản lý, qua Báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, báo cáo thống kê, hạch toán nghiệp vụ
Để đưa ra những quyết định phù hợp cho hoạt động của ngân hàng, nhà quản trị cần phải tìm hiểu, nghiên cứu thêm các thông tin liên quan có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng như: thông tin về nền kinh tế, tiền tệ, thuế khóa; các thông tin về ngành; các chỉ tiêu trung bình ngành; các thông tin về pháp luật…
1.2.4 Quy trình phân tích tài chính
Quy trình phân tích tài chính của ngân hàng thương mại phải đảm bảo theo một trình tự khoa học, có tính kế hoạch để mang lại tính hiệu quả cho công tác thực hiện Tùy vào đặc điểm kinh doanh, cơ chế hoạt động, mục tiêu kinh doanh, đối tượng quan tâm mà quy trình phân tích tài chính có thể khác nhau đôi chút Nhưng nói chung, quy trình phân tích tài chính của ngân hàng thương mại thường được tiến hành qua các bước sau:
Trang 24Lập kế hoạch phân tích bao gồm xác định mục tiêu và xây dựng chương trình phân tích, cụ thể:
+ Xác định mục tiêu, phạm vi, thời gian tiến hành phân tích
+ Xác định rõ nội dung phân tích, chỉ tiêu và phương pháp phân tích sử dụng + Xác định những tài liệu, thông tin cần thu thập, tìm hiểu
1.2.4.2 Tiến hành phân tích
Đây là giai đoạn tiến hành triển khai, thực hiện các nội dung công việc trong
kế hoạch phân tích Tiến hành phân tích bao gồm các nội dung:
+ Sưu tầm tài liệu và xử lý số liệu
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin: từ thông tin nội bộ đến các thông tin bên ngoài, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị Những thông tin đó đều có thể giúp nhà phân tích đưa ra những phân tích, nhận xét hợp lý, chính xác
Phân tích tài chính được thực hiện trên nguồn thông tin quan trọng nhất là các báo cáo tài chính – được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền
tệ, thuyết minh báo cáo tài chính
+ Tính toán các chỉ tiêu phân tích
Căn cứ vào các tài liệu thu thập được, nhà phân tích sử dụng các phương pháp hợp
lý để xử lý, tính toán dữ liệu theo các nội dung phân tích đã xác định Sau khi có được dữ liệu đã qua xử lý, nhà phân tích đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu cũng như biến động của chỉ tiêu nghiên cứu qua các kỳ khác nhau
+ Xác định nguyên nhân và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của các nhân tốt đến các chỉ tiêu phân tích
Để biết được sự biến động của chỉ tiêu do ảnh hưởng của những nhân tố nào, cần xác định các nhân tố ảnh hưởng và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích giữa kỳ này và kỳ gốc
+ Xác định và dự đoán những nhân tố khách quan tác động đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Trang 25+ Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Dựa trên kết quả tính toán và ý nghĩa của các chỉ tiêu cũng như mức độ và tính chất của các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu phân tích, nhà phân tích tổng hợp, rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của NHTM
1.2.4.3 Kết thúc phân tích
Đây là giai đoạn cuối cùng của quy trình phân tích Giai đoạn này cần tiến hành các bước công việc sau:
+ Viết báo cáo phân tích
+ Hoàn chỉnh hồ sơ phân tích
1.2.5 Nội dung phân tích tài chính của ngân hàng thương mại
NHTM cũng là một doanh nghiệp, vì thế nội dung phân tích tài chính của NHTM cũng dựa trên những nội dung phân tích tài chính của doanh nghiệp nói chung Xuất phát từ mục tiêu phân tích tài chính cũng như đặc điểm và nội dung các quan hệ tài chính trong ngân hàng, nội dung phân tích tài chính ngân hàng bao gồm các nhóm sau:
1.2.5.1 Phân tích cấu trúc tài chính ngân hàng
Cấu trúc tài chính của ngân hàng phản ảnh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và cả mối quan hệ giữa tài sản (tài sản có) và nguồn vốn (tài sản nợ) của ngân hàng Một cấu trúc nào đó có vấn đề sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu quả và gây rủi ro cho ngân hàng Phân tích cấu trúc tài chính ngân hàng chính là phân tích khái quát
và một số điểm đặc trưng của cơ cấu tài sản có, tài sản nợ của ngân hàng; tình hình huy động vốn, cho vay vốn; tình hình cân đối giữa nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay; tính hợp lý khi đầu tư vốn cho hoạt động kinh doanh Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, khi chênh lệch lãi suất ngày càng thu hẹp, việc phân tích mối tương quan giữa tài sản và nguồn vốn còn hỗ trợ cho nhà quản trị thấy được sự hiệu quả, phù hợp của việc sử dụng vốn, trên cơ sở đó, cơ cấu lại, xây dựng danh mục tài sản vừa đảm bảo mang lại hiệu quả, vừa đảm bảo khả năng thanh khoản, hạn chế rủi ro
a Cơ cấu nguồn vốn
Trang 26Đây là nội dung phản ánh rõ nét nhất sự tăng trưởng về quy mô của Ngân hàng Cơ cấu nguồn vốn có ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và nó cũng quyết định mức chi phí của Ngân hàng Do vậy, phân tích cơ cấu nguồn vốn sẽ giúp nhà quản trị đưa ra phương hướng quản lý tài sản và đầu tư hiệu quả nhất
Các chỉ tiêu dùng để phân tích cơ cấu nguồn vốn bao gồm:
- Phản ánh quy mô nguồn vốn: có thể tập trung phân tích một số khoản mục lớn như: tổng nguồn vốn, nợ phải trả (tiền gửi của khách hàng, tiền vay ), nguồn vốn chủ sở hữu Trong quy mô nguồn vốn, khoản mục về quy mô, cơ cấu nguồn vốn huy động có thể được tập trung phân tích hơn, theo các tiêu chí: Theo kỳ hạn (không kỳ hạn, có kỳ hạn); Theo đối tượng huy động (tổ chức, cá nhân); Theo hình thức (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành chứng từ có giá…); Theo loại tiền tệ (VND, ngoại tệ)
- Phản ánh kết cấu nguồn vốn: Là các chỉ tiêu liên quan đến tỷ trọng của các khoản mục trong Nguồn vốn của ngân hàng (tỷ trọng của nợ phải trả, vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn) Trong đó, lưu ý đến hệ số nợ hay là tỷ lệ nợ trên tài sản; hệ số nợ càng cao thì hiệu ứng đòn bầy tài chính càng cao
b Cơ cấu tài sản
Cơ cấu tài sản của ngân hàng phản ánh việc sử dụng nguồn vốn của ngân hàng
đó nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận Khi ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý thì làm tăng hiệu quả sử dụng vốn
Trang 27- Phản ánh quy mô tài sản: ta tập trung vào các chỉ tiêu như: tổng tài sản, tổng
dư nợ, đầu tư góp vốn liên doanh, tài sản cố định,…
- Phản ánh kết cấu tài sản (tỷ lệ của từng khoản mục trong tổng tài sản: tỷ lệ sản cố định, tỷ lệ tài sản lưu động, tỷ lệ cho vay và đầu tư)
Tỷ lệ % từng khoản mục
Số dư từng khoản mục tài sản
x 100 Tổng tài sản
- Phản ánh sự tăng trưởng của tài sản (thể hiện qua tốc độ tăng, giảm của các khoản mục so với kỳ trước, so với kế hoạch,…)
1.2.5.2 Phân tích hiệu quả hoạt động ngân hàng
Phân tích hiệu quả hoạt động là một phần quan trọng trong phân tích tài chính ngân hàng Hiệu quả hoạt động là kết quả của quá trình thực hiện kế hoạch, chiến lược kinh doanh mà ngân hàng đề ra Từ đó xác định nguyên nhân ảnh hưởng
và kiến nghị các biện pháp xử lý Các số liệu, chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp cho ngân hàng đánh giá tổng quát về hiệu quả kinh doanh, mức chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả mong muốn Phân tích hiệu quả hoạt động cũng
là cơ sở để nhà quản trị đưa ra những điều chỉnh kịp thời và đúng đắn
Tốc độ tăng thu nhập (%) = Thu nhập kỳ này – Thu nhập kỳ trước x 100
Trang 28Tốc độ tăng chi phí (%) = Chi phí kỳ này – Chi phí kỳ trước x 100
Chi phí kỳ trước
c Phân tích lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng Lợi nhuận của ngân hàng có thể tồn tại hữu hình như giá trị tiền, giá trị
cổ phiếu…;hoặc có thể tồn tại vô hình như uy tín ngân hàng, mức độ phủ sóng của ngân hàng
Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
1.2.5.3 Phân tích một số chỉ số tài chính
a Phân tích khả năng sinh lời
Để phân tích khả năng sinh lời của ngân hàng, ta có thể đánh giá một số chỉ tiêu liên quan đến lợi nhuận, quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu hoặc đánh giá về tốc
độ tăng lợi nhuận kỳ này so với kỳ trước Một số chỉ tiêu đánh giá như sau:
- Lợi nhuận ròng trên thu nhập (%) – ROS
ROS (viết tắt của Return on sales) phản ảnh nếu ngân hàng thu được 100 đồng doanh thu thì có được bao nhiêu đồng lợi nhuận, nó cũng phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng dành cho nhà đầu tư và doanh thu của ngân hàng Thông qua chỉ số này có thể đánh giá hiệu quả quản lý chi phí của ngân hàng Cụ thể, nếu chỉ
số này tăng lên có nghĩa thu nhập của ngân hàng tăng, chi phí giảm, ngân hàng đang
có thực hiện tốt chính sách quản lý chi phí
ROS = Lợi nhuận sau thuế
Thu nhập
- Lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (%) - ROA
ROA (viết tắt của Return on Assets) phản ánh tương quan giữa mức sinh lợi
so với tài sản của ngân hàng ROA sẽ cho ta biết hiệu quả trong việc đầu tư tài sản
để kiếm lời của ngân hàng Nó cho biết ngân hàng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trên 1 đồng tài sản ROA càng cao thì khả năng sử dụng tài sản càng có hiệu
Trang 29quả, cho thấy ngân hàng đang có cơ cấu tài sản hợp lý Khi ROA quá lớn, ngân hàng cũng cần lưu ý để kiểm soát vì lợi nhuận cao cũng có nghĩa mức rủi ro cao
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản BQ
- Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (%) – ROE
ROE (viết tắt của Return On Equity) phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng Chỉ số này cho biết 1 đồng vốn các cổ đông bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lời ROE càng cao thì khả năng sử dụng vốn càng có hiệu quả
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu BQ Cũng đo lường hiệu quả kinh doanh như ROA nhưng ROE cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu ROE quá cao mà ROA thấp chứng tỏ vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng nguồn vốn, ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn từ bên ngoài Việc ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn huy động cũng là yếu tố rủi ro, có thể ảnh hưởng đến mức độ an toàn trong kinh doanh của ngân hàng
- Thu nhập ròng từ lãi cận biên (NIM)
NIM (viết tắt của Net Interest Margin) là thước đo chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi phải trả cho nhà đầu tư NIM cao là một dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang thành công trong việc quản lý tài sản và nợ Ngược lại, NIM thấp sẽ cho thấy ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lợi nhuận
NIM = Thu nhập ròng từ lãi
Tổng tài sản BQ
b Phân tích hiệu suất sử dụng vốn
- Hiệu suất sử dụng vốn: Chỉ tiêu này đánh giá khả năng cho vay của ngân hàng
so với khả năng huy động cũng như khả năng cân đối nguồn vốn huy động tại chỗ cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, hay là xác định hiệu quả của 1 đồng vốn huy động
Tổng nguồn vốn huy động
Trang 301.2.5.4 Phân tích khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản của ngân hàng là khả năng ngân hàng tức thời đáp ứng được nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng theo cam kết của khách hàng Thanh khoản của ngân hàng được thể hiện qua tính thanh khoản của tài sản và thanh khoản của nguồn vốn
Các chỉ tiêu dùng để phân tích khả năng thanh khoản của ngân hàng bao gồm:
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (hệ số CAR)
Đây là thước đo độ an toàn của vốn ngân hàng Qua tỷ lệ này có xác định được khả năng thanh toán của ngân hàng đối với các khoản nợ có thời hạn
- Tỷ lệ dự trữ thanh khoản:
Tỷ lệ dự trữ thanh khoản (%) = Tài sản có tính thanh khoản cao x 100
Tổng Nợ phải trả Ngân hàng cần phải đảm bảo việc nắm giữ (hay dự trữ) tối thiểu khối lượng tài sản có tính thanh khoản cao nhằm đáp ứng các nhu cầu kinh doanh hằng ngày
và các dòng tiền phát sinh ngoài dự kiến
- Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn sử dụng để cho vay trung và dài hạn: Tỷ lệ này sẽ được Ngân hàng Nhà nước quy định nhằm kiểm soát hoạt động tín dụng của các NHTM, từ đó đảm bảo an toàn thanh khoản cho hệ thống ngân hàng
Trang 31Tỷ lệ nguồn vốn ngắn
hạn được sử dụng để cho
vay trung và dài hạn (%)
=
(Tổng dư nợ cho vay trung hạn và dài hạn
- Tổng nguồn vốn trung hạn và dài hạn) x 100
Nguồn vốn ngắn hạn
1.2.6 Rủi ro tài chính tại ngân hàng thương mại
Khi phân tích tài chính của ngân hàng, bên cạnh việc đánh giá cơ cấu tài chính, hiệu quả hoạt động, và các nhóm chỉ số thì cần xem xét thêm về mức rủi ro
mà ngân hàng có thể chịu đựng được và ngược lại
Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, và những rủi ro đối với hoạt động ngân hàng thường gặp cũng vì thế mà mang tính đặc thù như: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, và rủi ro thị trường
1.2.6.1 Rủi ro thanh khoản
- Theo Thông tư 08/2017/TT-NHNN quy định, Rủi ro thanh khoản là rủi ro do
tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao
để thực hiện nghĩa vụ đó Có thể hiểu rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất khi ngân hàng không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình
- Nguyên nhân rủi ro thanh khoản bao gồm:
Có quá nhiều nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất
Mất cân đối về thời hạn giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn
Niềm tin của khách hàng suy giảm
Khách hàng rút tiền ồ ạt cùng thời điểm
Yêu cầu thực hiện các cam kết tín dụng của ngân hàng
- Khi ngân hàng xảy ra rủi ro thanh khoản, không chỉ khiến cho ngân hàng thiệt hại về mặt vất chất mà còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng đối với khách hàng và đối tác, nhà đầu tư Tất cả các ngân hàng đều muốn tránh xa loại rủi ro này, bởi vì sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh, lợi nhuận, làm kiệt quệ năng lực tài chính và thậm chí là đứt khả năng nghĩa vụ chi trả hay cam kết tài chính với đối tác
Trang 321.2.6.2 Rủi ro tín dụng
- Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định, rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết
Vậy rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi khách hàng vay không thực hiện các khoản thanh toán đến hạn cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng, dấu hiệu rủi ro là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay Rủi ro tín dụng sẽ gây ra những tổn thất về tài chính cho ngân hàng thương mại Mức độ rủi ro tín dụng này được phản ánh theo giá trị ghi sổ của các tài sản trên bảng cân đối kế toán
- Nguyên nhân rủi ro tín dụng:
Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng: Khách hàng sử dụng vốn vay kém hiệu quả Nhiều khoản vay của khách hàng với mục đích đầu tư vào các danh mục đầu tư nhạy cảm với những biến động của thị trường; khách hàng cố tình lừa đảo để chiếm dụng vốn ngân hàng
Nhóm nguyên nhân từ phía ngân hàng: Khẩu vị rủi ro của mỗi ngân hàng phản ánh thái độ đối với việc chấp nhận rủi ro ở giới hạn/mức độ nhất định Ngân hàng có thể chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định để đánh đổi lấy lợi nhuận Họ tin rằng với mức độ rủi ro đó ngân hàng có thể tự khắc phục và vượt qua được Chính sách tín dụng của Ngân hàng không hợp lý, quy trình không thống nhất, lỏng lẻo cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến rủi ro Thêm vào đó, việc nới rộng giới hạn tín dụng cũng khiến cho các tiêu chí lựa chọn khách hàng sẽ bị giảm lược Khi lượng khách hàng quá nhiều thì cán bộ tín dụng sẽ không thể theo dõi, giám sát việc
sử dụng khoản vay của khách hàng một cách sát sao được, từ đó sẽ làm cho việc tuân thủ chặt chẽ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng Cùng với sự yếu kém của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là nguy cơ rất cao xảy ra rủi ro tín dụng
Nhóm nguyên nhân từ môi trường: Cũng như hoạt động của các chủ thể kinh
tế khác, hoạt động tín dụng của NHTM chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách
Trang 33quan từ môi trường kinh tế, môi trường chính trị, đặc điểm văn hóa – xã hội, môi trường pháp lý và các tác động chung của khu vực và địa phương…
- Phân loại các nhóm nợ
Theo khoản 3, Điều 1 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung Điều 6 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về việc phân chia các nhóm nợ, cụ thể là 5 nhóm: a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;
Các khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn khi đáp ứng các điều kiện theo quy định
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu);
Các khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn hoặc cao hơn khi đáp ứng các điều kiện theo quy định
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu;
Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
Các khoản nợ vi phạm Luật các TCTD chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
Các khoản nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;
Trang 34 Các khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn hoặc cao hơn khi đáp ứng các điều kiện theo quy định
Các khoản nợ phân loại căn cứ theo kết quả thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Các khoản nợ vi phạm Luật các TCTD chưa thu hồi được trong thời gian từ
30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
Các khoản nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
Các khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn hoặc cao hơn khi đáp ứng các điều kiện theo quy định
Các khoản nợ phân loại căn cứ theo kết quả thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
Các khoản nợ vi phạm Luật các TCTD chưa thu hồi được trong thời gian trên
60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
Trang 35 Các khoản nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
Các khoản nợ của khách hàng là Tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
bị phong tỏa vốn và tài sản;
Các khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn hoặc cao hơn khi đáp ứng các điều kiện theo quy định
Các khoản nợ phân loại căn cứ theo kết quả thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
- Tác động của rủi ro tín dụng: Trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng mang tính chất hệ thống Do đó, khi rủi ro tín dụng xảy
ra tại một ngân hàng sẽ gây nên thiệt hại không chỉ cho chính bản thân ngân hàng
đó (về lợi nhuận, uy tín, chi phí,…) mà còn có thể ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế
Một số chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của ngân hàng:
Tỷ lệ này phản ánh cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng đã quá hạn Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng Nếu tỷ
lệ nợ quá hạn cao có nghĩa chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp, ngân hàng đang
có xu hướng cho vay nhiều hơn đối với các đối tượng khách hàng có khả năng trả
nợ thấp
Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng thu hồi các khoản nợ gốc và lãi chậm trả,
có khả năng mất vốn cao Nếu tỷ nợ xấu quá cao, các hoạt động của ngân hàng đều
Trang 36sẽ bị ảnh hưởng, đặc biệt là khả năng thanh khoản của ngân hàng Nếu ở mức độ trầm trọng, ngân hàng có thể bị mất cân đối hoàn toàn, dẫn đến khả năng phá sản
Do đó, các ngân hàng cần đảm bảo Tỷ lệ nợ xấu càng thấp càng tốt
a Rủi ro lãi suất
Theo Thông tư số 40/2018/TT-NHNN: Rủi ro lãi suất trên sổ ngân hàng là
rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất đối với thu nhập, giá trị tài sản, giá trị nợ phải trả và giá trị cam kết ngoại bảng của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát sinh do:
Chênh lệch thời điểm ấn định mức lãi suất mới hoặc kỳ xác định lại lãi suất;
Thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất của các công cụ tài chính khác nhau nhưng có cùng thời điểm đáo hạn;
Thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất ở các kỳ hạn khác nhau;
Tác động từ các sản phẩm quyền chọn lãi suất, các sản phẩm có yếu tố quyền chọn lãi suất
Chỉ tiêu đánh giá rủi ro lãi suất: Chênh lệch nhạy cảm lãi suất
Chênh lệch nhạy cảm lãi suất = Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất – Giá trị nợ nhạy cảm lãi suất
Trong đó: Tài sản nhạy cảm với lãi suất là những tài sản được định giá lại khi lãi suất thay đổi, còn nợ nhạy cảm lãi suất là những khoản vốn mà lãi suất được điều chỉnh theo thị trường: tiết kiệm ngắn hạn, tiền gửi có lãi suất thả nổi
Trang 37+ Trường hợp chênh lệch = 0: Khi đó, việc lãi suất tăng hay giảm không ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM Rủi ro lãi suất về mặt lý thuyết được khống chế
+ Trường hợp chênh lệch < 0: Khi đó, nếu lãi suất thị trường giảm thì lợi nhuận các NHTM sẽ tăng Ngược lại, nếu lãi suất thị trường tăng lên, làm cho thu từ lãi tăng chậm hơn chi phí lãi (NIM giảm) rủi ro lãi suất lại xuất hiện
+ Trường hợp chênh lệch > 0: Nếu lãi suất thị trường tăng sẽ tăng lợi nhuận cho NHTM Nhưng nếu lãi suất thị trường giảm thì thu nhập lãi giảm nhanh hơn chi phí lãi (NIM giảm) rủi ro cũng xuất hiện
b Rủi ro ngoại hối
Theo Thông tư số 40/2018/TT-NHNN: Rủi ro ngoại hối là rủi ro do biến động bất lợi của tỷ giá, giá vàng trên thị trường khi ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trạng thái ngoại tệ, trạng thái vàng
Ta có thể hiểu rủi ro ngoại hối là rủi ro mà giá trị của các công cụ tài chính
bị thay đổi xuất phát từ những thay đổi về tỷ giá, gây ra sự sụt giảm giá trị đối với các tài sản mà ngân hàng nắm giữ Các hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến động tỷ giá trên thị trường
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của Tỷ giá: tình hình kinh tế trong nước và thế giới; diễn biến giá vàng và dầu mỏ; chính sách can thiệp tỷ giá của các nước; mức độ ổn định về chính trị và hiệu quả kinh tế; nợ công,
Chỉ tiêu đánh giá về trạng thái ngoại tệ của ngân hàng
Trạng thái ngoại tệ ròng (theo từng loại ngoại tệ) = Tài sản có i – Tài sản nợ i Trong đó: i là loại ngoại tệ
+ Nếu chỉ tiêu > 0: Nếu tỷ giá tăng, NHTM có lãi ngược lãi tỷ giá giảm bị thua lỗ Khi đó rủi ro ngoại hối tăng
+ Nếu chỉ tiêu < 0: Tỷ giá tăng làm phát sinh lỗ, nếu tỷ giá giảm NHTM có lãi + Nếu chỉ tiêu = 0: Tỷ giá thay đổi sẽ không ảnh hưởng đến lãi hay lỗ, vì vậy rủi ro ngoại hối về mặt lý thuyết là không có
Trang 38Tiểu kết Chương 1
Chương 1 đã khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu, đồng thời hệ thống hóa các lý luận về Phân tích tài chính Ngân hàng thương mại Kết quả nghiên cứu
cụ thể được thể hiện qua các điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, tác giả đã hệ thống các lý luận cơ bản về Phân tích tài chính Ngân hàng thương mại thông qua các khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa… Tổng hợp các nguồn thông tin phục vụ cho việc phân tích
Thứ hai, tác giả đã khái quát được các nội dung phân tích, tổng hợp các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá tài chính, các rủi ro tài chính mà các Ngân hàng thương mại thường gặp phải Các chỉ tiêu này được kế thừa từ các nghiên cứu đã từng đề cập đến đề tài này và được bổ sung để phù hợp với điều kiện hiện nay
Những lý luận nghiên cứu ở chương 1 là tiền đề để tìm ra phương pháp nghiên cứu tại chương 2 và là cơ sở để đánh giá thực trạng tài chính của Ngân hàng
mà tác giả lựa chọn cũng như đưa ra giải pháp phù hợp nhằm nâng cao khả năng tài chính cho ngân hàng sẽ được đề cập ở các chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Luận văn sử dụng các số liệu thứ cấp như:
+ Các báo cáo tài chính đã kiểm toán của ngân hàng được công bố;
+ Các báo cáo thường niên của SHB và một số ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam qua nguồn dữ liệu tại một số trang web như: shb.com.vn; finance.vietstock.vn; cophieu68.vn;…
+ Ngoài ra còn thu thập các số liệu, tài liệu của cơ quan thống kê, Ngân hàng Nhà nước và các tài liệu tham khảo khác như các giáo trình, bài báo liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu
2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu
2.3.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là việc đối chiếu các số liệu, chỉ tiêu đã được lượng hóa ở các thời điểm, giai đoạn khác nhau với nhau hoặc với số liệu tiêu chuẩn để xác định được xu hướng phát triển và mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích
Phương pháp so sánh cho phép chúng ta tổng hợp được những nét chung cũng như tách ra được những nét riêng của các hiện tượng được so sánh Để tiến hành phương pháp so sánh cần phải xác định được các tiêu chuẩn so sánh cũng như một số điều kiện cần thiết:
- Tiêu chuẩn so sánh: là các chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh Trong phân tích, các nhà phân tích thường áp dụng các hình thức so sánh theo thời gian (so
Trang 40sánh kỳ này với kỳ trước) hoặc so sánh theo không gian (so sánh với các đối thủ cạnh tranh cân sức hay so sánh với mức trung bình của ngành) So sánh theo thời gian giúp nhà phân tích nhận biết được xu hướng thay đổi tình hình tài chính của ngân hàng, trong khi đó so sánh theo không gian giúp xác định vị trí của ngân hàng trong ngành hoặc so với các đối thủ cạnh tranh Như vậy có thể thấy rằng yếu tố quan trọng nhất trong phương pháp so sánh chính là xác định căn cứ so sánh
- Điều kiện so sánh: Muốn thực hiện việc so sánh các chỉ tiêu kinh tế thì cần phải đảm bảo một số điều kiện sau:
+ Các chỉ tiêu phải phản ánh cùng nội dung kinh tế
+ Các chỉ tiêu được tính theo cùng một phương pháp
+ Các chỉ tiêu có cùng đơn vị tính toán
+ Các chỉ tiêu kinh tế phải được quy đổi về cùng một quy mô hoạt động với các điều kiện kinh doanh tương tự nhau
- Khi thực hiện phương pháp so sánh, người ta thường so sánh các nội dung sau: + So sánh tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế Kết quả so sánh phản ánh biến động về mặt quy
mô hoặc khối lượng của chỉ tiêu phân tích
+ So sánh số tương đối: kết quả so sánh phản ánh kết cấu, mối quan hệ, tốc
độ phát triển và mức độ phổ biến của chỉ tiêu phân tích
+ So sánh số bình quân: Biểu hiện tính đặc trưng chung về mặt số lượng, nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng một tính chất
- Quá trình phân tích theo kỹ thuật của phương pháp so sánh có thể thực hiện theo 2 hình thức sau:
+ So sánh theo chiều dọc: là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ tương quan giữa các chỉ tiêu từng kỳ của báo cáo tài chính
+ So sánh theo chiều ngang: là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ và chiều hướng biến động giữa các kỳ trên báo cáo tài chính
2.3.2 Phương pháp tỷ lệ