Trước thực trạng trên, việc thực hiện chủ trương tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn huyện là hết sức cần
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Nguyễn Trọng Hiếu, học viên lớp Cao học, chuyên ngành Luật Kinh tế, khóa học 2018 - 2020, xin cam đoan đây là công trình độc lập của riêng tôi mà không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, có xác nhận của cơ quan cung cấp số liệu Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi được thực hiện một cách khoa học, trung thực, khách quan Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các nguồn số liệu cũng như các thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Nguyễn Trọng Hiếu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học Mở Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian tôi học chương trình Cao học luật tại cơ sở đào tạo
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS Trần Quang Huy, người thầy
đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt bản luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Luật, phòng Đào tạo Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định
mà tự bản thân không thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Trọng Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN IV MỤC LỤC V DANH MỤC BẢNG VII DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VIII MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI LIÊN QUAN ĐẾN TÍCH TỤ, TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT ĐỂ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về quản lý Nhà nước về đất đai liên quan đến tích tụ, tập trung ruộng đất 6
1.1.1 Tích tụ và tập trung ruộng đất 6
1.1.2 Phương thức tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 9
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp 11
1.2.1 Các nhân tố chủ quan 11
1.2.2 Các nhân tố khách quan 12
1.3 Một số kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về đất đai liên quan đến tích tụ ruộng đất 15
1.3.1 Kinh nghiệm thực hiện tích tụ ruộng đất của thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam 50
1.3.2 Kinh nghiệm thực hiện tích tụ ruộng đất của huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM 17
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội huyện Lý Nhân 17
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 17
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 19
2.2 Thực tiễn việc thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam 22
2.2.1 Tình hình thực hiện tích tụ ruộng đất để sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam 22
2.2.2 Kết quả tích tụ ruộng đất 32
2.2.3 Kết quả đầu tư, sản xuất trong các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn huyện Lý Nhân 36
Trang 62.3 Đánh giá thực trạng thực hiện tích tụ ruộng đất để sản xuất nông nghiệp của
huyện Lý Nhân 44
2.3.1 Những kết quả đạt được 44
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của sự hạn chế 46
Kết luận chương 2 55
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI ĐỂ TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LÝ NHÂN 56
3.1 Định hướng thực hiện tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp đối với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Lý Nhân 56
3.1.1 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Lý Nhân đến năm 2025 56
3.1.2 Định hướng phát triển nông nghiệp 58
3.2 Bài học kinh nghiệm và một số giải pháp thực hiện tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện 60
3.2.1 Bài học kinh nghiệm 60
3.2.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về đất đai để tích tụ ruộng đất phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân 61
3.2.3 Một số kiến nghị 64
Kết luận chương 3 67
KẾT LUẬN 68
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp diện tích quy hoạch, đã tích tụ, giao cho doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại huyên Lý Nhân……… …… 36 Bảng 2.2 Tổng hợp kinh phí đầu tư tại các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao huyện Lý Nhân 37 Bảng 2.3 Bảng tổng hợp tình hình sản xuất tại các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao huyện Lý Nhân 40 Bảng 2.4 Bảng tổng hợp kết quả triển khai các mô hình sản xuất lúa hàng hoá làm
vệ tinh liên kết với các doanh nghiệp NNUDCNC năm 2018-2019 42
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/ký hiệu Cụm từ đầy đủ
CN-TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
NNUDCNC Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định “khuyến khích tập trung
ruộng đất, phát triển trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy mô
và điều kiện của từng vùng” Như vậy, việc tích tụ, tập trung ruộng đất là bước
đi cần thiết, đáp ứng đòi hỏi của tính hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Tuy nhiên, trong những năm qua việc thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất đã diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước với nhiều cách thức triển khai
đa dạng, sáng tạo, song thực tiễn kết quả triển khai tích tụ, tập trung ruộng đất còn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc, hiệu quả chưa cao
Huyện Lý Nhân được xác định là huyện sản xuất nông nghiệp trọng điểm của tỉnh Hà Nam; trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn và đã đạt được những kết quả quan trọng
Nông nghiệp có bước phát triển khá toàn diện, cơ cấu nội bộ ngành chuyển dịch tích cực Diện tích sản xuất nông nghiệp hiện nay duy trì trên
9.800ha Hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được đầu tư nâng cấp, diện mạo nông
thôn có nhiều khởi sắc, đời sống nhân dân được cải thiện
Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn những tồn tại, hạn chế đó là: Ruộng đất nông nghiệp tuy đã được dồn đổi nhưng bình quân diện tích theo khẩu và
hộ thấp nên quy mô sản xuất nhỏ, chi phí sản xuất cao vì vậy giá trị sản xuất nông nghiệp còn thấp nên thu nhập của người nông dân không cao Việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp còn chậm
Trước thực trạng trên, việc thực hiện chủ trương tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn huyện là hết sức cần thiết, tạo bước đột phá phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại nhằm tăng năng suất, chất lượng nông sản, giá trị sản phẩm tăng, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, không ảnh hưởng môi trường
và thích ứng với biến đổi khí hậu Từng bước thay đổi tập quán sản xuất nông
Trang 10nghiệp nhỏ lẻ, tự phát, thiếu liên kết chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ nông sản Mặt khác sẽ thu hút các doanh nghiệp đầu tư ứng dụng công nghệ,
kỹ thuật cao vào sản xuất nông nghiệp và tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm, nâng cao thu nhập cho người nông dân
Để tìm hiểu rõ về những chính sách pháp luật có liên quan và kết quả thực tiễn áp dụng tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp,
tôi chọn đề tài: “Tích tụ ruộng đất để sản xuất nông nghiệp theo pháp luật đất đai Việt Nam từ thực tiễn tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam” để nghiên
cứu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tích tụ ruộng đất để sản xuất nông nghiệp là vấn đề đang được Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành, các địa phương rất quan tâm Tác giả đã tham khảo một số đề tài nghiên cứu về quản lý đất đai, tích tụ ruộng đất như sau:
- Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2011 của Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh trường Đại học Lâm nghiệp, người chủ trì: ThS Phạm Thanh Quế Đề tài đã tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình tích tụ và tập trung đất đai đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn
- Bài viết “Tích tụ và tập trung đất đai: cơ sở lý luận và thực tiễn cho phát triển nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Kim Chung trên Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2018
- Bài viết “Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt
Nam trong điều kiện mới” của tác giả Nguyễn Quang Thuấn trên báo điện tử
của Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam 2020
- Bài viết "Một số vấn đề về tích tụ, tập trung đất đai trong phát triển
nông nghiệp và nông thông hiện nay" của tác giả Nguyễn Đình Bồng - Nguyễn
Thị Thu Hồng, Tạp chí Cộng sản 2017
- Bài viết "Tích tụ, tập trung ruộng đất nông nghiệp: các hình thức và
giải pháp" của tác giả Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Tạp chí Cộng sản 2017
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Tích tụ, tập trung đất nông nghiệp để
Trang 11học Luật Hà Nội, tác giả Nguyễn Thị Thuý Văn, Ngô Thị Loan, Nguyễn Thị Thanh Hiền; PGS TS Nguyễn Thị Nga hướng dẫn
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Pháp luật về cho thuê đất để thực hiện các
dự án đầu tư và thực tiễn thi hành” tác giả Bùi Huyền Trang; TS Phạm Thu
Thuỷ hướng dẫn
Các bài viết, công trình nghiên cứu về tích tụ ruộng đất để sản xuất nông nghiệp đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận và thực tiễn về tích tụ ruộng đất, nhưng chưa có nghiên cứu nào luận giải một cách đầy đủ và có hệ thống
về vấn đề tích tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp riêng tại huyện
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về tích
tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong trong lĩnh vực này
Những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp chủ yếu và kiến nghị góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, thực hiện tốt việc tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện
Lý Nhân trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn tích tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nông nghiệp
+ Thực tiễn áp dụng tích tụ, tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp tại địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam và một số địa phương khác
Trang 12+ Nghiên cứu để rút ra các bài học kinh nghiệm, một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về đất đai để tích tụ, tập trung ruộng đất phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời kết hợp các phương pháp như: Tổng hợp, đối chiếu so sánh; thống kê, phân tích
Cụ thể:
Chương 1: Nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin trên cơ sở tìm hiểu các vẫn đề về lý luận về quản lý đất đai liên quan đến tích tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp
Kết hợp phương pháp liệt kê các tài liệu nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp thu thập số liệu; Phương pháp phân tích-tổng
hợp, dùng số liệu để phân tích, so sánh đánh giá
Chương 3: Phương pháp phân tích, đánh giá để rút ra các Bài học kinh
nghiệm cũng như việc nhận định tình hình để đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về đất đai để tích tụ, tập trung ruộng đất phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân nói riêng
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý đất đai liên quan đến tích
tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định về tích tụ, tập trung ruộng đất
trong sản xuất nông nghiệp tại địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
Trang 13- Chương 3: Bài học kinh nghiệm, một số giải pháp chủ yếu nhằm thực
hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về đất đai để tích tụ, tập trung ruộng đất phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI LIÊN QUAN ĐẾN TÍCH TỤ, TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT ĐỂ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1.1 Một số vấn đề lý luận về quản lý Nhà nước về đất đai liên quan đến tích tụ, tập trung ruộng đất
1.1.1 Tích tụ và tập trung ruộng đất
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế, đặc biệt là ở vùng nông thôn, đất vẫn là của cải chính và là nguồn sinh kế đảm bảo cuộc sống Không có đất đai thì không thể có sản xuất nông nghiệp Do đó, các chính sách và những quy định của pháp luật về đất đai có tác động lớn tới hiệu quả sử dụng đất và ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, xã hội của đất nước
Ở Việt Nam, nông nghiệp luôn giữ vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, ngành nông nghiệp đóng góp 14,57% GDP cả nước (năm 2018) Đây
là ngành cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội, cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Bên cạnh
đó, nông nghiệp còn góp phần tham gia vào thị trường xuất khẩu, phát triển nông nghiệp cũng đồng thời thúc đẩy thị trường tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, ngoài ra việc quan tâm phát triển nông nghiệp cũng góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường
Tuy nhiên, do lịch sử và thói quen canh tác, đất đai nông nghiệp ở Việt Nam bị phân tán thành nhiều mảnh, manh mún, nông nghiệp nước ta phát triển chưa bền vững, sản xuất nông nghiệp nhìn chung còn mang tính nhỏ lẻ, phân tán theo quy mô nông hộ là chủ yếu, tốc độ tăng trưởng chậm; cơ giới hoá trong các khâu sau thu hoạch, chế biến còn thấp Công tác xúc tiến thương mại chưa thực sự hiệu quả, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp chưa nhiều, đầu ra của sản phẩm nông nghiệp thiếu ổn định, chưa tạo ra được bước đột phá trong sản xuất nông nghiệp
Để phát triển nông nghiệp bền vững, khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, đưa cơ giới hoá vào phát triển nông nghiệp hiện đại theo hướng sản xuất hàng hoá thì tích tụ, tập trung ruộng đất là yêu cầu vô cùng quan trọng, là
Trang 15Tích tụ ruộng đất là việc người sử dụng đất gia tăng diện tích đất thuộc
quyền sử dụng/quyền sở hữu của mình thông qua các hình thức mua, bán hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng/quyền sở hữu đất của những người
khác Tích tụ ruộng đất thì sẽ làm thay đổi quyền sử dụng/quyền sở hữu đất từ
người này sang người khác, tức là người này mua hẳn ruộng đất của người kia Người sử dụng ổn định, lâu dài, yên tâm sản suất nhưng mặt khác, người nông dân sẽ bị mất đất
Tập trung ruộng đất là việc tập hợp ruộng đất nông nghiệp thông qua
hình thức liên kết, hợp tác, chuyển đổi hoặc cho thuê quyền sử dụng đất của người khác (tức là không làm thay đổi quyền sử dụng/quyền sở hữu đất)
Như vậy, hình thức "Tích tụ ruộng đất" có ưu điểm đối với cá nhân người
mua đất vì họ có quyền sử dụng đất lâu dài, nhưng nhược điểm về mặt xã hội thì rất lớn vì nó khiến một số lượng lớn nông dân mất đất canh tác, tạo ra nguy
cơ bất ổn xã hội
Với sự ra đời của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ chính trị khoá VI ngày 5 tháng 4 năm 1988 (chính sách khoán 10), ruộng đất đã được giao cho các hộ dân và quyền sử dụng đất của nông dân được công nhận trong Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi Luật đất đai năm 2003 và với những điểm mới của Luật đất đai 2013 đã góp phần đẩy nhanh sự phát triển sản xuất nông nghiệp thông qua việc tích tụ ruộng đất và tập trung ruộng đất Khoản 2 Điều 73 Luật
đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nước có chính sách khuyến khích việc thuê
quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế,
hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án, công trình sản xuất, kinh doanh”
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đã khẳng định: Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất Đồng thời, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ, tập trung đất đai, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hoá
Trang 16lớn trong nông nghiệp Việc quy định về tích tụ và tập trung ruộng đất đã đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đồng thời phải góp phần ổn định chính trị, xã hội của đất nước Coi trọng vấn đề quyền, lợi ích lâu dài và bền vững của người nông dân; đảm bào hài hòa lợi ích của người sử dụng đất, nhà nước và nhà đầu tư; tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp
Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất.1
Chuyển đổi quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho nhau theo quy định của pháp luật đất đai và Luật dân sự
Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó các bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng
Thuê quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên cho thuê chuyển giao đất cho bên thuê đất để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê và trả lại đất khi hết thời hạn thuê Bên thuê phải sử dụng đất theo đúng mục đích đã được Nhà nước quy định.2
Thuê lại quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê lại chuyển giao cho bên cho thuê lại để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê lại phải trả tiền thuê và trả lại đất khi hết thời hạn thuê
Thừa kế quyền sử dụng đất là việc để lại quyền sử dụng đất của người
đã chết sang cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật3
Thế chấp quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên sử dụng đất (gọi là các bên thế chấp) dùng quyền sử dụng đất của mình để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên kia (gọi là bên nhận thế chấp)
Trang 17Bên thế chấp được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế chấp Bên nhận thế chấp được giao giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bên thế chấp4
Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất là việc các chủ thể sử dụng đất đem quyền sử dụng đất góp lại để hình thành các hợp tác xã hoặc tham gia liên doanh liên kết sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự phát triển kinh tế
1.1.2 Phương thức tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
1.1.2.1 Tính tất yếu của việc tích tụ, tập trung ruộng đất
Đất đai với vai trò là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế của nông nghiệp, đất tham gia vào quá trình sản xuất ra lương thực, thực phẩm, đảm bảo nhu cầu ăn, mặc, ở cho con người Sản xuất nống nghiệp không chỉ để làm ra
đủ lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu trong nước mà còn phải hướng đến xuất khẩu Do đó, việc quản lý, sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, để phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Tuy nhiên, sau hơn 30 năm đổi mới, cơ cấu kinh tế của nước ta đã có những thay đổi chuyển dịch mạnh mẽ, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP (năm 2018) Do đó việc đóng góp của nông nghiệp trong tổng thu nhập ngày càng giảm nên, vai trò là tư liệu sản xuất quan trọng nhất của đất đồng thời cũng giảm sút đáng kể Tình trạng ruộng đất manh mún
là một trong những rào cản ảnh hưởng đến phát triển sản xuất nông nghiệp; sản xuất nông nghiệp thời gian qua phổ biến dựa trên sản xuất nông hộ quy mô nhỏ, thiếu liên kết và gặp khó khăn trong thực hiện cơ giới hóa, hiện đại hóa trong làm đất, chăm sóc, thu hoạch, chế biến; hạn chế khả năng tiếp cận vốn, ứng dụng khoa học và công nghệ, quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm,
do đó cần phải thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp đạt hiệu quả
Với sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu ngành, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; Khu vực dịch vụ chiếm 41,17% (năm 2018) dẫn đến tỷ trọng lao động trong nông nghiệp cũng giảm còn khoảng 40% tổng lao động xã hội Như vậy, dưới tác động và sức hút tự nhiên của quá trình công nghiệp hóa,
4 Điều 317 Bộ Luật dân sự 2015
Trang 18hiện đại hóa nền kinh tế và đô thị hóa, xuất hiện tình trạng nông dân “bỏ ruộng” ngày càng nhiều, đây cũng là một trong các yếu tố tác động tạo điều kiện để tích tụ, tập trung ruộng đất cho phát triển nền nông nghiệp hàng hóa
Bên cạnh đó, việc thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất giúp phát triển kinh tế hộ gia đình trong quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hóa quy mô lớn Một bộ phận hộ gia đình nông dân có kinh nghiệm sản xuất, sử dụng đất hiệu quả, có thu nhập, có nguồn vốn có thể thông qua các hình thức giao dịch dân sự để nhận chuyển quyền sử dụng đất, mở rộng quy mô sử dụng đất
1.1.2.2 Phương thức tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
Việc tích tụ, tập trung đất nông nghiệp được thực hiện thông qua các phương thức sau đây:
- Dồn đổi ruộng đất nông nghiệp;
- Thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp;
- Liên kết, hợp tác để tổ chức sản xuất nông nghiệp;
- Nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp;
- Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp
Dồn đổi ruộng đất nông nghiệp: Là phương thức giúp giảm số thửa và tăng diện tích các thửa của hộ, khắc phục tình trạng ruộng đất nông nghiệp manh mún, một hộ nhiều thửa ruộng Phương thức này được thực hiện chủ yếu đối với đất lúa tại đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ
Thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp: Đây là hình thức phổ biến để tăng quy mô diện tích đất nông nghiệp, đưa ruộng đất đến tay người sử dụng hiệu quả nhất và qua đó giúp tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Khi thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp người cho thuê vẫn giữ được quyền sử dụng đất, tránh được tình trạng bỏ hoang đất nông nghiệp không sản xuất Hình thức thuê quyền sử dụng đất sẽ giảm được chi phí so với việc phải mua đất nông nghiệp để sản xuất Có thể là việc thuê đất giữa các hộ dân hoặc cũng có thể là doanh nghiệp thuê đất Như vậy, đây là phương thức đang rất được quan tâm áp dụng rộng rãi vì nó mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 19Liên kết, hợp tác để tổ chức sản xuất nông nghiệp: Phương thức này có thể là các hộ nông dân có đất hợp tác lại với nhau dưới hình thức Hợp tác xã, hoặc cũng có thể là doanh nghiệp liên kết sản xuất với hộ nông dân Phương thức này sẽ hình thành được mối liên kết hợp tác giúp đỡ nhau cùng phát triển sản xuất, áp dụng được quy trình kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất và chế biến
và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp: Bằng phương thức này, hộ nông dân có thể góp đất với doanh nghiệp hoặc Hợp tác xã, vốn góp được tính tương đương với giá trị đất đã góp, hình thức này người nông dân vẫn giữ được quyền sử dụng đất, tuy nhiên, phương thức này chưa được áp dụng phổ biến
Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp: Phương thức này cũng có thể thực hiện giữa các hộ với nhau hoặc giữa doanh nghiệp với các hộ Việc nhận chuyển nhượng sẽ giúp các hộ dân, doanh nghiệp yên tâm đầu tư phát triển nông nghiệp lâu dài Tuy nhiên, việc tích tụ, tập trung ruộng đất qua phương thức mua bán chuyển nhượng cũng có những khó khăn nhất định như việc người dân chỉ thoả thuận và không hoàn thiện được đầy đủ các thủ tục pháp lý dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện Còn đối với các doanh nghiệp thì việc nhận chuyển nhượng sẽ ảnh hưởng đến vấn đề phải bỏ vốn đầu tư lớn do giá chuyển nhượng sẽ cao hơn các phương thức khác mà lợi nhuận đầu tư vào nông nghiệp không thể cao và nhanh như các ngành, lĩnh vực khác
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp
1.2.1 Các nhân tố chủ quan
- Yếu tố tâm lý truyền thống của người nông dân ảnh hưởng đến việc thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp, đa phần người nông dân coi ruộng đất là tài sản thừa kế từ đời này sang đời khác nên còn có hiện tượng chia thừa kế ruộng đất cho con cái dẫn đến hiện tượng ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ
- Ngoài ra, người nông dân luôn có tâm lý coi ruộng đất là tài sản gắn bó
vô cùng quan trọng cả cuộc đời, là sinh kế của họ, nên không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngay cả khi họ sản xuất nông nghiệp trên mảnh
Trang 20ruộng đó không hiệu quả Người nông dân vẫn có tâm lý lo lắng khi không gắn
bó với ruộng đồng thì các ngành nghề khác cũng không đảm bảo cuộc sống ổn định cho họ
- Việc đầu tư vào phát triển nông nghiệp hiện nay đã có nhiều khởi sắc Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp không thể thu hồi vốn nhanh như các ngành khác, lợi nhuận thường thấp hơn so với công nghiệp, lại hay gặp rủi ro, nên đây
là ngành không hấp dẫn, không dễ dàng thu hút đầu tư như các ngành nghề khác, do đó cũng hạn chế quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp quy mô lớn
Tại Điều 126 Luật đất đai năm 2013 quy định:
“1 Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với
hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm b khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 129 của Luật này là 50 năm Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản này
2 Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm Khi hết thời hạn thuê đất, hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất
3 Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; tổ chức để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm
Trang 21Đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất không quá 70 năm
Đối với dự án kinh doanh nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp với cho thuê hoặc để cho thuê mua thì thời hạn giao đất cho chủ đầu tư được xác định theo thời hạn của dự án; người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất được sử dụng đất ổn định lâu dài
Khi hết thời hạn, người sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản này”
Như vậy, với việc quy hoạch quỹ đất nông nghiệp ổn định, thời hạn giao đất 50 năm, hết hạn nếu phù hợp quy hoạch và không vi phạm trong quá trình
sử dụng đất thì tiếp tục được gia hạn, tạo điều kiện cho người dân và các tổ chức kinh tế yên tâm, mạnh dạn đầu tư vốn, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, phát triển những vùng sản xuất hàng hóa tập trung trong nông nghiệp
Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; định giá đất; thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Người sử dụng đất nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ có đủ các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất
Về hạn mức giao đất nông nghiệp được quy định cụ thể tại Điều 129 Luật đất đai năm 2013
Về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, Luật đất đai năm 2013 đã cho phép hộ gia đình, cá nhân nhận
Trang 22chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp
Còn đối với các doanh nghiệp, Nhà nước không quy định hạn mức nhận quyền sử dụng đất, đối với các dự án sản xuất, kinh doanh, nhà đầu tư được thỏa thuận nhận chuyển nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất
để có đất thực hiện dự án Đặc biệt, Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày
25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ “Về chính sách khuyến khích phát triển
hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn”,
đã khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn đối với các hộ gia đình, cá nhân tự nguyện tham gia tổ liên kết để tạo cánh đồng lớn, hỗ trợ nhau trong sản xuất về giống, kỹ thuật, chất lượng sản phẩm đầu ra
Luật đất đai năm 2013 quy định chặt chẽ về cơ chế bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất nông nghiệp, ngăn chặn được đầu cơ, đồng thời tạo nguồn vốn cho người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp Đồng thời, Luật đất đai năm 2013 cũng quy định các trường hợp nhà đầu tư phải thực hiện thỏa thuận với người sử dụng đất thông qua các hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh, nhà đầu tư có nhiều phương án để thỏa thuận với người sử dụng đất
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của các cấp chính quyền ở địa phương
Đây cũng là một nhân tố có tính đặc thù cần được quan tâm vì có tác động, ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp Tính đặc thù đó thường được biểu hiện ở những đặc điểm tự nhiên về địa hình (như miền núi, vùng đồng bằng, đô thị ), vùng có địa thế đặc biệt hay có điều kiện kinh tế đặc biệt hoặc có điều kiện xã hội đặc biệt (như dân tộc, tôn giáo, trình độ dân trí, phong tục tập quán ) Ở những vùng, những địa phương này cần phải tính đến những yếu tố tác động đến việc tích tụ ruộng đất sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế - xã hội và các ngành nghề đặc thù ở địa phương
Trang 23- Mặt khác, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rất cao, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, do đó cũng hạn chế việc sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn mà chủ yếu mô hình kinh tế trang trại gia đình lại phát triển, điều đó đồng nghĩa với việc thực hiện tích tụ ruộng đất để sản xuất nông nghiệp cũng phần nào chịu tác động, ảnh hưởng
Trang 24Kết luận chương 1
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở khoa học về tích tụ, tập trung ruộng đất
để phát triển sản xuất nông nghiệp, cụ thể:
- Luận giải khái niệm tích tụ, tập trung ruộng đất
- Luận giải các khái niệm về tích tụ, tập trung ruộng đất; dồn đổi ruộng đất nông nghiệp; thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp; liên kết, hợp tác để tổ chức sản xuất nông nghiệp; nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp
- Phân tích các nhân tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương tích tụ, tập trung ruộng đất nông nghiệp
Những vấn đề lý luận trên sẽ được vận dụng để phân tích, đánh giá thực thực tiễn quá trình thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
Trang 25Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN LÝ NHÂN,
TỈNH HÀ NAM
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội huyện Lý Nhân
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Lý Nhân, là một huyện nằm ở phía Đông tỉnh Hà Nam, nằm giữa 2 con sông là sông Châu Giang và sông Hồng, là một huyện vùng chiêm trũng, chủ yếu là trồng cấy cây nông nghiệp, cũng là một huyện nằm cách xa trung tâm tỉnh, thành phố Phủ Lý 14km
Phía Bắc giáp với thành phố Hưng Yên, phía Đông Bắc giáp huyện Tiên
Lữ (đều thuộc tỉnh Hưng Yên) với sông Hồng là ranh giới tự nhiên; phía Tây
và Tây Bắc giáp huyện Duy Tiên, với sông Châu Giang làm đường phân ranh giới; phía Tây Nam và Nam tiếp giáp với huyện Bình Lục (cùng tỉnh) và phía Nam giáp với huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định), cùng với sông Châu Giang làm đường phân ranh giới tự nhiên Ở phía Đông, đối diện với các huyện Hưng
Hà và Vũ Thư thuộc tỉnh Thái Bình nằm bên tả ngạn sông Hồng
Huyện Lý Nhân có 20 xã và một thị trấn, dọc theo huyện có đường Quốc
lộ 38B chạy qua từ đầu huyện đến cuối huyện với tổng chiều dài là 31,75km,
02 tuyến đường tỉnh ĐT.491 (10,75km), ĐT.492 (15,5km), tuyến đường nối hai cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và Cầu Giẽ - Ninh Bình; đường huyện 59,8km, đường xã 263.6km, đường xóm 302.8km, đê Sông Hồng 27.3km,
Do điều kiện địa lý như vậy nên việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước rất thuận lợi, nhanh chóng Việc chỉ đạo, kiểm tra tới các cơ quan đơn vị, các địa phương trực thuộc cũng có nhiều thuận tiện
2.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
* Địa hình:
Hướng dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam tương đối bằng phẳng Độ cao phổ biến từ + 3,0m đến +3,5m, địa hình cao thấp không đồng đều như ở các xã: Hợp Lý, Nguyên Lý, Đức Lý, Bắc Lý, Nhân Mỹ, Nhân Chính, Hoà Hậu
Trang 26từ tháng 10 đến giữa tháng 11; nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23oC -
24oC, số giờ nắng trung bình khoảng 1.300 giờ - 1.500 giờ/năm Trong năm, thường có 8 - 9 tháng có nhiệt độ trung bình trên 20oC
* Thủy văn:
Lượng mưa trung bình 1.900 mm/năm (cao nhất là 3.176mm, thấp nhất
là 1.265,3mm) Ngoài ra, trên địa bàn huyện có hai con sông lớn chảy qua (sông Hồng và sông Châu Giang), đảm bảo cấp nước cho sản xuất và dân sinh
2.1.1.4 Tài nguyên
* Tài nguyên nước:
Huyện Lý Nhân được bao bọc từ hai con sông (sông Hồng và sông Châu Giang) và các nguồn khác như: nước mưa, ao hồ, nước ngầm
Tổng diện tích đất tự nhiên: 16.884,31ha, trong đó:
- Diện tích đất nông nghiệp: 11.404,56ha
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 9.804,68ha;
+ Đất nuôi trồng thủy sản: 1.361,68ha;
+ Đất nông nghiệp khác: 238,20ha);
- Diện tích đất phi nông nghiệp: 5.396,42ha
+ Đất ở: 1.267,49ha;
Trang 27+ Đất tôn giáo: 45,56ha;
+ Đất tín ngưỡng: 40,3ha;
+ Đất nghĩa trang: 204,5ha;
+ Đất sông ngòi, kênh: 1.076,20ha;
+ Đất mặt nước chuyên dùng: 87,84ha;
+ Các loại đất phi nông nghiệp khác: 2.674,53ha;
- Diện tích đất chưa sử dụng: 83,335ha
* Tài nguyên du lịch:
Huyện có tiềm năng để phát triển một số loại hình du lịch, trong đó, nổi bật là Lễ hội đền Trần Thương, đền bà Vũ, khu tưởng niệm 32 cụ già và thanh thiếu niên Đức Bản xã Nhân Nghĩa, khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao, nhà Bá Kiến,
Trong giai đoạn 2016 - 2019, dù tình hình kinh tế thế giới cũng như cả nước còn gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên tình hình kinh tế - xã hội của huyện
Lý Nhân đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được kết quả tốt
Năm 2019 thu nhập bình quân đầu người đạt 47,25 triệu
đồng/người/năm Thu ngân sách trên địa bàn huyện đạt 153,83 tỷ đồng Cơ cấu
kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (năm 2019: Nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản: 24,8%; Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng: 43,7%; Thương mại, dịch vụ: 31,5%)6
.
Trang 28Huyện ủy, UBND huyện Lý Nhân đã lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát cùng với
sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở và nỗ lực của mỗi người dân, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm qua
có nhiều chuyển biến tích cực, cơ cấu kinh tế ngành cũng có những sự chuyển dịch lớn; các ngành nông nghiệp, thủy sản, thương mại dịch vụ được chú trọng đầu tư Cụ thể:
- Nông nghiệp: Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, phát triển ngành nghề dịch vụ ở nông thôn Người dân đã mạnh dạn đầu tư, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong việc sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tăng hiệu quả kinh tế
Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng NTM”; cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh”; “Phụ nữ chung sức xây
dựng NTM”; “Nông dân chung sức xây dựng NTM” được triển khai mạnh
mẽ, với tinh thần “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Nguyên tắc tập trung dân chủ theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân hưởng lợi” được
phát huy hiệu quả; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia giữ gìn,
vệ sinh đường làng, ngõ xóm, tạo cảnh quan nông thôn sáng - xanh - sạch - đẹp được phát động, triển khai sâu rộng và được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng Đến hết năm 2019, huyện đã có 100% số xã trên địa bàn huyện đạt chuẩn NTM
Thực hiện chủ trương của tỉnh Hà Nam về phát triển nền sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, quy hoạch các vùng có quy mô lớn để trồng lúa, rau, củ, quả sạch hướng tới xuất khẩu Huyện Lý Nhân đã thực hiện thành công chủ trương tích tụ, tập trung ruộng đất của các hộ nông dân để cho doanh nghiệp thuê đất sản xuất nông nghiệp ứng dụng cao, thu hút nguồn lao động lớn tại địa phương với mức lương từ 04 - 07 triệu đồng và các HTX trên địa bàn làm vệ tinh cho doanh nghiệp
- Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp: Giá trị sản xuất CN-TTCN đạt tốc
độ tăng trưởng khá cao, bình quân 15%/năm, năm 2019 đạt 5.175,3 tỷ đồng7; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và làng
Trang 29nghề tiếp tục tăng trưởng Qua đó đã tạo điều kiện cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong xã hội theo hướng tích cực
Trên địa bàn huyện hiện có 418 doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, Huyện đã được UBND tỉnh công nhận 15 làng nghề truyền thống tiểu thủ công nghiệp, 07 làng nghề tiểu thủ công nghiệp và 27 làng có nghề Các sản phẩm tiêu biểu làng nghề gồm: hàng may mặc, sợi OE, khăn, vải các loại, bánh đa nem, cá kho Nhân Hậu, rượu Hợp Lý, đồ gỗ mỹ nghệ…
- Thương mại dịch vụ: UBND huyện đã tiến hành nâng cấp, cải tại một
số chợ đầu mối Hiện tại trên địa bàn huyện đã có 01 siêu thị Lan Chi, 01 trung tâm thương mại Tiến Lộc, góp phần thúc đẩy giao thương, cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhân dân Năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu Dịch
vụ - Thương mại trên địa bàn đạt 4.300 tỷ đồng; giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 15,06 triệu USD8 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dưa bao tử muối, dệt may, gia công đồ mây tre đan và các sản phẩm gỗ công nghiệp
- Giao thông vận tải: Huyện đã phối hợp với các ngành chức năng cấp trên hoàn thành việc xây dựng, nâng cấp nhiều dự án giao thông lớn như: Dự
án cầu Thái Hà, cầu Hưng Hà; dự án đường nối hai cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với Cầu Giẽ - Ninh Bình; dự án nâng cấp Quốc lộ 38B, đường ĐT 492 , đã tạo diện mạo mới cho huyện Lý Nhân Cùng với đó là việc triển khai các dự án nâng cấp đường huyện, hệ thống đường trục xã, đường nội đồng, đã góp phần đảm bảo an toàn giao thông và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Xã hội: Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, nâng cao rõ rệt Văn hóa xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ An ninh, chính trị, trật
tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện được ổn định và giữ vững
Chất lượng giáo dục, đào tạo được duy trì ổn định, công tác đào tạo, dạy nghề và giải quyết việc làm được quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả tích cực Chương trình giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được triển khai tích cực, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt năm 2019 đạt 65% Bên cạnh
đó, công tác vệ sinh môi trường cũng được cải thiện, tỷ lệ thu gom rác thải trên địa bàn huyện năm 2019 đạt 95,5%, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch là
Trang 30
99%9
Hệ thống y tế khám chữa bệnh từ huyện đến cơ sở được củng cố, tăng cường cả về vật chất và cán bộ, đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được quan tâm duy trì và phát triển nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân trong huyện
Dưới sự lãnh đạo của Thường trực Huyện uỷ, Thường trực HĐND, Lãnh đạo UBND huyện đã phát huy mạnh mẽ tinh thần làm chủ của nhân dân lao
động Quyết tâm xây dựng để huyện xứng đáng với danh hiệu “Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân” mà Đảng và Nhà nước đã trao tặng
2.2 Thực tiễn việc thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
2.2.1 Tình hình thực hiện tích tụ ruộng đất để sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
2.2.1.1 Các căn cứ pháp lý thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất
- Văn kiện Đại hội Đảng khóa VII, Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2 (khóa VII), Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khóa VIII) và Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị năm 1999;
- Đại hội IX của Đảng đã quyết định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta 10 năm (2001-2010), trong đó, nông nghiệp, nông thôn được quan tâm đặc biệt;
- Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 12/3/2003 tại Hội nghị lần thứ VII BCH Trung ương Đảng (khóa IX) về việc tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã nêu
rõ: “Khuyến khích tích tụ đất đai, sớm khắc phục tình trạng đất sản xuất nông
nghiệp manh mún Quá trình tích tụ đất đai cần có sự chỉ đạo và quản lý của Nhà nước, có quy hoạch, kế hoạch, có bước đi vững chắc trên từng địa bàn, lĩnh vực gắn với chương trình phát triển ngành nghề, tạo việc làm Tích tụ đất đai thông qua việc nhận chuyển nhượng và nhiều biện pháp khác phục và phù hợp với từng thời kỳ, từng vùng”;
Trang 31- Quyết định số 68/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm
BCH Trung ương Đảng khóa IX: “Về đất đai: điều chỉnh các cơ chế, chính
sách để tạo điều kiện cho nông dân thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với đất đai như khuyến khích nông dân dồn điền đổi thửa; cho phép nông dân
sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn, liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh”;
- Chỉ thị số 22/2003/CT-TTg ngày 03/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ
về tiếp tục thúc đẩy thực hiện Nghị quyết Trung ương khóa IX về kinh tế tập
thể: “… UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn việc dồn
điền đổi thửa trên nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận và các bên cùng có lợi, kết hợp tổ chức quy hoạch lại đồng ruộng, sử dụng đất đai có hiệu quả…”;
- Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 18 tháng 3 năm 2002 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng “về đẩy nhanh công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001-2010”;
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá X về Nông nghiệp, nông dân, nông
thôn;
- Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17 ngày 12 tháng 2012 của Thủ
tướng Chính phủ “về việc phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020”;
- Quyết định số 575/QĐ-TTg ngày 04/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ
“về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”;
- Luật đất đai năm 2003, 2013 và các Văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai;
- Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 21/4/2011 của Tỉnh uỷ Hà Nam “về xây
dựng NTM đến năm 2020 và Kế hoạch số 547/KH-UBND ngày 13/5/2011 của UBND tỉnh Hà Nam về việc thực hiện thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ Hà Nam xây dựng NTM giai đoạn 2011-2020”;
Trang 32- Kế hoạch số 572/KH-UBND ngày 03/5/2012 của UBND tỉnh Hà Nam
“về việc dồn đổi ruộng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011-2015”;
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XIX;
- Kết luận số 26-KL/TU ngày 05/01/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
Hà Nam “về xây dựng cánh đồng mẫu lớn để liên kết sản xuất cây trồng hàng
hóa chất lượng cao”;
- Nghị quyết số 29/2015/NQ-HĐND ngày 02 ngày 12 năm 2015 của
HĐND tỉnh Hà Nam ban hành “về việc phát triển khu nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao tỉnh Hà Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2050”;
- Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 08 tháng 4 năm 2016 của Tỉnh ủy “về
đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, tạo đột phá phát triển nhanh, bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2035”;
- Nghị quyết số 18-NQ/HU ngày 25/5/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ
huyện Lý Nhân“về đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, sản xuất nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tạo đột phá, phát triển nhanh, bền vững nông nghiệp, nông thôn huyện Lý Nhân giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2035”
2.2.1.2 Công tác dồn đổi ruộng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân
Năm 2000, trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, bình quân số thửa đất nông nghiệp là 07 thửa/hộ, có hộ tối đa lên tới 17 thửa Năm 2001, thực hiện chủ trương của tỉnh Hà Nam về việc dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, sau khi triển khai thực hiện bình quân số thửa đất nông nghiệp trên hộ là 04 thửa/hộ
Để tiếp tục khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về đất đai cần phải tiếp tục tiến hành dồn đổi ruộng đất, gắn với chỉnh trang đồng ruộng, làm cơ sở xây dựng NTM, tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, cơ giới hoá
Thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TU ngày 21/4/2011 của Tỉnh ủy Hà Nam
về “Xây dựng NTM đến năm 2020” và Kế hoạch số 547/KH-UBND ngày 13/5/2011 của UBND tỉnh Hà Nam về việc “Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy
Trang 33Nhân xác định dồn đổi ruộng đất nông nghiệp nhằm khắc phục tình trạng ruộng đất phân tán để tích tụ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất, thâm canh, giảm chi phí, tăng thu nhập cho người nông dân và thuận lợi cho công tác quản lý, theo dõi biến động đất đai Dồn đổi ruộng đất nông nghiệp phải gắn liền với quy hoạch sử dụng đất thời kỳ đến năm 2020, phù hợp với quy hoạch phát triển NTM theo các tiêu chí như: giao thông, thủy lợi, văn hóa - xã hội, môi trường, y tế, giáo dục, đặc biệt
là quy hoạch và kế hoạch phát triển các ngành như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và chế biến nông sản,
UBND huyện Lý Nhân đã chỉ đạo xã Nhân Khang làm điểm công tác dồn đổi năm 2011 để rút kinh nghiệm trước khi triển khai trên địa bàn toàn huyện, ban hành Kế hoạch số 33/KH-UBND ngày 25/4/2012 về việc dồn đổi ruộng đất nông nghiệp thực hiện quy hoạch NTM, Quyết định số 1298/QĐ-UBND ngày 27/4/2012 về việc thành lập Ban chỉ đạo dồn đổi ruộng đất nông nghiệp thực hiện quy hoạch xây dựng NTM, Quyết định số 1923/QĐ-UBND ngày 19/4/2013 về việc thành lập Tổ công tác chuyên trách giúp Ban chỉ đạo xây dựng NTM huyện năm 2013 Đồng thời xây dựng kế hoạch và tổ chức tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ công tác dồn đổi ruộng đất cho các xã trên địa bàn Chỉ đạo thường xuyên rà soát, kiểm tra, đôn đốc các xã chưa thực hiện xong đẩy nhanh tiến độ dồn đổi ruộng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
Đối với cấp xã, thực hiện chủ trương của tỉnh, của huyện, UBND các xã xây dựng kế hoạch để triển khai công tác dồn đổi ruộng đất của xã; thành lập Ban chỉ đạo, Tổ công tác giúp việc Tiểu ban dưới thôn, xóm Đảng ủy ra Nghị quyết chuyên đề về dồn đổi ruộng đất nông nghiệp Ban chỉ đạo của xã xây dựng Đề án trình huyện phê duyệt để tổ chức thực hiện Các thôn, xóm thành lập Tiểu ban dồn đổi ruộng đất do đồng chí Bí thư Chi bộ làm trưởng Tiểu ban, đồng chí xóm trưởng làm phó trưởng Tiểu ban, nhiệm vụ hướng dẫn chỉ đạo, đôn đốc và tổ chức thực hiện phương án của đơn vị mình sau khi được phê duyệt
Theo kết quả thống kê đất đai năm 2012 trên địa bàn huyện Lý Nhân:
- Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp: 10.864,20ha
Trong đó:
Trang 34+ Diện tích đất nông nghiệp giao ổn định cho hộ gia đình, cá nhân: 9.859,51ha
+ Diện tích đất công ích: 1.004,69ha
- Diện tích đất giao thông, thủy lợi nội đồng: 898,34ha
- Bình quân số thửa trên hộ: 4,0 thửa
Khi thực hiện dồn đổi:
- Diện tích đất nông nghiệp thực hiện dồn đổi 10.783,21ha
+ Diện tích đất nông nghiệp giao ổn định cho hộ gia đình, cá nhân: 9.793,87ha
+ Diện tích đất công ích: 989,34ha
- Diện tích mở rộng giao thông, thủy lợi nội đồng: 229,28ha
+ Diện tích đất do nhân dân đóng góp: 200,93ha
+ Diện tích đất công ích của UBND xã: 28,35ha
- Số thửa bình quân trên hộ 1,56 thửa, tỷ lệ giảm so với trước khi dồn đổi ruộng đất là 2,4 thửa/hộ
- Diện tích không thực hiện dồn đổi 80,99 ha
Với sự chỉ đạo quyết liệt của huyện, công tác dồn đổi ruộng đất được triển khai thực hiện theo đúng quy trình, từ việc xây dựng đề án của xã, phương
án dồn đổi ruộng đất của các thôn, xóm được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể bàn bạc dân chủ, công khai thống nhất và đưa ra phương
án chung nhất để tổ chức thực hiện có hiệu quả Các địa phương trên địa bàn huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các thôn, xóm tổ chức thực hiện, tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức đối với nhân dân, từ đó góp phần thay đổi nhận thức tư duy bảo thủ của các hộ dân không muốn thực hiện dồn đổi ruộng đất nông nghiệp
Song song với công tác dồn đổi ruộng đất là việc triển khai thực hiện tiểu
dự án đo đạc địa chính, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất; lập hồ sơ địa chính, phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính Do vậy trong dồn đổi ruộng đất nông nghiệp, các xã đã thực hiện cân
Trang 35đối diện tích đất đai từ trong nhà ra ngoài đồng theo số liệu đo mới, vì vậy đã tận dụng triệt để quỹ đất nông nghiệp trong khu dân cư, đặc biệt là diện tích đất của uỷ ban xã nằm xen kẹp với diện tích của các hộ tư nhân trước đây không quản lý được liên quan đến nguồn thu ngân sách của địa phương thì nay đã giao cho các hộ quản lý, sử dụng hoặc giao đất làm nhà ở cho dân, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai trên địa bàn huyện
Như vậy, sau khi triển khai thực hiện dồn đổi đổi ruộng đất trên địa bàn huyện Lý Nhân, số lượng thửa và quy mô thửa của từng hộ đã thay đổi theo chiều hướng tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất, cải thiện đời sống của nông dân Sau dồn đổi ruộng đất, các hộ nông dân đã yên tâm đầu tư sản xuất, mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa vào sản xuất, từ đó đã làm tăng năng suất cũng như chất lượng cây trồng, mở rộng thị trường và dần dần tiến đến sản xuất hàng hóa quy mô lớn Đây cũng là tiền đề thuận lợi để triển khai thực hiện chủ trương tích tụ ruộng đất theo vùng quy hoạch để sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn huyện Lý Nhân
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu tập trung đi sâu tìm hiểu, phân tích đánh giá việc triển khai thực hiện chủ trương tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam từ năm 2014 trở lại đây
2.2.1.3 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt triển khai thực hiện chủ trương tích
tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn huyện Lý Nhân luôn được quan tâm chú trọng:
Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực với nhiều nội dung được quy định mới
đã tạo đà phát triển sản xuất, trong đó có sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, thực trạng sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế, năng suất, chất lượng sản phẩm còn chưa cao, tình trạng người dân bỏ ruộng xảy ra ở nhiều nơi, trong đó
có cả tại tỉnh Hà Nam
Trước tình hình đó, tỉnh Hà Nam đã xác định muốn phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp thì trước hết phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp Muốn hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp thì cần phải có đất, có cơ chế chính sách phù hợp để thu hút đầu
Trang 36tư vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Như vậy, việc đầu tiên phải dồn đổi ruộng đất, tích tụ, tập trung đất đai để tạo ra quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp
Ngay sau khi Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Nam có chủ trương tích tụ ruộng đất cho doanh nghiệp thuê đất sản xuất nông nghiệp công nghệ cao: Kết luận
số 26-KL/TU, ngày 05/01/2015 “về xây dựng cánh đồng mẫu lớn để liên kết
sản xuất cây trồng hàng hóa chất lượng cao”; Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày
08/4/2016 của Tỉnh ủy “về đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, tạo đột
phá phát triển nhanh, bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2035”; HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số
29/2015/NQ-HĐND ngày 02/12/2015 “về việc phát triển khu nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao tỉnh Hà Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2050”
và các văn bản của chỉ đạo của UBND tỉnh, Ban Thường vụ Huyện ủy đã họp, thảo luận và tổ chức Hội nghị quán triệt các văn bản trên tới Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và đội ngũ cán bộ chủ chốt của huyện; đồng thời giao UBND huyện xây dựng Kế hoạch triển khai tổ chức thực hiện
Thực hiện chủ trương của tỉnh Hà Nam, tại hội nghị giao ban NTM 06 tháng đầu năm 2015, huyện Lý Nhân đã chỉ đạo các xã nằm trong vùng quy hoạch xây dựng chương trình, kế hoạch tích tụ ruộng đất, triển khai kế hoạch tới các chi bộ và nhân dân Đối với xã Nhân Khang, là xã đầu tiên triển khai chủ trương tích tụ ruộng đất, yêu cầu xã tiếp tục khảo sát thực tế trên địa bàn, đánh giá các hộ có liên quan, các hộ tự chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khả năng sinh trưởng phát triển của cây trồng trên diện tích đất tích tụ Thường trực Huyện ủy đã chỉ đạo các đồng chí Thường vụ Huyện ủy phụ trách miền, Huyện
ủy viên phụ trách xã, các đồng chí lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể của huyện về họp cùng với cán bộ, nhân dân của 10 xóm xã Nhân Khang triển khai chủ trương tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp chất lượng cao Sau
xã Nhân Khang, tiếp tục triển khai chủ trương tích tụ ruộng đất tại xã Xuân Khê
và Nhân Bình
Chỉ đạo UBND huyện, các ban, ngành, đoàn thể của huyện tổ chức tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, cơ chế, chính sách liên quan chủ trương tích tụ ruộng đất đến các xã nằm trong vùng quy hoạch để vận động nhân dân tích cực
Trang 37tư sản xuất nông nghiệp chất lượng cao trên địa bàn huyện
Ban Thường vụ Huyện ủy đã tổ chức các Hội nghị làm việc với cán bộ,
đảng viên của 03 xã (Nhân Khang, Xuân Khê, Nhân Bình) về tiến độ thực hiện
kế hoạch tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp chất lượng cao Tham dự hội nghị có các đồng chí trong Thường trực Huyện ủy, Ban Thường
vụ Huyện ủy, Thường trực HĐND, lãnh đạo UBND huyện, trưởng các ban, ngành, đoàn thể của huyện, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ xã, Thường trực HĐND, lãnh đạo UBND xã, đại biểu HĐND xã, MTTQ và các đoàn thể của xã, Ban chi ủy các chi bộ, Ban công tác Mặt trận, Chi hội trưởng các đoàn thể của thôn, xóm, toàn thể đảng viên các xóm và đại diện các hộ dân
có đất nằm trong vùng quy hoạch, đặc biệt là các hộ dân chưa đồng thuận với chủ trương tích tụ ruộng đất
Tại hội nghị, Huyện ủy, UBND huyện đã giao cho Đảng ủy các xã, cấp
ủy chi bộ các thôn, xóm nỗ lực phấn đấu quyết tâm thực hiện mô hình tích tụ ruộng đất
Căn cứ các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Huyện ủy Lý Nhân
đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/HU ngày 25/5/2016 “về đẩy mạnh công
nghiệp hóa nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tạo đột phá, phát triển nhanh, bền vững nông nghiệp, nông thôn huyện Lý Nhân giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2035”
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lý Nhân lần thứ XXV; Nghị quyết số 18-NQ/HU, ngày 25/5/2016 của Huyện ủy, UBND huyện Lý Nhân đã xây dựng và ban hành Đề
án số 04/ĐA-UBND, ngày 08/8/2016 “về đẩy mạnh công nghiệp hóa nông
nghiệp, sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tạo đột phá trong phát triển nông nghiệp, nông thôn huyện Lý Nhân giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2035”, trong đó, xác định rõ mục tiêu tích tụ ruộng đất, phát triển
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xây dựng các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung với phương thức sản xuất theo hướng hiện đại là nhiệm vụ trọng tâm để phát triển ngành nông nghiệp của huyện
UBND huyện đã giao phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện
là cơ quan thường trực phối hợp các cơ quan liên quan tổng hợp tiến độ hằng
Trang 38tuần, nắm bắt những vấn đề khó khăn, phức tạp trong quá trình thực hiện tích
tụ ở các địa phương; báo cáo UBND huyện để có chỉ đạo giải quyết kịp thời Đối với các vấn đề vượt thẩm quyền, UBND huyện kịp thời xin ý kiến của Ban Thường vụ Huyện ủy, UBND tỉnh, các Sở ban ngành của tỉnh để có hướng giải
quyết vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ tích tụ ruộng đất (các cơ chế hỗ trợ lỡ vụ,
thay đổi giá ngô trong hợp đồng theo giá thị trường )
Trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện, Ban Thường vụ Huyện ủy, Thường trực HĐND, lãnh đạo UBND, các cơ quan ban ngành của huyện thường xuyên trực tiếp xuống kiểm tra, đôn đốc và dự họp với các địa phương, các chi bộ và thôn xóm để lãnh đạo, chỉ đạo, nhất là ở những địa phương, thôn xóm gặp khó khăn, phức tạp nhằm tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân
Đồng thời, UBND huyện đã chỉ đạo các ngành chức năng của huyện tổ chức tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, cơ chế, chính sách của chủ trương tích
tụ ruộng đất đến các xã nằm trong vùng quy hoạch để tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia, tạo điều kiện thu hút các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp thuê đất đầu tư sản xuất nông nghiệp chất lượng cao trên địa bàn huyện
UBND huyện đã ra Quyết định số 1334/QĐ-UBND ngày 20/02/2017 về việc Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện tích tụ ruộng đất để liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa sạch huyện Lý Nhân Ban chỉ đạo đã chỉ đạo các xã, thị trấn triển khai thực hiện xây dựng kế hoạch sản xuất nông sản sạch làm vệ tinh liên kết với tập đoàn Vingroup và các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn huyện
Cùng với với công tác chỉ đạo thực hiện, sau khi xin ý kiến các sở, ngành
có liên quan của tỉnh và tổng hợp lấy ý kiến của các ngành chuyên môn của huyện, UBND huyện đã xây dựng mẫu hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và triển khai tới các xã để tuyên truyền, vận động các hộ dân ký hợp đồng cho thuê đất
2.2.1.4 Về công tác tuyên truyền
Bên cạnh việc tổ chức các hội nghị giải đáp các ý kiến, kiến nghị của các
hộ dân trong vùng dự án; Ban Thường vụ Huyện ủy, UBND huyện đã tập trung
Trang 39truyền về chủ trương tích tụ ruộng đất: Viết bài tuyên truyền về chủ trương tích
tụ ruộng đất, các văn bản triển khai phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh, của huyện, Luật đất đai 2013 để tuyên truyền trên Đài truyền thanh huyện, Đài truyền thanh các xã để người dân hiểu và đồng thuận với chủ trương
2.2.1.5 Việc công khai quy hoạch phát triển vùng nông nghiệp công nghệ cao
UBND tỉnh Hà Nam đã quy hoạch 06 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với tổng diện tích 556,87ha, trong đó, diện tích đã tích tụ, tập trung đất đai được 226,41/556,87ha đất đã quy hoạch Đối với địa bàn huyện Lý Nhân, ngày 29/3/2016, UBND tỉnh đã ban hành các Quyết định số 482/QĐ-UBND và Quyết định số 484/QĐ-UBND về phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Khu Nhân Bình - Xuân Khê với quy mô tổng diện tích 239,96ha; khu Nhân Khang với quy mô tổng diện tích 118,37ha Quyết định số 436/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh Hà Nam về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng
tỷ lệ 1/2000 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Nhân Bình - Xuân Khê, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đã tăng quy mô từ 239,96ha thành 254,4ha
- Ngày 08/4/2016, UBND huyện phối hợp với các sở, ngành liên quan của tỉnh tổ chức công khai quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các xã Nhân Bình, Xuân Khê, Nhân Khang
+ Các doanh nghiệp trực tiếp ký hợp đồng thuê đất vơi các hộ dân, chính quyền cấp huyện, cấp xã đứng ra bảo hộ hợp đồng cho cả hai bên
2.2.1.7 Về quy trình thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất nông nghiệp
Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh Hà Nam về tích tụ ruộng đất, UBND huyện Lý Nhân đã chỉ đạo cấp xã họp, thống nhất ra Nghị quyết chuyên
Trang 40đề về chủ trương tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp trên địa bàn
Sau khi cấp xã họp, ra Nghị quyết chuyên đề, UBND cấp xã xây dựng
kế hoạch triển khai thực hiện, đồng thời hướng dẫn các thôn, xóm xây dựng phương án tích tụ ruộng đất, tổ chức tuyên truyền đến các hộ dân có đất nằm trong vùng tích tụ
Thực hiện việc ký hợp đồng thuê đất: Trên cơ sở mẫu hợp đồng thuê đất, huyện đã xin ý kiến và được thống nhất từ các sở, ngành chuyên môn của tỉnh; UBND huyện đã triển khai đến các xã để tổ chức ký kết hợp đồng với các hộ dân
2.2.1.8 Cơ chế thu hút đầu tư
- Tỉnh Hà Nam hỗ trợ kinh phí lập bản đồ quy hoạch 1/2000;
- Tỉnh ứng ngân sách trả tiền thuê đất của các hộ dân, sau đó doanh nghiệp thanh toán trả tiền thuê đất làm 02 lần: lần đầu sau khi ký hợp đồng thuê đất, lần 2 sau 10 năm sản xuất;
- Tỉnh hỗ trợ làm đường giao thông, hệ thống thủy lợi, điện, thông tin liên lạc đến chân hàng rào khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
2.2.2 Kết quả tích tụ ruộng đất
Việc triển khai thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam được triển khai từ năm 2014 tại xã Nhân Khang, huyện Lý Nhân, sau đó là tại các xã Xuân Khê, Nhân Bình Bên cạnh đó, trên địa bàn huyện đã phát triển các Hợp tác xã, Tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp sạch và các mô hình tích tụ ruộng đất để sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao làm vệ tinh cho doanh nghiệp
2.2.2.1 Đối với xã Nhân Khang
Thực hiện chủ trương của tỉnh về tích tụ ruộng đất, cuối năm 2014, xã
Nhân Khang, huyện Lý Nhân đã triển khai tích tụ và đã bàn giao cho Công ty cổ phần An Phú Hưng sản xuất 21,4ha Hình thức thuê đất là doanh nghiệp trực tiếp
ký hợp đồng thuê đất với các hộ dân, có sự chứng kiến của UBND xã, thời gian thuê đất là 10 năm Công ty An Phú Hưng chi trả tiền thuê quyền sử dụng đất cho các hộ dân với mức 150kg ngô/sào/năm, tính từ ngày nhận đất
Năm 2016, thực hiện chuyển đổi chủ doanh nghiệp và ký lại hợp đồng