Chất lượng thẩm định thể hiện sự hài lòng của cấp phê duyệt ngân hàng khi phê duyệt khoản vay trên cơ sở báo cáo thẩm định, là cơ sở để cấp phê duyệt ngân hàng đưa ra quyết định cho vay
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng là một trung gian tài chính quan trọng trong hệ thống tài chính của mỗi quốc gia Sau thời gian dài phát triển, hệ thống ngân hàng càng hoàn thiện với hệ thống dịch vụ rất đa dạng Trong đó, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp (KHDN) vẫn luôn là mảng chính mang lại lợi nhuận lớn nhất cho các ngân hàng Tuy nhiên, đây cũng là mảng dịch vụ có rủi ro lớn của ngân hàng Việc giảm thiểu rủi ro từ hoạt động này phụ thuộc rất nhiều đến chất lượng của công tác thẩm định KHDN
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng thẩm định KHDN trong hoạt động cho vay của NHTM; phân tích chất lượng thẩm định KHDN trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) Qua đó, tác giả chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại trong công tác thẩm định KHDN, nguyên nhân chủ yếu Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định KHDN trong hoạt động cho vay tại MB
Cơ sở lý thuyết được tác giả tổng hợp từ việc tìm nguồn tài liệu tham khảo qua các giáo trình, các công trình nghiên cứu có liên quan đến chất lượng thẩm định tín dụng của ngân hàng thương mại Từ đó hệ thống nên cơ sở lý luận của đề tài:
Tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác Trong đó, cho vay là mô ̣t hình thức cấp tín du ̣ng , theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa th uâ ̣n với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc
và lãi
Thẩm định cho vay là quá trình xem xét, phân tích các tài liệu, các thông tin cần thiết về khách hàng có nhu cầu tín dụng mà ngân hàng thu thập được Trong quá trình thẩm định, chuyên viên thẩm định (CVTĐ) sẽ sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một phương án hoặc dự án mà KHDN đã xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng Kết quả của quá trình này được thể hiện thông qua báo cáo thẩm định, đây được coi là sản phẩm của thẩm định Chất lượng thẩm định tín dụng thể hiện trước hết ở báo cáo thẩm định Vì các báo cáo thẩm định là sự phản ánh khả năng, năng lực đánh giá và phân tích khách hàng trong việc
Trang 2áp dụng quy trình thẩm định, thể hiện mức độ đánh giá khách hàng có toàn diện các mặt theo điều kiện cần và điều kiện đủ để quyết định cho vay hay không Chất lượng thẩm định thể hiện sự hài lòng của cấp phê duyệt ngân hàng khi phê duyệt khoản vay trên cơ
sở báo cáo thẩm định, là cơ sở để cấp phê duyệt ngân hàng đưa ra quyết định cho vay đúng đắn, đảm bảo khả năng thu hồi nợ, không phát sinh nợ quá hạn hay không Chất lượng thẩm định còn thể hiện trực tiếp sự hài lòng của đơn vị kinh doanh khi đề xuất cho vay theo nhu cầu của khách hàng và được thẩm định ra quyết định kịp thời, thể hiện gián tiếp sự hài lòng của khách hàng khi được thẩm định cho vay
Tiêu chí đánh giá chất lượng thẩm định khách hàng gồm:
Thứ nhất, sự tuân thủ quy trình thẩm định: đánh giá toàn bộ quá trình thẩm định tính từ khi tiếp nhận hồ sơ đến khi hoàn thiện xong công tác phê duyệt hồ sơ thẩm định
có tuân thủ đúng theo quy trình thẩm định theo quy định hiện hành của ngân hàng hay không?
Thứ hai, nội dung của báo cáo thẩm định: CVTĐ đã thực hiện thẩm định, phân tích đánh giá khách hàng và phương án, đề xuất phương án cấp tín dụng theo đúng hướng dẫn, mẫu biểu hiện hành của ngân hàng chưa
Thứ ba, mức độ hài lòng của khách hàng nội bộ gồm cấp phê duyệt thẩm định, đơn vị kinh doanh và các đơn vị khác có liên quan trong hệ thống ngân hàng.; mức độ hài lòng của KHDN
Từ cơ sở lý thuyết trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực trạng chất lượng thẩm định khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại MB với không gian nghiên cứu là Trung tâm thẩm định Hội sở - Khối Thẩm định – MB Luận văn sử dụng các
phương pháp để nghiên cứu gồm: Phương pháp thu thập thông tin số liệu (thu thập số
liệu thứ cấp gồm số liệu thống kê, tổng hợp của các phòng ban cung cấp dữ liệu liên quan đến hoạt động cho vay của MB trong giai đoạn từ 2011 – 2014) và phương pháp
phân tích số liệu (phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp phân tích – so sánh)
Trong giai đoạn nghiên cứu 2011 – 2014, Khối Thẩm định có triển khai một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định trong đó tập trung vào hoàn thiện quy trình thẩm định, mẫu biểu báo cáo thẩm định (BCTĐ), hướng dẫn thẩm định, ổn định công tác nhân sự, đào tạo CVTĐ và cải thiện chế độ đãi ngộ đối với CVTĐ để tăng sự gắn bó với đơn vị, thực hiện lưu trữ dữ liệu thông tin phục vụ công tác thẩm định và xây dựng hệ thống đo lường mức độ hài lòng nội bộ Các giải pháp này được triển khai cũng đã mang lại một số thành tựu nhất định trong công tác nâng cao chất lượng thẩm định tại
Trang 3đơn vị, cụ thể:
Thứ nhất, hệ thống quy trình thẩm định và mẫu biểu BCTĐ cũng như checklist hồ
sơ, báo cáo đề xuất yêu cầu đối với đơn vị kinh doanh đã được hoàn thiện và áp dụng triệt để trong toàn Khối Các CVTĐ thực hiện nghiêm túc theo đúng quy trình thẩm định Mẫu biểu báo cáo thẩm định đã được chuẩn hóa theo hướng rút gọn, tập trung phân tích các nội dung chính, giảm thiểu các nội dung chỉ mang tính chất thống kê, đã thuận lợi hơn cho cấp kiểm soát và cấp phê duyệt khi tiếp cận phương án CVTĐ trình bày BCTĐ theo đúng mẫu biểu từng thời kỳ
Thứ hai, các giải pháp tổ chức thẩm định, phân phân luồng thẩm định, đào tạo để nâng cao chuyên môn đã tạo điều kiện cho CVTĐ tích lũy được kinh nghiệm, nâng cao chuyên môn nên chất lượng BCTĐ có cải thiện Mức độ hài lòng của cấp phê duyệt được cải thiện qua các năm: Tỷ lệ hồ sơ trình phải trả lại từ cấp phê duyệt do chưa đủ thông tin, cần làm rõ thông tin có xu hướng giảm qua các năm thể hiện chất lượng báo cáo thẩm định được cải thiện; tỷ lệ hồ sơ trình phê duyệt được cấp phê duyệt phê duyệt đồng thuận với ý kiến của đơn vị thẩm định chiếm phần lớn trong tổng số hồ sơ, tỷ lệ hồ sơ cấp phê duyệt phê duyệt trái với ý kiến của đơn vị thẩm định có xu hướng giảm
Thứ ba, từ khi triển khai đo lường mức độ hài lòng nội bộ onphân luồng ẩn danh nên nhận được nhiều ý kiến khách quan, số lượng người tham gia lớn nên tính chính xác trong đánh giá cao Các ý kiến có nhiều giá trị để cải tiến các tồn tại của hệ thống để không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ hướng đến khách hàng nói chung và với Khối Thẩm định nói riêng Khối Thẩm định có cơ sở nắm bắt được các vướng mắc phát sinh trong quá trình tác nghiệp với các đơn vị liên quan, đặc biệt là đơn vị kinh doanh để có những cải tiến nhất định trong Khối cả về chuyên môn và thái độ, tác phong trong quá trình tác nghiệp… Mức độ hài lòng nội bộ đã được cải thiện trong năm 2013 so với năm
2012 khá nhiều
Bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn tồn tại một số hạn chế trong chất lượng thẩm định KHDN trong hoạt động cho vay tại MB, cụ thể:
Thứ nhất, nội dung báo cáo thẩm định về thông tin về ngành và dự báo ngành chưa đảm bảo chất lượng, chưa được chú trọng đánh giá, cơ sở thông tin không đảm bảo nên gây khó khăn trong việc đưa ra quyết định cấp tín dụng, thậm chí có thể dẫn đến quyết định sai lầm; nội dung đánh giá tình hình tài chính của KHDN cũng là một nội dung rất quan trọng, song thực tế mới chỉ được đánh giá rất cơ bản dựa trên các tỷ số, nhận xét sự biến động tăng giảm của các con số, chưa đánh giá được bản chất, ý nghĩa của các con số
Trang 4tài chính, chưa chú trọng phân tích dòng tiền của khách hàng và việc dự báo tài chính còn rất hạn chế
Thứ hai, chất lượng BCTĐ chưa đồng đều, còn tồn tại các BCTĐ chưa đạt yêu cầu, trong quá trình hoàn thiện BCTĐ phải sửa đổi, bổ sung nhiều đánh giá để đáp ứng được yêu cầu của cấp phê duyệt
Thứ ba, mức độ hài lòng của khách hàng nội bộ là cấp phê duyệt đối với Khối Thẩm định mặc dù có cải thiện qua các năm song vẫn còn tồn tại tỷ lệ hồ sơ bị cấp phê duyệt trả về do chất lượng BCTĐ không đảm bảo nội dung thông tin, phải bổ sung thông tin, làm rõ thông tin… Tỷ lệ hồ sơ trình phê duyệt có ý kiến của cấp phê duyệt trái ngược với ý kiến của đơn vị thẩm định cũng có giảm đến năm 2014 là 6%, đánh giá tỷ lệ này vẫn còn cao và cần được cải thiện tiếp tục giảm trong thời gian tới
Thứ tư, mức độ hài lòng khách hàng nội bộ nói chung đã được cải thiện trong năm
2013 so với năm 2012 nhưng năm 2014 có giảm, và tổng thể tỷ lệ hài lòng nội bộ của khách hàng nội bộ đối với đơn vị thẩm định các năm vẫn thấp hơn so với tỷ lệ hài lòng nội bộ bình quân của cả Hội sở, cần tiếp tục có các biện pháp để cải thiện mức độ hài lòng nội bộ đối với Khối Thẩm định trong thời gian tới, tối thiểu phải đạt được mức bình quân của Hội sở
Từ cơ sở lý luận và kết quả nghiên cứu thực trạng chất lượng thẩm định KHDN trong hoạt động cho vay tại MB, tác giả xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tại đơn vị như sau:
Thứ nhất, để nâng cao chất lượng nội dung của BCTĐ, tác giả đưa ra các kiến nghị sau: (1) Đề xuất Khối Thẩm định và MB trích kinh phí để hợp tác, đầu tư mua các báo cáo chuyên ngành chính thống từ các Hiệp hội ngành, các công ty, cơ quan nghiên cứu phân tích thị trường để làm nguồn dữ liệu chính thống phục vụ cho hoạt động của ngân hàng nói chung, của công tác thẩm định nói riêng; (2)
Thứ hai, nâng cao trình độ chuyên môn của CVTĐ, xây dựng chế độ đãi ngộ thu hút CVTĐ để tăng sự gắn bó với đơn vị Cụ thể: (1) tăng cường cho CVTĐ đi thực tế khách hàng, tăng cường kiểm soát sau thẩm định để đánh giá, rút kinh nghiệm với các phương án đã thẩm định làm kinh nghiệm cho các phương án phát sinh sau đó; (2) tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh bảng điểm thẩm định hồ sơ hợp lý; (3) thiết kế các chương trình đào tạo trên cơ sở khảo sát nhu cầu thực tế của CVTĐ, nên đầu tư cho CVTĐ được tham gia các khóa đào tạo của các chuyên gia, hiệp hội kinh tế bên ngoài, có chương trình kiểm tra sau mỗi lần đào tạo để đánh giá mức độ nắm bắt của CVTĐ đối với nội
Trang 5dung khóa đào tạo; (4) xây dựng các sổ tay, cẩm nang hướng dẫn thẩm định theo ngành nghề cụ thể được MB ưu tiên phát triển từng thời kỳ Điểm mới trong giải pháp tác giả đưa ra là (5) tổ chức các cuộc thi khảo sát công khai minh bạch, định kỳ hàng năm để tăng trình độ, tăng lương cho CVTĐ, tạo động lực cho CVTĐ phấn đấu trong công việc; (6) đưa ra các cơ hội vị trí thăng tiến trong khối thẩm định công khai, khuyến khích CVTĐ tham gia thi để đảm bảo công bằng trong toàn Khối
Thứ ba, cải tiến công tác tổ chức thẩm định Điểm mới trong giải pháp mà tác giả đưa ra là (1) phân luồng thẩm định theo từng trình độ CVTĐ theo sản phẩm và mức phán quyết, qua đó sẽ phân luồng các CVTĐ trình độ thấp thực hiện các phương án thẩm định đơn giản, CVTĐ trình độ cao hơn sẽ thực hiện các phương án thẩm định có tính chất phức tạp hơn để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực tối đa với chi phí hợp lý nhất; (2) triển khai quản lý danh mục khách hàng thẩm định theo nhóm CVTĐ
Thứ tư, về cải thiện mức độ hài lòng nội bộ, điểm mới trong giải pháp tác giả đưa
ra là chú trọng vào việc định lượng hóa khả năng phục vụ nhu cầu của đơn vị thẩm định đối với nhu cầu của đơn vị kinh doanh Cụ thể, tác giả đề xuất xây dựng thời gian thẩm định quy định đối với từng loại sản phẩm và mức phán quyết, để làm cơ sở đánh giá đơn
vị thẩm định hoàn thành công việc thẩm định nhanh hay chậm…
Thứ năm, tăng cường đầu tư hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ công tác thẩm định Điểm mới trong giải pháp tác giả đưa ra là đề xuất thực hiện lưu trữ hồ sơ file mềm scan, quản lý trên một hệ thống máy chủ, có phân cấp truy cập đối với những đối tượng
có liên quan, chủ yếu phục vụ mục đích khai thác dữ liệu, kế thừa thông tin để phục vụ công tác thẩm định của Khối Thẩm định
Tóm lại, luận văn đã hệ thống những lý luận cơ bản về chất lượng thẩm định KHDN trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại, đánh giá thực trạng chất lượng thẩm định KHDN trong hoạt động cho vay tại MB Từ đó phân tích, đánh giá rút ra những kết quả đạt được, những hạ chế và nguyên nhân của hạn chế để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tại đơn vị
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu có thuận lợi là đơn vị khảo sát là nơi tác giả công tác, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn gặp những khó khăn về thời gian nghiên cứu, về kinh nghiệm thực tế do đó không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những đánh giá, góp ý từ thầy cô giáo cùng các độc giả