1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ ÁN TRỜNG MỘT TỶ CÂY XANH GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC, GIAI ĐOẠN 2021 - 2025

32 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 600 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÊN THẾ GIỚI Trước thực trạng biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoáirừng tự nhiên, nhu cầu về gỗ, lâm sản và dịch vụ sinh thái rừng ngày càng tăngcao, ngoài các chươ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

3 Về kỹ thuật 20

Trang 4

MỞ ĐẦU

Cây xanh được xem như lá phổi của trái đất Ngoài tác dụng cung cấpnguồn oxy dồi dào cho bầu khí quyển để duy trì sự sống của mọi sinh vật trênhành tinh, cây xanh còn có tác dụng cải thiện khí hậu, điều hòa các luồng khôngkhí; ngăn chặn và lọc bức xạ mặt trời, giảm hiệu ứng nhà kính, phân tán nguồnnhiệt, hạn chế tiếng ồn, cản gió, bụi, nhất là ở khu vực đô thị Ngoài ra, cây xanhcòn ngăn chặn quá trình bốc hơi nước, giữ độ ẩm đất và không khí, điều hoàmực nước ngầm, chống xói mòn, rửa trôi đất, qua đó góp phần giảm thiểu lũ lụtgây thiệt hại rất lớn về người và của Bên cạnh đó, cây xanh còn có vai trò quantrọng trong kiến trúc cảnh quan, là nguồn dược liệu quý giá dùng để chữa bệnh,tăng cường sức khỏe, cung cấp thực phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp cho con người

và các loài động vật Có thể nói cây xanh có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộcsống của chúng ta Sự sống trên trái đất không thể duy trì mà không có cây xanh

Từ năm 1990 đến nay, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chương trình trồngrừng, phục hồi rừng và trồng cây phân tán (chương trình 327/CT; Dự án trồngmới 5 triệu ha rừng,…), nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nâng cao độ chephủ rừng Giai đoạn 2016 - 2020, thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển Lâmnghiệp bền vững theo Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướngChính phủ, cả nước đã trồng được 1.134.000 ha rừng và 330 triệu cây phân tán(bình quân mỗi năm trồng 227 nghìn ha rừng và 66 triệu cây xanh phân tán); đưadiện tích có rừng đạt 14,6 triệu ha (gồm 10,3 triệu ha rừng tự nhiên và 4,3 triệu harừng trồng); nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 40,84% năm 2015 lên 42% năm 2020, đạtchỉ tiêu đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII; qua đó đã tích cực gópphần phòng hộ, bảo vệ môi trường, tạo nguồn nguyên liệu từ gỗ rừng trồng trongnước cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu lâm sản, phát triển kinh tế đất nước.Tuy nhiên, chất lượng rừng tự nhiên hiện tại vẫn còn thấp; nhiều khu vực rừngphòng hộ vẫn chưa phát huy đầy đủ chức năng; chưa có nhiều cây bản địa đa tácdụng được đưa vào trồng rừng và cây phân tán; mật độ cây xanh ở các đô thị, khudân cư tập trung, khu công nghiệp vẫn còn thấp so với nhiều nước trên thế giới

Mặt khác, cùng với sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong một thời gian dài,

là quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam,các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp, đô thị tập trung, được xây dựng ngàycàng nhiều, cùng với đó là sự bùng nổ dân số ở các khu đô thị Dưới tác độngcủa con người, các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiên nhiên đang dần bị mất đi, phátsinh nhiều nguồn ô nhiễm (đất, nguồn nước, rác thải, khói bụi, tiếng ồn…); áplực của đời sống hiện đại gây ra cho con người những bất lợi về sức khỏe và tinhthần Trong những năm qua, biến đổi khí hậu, thiên tai đã và đang diễn ngàycàng phức tạp, với những yếu tố thời tiết hết sức cực đoan, bất thường đã ảnhhưởng rộng khắp đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, môi trường và cáchệ sinh thái, đe dọa đến phát triển bền vững đất nước Hơn lúc nào hết, việc đẩymạnh công tác phát triển rừng phòng hộ và trồng thêm nhiều cây xanh là giải

Trang 5

pháp hữu hiệu, là hành động vô cùng quan trọng và cần thiết để đảm bảo pháttriển bền vững kinh tế, xã hội, môi trường của đất nước.

Thực hiện sáng kiến “trồng một tỷ cây xanh trong 5 năm tới” của Thủ

tướng Chính phủ phát động tại Kỳ họp lần thứ 10, Quốc hội khóa XIV và Nghịquyết số 178/NQ-CP ngày 12/12/2020 của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn xây dựng “Đề án trồng một tỷ cây xanh góp phần phát triển

bền vững đất nước, giai đoạn 2021 - 2025”

Phần 1

TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY XANH

I TRÊN THẾ GIỚI

Trước thực trạng biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoáirừng tự nhiên, nhu cầu về gỗ, lâm sản và dịch vụ sinh thái rừng ngày càng tăngcao, ngoài các chương trình bảo vệ và phục hồi rừng, nhiều nước trên thế giới đãchú trọng đến phát triển lâm nghiệp đô thị, trồng cây xanh ven đường và khuvực nông thôn

Khái niệm lâm nghiệp đô thị lần đầu tiên được thảo luận trên thế giới vàonăm 1894 tại Mỹ và hiện thực hóa vào những năm 1960 khi hội đồng khoa học

Mỹ chính thức công nhận đây là một ngành nghiên cứu khoa học liên ngành Tạicác bang ở Mỹ, lâm nghiệp đô thị trở thành một ngành chủ lực tạo ra nguồn thucho ngân sách bang từ các khóa học đào tạo cho công chúng và những ngườiquan tâm biết cách trồng cây lâm nghiệp phù hợp trong việc tạo cảnh quan lâmnghiệp tại các khu chung cư, đô thị; cấp chứng chỉ hành nghề cho các tổ chức và

cá nhân để hoạt động trong lĩnh vực cảnh quan môi trường đô thị Lâm nghiệp

đô thị sau này trở thành một khái niệm và ngành nghề ngày càng phát triển tại

Mỹ, mở rộng sang Châu Âu và gần đây là các nước trong khu vực Châu Á TháiBình Dương

Tại Trung Quốc, lâm nghiệp đô thị trở thành yêu cầu buộc phải làm đốivới cảnh quan đô thị (FAO 2019) Chương trình thành phố rừng và lâm nghiệpquốc gia đã được phát động vào năm 2004, giúp gia tăng tỷ lệ che phủ cây rừngtrong thành phố tăng từ 10% năm 1981 lên đến trên 40% Tính tới cuối năm

2018, 138 thành phố tại Trung Quốc đã được chứng nhận là thành phố rừngquốc gia và Trung Quốc đặt mục tiêu sẽ có tới 300 thành phố rừng vào năm

2025 (FAO 2019) Để đạt được chứng nhận là thành phố rừng/thành phố lâmnghiệp, một thành phố sẽ phải trải qua các quá trình đánh giá, chứng minh vàthẩm định dựa trên 38 tiêu chuẩn và tiêu chí trong các lĩnh vực: tổ chức hànhchính và vận hành; hệ thống quản lý và phát triển rừng

Năm 2007, Hàn Quốc công bố chương trình Kế hoạch lâm nghiệp đô thịvới tầm nhìn “Thành phố trong rừng và rừng trong thành phố” với mục tiêu cảithiện chất lượng sống tại đô thị bằng việc thiết lập một mạng lưới lâm nghiệp đô

Trang 6

thị bao gồm cây trên phố, các trường lâm nghiệp, các công viên lâm nghiệp vàcảnh quan lâm nghiệp để tăng chỉ số xanh của cây lên từ 9.91m2/người năm

2015 lên đến 15 m2/người (FAO 2019) Malaysia cũng đang ra mục tiêu sẽ trởthành quốc gia vườn xanh vào năm 2020 Nghiên cứu về xu thế phát triển lâmnghiệp của khu vực Châu Á Thái Bình Dương của FAO (2019) chỉ rõ việc ápdụng và mở rộng cảnh quan lâm nghiệp và lâm nghiệp đô thị đã giúp ngành bấtđộng sản của Hồng Kông và Quảng Châu, Trung Quốc có giá trị nhảy vọt1

Hiện nay, chỉ số tỷ lệ cây xanh/người của các thành phố hiện đại trên thếgiới từ 20 đến 25 m2/người (Singapore 30,3 m2/người, Seoul 41 m2/người, Berlin(Đức) 50m2/người, Moscow (Nga) 44m2/người, Paris (Pháp) 25m2/người…)

Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển Bền vững của Liên hợp quốcthông qua tại kỳ họp lần thứ 70 diễn ra từ ngày 25-27/9/2015

tại New York đã cam kết “cung cấp khả năng tiếp cận các không gian xanh

nơi công cộng, đặc biệt đối với phụ nữ, trẻ em, người già và người khuyết tật”.Mục tiêu của Chương trình Toàn cầu về cây xanh trong thành phố đã được công

bố năm 2018 như một phần quan trọng để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ(FAO 2019)

Hình 01: So sánh tỷ lệ cây xanh/ người dân đô thị một số nước (m2)Việc trồng và quản lý cây xanh ven đường ngoài việc tạo cảnh quan vàhành lang an toàn giao thông, là một phần quan trọng trong việc làm cho môi

1 BC chuyên đề số 256 - “10 Xu thế lâm nghiệp trên thế giới Việt Nam cần xem xét trong quá trình xây dựng Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2020-2030” (CIFOR)

Trang 7

trường trở nên sạch và xanh hơn, thông qua những lợi ích mà cây xanh đem lạinhư: kiểm soát xói mòn, đảm bảo lợi ích mỹ quan, tăng cường tuyến đường, tạorào cản giảm tiếng ồn, giảm sức gió và cung cấp môi trường sống cho động vật.Nhiều nước trên thế giới đã ban hành các quy định về tiêu chuẩn, quy cách trồng

và quản lý cây xanh ven đường giao thông Tại Singapore, yêu cầu về trồng câyven đường được quy định như sau: Các bờ cây trồng phải được cung cấp theocác mã đường tiêu chuẩn của cơ quan quản lý đường bộ, nếu không có mã thìchiều rộng của lề đường phải phù hợp với điều kiện hiện có, chiều dài của hàngcây tối thiểu phải là 6,0m, tán của các hàng cây phải bằng phẳng Không đượcphép thực hiện các dịch vụ ngầm trong các khoảnh trồng cây ven đường

Trồng cây phân tán ở nông thôn và khu canh tác nông nghiệp cũng đượcnhiều nước trên thế giới đưa vào các chương trình phát triển cây xanh (Úc, TâyBan Nha, Bolivia, Brazil, Madagascar, Thái Lan, ) Các chương trình đã huyđộng người dân nông thôn ở nhiều vùng tham gia vào việc bảo tồn, trồng câytrên đất nông nghiệp và các khu vực có rừng Mục tiêu chính của các hoạt độngnày là quản lý cây xanh để bảo vệ môi trường hoặc sản xuất gỗ công nghiệp.Ngoài ra, việc phát động trồng cây xanh trong các trường học cũng được chútrọng, hàng triệu cây xanh đã được trồng hàng năm trong các trường học ở Nga,Indonesia, Cyprus, Bahamas, Malawi, Ấn Độ và Ghana Điều này đã giúp giáodục cộng đồng địa phương, cải thiện chất lượng không khí, giảm lượng khí thảiCO2 và ô nhiễm tiếng ồn

II Ở VIỆT NAM

1 Một số thuật ngữ, định nghĩa về cây xanh

Hiện nay, thuật ngữ, định nghĩa về rừng đã được quy định cụ thể trong

Luật Lâm nghiệp năm 2017 Tuy nhiên, các thuật ngữ, định nghĩa, khái niệm về

cây xanh (bao gồm: cây phân tán, cây lâu năm, cây đa mục tiêu, cây gỗ lớn,…)

được quy định, thể hiện ở nhiều Văn bản khác nhau

1.1 Cây phân tán

Theo Quyết định số 2241/QĐ-BNN-TCLN ngày 3/6/2006 của Bộ Nôngnghiệp và PTNT phê duyệt Đề án phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán giaiđoạn 2006-2020: đối tượng đất trồng cây lâm nghiệp phân tán là đất khôngthuộc đất quy hoạch cho lâm nghiệp để trồng rừng tập trung, bao gồm: bờ kênh,mương, bờ vùng, bờ thửa, ven đê, đất trồng xen cây công nghiệp, đường giaothông nông thôn, khu dân cư, khu công nghiệp, công sở, đồi gò, đất trống, vườn

hộ gia đình, vườn rừng có diện tích dưới 0,5 ha

Theo quy định mới của Luật Lâm nghiệp, đối tượng đất trồng cây lâmnghiệp phân tán nêu trên sẽ là các diện tích dưới 0,3 ha

Theo Thông tư số 12/2019/TT-BNNPTNT ngày 25/10/2019 của Bộ Nôngnghiệp và PTNT quy định về thống kê ngành lâm nghiệp: cây lâm nghiệp trồng

phân tán là tổng số cây lâm nghiệp được trồng trên diện tích đất vườn, đất ven

Trang 8

đường, ven kênh mương, bờ vùng bờ đồng, các mảnh đất nhỏ phân tán khác

nhằm cung cấp cho nhu cầu tại chỗ về gỗ, củi của hộ gia đình, cá nhân và cộngđồng dân cư; đồng thời góp phần phòng hộ môi trường trong khoảng thời gian

nhất định hiện còn sống đến thời điểm điều tra Số cây lâm nghiệp trồng phân

tán không bao gồm những cây trồng nhằm mục đích tạo cảnh quan, trang trínhư: cây trồng trong công viên, khu vực đô thị hoặc khu đô thị mới

1.2 Cây lâu năm

Theo Từ điển Thuật ngữ Lâm nghiệp (NXB Nông nghiệp năm 1996), câylâu năm là những cây có chu trình đời sống bắt đầu và kết thúc được kéo dài từ 2

đến 3 năm Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia): Thực vật lâu năm hay cây

Thông tư số 01/2019/TT-BKHĐT ngày 04/01/2019 của Bộ Kế hoạch và

Đầu tư quy định Chế độ báo cáo thống kê; trong đó, cây lâu năm bao gồm: Cây

ăn quả; Cây lấy quả chứa dầu, Điều, Hồ tiêu, Cao su, cà phê, Chè, Cây gia vị, cây dược liệu lâu năm, cây cảnh lâu năm và cây lâu năm khác

Thông tư liên tịch số 22/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 30/6/2016giữa Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quyđịnh loại cây lâu năm được chứng nhận quyền sở hữu, các loại cây trồng một lần,

sinh trưởng và cho thu hoạch trong nhiều năm gồm: cây công nghiệp lâu năm;

cây ăn quả lâu năm; cây dược liệu lâu năm và cây lấy gỗ, cây bóng mát, cây cảnh quan lâu năm.

1.3 Cây đa mục đích (đa mục tiêu)

Theo Từ điển Thuật ngữ Lâm nghiệp: cây đa mục đích (cây đa tác dụng) làcây cung cấp được (thỏa mãn được) từ hai yêu cầu trở lên cho con người Ví dụ:cây vừa cho gỗ, vừa cho quả ăn được

1.4 Cây gỗ lớn

Theo Từ điển Thuật ngữ Lâm nghiệp: cây gỗ lớn là những cây gỗ có thânchính rõ ràng, dài, phân cành xa mặt đất, cao từ 6-7m trở lên Cây cao là thànhphần chính của rừng và là đối tượng kinh doanh chủ yếu của ngành Lâm nghiệp

Theo Thông tư số 29/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nôngnghiệp và PTNT ban hành quy định về các biện pháp lâm sinh: “Rừng trồng gỗlớn là rừng có tối thiểu 70% số cây đứng trên một đơn vị diện tích có đường kínhtại vị trí 1,3 m từ 20 cm trở lên đối với cây sinh trưởng nhanh hoặc từ 30 cm trởlên đối với cây sinh trưởng chậm ở tuổi khai thác chính”

2 Các quy định về quy hoạch và phát triển cây xanh

2.1 Đối với khu vực đô thị, khu công nghiệp:

a) Theo Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03/4/2008 của Bộ Xâydựng ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng:

- Hệ thống cây xanh đô thị có 3 nhóm chính:

Trang 9

+ Cây xanh sử dụng công cộng (quảng trường, công viên, vườn hoa, vườndạo , bao gồm cả diện tích mặt nước nằm trong các khuôn viên các công trìnhnày và diện tích cây xanh cảnh quan ven sông được quy hoạch xây dựng thuậnlợi cho người dân đô thị tiếp cận và sử dụng cho các mục đích luyện tập TDTT,nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn )

+ Cây xanh đường phố (cây xanh, thảm cỏ trồng trong phạm vi chỉ giớiđường đỏ) Tất cả các tuyến đường cấp phân khu vực trở lên đều phải trồng câyxanh đường phố

+ Cây xanh chuyên dụng (cách ly, phòng hộ, nghiên cứu thực vật học,vườn ươm )

- Quy định về diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị:

- Đất cây xanh sử dụng công cộng ở trong các đô thị bao gồm: công viên,vườn hoa phục vụ một hay nhiều đơn vị ở, toàn đô thị hoặc cấp vùng (bao gồm

cả các công viên chuyên đề); diện tích mặt nước nằm trong khuôn viên các côngviên, vườn hoa, trong đó chỉ tiêu mặt nước khi quy đổi ra chỉ tiêu đất câyxanh/người không chiếm quá 50% so với tổng chỉ tiêu diện tích đất cây xanh sửdụng công cộng ngoài đơn vị ở; không bao gồm các loại cây xanh chuyên dụng

- Đối với đô thị miền núi, hải đảo chỉ tiêu diện tích đất cây xanh côngcộng có thể thấp hơn nhưng không được thấp hơn 70% mức quy định trong bảngdưới đây:

Bảng 01: Diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng ngoài đơn vị ở trong các đô

- Tỷ lệ các loại đất trong khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kho tàng,đất trồng cây xanh ≥10 %

b) Theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 9257:2012 về Quy hoạch cây xanh

đô thị:

Trang 10

- Cây xanh sử dụng công cộng đô thị: các loại cây xanh được trồng trênđường phố; cây xanh trong công viên, vườn hoa; cây xanh và thảm cỏ tại quảngtrường và các khu vực công cộng khác trong đô thị Trong đó:

+ Cây xanh công viên: khu cây xanh được trồng tập trung trong một diệntích đất lớn phục vụ cho mục tiêu sinh hoạt ngoài trời cho người dân đô thị vuichơi giải trí, triển khai các hoạt động văn hóa quần chúng, tiếp xúc với thiênnhiên, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần…

+ Cây xanh vườn hoa: chủ yếu để người đi bộ đến dạo chơi và nghỉ ngơitrong một thời gian ngắn., có diện tích vườn hoa không lớn Nội dung chủ yếugồm hoa, lá, cỏ, cây và các công trình xây dựng tương đối đơn giản

- Đất cây xanh sử dụng công cộng (đơn vị tính là m2/người)

Bảng 02: Tổng hợp tiêu chuẩn diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng

Loại đô thị

Tiêu chuẩn đất cây xanh sử dụng công cộng

m 2 /người

Tiêu chuẩn đất cây xanh công viên

m 2 /người

Tiêu chuẩn đất cây xanh vườn hoa

m 2 /người

Tiêu chuẩn đất cây xanh đường phố

m 2 /người

c) Tỷ lệ cây xanh đô thị hiện nay ở Việt Nam

Hiện nay tỷ lệ cây xanh trên mỗi người dân tại các đô thị lớn của ViệtNam ở mức từ 2 đến 3 m2/người, trong khi chỉ tiêu xanh tối thiểu của Liên hợpquốc là 10 m2; chỉ tiêu cây xanh của các thành phố hiện đại trên thế giới từ 20đến 25 m2/người; nghĩa là cây xanh đô thị của Việt Nam chỉ bằng 1/5 đến 1/10của thế giới Theo quy hoạch đến năm 2030, tỷ lệ cây xanh của Thủ đô Hà Nộimới được nâng lên thành 10-12m2/người

Tại Việt Nam, khu đô thị sinh thái Ecopark là một ví dụ điển hình củaviệc kết hợp cảnh quan sinh thái để hấp dẫn người mua và đã chứng tỏ được vịthế của mình Với tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh tại Việt Nam, bắt kịp xuthế thời đại về lâm nghiệp đô thị, tạo ra các ngành nghề mới phù hợp với yêucầu thị trường và thực tế phát triển đô thị tạo đi hướng đi mới cho ngành lâmnghiệp

Theo Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030,tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu về môi trường - Trồng cây xanh phân tán:trồng 01 tỷ cây xanh trong giai đoạn 2021 - 2025; 0,5 tỷ cây xanh giai đoạn2026-2030; đến năm 2025 diện tích cây xanh đô thị bình quân 5 m2/người vàđến năm 2030 là 10m2/người;

Trang 11

2.2 Đối với khu vực nông thôn

Theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chínhphủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.Trong đó, một trong những tiêu chí về Môi trường và an toàn thực phẩm (17.3.)

đó là “Xây dựng cảnh quan, môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn”.

Phần 2.

KẾT QUẢ TRỒNG RỪNG VÀ CÂY PHÂN TÁN

GIAI ĐOẠN 2016-2020

I KẾT QUẢ TRỒNG RỪNG

Trong giai đoạn 2016 - 2020, công tác trồng rừng được các địa phươngtrong cả nước tích cực triển khai, kết quả:

- Trồng rừng tập trung được 1.134 nghìn ha, bình quân 227 nghìn ha/năm, gồm: + Trồng rừng sản xuất: 1.064,7 nghìn ha, bình quân 213 nghìn ha/năm,trong đó: trồng rừng mới khoảng 276 nghìn ha; trồng rừng thâm canh gỗ lớn243,4 nghìn ha

+ Trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: 69,2 nghìn ha, bình quân 14 nghìnha/năm

- Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc tăng từ 40,84% năm 2015 lên 42% nămnăm 2020

Đến nay, diện tích có rừng cả nước là 14,6 triệu ha, trong đó: rừng tựnhiên 10,3 triệu ha, rừng trồng 4,3 triệu ha Chia theo mục đích sử dụng: rừngđặc dụng: 2,2 triệu ha; rừng phòng hộ: 4,6 triệu ha; rừng sản xuất: 7,8 triệu ha

Năng suất rừng trồng cả nước đạt bình quân khoảng 18 m3/ha/năm, tăng1,8 lần so với năm 2009 (khoảng 10m3/ha/năm); đối với diện tích rừng trồng,rừng thâm canh các giống tiến bộ kỹ thuật, giống quốc gia (trong những nămgần đây) đạt bình quân 20-25 m3/ha/năm

II KẾT QUẢ TRỒNG CÂY PHÂN TÁN

Thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạocủa Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực cố gắng của các cấp uỷ đảng, chính quyền vànhân dân các địa phương đã duy trì, phát triển, tham gia tích cực phong trào

“Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và trồng cây phân tán

Hàng năm vào dịp Tết Nguyên Đán, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn ban hành hoặc tham mưu ban hành Chỉ thị phát động “Tết trồng cây đời

đời nhớ ơn bác Hồ” gửi các địa phương trong toàn quốc; đồng thời phối hợp với

Ủy ban nhân dân một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương chuẩn bị để

mời Chủ tịch nước về dự, phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”,

Trang 12

khởi đầu cho một mùa xuân, mùa trồng rừng, một năm lao động sản xuất thắng

lợi Kể từ năm 2001 đến 2020, Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác

Hồ” của Chủ tịch nước đã được tổ chức ở 15 tỉnh, thành phố là: Phú Thọ, Hà Nội,

Nam Định, Hòa Bình, Hải Dương, Thái Nguyên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình,Bắc Giang, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Yên Bái Trong đóThành phố Hà Nội và tỉnh Phú Thọ được tổ chức 3 lần, tỉnh Hòa Bình được tổ chức

2 lần

Hưởng ứng “Tết trồng cây” do Chủ tịch nước phát động đầu xuân, hầu hết

các địa phương trên toàn quốc đều có văn bản chỉ đạo, xây dựng kế hoạch triểnkhai thực hiện Tết trồng cây đầu xuân và trồng cây phân tán hàng năm Trong

đó, các tỉnh phía Bắc tiến hành vào dịp đầu xuân năm mới (âm lịch), các tỉnh phíaNam tiến hành vào dịp kỷ niệm sinh nhật Bác (ngày 19 tháng 5) hoặc ngày môitrường Thế giới (ngày 6 tháng 5), phù hợp với mùa vụ trồng cây, trồng rừng củatừng địa phương ở từng thời điểm, địa điểm cụ thể

Kết quả theo dõi tổng hợp số liệu trồng cây lâm nghiệp phân tán của Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong giai đoạn từ năm 2016-2020, cả nướcđã trồng được 330 triệu cây xanh phân tán, bình quân 66 triệu cây/năm

Hiện nay, chưa có thống kê đầy đủ về hiện trạng cây xanh phân tán toànquốc (bao gồm cây xanh trồng trong đô thị và cây xanh phân tán nông thôn).Theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 9257:2012 về quy hoạch cây xanh đô thị, diệntích cây xanh đối với đô thị loại đặc biệt là 12-15m2/người; đô thị loại I và II là10-12m2/người; đô thị loại III và IV là là 9-11m2/người; đô thị loại V là 8-10m2/người Tuy nhiên, theo Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia của Bộ Tàinguyên và Môi trường năm 2016 (Chuyên đề môi trường đô thị), hiện nay, hệthống cây xanh, công viên đô thị còn chưa được quan tâm đầu tư thích đáng; tỷlệ đất cây xanh, công viên đạt rất thấp so với tiêu chuẩn quy định; diện tích, mặtnước (sông, hồ) bị giảm xuống đáng kể Cây xanh ở đô thị nước ta chưa đạt tiêuchuẩn về độ che phủ cũng như cân bằng hệ sinh thái Hệ thống cây xanh mớihình thành và tập trung tại các đô thị lớn và trung bình, còn tại các đô thị nhỏ,cây xanh chiếm diện tích không đáng kể So với các tiêu chuẩn và quy chuẩn thì

tỷ lệ diện tích đất dành cho cây xanh còn rất thấp Tại hai thành phố lớn là HàNội và Thành phố Hồ Chí Minh, con số này chỉ đạt khoảng 2-3m2/người, khôngđạt quy chuẩn và chỉ bằng 1/5-1/10 chỉ tiêu cây xanh của các thành phố tiên tiếntrên thế giới

III TỒN TẠI, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1 Một số tồn tại, hạn chế

a) Đối với trồng rừng

- Mặc dù, diện tích rừng và tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc liêntục tăng từ 40,84% năm 2015 lên 42% năm năm 2020, song trong vòng 15năm qua, rừng phòng hộ cả nước đã mất 0,6 triệu hecta; riêng

Trang 13

giai đoạn 2006 - 2015 diện tích rừng phòng hộ giảm từ 5,2 triệuhecta xuống còn 4,4 triệu hecta và giai đoạn 2015 đến nay diệntích rừng phòng hộ tương đối ổn định ở mức 4,6 triệu hecta, cầntiếp tục được trồng bổ sung, phục hồi nâng cao chức năng phòng

hộ môi trường

- Diện tích rừng tuy có tăng, nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh họccủa một số trạng thái rừng tự nhiên còn bị giảm hoặc tăng chậm Chất lượngrừng tự nhiên thấp Theo kết quả điều tra, kiểm kê rừng năm 2016 cho thấy chỉ

có 8,75% diện tích rừng tự nhiên là rừng giàu, còn lại là rừng trung bình24,79%, rừng nghèo 53,45% và rừng nghèo kiệt phục hồi 13,01%

- Tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái phép còn xảy ra nghiêm trọng ởmột số địa phương, gây bức xúc trong dư luận xã hội

b) Đối với trồng cây phân tán

- Theo Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020,mục tiêu trồng cây phân tán trong giai đoạn này là 200 triệu cây/năm, tuy nhiên cảnước mới trồng được trung bình 55 triệu cây lâm nghiệp phân tán mỗi năm, chỉbằng khoảng 1/4 so với kế hoạch

- Hiện nay, tỷ lệ cây xanh trên mỗi người dân tại các đô thị của Việt Nam

ở mức rất thấp, chỉ từ 2 đến 3 m2/người, trong khi chỉ tiêu xanh tối thiểu củaLiên hợp quốc là 10 m2/người và chỉ tiêu của các thành phố hiện đại trên thế giớitừ 20 đến 25 m2/người, nghĩa là cây xanh đô thị của Việt Nam chỉ bằng 1/5 đến1/10 của thế giới

2 Nguyên nhân

a) Đối với trồng rừng phòng hộ

- Công tác trồng rừng phòng hộ gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, quỹ đấttrồng rừng ngày càng khó khăn, đòi hỏi chi phí cao, trong khi vốn đầu tư từ ngânsách còn hạn chế

- Điều kiện trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng phòng hộ phân bố trên phạm

vi rộng, tập trung nhiều ở các vùng có điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế - xãhội khó khăn, đất dành cho lâm nghiệp thường là đất xấu, địa hình chia cắt phứctạp, cơ sở hạ tầng thiếu thốn

- Mật độ dân số cao, sức ép vào rừng ngày càng tăng, điển hình như: vùngmiền núi thiếu đất sản xuất nông nghiệp và nơi có dân di cư tự do; hoặc do yêucầu phát triển kinh tế - xã hội, nhiều diện tích rừng phải chuyển đổi mục đích

- Tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ, thời tiết diễn biễn phức tạp,thiên tai xảy ra ngày càng khốc liệt và thường xuyên hơn, ảnh hưởng không nhỏtới tài nguyên rừng và hoạt động lâm nghiệp

b) Đối với trồng cây phân tán

Trang 14

- Một số nơi việc tổ chức phát động“Tết trồng cây” và trồng cây phân tán

còn mang tính phô trương, hình thức, lãng phí, chưa thiết thực, hiệu quả nên tácdụng tuyên truyền, nâng cao nhận thức chưa cao

- Nguồn lực cho phát triển cây xanh, nhất là cây xanh đô thị chủ yếu còndựa vào ngân sách Nhà nước; chưa có cơ chế, chính sách cụ thể để khuyến khíchmọi thành phần kinh tế và nhân dân tham gia xã hội hóa trồng cây xanh

- Thiếu quy hoạch cây xanh và khâu quản lý về cây xanh còn lỏng lẻo nêntình trạng chặt phá, khai thác tuỳ tiện cây xanh đô thị diễn ra khá phổ biến Việctrồng cây xanh ở những nơi công cộng vẫn còn mang tính tự phát, manh mún;việc lựa chọn, bố trí loại cây trồng chưa phù hợp ở từng công trình, từng địaphương…

- Nhiều nơi tổ chức phát động “Tết trồng cây” và trồng cây phân tán trên

đất công cộng chưa có chủ quản lý cụ thể nên cây trồng sau phát động chưađược quan tâm chăm sóc, bảo vệ, nghiệm thu, đánh giá hiệu quả và thống kê,báo cáo hàng năm

3 Bài học kinh nghiệm

a) Trong phát triển rừng

- Việc triển khai thực hiện Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vữnggiai đoạn 2016-2020 đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Chính phủ Quá trình tổchức thực hiện đã được sự quan tâm chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền từTrung ương đến địa phương Các chính sách được ban hành kịp thời, đầy đủ

- Chương trình phát triển lâm nghiệp phù hợp với xu thế toàn cầu về ứngphó với biến đổi khí hậu thông qua giảm phát thải do suy thoái và mất rừng; dovậy, đã huy động được nhiều nguồn lực của xã hội và cộng đồng quốc tế tham gia

- Việc nghiên cứu, áp dụng các kỹ thuật, công nghệ tiến bộ, nhất là vềgiống, kỹ thuật, lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện cụ thể từngvùng, từng loại rừng đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả Chương trình.Tăng cường quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp, lựa chọn loài câytrồng phù hợp, chuẩn bị cây giống chất lượng tốt và tăng tỷ lệ sử dụng giống mô,hom; tranh thủ thời vụ và thời tiết thuận lợi để trồng đảm bảo đạt tỷ lệ cây sốngcao; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng gỗ lớn, nâng cao năng suất, chấtlượng và giá trị rừng trồng; thực hiện chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng, phân côngtrách nhiệm quản lý cụ thể để cây trồng, rừng trồng phát triển tốt

- Quá trình thực hiện phát triển rừng song hành với việc triển khai tái cơcấu ngành và các cơ chế, chính sách của ngành, tạo điều kiện cho phát triển lâmnghiệp theo chuỗi giá trị

b) Trong trồng cây phân tán

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên các cấp,

các ngành và nhân dân tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng, nâng cao nhận

Trang 15

thức của mọi tầng lớp nhân dân về vai trò, tác dụng, giá trị của rừng, ý nghĩa củaviệc trồng cây, trồng rừng, công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái,góp phần giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Hai là, để phát triển cây xanh đô thị và nông thôn, ngoài nguồn vốn ngân

sách, cần huy động nguồn lực trong nhân dân và các thành phần kinh tế kháctrong và ngoài nước

Ba là, việc tổ chức phát động“Tết trồng cây” và trồng cây phân tán phải

thiết thực, hiệu quả, không phô trương hình thức; tạo điều kiện để các cơ quan, tổchức, đoàn thể, trường học, lực lượng vũ trang và mọi tầng lớp nhân dân tích cựctham gia trồng cây, trồng rừng phù hợp với mùa vụ trồng cây, trồng rừng của từngđịa phương ở từng thời điểm, địa điểm cụ thể

Bốn là, sau khi thực hiện các phong trào trồng cây, các địa phương cần tổ

chức kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm, biểu dương khen thưởng kịp thờinhững tổ chức, cá nhân điển hình làm tốt; phát huy nhiệt tình và nhận thức củacộng đồng, những người tự nguyện tham gia phong trào Quản lý cây xanh cầnphân công rõ chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước, trong

đó chính quyền các cấp có trách nhiệm và vai trò quan trọng trong việc quản lý,bảo vệ, phát triển cây xanh trên địa bàn Khuyến khích các hộ gia đình tự trồngcây xanh, chăm sóc, bảo vệ cây xanh góp phần xanh hóa môi trường sống

nguyên tắc “xã hội hóa hoạt động lâm nghiệp” (Khoản 2 Điều ).

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; trong đó, yêu cầu bảo vệ môi trường

đô thị, khu dân cư theo nguyên tắc phát triển bền vững gắn với việc duy trì các

yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử và bảo đảm tỷ lệ không gian xanh theo quy

hoạch (khoản 1, Điều 80);

- Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khoá XI về chủđộng ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường;

- Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì

sự phát triển bền vững Trong đó, tại mục tiêu 11.7: Đến năm 2030, đảm bảo

tiếp cận phổ cập với không gian công cộng xanh, an toàn và thân thiện cho toàn

dân, đặc biệt đối với phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật (mục

Trang 16

tiêu 11.7 toàn cầu); thúc đẩy việc xây dựng đô thị xanh, đô thị sinh thái, công

trình xanh Khuyến khích đầu tư, tăng cường huy động các nguồn lực trong xã hội để phát triển các không gian xanh trong các dự án đô thị, khu dân cư.

- Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầmnhìn đến 2050 Trong đó, phấn đấu đến năm 2025 số đô thị đạt tiêu chí cây xanh

là 60% và 90% năm 2030, diện tích cây xanh đô thị bình quân 5m2/người năm

2025 và 10m2/người năm 2030

- Sáng kiến “trồng 01 tỷ cây xanh trong 5 năm tới” của Thủ tướng Chính

phủ Nguyễn Xuân Phúc phát động tại Kỳ họp lần thứ 10, Quốc hội khóa XIV

- Nghị quyết số 178/NQ-CP của Chính phủ ngày 12/12/2020 về phiên họpChính phủ thường kỳ tháng 11 năm 2020 Trong đó, giao Bộ Nông nghiệp vàPTNT chỉ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng chương trình, đề

án cụ thể triển khai chủ trương trồng 01 tỷ cây xanh trong 5 năm tới

- Chỉ thị số xxxx/CT-TTg ngày /12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về

tổ chức phong trào “Tết trồng cây” và tăng cường công tác bảo vệ, phát triểnrừng xuân Tân Sửu năm 2021

2 Căn cứ thực tiễn

Ở Việt Nam, trong những năm qua, tác động của biến đổi khí hậu đã ảnhhưởng rộng khắp đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Nhiệt độ tăng, nướcbiển dâng, các hiện tượng khí hậu cực đoan như mưa to, bão lớn, lũ lụt, sạt lởđất, nắng hạn kéo dài,… tiếp tục gia tăng cả về cường độ và tần suất, ảnh hưởngđến các mặt trong đời sống của con người, môi trường và các hệ sinh thái, đedọa đến phát triển bền vững đất nước

Cây xanh có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và

sự sống của con người Cây xanh được xem như là lá phổi xanh của Trái đất,giúp điều hòa, làm sạch và cung cấp dưỡng khí cho sự sống của muôn loài Cácquần thể cây xanh và hệ sinh thái rừng tạo nên lớp phủ trên bề mặt trái đất ngoàicác giá trị về bảo tồn đa dạng sinh học, cảnh quan, còn có tác dụng bảo vệ môitrường như: chống xói mòn và sạt lở đất ở các vùng núi, đồi có độ dốc lớn, nơithường xuyên xảy ra thiên tai, lũ lụt… đã và đang gây ảnh hưởng vô cùng lớnđến quá trình canh tác nông nghiệp và cuộc sống của người dân Ngoài ra, câyxanh còn có tác dụng tạo nên các đai rừng phòng hộ có tác dụng che chắn bão vàgiảm thiểu sạt lở ven sông, ven biển

Trong thời gian vừa qua, nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng và cây xanhphân tán luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, mặc dù tỷ lệ che phủ rừng cótăng lên, nhưng chất lượng rừng tự nhiên vẫn chưa cao, rừng phòng hộ chưaphát huy đầy đủ chức năng, tỷ lệ cây xanh/người dân đô thị và nhiều khu vựcnông thôn vẫn còn thấp so với nhiều nước trên thế giới Trước sức ép của quátrình công nghiệp quá, mật độ dân số tăng cao, h ơn lúc nào hết, việc trồng vàbảo vệ rừng, phát triển cây xanh bảo vệ môi trường có ý nghĩa sống còn, được

Ngày đăng: 13/04/2021, 23:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w