Tính cấp thiết của đề tài Trên thế giới, Op art ra đời từ những năm đầu thế kỷ XX, người ta đã áp dụng những hiệu ứng thị giác được tạo ra trong các tác phẩm Optical art Op Art, đóng g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-o0o -
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
Nghiên cứu hiệu ứng thị giác của Optical art( nghệ thuật quang học)
vào thiết kế và giảng dạy Đồ hoạ
Mã số: MHN2020-02.18
Chủ nhiệm đề tài : Vương Quốc Chính
Hà Nội, tháng 12 / 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Nghiên cứu hiệu ứng thị giác của Optical art( nghệ thuật quang học)
vào thiết kế và giảng dạy Đồ hoạ
Mã số đề tài : MHN2020-02.18
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Vương Quốc Chính
Hà Nội, tháng 12 năm 2020
Trang 3THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
STT Học hàm, học vị
Họ tên tác giả Vai trò Chức vụ, Cơ quan công tác
1 ThS Vương Quốc Chính
Chủ nhiệm đề tài
Giảng viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Trường Đại học Mở Hà Nội
viên
Giảng viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Trường Đại học Mở Hà Nội
viên
Giảng viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Trường Đại học Mở Hà Nội
4 ThS Phạm thị Hoài Nam
Chuyên viên tư vấn
Chuyên viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Trường Đại học Mở Hà Nội
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……….7
1 Tính cấp thiết của đề tài……… ……7
2 Tình hình nghiên cứu……… 7
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài……….8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 8
5 Nhiệm vụ nghiên cứu……….9
6 Phương pháp nghiên cứu………9
Chương1.Những vấn đề lý luận chung và tổng quan về Op art………10
1.1.Khái niệm Op art ……….10
1.1.1.Đặc điểm của Op art……… …10
1.1.2.Ảo ảnh thị giác……… 12
1.1.3.Op art và những ảnh hưởng của nó lên tâm lý, thị giác……….14
1.2.Sự hình thành và phát triển của nghệ thuật Op art……….……… …16
1.2.1.Những ảnh hưởng của Op art trong thiết kế những năm 60……… 16
1.2.2.Vai trò của công nghệ trong sáng tác Op art ……….17
1.2.3.Sự chuyển đổi từ Optical sang các loại hình nghệ thuật khác………18
1.3.Tổng kết chương 1……….……….……….20
Chương 2 Hiệu ứng thị giác Op art và giá trị của nó trong thiết kế đồ hoạ….….22 2.1.Hiệu ứng thị giác……… ……… 22
2.1.1.Hiệu ứng của sự tương phản 2 màu Đen trắng……… 22
2.2.Chuyển động và ánh sáng……….22
2.1.3.Hiệu ứng Hering……… ……….…23
2.1.4.Hiệu ứng Ảo ảnh Cornsweet……….….24
2.1.5.Hiệu ứng Muller-Lyer……… 25
2.1.6.Hiệu ứng lưới Hermann ……….… 26
2.1.7.Hiệu ứng Ảo ảnh Jastrow……….26
2.1.8.Hiệu ứng tương phản đồng bộ……… ……… ……27
2.9.Hiệu ứng tương phản đa sắc……… …… 28
Trang 62.2.Giá trị của Op art trong thiết kế đồ hoạ………….………… ………29
2.3.Tổng kết chương2…… …….………34
Chương 3 Giải pháp ứng dụng hiệu ứng thị giác của OP art vào thiết kế Đồ hoạ……….35
3.1 Khái quát về học phần Design thị giác trong thiết kế Đồ hoạ văn hoá tại Khoa Tạo dáng công nghiệp……… ……….………35
3.2 Những ứng dụng của Op art trong nghiên cứu……… …36
3.3.Ứng dụng hiệu ứng của Op art trong hệ thống bài tập học phần Design thị giác trong thiết kế ĐHVH tại khoa tạo dáng công nghiệp……….………45
3.4 Tổng kết chương 3……… ……… 49
Kết luận/ Kiến nghị của nhóm nghiên cứu…….……… ………… 50
Phụ lục……… ……….………51
Tài liệu tham khảo……… ……….…….61
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, Op art ra đời từ những năm đầu thế kỷ XX, người ta đã áp dụng những hiệu ứng thị giác được tạo ra trong các tác phẩm Optical art (Op Art), đóng góp lớn trong
xã hội trên nhiều lĩnh vực như quảng cáo, điện ảnh, hệ thống biển báo vv Ở nước ta, sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật và khoa học công nghệ trong những năm gần đây đã tạo
ra rất nhiều sản phẩm Đồ hoạ ứng dụng cả 2D lẫn 3D đẹp, có tính ứng dụng cao phục vụ đời sống con người, song các thiết kế còn hạn chế và chưa có nhiều giải pháp Vì vậy, việc nghiên cứu những tác động về mặt tâm lý thị giác của Op art, vân dụng trong thiết kế nhằm làm phong phú hơn những thiết kế Đồ hoạ ứng dụng và bổ sung vào hệ thống bài giảng của một số môn trong chuyên ngành thiết kế Đồ hoạ, là vấn đề cần được quan tâm sâu sắc
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nước
2.1 Ở trong nước
Sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật và khoa học công nghệ trong những năm gần đây đã tạo ra rất nhiều sản phẩm Đồ hoạ ứng dụng cả 2D lẫn 3D đẹp, có tính ứng dụng cao phục vụ đời sống con người, Có nhiều nhóm đồ hoạ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn cũng đã khai thác yếu tố nghệ thuật này đưa vào thiết kế của mình như trong các lĩnh vực quảng cáo, nghệ thuật sân khấu, hay thiết kế bao bì v.v Về lý thuyết cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về Op art cũng những hiệu ứng về thị giác như:
“Nguyên lý thị giác” của Nguyễn Hồng Hưng, “Nghệ thuật Mô đéc và hậu Mô đéc” của Lê Thanh Đức,” Cơ sở tạo hình” Trần Từ Thành, Lê Huy Văn những công trình kể trên cũng
đã có những đóng góp quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn trong ngành thiết kế
2.2 Trên thế giới
Optical art (Op art) ra đời từ những năm đầu thế kỷ XX, những giá trị của Op art đã mở
ra những chân trời mới cho nghệ thuật tạo hình hiện đại và mỹ thuật ứng dụng, người ta đã
áp dụng những hiệu ứng thị giác được tạo ra trong các tác phẩm Op art đóng góp lớn trong
xã hội trên nhiều lĩnh vực, điện ảnh, kiến trúc, thời trang và đặc biệt trong đồ hoạ ứng dụng như quảng cáo , thiết kế Logo, Thiết kế bao bì, hệ thống biển báo vv cho đến những năm 60 của thế kỷ trước yếu tố hình thể, màu sắc đã được các nghệ sỹ Op art đã khai thác triệt để và
Trang 8đưa nó đến đỉnh cao của nghệ thuật, các tác phẩm Op art đã tạo ra những giá trị thẩm mỹ tự thân nó không dễ gì phủ nhận Ngày nay những hiệu quả về thị giác ấy đã lan rộng khắp nơi, Nó là tiền đề cho các loại hình nghệ thuật mới như tạo hình điện tử, Nghệ thuật dộng hình (Cenetism), Op art cũng đã được khá nhiều các nhà khoa học, nhà nghiên cứu mỹ thuật, và hoạ sĩ hiên đạị quan tâm như:
Artspeak, Robert Atkins, ISBN 976-1-55859-127-1, "Op-Art: Lịch sử, Đặc điểm" www.Visual-Arts-Cork.com, Nghệ thuật của Josef Albers, Julian Stanczak và Richard Anuszkiewicz , Đại học Wake Forest, tái bản 2002, "Lý thuyết về màu sắc và thực hành hội họa” , Julian Stanczak và Richard Anuszkiewicz , Đại học Wake Forest , 1996
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu ứng dụng những hiệu ứng thị giác được tạo ra trong các tác phẩm Optical art (Op art) nhằm khẳng định thêm giá trị của Op Art trong thiết kế Đồ hoạ
Qua nghiên cứu bổ sung kiến thức cho một số học phần trong chương trình giảng dạy Thiết kế Đồ hoạ tại Khoa Tạo dáng Công nghiêp
Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và đào tạo một số học phần trong
chuyên ngành TKĐH tại Khoa Tạo dáng công nghiệp
Định hướng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: (Op art và những hiệu ứng của nó trong sáng tác thiết kế Phạm vi nghiên cứu: Các tác phẩm nghệ thuật và các sản phẩm design ( bao bì, logo, poster ) sử dụng hiệu ứng của nghệ thuật quang học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhận diện và phân tích thực trạng việc dạy học một số môn Đồ án chuyên ngành tại Khoa Tạo dáng công nghiệp- Trường Đại học Mở Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
Sưu tầm , phân tích, đánh giá một số tác phẩm tiêu biểu của Op art bao gồm cả nghệ thuật giá vẽ, đồ hoạ ứng dụng tiêu biểu trong các sáng tác của nghệ sĩ Thế giới và Việt Nam Dựa vào một số những nhận định tổng kết từ một số nhà nghiên cứu mỹ thuật, các đề
Trang 9tài nghiên cứu thạc sĩ, tiến sĩ trong và ngoài nước, các hệ thống kiến thức liên ngành như lịch sử, triết học, mỹ học, tâm lý học làm cơ sở lý luận
Từ đó rút ra hệ thống lý luận ứng dụng vào giảng dạy tại và làm kim chỉ nam cho sáng tác của bản thân Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành TKĐH
CHƯƠNG 1
Trang 10NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN VỀ OP ART
1.1 Khái niệm Op art
Op Art (cụm từ viết tắt của Optical Art: Nghệ thuật Quang học/Nghệ thuật Thị Giác) là phong cách nghệ thuật trừu tượng khai thác ảo giác quang học của quá trình nhận thức Có nghĩa là, người xem có thể nhìn thấy ở Op Art những hình ảnh khuất, sự chuyển động hay cảm giác không gian ba chiều đang phình ra và cong lên, mà thực chất đó chỉ là sự sắp đặt trên bề mặt hai chiều tĩnh Op có gốc Hy lạp từ chữ Optik, gắn với thị giác, mắt nhìn, với các hiện tượng quang học như màu sắc, ánh sáng Như vậy, Op-art đi tìm các khả năng gây tác động thẩm mỹ qua các biểu hiện quang học thuần túy, không phụ thuộc vào nội dụng cụ thể nào Nói đúng hơn chính những hiệu quả thị giác ấy mới là nội dung và mục tiêu cần đạt chủ yếu của Op art
1.1.1 Đặc điểm của Op art
Sử dụng các hình hình học đơn giản kết hợp với nhau tạo thành các hình phức tạp hơn
Tất cả các tác phẩm được tạo ra đều bất động về mặt vật lý, nghĩa là nó không có bất
Trang 11xếp có chủ đích của khoa học phối cảnh, nguyên lí màu sắc kết hợp với tính chất thị giác trên mắt người Op art là sự kết hợp từ nghệ thuật hình học trừu tượng (Geometric Art)
và nghệ thuật chuyển dộng học (Kinetic Art)
Op Art tạo ra ảo giác cho người quan sát
Tác phẩm Optical Art tạo ra một loại ức chế thị giác trong tâm trí của người xem và mang lại cho tác phẩm sự ảo tưởng Thực tế, ta biết rằng tác phẩm Op art là mặt phẳng hai chiều và tĩnh, tuy nhiên, khi bắt đầu gửi thông tin đến bộ não của người nó đã đã bắt đầu dao động, nhấp nháy, rung khiến người quan sát có cảm giác những hình ảnh trước mắt đang di chuyển
Op Art không nhằm thể hiện thực tế
Op art không nhằm phản ánh hiện thực do đặc điểm tạo hình Op art là nghệ thuật trừu tượng, trong đó, mảng nét, màu sắc chiếm ưu thế
Op Art được sáng tạo dựa trên cơ sở khoa học
Các yếu tố được sử dụng trong một tác phẩm Op Art đều được hoạ sĩ chọn lựa cẩn thận để đạt được hiệu quả tối đa Để đạt được hiệu quả, mỗi màu sắc, đường nét, hình dạng
và phải đóng góp vào sự thành phần tổng thể Hoạ sĩ phải mất rất nhiều suy tính trước để tạo thành tác phẩm nghệ thuật theo phong cách Op art
Op Art thường sử dụng hai màu có độ tương phản cao đặt cạnh nhau
Các kỹ thuật quan trọng được sử dụng trong Op art là màu sắc Màu sắc có thể màu hoặc
vô sắc (đen, trắng, hoặc màu xám) cũng có thể là những màu bổ túc hoặc có độ tương phản cao, nét và hình dạng của phong cách này được xác định không sử dụng kỹ thuật chuyển màu từ màu này sang màu tiếp theo mà thường sử dụng hai màu có độ tương phản cao đặt cạnh nhau Sự thay đổi đột ngột này là một phần quan trọng của những gì tác động lên thị giác người quan sát
Op Art bao trùm không gian âm, dương ( đặc rỗng)
Trong Op art không gian âm, dương , đặc rỗng có tầm quan trọng như nhau Những ảo ảnh không thể được tạo ra khi thiếu một trong hai thành phần, vì vậy các nghệ sĩ Op art thường có xu hướng tập trung nhiều vào các không gian âm dương, đặc rỗng khi họ thực
Trang 12hiện tác phẩm Nghệ thuật Op art không thể được tạo ra khi hai thành phần dương-âm này không đan xen với nhau hoặc bị khuyết thiếu
Có ba loại ảo ảnh quang học chính bao gồm ảo tưởng theo nghĩa đen, ảo tưởng sinh lý và ảo tưởng nhận thức Cả ba loại ảo tưởng này đều có một đặc điểm chung Những nhận thức về hình ảnh được cung cấp cho não biến ảo vô cùng Đó là lý do tại sao ảo ảnh quang học được coi là một "thủ thuật" của nghệ thuật thị giác
a) Ảo tưởng quang học theo nghĩa đen
Ảo ảnh theo nghĩa đen là khi hình ảnh ta nhìn, cho nhận thức thấy khác với những hình ảnh thực chất tạo nên nó Ví dụ, hình minh họa mà Hill tạo ra thực sự là hai hình ảnh được
vẽ một cách có chủ ý để trông giống như một hình ảnh chất lỏng là một ảo ảnh theo nghĩa đen Hãy coi nó như một con số có thể đảo ngược Kết quả cuối cùng ta thấy trong ảo ảnh theo nghĩa đen là dựa trên nhận thức của bạn Cả hai hình ảnh đều tồn tại
b) Ảo tưởng quang học sinh lý
Những loại ảo ảnh quang học này phức tạp hơn vì chúng phản hồi lại sự kích thích quá mức của các giác quan của não Mắt “nhìn thấy” quá nhiều ánh sáng, chuyển động, màu sắc, kích thước khiến não bộ bị nhầm lẫn Thoạt nhìn, một hình hai chiều giống như hình ba chiều Đó là bởi vì những thông tin mà bộ não nhận được, ngay lập tức giải thích nó theo cách đó Sau khi nhìn ngắm sâu hơn, bộ não nhận ra những gì mắt thực sự đang nhìn thấy
là những hình ảnh không tồn tại trong tự nhiên
c) Ảo tưởng sinh lý
Những loại ảo ảnh quang học này phức tạp hơn vì chúng phản hồi lại sự kích thích quá mức của các giác quan của não Mắt “nhìn thấy” quá nhiều ánh sáng, chuyển động, màu
Trang 13sắc, kích thước và kích thước khiến não bộ bị nhầm lẫn Tâm trí uốn cong mà bạn thấy giống như ảo ảnh hình học và những bức tranh không thể là ảo ảnh quang học sinh lý Thoạt nhìn, một hình hai chiều giống như hình ba chiều Đó là bởi vì bộ não ngay lập tức giải thích nó theo cách đó Sau khi nghiên cứu sâu hơn, bộ não nhận ra những gì mắt thực
sự đang nhìn thấy Hình ảnh được đề cập không tồn tại trong tự nhiên
d) Ảo tưởng quang học nhận thức
Đây là loại ảo ảnh được các nhà khoa học và tâm lý học nghiên cứu nhiều nhất vì nó là loại ảo giác phức tạp nhất mà mắt có thể truyền tải lên não bộ Không giống như những ảo ảnh quang học khác, những ảo ảnh này dựa vào những gì tiềm thức suy nghĩ và cách nó liên
hệ vật thể này với vật thể khác Nói cách khác, những gì ta nhìn thấy được cho là sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về chiều sâu trong suy nghĩ của ta Ảo ảnh quang học nhận thức khám phá ra những gì não bộ suy luận và nhận thức về một hình tượng chưa được giải thích
e)Bình Rubins
Vùng võng mạc trong mắt dễ bị tác động bởi ánh sáng và màu sắc, vì vậy, nghệ sỹ Op art tạo ra các ảo ảnh quang học bằng việc xen kẽ các mảng màu sắc tương phản cao (phổ biến nhất là đen và trắng) cùng sự lặp đi lặp lại của các mô hình dạng cong hoặc thẳng Sự tương phản gây ra nhầm lẫn rất lớn đối với thị giác, mà người xem phải chú tâm rất nhiều
để phân biệt giữa thành phần chính và các thành phần phụ Ở lĩnh vực y học, ảo ảnh thị giác được coi là sự khiếm khuyết của giác quan thị giác Ảo giác là cảm giác, sự tri giác như có thật về một sự vật hiện tượng không tồn tại trong hiện thực khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của con người và họ coi “Ảo giác là một tri giác không đối tượng” Sau này được các nhà khoa học hiệu chỉnh lại: “Ảo giác là tri giác mà hoàn toàn không có đối tượng cảm nhận”
1.1.3.Op art và những ảnh hưởng của nó lên tâm lý, thị giác
Có hai trường phái chính thời Hy lạp cổ đưa ra các giải thích đầu tiên về cách hoạt động của việc nhìn trong cơ thể người
Trường phái thứ nhất là "lý thuyết phát xạ" Theo trường phái này thì sự nhìn diễn ra khi các tia nhìn phát ra từ mắt bị chặn bởi các vật được nhìn thấy Theo họ, nếu chúng ta nhìn trực tiếp một vật thì đó là do các tia nhìn đi từ mắt rơi vào vật đó Tuy nhiên, một ảnh
Trang 14khúc xạ cũng được nhìn thấy bởi các tia nhìn Lúc này, tia nhìn đi từ mắt, xuyên qua không khí và rơi vào vật được nhìn thấy sau khi bị khúc xạ như là kết quả của sự chuyển động của các tia nhìn phát ra từ mắt Lý thuyết này được ủng hộ bởi các học giả như Euclid và Ptolemy và những người kế tục
Trường phái thứ hai chủ trương về cách tiếp cận gọi là 'sự đưa vào', xem sự nhìn như
là cách cho hình ảnh sự vật, hiện tượng đi vào mắt Với sự ủng hộ của các nhà truyền bá chính như Aristotle, Galen và những người kế tục, lý thuyết này dường như đã đạt đến một giá trị đích thực về bản chất của sự nhìn, dựa trên các thực nghiệm
Alhazen "cha đẻ của quang học", là người đầu tiên giải quyết được cuộc tranh luận giữa hai trường phái bằng cách điều chỉnh lý thuyết và đưa vào thành hệ thống lý thuyết hiện đại được chấp nhận về sự nhìn trong cuốn Book of Optics (1021) Ông lập luận rằng sự nhìn diễn ra là do ánh sáng từ các vật đi vào mắt và ông phát triển một phương pháp khoa học nhấn mạnh việc thực nghiệm để chứng minh điều đó Ông chủ trì một nghiên cứu khoa học
về tâm lý học thị giác và là nhà khoa học đầu tiên cho rằng sự nhìn diễn ra trong não bộ chứ không phải trong mắt Ông chỉ ra rằng các thí nghiệm cá nhân có ảnh hưởng đến những gì con người nhìn thấy và cách mà họ nhìn thấy và sự nhìn cũng như tri giác là chủ quan Ông giải thích chi tiết các lỗi có thể có trong thị giác và lấy ví dụ về một đứa trẻ có ít kinh nghiệm có thể gặp nhiều khó khăn như thế nào trong việc diễn giải những gì mà nó nhìn thấy Ông ta cũng đưa ra ví dụ về một người trưởng thành có thể mắc sai lầm trong sự nhìn
do các kinh nghiệm của họ sẽ làm cho họ thấy một cái gì đó khác với cái mà họ thực sự nhìn thấy Điều này có thể liên hệ với câu châm ngôn "Cái đẹp nằm trong mắt của người ngắm" Nghĩa là một bông hoa có thể xuất hiện rất đẹp trong mắt một người lại không đẹp được như thế trong mắt người khác
Sự suy luận vô thức
Nghiên cứu đầu tiên của Hermann von Helmholtz về thị giác trong thời hiện đại Qua khảo sát mắt người và kết luận rằng về mặt quang học thì mắt người khá kém cỏi Theo ông thì thông tin thu được qua mắt kém chất lượng đến nỗi khó mà thấy gì được Vì thế, ông kết luận: Sự nhìn chỉ là kết quả của một dạng suy luận vô thức về vấn đề thừa nhận và kết luận
Trang 15từ những dữ liệu không đầy đủ, dựa trên những kinh nghiệm đã có Sự suy luận này cần có những kinh nghiệm về thế giới Các ví dụ đã được biết đến là:
Ánh sáng đến từ phía trên
Các vật thường không được nhìn từ phía dưới lên
Các khuôn mặt được nhìn thấy (và nhận ra) từ phía bên phải
Nghiên cứu về ảo giác đã đem lại những hiểu biết sâu hơn về các dạng suy luận mà hệ thị giác thực hiện Các nghiên cứu này cho rằng hệ thị giác thực hiện một kiểu suy luận để mô
tả nhiều hệ thị giác nhỏ khác nhau, như là sự nhận thức về sự chuyển động hoặc về độ sâu của một hình ảnh trên mặt phẳng hai chiều
Lý thuyết Gestalt
Vào những năm 30 và 40 các nhà tâm lý học cấu trúc hình thức đã đưa ra nhiều câu hỏi nghiên cứu mà các nhà khoa học về thị giác thời nay đang nghiên cứu Các định luật cấu trúc hình thức về sự tổ chức đã dẫn đến nghiên cứu về cách thức mà con người nhận thức các thành phần thị giác như là các mẫu thức Theo thuyết này thì có sáu yếu tố theo sự nhìn: gần gũi về không gian, sự tương tự, sự đóng kín, sự đối xứng, sự quen thuộc và sự liên tục Theo đó, có ba loại ảo giác chính: ảo giác về thể chất, sinh lý và nhận thức, trong mỗi lớp lại có bốn loại: Sự mơ hồ, biến dạng, nghịch lý và hư cấu
Ảo tưởng Ponzo
Ảo tưởng Ponzo là một ảo giác hình học lần đầu tiên được chứng minh bởi nhà tâm lý
học Ý Mario Ponzo (1882-1960) vào năm 1911 Ông cho rằng tâm trí con người phán đoán kích thước của một đối tượng dựa trên nền tảng của nó Ông đã chứng minh điều này bằng cách vẽ hai đường màu vàng giống hệt nhau trên một cặp đường hội tụ, giống như đường ray xe lửa (hình 2) Về nguyên lí phối cảnh thấu thị thì vật gần phải nhìn rõ và lớn hơn vật ở
xa thực tế cả hai hình ảnh có cùng kích thước bởi các đường hội tụ thông thường liên quan đến khoảng cách, nghĩa là hai đường xuất hiện để hội tụ về phía chân trời hoặc điểm tụ Một trong những giải thích cho ảo ảnh Ponzo là " giả thuyết phối cảnh ", nói rằng đặc điểm phối cảnh trong hình rõ ràng được tạo ra Một lý thuyết khác là " giả thuyết hiệu ứng khung ", nói rằng sự khác biệt trong khoảng cách hoặc khoảng cách của các đường nằm ngang so với các đường hội tụ khung có thể xác định, hoặc ít nhất là góp phần vào mức độ biến dạng Ảo ảnh
Trang 16Ponzo còn được sử dụng để chứng minh sự phân ly giữa tầm nhìn đối với nhận thức và tầm nhìn hành động
Vùng võng mạc trong mắt dễ bị tác động bởi ánh sáng và màu sắc, vì vậy, nghệ sỹ Op Art tạo ra các ảo ảnh quang học bằng việc xen kẽ các mảng màu sắc tương phản cao (phổ
biến nhất là đen và trắng) cùng sự lặp đi lặp lại của các mô hình dạng cong hoặc thẳng Sự
tương phản sẽ gây ra nhầm lẫn rất lớn đối với thị giác, mà người xem phải chú tâm rất nhiều
để phân biệt giữa thành phần chính và các thành phần phụ
1.2 Sự hình thành và phát triển của nghệ thuật Op
1.2.1 Những ảnh hưởng của Op art trong thiết kế những năm 60
Sự ra đời của phong trào nghệ thuật quang học, ảo ảnh thị giác đã trở thành một loại hình nghệ thuật được công nhận Phong trào phát sinh đồng thời ở châu Âu và Mỹ vào những năm 1960, và vào năm 1964, tạp chí Time đã đặt ra thuật ngữ Nghệ thuật Op Phong cách này đã trở nên cực kỳ phổ biến sau khi Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở Thành phố New York tổ chức một cuộc triển lãm vào năm 1965 có tên là The Responsive Eye Trong
đó, các nghệ sĩ Op đã khám phá nhiều khía cạnh của nhận thức thị giác, chẳng hạn như mối quan hệ giữa các hình dạng hình học, các biến thể trên các hình vẽ và các ảo ảnh liên quan đến nhận thức về độ sáng, màu sắc và hình dạng đã thu hút sự quan tâm đặc biệt Điều này khẳng định, mối liên hệ giữa thẩm mỹ và nhận thức ảo tưởng là một phong cách nghệ thuật trong chính nó Op Art chỉ là bước đầu tiên khi nó tìm cách thúc đẩy phản ứng thẩm mỹ ở người xem Mặc dù các bức tranh thể hiện cảm xúc của nghệ sĩ hoặc kể một "câu chuyện" thông qua chủ đề cũng có thể thúc đẩy phản ứng thẩm mỹ, phản ứng thường bị hạn chế do chúng ta cố gắng hiểu cảm xúc cụ thể hoặc câu chuyện cụ thể được trình bày bởi nghệ sĩ cụ thể Op art tìm cách giải phóng chính mình khỏi những hạn chế đó và sử dụng năng lượng trực quan thuần túy để đáp ứng kịp thời những khái quát hơn, phổ quát hơn Giống như âm nhạc có thể "giao tiếp" mà không cần lời nói, Op Art tìm cách "giao tiếp" thông qua một ngôn ngữ hoàn toàn trừu tượng
Vào năm 2012, nghệ sĩ Op Art nổi tiếng Bridget Riley (Anh) đã làm nên lịch sử khi giành được giải thưởng Sikkens danh giá của Hội đồng nghệ thuật Hà Lan dành cho nghệ sỹ
Trang 17sử dụng màu sắc tốt nhất Giải thưởng này đồng thời thể hiện sự công nhận và trân trọng đối
với loại hình nghệ thuật trừu tượng Op art ( hình 1.2.1)
Nghệ thuật quang học không chỉ đóng góp nhiều cho hội họa giá vẽ, mà mặt khắc đã là nguồn cảm hứng cho những tìm tòi hết sức mới mẻ trong nghệ thuật trang trí hiện đại mở
ra những chân trời thoáng rộng cho sáng tạo nghệ thuật ứng dụng Ngày nay, các hiệu quả thị giác như thế đã lan rộng khắp nơi Từ đây, đường nét hay hệ đường nét kết hợp với màu sắc hay nhóm màu, tổng hòa trong không gian hai chiều, ba chiều thậm chí bốn chiều (gồm
cả chiều thời gian), đang còn tiếp tục tạo ra những giá trị thẩm mỹ tự thân, không thể phủ nhận, điều này có nghĩa là Op art đã mang lại nguồn cảm hứng tươi mới cho một thế hệ nghệ sĩ, các nhà thiết kế
1.2.2.Vai trò của công nghệ trong sáng tác Op art
Nhờ có sự phát triển và hỗ trợ đắc lực về công nghệ thông tin, trong các lĩnh vực nghệ thuật: Điện ảnh, Sân khấu, Nhiếp Ảnh… dựa trên các nguyên nhân gây ảo giác mà nghệ sỹ
đã vận dụng các quy luật về sự vượt trội của nguyên lý thị giác, kết hợp với các hiệu ứng phần mềm của công nghệ hiện đại vào tác phẩm của mình Đã có nhiều tác phẩm nghệ thuật
đã gây ấn tượng mạnh và mang lại những hiệu ứng thị giác mãn nhãn về thẩm mỹ Trong lĩnh vực Điện ảnh ngày nay, người ta đã ứng dụng một số nguyên nhân gây ảo giác để làm phim 3D, 4D Phim Avatar của đạo diễn James Cameron người Mỹ (2009) là một tác phẩm điện ảnh điển hình về hiệu quả sử dụng các hiệu ứng ảo giác trong phim mang tính viễn tưởng Đây là một thành công lớn về sự đột phá trong công nghệ điện ảnh, tác phẩm cũng mang lại thành công cao nhất trong thương mại của mọi thời đại Trong nghệ thuật Nhiếp ảnh ngày nay, nhờ vào các công nghệ phần mền mà các nghệ sỹ đã thể hiện được ý tưởng trí tuệ cao siêu được thể hiện qua những tác phẩm nhiếp ảnh siêu thực Nhiếp ảnh gia Angelo Musco đã có những tác phẩm siêu thực làm cho người xem những cảm giác thật mà không thực vô cùng kinh ngạc Các tác phẩm: Tổ chim, Những chiếc ống nghe điện thoại mọc giữa
sa mạc… của Dariusz Klimczak nhiếp ảnh gia người Ba Lan đã đem đến một cái nhìn mới
về thế giới tưởng tượng của mình, một thế giới không đúng với hoàn cảnh hiện tại Hay những tác phẩm siêu thực tuyệt đẹp của nhiếp ảnh gia Christophe Gilbert, Ảo giác nhấp nháy trong nghệ thuật của nhiếp ảnh gia Harold Eugene (1903-1990) Nhờ có sự kết hợp
Trang 18của các phát minh trong kỹ thuật chụp và công nghệ phần mềm, các nghệ sỹ nhiếp ảnh đã sáng tạo ra được những tác phẩm mang tính nghệ thuật kỳ diệu cho nhân loại Trong những tác phẩm đó yếu tố ảo giác về hình, mầu sắc , không gian đóng vai trò chủ đạo
Ở ngành học thiết kế Đồ họa, nghệ thuật quảng cáo Đồ họa 3D đã được nhiều họa sỹ sử dụng và đem lại hiệu quả thẩm mỹ thị giác rất cao, những tiến bộ nhanh chóng trong phần cứng và phần mềm máy tính kỹ thuật số đã thay đổi hoàn toàn thiết kế đồ họa Phần mềm cho Apple hồi năm 1984 Máy tính Macintosh , chẳng hạn như Chương trình MacPaint ™ bởi lập trình viên máy tínhBill Atkinson và thiết kế đồ họa Susan Kare , có một giao diện mang tính cách mạng Các biểu tượng công cụ được điều khiển bởi chuột hoặc máy tính bảng đồ họa cho phép các nhà thiết kế và nghệ sĩ sử dụng đồ họa máy tính một cách trực quan Ngôn ngữ mô tả trang Postcript ™ từ Adobe Systems, Inc., cho phép các trang loại và hình ảnh được lắp ráp thành các thiết kế đồ họa trên màn hình Vào giữa những năm 1990, việc chuyển đổi thiết kế đồ họa từ hoạt động bàn soạn thảo sang hoạt động trên máy tính trên màn hình đã gần như hoàn tất
Kỉ nguyên kỹ thuật số đã đặt vào tay các nhà thiết kế các công cụ tối ưu để thể hiện hình ảnh, do đó nghề thiết kế đồ họa ngày càng trở nên toàn cầu về phạm vi, lĩnh vực thiết kế đồ họa ngày càng quan trọng Sự tiến bộ không ngừng của công nghệ đã thay đổi đáng kể cách thức thiết kế đồ họa Nó thấm vào xã hội đương đại, cung cấp thông tin, nhận dạng sản
phẩm, giải trí với thông điệp thuyết phục
1.2.3.Sự chuyển đổi từ Optical sang các loại hình nghệ thuật khác
Nghệ thuật Op có nhiều ảnh hưởng đến các phong cách khác của thế kỷ 20 như Orphism , Trào lưu Kiến tạo , Thuyết siêu việt , và Chủ nghĩa vị lai, đặc biệt là Nghệ thuật
động học (Kinetic Art )vì nó nhấn mạnh vào chuyển động và tính năng động của hình ảnh,
Kinetic Art và Op Art đều có chung quan điểm: nghệ thuật tạo ra sự chuyển động về thị giác Tuy nhiên, các họa sĩ của phong trào này khác với các họa sĩ trước đó làm việc theo phong cách hình học, trong việc vận dụng có mục đích các mối quan hệ hình thức để gợi lên
ảo giác tri giác , sự mơ hồ và mâu thuẫn trong thị giác của người xem
Đến đầu những năm 1900, một số nghệ sĩ nhất định ngày càng tiến gần hơn đến việc mô
tả nghệ thuật của họ cho chuyển động năng động Naum Gabo, một trong hai nghệ sĩ được
Trang 19cho là đã đặt tên cho phong cách này, thường xuyên viết về tác phẩm của mình như là những ví dụ về "nhịp điệu động học" Từ những năm 1920 đến những năm 1960, phong cách nghệ thuật động học đã được định hình bởi một số nghệ sĩ kế thừa Op art đã thử nghiệm với các hình thức điêu khắc mới Kinetic Art hay còn gọi là Nghệ thuật động học là nghệ thuật từ bất kỳ phương tiện nào có chứa chuyển động mà người xem có thể nhận thấy hoặc phụ thuộc vào chuyển động cho hiệu ứng của nó Nó thường được dùng cho các công trình di động theo nghĩa rộng, từ những người sử dụng không khí và gió như Mobile Coalder, người sử dụng điện và động cơ như Takis và Tinguely Nó cũng bao gồm các tác phẩm của Op Art , như Jacob Agam (1928-) và Rafael Soto (1923-2005), không chỉ tạo ra
sự chuyển động của các vật thể, mà còn là ảo ảnh của ảo ảnh chuyển động
Nghệ thuật Kinetic trong tiếng Việt là nghệ thuật Động học có nguồn gốc từ những nghệ
sĩ theo trường phái ấn tượng cuối thế kỷ 19 như Claude Monet, Edgar Degas và Édouard Manet, người ban đầu thử nghiệm làm nổi bật chuyển động của hình người trên vải Tất cả các họa sĩ theo trường phái ấn tượng này đều tìm cách tạo ra nghệ thuật giống như thật hơn
so với những người cùng thời Chân dung vũ công và đua ngựa của Degas là những ví dụ về những gì ông ta tin là "chủ nghĩa hiện thực nhiếp ảnh"; các nghệ sĩ như Degas vào cuối thế
kỷ 19 cảm thấy cần phải thách thức phong trào hướng tới nhiếp ảnh với những phong cảnh
và chân dung sống động
Nghệ thuật động học đã mở rộng những trải nghiệm cho người xem về sự thưởng ngoạn một tác phẩm nghệ thuật Sự kết hợp đa chiều, đa không gian là những tiêu chí sớm nhất của nghệ thuật động học Nói một cách chính xác hơn, nghệ thuật động học là một thuật ngữ
mà ngày nay thường nói đến các tác phẩm điêu khắc ba chiều và các hình tượng được vận hành bằng máy Các bộ phận chuyển động thường được cung cấp bởi gió, động cơ hoặc người điều khiển Ngoài ra còn có một phần của nghệ thuật động học bao gồm chuyển động
ảo, hay đúng hơn là chuyển động được cảm nhận từ chỉ một số góc hoặc các phần của tác phẩm Thuật ngữ này cũng đụng độ thường xuyên với thuật ngữ "chuyển động rõ ràng", mà nhiều người sử dụng khi đề cập đến một tác phẩm nghệ thuật có chuyển động được tạo ra bởi động cơ, máy móc hoặc hệ thống chạy bằng điện Cả hai phong trào “chuyển động rõ
Trang 20ràng và chuyển động ảo” trong thủ pháp của nghệ thuật động học, gần đây đã được kết luận
là bước tiếp nối của nghệ thuật Op
Theo nhiều cách Op art và Kinetic art có mối quan hệ với nhau, khám phá lãnh thổ chung Op art với sự biến dạng thị giác của bề mặt phẳng của bức tranh, tạo ra ảo ảnh về ba chiều hoặc chuyển động Các nghệ sĩ Op cũng khám phá các hiệu ứng tương tự trong không gian ba chiều, giải quyết các chất lượng cảm nhận của tác phẩm điêu khắc Đôi khi các nghệ
sĩ đã xóa nhòa ranh giới giữa hội họa và điêu khắc một cách có ý thức Một số tác phẩm dựa vào chuyển động của người xem lướt qua trước tác phẩm để kích hoạt tác phẩm đó, chuyển động của người xem gây ra hiệu ứng quang học tăng cao trong đó tác phẩm có vẻ rung hoặc nhấp nháy Ở những người khác, nghệ sĩ đã giới thiệu một yếu tố chuyển động thực tế thông qua việc bổ sung các bộ phận chuyển động, có thể là di động hoặc cơ học
1.3.Tiểu kết chương I
Nghệ thuật Op art hôm nay đã đi sâu vào đời sống nghệ thuật, Những hình ảnh ngoạn mục và ấn tượng đã là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ nhà thiết kế Nhiều nhà thiết kế đã tìm cách khai thác sử dụng Op art để gợi lên một tinh thần hiện đại cho thời đại mới, tinh giản và hiện đại Khi các nhà thiết kế được truyền cảm hứng bởi phong trào này, họ ngày càng say mê tìm kiếm yếu tố tác động lên thị giác trong hình thức thiết kế Mối quan tâm về các yếu tố này là cần thiết cho phương tiện giao tiếp bằng hình ảnh và trở thành nét đặc trưng cho các thể nghiệm hiện đại Điều nhận định này đúng và có cơ sở Để tăng cái đẹp,
để có sức hấp dẫn hơn, để có thể truyền cảm mạnh mẽ hơn, các nhà thiết kế phải tìm ra những yếu tố tác động lên thị giác người xem Bởi mục đích cuối cùng là gợi cảm xúc cho
sự nhìn, đồng thời gây hứng khởi cho hoạt động mua bán cùa người tiêu dùng Như vậy, những phẩm chất cùa nghệ thuật thiết kế mới đạt được mức độ cao, thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Trang 21CHƯƠNG 2 HIỆU ỨNG THỊ GIÁC OP ART VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ
TRONG THIẾT KẾ ĐỒ HOẠ
2.1.Hiệu ứng thị giác Op art
Một ảo ảnh quang học (ảo ảnh thị giác) là ảo ảnh được tạo ra bởi hệ thống thị giác và bởi những nhận thức thị giác khác với thực tế Vấn đề chính của thị giác là những gì mà con người thấy được không phải chỉ là sự biến đổi ở võng mạc (tức là ảnh trên võng mạc) Vì vậy, các hoạ sĩ đặc biệt quan tâm dạng tri giác này đã cố gắng thể hiện điều này qua tiến
Trang 22trình xử lý hình ảnh Leonardo DaVinci(1452-1519), là người đầu tiên nhận thức được các phẩm chất quang học đặc biệt của mắt Ông viết "Chức năng của mắt người" Phát hiện thực nghiệm chính của ông là chỉ có một sự nhìn rõ và phân biệt tại đường nhìn, đường thẳng quang học kết thúc tại vùng giữa của võng mạc
2.1.1.Hiệu ứng của sự tương phản 2 màu Đen trắng
Là một ảo giác về độ sáng khi một phần của những sọc đen và trắng được thay thế
bằng các thanh chữ nhật màu xám (Hình2.1.1a) Cả hai thanh chữ nhật A và B đều có cùng
một màu và độ mờ Độ sáng của thanh màu xám sẽ chuyển sang độ sáng của hai sọc cùng màu ở trên và dưới của nó Điều này trái ngược rõ ràng với sự ức chế bên bởi vì nó không thể giải thích cho hiện tượng này Một ảo ảnh tương tự xảy ra khi các sọc ngang có nhiều màu sắc khác nhau, được gọi là ảo ảnh Munker-White hay ảo giác Munker
Mối quan hệ đen trắng và hình, nền
Đây là mối quan hệ tương phản giữa hình và nền Thường thì những bức tranh này có màu đen và trắng , hoặc màu xám Ở đây, các đường lượn sóng màu đen và trắng nằm gần nhau trên mặt phẳng, tạo ra mối quan hệ giữa hình và nền Một phản ứng khác xảy ra là các đường tạo ra hình ảnh sau của một số màu nhất định do cách võng mạc tiếp nhận và xử lý ánh sáng, như Goethe đã chứng minh trong chuyên luận Lý thuyết về màu sắc của mình, ở rìa nơi ánh sáng và bóng tối gặp nhau, màu sắc xuất hiện bởi vì độ sáng và bóng tối là hai đặc tính trung tâm trong việc tạo ra màu sắc
2.1.2.Chuyển động và ánh sáng
Giáo sư - Akiyoshi Kitaoka người Nhật Bản còn gọi đây là “ảo tượng ngoại vi võng mạc” - những ảo giác chuyển động xảy ra tại vùng biên thị giác Khi nhìn vào bức ảnh
(hình2.1.2), ta thấy những vòng tròn như đang chuyển động, nhưng thực chất chúng đứng
yên và khi nhìn sang hai bên của bức ảnh, ảo giác này thể hiện rõ ràng hơn Những nghiên cứu trước đây đều cho rằng ảo ảnh này được sinh ra khi ánh mắt chuyển động chậm khi nhìn bức hình Nhưng vào năm 2012, nhà thần kinh học Susana Martinez đã chứng minh điều ngược lại, đó là do ánh mắt di chuyển nhanh Ví dụ khác, nếu một người nhìn vào thác nước trong khoảng một phút và sau đó nhìn vào những tảng đá đứng yên ở bên cạnh thác nước, những tảng đá này dường như đang di chuyển lên trên một chút, chuyển động cụ thể
Trang 23này còn được gọi là ảo ảnh thác nước Robert Addams (1834) đã đưa ra kết luận về ảo ảnh thác nước sau khi quan sát nó tại Thác Foyers ở Scotland Thuật ngữ ảo ảnh thác nước được đặt ra bởi Thompson (1880) Một ví dụ khác, có thể thấy khi người ta nhìn vào tâm của một hình xoắn ốc đang quay trong vài giây Hình xoắn ốc có thể biểu hiện chuyển động ra ngoài hoặc vào trong Sau đó, nhìn vào bất kỳ mẫu tĩnh nào, nó dường như đang di chuyển theo hướng ngược lại Dạng ảnh hưởng của chuyển động này được gọi là ảnh hưởng của chuyển động xoắn ốc Tế bào thần kinh mã hóa một chuyển động cụ thể làm giảm phản ứng của chúng theo thời gian tiếp xúc với một kích thích chuyển động liên tục; đây là sự thích ứng thần kinh Sự thích ứng thần kinh cũng làm giảm hoạt động cơ bản, tự phát của cùng các tế bào thần kinh này khi phản ứng với một kích thích tĩnh Aristotle (khoảng năm 350 trước Công nguyên) đã có những nghiên cứu về chuyển động ảo ảnh sau khi xem chuyển động liên tục
2.1.3.Hiệu ứng Hering
Hiệu ứng Herring này được đặt tên theo nhà vật lý học người Đức - Ewald Hering Các hiệu ứng Hering là một trong những ảo tưởng hình học-quang và được phát hiện bởi nhà sinh lý học người Đức Ewald Hering vào năm 1861 Một số lí thuyết gợi ý rằng ảo ảnh Hering (và một số ảo ảnh hình học khác) là do sự chậm trễ thời gian mà hệ thống thị giác phải đối phó Thay vì cung cấp tín hiệu hình ảnh đầu tiên chạm vào võng mạc, hệ thống thị giác ước tính hình ảnh có thể trông như thế nào, trong thời điểm tiếp theo Trong trường hợp Hering, các đường hướng tâm đánh lừa hệ thống thị giác rằng nó đang di chuyển về phía trước Vì chúng ta không thực sự chuyển động và hình vẽ tĩnh, nên chúng ta nhận thức sai các đường thẳng là cong Kết quả này phù hợp với vai trò của mạng lưới tế bào thần kinh điều chỉnh định hướng thị giác
Quan sát ( hình 2.1.3) ta thấy hai đường màu đỏ bị uốn cong Thực chất, hai đường thẳng màu đỏ này song song với nhau Não bộ cho rằng, phần trung tâm của hai đường
“phải” tiến xa hơn nữa và khoảng cách giữa hai đường “phải” rộng hơn ở trung tâm Tất cả diễn ra chỉ trong 1/10 giây Những ảo giác tiếp theo xuất hiện do sự thay đổi về góc nhìn, sự tương phản về màu sắc, khoảng cách sắp xếp của các vật thể Dù não bộ chúng ta đang
Trang 24"phản đối" nhưng chính các đường thẳng hình nan hoa như "hút" tầm nhìn, tạo cho mắt chúng ta cảm giác đang hướng về một điểm trung tâm Hay nói cách khác, mắt ta đang nhìn những đường bức xạ theo chiều sâu, tạo cảm giác giống như chúng đang chuyển động, khiến hai đường thẳng song song bị uốn cong Hình ảnh “cong” của hai đường thẳng màu
đỏ đó, là những gì được não bộ tiên đoán về việc hai đường thẳng sẽ phải trông như thế nào, khi tầm nhìn của mắt đang đi theo “hướng” của các đường nét hướng về điểm trung tâm
2.1.4.Hiệu ứng Ảo ảnh Cornsweet
Lí thuyết hiệu ứng ảo tưởng Cornsweet, là một lí thuyết về ảo ảnh quang học đã được
mô tả một cách chi tiết, bởi Tom Cornsweet vào cuối năm 1960 Trong hình ảnh ở bên phải, toàn bộ vùng bên phải của "cạnh" ở giữa trông hơi nhạt hơn so với vùng bên trái của cạnh, nhưng trên thực tế độ sáng của cả hai khu vực hoàn toàn giống nhau, có thể thấy bằng cách bôi đen vùng chứa cạnh (Các vùng tối hơn và sáng hơn được phân loại xung quanh mép chỉ chiếm 14% tổng chiều rộng của hình ảnh.)
Trong hiệu ứng ảo ảnh Cornsweet, vùng tiếp giáp với phần sáng của cạnh có vẻ sáng hơn và vùng tiếp giáp với phần tối của cạnh có vẻ tối hơn, hoàn toàn ngược lại với các hiệu ứng tương phản thông thường Cùng với ảo ảnh tương phản đồng bộ và ảo ảnh Mach Bands,
ảo ảnh Cornsweet vận dụng tính chất màu nóng lạnh và đường chính giữa để khiến cho một phần của bức hình trông có vẻ tối màu hơn phần còn lại Nhưng thật ra, hai phần đó cùng
màu ( Hình2.1.4), quan sát ta có thể thấy rằng hai phần này sẽ có màu giống nhau, nếu được
đặt song song
Loại ảo ảnh này thật ra chúng khác nhau ở hai điều sau đây:
Đối với ví dụ của ảo ảnh Mach bands, hiệu ứng này chỉ được nhìn thấy ở khu vực xung quanh phần viền của mỗi hình Còn đối với ảo ảnh Cornsweet, ta sẽ thấy nó ảnh hưởng lên toàn bộ hình
Đối với ảo ảnh Cornsweet, phần sáng màu hơn sẽ trông có vẻ sáng hơn và phần tối
sẽ tối hơn Đây là sự đối lập của các hiệu ứng tương phản thông thường
2.1.5.Hiệu ứng Muller-Lyer
Lý thuyết ảo ảnh cổ điển này chứng minh được sự bất hoàn hảo trong trực giác của con người Hiệu ứng Müller-Lyer là một ảo ảnh quang học bao gồm ba mũi tên cách điệu Khi
Trang 25người xem được yêu cầu đặt một dấu trên hình ở điểm giữa, họ luôn đặt nó nhiều hơn về phía cuối "đuôi" Ảo tưởng được Franz Carl Müller-Lyer (1857–1916), một nhà xã hội học người Đức, phát hiện ra vào năm 1889 Một biến thể của cùng một hiệu ứng (và dạng phổ biến nhất mà nó được thấy ngày nay) bao gồm một tập hợp các hình giống như mũi tên
(Hình 2.1.5.) Các đoạn thẳng bao gồm trục của các mũi tên có chiều dài bằng nhau, Nhưng
khi nhìn vào đoạn thẳng trục của mũi tên có hai đuôi ta thấy là dài hơn đoạn tạo thành trục của mũi tên có hai đầu Nghiên cứu chỉ ra rằng nhận thức về ảo ảnh Müller-Lyer sai phân số trung bình về độ dài của các đoạn thẳng thay đổi từ 1,4% đến 20,3% Năm 1965, sau một cuộc tranh luận giữa Donald T Campbell và Melville J Herskovits về việc liệu văn hóa có thể ảnh hưởng đến các khía cạnh cơ bản của nhận thức như độ dài của một đoạn thẳng hay không, họ đã tiến hành một cuộc điều tra vấn đề này Trong bài báo năm 1966, họ đã điều tra mười bảy nền văn hóa và cho thấy rằng những người ở các nền văn hóa khác nhau về cơ bản khác nhau về cách họ trải nghiệm các hiệu ứng Müller-Lyer Bài báo kết luận "cư dân thành phố châu Âu và Mỹ có tỷ lệ sống chung trong môi trường của họ cao hơn nhiều so với
những người không phải châu Âu và vì vậy họ dễ bị ảo tưởng đó hơn” Bài báo còn cung
cấp bằng chứng cho thấy sự khác biệt trong môi trường, có thể tạo ra sự khác biệt trong nhận thức về ảo ảnh Müller-Lyer Một số thí nghiệm đã được báo cáo cho thấy rằng: chim
bồ câu nhận thức được ảo ảnh Müller-Lyer tiêu chuẩn, thí nghiệm trên vẹt cũng đã được báo cáo với kết quả tương tự Richard Gregory đưa ra lí thuyết là ảo giác Müller-Lyer xảy ra do
hệ thống thị giác biết rằng cấu hình "góc trong" tương ứng với một vật thể tuyến tính, chẳng hạn như góc lồi của một căn phòng cho cảm giác gần hơn và cấu hình "góc ra" tương ứng với một đối tượng ở xa, chẳng hạn như góc lõm của căn phòng
Mạng lưới thần kinh trong hệ thống thị giác của con người học cách giải thích rất hiệu quả các cảnh 3D Đó là lý do tại sao khi chúng ta rời xa dần một cây cột thẳng đứng, chúng
ta cảm nhận rằng cây cột đang ngắn lại Ảo ảnh thị giác, đôi khi được sử dụng để cho chúng
ta thấy rằng, những gì chúng ta nhìn thấy là một hình ảnh được tạo ra trong não của chúng
ta
Trong phần giải thích ảo ảnh Müller-Lyer: hệ thống thị giác sẽ phát hiện các dấu hiệu chiều sâu, thường được kết hợp với các phối cảnh 3D và quyết định không chính xác đó là
Trang 26bản vẽ 3D Sau đó, cơ chế hằng số kích thước sẽ làm cho chúng ta thấy chiều dài sai lệch của đối tượng, đối với một bản vẽ phối cảnh thực , sẽ ở xa hơn Theo giả thuyết trung tâm, các phán đoán về khoảng cách giữa các đối tượng trực quan bị ảnh hưởng mạnh bởi tính toán thần kinh của các trung tâm của cấu hình độ chói của các đối tượng, trong đó vị trí của tâm của một hình ảnh xác định vị trí nhận thức của đối tượng nhìn
2.1.6.Hiệu ứng lưới Hermann
Ảo ảnh lưới Hermann khá phổ biến và có thế tìm thấy trong các hình có bố cục chứa lưới
các hình vuông được đặt lên một khung nền tương phản Nhìn trực diện vào bất kì hình vuông nào cũng sẽ tạo ra các đốm màu tại phần giao nhau của các hình vuông Nhưng khi nhìn vào phần giao nhau đó thì các đốm màu sẽ biến mất Các đốm màu xuất hiện khi ta
nhìn thẳng vào các hình vuông (Hình 2.1.6) Lý do cho hiệu ứng này là do sự ức chế thần
kinh Nói một cách đơn giản, chúng ta có thể hiểu là một nơron bị kích thích sẽ làm giảm hoạt động của các nơron lân cận
2.1.7.Hiệu ứng Ảo ảnh Jastrow
Jastrow là loại ảo giác, khi ta đo chiều dài của 2 vật vòng cung, vật bên trong lại dài hơn vật bên ngoài, nhưng 2 vật lại bằng nhau Hiện tượng này được phát hiện ra bởi nhà tâm
lý học Joseph Jastrow từ hơn 100 năm trước.Khi so sánh độ lớn các vật,chúng ta thường có
xu hướng so sánh 2 cạnh gần nhau nhất của 2 vật Nếu đặt những vật có hình vòng cung cạnh nhau như hình vẽ thì dù chúng bằng nhau ta vẫn cảm thấy vật nằm trong to hơn Đây là một loại ảo ảnh hơi hiếm gặp với chúng ta
Khi so sánh độ dài 2 vật hình cung như (hình2.1.7.), ta thường so sánh 2 cạnh gần nhất nhưng nếu hình A và hình B bằng nhau thì nhìn trong hình, ta sẽ thấy cạnh dưới của hình A
là cạnh vòng ngắn, cạnh trên của hình B là vòng dài Đáng lẽ ta phải so sánh cạnh trên của hình A với cạnh trên của hình B Có một số giải thích về lý do tại sao bộ não nhận thức được sự khác biệt về kích thước giữa các đoạn vòng, thực tế là tâm trí chỉ có thể tham gia vào một tầm nhìn nhỏ, được tái tạo lại bởi ý thức của chúng ta Cách giải thích thường được
sử dụng nhất là não bị nhầm lẫn bởi sự khác biệt về kích thước giữa bán kính lớn và nhỏ Cạnh ngắn làm cho cạnh dài trông dài hơn, và cạnh dài làm cho cạnh ngắn trông càng ngắn hơn Masaki Tomonaga, một nhà nghiên cứu tại Đại học Kyoto Ông đã tiến hành thí
Trang 27nghiệm với người và tinh tinh loài động vật được biết là quan sát nhiều ảo ảnh quang học giống như con người Thí nghiệm cho thấy, cả người và tinh tinh đều bị Ảo ảnh Jastrow đánh lừa Manfredo Massironi và các đồng nghiệp của ông từ các trường đại học Rome và Verona đã sửa đổi và sử dụng ảo ảnh Jastrow để thực hiện một thử nghiệm chẩn đoán cho những người bị mắc bệnh đãng trí Những người bị đãng trí, không cảm nhận được ảo giác khi các phân đoạn nằm ở phía mà nhận thức của họ bị thiếu Các nhà nghiên cứu cũng đã kiểm tra tính nhạy cảm của những người mắc chứng tự kỷ đối với một loạt các ảo ảnh quang học Nghiên cứu này, chỉ ra rằng những người mắc chứng tự kỷ không gặp ảo tưởng về kích thước Phát hiện này phù hợp với ý kiến cho rằng chứng tự kỷ liên quan đến việc tập trung quá mức vào các chi tiết
2.1.8.Hiệu ứng tương phản đồng bộ
Đặt hai vật thể có cùng màu sắc lên hai phần nền tương phản nhau có thế khiến cho chúng trở nên khác màu nhau (Hình 2.1.8) Hiện tượng này được gọi là Ảo ảnh tương phản đồng bộ Trong giới thiết kế hình ảnh, hiệu ứng này sẽ khác nhau tùy vào mỗi người Màu chữ ở hai bên là hoàn toàn giống nhau nhưng nhìn bằng mắt thì ta không thấy như Cho đến nay chưa có một giả thuyết chắn chắn nào giải thích cho việc tại sao ảo ảnh này lại xuất
hiện, nhưng có rất nhiều bài nghiên cứu suy đoán về việc này
2.1.9.Hiệu ứng tương phản đa sắc
Có ba lớp chính về sự tương tác của màu sắc: tương phản đồng thời , tương phản liên tiếp và tương phản ngược (hoặc đồng hóa) Sự tương phản đồng thời có thể xảy ra khi một vùng màu được bao quanh bởi một vùng có màu khác Nói chung, độ tương phản tăng cường sự khác biệt về độ sáng và màu sắc giữa các vùng tương tác, các hiệu ứng tương phản như vậy là tương đương nhau, nhưng nếu khu vực xung quanh lớn hơn và cường độ hơn khu vực nó bao quanh, thì độ tương phản tương ứng sẽ mất cân bằng và có thể chỉ được tác động theo một hướng Ngược lại, đặt hướng mắt ổn định trên một màu và sau đó nhanh chóng thay thế màu đó bằng màu khác hoặc bằng cách chuyển sự cố định từ màu này sang màu khác Đôi khi, được gọi là sự đồng hóa của màu sắc hoặc hiệu ứng lan tỏa độ sáng của màu trắng, hoặc độ tối của màu đen có thể lan sang các vùng lân cận Tương tự như vậy, màu sắc có thể loang vào nhau hoặc đồng hóa vào các khu vực xung quanh Tất cả các hiệu
Trang 28ứng có xu hướng làm cho các khu vực lân cận trông giống nhau hơn, thay vì tăng cường sự khác biệt của chúng như trong sự tương phản Tuy nhiên, trong sự tương tác của màu sắc, các màu gốc vẫn giữ được phần lớn bản sắc riêng mặc dù chúng có thể bị thay đổi phần nào
do độ tương phản của màu cạnh nó
2.2.Giá trị của Op art trong thiết kế đồ hoạ
Trong các lĩnh vực hoạt động sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt trong nghệ thuật thị giác (Visual arts) - Ảo giác (Illusion) đóng vai trò quan trọng và đắc lực trong quá trình thể hiện, biểu đạt ý tưởng, nội dung và thẩm mỹ của một tác phẩm nghệ thuật Bởi ảo giác được coi
là yếu tố, là phương tiện sáng tạo hấp dẫn của các họa sỹ, nhà thiết kế Mỹ thuật ứng dụng, các đạo diễn Điện ảnh và các Nhiếp ảnh gia Thông qua hình ảnh truyền tải ảo thị giác, bộc
lộ những khả năng sáng tạo phong phú, phát triển đa dạng các hình thái tạo hình và không gian cho mỗi thể loại nghệ thuật thị giác Trên thực tế, ảo thị giác đã được các nghệ sỹ, nhà thiết kế vận dụng rất sáng tạo và đã đem lại nhiều hiệu ứng cảm nhận thị giác thú vị, sâu sắc
trong các tác phẩm thuộc lĩnh vực nghệ thuật thị giác
Ảo giác trong nguyên lý thị giác (Visual principles), được coi là phần cảm nhận không chính xác, là hạn chế của cảm nhận Ảo có nghĩa là không thật, chính vì thế ảo giác là tri giác không đúng, bị sai lệch, nhưng chúng có tính quy luật Trong các tác phẩm Op art yếu
tố ảo giác là yếu tố hàng đầu được hoạ sĩ dày công nghiên cứu Khi khoa học và công nghệ chưa phát triển như ngày nay Mọi hiệu ứng gây ảo giác trong các tác phẩm nghệ thuật đều xuất phát từ tư duy, sự tưởng tượng và được thực hiện bằng bàn tay của các họa sĩ cho đến cuối thời kỳ của nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại đã hình thành loại hình Nghệ thuật Ảo giác (Psychedelic Art) Nổi bật hơn là trong Op art, các hoạ sĩ, nhà thiết kế đã sử dụng yếu
tố ảo giác để diễn đạt và miêu tả những hình tượng và ý tưởng sáng tạo vượt ra ngoài tư duy, ý tưởng thuần túy và cảm nhận thực của con người trong các tác phẩm của mình Với khái niệm siêu hiện thực trong nghệ thuật tạo hình, bản chất nội hàm tri thức của nó chính là vượt qua ranh giới cái không bình thường của tư duy của nhân loại Tác phẩm: “Zebra” là một trong những tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp của hoạ sĩ Vasarely, một bức tranh được trong bộ sưu tập Op-art chuyển động Phiên bản đầu tiên của tác phẩm nghệ thuật này đã được thực hiện 30 năm trước khi khái niệm Op-art được hình thành và nó được
Trang 29coi là khởi đầu của phong trào này Phiên bản cuối cùng của Zebra được tạo ra vào năm
1965 Từ năm 1939 đến năm 1948, Vasarely đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản của Op-art trong các tác phẩm đầu tiên của mình Ông tập trung vào việc nghiên cứu việc sử dụng các đường nét, sự tương tác giữa bóng tối và ánh sáng, và việc tạo ra phối cảnh “Zebra” được hiểu như một nghiên cứu về hình dạng, độ tương phản và ảo ảnh quang học Ta nhận thấy Vasarely đã chọn con vật thích hợp để đại diện cho một trong những thể nghiệm đầu tiên của phong trào Op-art Trong tác phẩm Zebra từ năm 1937, các con vật tạo dáng trước nền trắng và sự tương phản là rõ rang, các sọc cong của ngựa vằn tạo ra ảo giác về sự chuyển động, đùa giỡn với nhận thức của mắt người Cho đến ngày nay, trải qua gần một thế kỷ, những ý tưởng và các thủ thủ pháp tạo hình trong các tác phẩm của Ông vẫn là một đỉnh cao
về tư duy và nghệ thuật vượt ra ngoài nhận thức và cảm nhận của chúng ta.( Hình 2.2a)
Với hội họa hiện đại, các họa sỹ đã sử dụng và thay đổi điểm nhìn, đường chân trời, lực thị giác, trường thị giác, ánh sáng, tạo hình, tạo khối và các quy luật thị giác, luật thấu thị (luật
xa gần)… vào trong các tác phẩm hội họa 3D Việc ứng dụng và thay đổi sáng tạo của các họa sỹ đã đem lại hiệu ứng ảo giác thẩm mỹ cao trong các tác phẩm 3D của mình Tác phẩm Cổng Damascus (Biến thể Kéo dài I) (hình 2.2b) Vào cuối những năm 1960, Frank Stella hoạ sĩ người Mỹ bắt đầu loạt phim “Thước đo góc” của mình, giới thiệu sự mở rộng về góc nhìn, đường cong và màu phát sáng, mỗi bức tranh này được xác định bởi một nguyên tắc đối xứng của hình vuông và hình tròn giao nhau Các dải màu trong tranh thường xuyên thay đổi về độ sáng và nhịp điệu, chúng đan xen tạo nên một phức điệu hài hòa Các sáng tác của Ông giai đoạn này không có lớp lang, chiều sâu nhưng thay vào đó là một cách thể hiện độc đáo của màu sắc và hình thể, các bức tranh thể hiện tính ưu việt của độ phẳng Một trong những bức tranh đó phải kể đến là tác phẩm “Cổng Damascus” (Biến thể Kéo dài I) bức tranh buộc người xem phải đứng từ xa hoặc đi bộ dọc theo tranh 50 met Hình ảnh kiến tạo và tái tạo đều có đặc trưng là đề cao tính khoa học công nghệ trong thể hiện, tạo cho nó một cái nhìn đa diện, lồng ghép, kết hợp tạo hình tượng cô đọng, phi thực tế nhưng mang tính đa nghĩa, đầy ý niệm Ví dụ, một quảng cáo của Volkswagen mang thông điệp thân thiện môi trường đã kết hợp hình ảnh chiếc chìa khóa ô tô với viễn cảnh môi trường thiên nhiên thân thiện trong một hình tượng thể hiện cho sự khởi động một
Trang 30hành trình xanh.Bên cạnh các thành tố như hình ảnh, màu sắc, nghệ thuật chữ trong poster ngày nay cũng chứa đựng các yếu tố ảo thị giác một cách rõ nét
Poster của hãng Nike thể hiện tốc độ, sức mạnh và sự hào hứng trong thể thao Poster đã sử dụng các mảng màu tương phản đặt cạnh nhau, gam màu nóng cùng với cách phân mảnh như một cơn lốc đang cuốn đi và nhân vật như tan ra hòa quyện cùng bầu không khí náo nhiệt của sự kiện thể thao Cách tạo hình tượng theo thủ pháp giải cấu trúc như vậy không những đem lại cái hấp dẫn cho poster mà còn biểu hiện những yếu tố nghệ thuật hậu hiện đại đã tham gia rất hiệu quả vào thiết kế hình thức và mục tiêu truyền thông của nó Bên cạnh đó, ở đây nguyên tắc tương phản được phá cách, ưu tiên cho tính chất duy lý, ý niệm Không còn chỉ là mảng màu lớn, phẳng, nguyên chất mà nay
là những mảng chuyển sắc phức tạp hay màu mang hiệu ứng chất liệu Những thuộc tính màu sắc được khai thác về tính chất, trạng thái và có khả năng gây cảm xúc, độ rung cảm khác nhau trong nhận diện thương hiệu, tạo cá tính, diện mạo riêng trong quảng cáo Màu sắc thương hiệu hoà nhập một cách tự nhiên, linh hoạt với văn hóa và đối tượng khách hàng mà họ hướng đến Trong chiến dịch quảng bá “Open happiness”, Cocacola sử dụng duy nhất màu đỏ đặc trưng của thương hiệu kết hợp với cách sắp đặt, cắt góc chữ tạo nên một biểu tượng mà cả thể giới đều quen thuộc chính là gương mặt cười
để triển khai Màu đỏ, ngoài màu của thương hiệu, nếu xét riêng, nó còn có ý nghĩa về mặt văn hóa, tâm linh của từng châu lục, quốc gia Trong trường hợp này, vận dụng sự tối giản chỉ duy nhất màu đỏ được tôn vinh, kết hợp cùng biểu tượng đã tạo nên một cách nghĩ hoàn toàn khác, hướng về sự ấm áp, may mắn và xúc cảm mãnh liệt mà Cocacola mang lại Trong các phương tiện biểu đạt poster QC, hình ảnh là một phương tiện thuận lợi cho việc khai thác yếu tố nghệ thuật Hậu hiện đại khá rõ Ngày nay, hình ảnh mang yếu tố Hậu hiện đại trong poster QC nhấn mạnh đến tính đa dạng về phong cách và kỹ thuật thể hiện;
có thể là ảnh chụp, module hình học, đường nét, hình vẽ bằng những thủ pháp tạo hình hoặc những tín hiệu, ký hiệu đồ họa, v.v
Họa sỹ đồ họa Alex Trochut người Tây Ban Nha đã sử dụng rất sáng tạo các hiệu ứng
ảo giác của mầu sắc để thể hiện trong tác phẩm áp phích quảng cáo cho hẵng Pepsi gây ấn tượng rất mạnh mẽ cho thị giác ( hình 2.2c)
Trang 31Trong Hội họa các họa sỹ đã sử dụng rất nhiều các thủ pháp tạo ảo giác thị giác Các thủ pháp ảo giác được tạo nhờ những yếu tố tạo hình như: Điểm, đường, diện, hình khối, mầu sắc, ánh sáng, không gian…Về thực tế mọi không gian thể hiện trên mặt phẳng của các tác phẩm mỹ thuật thể hiện theo mọi phong cách đều là không gian ảo Nhưng do cảm nhận quen thuộc, con người khi xem các tác phẩm vẽ theo phong cách hiện thực người ta luôn hình dung và tưởng tượng đó là không gian thực khi nhìn vào tác phẩm Những hiện tượng cảm nhận đó lại càng được lôi cuốn và liên tưởng mạnh mẽ hơn khi thưởng ngoạn các tác phẩm mỹ thuật thuộc Op art Là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa trừu tượng hình học, Op art giải phóng sự gò bó tư duy của con người về lý trí, logic Mọi đường nét, hình thể, màu sắc trong tác phẩm đều mang lại cho người xem những ảo giác mạnh mẽ
Ở lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng, các nhà thiết kế đã phải sử dụng nhiều các thủ pháp và
kỹ thuật tạo ra cảm giác hiệu ứng ảo giác trong các tác phẩm Đồ họa quảng cáo, sản phẩm công nghiệp và công trình ứng dụng Hiệu quả sử dụng những hiệu ứng ảo giác nhằm lôi cuốn sự tập trung của thị giác trong quảng cáo, tiếp thị, đồng thời cũng khắc phục những yếu điểm và khiếm khuyết của đối tượng sử dụng và không gian không gian, môi trường ứng dụng còn hạn chế….Ví dụ trong lĩnh vực thời trang người ta sử dụng những đường thẳng dọc và mầu đen để thiết kế quần áo cho những người béo, khi mặc sẽ gây cảm giác thon thả và ngược lại những đường thẳng ngang và mầu sáng sẽ dùng cho những người gầy,khi mặc sẽ gây cảm giác mập hơn Trong thiết kế nội ngoại thất, thủ pháp sử dụng những gam mầu có sắc độ sáng để khắc phục những không gian hẹp và ngược lại Ngoài ra những gam mầu lạnh được sử dụng trong không gian nội thất cũng gây cảm giác mát mẻ và những gam màu nóng sẻ gây cảm giác nóng v.v Có rất nhiều thủ pháp và kỹ thuật gây ra được cảm giác hiệu ứng ảo giác Những cảm giác khác nhau về ảo giác đều mang lại những hiệu quả thẩm mỹ và công dụng khác nhau trong mỗi lĩnh vực của Mỹ thuật ứng dụng Sự thay đổi về vị trí, chiều chuyển động, mầu sắc, cự ly, mật độ và nguồn sáng của đường sẽ mang lại những cảm giác thị giác khác nhau Trong nghệ thuật quảng cáo, sử dụng nhiều hiệu ứng về mầu sắc để thu hút thị giác, tạo ra sự hấp dẫn và tăng hiệu ứng
Đồ họa, đặc biệt là đồ họa hiện đại vận dụng những quy luật về mầu sắc, luật xa gần, sự tưởng tượng, trí nhớ… để tạo ra những tác phẩm chứa đựng cảm giác ảo vừa thú vị vừa
Trang 32nghệ thuật Ánh sáng và không gian là những yếu tố quan trọng trong thể hiện ảo giác Chúng đều có quy luật chung, nhưng các nghệ sỹ đã tận dụng chúng và sáng tạo ra được những hiệu ứng về không gian và ánh sáng mang nét cá tính riêng của mình, mang lại cho người xem những cảm giác ảo giác bất ngờ và hiệu quả ngoài khả năng nhận thức thực tế của con người Nhận thấy vai trò quan trọng về giá trị thẩm mỹ của yếu tố hiệu ứng ảo giác trong các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, tạp chí Scientific American ở Mỹ hàng năm đã tổ chức các cuộc thi về yếu tố ảo giác trong các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật thị giác Nội dung trọng tâm của cuộc thi đặt ra về ảo giác của mầu sắc và hình dạng trong nghệ thuật Tạp chí
có logo riêng cho cuộc thi và hàng năm đã thu hút rất nhiều các nghệ sỹ trên thế giới tham gia
Thủ pháp gây ảo giác thì rất nhiều, một trong những những nguyên nhân gây ảo giác là nguyên nhân vật lý, do khúc xạ ánh sáng Vì thị giác của con người chỉ nhận biết được sóng ánh sáng với tần số trong tần số thuộc ngưỡng nhìn Thế giới mà chúng ta nhìn thấy được là rất nhiều màu sắc khác nhau Nhưng khi tất cả các màu bị giảm thì một số màu bị hấp thụ và một số màu được phản ánh Quy luật này được áp dụng và phổ biến trong nhiều lĩnh vực của nghệ thuật Nhưng nguyên nhân đầu tiên, đó là khả năng tiếp nhận của thị giác: Con mắt
là cơ quan tiếp nhận, còn phân tích là chức năng của thị giác và những vùng khác Do vậy mắt có những hạn chế về mặt cấu tạo sinh học Ở nguyên nhân này còn do sự không đồng
bộ giữa các giác quan trong quá trình tiếp nhận và sử lý thông tin nhất là khi sức khỏe và thể lực không tốt v.v Một nguyên nhân quan trọng khác về ảo giác đó là nguyên nhân tâm lý
Sự ghi nhớ của chúng ta đôi khi là sự mâu thuẫn giữa cảm nhận và kinh nghiệm trong quá khứ Ảo ảnh hình thành dựa trên hiện tượng lưu ảnh của mắt, chúng không chỉ có tác dụng giải trí mà còn để phân tích hoạt động của não Trong hội họa cũng như trong nghệ thuật thiết kế, nguyên nhân tâm lý đóng vai trò rất quan trọng Bởi lẽ sự tưởng tượng là bản tính
tự nhiên của con người và là cội nguồn sinh ra ảo giác tâm lý Trong thực tế ảo giác có rất nhiều hình thái khác nhau Tùy thuộc vào mỗi chức năng, mục đích và yêu cầu của mỗi loại hình nghệ thuật mà người ta vận dụng hình thức ảo giác cho phù hợp Đối với Nghệ thuật tạo hình và Nghệ thuật thiết kế thường sử dụng: Ảo giác về hình dạng, ảo giác về ánh sáng,
về không gian, ảo giác về chuyển động, về màu sắc và ảo giác về sắc độ… Trong mỗi hình
Trang 33thái ảo giác của nghệ thuật thị giác có những kỹ thuật, công nghệ và thủ pháp riêng Những
kỹ thuật và thủ pháp khác nhau sẽ tạo ra những tính cách và hiệu ứng cảm nhận riêng về ảo giác Có thể sử dụng màu sắc để tạo ra những ảo giác trong bất kỳ căn phòng nào bằng việc tạo ra cảm giác trái ngược, chẳng hạn nhạt và đậm, ấm và lạnh, cao và thấp trong thiết kế không gian nội, ngoại thất Trong lĩnh vực thiết kế Đồ họa, Thời Trang, Tạo dáng công nghiệp, mầu sắc cũng tạo ra những hiệu ứng ảo giác về cao, thấp, béo, gầy, mềm, cứng v.v
Có thể nói các ảo ảnh thị giác, là sản phẩm của các hoạ sĩ đã sử dụng những hiểu biết của họ vào hoạt động của mắt và não người để tạo ra ảo ảnh trong tác phẩm nghệ thuật của họ, các hoạ sĩ đã nghĩ ra các kỹ thuật để lừa bộ não nghĩ rằng một mặt phẳng là ba chiều Do đó, nghệ thuật thị giác đôi khi đã đi trước các ngành khoa học thị giác trong việc khám phá các nguyên tắc tầm nhìn Theo nghĩa này, nghệ thuật, ảo ảnh và khoa học thị giác luôn là một liên kết ngầm
2.3.Tổng kết chương 2
Ngày nay, yếu tố ảo giác được coi là một phương tiện tạo hình rất hữu hiệu không thể thiếu trong quá trình sáng tạo, thể hiện ý tưởng và thẩm mỹ của các nghệ sỹ thuộc lĩnh vực nghệ thuật thị giác.Và nó được ứng dụng rất rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực của nghệ thuật thị giác đương đại Bởi ảo giác đã đem lại những hiệu ứng cảm nhận thẩm mỹ nghệ thuật thị giác siêu thực, vượt trội hơn cả những cảm nhận nhãn quan của con người Nó không chỉ làm thỏa mãn thẩm mỹ về nghệ thuật thị giác mà còn hướng định cho người xem trí tưởng tượng về một không gian, một thế giới mới đầy sức mạnh huyền ảo, mơ mộng hấp dẫn và lôi cuốn thông qua ý tưởng cao siêu và các thủ pháp gây hiệu ứng ảo giác siêu đẳng của các họa sỹ, nghệ sỹ Đặc biệt trong thời đại bùng nổ của khoa học, công nghệ thông tin các phần mềm thiết kế đã hỗ trợ mạnh mẽ, làm cho hiệu ứng của ảo giác trong các tác phẩm thuộc nghệ thuật thị giác càng thêm phong phú, đa dạng, đa chiều và sâu sắc hơn Điều đó, lại càng làm cho các nghệ sỹ có điều kiện đi sâu vào nghiên cứu, khám phá, sáng tạo, ứng dụng hiệu ứng ảo giác vào trong các lĩnh vực của nghệ thuật thị giác mà tương lai còn nhiều điều bí ẩn đang ở phía trước
Trang 34Chương 3
GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG HIỆU ỨNG THỊ GIÁC CỦA OP ART
VÀO THIẾT KẾ ĐỒ HOẠ
3.1 Khái quát về học phần Design thị giác trong thiết kế Đồ hoạ văn hoá tại Khoa Tạo dáng công nghiệp
Design thị giác là một hình thức nghệ thuật tạo ra các sản phẩm bắt nguồn tự nhiên, chủ yếu tác động vào thị giác như đồ gốm, ký họa, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, đồ họa in ấn và các nghệ thuật thị giác hiện đại (nhiếp ảnh, làm phim), thiết kế và thủ công mĩ nghệ Nghệ thuật thị giác bao gồm các lĩnh lực của nghệ thuật ứng dụng như: thiết kế công nghiệp, thiết
kế đồ họa, thiết kế thời trang, thiết kế nội thất và trang trí nghệ thuật.Với định nghĩa này, nó bao quát hoặc liên quan đến một môi trường rất rộng bao gồm những ngành nghệ thuật khác nhau: từ mỹ thuật đến mỹ thuật ứng dụng
Về kiến thức:
Mục tiêu cần đạt được về kiến thức và kỹ năng sau khi kết thúc học phần:
- Hiểu rõ các Định nghĩa, Khái niệm của môn học
- Nắm chắc các đặc tính của nội dung môn học
Trang 35- Triển khai áp dụng lý thuyết vào thực hành bài tập môn học sáng tạo design
Về kỹ năng
Nắm vững kỹ năng kiến thức khoa học thị giác
Hoàn thiện hơn về các kỹ năng nghề nghiệp
Mô tả các nội dung của học phần
Hướng dẫn quy trình phát triển ý tưởng sáng tạo trong thiết kế
Cung cấp những kỹ năng nghiên cứu, sử dụng các yếu tố tạo hình cơ bản trong chuyên ngành trong đó có các vấn đề về thị giác khi xử lý hình ảnh
Yêu cầu kết quả
Sinh viên có khả năng tự nghiên cứu một đối tượng cụ thể, phát triển ý tưởng sáng tạo trong thiết kế đồ hoạ ứng dụng
Sinh viên hiểu được khái niệm, nắm được cách thức sử dụng các hình thức nghệ thuật thị giác, tạo ra các tác phẩm, sản phẩm được tiếp nhận chủ yếu qua kênh thị giác
Học phần đề cập tới các vấn đề:
Nghiên cứu, thực hành, tạo hiệu ứng và tạo hiệu quả cho sự nhìn một cách có thẩm mỹ,
có khoa học Tự xây dựng cho mình một biểu đồ ý tưởng để phát triển tốt trong sáng tạo,phát triển khả năng tư duy thiết kế, khả năng sáng tạo dựa trên những kiến thức nền tảng của môn học
Sử dụng các yếu tố tạo hình để thiết kế
Sử dụng nét để tạo hiệu ứng
Sử dụng mảng
Sử dụng màu để tạo hiệ ứng
Kết cấu
Cách sử dụng hiệu ứng để thay đổi thiết kế
3.2 Những ứng dụng của Op art trong nghiên cứu
Op Art được tổ chức trong bộ môn bằng cách đánh thức vai trò của ảo ảnh thị giác trong nghệ thuật Trong khi các họa sĩ trước đó đã tạo ra ảo ảnh về chiều sâu, các nghệ sĩ Op đã phát triển các hiệu ứng hình ảnh gọi là sự chú ý đến các biến dạng của hình ảnh khi hiển
Trang 36thị, các tác phẩm của họ dựa trên cơ chế của thị giác khán giả để biến các tác phẩm của họ thành các mảng hình và màu sắc lung linh và thường xuyên biến đổi, di chuyển
Có thể nhận thấy yếu tố ảo giác ảnh hưởng đến cách thức xây dựng hình tượng nghệ thuật thông qua nhấn mạnh đến sự nhìn như một câu chuyện tạo nên giá trị cho một sản phẩm truyền thông Chính điều này đã tạo cho poster quảng cáo ngày nay toát lên một diện mạo khác hẳn các giai đoạn trước đây Nội dung ý tưởng chỉ có thể thành hiện thực khi có hình thức biểu đạt phù hợp Qua các lớp biểu đạt của ngôn ngữ thị giác, ảo ảnh được coi như nguyên liệu để thể hiện nội dung hình tượng, để nhìn nhận một cách tổng thể các thành tố liên kết tạo nên hình thức tác phẩm và gây chú ý cho người xem Cần phân chia từng cấu trúc tác phẩm để làm rõ sự vận dụng các yếu tố ảo ảnh thông qua từng thành tố tạo hình: màu sắc, hình ảnh, ngôn từ, bố cục và chất liệu, kỹ thuật, công nghệ Nói như vậy không có nghĩa chúng là những đơn vị riêng lẻ tập trung trong một tác phẩm thiết kế, mà qua đó thấy rõ hơn mức độ ảnh hưởng các thành tố tạo hình Tạo thành những quan hệ phức hợp, làm cho hình tượng mang tính hàm súc, khái quát nhưng đa nghĩa
Dưới đây là một ví dụ về hiệu ứng Bezold Từ hai bức tranh (3.2a, 3.2b) chúng ta có thể thấy màu sắc và họa tiết của chúng gần như giống nhau, và chỉ khác màu nền tại sao được gọi là "Hiệu ứng Bezold" bởi vì người phát hiện ra nó là Wilhelm von Bezold (1837-1907) Bezold phát hiện ra hiệu ứng này khi anh ấy đang nghĩ cách anh ấy chỉ thêm hoặc thay đổi một màu nhưng vẫn có thể có nhiều sự thay đổi kết hợp màu sắc cho thiết kế của mình
Khi bức tranh (Hình 3.2a) sử dụng màu vàng làm màu nền, chúng ta có thể có cảm giác thích thú vì một bầu không khí sống động và trong lành được chứa đựng Do màu vàng tương đối nhạt, điều này làm cho các màu hoa văn bao gồm hồng, xanh lam nhạt, xanh lục
và cam trở nên mềm và nhẹ hơn Tuy nhiên, sau khi màu nền của nó được thay đổi thành màu xanh lam, cảm giác tương phản xảy ra như trong hình 3.2b Toàn bộ tâm trạng trở nên
u ám, và tất cả các màu hoa văn đều trở nên tối hơn và sâu hơn Đồng thời, màu nền xanh lam cũng ảnh hưởng đến màu sắc hoa văn để trở nên sắc nét hơn; chúng trông rõ ràng hơn
so với khi nền có màu sáng Nó có vẻ như hút mọi thứ vào nó