1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH

207 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính
Tác giả Nguyễn Đồng Anh Xuân
Người hướng dẫn PGS., TS. Trần Thị Hà, TS. Đỗ Thị Thanh Vân
Trường học Học Viện Tài Chính
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong luận án “Quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ

Trang 1

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

NGUYỄN ĐỒNG ANH XUÂN

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN

THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

NGUYỄN ĐỒNG ANH XUÂN

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN

THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong luận án “Quản lý tài

chính tại các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính” là kết quả nghiên cứu độc lập

của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính chính xác của các tài liệu trích dẫn

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Đồng Anh Xuân

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC HÌNH ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH 14

1.1 Trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục đại học 14

1.1.1 Khái niệm trường đại học công lập 14

1.1.2 Đặc điểm của trường đại học công lập 17

1.1.3 Vai trò của trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục đại học 19

1.2 Quản lý tài chính tại các trường đại học công lập 20

1.2.1 Khái niệm quản lý tài chính tại các trường đại học công lập 20

1.2.2 Mục tiêu quản lý tài chính tại các trường đại học công lập 24

1.2.3 Nội dung quản lý tài chính tại các trường đại học công lập 26

1.2.4 Công cụ quản lý tài chính tại các trường đại học công lập 36

1.3 Cơ chế tự chủ tài chính và tác động của nó đến quản lý tài chính tại các trường đại học công lập 39

1.3.1 Cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập 39

1.3.2 Tác động của cơ chế tự chủ tài chính đến quản lý tài chính tại các trường đại học công lập 44

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính 46

1.4.1 Nhóm nhân tố khách quan 46

1.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan 47

1.5 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính 49

Trang 5

1.5.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 52

1.5.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 53

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH 57

2.1 Khái quát về các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương và quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính 57

2.1.1 Các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương 57

2.1.2 Quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương 68

2.2 Thực trạng quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính 72

2.2.1 Thực trạng quản lý nguồn thu, mức thu 72

2.2.2 Thực trạng quản lý sử dụng nguồn tài chính 85

2.2.3 Thực trạng quản lý tài sản 99

2.3 Đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ tài chính và quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương 103

2.3.1 Những kết quả đạt được 103

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 107

2.3.3 Nguyên nhân hạn chế, tồn tại 112

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH 124

3.1 Bối cảnh, mục tiêu, quan điểm phát triển giáo dục đại học và hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện tự chủ tài chính 124

3.1.1 Bối cảnh phát triển giáo dục đại học Việt Nam 124

Trang 6

lập trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện tự chủ tài chính 130

3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện tự chủ tài chính 133

3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý nguồn thu, mức thu 133

3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý sử dụng nguồn tài chính 140

3.2.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý kết quả tài chính trong năm và các quỹ cơ quan 143

3.2.4 Nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý tài sản 144

3.2.5 Nhóm giải pháp hoàn thiện công cụ quản lý tài chính 145

3.2.6 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản lý tài chính 149

3.3 Một số kiến nghị đối với Nhà nước 156

3.3.1 Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập 156

3.3.2 Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước đối với các trường đại học công lập 159

3.3.3 Hoàn thiện chính sách học phí, chính sách hỗ trợ tài chính cho sinh viên 160

3.3.4 Hoàn thiện chính sách xã hội hóa nguồn tài chính đầu tư phát triển giáo dục đại học 161

KẾT LUẬN 163

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 165

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 166

PHỤ LỤC 175

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 BCT Bộ Công Thương

2 CGCN Chuyển giao công nghệ

3 CLTC Chênh lệch thu chi

10 KSNB Kiểm soát nội bộ

11 KTX Không thường xuyên

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số

Trang 9

2.27 Tỷ trọng thu sự nghiệp trong tổng nguồn thu của các trường 104

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số

2.1 Danh sách các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương 57

2.2 Thống kê số lượng ngành đào tạo theo trình độ của các

trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương 63

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong suốt tiến trình lịch sử, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định vai trò then chốt của giáo dục đào tạo nói chung, GDĐH nói riêng đến sự phát triển KT-XH của đất nước Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (tháng 12 năm 1996), khẳng định: “Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (tháng 11 năm 2013) “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,

là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu

tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH”

Thực tiễn chứng minh tài chính là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng GDĐH, vì nguồn tài chính là cơ sở để các trường đại học đầu tư phát triển các nguồn lực khác như con người, cơ sở vật chất - Những yếu tố quyết định đến chất lượng GDĐH Tuy nhiên, trong điều kiện NSNN cấp cho các trường ĐHCL chi thường xuyên và đầu tư còn hạn hẹp, nguồn thu sự nghiệp đứng trước thách thức từ cạnh tranh trong GDĐH ngày càng lớn, đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại các trường ĐHCL ở Việt Nam Đối với các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương, tiền thân là các trường công nhân, trung cấp, nghề lâu đời ở Việt Nam được nâng cấp từ cao đẳng lên đại học trong giai đoạn 2004-2011 Vì vậy, nền tảng đào tạo đại học, sau đại học, NCKH và kinh nghiệm quản trị đại học nói chung, quản lý tài chính nói riêng của nhiều trường còn những hạn chế nhất định trong quá trình

Trang 12

phát triển Hơn nữa, thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017, Nghị định

số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định quyền tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học ngày 19/11/2018, Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học, càng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương nhằm tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính, đặc biệt nguồn tài chính ngoài NSNN

Từ các vấn đề nêu trên, đòi hỏi cần nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống để tìm kiếm những giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn phát triển KT-XH ở Việt Nam và phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ cấp thiết Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính” có ý nghĩa cả về lý luận, thực tiễn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Nghiên cứu về quản lý tài chính và cơ chế tự chủ tài chính trong GDĐH

là chủ đề có tính thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu Việc nghiên cứu tổng quan các công trình liên quan đến luận án giúp cho nghiên cứu sinh xác định được khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu

a) Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Quá trình nghiên cứu cho thấy, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý tài chính trong GDĐH và tự chủ đại học

Trang 13

- Nghiên cứu về quản lý tài chính trong GDĐH: Tác giả Malcolm

Prowolm & Eric Morgan (2005), “Quản lý và kiểm soát tài chính đối với GDĐH” [15] Cuốn sách của hai tác giả được coi là cẩm nang của những người quản lý tài chính trong các trường đại học ở Mỹ Nghiên cứu của Marianne, C và Lesley, A (2000), “Quản lý tài chính và các nguồn lực trong ngành giáo dục” [17] Đối tượng nghiên cứu được mở rộng không chỉ quản lý tài chính mà còn quản lý các nguồn lực khác trong giáo dục Tsang, M.C (1997), “Phân tích chi phí nhằm tạo lập và đánh giá chính sách giáo dục tốt hơn” [19] Nghiên cứu cách tiếp cận theo cách phân tích chi phí lợi nhuận để đưa ra chính sách hoặc đánh giá chính sách trong lĩnh vực giáo dục Bên cạnh, nghiên cứu quản lý tài chính gắn liền với cơ sở GDĐH cụ thể, như nghiên cứu của tác giả Sulochana (1991), “Quản lý tài chính đối với GDĐH ở Ấn Độ - Nghiên cứu trường hợp Đại học Osmania” [18] Tác giả nghiên cứu thực trạng quản lý tài chính trong GDĐH ở Ấn Độ, trường hợp cụ thể là trường Đại học Osmania

- Nghiên cứu về tự chủ đại học: Thực tiễn cho thấy có nhiều nghiên cứu

với cách nhìn khác nhau về TCĐH tùy thuộc vào trình độ phát triển và nhận thức của mỗi quốc gia về vai trò của GDĐH Theo Berdahl, R., Graham, J., & Piper, D R (1971), “TCĐH là quyền lực của Nhà trường được tự điều khiển việc vận hành của mình mà không bị kiểm soát từ bên ngoài” [4] Don Anderson và Richard Johnson (1998), “TCĐH là sự tự do của một cơ sở GDĐH trong việc điều hành các công việc của nó mà không có sự chỉ đạo hoặc tác động từ bất cứ cấp chính quyền nào” [6] Hiệp hội Quốc tế các trường Đại học (IAU) trong tuyên bố về tự do học thuật, TCĐH và trách nhiệm xã hội (1998), cho rằng “TCĐH được hiểu là mức độ độc lập cần thiết đối với sự can thiệp bên ngoài mà trường đại học cần có trong tổ chức và quản trị nội bộ, trong phân bổ nội bộ các nguồn tài chính và huy động thu nhập từ các nguồn

Trang 14

ngoài ngân sách, trong tuyển dụng giảng viên, trong quy định các điều kiện học tập và cuối cùng trong việc tự do giảng dạy và nghiên cứu”

Báo cáo tổng quan xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank (2008) đã khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn (state control) như ở Malaysia, đến các mô hình bán tự chủ (semi-autonomous) như ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi-independent) ở Singapore và mô hình độc lập (independent) ở Mỹ, Anh, Úc Đối với mô hình Nhà nước kiểm soát thì các cơ sở GDĐH vẫn được hưởng mức độ tự chủ nhất định vì những lý do tài chính và thực tiễn, Nhà nước không thể kiểm soát được tất cả các hoạt động của cơ sở GDĐH Ngược lại, mô hình độc lập vẫn có những mặc định

về quyền quản lý của Nhà nước thông qua các công cụ gián tiếp

Nhìn chung, các nghiên cứu ở nước ngoài là những tài liệu tham khảo có giá trị đối với đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh Tuy nhiên, đây là những nghiên cứu mô hình quản lý ở những trường đại học của các nước có nền kinh

tế phát triển

b) Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển KT-XH của đất nước

đã có khá nhiều công trình nghiên về quản lý tài chính và cơ chế tự chủ tài chính trong GDĐH, tiểu biểu là các luận án tiến sĩ, các đề tài NCKH cấp Bộ/Tỉnh

- Nghiên cứu về quản lý tài chính trong GDĐH: Tác giả Đặng Văn Du

(2004), “Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo Đại học

ở Việt Nam” [29] Luận án đã xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho GDĐH ở Việt Nam, đồng thời phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho GDĐH Việt Nam Luận án của tác giả Lê Phước Minh (2005), "Hoàn thiện chính sách tài chính cho GDĐH Việt Nam" [33]

Trang 15

Trên cơ sở hệ thống lý luận về chính sách tài chính cho GDĐH, tác giả đi sâu phân tích thực trạng chính sách tài chính cho GDĐH Việt Nam, đồng thời chỉ

ra cơ hội, thách thức, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính cho GDĐH Việt Nam Luận án của tác giả Bùi Tiến Hanh (2007),

“Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục Việt Nam” [10] Tác giả đã luận giải cơ chế tài chính để thực hiện xã hội hoá giáo dục Việt Nam, bao gồm: Cơ chế quản lý chi NSNN, cơ chế quản lý thu và sử dụng học phí trong giáo dục Việt Nam Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Anh Thái (2008), “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường Đại học

ở Việt Nam” [43] Luận án đã tập trung phân tích, luận giải cơ chế, chính sách quản lý tài chính đối với các trường đại học ở Việt Nam Tác giả Nguyễn Thu Hương (2014), “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình

đào tạo chất lượng cao trong các trường đại học công lập Việt Nam” [39]

Luận án đưa ra quan điểm về cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đào tạo chất lượng cao trong các trường ĐHCL, trong đó làm rõ vai trò của Nhà nước trong sử dụng công cụ, phương tiện quản lý để vận hành cơ chế quản lý tài chính Nghiên cứu khá “gần” với đề tài luận án của nghiên cứu sinh phải kể đến luận án của tác giả Vũ Thị Thanh Thủy (2012), “Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” [72] Nghiên cứu tiếp cận theo mục tiêu quản lý tài chính, tức là đối với các trường đại học công lập là tăng thu, tiết kiệm chi, tăng tích lũy và đưa ra quan điểm quản lý tài chính các trường ĐHCL theo hướng tự chủ tài chính Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2015), “Tác động của quản lý tài chính đến chất lượng GDĐH - Nghiên cứu điển hình tại các trường đại học thuộc Bộ Công Thương” [44] Đây là một trong số ít nghiên cứu gắn liền với các trường đại học thuộc Bộ Công Thương, luận án đã xác định được quản lý tài chính trong GDĐH không tác động trực tiếp đến chất lượng GDĐH mà tác động đến chất lượng GDĐH

Trang 16

thông qua các yếu tố đảm bảo chất lượng như chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và đưa ra hai phương thức đánh giá chất lượng GDĐH Luận án của tác giả Trương Thị Hiền (2017), “Quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn

TP HCM trong điều kiện tự chủ” [68] Trên cơ sở phân tích thực trạng quản

lý tài chính tại 04 trường ĐHCL trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn TP HCM thuộc 2 nhóm tự chủ khác nhau là tự chủ chi thường xuyên và

tự chủ một phần chi thường xuyên để đánh giá kết quả đạt được và chỉ rõ những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn TP HCM Ngoài ra, còn có các đề tài cấp Bộ của tác giả Vũ Duy Hào (2005),

“Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập khối kinh tế ở Việt nam” [71] Đề tài nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính trong phạm vi các trường đại học công lập khối kinh tế ở Việt Nam Đề tài cấp Bộ của tác giả Phạm Văn Ngọc (2007), “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2025” [48] Trên cơ sở khái quát mô hình và cơ chế quản lý tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính, đề tài phân tích một số mô hình được xây dựng với các kịch bản khác nhau về cơ chế quản lý, chế độ thu và mức thu từ các nguồn thu, đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với Đại học Quốc gia Hà Nội

- Nghiên cứu về tự chủ tài chính trong GDĐH: Nghiên cứu của tác giả

Mai Ngọc Cường (2008), “Tự chủ tài chính ở các trường đại học công lập Việt Nam hiện nay” [36] Tác giả đã tập trung đánh giá thực trạng các điều kiện tự chủ tài chính của các trường đại học công lập, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các điều kiện tự chủ tài chính trong các trường

Trang 17

công lập Luận án của tác giả Trần Đức Cân (2012), “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” [55] Luận án bổ sung làm rõ khái niệm, bản chất và nhân tố tác động tới tự chủ tài chính, cơ chế tự chủ tài chính trường đại học công lập Ngoài ra, luận án đã nghiên cứu đưa 06 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính, bao gồm: tính hiệu lực, hiệu quả, tính linh hoạt, công bằng, ràng buộc tổ chức, sự chấp nhận của cộng đồng Luận án của tác giả Lương Văn Hải (2011), “Vai trò của Nhà nước trong mở rộng quyền tự chủ của các trường đại học công lập Việt Nam” [35] Trên cơ sở các mô hình, tác giả cho rằng, để mở rộng quyền tự chủ cho các trường đại học, Nhà nước cần tập trung thực hiện chức năng quản lý vĩ

mô, bao gồm các chức năng định hướng, hỗ trợ, kiểm tra và kiểm soát

Nhìn chung, những nghiên nêu cứu trên đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, quan điểm về quản lý tài chính và cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu nêu trên chưa đi sâu nghiên cứu và đưa ra các giải pháp bên trong đối với các trường thực hiện tự chủ tài chính, đặc biệt nghiên cứu điển hình tại các trường ĐHCL trực thuộc

Bộ Công Thương

c) Khoảng trống nghiên cứu

Từ kết quả nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu, NCS nhận thấy rằng ở trong nước và nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu khá toàn diện về quản lý tài chính và các vấn đề liên quan đến quản lý tài chính trong GDĐH Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản

lý tài chính trong các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương Điều này dẫn đến chưa có đủ căn cứ khoa học để đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính trong điều kiện thực hiện tự chủ đại học nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và chất lượng GDĐH, cụ thể như sau:

Trang 18

- Các công trình nghiên cứu nêu trên mới chỉ tập trung nghiên cứu tại các trường ĐHCL Việt Nam nói chung trong bối cảnh cơ chế tự chủ tài chính chưa toàn diện, các trường ĐHCL còn phụ thuộc nhiều vào NSNN cấp; chưa

có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản lý tài chính đối với đặc thù của các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương, đặc biệt bối cảnh cạnh tranh trong GDĐH ngày càng lớn như hiện nay Hơn nữa, tự chủ đại học đã trở xu thế phát triển tất yếu trên thế giới, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định quyền tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam

đã ban hành Luật số 34/2018/QH14 ngày 09/11/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH nhằm tạo cơ chế khuyến khích mở rộng quyền tự chủ toàn diện cho các cơ sở GDĐH công lập

- Các nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính nói riêng, tự chủ đại học nói chung ở Việt Nam trong thời gian qua, chủ yếu tập trung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp vĩ mô mà chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu để đề xuất các giải pháp mang tính vi mô gắn với điều kiện cụ thể của các trường ĐHCL

- Trong bối cảnh hiện nay, cơ chế chính sách, quy định luật pháp của Nhà nước đã có nhiều thay đổi cùng với hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh

mẽ, một số kết quả, nghiên cứu nêu trên không còn phù hợp Vì vậy, cần phải nghiên cứu để đưa ra giải pháp phù hợp với yêu cầu quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện tự chủ đại học Tóm lại, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu quản lý tài chính trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính với những đặc thù của các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương một cách hệ thống cả về lý luận và thực tiễn Đó chính là khoảng trống nghiên cứu, điều này khẳng định tính độc lập và không trùng lặp của đề tài nghiên cứu

Trang 19

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tự chủ tài chính, quản lý tài chính trong các trường ĐHCL, Luận án khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương, rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân, từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong thời gian tới Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận án xác định

4 (bốn) nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về tự chủ tài chính, quản lý tài chính, quan hệ giữa quản lý tài chính và tự chủ tài chính trong trường ĐHCL

- Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tài chính tại các trường đại học trong điều kiện tự chủ tài chính ở Hàn Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ, từ đó rút ra những bài học phù hợp có thể vận dụng vào thực tiễn tại Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện tự chủ tài chính, rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

- Phân tích bối cảnh về phát triển GDĐH Việt Nam hiện nay kết hợp với quan điểm, định hướng phát triển GDĐH Việt Nam, quản lý tài chính gắn với

tự chủ tài chính trong thời gian tới, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương phù hợp với điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính

Mục đích nghiên cứu nêu trên nhằm trả lời câu hỏi: “Giải pháp nào để

hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2030”

Trang 20

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu các vấn đề về quản lý tài

chính tại các trường đại học công lập trong điều kiện tự chủ tài chính

b) Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu về quản lý tài chính, quản lý tài chính trường đại học công lập phải thực hiện quản lý nhiều nội dung, song trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả tập trung nghiên cứu quản lý thu, các khoản chi, quản lý kết quả tài chính tại các trường ĐHCL trong điều

kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu quản lý tài chính tại 05 (năm) trường đại học điển hình cho 09 (chín) trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương, bao gồm: Trường ĐHCN Hà Nội, Trường ĐHCN TP HCM, Trường ĐHCN Thực phẩm TP HCM, Trường Đại học Sao Đỏ, Trường ĐHCN Quảng Ninh; từ đó khái quát chung về thực trạng quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương

- Thời gian nghiên cứu: Thu thập số liệu, phân tích thực trạng quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương chủ yếu trong giai đoạn 2014-2018, đề xuất giải pháp đến năm 2025 tầm nhìn 2030

5 Phương pháp nghiên cứu

a) Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng trong toàn bộ quá trình nghiên cứu các nội dung của Luận án

- Phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp chủ đạo được sử dụng trong quá trình nghiên cứu Ngoài ra, luận án sử dụng phương pháp thống kê, so sánh… Các kết luận của luận án thu được dựa trên suy luận logic

và các số liệu tổng hợp thu thập được Tùy theo nội dung nghiên cứu, luận án

sử dụng phương pháp nghiên cứu phù hợp:

Trang 21

+ Đối với mục tiêu tổng hợp, hệ thống hóa có bổ sung những vấn đề lý luận ở Phần mở đầu và Chương 1, phương pháp chủ đạo được sử dụng là nghiên cứu tài liệu có liên quan, thu thập và tổng hợp những tài liệu trong và nước ngoài, từ đó xây dựng cơ sở lý thuyết cho các nội dung nghiên cứu + Đối với tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở Chương 2, phương pháp chủ đạo được sử dụng là thu thập số liệu, khảo sát các đối tượng liên quan, phân tích, so sánh

+ Đối với nội dung ở Chương 3, phương pháp chủ đạo được sử dụng là phương pháp phân tích, tổng hợp, đề xuất giải pháp dựa trên suy luận logic từ các kết quả nghiên cứu ở Chương 1 và Chương 2

+ Phương pháp phỏng vấn, khảo sát được sử dụng ở Chương 2 và Chương 3 là cơ sở để đưa ra các đánh giá, kết luận và đề xuất các giải pháp đảm bảo tính thực tiễn, khả thi

b) Phương pháp thu thập số liệu, dữ liệu

- Thống kê, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để thu thập số liệu

về hoạt động tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất và người học tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương Nguồn số liệu của các trường được thu thập, thống kê, tổng hợp từ các báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết năm học

và từ kết quả phỏng vấn, điều tra tại các trường đại học, Bộ, Ngành liên quan

- Phỏng vấn chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng thu thập các ý kiến, đánh giá của công chức các Bộ, Ngành liên quan và công chức, viên chức quản lý của các trường đại học để làm rõ các vấn đề nghiên cứu

- Khảo sát điều tra: Ngoài việc sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia, nhà quản lý, hoạt động đánh giá được tiến hành dựa trên khảo sát với 4 nhóm đối tượng: (i) Lãnh đạo của một số Vụ của Bộ Công Thương; (ii) Lãnh của các trường đại học; (iii) Trưởng, phó các đơn vị thuộc Trường; (iv) Giảng

Trang 22

viên, chuyên viên Bảng hỏi được thiết kế dựa trên các nội dung nghiên cứu của luận án kết hợp với thang đo likert 5 mức độ (Từ 1 - Rất không đồng ý đến 5 - Rất đồng ý) Cụ thể: Dùng bảng hỏi khảo sát 200 người hiện là cán bộ quản lý, chuyên viên tại các Vụ, các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương về các vấn đề liên quan đến quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính Mẫu khảo sát được phân bố cho 20 người là công chức của các Vụ thuộc Bộ Công Thương và 180 người là công chức, viên chức quản lý, viên chức làm công tác tài chính, kế toán tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương

- Xử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý bằng các phần mềm phân tích định lượng, xử lý số liệu để tổng hợp, phân tích các số liệu và đưa ra các kết quả nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Hiện nay quản lý tài chính trong các trường ĐHCL trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ được coi là vấn đề rất cần được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, đang được các nhà quản lý, cũng như các nhà nghiên cứu kinh tế rất quan tâm Vì vậy, nghiên cứu chuyên sâu về quản lý tài chính trong các trường đại học với đặc thù của các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương

để từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tài chính trong các trường ĐHCL là hết sức cần thiết Đóng góp của luận án về mặt lý luận và thực tiễn thể hiện chủ yếu trên các mặt sau:

Một là, tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và phân tích làm rõ khoảng trống nghiên cứu riêng có của đề tài luận án

Hai là, luận án hệ thống hoá, phân tích góp phần làm phong phú thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về trường đại học công lập và quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính như khái niệm, đặc điểm và vai trò của trường đại học công lập; khái niệm, mục tiêu, nội dung, công cụ, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng

Trang 23

đến quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trong điều kiện thực hiện

cơ chế tự chủ tài chính

Ba là, luận án tổng kết kinh nghiệm quản lý tài chính tại các trường đại học công lập của một số nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, hàn Quốc; rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Bốn là, luận án khái quát về các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương; tổng hợp, phân tích, minh chứng và rút ra một số kết luận về kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng tự chủ tài chính và quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương giai đoạn 2014-2018 Năm là, luận án trình bày bối cảnh, quan điểm và định hướng phát triển GDĐH công lập; đề xuất 06 nhóm giải pháp với nhiều giải pháp cụ thể và 04 kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc

Bộ Công Thương trong thời gian tới Các giải pháp đề xuất có tính hệ thống, phù hợp cơ sở lý luận và thực tiễn

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, các công trình đã công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của tác giả, luận án được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc

Bộ Công Thương trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

Trang 24

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN

CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH

1.1 Trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục đại học

1.1.1 Khái niệm trường đại học công lập

Từ khi con người biết lao động và có ngôn ngữ thì hiện tượng giáo dục cũng manh nha xuất hiện Hiện tượng giáo dục của buổi sơ khai trong xã hội nguyên thuỷ mang tính chất tự phát, diễn ra rất đơn giản theo hình thức bắt chước trực tiếp, nhằm truyền đạt những kinh nghiệm săn bắt, hái lýợm, cao hơn là những tập tục, nghi lễ trong cuộc sống bộ tộc, bộ lạc Đến khi xã hội loài người chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, xã hội có giai cấp, giáo dục trở thành một công cụ quan trọng của giai cấp thống trị, đào tạo họ trở thành những người có năng lực duy trì nền thống trị, giáo dục tuyên truyền tính chất quy thuận, phục tùng đối với tầng lớp, giai cấp bị trị và trong xã hội xuất hiện một bậc học mang tính hàn lâm chỉ dành riêng cho giai cấp thống trị đó là GDĐH Lịch sử GDĐH thế giới đã hình thành và phát triển qua nhiều thế kỷ, tiêu biểu là GDĐH phương Đông và phương Tây

Nền GDĐH Việt Nam được hình thành với việc thành lập Quốc Tử Giám tại kinh thành Thăng Long vào năm 1076, là trường đại học đầu tiên của Việt Nam theo mô hình phương Đông GDĐH theo mô hình phương Tây được du nhập vào Việt Nam từ Pháp rất muộn với việc thành lập trường Cao đẳng Y khoa năm 1904 và tổ chức hợp nhất một số trường thành Viện Đại học Đông Dương năm 1943 tại Hà Nội Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Việt Nam được chia thành hai miền ở phía bắc và nam vĩ tuyến 17 Trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Bắc hệ thống GDĐH phát triển mạnh, nhiều trường đại học được thành lập, phần lớn là các trường đơn lĩnh

Trang 25

vực hoặc đơn ngành theo mô hình của Liên Xô, ở miền Nam hệ thống GDĐH cũng phát triển nhanh, một bộ phận tiếp tục chịu ảnh hưởng của mô hình Pháp (tiêu biểu là Viện Đại học Sài Gòn), bộ phận khác chịu ảnh hưởng của mô hình Mỹ (tiêu biểu là Viện Đại học Cần Thơ và một số trường Đại học cộng đồng) Tháng 04/1975 đất nước được thống nhất, GDĐH được xây dựng theo kiểu miền Bắc, hệ thống GDĐH theo mô hình Liên Xô được củng cố và phát triển Cơ chế kế hoạch hóa tập trung đối với GDĐH biểu hiện rõ ở các yếu tố: Sinh viên được tuyển vào các trường đại học thường với số lượng không lớn bằng một quy trình chặt chẽ, họ không phải đóng học phí và được bao cấp một chi phí đủ sống ở mức độ thấp, sau khi tốt nghiệp họ được phân công vào các vị trí trong bộ máy nhà nước hoặc các cơ sở kinh tế quốc doanh Các trường đại học được Nhà nước cấp chỉ tiêu tuyển sinh, kinh phí đào tạo và quy định chương trình đào tạo Không có các trường ngoài công lập, các trường tư đã tồn tại ở miền Nam trước năm 1975 bị giải thể Hệ thống GDĐH thống nhất theo mô hình Liên Xô này tồn tại cho đến cuối năm 1986, bộc lộ nhiều nhược điểm gây trì trệ cho sự phát triển Từ đầu năm 1987, Chính phủ Việt Nam quyết định từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bắt đầu thời kỳ đổi mới Ngày nay, GDĐH hiện đại của Việt Nam đang phát triển theo hướng tự chủ đại học dựa trên kinh nghiệm phát triển GDĐH của một số nước có nền giáo dục tiên tiến, hàng đầu trên thế giới

Giáo dục đại học truyền cho người học những kiến thức và hiểu biết chuyên sâu về những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống, không chỉ mở rộng năng lực trí tuệ của từng cá nhân trong lĩnh vực chuyên môn của họ mà còn giúp họ mở rộng tầm nhìn và hiểu biết đối với thế giới xung quanh Theo Ronald Barnett (1992), có 4 khái niệm thông dụng về GDĐH như sau:

Trang 26

- Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn: Theo quan điểm này, GDĐH là quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động

- Giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu: Theo quan điểm này, GDĐH trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng để trở thành những nhà nghiên cứu

- Giáo dục đại học là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả: Theo quan điểm này, giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục, các cơ sở GDĐH chú trọng quản lý hiệu quả các hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy

- Giáo dục đại học là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học: Theo cách tiếp cận này, GDĐH được xem như một cơ hội để người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân

Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, GDĐH đào tạo trình

độ đại học và sau đại học với các cơ sở GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân: Trường đại học, Học viện, Đại học vùng, Đại học quốc gia, Viện NCKH được phép đào tạo trình độ tiến sĩ

Trường đại học: Là cơ sở GDĐH đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại

học, sau đại học và nghiên cứu, triển khai các hoạt động KHCN

Trường đại học công lập: Là đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động

không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng tới mục tiêu vì cộng đồng, thực hiện chức năng đào tạo đại học, sau đại học, NCKH và CGCN

Như vậy, quản lý tài chính tại trường ĐHCL bên cạnh phục vụ mục tiêu kinh tế còn phục vụ mục tiêu xã hội, nếu các trường đại học dân lập được tự chủ về nguồn thu, chi và mục tiêu lợi nhuận thì các trường ĐHCL phải cân đối giữa nhiệm vụ kinh tế và nhiệm vụ xã hội Điều này cũng đặt ra một giới hạn nhất định đối với thiết lập cơ chế quản lý tài chính tại các trường ĐHCL

Trang 27

1.1.2 Đặc điểm của trường đại học công lập

1.1.2.1 Đặc điểm của trường đại học

Một là, sản phẩm của trường đại học là đào tạo ra những con người có tri thức và năng lực lao động tương ứng trình độ đào tạo đại học và sau đại học Trường đại học là chủ thể của xã hội nhưng không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tạo ra các sản phẩm vật chất Tuy nhiên, theo phân công lao động, trường đại đại học là nơi duy nhất có đủ điều kiện và đủ khả năng cung cấp nguồn nhân có trình độ chuyên môn cao cho xã hội, làm tăng giá trị cho mỗi cá nhân thông qua việc trang bị cho họ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để tăng hiệu quả các hoạt động KT-XH

Hai là, quá trình hoạt động sản xuất sản phẩm dịch vụ của trường đại học xét về bản chất là quá trình sản xuất tiêu hao lao động sống và lao động vật hóa để tạo ra sản phẩm dịch vụ Trường đại học tạo ra sản phẩm dịch vụ trong quá trình tương tác giữa người dạy và người học Người thầy tác động trực tiếp đến người học bằng cách truyền đạt kiến thức, hướng dẫn kỹ năng Quá trình này buộc người thầy phải tiêu hao sức lao động của mình và sử dụng tiêu hao các công cụ khác phục vụ giảng dạy, song song với quá trình đó, người học được tiếp nhận các “dịch vụ” mà người thầy đã cung cấp Như vậy, quá trình thực hiện dịch vụ để tạo ra sản phẩm khác với quá trình sản xuất những hàng hóa và dịch vụ thông thường, không chỉ có máy móc tốt, nguyên nhiên vật liệu tốt, quy trình sản xuất tốt là tạo ra sản phẩm tốt, quá trình để tạo

ra những sản phẩm còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức của người học và kiến thức truyền đạt của người thầy

Ngoài ra, các yếu tố về trình độ phát triển kinh tế, KHCN, văn hóa xã hội

là các yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động của trường đại học qua nhu cầu

sử dụng sinh viên được đào tạo, sử dụng các kết quả nghiên cứu của trường đại học, phát triển và bảo tồn các thành tựu văn hóa Hoạt động cung cấp sản

Trang 28

phẩm dịch vụ của trường đại học đó còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố nội lực của bản thân trường đại học Chất lượng, năng lực của đội ngũ giảng viên, các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị là yếu tố quyết định đến chất lượng quá trình giảng dạy cũng như chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp cho xã hội

1.1.2.2 Đặc điểm của trường đại học công lập

Ngoài các đặc điểm cơ bản của trường đại học, trường ĐHCL có các đặc điểm riêng sau:

Một là, bộ máy quản lý, điều hành các hoạt động của trường ĐHCL được

tổ chức phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường nhưng phải tuân thủ quy định pháp luật Bộ máy của trường ĐHCL bao gồm Hội đồng trường, Ban Giám hiệu, các phòng chức năng, khoa/trung tâm đào tạo, viện nghiên cứu chuyên ngành, bộ môn Hoạt động của Hội đồng trường tại các trường ĐHCL khác với Hội đồng quản trị trong các trường đại học ngoài công lập Người trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động của trường ĐHCL là công chức, viên chức và chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo Luật cán bộ, công chức, Luật viên chức

Hai là, chi phí cho việc cung cấp dịch vụ GDĐH được người học trả thông qua học phí và một phần NSNN cấp thông qua đầu tư xây dựng cơ bản

và chi thường xuyên Các trường ĐHCL thực hiện thí điểm cơ chế tự chủ, mặc dù không được nhận chi thường xuyên từ NSNN nhưng vẫn được nhận đầu tư xây dựng cơ bản, hỗ trợ NCKH và cơ sở vật chất hiện có của Nhà nước Đối với các trường ngoài công lập, dịch vụ GDĐH mang tính chất của dịch vụ tư thuần túy khi toàn bộ chi phí do chủ đầu tư bỏ ra và toàn bộ khoản thu có được từ người học Nhà đầu tư phải tính toán lợi ích kinh tế để quyết định có hay không cung cấp dịch vụ GDĐH

Ba là, nguồn kinh phí của các trường ĐHCL gồm nguồn thu từ các hoạt

Trang 29

động sự nghiệp, nguồn NSNN cấp và chịu sự quản lý về tài chính theo quy định của pháp luật đối với đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.3 Vai trò của trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục đại học

Hệ thống các trường ĐHCL đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia, thể hiện qua các nội dung sau:

Một là, sự hình thành và phát triển của trường ĐHCL thể hiện vai trò của Nhà nước đối với GDĐH: Thông qua các hoạt động của trường ĐHCL, Nhà nước thực hiện điều tiết các nguồn lực xã hội hiệu quả nhất, điều tiết cơ cấu ngành, nghề đào tạo phù hợp với nguồn lực của quốc gia và yêu cầu thực tiễn nguồn nhân lực để phát triển KT-XH Đồng thời, Nhà nước thực hiện đầu tư cho các trường ĐHCL để đảm bảo lợi ích công về GDĐH và tạo cơ hội tiếp cận GDĐH đối với mọi người dân

Hai là, trường ĐHCL là nơi triển khai các chính sách đầu tư phát triển GDĐH của mỗi quốc gia: Các trường ĐHCL thuộc sở hữu nhà nước, được Chính phủ hoặc chính quyền ở các địa phương cấp ngân sách để triển khai các chính sách phát triển GDĐH Ví dụ ở Hàn Quốc lập Quỹ đào tạo nhân tài, ở Trung Quốc đầu tư thành các trường đại học trọng điểm, ở Việt Nam các trường ĐHCL được Nhà nước giao kinh phí, tài sản, cơ sở vật chất để thực hiện các mục tiêu cho GDĐH cho đất nước

Ba là, trường ĐHCL giữ vai trò định hướng sự phát triển hệ thống GDĐH của mỗi quốc gia: Các trường ĐHCL định hướng cho phát triển các chương trình đào tạo phù hợp với xu thế phát triển của xã hội; định hướng NCKH thông qua việc xây dựng các nhóm nghiên cứu, các hướng nghiên cứu

cơ bản, triển khai các hướng nghiên cứu mới

Bốn là, trường ĐHCL có sứ mạng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, NCKH và CGCN đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước: Trong

hệ thống GDĐH, các trường ĐHCL có lợi thế hơn các trường ngoài công lập

Trang 30

về điều kiện đảm bảo chất lượng như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu…để thực hiện được sứ mạng nêu trên

1.2 Quản lý tài chính tại các trường đại học công lập

1.2.1 Khái niệm quản lý tài chính tại các trường đại học công lập

Khái niệm về quản lý: “Quản lý” là khái niệm rộng và được sử dụng

trong nhiều ngành khoa học khác nhau, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội Trong kinh tế học, khái niệm quản lý được nghiên cứu và sử dụng căn cứ vào mục đích và đối tượng nghiên cứu nhưng giữa chúng có một điểm chung

là khi nói đến quản lý là nói đến nội bộ của một hệ thống hay một tổ chức Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng - NXB Giáo dục 1998 thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” Ngoài ra, còn nhiều khái niệm về quản lý, tùy vào đối tượng, phạm vi nghiên cứu: Theo D Torrington: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường” James A.F.Stoner, R.Edward Freeman cho rằng: “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có hiệu lực và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức” C.A.Bartlett, S.Ghoshal thì lại khẳng định: “Quản lý là quá trình phối hợp có hiệu quả các hoạt động của các cộng sự khác nhau trong một tổ chức hoặc Quản lý là một quá trình phối hợp các nguồn lực một cách có hiệu lực và hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức”

Khái niệm về tài chính: Tài chính được hiểu như là hệ thống các quan

hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ để thỏa mãn các nhu cầu của các chủ thể Nó phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối giá trị của cải xã hội trong những không gian, thời gian cụ thể, ra đời và tồn tại trong những điều kiện sau:

Trang 31

Một là, khi nền kinh tế hàng hóa tiền tệ phát triển tới một trình độ nhất

định thì các sản phẩm sẽ được giao dịch trên thị trường bằng phương tiện của

nó là tiền tệ, hình thành nên mối quan hệ giữa người bán và người mua, giữa các chủ thể trong nền kinh tế, từ đó hình thành mối quan hệ tài chính

Hai là, để duy trì sự tồn tại và hoạt động thì Nhà nước cần phải có các nguồn tài chính, với quyền lực của mình sẽ thực hiện việc tập trung các nguồn tài chính, phân phối và sử dụng các nguồn lực này vì lợi ích chung của xã hội Tác giả Phạm Chí Thanh đã đưa ra khái niệm “Tài chính là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế trong việc hình thành, quản lý và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phát triển sản xuất, thỏa mãn các nhu cầu chung của xã hội, cũng như các nhu cầu của tổ chức, cá nhân”

Tài chính tại các trường đại học công lập: Tài chính của các đơn vị sự

nghiệp nói chung và tài chính tại các trường ĐHCL nói riêng là bộ phận quan trọng hợp thành tài chính công Từ đó, có thể thấy khái niệm sau đây là phù hợp trong phạm vi nghiên cứu của luận án: “Tài chính tại các trường ĐHCL được hiểu là hệ thống quan hệ kinh tế giữa trường ĐHCL với Nhà nước và các chủ thể kinh tế khác trong quá trình hình thành, quản lý và sử dụng quỹ tiền tệ nhằm đạt được các mục tiêu của Nhà nước và các chủ thể liên quan” Nếu căn cứ vào dòng tiền vận động hình thành nên các quỹ và các chủ thể quản lý sử dụng phân phối, thì quan hệ tài chính của trường ĐHCL với các chủ thể khác, có thể chia thành các nhóm quan hệ tài chính sau:

- Nhóm quan hệ tài chính giữa trường ĐHCL với các chủ thể được cung cấp các dịch vụ (nhà nước, cá nhân) Trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc chung người được cung cấp dịch vụ phải trang trải chi phí Nhà nước là một chủ thể đặc biệt vừa là chủ sở hữu các trường ĐHCL, nhưng đồng thời lại

là khách hàng được các trường ĐHCL cung cấp dịch vụ thực hiện theo yêu cầu của Nhà nước

Trang 32

- Nhóm các quan hệ tài chính giữa trường ĐHCL với Nhà nước, đây là mối quan hệ chủ đạo, có tác động ảnh hưởng đến các mối quan hệ khác Đây

là mối quan hệ trong việc sử dụng nguồn kinh phí do NSNN cấp cho hoạt động của trường ĐHCL để thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước giao, thanh toán cho việc thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng Nguồn kinh phí NSNN cấp tạo ra thu nhập cho các trường ĐHCL, để sử dụng vào các hoạt động sự nghiệp trong phạm vi từng trường ĐHCL Đơn vị phải tự quản lý, sử dụng nguồn kinh phí này tiết kiệm và hiệu quả nhất; phần chênh lệch giữa thu

và chi để lập quỹ của đơn vị nhằm tăng thêm thu nhập cho người lao động và đầu tư phát triển Như vậy, trong mối quan hệ về thực hiện quyền sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và quyền sử dụng của trường ĐHCL hình thành cơ chế giao quyền tự chủ tài chính cho trường ĐHCL

- Nhóm quan hệ tài chính giữa trường ĐHCL với các chủ thể kinh tế cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cho nhà trường Trong quá trình hoạt động, các trường ĐHCL phải sử dụng các dịch vụ, hàng hóa đầu vào do các tổ chức,

cá nhân thuộc các thành phần kinh tế cung cấp trên thị trường; mối quan hệ này phải hoàn toàn tuân thủ theo các quy luật của kinh tế thị trường

- Nhóm quan hệ tài chính giữa trường ĐHCL với người lao động trong đơn vị: mối quan hệ này được biểu hiện trong việc hình thành, sử dụng quỹ tiền lương, thu nhập của trường ĐHCL Trong cơ chế thị trường mối quan hệ này phải đảm bảo theo các quy luật của thị trường về hàng hóa sức lao động, hay nói cách khác là tiền lương và thu nhập mà đơn vị trả cho người lao động phù hợp với kết quả (số lượng, chất lượng) làm việc của người lao động Đây

là mối quan hệ thuộc phạm vi tài chính của trường ĐHCL

Khái niệm quản lý tài chính: Quan điểm tài chính như trên cho thấy,

quản lý tài chính trước hết là quản lý các nguồn tài chính, quản lý việc phân phối các nguồn tài chính, quản lý việc tạo lập, phân bổ và sử dụng các quỹ

Trang 33

tiền tệ một cách chặt chẽ, hợp lý có hiệu quả theo mục đích đã định Đồng thời, quản lý tài chính cũng chính là thông qua các hoạt động kể trên để tác động có hiệu quả nhất tới việc xử lý các mối quan hệ KT-XH nẩy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội

Theo học thuyết quản lý tài chính của Ezara Solomon cho rằng: “Quản lý

tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh điểm yếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân

công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó”

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, khái niệm dưới đây được sử dụng làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu: “Quản lý tài chính là quá trình lập

kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra, giám sát việc hình thành, sử dụng, phân phối các nguồn tài chính, quỹ tiền tệ một cách chặt chẽ, hợp lý có hiệu quả cao theo mục tiêu đã định”

Khái niệm quản lý tài chính tại các trường đại học công lập: Theo

Brancato (1995) thì giá trị tài chính của trường đại học không chỉ nằm trong bản tổng hợp thu chi của cơ sở đào tạo mà còn được nhìn nhận dưới góc độ: quy mô đào tạo; sự hài lòng của sinh viên, phụ huynh đối với nhà trường; sự tận tụy của giảng viên đối với nhà trường; khả năng thích ứng với tình hình mới và sáng tạo của giảng viên; số lượng bài báo và công trình NCKH, CGCN; các mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường với các trường đại học trong nước và nước ngoài với các tổ chức quốc tế; và đặc biệt là uy tín và hình ảnh của trường đối với các doanh nghiệp

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, khái niệm quản lý tài chính tại các trường ĐHCL dưới đây được sử dụng làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu

“Quản lý tài chính tại các trường đại học công lập là quản lý quá trình hình

Trang 34

thành, sử dụng và phân phối các nguồn tài chính thông qua việc lập kế hoạch,

tổ chức, điều khiển, kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính theo cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước nhằm đảm bảo kinh phí cho việc thực hiện các nhiệm

vụ của Nhà trường”

Chủ thể quản lý tài chính tại các trường ĐHCL chính là bộ máy quản lý tài chính, cụ thể là những công chức, viên chức có trách nhiệm trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt động quản lý tài chính, bao gồm Hiệu trưởng, đội ngũ viên chức quản lý tài chính tại các trường ĐHCL Vì quản lý tài chính là một nội dung quản lý chuyên ngành nên đội ngũ làm công tác tài chính kế toán của trường ĐHCL cũng thuộc nhóm chủ thể trực tiếp quản lý hoạt động tài chính tại các trường ĐHCL Bên cạnh đó, trưởng các bộ phận phòng, ban trực thuộc trường ĐHCL cũng như mỗi cá nhân trong đơn vị cũng có những đóng góp quan trọng tạo nên việc quản lý có hiệu quả tài chính trường ĐHCL Đối tượng quản lý tài chính tại các trường ĐHCL là hoạt động tài chính của các đơn vị Đó là các mối quan hệ kinh tế trong phân phối gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong trường ĐHCL

1.2.2 Mục tiêu quản lý tài chính tại các trường đại học công lập

Trường ĐHCL được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và cấp một phần kinh phí hoạt động nên quản lý tài chính tại trường ĐHCL phải đảm bảo cân đối hài hoà giữa mục tiêu tài chính và mục tiêu xã hội Tuy nhiên, quản lý tài chính tại các trường ĐHCL đứng trước thách thức giới hạn về ngân sách và nhu cầu chất lượng ngày càng cao từ người học đòi hỏi các trường ĐHCL phải đầu tư cơ sở vật chất và các dịch vụ hỗ trợ giáo dục khác dẫn đến nhu cầu huy động nguồn tài chính rất lớn Vì vậy, mục tiêu quản lý tài chính tại các trường ĐHCL nhằm hướng tới phát triển nguồn thu, sử dụng nguồn kinh phí tiết kiệm, hiệu quả

Trang 35

Một là, thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về quản lý thu, chi tài chính, quản lý tài sản Mặc dù thực hiện tự chủ tài chính, các trường có quyền khai thác nhiều nguồn thu khác, được xác định giá/phí dịch vụ, xây dựng định mức chi tiêu và phân phối thu nhập nhưng các trường vẫn phải đảm bảo tuân thủ các quy định của Nhà nước, quy định nội bộ của Nhà trường

Hai là, phát triển các nguồn tài chính phục vụ hoạt động của Nhà trường Nguồn tài chính của các trường ĐHCL ở Việt Nam chủ yếu từ nguồn NSNN cấp, nguồn thu học phí của người học và các nguồn thu hợp pháp khác Đối với nguồn NSNN cấp có xu hướng giảm dần, nguồn thu học phí do các quy định về mức trần học phí của Nhà nước và chỉ tiêu tuyển sinh do Bộ Giáo dục

và Đào tạo quy định nên nguồn thu này phát triển còn hạn chế Bên cạnh đó, nhiệm vụ đào tạo cũng đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng và cần có nguồn tài chính lớn; với mục tiêu đẩy mạnh công tác nghiên cứu trong trường đại học hiện nay, việc tăng cường đầu tư để phát triển đội ngũ nghiên cứu và

cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu cần có thêm nguồn tài chính Vì vậy, mục tiêu của quản lý tài chính tại các trường ĐHCL hướng tới phát triển nguồn tài chính cho các mục tiêu phát triển của Nhà trường

Ba là, sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính, đây chính là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong quản lý tài chính nội bộ, đặc biệt trong điều kiện nguồn tài chính còn nhiều khó khăn Việc đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính được xem xét ở các nội dung sau: (i) Phân bổ hợp lý nguồn tài chính:

Để đảm bảo điều đó, việc xác định các ưu tiên chiến lược trong hoạt động của Nhà trường cần được thực hiện trước, trên cơ sở đó phân bổ nguồn tài chính theo đúng thứ ưu tiên các hoạt động để hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu của trường đã đề ra; (ii) Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài chính: Tiết kiệm trong chi tiêu được hiểu là để có một hàng hóa, dịch vụ nhất định thì chi

Trang 36

phí bỏ ra là thấp nhất; hoặc ngược lại, với một mức chi phí nhất định thì mua được hàng hóa tốt nhất

Bốn là, kiểm tra giám sát hoạt động tài chính giúp các trường ĐHCL giảm bớt rủi ro trong hoạt động Trên cơ sở quản lý rủi ro sẽ đảm bảo cho các trường hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực, đảm bảo khả năng hoạt động liên tục và phát triển trong điều kiện tự chủ đại học nói chung và tự chủ tài chính nói riêng

1.2.3 Nội dung quản lý tài chính tại các trường đại học công lập

1.2.3.1 Quản lý nguồn thu, mức thu

Quản lý các nguồn tài chính tại các trường ĐHCL bao hàm: Tổ chức khai

thác các nguồn thu - Nội dung thu; quy định mức thu và kiểm soát thu

a) Nguồn ngân sách nhà nước cấp: Nguồn NSNN cấp cho các trường

ĐHCL được xem như khoản kinh phí mua sản phẩm đào tạo, sản phẩm KHCN, các chương trình, dự án…hay cấp để thực hiện phúc lợi học tập đại học cho dân chúng, bao gồm:

- Ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên: Trường ĐHCL thực hiện chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp không đủ chi thường xuyên, trên cơ sở số lượng người làm việc và định mức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt được NSNN bảo đảm chi thường xuyên hoặc cấp một phần chi thường xuyên

- Nguồn NSNN đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính

đủ chi phí: Đối với trường ĐHCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên: NSNN cấp bao gồm NSNN đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí; Đối với trường ĐHCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ

sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí): Nguồn NSNN hỗ trợ phần

Trang 37

chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công

- Nguồn NSNN cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ KHCN; kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các

dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao như chính sách tinh giản số lượng người làm việc

b) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp

- Thu phí, lệ phí: Nhà nước cho phép các trường ĐHCL lập được thu học

phí và lệ phí theo khung học phí mà nhà nước quy định Nguồn thu này có được do trường đại học cung cấp dịch vụ thông qua việc chuyển giao tri thức Nhà nước đặt khung học phí đối với GDĐH nhằm tới mục tiêu chất lượng, số lượng, hiệu quả và sự công bằng Do vậy, chính sách định giá của GDĐH cần được cân nhắc đầy đủ đến khía cạnh thực hiện tốt hơn mục tiêu công bằng vì tác động của chính sách tới các nhóm lợi ích là khác nhau trong xã hội Nhà nước cũng ưu tiên sử dụng nguồn lực của mình để phát triển những ngành đào tạo ít người muốn học và cung cấp dịch vụ đào tạo đại học cho những đối tượng khó khăn Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là phải có sự kết hợp giữa chính sách về học phí với phương thức phân bổ ngân sách để tạo nên sự cân đối chi phí được trang trải bằng học phí Chi phí trung bình đào tạo một sinh viên hết bao nhiêu và NSNN đảm bảo được bao nhiêu, phần còn lại phải tính đến mức học phí Sau khi Nhà nước ban hành hoặc điều chỉnh khung học phí, các trường đại học xác lập mức học phí của trường trên cơ sở các yếu tố như chi phí đào tạo thực tế (chi phí đào tạo trung bình cho mỗi sinh viên), sự hấp dẫn của chuyên ngành đào tạo, mức sống và giá cả nơi trường đặt trụ sở đào tạo

- Nguồn thu từ hoạt động KHCN: Nguồn thu từ hoạt động NCKH và

Trang 38

CGCN được hình thành dựa trên việc nghiên cứu, ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh hoặc tham gia phát triển công nghệ, CGCN, thực hiện các dịch vụ tư vấn

Nguồn thu từ hoạt động NCKH có được xuất phát từ một trong các chức năng cơ bản của trường đại học là nơi triển khai các NCKH cơ bản và chuyển giao kết quả nghiên cứu phục vụ xã hội Chiến lược đa dạng hóa nguồn tài chính nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách đã buộc các trường đại học quan tâm nhiều hơn đến nguồn thu từ hoạt động này Ở các nước phát triển, hoạt động này đóng góp phần không nhỏ trong cơ cấu nguồn tài chính của các trường đại học Nguồn kinh phí thu được từ hoạt động NCKH của trường đại học có được từ các chương trình, dự án khoa học được nhà nước tài trợ hoặc thông qua việc thực hiện chương trình, dự án khoa học, CGCN và bán sản phẩm cho các doanh nghiệp

- Nguồn thu sự nghiệp khác: Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch

vụ Mức thu các hoạt động này do thủ trưởng đơn vị quyết định, theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy

c) Nguồn tài chính khác

- Các khoản viện trợ, tài trợ: Các trường ĐHCL có thể thu hút nguồn viện trợ thông qua chương trình hợp tác với các tổ chức, cá nhân để tăng nguồn đầu tư cho GDĐH;

- Nguồn vốn vay (vay vốn, huy động vốn) của các đơn vị, cá nhân: trường ĐHCL được vay vốn của các tổ chức tín dụng, huy động vốn của công chức, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ Khi thực hiện vay vốn, huy động vốn, trường ĐHCL phải có phương án tài chính khả thi, tự chịu trách nhiệm trả nợ vay, lãi vay theo quy định; chịu trách nhiệm trước pháp luật về hiệu quả của việc vay vốn, huy động vốn;

Trang 39

- Đầu tư của các tổ chức, đơn vị trong và ngoài nước;

- Các nguồn tài chính khác

Sau khi hình thành nguồn tài chính, nguồn này sẽ được sử dụng cho các mục đích cụ thể, việc quản lý các nguồn tài chính tại các trường ĐHCL cần phải đáp ứng yêu cầu tập trung đầy đủ kịp thời các nguồn tài chính để đáp ứng kịp thời nhu cầu hoạt động trong đơn vị Điều này đòi hỏi trường ĐHCL phải xây dựng được các khoản thu hợp lý, đúng theo quy định của Nhà nước, việc xây dựng kế hoạch thu của mỗi trường cần phải theo sát với tình hình thực tế của đơn vị, quy trình thu phải hợp lý và khoa học, tổ chức bộ máy thu hợp lý gọn nhẹ và hiệu quả Kiểm soát thu là khâu quan trọng, công việc này cần thực hiện thường xuyên, công khai và kịp thời, đảm bảo quá trình thu đúng, thu đủ

1.2.3.2 Quản lý sử dụng nguồn tài chính

Quản lý sử dụng nguồn tài chính tại các trường ĐHCL bao gồm: Quy

định nội dung chi; quy định mức chi và kiểm soát chi

Các trường ĐHCL được sử dụng nguồn NSNN cấp, nguồn thu sự nghiệp

và các nguồn tài chính khác để chi trả cho các hoạt động Các khoản chi được chia thành ba loại: Chi hoạt thường xuyên, chi nhiệm không thường xuyên và chi đầu tư từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn vốn vay và các nguồn tài chính hợp pháp khác

a) Chi thường xuyên: các trường ĐHCL được chủ động sử dụng các

nguồn tài chính theo quy định để chi thường xuyên Một số nội dung chi thường xuyên như sau:

- Chi tiền lương: các khoản chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị (NSNN không cấp bổ sung) và các khoản trích

Trang 40

nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn theo quy định

- Chi nghiệp vụ chuyên môn, chi quản lý: các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn (khoản chi đặc thù của đơn vị hay còn gọi là chi đặc thù của từng đơn vị) chi biên soạn giáo trình tài liệu học tập, các khoản chi mua sắm tài sản, công cụ thiết bị văn phòng, duy tu, sửa chữa thường xuyên tài sản cố định, cơ sở vật chất và các khoản chi khác theo quy định

- Trích khấu hao tài sản cố định theo quy định: Tiền trích khấu hao tài sản hình thành từ nguồn vốn NSNN hoặc có nguồn gốc từ ngân sách được hạch toán vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

b) Chi nhiệm vụ không thường xuyên: các khoản chi bao gồm chi để

thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, các khoản chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng công chức viên chức, các khoản chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, các khoản chi thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng theo giá hoặc khung giá do Nhà nước quy định, chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định, chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao, chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có), chi đầu tư phát triển bao gồm: chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài, chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết và các khoản chi khác theo quy định (nếu có)

c) Chi đầu tư

Nguồn tài chính để chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết

bị, máy móc… từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn vốn vay và các nguồn tài chính hợp pháp khác

Ngày đăng: 13/04/2021, 22:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Bùi Tiến Hanh (2007), Luận án tiến sĩ kinh tế: "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa GDĐH ở Việt Nam", Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa GDĐH ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Tiến Hanh
Năm: 2007
27. Dương Đăng Chính (2009), Giáo trình “Lý Thuyết Tài Chính”, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Thuyết Tài Chính
Tác giả: Dương Đăng Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2009
28. Dương Đăng Chinh, Phạm Đăng Khoan (2009), Giáo trình “Quản lý tài chính công”, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính công
Tác giả: Dương Đăng Chinh, Phạm Đăng Khoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2009
29. Đặng Văn Du (2004), "Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo ĐH ở Việt Nam", Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo ĐH ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Du
Năm: 2004
33. Lê Phước Minh (2005), "Hoàn thiện chính sách tài chính cho GDĐH Việt Nam", Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách tài chính cho GDĐH Việt Nam
Tác giả: Lê Phước Minh
Năm: 2005
35. Lương Văn Hải (2011), “Vai trò của Nhà nước trong mở rộng quyền tự chủ của các trường ĐHCL Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhà nước trong mở rộng quyền tự chủ của các trường ĐHCL Việt Nam
Tác giả: Lương Văn Hải
Năm: 2011
37. Mai Ngọc Cường, Trần Thị Thanh Nga (2015), “Một số gợi ý chính sách đa dạng hóa các nguồn tài chính đối với phát triển đào tạo ở các trường ĐHCL hiện nay”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 221, T11/ 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số gợi ý chính sách đa dạng hóa các nguồn tài chính đối với phát triển đào tạo ở các trường ĐHCL hiện nay
Tác giả: Mai Ngọc Cường, Trần Thị Thanh Nga
Năm: 2015
38. Nguyễn Đình Cung (2016), “Điển hình doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam”, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển hình doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Cung
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2016
42. Nguyễn Thị Yến Nam (2013), "Bước đầu tìm hiểu về quản lý tài chính trong GDĐH theo hướng tự chủ", Tạp chí Khoa học, ĐH Sư phạm TP.HCM, (54), tr. 155-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu về quản lý tài chính trong GDĐH theo hướng tự chủ
Tác giả: Nguyễn Thị Yến Nam
Năm: 2013
43. Nguyễn Anh Thái (2008), “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường ĐH ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường ĐH ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Anh Thái
Năm: 2008
46. Phạm Thị Ly (2008), Xây dựng một hệ thống quản trị ĐH hiệu quả: Kinh nghiệm của Hoa Kỳ và khả năng vận dụng tại Việt Nam (Đăng trong sách “Đổi mới GDĐH Việt Nam - Hai thời khắc đầu thế kỷ”, trang 211-241, NXB Văn hóa Saigon, 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới GDĐH Việt Nam - Hai thời khắc đầu thế kỷ
Tác giả: Phạm Thị Ly
Nhà XB: NXB Văn hóa Saigon
Năm: 2008
70. Viện Nghiên cứu lập pháp (Ủy ban Thường vụ Quốc hội), Thông tin chuyên đề “Tự chủ ĐH: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, Tài liệu phục vụ Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIV, tháng 05/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự chủ ĐH: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
71. Vũ Duy Hào (2005), “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường ĐHCL khối kinh tế ở Việt nam”, Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường ĐHCL khối kinh tế ở Việt nam
Tác giả: Vũ Duy Hào
Năm: 2005
1. Ban chấp hành Trung ương (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Khác
2. Ban chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về việc tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập Khác
3. Bộ Công Thương (2017), Quyết định số 4805/QĐ-BCT ngày 26/12/2017 về việc ban hành Quy định tạm thời thẩm quyền về tổ chức, biên chế, quản lý cán bộ, công chức, viên chức đối với các Vụ, Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ, Tổng Cục, Cục và đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Khác
4. Bộ Công Thương (2019), Quyết định số 2255/QĐ-BCT ngày 29/07/2019 về việc ban hành Quy định tạm thời thẩm quyền về tổ chức, biên chế, quản lý cán bộ, công chức, viên chức đối với các Vụ, Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ, Tổng Cục, Cục và đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Khác
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế "Đổi mới mô hình quản trị của các trường ĐH khối kinh tế tại Việt Nam&#34 Khác
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Báo cáo kết quả đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 77 /NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017 Khác
7. Bộ Nội vụ (2017), Đề án đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, tổ chức lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w