1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện điều kiện để cổ phần hóa tổng công ty truyền thông đa phương tiện VTC (tt)

13 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 363,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cổ phần hoá CPH doanh nghiệp nhà nước DNNN được coi là một trong những giải pháp chủ chốt để thực hiện nhiệm vụ này.Vì vậy để đẩy nhanh quá trình CPH DNNN và quan trọng là CPH DNNN theo

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt là tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là nhằm năng cao hiêu quả, sức cạnh tranh để thành phần kinh tế này mạnh lên

và đủ sức làm tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần xuất phát từ việc DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, nắm giữ một nguồn lực rất lớn nhưng lại hoạt động kém hiệu quả Cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được coi

là một trong những giải pháp chủ chốt để thực hiện nhiệm vụ này.Vì vậy để đẩy nhanh quá trình CPH DNNN và quan trọng là CPH DNNN theo hướng hiệu quả, nâng cao chất lượng doanh nghiệp DNNN cần thiết phải nghiên cứu những điều kiện chuẩn bị của DNNN trước khi thực hiện CPHDN

Tổng công ty (T.cty) Truyền thông đa phương tiện (VTC) là mô hình Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiêp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ do Bộ Thông tin và Truyền thông là chủ sở hữu Được thành lập từ năm 1988, sau gần 30 năm hoạt động VTC luôn khẳng định được vị thế của mình trong các lĩnh vực hoạt động: nội dung

số, thương mại điện tử (TMĐT), dịch vụ truyền hình (DVTH), viễn thông; là đơn vị tiên phong trong việc nghiên cứu và đưa công nghệ Truyền hình số áp dụng thành công vào Việt Nam; là đơn vị đi đầu và đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nền Công nghiệp Nội dung số ở Việt Nam

Trong xu thế chung của cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đầu năm 2012 T.cty VTC tiến hành tái cơ cấu tổng thể Tổng công ty và đã đạt được những kết quả tích cực Cụ thể, năm 2013 đã thoát lỗ đạt lợi nhuận 61 tỷ đồng, 2014 đạt trên 77

tỷ đồng và 2015 khoảng 120 tỷ đồng Hiện tại, tính hết tháng 6/2016, tổng lợi nhuận sau thuế của T.cty đạt tới hơn 93 tỷ đồng, đưa số lỗ lũy kế tính đến hết tháng 6/2016 chỉ còn – 28.6 tỷ đồng Tính từ thời điểm 2013 (phê duyệt đề án tái cấu trúc VTC) đến nay, T.cty VTC đã thực hiện những nỗ lực vô cùng to lớn trong nhiệm vụ trọng tâm của đề án tổng thể tái cấu trúc T.cty và chuẩn bị CPH vào năm 2017 Có thể kể đến những kết quả nổi bật như: (1) Tình hình tài chính của Tổng công ty VTC cũng đã từng bước được cải thiện; (2) Cơ bản hoàn thành chuyển giao Đài Truyền hình KTS VTC về Bộ Thông tin và

Trang 2

Truyền thông; (3) cơ bản hoàn thành thoái vốn nhà nước và chuyển đổi, giải thể, sáp nhập các đơn vị thành viên làm ăn kém hiệu quả (4) Kiện toàn đội ngũ, sắp xếp và bố trí lại nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của T.cty; (5) Cơ bản hoàn thành nhiệm vụ của đề án tổng thể tái cơ cấu T.cty VTC 2012-2015 Những thành tựu cơ bản trên được coi như những tiền đề cho quá trình thực hiện CPH VTC trong năm

2017 Tuy nhiên, trước sự thay đổi trong quan điểm chỉ đạo của Chính phủ về vấn đề CPH DNNN từ chiều rộng (lấy số lượng DNNN được CPH là mục tiêu), sang CPH theo chiều sâu (lấy chất lượng CPH là ưu tiên hàng đầu), Tổng công ty VTC hiện còn phải hoàn thiện rất nhiều điều kiện quan trọng trước khi thực hiện CPH nhằm hướng đến mục tiêu CPH thành công về chất lượng

Bài học thực tế từ thành công của CPH DNNN đã thực hiện CPH cho thấy quá trình chuẩn bị và hoàn thiện các điều kiện của CPH sẽ là tiền đề cho sự thành công về

mặt chất lượng CPH DNNN Vì vậy việc lựa chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện điều

kiện để cổ phần hóa Tổng công ty truyền thông đa phương tiện VTC” có ý nghĩa thiết

thực cả về lý luận và thực tiễn, để Tổng công ty có sự chuẩn bị tốt hơn nữa nhằm đảm bảo thực hiện kế hoạch CPH đã đặt ra cả về tiêu chí thời gian lẫn chất lượng CPH “

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1 Tổng quan một số tài liệu nghiên cứu về CPH DNNN

Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ đồng nhất quan niệm kết quả CPH với kết quả IPO doanh nghiệp (Chào bán cổ phần doanh nghiệp lần đầu ra công chúng) Bởi lẽ, kết quả của CPH phải thể hiện bằng việc chào bán lần đầu cổ phần doanh nghiệp ra công chúng – IPO Thêm vào đó, trước khi thực hiện IPO, các hoạt động của DN chỉ được coi như quá trình chuẩn bị và lựa chọn thời điểm, chiến lược để thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp

Vì vậy, khi xác định các điều kiện CPH cũng chính là ranh rới giữa trước và sau khi thực hiện IPO của DN “

Cổ phần hóa DNNN là một mảng nội dung được rất nhiều các nhà nghiên cứu kinh

tế và nghiên cứu chính sách trên thế giới quan tâm Có thể nói, các chủ đề liên quan đến

cổ phần hóa doanh nghiệp là vô cùng đa dạng và phong phú Các chủ đề có thể liệt kê gồm: Chiến lược cổ phần hóa (dành cho các doanh nghiệp thông thường thực hiện IPO);

Trang 3

các nhân tố quyết định thành công của cổ phần hóa doanh nghiệp; các chiến lược định giá IPO Tuy nhiên, với mục tiêu nghiên cứu cụ thể và đặc thù của đối tượng nghiên cứu (DNNN), phần tổng quan các nghiên cứu về CPH doanh nghiệp nói chung nhằm: “

 Định hướng về khung lý luận của cổ phần hóa doanh nghiệp

 Tham khảo một số chiến lược CPH, các mục tiêu và nhân tố tác động đến hiệu quả của CPH doanh nghiệp nhằm định hướng phân tích các nhân tố tác động đến hiệu quả CPH DNNN và xây dựng khung phân tích trong nghiên cứu này

Trong phần này, tác giả nhóm một số nghiên cứu trước đây theo 3 nhóm dưới đây:

a Nhóm các nghiên cứu về chiến lược IPO, thời điểm IPO, chiến lược định giá cổ phiếu khi IPO của DN

“Trên thực tế, ngoại trừ các nhóm doanh nghiệp đặc biệt quan trọng (do Nhà nước quy định) hoặc các doanh nghiệp hoạt động công ích, hầu hết các DNNN nói chung đều hoạt động trên cơ sở nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận kinh doanh (hoặc lợi ích Nhà nước, một phần được thể hiện bằng lợi nhuận kinh doanh của các DNNN) Do đó, việc kế thừa các mô hình lý thuyết về CPH các doanh nghiệp nói chung sẽ là nền tảng khung lý luận cho nghiên cứu này Bài nghiên cứu tổng quan toàn diện về IPO trên thế giới với nội dung về các hoạt động IPO, định giá và phân bổ nguồn lực của Ritter, Jay R., and Ivo Welch Trong nghiên cứu này, 2 tác giả đã tóm tắt các xu hướng, quan điểm và chiến lược IPO phổ biến trên thế giới từ năm 1980 đến 2001 Một điểm dễ nhận thấy nhất trong nghiên cứu của Ritter, Jay R và cộng sự đó là, “thời điểm” IPO là một trong những vấn

đề trọng yếu trong quyết định IPO của các doanh nghiệp Có những năm, số lượt IPO của các công ty ở Mỹ lên đến hơn 400 lượt, nhưng cũng có những năm chỉ gần 100 lượt IPO Điều này cho thấy một quan điểm về chiến lược IPO phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh doanh tại từng thời kỳ nhất định Vấn đề đặt ra là, thời điểm nào là phù hợp nhất để IPO? Câu trả lời phụ thuộc vào 3 vấn đề: “

 Thứ nhất: Quan điểm và những thông tin đặc biệt (thông tin bất đối xứng giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư)

 Thứ hai: Chiến lược IPO do doanh nghiệp tư vấn IPO thiết lập

 Những nhân tố tác động khác có tính chất bắt buộc (đặc biệt là các DNNN)

Trang 4

Nhận định này của Ritter, Jay R và cộng sự có ý nghĩa rất lớn trong việc đưa “thời

điểm IPO” vào danh mục các tiêu chí đánh giá việc chuẩn bị các điều kiện của doanh nghiệp trước khi thực hiện CPH

“Tiếp đó, bằng một số thống kê đơn giản, Ritter, Jay R và cộng sự phát hiện ra rằng, các giao dịch sau ngày đầu tiên IPO của tất cả các cổ phiếu từ năm 1980 đến 2001 tại thị trường Mỹ thường đem lại 18.8% lợi nhuận cho các nhà đầu tư khi giá giao dịch ngày đầu tiên sau IPO cao hơn so với giá IPO của doanh nghiệp Điều này là nền tảng và minh

chứng cho trường phái định giá thấp (underpricing) khi IPO của hầu hết các doanh

nghiệp Trường phái này được tìm thấy trong hầu hết các chiến lược IPO của các doanh nghiệp trên thế giới Có thể lý giải cho chiến lược định giá thấp của các doanh nghiệp theo 4 cách tiếp cận như sau: (1) hầu hết các nhà tư vấn IPO đều thận trọng trong việc định giá giá trị doanh nghiệp trước IPO Lợi ích của các nhà tư vấn IPO thường gắn chặt với kết quả IPO, và do đó, nếu IPO thành công (về mặt giá trị được chuyển giao, tỷ lệ đấu giá thành công) thì lợi ích của họ cũng tăng lên Vì vậy, các công ty tư vấn IPO thường

có xu hướng underpricing giá trị thực của các doanh nghiệp IPO (2) Bản thân các doanh nghiệp cũng kỳ vọng sự ủng hộ mạnh mẽ của các nhà đầu tư khi họ IPO Bởi họ nhận thấy rằng, lợi ích dài hạn của doanh nghiệp gắn chặt với giá trị dài hạn của cổ phiếu của

họ sau IPO Và do đó, nếu thu hút các nhà đầu tư ngay lần đầu IPO, giá trị giao dịch trung và dài hạn của cổ phiếu công ty họ cũng sẽ tăng lên Khi đó, giá trị doanh nghiệp trên thị trường không những trở về giá trị thực mà sẽ tăng lên rất nhiều lần (3) Cũng có thể lý giải hành động underpricing của các doanh nghiệp khi họ cần làm “vừa lòng” các nhà đầu tư chiến lược-một nhân tố quyết định trọng yếu đến sự thành công của các đợt IPO của mọi doanh nghiệp Các nhà đầu tư chiến lược có thực hiện cam kết mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp hay không phụ thuộc hoàn toàn vào giá trị giao dịch và thỏa thuận giữa hai bên Mức giá thỏa thuận thấp sẽ khiến nhà đầu tư chiến lược hài lòng hơn

và thực hiện cam kết của họ tốt hơn “

“Một lý thuyết khác được khởi xướng bởi Lucas và McDonald (1990), và sau này được phát triển bởi rất nhiều nhà nghiên cứu khác (Choe, Masulis, and Nanda 1993, Subrahmanyam và Titman 1999, Schultz 2000, Baker và Wrugler 2002 ) Lý thuyết này

Trang 5

có tên là “lý thuyết thời điểm thị trường” (Market timing theory) Các nhà nghiên cứu lập luận và tìm ra bằng chứng về vai trò của “thời điểm” IPO đối với sự thành công của các đợt IPO của các doanh nghiệp Họ nhận định rằng, các doanh nghiệp sẽ trì hoãn thời điểm IPO nếu họ nhận thấy giá trị của doanh nghiệp đang bị định giá thấp, hoặc không có nhiều doanh nghiệp lớn IPO cùng đợt, hoặc họ điều chỉnh chiến lược phát triển trung và dài hạn Lý thuyết này mặc dù còn nhiều tranh luận gay gắt nhưng là nền tảng tốt cho việc lựa chọn các điều kiện (tiêu chí) CPH DNNN sẽ thực hiện trong nghiên cứu này “

b Nhóm các nghiên cứu về các tiêu chí đánh giá hiệu quả IPO và những nhân tố tác động đến hiệu quả IPO của DN

“Nhà nước coi CPH là một trong những giải pháp chủ chốt của tái cấu trúc DNNN Nhưng nếu CPH không phát hành rộng rãi (CPH nội bộ hoặc không công khai), tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước về nguồn vốn, tài sản…có thể không đạt hiệu quả cao Như đã nêu ở nhóm 1 của mục này, có khá nhiều quan điểm khác nhau

về các nhân tố tác động đến việc IPO của doanh nghiệp nói chung Tuy nhiên, khi xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động IPO của doanh nghiệp, trước tiên cần phải làm

rõ các tiêu chí đánh giá hiệu quả IPO của doanh nghiệp Những tiêu chí căn bản nhất gồm: “

 Tỷ lệ chào bán thành công so với số lượng cổ phiếu phát hành (cả phát hành ra công chúng lẫn chào bán cho các đối tác chiến lược và các đối tượng ưu tiên) Đương nhiên, tỷ lệ chào bán thành công càng cao thì hiệu quả IPO càng lớn (doanh nghiệp thu về nhiều vốn hơn) “

 Số lượng nhà đầu tư tham gia đấu giá (tiêu chí này phần nào ảnh hưởng đến tiêu chí

về giá trị đấu giá thành công)

 Mức giá đấu thầu thành công/mức giá khởi điểm Điều này được cả doanh nghiệp IPO và tổ chức tư vấn IPO đều kỳ vọng mức giá cao hơn so với giá khởi điểm

 Biên độ giao động giữa mức giá tối thiểu và tối đa trong đợt đấu giá Nếu biên độ chênh lệch quá lớn, các nhà đầu tư có nhiều xu hướng bất lợi cho doanh nghiệp IPO khi

lo ngại về khoản lỗ trong trung và dài hạn Điều này có thể gây ra xu hướng bán tháo ngay sau khi IPO, và do đó, ảnh hưởng lớn đến giá trị thị trường của doanh nghiệp

Trang 6

 Tỷ lệ bỏ giao dịch khi trúng thầu Điều này không phải là hiếm trong bối cảnh của thị trường không hoàn hảo về thông tin Nhiều nhà đầu tư chấp nhận bỏ cọc khi bỏ giá cao hơn mức giá bình quân, hoặc xu hướng (động thái) của các nhà đầu tư lớn (chuyên nghiệp) sẽ làm nảy sinh các kỳ vọng xấu về mức giá đấu thầu Ở các thị trường tài chính phát triển, việc IPO chỉ dành cho “nhà đầu tư chuyên nghiệp”, còn các cá nhân có quyền đấu giá nhưng phải thực hiện ủy thác cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp này (ngân hàng,

tổ chức tài chính, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, tổ chức ủy thác )

Các nhóm nguyên nhân ảnh hưởng (đến các tiêu chí kể trên) gồm:

 Cầu thị trường Đây là nhân tố không phải bàn cãi về tác động của nó đến hiệu quả IPO của doanh nghiệp Mặc dù có một số ít quan điểm trái ngược (rằng, kể cả trong trường hợp cầu thị trường thấp, IPO vẫn khả thi và thành công nếu cổ phiếu của doanh nghiệp thực sự hấp dẫn), hầu hết các nhà nghiên cứu đều khẳng định sức cầu của thị trường là yếu tố quan trọng bậc nhất đến hiệu quả IPO Các nhóm nhân tố khác, ít nhiều, cũng phản ánh hoặc bị ảnh hưởng bởi nhân tố này (Logue 1973, Ibbotson 1975) Tiêu chí này sẽ được cân nhắc trong việc lựa chọn thời điểm IPO của DN khi chỉ số thanh khoản của thị trường thuận lợi (cao)

 Thông tin thị trường Giả thuyết về thông tin không hoàn hảo làm ảnh hưởng tâm lý

và khả năng ra quyết định (mua hoặc không mua) được nhiều nhà nghiên cứu đồng thuận cao Nhân tố này gợi ý cho các DN muốn thực hiện tốt việc IPO cần phải có chiến lược

về truyền thông, cung cấp thông tin chính xác và có lợi cho doanh nghiệp

Tâm lý đám đông Lý thuyết này chịu ảnh hưởng của thông tin thị trường Các nhà

nghiên cứu cho rằng, phần lớn các nhà đầu tư cá nhân (thậm chí tổ chức) thường là những nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm và thông tin Do đó, họ có tâm lý trông đợi vào động thái chung của số đông (hoặc nhà đầu tư lớn) để tận dụng kỹ năng, kinh nghiệm của những nhà đầu tư này Nhân tố này gợi ý cho các DN khi CPH rằng, vai trò của công chúng là rất lớn trong việc tác động đến tâm lý nhà đầu tư, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến kết quả IPO của DN

Năng lực của nhà bảo lãnh IPO Yếu tố này không có kết luận đồng thuận về tác

động (dương hay âm) đến hiệu quả IPO Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các doanh nghiệp

Trang 7

lớn thường lựa chọn các nhà bảo lãnh với quy mô và năng lực cao nhất trên thị trường nhằm đảm bảo cho tính hiệu quả của doanh nghiệp khi thực hiện IPO Điều này gợi ý cho các DN rằng, lựa chọn chính xác nhà bảo lãnh phát hành sẽ có nhiều thuận lợi cho kết quả IPO

 Tỷ lệ vốn giữ lại Mroczkowski và Tanewski (2004) cho rằng, nếu chủ doanh nghiệp muốn giữ lại một phần lớn cổ phần khi IPO, đó sẽ là một tín hiệu cho thấy, doanh nghiệp

kỳ vọng vào tương lai sau IPO là rất lớn Tín hiệu này có thể làm cho các nhà đầu tư sẵn sàng hơn khi mua cổ phiếu IPO Tuy nhiên, có những quan điểm ngược lại rằng, vì số lượng cổ phiếu phát hành ra công chúng quá ít, các nhà đầu tư sẽ lo ngại rằng, việc IPO chỉ là hình thức (vì thực sự tỷ lệ thấp phát hành ra công chúng sẽ không làm thay đổi quyền định đoạt doanh nghiệp trong tay chủ sở hữu) Và do đó, họ sẽ mua nếu mức giá thực sự thấp

Độ trễ niêm yết (sau IPO) Nhân tố này cũng không có quan điểm thống nhất về tác

động của nó đến hiệu quả IPO Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, độ trễ càng lớn sẽ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu IPO, và do đó, sức cầu thực sự cũng giảm xuống (Chowdhy và Sherman 1996) Tuy nhiên, không có nhiều bằng chứng về quan điểm này Bởi lẽ, phần lớn cổ phiếu IPO sẽ nằm trong tay các nhà đầu tư chiến lược hoặc tổ chức chứng khoán chuyên nghiệp, nên việc chậm niêm yết (thanh khoản kém) không hoàn toàn ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của IPO “

 Quy mô và số năm hoạt động của doanh nghiệp Nhân tố này thực tế không tác động trực tiếp đến hiệu quả IPO mà tác động gián tiếp đến nhân tố cầu của thị trường với

cổ phiếu IPO Một doanh nghiệp lớn, có thương hiệu và uy tín lâu đời sẽ đảm bảo cho tính thanh khoản cao hơn của cổ phiếu sau IPO

 Các nhân tố vĩ mô Gồm: chỉ số thị trường chứng khoán, tốc độ tăng trưởng kinh tế,

tỷ lệ lạm phát, những nhân tố đặc trưng của ngành, quy định của pháp luật

Như vậy, phần tổng quan này đã cung cấp các khung lý thuyết chung về hoạt động, hiệu quả và các nhân tố tác động đến CPH nói chung (và IPO nói riêng) trên thế giới Khung lý thuyết này sẽ được kế thừa trong việc xác định các tiêu chí và những nhân tố tác động đến CPH DNNN ở phần trọng tâm của nghiên cứu này “

Trang 8

c Nhóm các công trình nghiên cứu về CPH DNNN tại Việt Nam

Các mảng nghiên cứu chính được tổng hợp trong phần này chỉ nhằm đến vấn đề CPH DNNN ở Việt Nam Mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) mới chính thức ra đời từ giữa năm 2000, các vấn đề về CPH DNNN được Chính phủ quan tâm từ đầu những năm 1990s Về vấn đề này, các nghiên cứu tại Việt Nam rất phong phú và đa dạng về nội dung Đồng thời, ranh giới giữa CPH và Tái cấu trúc DNNN đôi khi chưa thực sự rõ ràng (trong nghiên cứu, tái cấu trúc DNNN ở tầm rộng hơn so với CPH DNNN) “

Trần Tiến Cường: Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam quá trình thực hiện, kết quả, vấn đề và một số kiến nghị (Tham luận trong kỷ yếu diễn đàm kinh thế mùa xuân 2015.)

Công trình này nghiên cứu về quá trình thực hiện CPH DNNN ở Việt Nam trong 24 năm, bắt đâu từ năm 1992 bằng quyết định 202 – CT ngày 8/6/1992 Tài liệu đã chỉ ra một số vấn đề trong và sau CPH DNNN: tiến độ CPH chậm, vấn đề quản trị DN sau CPH, hoạt động thoái vốn Nhà nước sau CPH, vấn đề tìm cổ đông chiến lược Cuối cùng tác giả có đưa ra các khuyến nghị giúp quá trình CPH DNNN diễn ra trong giai đoạn tiếp theo như: đổi mới nhận thức và cách tiệp cận CPH DNNN, hoàn thiện các văn bản pháp luật, quy định về CPH DNNN “

Tài liệu này được tác giả luận văn tham khảo nhằm mục đích xem xét thực trạng và nguyên nhân của kết quả hoạt động CPH DNNN ở Việt Nam thời gian qua

Trần Đình Thiên và các cộng sự: “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước- Các điểm nghẽn

và giải pháp thúc đẩy” (Tham luận trong kỷ yếu diễn đàm kinh thế mùa thu 2014)

“Tài liệu nghiên cứu tập trung vào 3 nội dung chính là (i) đẩy mạnh cổ phần hóa để thu hẹp khu vực DNNN, (ii) các DNNN thoái vốn khỏi các lĩnh vực kinh doanh mà DNNN không cần nắm giữ, và (iii) nâng cao năng lực quản trị tại các DNNN Theo nhóm tác giả quá trình tái cơ cấu DNNN vẫn diễn ra rất chậm Quá trình thoái vốn hiện tại về

cơ bản vẫn là việc các DNNN chuyển phần vốn đầu tư ngoài ngành của mình sang cho các DNNN khác; có thể nói quá trình này này hầu như không ảnh hưởng đến tổng thể nền kinh tế như tăng trưởng GDP, cán cân ngân sách, cán cân thanh toán, thu hút đầu tư nước

Trang 9

ngoài, mặt bằng lãi suất và tỷ giá; do việc thoái vốn đa phần diễn ra trong nội bộ của khu vực DNNN nên xét về tổng thể, hoạt động này cũng không tác động gì đến tình hình công nợ tại khu vực DNNN Về mô hình quản trị DNNN đã có sự cải tiến đó là điều chỉnh lại qui định về về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; giảm bớt quyền lực của hội đồng quản trị của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước “

“Tài liệu này được tham khảo nhằm mục đích tìm hiểu những nguyên nhân kìm hãm quá trình tái cơ cấu DNNN (CPH là một trong những biện pháp của tái cơ cấu DNNN), từ

đó định hình những nội dung cần phân tích sâu trong phần thực trạng của quát trình CPH Tổng công ty VTC cũng như những kết quả mà Tổng công ty VTC đã đạt được trong thời gian qua “

Nguyễn Thanh Tùng: Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Bưu chính Viễn thông 2010)

Đề tài đã đánh giá thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tại Tập đoàn

Bưu chính, Viễn thông Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình

cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tại Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông Việt Nam

“Tác giả đã nghiên cứu quá trình tổ chức, sắp xếp lại DNNN dưới khía cạnh giải pháp tái cơ cấu DNNN ở các quốc gia khác nhau, nhất là các nước có nền kinh tế chuyển đổi Theo quan điểm của nhóm này, cổ phần hóa là giải pháp chuyển các cơ sở sản xuất của Nhà nước cho tư nhân và coi đó là nội dung tất yếu của quá trình chuyển đổi nền kinh

tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, trong đó nhấn mạnh quá trình giải thể của các DNNN

và tái cơ cấu lại chúng theo các liệu pháp sốc, lấy cổ phần hóa toàn dân hay tư nhân hóa

sở hữu nhà nước Các tác giả đã nghiên cứu quá trình tổ chức, sắp xếp lại DNNN dưới khía cạnh giải pháp tái cơ cấu các DNNN ở các quốc gia khác nhau Đồng thời kiến nghị

5 giải pháp có thể áp dụng nhằm thu được thành công trong cải cách các DNNN Tuy nhiên, các nội dung liên quan đến tăng cường cổ phần hóa DNNN chưa được đề cập “

“ Tuy nhiên, rất ít các công trình nghiên cứu trong nước về phân tích đến thực trạng DNNN trước khi tiến hành CPH, xem xét đến các điều kiện DNNN đã hoàn thiện để sẵn

Trang 10

sàng CPH hay chưa Các điều kiện CPH của DNNN chưa được hoàn thiện là một trong những nguyên nhân chính làm cho hoạt động DN sau CPH gặp nhiều khó khăn Đồng thời, quan điểm chỉ đạo chung của Chính phủ trong việc CPH DNNN chuyển từ “số lượng” sang “chất lượng” CPH, tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu về các điều kiện cần thiết nhằm thực hiện CPH DNNN đạt hiệu quả cao là rất rõ ràng “

2.2 Khoảng trống nghiên cứu

“Qua tổng quan tài liệu, các nghiên cứu tiền nhiệm trong và ngoài nước hầu hết đề cập đến các nhóm: (1) Chiến lược, chiến thuật IPO (cổ phần hoá); (2) Các yếu tố tác động đến kết quả CPH (IPO); (3) Tính tất yếu, vai trò, lộ trình CPH DNNN ở Việt Nam; (4) Những tác động và hạn chế của CPH DNNN; (5) Hiệu quả hoạt động của các DN sau CPH…Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về CPH theo hướng hiệu quả (hướng nghiên cứu của tác giả là đồng nhất hiệu quả CPH với hiệu quả chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng IPO) cũng như hệ thống hoá các nhóm tiêu chí về đảm bảo điều kiện CPH DNNN Tác giả nhận thấy đây là “khoảng trống nghiên cứu” trong nội dung về CPH DNNN ở Việt Nam hiện nay Do đó, nghiên cứu này tập trung vào phân tích các điều kiện của DNNN trước khi CPH theo hướng đảm bảo tiêu chí về hiệu quả CPH có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn Hướng nghiên cứu của đề tài như sau: “

- Cách tiếp cận: Đánh giá CPH DNNN theo hướng hiệu quả về mặt chất lượng CPH Chất lượng của CPH thể hiện bằng việc chào bán lần đầu cổ phần doanh nghiệp ra công chúng – IPO

- Nội dung: Thiết lập tiêu chí đánh giá các điều kiện thực hiện CPH DNNN theo hướng chất lượng CPH

- Phân tích các điều kiện cụ thể của VTC theo hệ thống các tiêu chí đánh giá

- Xem xét, phân loại và lựa chọn các nhóm tiêu chí trọng yếu cần hoàn thiện hơn nữa Từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các điều kiện CPH cho VTC

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài đặt ra mục tiêu chung: Tìm ra những điều kiện chưa hoàn thành để Tổng công ty VTC CPH theo hướng hiệu quả và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các điều kiện

đó

Ngày đăng: 14/04/2021, 07:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w