1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa xã hội trong tên nữ giới người anh (trong sự liên hệ với tên nữ giới người việt)

179 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Với mục đích như trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu như sau: - Miêu tả và phân tích các đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa trong tên riêng nữ giới người Anh có sự đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

STT Họ và tên Nhiệm vụ

trong đề tài

2 TS Lê Phương Thảo

Thành viên Khoa Sau đại học -

Trường Đại học Mở Hà Nội

3 ThS Lại Minh Thư Thành viên Khoa Ngoại ngữ - Đại

6 Nguyễn Thị Hoài An

Thành viên Phòng QLKH&ĐN,

Trường Đại học Mở Hà Nội

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

4 Bảng 2.1 Mô hình tổ hợp định danh nữ giới người Anh 34

5 Bảng 2.2: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên cá nhân nữ

giới người Anh theo hình thức cấu tạo

36

6 Bảng 2.3: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên đệm nữ giới

người Anh theo hình thức cấu tạo

39

7 Bảng 2.4: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên họ nữ giới

người Anh theo hình thức cấu tạo

43

8 Bảng 2.5: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên nữ giới

người Anh theo thành tố cấu tạo

54

9 Bảng 2.6 Mô hình tên người Việt của Trần Ngọc Thêm 54

10 Bảng 2.7 Mô hình cấu trúc chính danh nữ giới người Việt 55

11 Bảng 2.11: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên cá nhân nữ

giới người Việt theo mô hình cấu tạo

58

12 Bảng 2.12: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên đệm nữ

giới người Việt theo mô hình cấu tạo

60

13 Bảng 2.13: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên nữ giới

người Việt theo thành tố cấu tạo

17 Bảng 2.17 Tên cá nhân nữ giới liên quan đến màu sắc 81

18 Bảng 2.18 Tên cá nhân nữ giới liên quan đến vật có giá trị 82

19 Bảng 2.19 Tên cá nhân nữ giới liên quan đến Kinh thánh 84

20 Bảng 2.20 Tên cá nhân nữ giới liên quan đến nhân vật trong

tác phẩm nghệ thuật

85

21 Bảng 2.21 Tên cá nhân nữ giới liên quan đến tên họ có sẵn 86

22 Bảng 2.22 Tên cá nhân nữ giới liên quan đến tước hiệu 86

23 Bảng 2.23 Tên cá nhân nữ giới liên quan đến con số 87

24 Bảng 2.24 Tên họ liên quan đến tên gọi nghề nghiệp 91

25 Bảng 2.25 Tên họ liên quan đến tên địa danh 92

26 Bảng 2.26 Tên họ liên quan đến đặc điểm địa danh 93

Trang 4

27 Bảng 2.27 Tên họ được hình thành từ tên cá nhân của cha

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ

1 Hình 2.1 Sơ đồ cấu tạo tổ hợp định danh nữ giới

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 1 Tính cấp thiết của đề tài

Tên người là một hiện tượng xã hội phức tạp Việc con người lựa chọn hình thức tên gọi này hay hay tên gọi khác, suy cho cùng đều chịu sự quy định của các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, xã hội Chính vì thế cách đặt tên của người Anh hay người Việt đều có sự xuất hiện ngày càng nhiều của những hiện tượng không tuân theo quy tắc đặt tên truyền thống Tất cả những hiện tượng đó có thể sẽ không thể giải thích được nếu chúng ta chỉ đứng trên bình diện ngôn ngữ

để nghiên cứu tên riêng

Để có thể giải thích được những hiện tượng nói trên, chúng tôi xuất phát từ bình diện ngôn ngữ học xã hội để nghiên cứu tên người Vì rằng, theo tác giả Nguyễn Văn Khang: “Ngôn ngữ học xã hội ra đời như là sự bù đắp những gì còn thiếu hụt của ngôn ngữ học truyền thống” và “nhờ có ngôn ngữ học xã hội,

mà đã liên kết được các nhân tố xã hội để nghiên cứu ngôn ngữ, giúp cho việc

sử lí hàng loạt các vấn đề ngôn ngữ trong sử dụng góp phần vào việc định hướng sử dụng ngôn ngữ” [35] Nói một cách khác, ngôn ngữ học - xã hội

“nghiên cứu tất cả các hiện tượng ngôn ngữ mang tính xã hội” [35]

Theo nguồn tư liệu mà chúng tôi tiếp cận được, hiện vẫn còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu về tên nữ giới người Anh, đặc biệt là công trình đối chiếu liên ngành, liên văn hóa

Từ những lí do nêu trên, để giúp người học và nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa Anh, Việt hiểu được những đặc điểm về ngôn ngữ và văn hoá, xã hội

hàm chứa trong tên nữ giới người Anh, chúng tôi chọn vấn đề Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa-xã hội trong tên nữ giới người Anh (trong sự liên hệ với tên nữ giới người Việt) làm đề tài nghiên cứu khoa học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc khảo sát và đối chiếu tên riêng (chính danh) nữ giới người Anh và người Việt, mục đích của đề tài là góp phần hệ thống những lí luận về tên riêng nói chung, tên nữ giới nói riêng và làm rõ những điểm tương đồng và

Trang 8

dị biệt về đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa - xã hội được phản ánh qua tên nữ giới

ở hai ngôn ngữ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích như trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu như sau:

- Miêu tả và phân tích các đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa trong tên riêng nữ giới người Anh có sự đối chiếu với tên nữ giới người Việt để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt đặc điểm ngôn ngữ trong tên riêng nữ giới người Anh và người Việt

- Miêu tả và phân tích các đặc điểm văn hóa-xã hội trong tên riêng nữ giới người Anh và người Việt để tìm ra những tương đồng và dị biệt về văn hóa – xã hội phản ánh qua tên riêng nữ giới ở hai quốc gia nêu trên

2 3 Đối tượng và phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tên chính danh của nữ giới người Anh

và người Việt, trong đó bao gồm cả phần tên họ, tên đệm và tên cá nhân

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn ở việc phân tích tên (chính danh) của nữ giới người Anh tại Anh (England) mà không phải tên nữ giới người Anh trên toàn Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland Đối với tên nữ giới người Việt, đề tài cũng chỉ giới hạn phân tích tên của nữ giới người Kinh tại Việt Nam

3.3 Ngữ liệu nghiên cứu

Để miêu tả và phân tích được đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa xã hội trong tên nữ giới người Anh và người Việt, chúng tôi đã thu thập được danh sách 6.000 tên nữ giới do Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động Thương bình và Xã hội cung cấp Đối với nguồn ngữ liệu tiếng Anh, chúng tôi phân tích dựa trên danh

sách 6.000 tên nữ giới được tổng hợp qua đề tài “Khảo sát đặc điểm Cấu trúc- Ngữ nghĩa của tên người Anh” của tác giả Nguyễn Việt Khoa

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài và thực hiện các nhiệm vụ

Trang 9

- Phương pháp điều tra để tổng hợp nguồn ngữ liệu tên nữ giới người Anh

và người Việt;

- Phương pháp miêu tả để miêu tả các đặc điểm về cấu tạo, nghĩa của từng

thành phần định danh (tên họ, tên đệm, tên cá nhân) trong tổ hợp định danh nữ giới người Anh và người Việt;

- Phương pháp so sánh đối chiếu để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt

về đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa - xã hội được phản ánh qua tên nữ giới người Anh và người Việt;

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành được tận dụng để thấy được mối liên

hệ giữa đặc trưng ngôn ngữ với các thuộc tính văn hóa - xã hội được phản ánh Ngoài ra, để thực hiện đề tài một cách khoa học và chính xác đề tài còn áp dụng thủ pháp thống kê định lượng, kết hợp với phân tích định tính, mô hình hóa, lập bảng biểu để đưa ra kết quả phân tích nghiên cứu

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài dự kiến sẽ có những đóng góp cả về lý luận và thực tiễn như sau:

Về lý luận, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ

những đặc trưng của nhân danh học nữ giới cả về mặt ngôn ngữ lẫn văn hoá -

xã hội

Về thực tiễn, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có đóng góp nhất định

cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ, công tác dạy và học ngôn ngữ và văn hoá Anh, Việt của giảng viên, sinh viên, nghiên cứu viên của các viện nghiên cứu, các trường đại học và những người yêu thích ngôn ngữ văn hoá Anh, Việt

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và trích dẫn, nội dung chính của đề tài được cấu trúc thành ba chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa trong tên nữ giới người Anh và người Việt

Chương 3: Đối chiếu đặc điểm văn hóa - xã hội được phản ánh qua tên

nữ giới người Anh và người Việt

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

Ở chương này, đề tài tập trung vào việc tổng quan tình hình nghiên cứu tên người Anh, tên người Việt nói chung và tên nữ giới người Anh, tên nữ giới người Việt nói riêng Chúng tôi cũng điểm luận một số vấn đề lí thuyết quan trọng về tên riêng, tên người, tên nữ giới và một số vấn đề liên quan đến so sánh đối chiếu tên nữ giới để làm tiền đề cho toàn bộ đề tài

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu tên người Anh

Ở Anh, chuyên ngành khoa học nghiên cứu về tên người (nhân danh học) mới chính thức ra đời vào cuối thế kỷ XIX, là một nhánh thuộc ngành khoa học nghiên cứu về tên riêng (danh xưng học) Tuy nhiên, nhân danh học Anh đã phát triển một cách nhanh chóng và rộng rãi trên nhiều phương diện như lịch

sử học, xã hội học, triết học, văn hóa học và ngôn ngữ học

1.1.1.1 Lược sử nghiên cứu tên người Anh

Sự ra đời của Tạp chí Nomina – Tạp chí về danh xưng học vào năm 1977

đã đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của ngành nhân danh học ở Anh Tạp chí là nơi công bố các công trình nghiên cứu tiêu biểu được chọn lọc từ các hội thảo khoa học thường niên và hội thảo quốc tế về địa danh học và nhân danh học của Anh với các tác giả nổi tiếng như: Carole Hough, Cecily Clark, Patrick Hanks, Peter McClure, P.H Reaney, R.M Wison,… [203] Mục lục tổng thể của 39 số đã phát hành từ năm 1977 đến nay cho thấy, các công trình được công

bố trên tạp chí đã khai thác chủ đề về tên người trên nhiều bình diện, đặc biệt thiên về tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa của tên họ người Anh (surname/family name/last name) – một thành phần định danh quan trọng trong cấu trúc tên người Anh (Tên cá nhân – Tên đệm – Tên họ)

Cũng thiên về tìm hiểu tên họ người Anh, có nhiều tác giả đã công bố các

công trình nổi bật và thu hút được giới nghiên cứu như Barber với cuốn British Family Names, Ewen với cuốn A History of Surnames of British Isles hay

Trang 11

sách tiêu biểu cho hàng trăm công trình công bố về tên họ của người Anh Các cuốn sách này đề cập một cách khá chi tiết các đặc điểm về nguồn gốc và lịch

sử của tên họ người Anh Các tên họ được liệt kê theo vần, kèm theo giải thích

về nguồn gốc và phân tích ý nghĩa của các tên họ đó

Các công trình nghiên cứu về tên cá nhân người Anh (given name/first name) có số lượng ít hơn và thường được đề cập đến trong các công trình nghiên

cứu chung về tên người Anh, điển hình như A Short History of English Personal Names của McClure (2016) Trong cuốn sách này, tác giả đã giải thích về

nguồn gốc, sự hình thành, phát triển và phân bố của tên người Anh [165] Ngoài

ra, cuốn sách còn giới thiệu nguồn gốc phát sinh của rất nhiều tên người Anh

và đề cập khá nhiều đến thói quen đặt tên của người Anh Cuốn Curiosities of Puritan Nomenclature của Bardsley cũng gây nhiều chú ý [99] Nội dung cuốn

sách này trình bày về cách đặt tên theo Kinh thánh và nguồn gốc, ý nghĩa của các tên thánh hay dùng để đặt tên của người Anh

Tuy nhiên, tên đệm (middle name) của người Anh lại là một mảng ít được các nhà nghiên cứu quan tâm Trong số hàng trăm tài liệu chúng tôi tham khảo cũng như xét trong danh mục công trình công bố của các nhà nghiên cứu nổi tiếng về nhân danh học Anh, gần như không có sự xuất hiện của các công trình nghiên cứu về tên đệm người Anh Sự thiếu quan tâm của các nhà nghiên cứu trong mảng này cũng như việc không sử dụng tên đệm (tên 2 thành phần: tên

họ và tên cá nhân) hoặc sử dụng dưới dạng viết tắt chữ cái đầu tiên của tên đệm cho thấy tên đệm chỉ được coi là thành phần phụ trong tên người Anh

1.1.1.2 Các vấn đề nghiên cứu tên riêng người Anh

Qua tìm hiểu sơ lược về lịch sử nghiên cứu tên riêng người Anh, đề tài rút

Trang 12

Hanks, Peter McClure,… các tác giả đều có gần 100 công trình công bố về tên riêng, đặc biệt là tên người Anh

Các công trình nghiên cứu về tên họ người Anh có số lượng nhiều nhất, còn các công trình nghiên cứu về tên đệm rất ít hoặc gần như chưa thấy Việc

đề cập đến tên đệm trong các công trình nghiên cứu về tên người nói chung cũng rất hạn chế

Trong các công trình nghiên cứu về tên người Anh (nói chung), các công trình chuyên nghiên cứu về tên nữ giới Anh chỉ chiếm một phần nhỏ Có thể thấy số liệu này thể hiện rõ qua số lượng các công bố về nghiên cứu tên riêng (nhân danh) trong tạp chí Nomina từ năm 1977 đến nay Trong tổng số 266 bài được liệt kê trong mục lục chỉ có 02 bài nghiên cứu về tên nữ giới [203]

- Thứ hai, về định tính

Các ấn phẩm về tên riêng người Anh đa dạng ở các thể loại như sách, bài báo, bài đăng kỷ yếu hội thảo, từ điển, đề tài, dự án khoa học… Tiêu biểu là Tạp chí Nomina xuất bản thường niên với các công bố về lĩnh vực danh xưng học của các nhà khoa học nổi tiếng của Anh Hiện nay, trong lĩnh vực nhân danh học ở Anh, có một hoạt động khoa học nổi bật đó là việc triển khai thực

hiện dự án nghiên cứu về tên họ người Anh - Family Names of the UK: A New Research Project in British Anthroponomastics (Tên họ người Anh: một dự án

nghiên cứu mới về nhân danh học) thu hút được những nhà nghiên cứu hàng đầu về nhân danh học nước Anh [135] Công trình nghiên cứu một cách toàn diện về nguồn gốc, đặc điểm, ý nghĩa và sự phân bố của tên họ trên toàn Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland Dự án có sự góp mặt của các nhà nghiên cứu về danh xưng học nổi tiếng như Patrick Hanks, Peter McClure, Richard Coates

ii Các phương diện/góc độ nghiên cứu tên người Anh

Tên người Anh vừa là đối tượng nghiên cứu đơn ngành, vừa là đối tượng nghiên cứu liên ngành Chẳng hạn, khi tên người chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ (đơn ngành) thì sẽ được nghiên cứu trên các lĩnh vực như từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp Những công trình nổi bật trong lĩnh vực này có thể kể đến

Trang 13

yếu trình bày về hình thái học và cú pháp của tên, trong đó chú trọng đến tên người Anderson đã nhấn mạnh đến việc tìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc tên người, sự phân bố của tên, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học của tên người Trên

bình diện ngữ âm, công trình Elizabeth and John: Sound Patterns of Men’s and Women Names hay Hough với công trình Toward an Explanation of Phonetic Differentiation in Masculine and Feminine Personal Names của nhóm tác giả

Culter, McQueen và Robinson đã nghiên cứu chuyên sâu về ngữ âm trong tên nam giới và nữ giới Anh Các tác giả đã tìm ra những quy luật về ngữ âm học

và sự khác biệt về ngữ âm trong tên nam và tên nữ giới người Anh [120] [144]

Khi tên người Anh là đối tượng của nghiên cứu đa ngành, ngôn ngữ học

có thể kết hợp với sử học để nghiên cứu, tìm hiểu về nguồn gốc của tên họ

người Anh, các công trình tiêu biểu như: English Surnames Their Sources and Significations của Bardsley (1875), A History of British Surnames của McKinley (1990), Patterns of Migration in the Late Middle Ages: The Evidence

of English Place-name Surnames của McClure (1979),… The Origin of English Surnames của Reaney (1980),…[98][167][160] Ngôn ngữ học có thể kết hợp

với xã hội học để nghiên cứu về tên riêng và các vấn đề xã hội liên quan mà đặc biệt là việc đổi tên của nữ giới sau khi kết hôn, các công trình tiêu biểu

như: The Distinction of Gender? Women’s Names in the Thirteenth Century của Postles (1996), A Name of One’s Own: Identity, Choice and Performance

in Marital Relationship của Wilson (2009) hay The Making of Selfhood: Naming Decisions on Marriage của Thwaites (2013)… [179] [191] [187]

Ngôn ngữ học có thể kết hợp với tôn giáo để nghiên cứu các tên riêng có nguồn

gốc từ Kinh thánh, các công trình tiêu biểu như Curiosities of Puritan Nomenclature của Bardsley (1880), Names of Women of the Bible của Ieron

(1998), [99][150] Từ góc độ so sánh đối chiếu, luận án tiến sĩ ngành ngôn

ngữ nghiên cứu tại trường Đại học Sussex Anh A Cross-cultural Approach to Personal Naming: Given Names in the Systems of Vietnamese and English,

Nguyễn Việt Khoa đã phân tích và so sánh các đặc điểm liên văn hóa giữa tên

cá nhân người Anh và người Việt [170] Đây là một công trình nghiên cứu công phu, có tính mới và giá trị khoa học cao Luận án cũng là công trình đầu tiên

Trang 14

về so sánh giữa tên người Anh và người Việt Tuy nhiên, luận án mới chỉ giới hạn so sánh ở tên cá nhân (given name) mà không phải toàn bộ cấu trúc tên người Anh và người Việt (tên họ - tên đệm – tên cá nhân)

Về cấu tạo tên người, đây là một chủ đề không hẳn đã thu hút được nhiều

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu như vấn đề ý nghĩa và nguồn gốc của tên

Có một số ít nhà nghiên cứu về vấn đề này điển hình như John M Anderson

(2007) với The Grammar of Names, trong cuốn sách này, tác giả chủ yếu đề

cập đến cấu tạo đơn âm tiết (uncompounded name / monothematic) và đa âm tiết (compounded name / dithematic) của tên người [96, tr 88] Còn Nguyễn Việt Khoa (2002) cho rằng, tên người Anh là những tổ hợp định danh được cấu tạo bởi các danh tố (danh tố tên cá nhân, danh tố họ và danh tố đệm) Danh tố gồm hai loại là danh tố đơn âm tiết và đa âm tiết Trong đó, danh tố đa âm tiết được chia thành hai loại là danh tố đa âm tiết một thành phần và danh tố đa âm tiết đa thành tố Tác giả cũng đã tìm ra 12 kiểu cấu trúc với nhóm tên đơn âm tiết và 12 kiểu cấu trúc ở nhóm tên đa âm tiết [40, tr 45-74]

Về ý nghĩa tên người Anh, Nguyễn Việt Khoa (2002) đã phân loại ý nghĩa các danh tố trong tổ hợp định danh tên người Anh Cụ thể như sau: danh

tố tên họ có 5 kiểu phân loại (tên họ đặt theo tên cha, tên họ hình thành từ địa danh và tên họ chỉ nghề nghiệp, tên họ chỉ đặc điểm cá nhân và tên họ có nguồn gốc từ tiếng Anh cổ); danh tố tên cá nhân được phân loại dựa trên các thành tố

từ vựng (49 thành tố) và dựa trên đặc điểm nguồn gốc (9 đặc điểm nguồn gốc); danh tố tên đệm có 4 kiểu phân loại (tên đệm là tên cá nhân thứ hai, tên đệm là tên họ thời con gái của mẹ, tên đệm là tên đệm của cha và tên đệm là tên của những người mà người đặt yêu quý) [40, tr.92-136]

1.1.1.3 Tình hình nghiên cứu tên nữ giới ở Anh

Tuy các công trình nghiên cứu về tên người Anh nói chung có số lượng rất lớn và đa dạng, song các công trình nghiên cứu về tên riêng nữ giới thì còn hạn chế Trong danh mục 38 số tạp chí Nomina kể từ năm 1977 đến nay, chỉ có

02 trong tổng số 266 công trình công bố về tên nữ giới người Anh như: The Name-type Maid(en)well của Hough, C (2010) hay Naming Welsh Women của

Trang 15

Trước đó phải kể đến Carter, với tư cách là một nhà văn, nhà thơ, bà đã

cho ra đời cuốn sách Lexicon of Ladies Names: With Their Floral Emblems (1865) [106] Cuốn sách này chủ yếu phân tích ý nghĩa của 162 tên nữ giới

trong mối quan hệ với tên của 141 loài hoa và những ý nghĩa biểu trưng cho sắc thái, tình cảm phản ánh qua cái tên đó Cuốn sách cung cấp thêm thông tin

về ngôn ngữ của hoa, từ vựng hoa và có cả những bài thơ xen lẫn trong nội

dung cuốn sách Tuy nhiên, công trình này mới chỉ nghiên cứu tên nữ trên bình diện ngữ nghĩa, đặc biệt là ý nghĩa liên quan đến các loài hoa mà chưa phải là nghiên cứu có tính tổng quát về tên riêng nữ giới người Anh

Cũng về chủ đề nghiên cứu tên nữ giới người Anh, Elisabeth Okasha trong

Women's Names in Old English (2011) đã nghiên cứu tên riêng nữ giới trong

tiếng Anh cổ [173] Đây là một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề tên riêng nữ giới thông qua ngữ liệu là tên nữ trong các tài liệu tiếng Anh cổ và cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên đưa ra quan điểm hoàn toàn khác so với những quan điểm đã được công nhận trước đây rằng giới tính của mỗi cá thể được xác định một cách chính xác bởi giới ngữ pháp (grammatical gender) trong tên người

đó Bà phủ nhận chức năng ngữ pháp về giới trong tên người ở tiếng Anh cổ

Bà cho rằng rất khó phân biệt giới trong tên người ở tiếng Anh cổ Trong khi

đó, các nhà nghiên cứu về nhân danh học đương đại cho rằng việc phân biệt giới tính nam và nữ qua tên người không mấy phức tạp Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chỉ giới hạn nghiên cứu tên nữ giới người Anh trong tiếng Anh

cổ nên cũng chưa nói được đầy đủ về tên riêng nữ giới người Anh

Một bình diện nổi bật trong nghiên cứu tên nữ giới người Anh đó là bình diện ngôn ngữ học xã hội với rất nhiều công trình nghiên cứu về tên nữ giới và tình trạng hôn nhân Gốc rễ của vấn đề nằm ở phong tục đổi tên nữ sau khi kết hôn ở Anh cũng như nhiều quốc gia châu Âu khác trên thế giới Có thể kể đến

một số công trình như The Distinction of Gender? Women’s Names in the Thirteenth Century của Postles (1996), A Name of One’s Own: Identity, Choice and Performance in Marital Relationship của Wilson (2009) hay The Making

of Selfhood: Naming Decisions on Marriage của Thwaites (2013) [179] [191]

[187] Các công trình đều xoay quanh vấn đề đổi tên của phụ nữ sau khi thay

Trang 16

đổi tình trạng hôn nhân như đổi tên sau kết hôn, đổi tên sau li hôn, đổi tên sau khi chồng mất,… Đây là các nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học, triết học, xã hội học, tâm lý học…Các nghiên cứu đã nhấn mạnh đến quyền bình đẳng của phụ nữ đặc biệt là quyền được giữ lại tên sau kết hôn

Có thể khẳng định tên người Anh nói chung và tên nữ giới người Anh nói riêng là một vấn đề thú vị được các nhà nghiên cứu quan tâm Tuy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tên người Anh nói chung nhưng những công trình nghiên cứu về tên nữ giới người Anh nói riêng từ góc độ đối chiếu còn rất hạn chế Đặc biệt, hiện nay vẫn còn đang thiếu vắng những nghiên cứu về tên

nữ giới người Anh mang tính so sánh đối chiếu với các cộng đồng văn hóa khác

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tên người Việt

1.1.2.1 Lược sử nghiên cứu tên người Việt

Ở Việt Nam, tên người (nhân danh) là chủ đề được quan tâm khá sớm từ những năm 30 của thế kỷ XX với những công trình khảo cứu, biên soạn, tổng hợp về tên người trên bình diện dân tộc học hay xã hội học Theo Phạm Tất Thắng, “những năm 60-70 của thế kỉ XX đến nay, tình hình nghiên cứu tên riêng chỉ người trong Việt ngữ học xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau đã phát triển rầm rộ…” [66]

Các công trình nghiên cứu chung về tên người Việt trong đó có đề cập

đến tên nữ giới tương đối phong phú, chẳng hạn, trong bài viết Tên người Việt Nam (1954), Nguyễn Bạt Tụy đã liệt kê được 308 họ và khảo cứu về cách đặt

tên đệm và tên chính của người Việt Nam [83] Năm 1961, Trịnh Huy Tiến viết

bài Các loại danh nhân Việt Nam đã đề cập đến 15 loại danh hiệu và tên chính

nhưng chưa nói đến tên họ và tên đệm [80] Nói chung, những nghiên cứu ở giai đoạn này mới chỉ là sự liệt kê danh sách tên hay là những ý kiến về một vài lĩnh vực liên quan đến tên người, ví dụ: sự hình thành của tên họ hay cách đặt tên của người Việt mà chưa có những nghiên cứu chuyên sâu

Về vấn đề chính tả, các tác giả đã đưa ra hệ thống giải pháp viết hoa tên riêng cho hợp lí và tiện dùng Tuy nhiên, vấn đề chính tả và cách viết hoa tên

Trang 17

giả Lê Anh Hiền (1972), Nguyễn Huy Minh (1973), Lê Xuân Thại (1973) [23] [47] Cũng trong giai đoạn này, ngoài vấn đề về chính tả, một số tác giả bắt đầu

đi sâu vào nghiên cứu nghĩa của tên riêng chỉ người, cũng như khai thác những khía cạnh khác liên quan đến tên người Việt như lịch sử, văn hóa, xã hội, chẳng

hạn, năm 1975, Nguyễn Kim Thản đã viết bài Vài nét về tên người Việt, và năm

1976 Trần Ngọc Thêm có bài Về lịch sử, hiện tại và tương lai của tên riêng người Việt [57] [68] Các nghiên cứu này đã nêu lên nguồn gốc của một số tên

họ, đặc điểm của lớp tên đệm, tên chính cũng như nêu lên chức năng của tên người và nguyên tắc đặt tên chính của người Việt Đáng chú ý tác giả Lê Trung

Hoa đã cho ra đời tác phẩm Họ và tên người Việt Nam năm 1992 [27] Tác

phẩm được đánh giá là một công trình nghiên cứu chuyên sâu và có tính hệ thống nhất từ trước tới nay về vấn đề tên gọi của người Việt trên bình diện dân tộc – ngôn ngữ học

Nói đến nhân danh học Việt Nam, phải kể đến Phạm Tất Thắng, một trong những nhà nghiên cứu có rất nhiều công trình đã công bố về tên người

(khoảng 50 công trình), tiêu biểu là luận án Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt [59] Trong công trình này, tác giả đã khảo

sát và miêu tả một cách có hệ thống tên chính thức (chính danh) của người Việt

Gần đây, ông có rất nhiều công trình nghiên cứu về tên riêng, ví dụ: Không gian tên riêng tiếng Việt [65] Mới gần đây ông công bố bài Tình hình nghiên cứu tên riêng chỉ người trong Việt ngữ học trên tạp chí ngôn ngữ năm 2015 và Tên riêng là một loại đơn vị từ vựng năm 2016 trong kỉ yếu hội thảo quốc tế về

có nguồn gốc bản địa, thuần Việt và được ghi lại trong tên làng xã [57][85][24] Trần Ngọc Thêm lại đưa ra giả thuyết tiền thân của tên người Việt xuất phát từ tên các vật tổ truyền thống của các bộ lạc [68, tr.15] Một phạm trù khác thuộc

Trang 18

tên người là tên đệm, vấn đề nguồn gốc của tên đệm cũng gây nhiều tranh cãi

Nguyễn Kim Thản cho rằng “Tên đệm ra đời muộn hơn họ”, còn Trần Ngọc Thêm lại nhận định “Tên đệm xuất hiện cùng lúc với họ” [57, tr.69][68, tr.16] Tuy nhiên, các ý kiến đưa ra về nguồn gốc của tên người Việt còn ở dạng giả thuyết hoặc võ đoán cần có những minh chứng lịch sử thuyết phục để đưa ra quan điểm thống nhất Nổi bật nhất trong các công trình khảo cứu về tên người

trên bình diện lịch sử phải kể đến Từ điển nhân vật lịch sử của Nguyễn Q

Thắng và Nguyễn Bá Thế (tái bản lần thứ 4 năm 1997), đây là một công trình

đồ sộ, đòi hỏi nhiều công sức được soạn thảo công phu với 1769 tên nhân vật trong lịch sử từ thời vua Hùng dựng nước đến năm 1988 kèm theo những thông tin cá nhân và thông tin lịch sử kèm theo Tuy nhiên, trong 1769 tên các nhân vật chỉ có 66 tên là tên của nhân vật nữ

Từ góc độ liên ngành ngôn ngữ - văn hóa học, Dương Kỳ Đức đã mở đầu hướng nghiên cứu về mạng danh với định nghĩa: “Mạng danh là nhân danh

do mỗi thành viên (chủ tài khoản) của một mạng xã hội ảo tự đặt cho mình bằng

tổ hợp tùy thích các chữ cái, chữ số, từ, ngữ để sử dụng trong giao tiếp phi trực diện (ảo) trên mạng” [15, tr.20] Ông cũng tiến hành phân loại mạng danh, xác định vị trí của mạng danh trong hệ thống nhân danh và luận chứng về cơ sở ngôn ngữ - văn hóa học của mạng danh tiếng Việt

Trên bình diện ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến các vấn đề: chức năng, chính tả, cấu tạo và ý nghĩa của tên người Việt Các tác giả tiêu biểu trên bình diện này gồm: Lê Anh Hiền (1972), Trần Ngọc Thêm (1976), Nguyễn Văn Thạc (1979), Nguyễn Huy Minh (1993), Dương Kỳ Đức (1998), Lê Trung Hoa (2002), Phạm Tất Thắng (1996, 2003, 2004, 2011), Nguyễn Việt Khoa (2010), Nguyễn Văn Khang (2016) [59] [23] [47] [68] [14] [27][59][62][63][64][170][39]

Về chức năng của tên người, Trần Ngọc Thêm (1976) cho rằng tên người

có 5 chức năng cơ bản như: chức năng phân biệt, chức năng biệt giới, chức năng thẩm mĩ, chức năng bảo vệ và cuối cùng là chức năng xã hội [68, tr.12-13]

Trang 19

Về phương diện chính tả, các nghiên cứu tập trung vào thảo luận về cách viết hoa tên người Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất viết hoa tất cả các âm tiết trong tên người và giữa các âm tiết không dùng dấu gạch nối, như

trong Bản dự thảo về quy tắc viết hoa do Viện Ngôn ngữ học đề xuất năm 1972

[93]

Về phương diện cấu tạo, theo Phạm Tất Thắng (1996), tên chính danh của người Việt (Kinh) là một đơn vị định danh có dạng một tổ hợp gọi là tổ hợp

định danh tên người Một tổ hợp định danh tên người đầy đủ gồm 3 danh tố là

họ, đệm và tên cá nhân Mỗi danh tố là một đơn vị có cấu trúc – chức năng

riêng Chúng là những kí hiệu định danh có giá trị định danh riêng biệt Mỗi danh tố có thể được tạo thành từ các thành tố Một tổ hợp định danh tên người trong tiếng Việt có bao nhiêu âm tiết (tiếng) thì có bấy nhiêu thành tố Nếu dựa vào độ dài (số lượng âm tiết/tiếng) của tổ hợp định danh tên người thì trong tiếng Việt có 5 kiểu tên (2 thành tố, 3 thành tố, 4 thành tố, 5 thành tố và 6 thành tố) Nếu dựa vào đặc trưng cấu tạo thì tên người trong tiếng Việt có 13 khuôn cấu trúc [59, tr.44]

Qua tìm hiểu sơ lược về lịch sử nghiên cứu tên riêng người Việt, chúng tôi rút ra một số vấn đề sau:

i Khoa học về tên riêng (danh xưng học) ở Việt Nam

- Thứ nhất, về định lượng:

Theo các danh sách, tài liệu tham khảo mà chúng tôi thu thập được, số lượng các bài báo, bài viết, báo cáo khoa học, sách chuyên về tên riêng của các tác giả Việt Nam còn hạn chế (không quá 300 công trình) Trong đó, phải kể đến tác giả Phạm Tất Thắng có hơn 50 công trình công bố về tên riêng, đặc biệt

là tên người (nhân danh học) So với nội dung nghiên cứu về danh xưng học rộng lớn và còn nhiều khoảng trống thì số lượng công trình như vậy còn quá ít

- Thứ hai, về định tính:

Các ấn phẩm về tên riêng của các tác giả Việt Nam phần lớn chỉ mang tính chất miêu tả cụ thể và còn tản mạn, thể hiện qua tiêu đề của các bài viết như: “bàn thêm”, “nhận xét”, “vài nhận xét”, “một số ý kiến”, “thử tìm hiểu”,

“vài nét”, “về”,…Những công trình mang tính học thuật, chuyên sâu còn hạn

Trang 20

chế Sách chuyên khảo, giáo trình, đề tài nghiên cứu về tên riêng (danh xưng học) hoặc tên người (nhân danh học) bằng tiếng Việt gần như chưa có, ngoại

trừ cuốn: Họ và tên người Việt Nam (1992) và Nhân danh học Việt Nam (2013) của Lê Trung Hoa hay đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện Từ Hán Việt với tên chính người Việt (2016) của Nguyễn Văn Khang [27][29][39]

ii Các phương diện/góc độ nghiên cứu tên riêng

Tên riêng, do bản chất của mình là một sự vật đa diện Nó có thể là đối tượng nghiên cứu đơn ngành của danh xưng học hay của ngôn ngữ học hoặc của sử học Nó cũng có thể là đối tượng nghiên cứu liên ngành, chẳng hạn, ngôn ngữ học với sử học, ngôn ngữ học với dân tộc học/nhân học, ngôn ngữ học với xã hội học hoặc với văn hóa học Mỗi công trình nghiên cứu danh xưng học dù ít hay nhiều vẫn thường phải sử dụng đến các cứ liệu của các ngành khác như địa lí học, khảo cổ học,…Hoặc nếu nghiên cứu tên riêng từ phương diện ngôn ngữ học thì cũng phải xem xét chẳng những về góc độ từ vựng học,

mà cả về ngữ âm học, ngữ pháp học, văn tự học,…

iii Các vấn đề của tên riêng

Tên riêng có thể được nghiên cứu theo các vấn đề chủ yếu sau: bản chất (định nghĩa, nhận diện), phân loại, cấu tạo/cấu trúc, chính tả, ngữ pháp,…Ở Việt Nam, do danh xưng học và nhân danh học chưa tồn tại như những ngành khoa học độc lập nên những vấn đề này chủ yếu được giới ngôn ngữ học quan

tâm Tuy vậy, những vấn đề như bản chất, định nghĩa, nhận diện cũng chỉ được

một số rất ít nhà nghiên cứu quan tâm (Nguyễn Tài Cẩn [1975], Đỗ Hữu Châu [1993], Phạm Tất Thắng [2004],…) [2][5][63]

Vấn đề phân loại tên riêng cũng chỉ được một số ít nhà nghiên cứu ngôn ngữ học bàn tới (Hoàng Tuệ [1996], Phạm Tất Thắng [2003], Dương Kỳ Đức [2017],…) Chẳng hạn, theo Hoàng Tuệ, có 5 loại tên riêng (1/tên người, 2/ tên nơi chốn, 3/ tên thời kì, thời điểm, sự kiện lịch sử, 4/ tên tổ chức, 5/ tên công trình); theo Phạm Tất Thắng có 11 loại (1/ tên người, 2/ tên động vật, 3/ tên thực vật, 4/ tên gọi các hiện tượng tự nhiên, 5/ tên gọi các công trình kiến trúc, 6/ tên gọi các phương tiện giao thông, 7/ têm gọi các đơn vị hành chính, 8/ tên

Trang 21

tên gọi các văn bản hành chính); Còn Dương Kỳ Đức lại tìm ra 30 kiểu loại tên riêng [82][62, tr.47][16, tr.23]

Còn các vấn đề khác về tên riêng như: cấu tạo/ cấu trúc, chính tả thì được bàn đến rộng rãi, chủ yếu trong giới ngôn ngữ học

Qua nghiên cứu những vấn đề trên, các nhà khoa học thường rút ra được rất nhiều điều hữu ích về mặt tâm lí – xã hội và văn hóa của cộng đồng người Kinh và các dân tộc thiểu số anh em Chẳng hạn, qua ý nghĩa của tên người, tên đất cụ thể nào đó, cũng như lí do đặt ra các tên riêng đó, người ta có thể nhận biết được nhiều điều về giá trị văn hóa, về lịch sử

iv Việc nghiên cứu tên người (nhân danh) ở Việt Nam

Trong điều kiện hiện nay, việc nghiên cứu tên người (nhân danh) ở Việt Nam có một số đặc điểm như sau:

- Một là, chủ yếu nghiên cứu tên riêng (nhân danh) của người Việt/Kinh

nói chung Hiện nay có 01 công trình về tên riêng các dân tộc khác, chẳng hạn

như Các dân tộc Việt Nam - Cách dùng họ và đặt tên của Nguyễn Khôi năm

2006 [41]

- Hai là, các công trình chưa có sự đi sâu nghiên cứu theo giới (nam, nữ) Hiện có 2 công trình về tầng lớp, giai cấp, chẳng hạn Hoàng tộc Nguyễn của Thái Văn Kiểm (1963) hay Đặc trưng văn hóa xã hội – ngôn ngữ học của tên riêng chỉ người trong tiếng Việt của Vũ Thị Kim Thoa (2005) [43] [79]

- Ba là, các công trình chủ yếu nghiên cứu tên riêng trong phạm vi tiếng

Việt, ít công trình so sánh – đối chiếu đa ngữ Có một vài luận văn thạc sĩ như

Đặc điểm tên người Hán hiện nay (Đối chiếu với tên người Việt) của Mông Lâm (2010) hay Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của tên chính danh người Nhật (có đối chiếu với tên người Việt) của Vương Đình Hòa (2005),… [44][30]

Đáng kể nhất trong các công trình so sánh đối chiếu đa ngữ là luận án tiến sĩ

của Nguyễn Việt Khoa (2010) tại Anh Một bước tiếp cận liên văn hóa tới vấn

đề nhân danh: tên cá nhân trong hệ thống tên riêng người Việt và người Anh

[170] Tuy nhiên, công trình này chỉ giới hạn nghiên cứu một phần trong tổ hợp định danh tên người Anh và người Việt, đó là phần tên cá nhân mà không đối chiếu phần tên họ và tên đệm

Trang 22

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu tên nữ giới ở Việt Nam

Mặc dù, tình hình nghiên cứu về tên người ở Việt Nam ngày càng phát triển nhưng những công trình chuyên nghiên cứu về tên nữ giới người Việt còn rất hạn chế Có thể kể đến Dương Xuân Đống, một trong số ít người đã có những

công trình công bố về tên nữ giới Trong bài Từ Thị trong họ tên người phụ nữ Việt Nam tác giả đã luận giải về ý nghĩa của từ “Thị” và đưa ra các quan điểm

về nguồn gốc của từ “Thị” trong tên nữ giới người Việt cũng như xu thế sử dụng

từ “Thị” làm tên đệm trong việc đặt tên cho nữ giới [11, tr.23-24] Xét cho cùng,

đây vẫn chỉ là bài nghiên cứu từ một góc độ rất nhỏ nhưng mang tính đặc trưng

về tên nữ giới trong nhân danh Việt

Như vậy có thể thấy, tình hình nghiên cứu tên người Anh (nhân danh học Anh) và tên người Việt (nhân danh học Việt) trong hơn nửa thế kỉ qua đã đạt được những thành tựu đáng kể Tuy nhiên, những thành tựu đó phần lớn xuất phát chủ yếu từ bình diện dân tộc học hay xã hội học Những công trình nghiên cứu về tên người trên bình diện ngôn ngữ học vẫn còn khá khiêm tốn

Một điểm chung trong tình hình nghiên cứu nhân danh ở cả Anh và Việt Nam là những công trình chuyên nghiên cứu về tên nữ giới còn hạn chế, đặc biệt gần như chưa thấy những công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu tên nữ giới giữa các ngôn ngữ, giữa các cộng đồng văn hóa - xã hội với nhau Xuất

phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu “Đối chiếu tên riêng

nữ giới người Anh và người Việt”

1.2 Cơ sở lí thuyết

Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, tên riêng thuộc hệ thống từ vựng nhưng bản thân nó có thể tự hình thành một kiểu loại riêng biệt bao gồm tên người và tên các sự vật hiện tượng khác Để có cơ sở lí luận nghiên cứu tên nữ giới (một

bộ phận của tên người), đề tài căn cứ trên một số lí luận liên quan đến tên riêng

nữ giới, vấn đề giới trong ngôn ngữ và vấn đề nghiên cứu đối chiếu tên riêng

Trang 23

1.2.1 Một số vấn đề lí thuyết về tên riêng

1.2.1.1 Danh xưng học

Trong hệ thống tên riêng, tên người (nhân danh) là một mảng quan trọng

so với các nhóm tên khác, trong đó bộ môn chuyên nghiên cứu về tên riêng là danh xưng học (onomastics)

Có nhiều quan điểm khác nhau về danh xưng học Blackburn cho rằng danh xưng học là một nhánh của ngữ nghĩa học, nghiên cứu về từ nguyên của danh từ riêng [101] Trong khi đó, Colman thì miêu tả danh xưng học như một ngành khoa học nghiên cứu về tên và cách đặt tên Ông cho rằng danh xưng học chia thành nhân danh học (anthroponomastics) nghiên cứu về tên người và địa danh học (toponomastics) nghiên cứu về tên đất nhưng danh xưng học thiên về nghiên cứu tên người nhiều hơn [115] Trên quan điểm ngôn ngữ học, Matthews, Crystal và Bussmann đã đưa ra những định nghĩa đáng chú ý Matthews đã định nghĩa danh xưng học là ngành khoa học nghiên cứu về cả tên người và tên địa danh [159] Crystal thì đưa ra định nghĩa rằng danh xưng học là một nhánh của ngữ nghĩa học nghiên cứu về từ nguyên trong danh từ riêng bao gồm danh từ riêng chỉ người và danh từ riêng chỉ địa danh [118] Bussmann thì đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về danh xưng học Ông đưa ra nhận định rằng danh xưng học

là một ngành khoa học nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa và sự phân vùng địa

lý của tên riêng Ông chia danh xưng học thành các nhóm nhỏ hơn đó là nhân danh học, thủy danh học và địa danh học [105]

Dù có rất nhiều quan điểm khác nhau về danh xưng học, chúng tôi cho rằng danh xưng học là một ngành khoa học nhân văn, nghiên cứu về tên và cách đặt tên người, tên nơi chốn và các sự vật, hiện tượng khác

1.2.1.2 Vấn đề tên riêng

i Các khái niệm về tên riêng

Cho đến nay, các nhà khoa học ở Việt Nam và trên thế giới đã đưa nhiều quan điểm khác nhau về tên riêng (proper name)

Crystal hay Chalker và Weiner cho rằng “tên riêng (proper name) là tên của từng cá thể riêng biệt, đó là tên người, tên địa điểm, sự vật, sự kiện, xuất bản phẩm,… [118, tr.208][107, tr.96] hay nói cách khác, tên riêng là các danh

Trang 24

từ riêng chỉ các thực thể tồn tại duy nhất, ví dụ: London, Hà Nội, sông Thames, sông Hồng,

Theo Huddleston, tên riêng là một phân lớp của danh từ về mặt ngữ pháp

và tên riêng là tên được cá thể hoá cho cá nhân, địa điểm hay tổ chức , việc cá thể hoá này được thực hiện thông qua việc đặt tên [149, tr.27]

Trên quan điểm ngữ dụng, ngữ nghĩa, cú pháp, Van và Mark đã đưa ra định nghĩa về tên riêng như sau:

Về ngữ dụng học, tên riêng là một danh từ biểu thị cho những thực thể tồn tại duy nhất ở cấp độ qui ước hình thành ngôn ngữ, khiến cho thực thể

đó nổi bật về mặt tâm lí trong phạm vi phạm trù được đưa ra ở mức độ cơ bản Về ngữ nghĩa học, ý nghĩa của tên riêng (nếu có) thì rất khó có thể xác định được Về cú pháp học, một sự phản ánh quan trọng của đặc điểm ngữ nghĩa – cú pháp của tên riêng là khả năng xuất hiện của tên riêng trong một cấu trúc đóng [188, tr.116]

Trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học cũng đưa ra các định nghĩa và quan điểm khác nhau về tên riêng

Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật Tên riêng hoàn toàn không phải không có nghĩa biểu niệm” Ông cũng chỉ ra: “Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù cá thể được gọi tên bằng tên riêng đó ( ) Quan trọng hơn là tên riêng được dùng trong chức năng xưng hô Tuy là phạm trù ngôn ngữ học phổ quát, nhưng tên riêng mang đậm bản sắc dân tộc cả về qui tắc đặt tên và qui tắc dùng” [5]

Theo quan niệm của Dương Kỳ Đức, tên riêng là “tên gọi cho một sự vật, hiện tượng duy nhất, độc nhất để phân biệt, cá thể hóa sự vật, hiện tượng

đó với sự vật, hiện tượng gần gũi trong một tập hợp nào đó” [16, tr.17] Theo

ông, tính chất duy nhất, độc nhất, cá thể hóa này được hiểu không phải theo

nghĩa tuyệt đối mà theo nghĩa tương đối, trong quan hệ với các sự vật, hiện tượng gần gũi trong một tập hợp nào đó Chẳng hạn, trong tập hợp “các xe máy

tay ga của Yamaha” thì Acruzo là một tên riêng, để phân biệt với các xe Nozza, Grande, Janus, Sirius,…, mặc dù có hàng nghìn chiếc xe máy tay ga Acruzo

Trang 25

kì một năm”, thì Tết cơm mới là một tên riêng, để phân biệt, cá thể hóa với các tên gọi tết khác, như Tết hàn thực, Tết đoan ngọ, Tết trung thu,…Cũng vậy, trong tập hợp một “thập lục hoa giáp” (chu kì 60 năm) thì Đinh Dậu là một tên riêng của năm, trong quan hệ với các năm khác như Nhâm, Bính, Quý,…[16,

tr.18]

Như vậy, tên riêng được định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau Do đó, việc đưa ra một khái niệm chính xác nhất về tên riêng là rất khó vì mỗi tác giả đều có những lí luận riêng khi đưa ra quan điểm của mình Tuy nhiên, quan điểm của chúng tôi là tên riêng là một loại đơn vị từ vựng dùng để gọi tên một

cá thể đơn nhất, để phân biệt giữa cá thể này với cá thể khác

Trong việc xác định kiểu loại của tên riêng, các nhà ngôn ngữ học Anh

và Việt Nam đều có những quan điểm khác nhau như sau:

Đại điện là Huddleston và nhiều tác giả khác thì cho rằng “trên quan điểm cú pháp học, tên riêng phải là một danh từ mà danh từ đó có thể có chức năng của một cụm danh từ” [149, tr.96] Ở Việt Nam, Mai Ngọc Chừ cho rằng

“danh từ được phân chia bước đầu thành hai lớp nhỏ là danh từ riêng và danh

từ chung” [6] Nói như vậy có nghĩa là tên riêng (danh từ riêng) thuộc từ loại danh từ

Còn theo Nguyễn Tài Cẩn, “tên riêng đáng được tách ra thành một hệ thống còn danh từ chung có thể với động từ và tính từ làm thành một hệ thống khác tên riêng [3] Nguyễn Văn Khang đưa ra quan điểm rất rõ ràng trong đề

tài nghiên cứu khoa học cấp Viện về Từ Hán Việt với tên chính người Việt “có

nên xếp tên riêng vào từ loại danh từ hay không và tên riêng có nên coi là danh

từ riêng trong mối quan hệ với danh từ chung hay không? Câu trả lời là không” [39, tr 40] Trong một công bố mới gần đây của Phạm Tất Thắng về tên người, ông cho rằng “Tên riêng được coi là một đơn vị từ vựng đặc biệt có giá trị tương

đương với từ, được gọi là Ngữ định danh tên riêng” [67] Theo Phạm Tất

Thắng, “…các tên riêng không thỏa mãn các đặc trưng chủ yếu của từ loại danh

từ Vì thế, chúng cần được tách khỏi danh từ làm thành một lớp riêng, có cấu trúc - chức năng đặc biệt, khác hẳn với danh từ chung và các lớp từ loại khác trong hệ thống ngôn ngữ” [64]

Trang 26

Đề tài nhất trí với quan điểm cho rằng nếu xếp tên riêng vào loại danh từ

và là danh từ riêng thì chưa thỏa đáng vì có nhiều điểm khác với danh từ chung

Như vậy, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã đưa ra nhiều định nghĩa

về tên riêng, song đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào được coi là thoả mãn Theo Phạm Tất Thắng, nếu xét trên bình diện nghĩa biểu vật và đặc điểm ngữ pháp thì có thể xếp tên riêng vào nhóm danh từ và được gọi là danh từ riêng Nếu xét trên bình diện cấu trúc, thì tên riêng không đơn giản là từ mà còn là một tổ hợp từ hay ngữ Quan điểm của chúng tôi là cần tách tên riêng ra thành một kiểu loại riêng mà không phải là thuộc danh từ hay cụm từ bởi xét

về ngữ nghĩa, cấu tạo, tên riêng mang những đặc thù khác hẳn với các danh từ hay cụm từ bình thường khác

Xác định tên người là một tổ hợp định danh nên đề tài thống nhất sử dụng thuật ngữ “tổ hợp định danh nữ giới người Anh” và “tổ hợp định danh nữ giới người Việt” cho đối tượng nghiên cứu là tên riêng nữ giới người Anh và người Việt

Trong hệ thống tên người có nhiều loại tên khác nhau như pháp danh, nghệ danh, biệt danh, bút danh, tên chính danh… Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tập thực hiện nghiên cứu tên chính danh của nữ giới người Anh

và người Việt

Theo quan điểm của Phạm Tất Thắng (2005) có hai cách phân loại tên người

đó là cách phân loại dựa vào chức năng và dựa vào phạm vi sử dụng Nếu xét

về chức năng thì tên người phân biệt thành hai loại là tên chính thức và tên không chính thức,…Nếu căn cứ vào phạm vi sử dụng thì có thể phân thành hai loại là tên thường dùng và tên không thường dùng Theo logic phân loại tên người của ông thì tên chính thức của người Việt thường gọi bằng tên thật, tên chính, tên chính danh, tên khai sinh, tên nguyên hoặc tên cái [63, tr.61,62] Như vậy, với giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là tên chính danh, đề tài đưa ra quan điểm về tên chính danh như sau:

Về định nghĩa, tên chính danh là tên chính thức của mỗi cá nhân, được sử dụng một cách thường xuyên trong cuộc đời mỗi con người, có vai trò quan

Trang 27

trọng nhất trong các hình thức tên gọi của mỗi người, có giá trị về mặt pháp lí trong việc định danh cho mỗi cá nhân

Về phạm vi sử dụng, tên chính danh được sử dụng trong phần lớn các hoạt động giao tiếp, trong các văn bản hành chính, pháp lí như giấy khai sinh, chứng minh thư, thẻ căn cước, hộ chiếu, sổ hộ tịch, hợp đồng, văn bằng, chứng chỉ,…

Về đặc trưng, tên chính danh có tính bền vững (tên được cha mẹ đặt cho từ khi sinh ra và gần như được sử dụng đến hết cuộc đời), tính pháp lí (tên được đăng kí chính thức trong các sổ hộ tịch của cơ quan quản lí ở địa phương và được sử dụng trong các văn bản hành chính của Nhà nước) và tính phổ biến (tên được sử dụng trong phạm vi rộng lớn, trong mọi hoàn cảnh gia tiếp)

ii Sự khác biệt giữa tên chung và tên riêng

Trong tiếng Anh cũng như các ngôn ngữ của nhiều quốc gia trên thế giới, việc phân tích sự khác biệt giữa tên chung (common name) và tên riêng (proper name) diễn ra sôi nổi Ở Anh, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều luận điểm khác nhau về tên riêng và tên chung

Theo Crystal, tên riêng và tên chung khác nhau ở ba điểm như sau: Tên riêng có thể đứng một mình, làm thành một bộ phận của câu, ví

dụ: I like London (Tôi thích London), Fred is here (Fred đang ở đây),

trong khi đó chỉ có một số tên chung nhất định mới có chức năng ngữ pháp như vậy

Tên riêng không ở dạng số nhiều trong khi đó tên chung lại có dạng

số nhiều, ví dụ: books, pens,… (những quyển sách, những cái bút) Tuy nhiên, khi tên riêng ở dạng số nhiều thì chúng đã chuyển sang nghĩa ẩn

dụ, ví dụ: There are two Londons in Canada (có hai London ở Canada), lúc này London không còn có nghĩa là tên gọi của thủ đô của Anh nữa mà

là 2 địa điểm có những thuộc tính giống London

Tên riêng không đi với mạo từ và giới từ, trong khi đó tên chung lại

có thường kết hợp với mạo từ và giới từ [119, tr.208]

Coates cho rằng, một trong những sự phân biệt cổ điển nhất trong ngôn ngữ học đó là tên chung để biểu thị cho một nhóm hoặc một tập thể, còn tên

Trang 28

riêng biểu thị cho cá nhân, ví dụ: queen (nữ hoàng) – tên chung và Victoria – tên riêng [111, tr.312]

Trong Việt ngữ học, sự khác nhau căn bản giữa tên riêng và tên chung

đã được tác giả Phạm Tất Thắng phân biệt một cách khá chi tiết Ông cho rằng: “Tên chung (general names) – đó là những từ chung có ý nghĩa chỉ ra một lớp đối tượng cùng loại; còn tên riêng (proper names) chỉ là những kí hiệu định danh cho một đối tượng cá biệt, đơn nhất và xác định Nói cách khác, tên chung có mối liên hệ với khái niệm, còn tên riêng thì không có mối liên hệ bất kì với một khái niệm nào Tên riêng thì cá thể hoá, còn tên chung thì khái quát hoá Nếu tính cá thể của đối tượng được gọi tên trở nên không xác định và có tính khái quát hoá, thì sẽ nảy sinh hiện tượng chuyển tên riêng thành tên chung”

Ông còn nêu ra: “Trong bất kỳ một hệ thống ngôn ngữ nào cũng diễn

ra một sự chuyển hoá thường xuyên giữa tên chung và tên riêng Chính sự chuyển hoá này đã làm phong phú thêm vốn từ vựng của ngôn ngữ” [63, tr.11]

Tuy có những khác biệt rõ rệt nhưng cũng không thể phủ định được sự tồn tại những điểm chung giữa tên chung và tên riêng, có những trường hợp rất khó xác định ranh giới giữa tên chung và tên riêng Theo Coates và Crystal

đã chỉ ra rằng tên riêng thì phải viết hoa nhưng không phải tất cả các từ được viết hoa đều là tên riêng, có những trường hợp không chắc chắn được nên xác định là tên riêng hay tên chung Các ông đã đưa ra một số ví dụ sau:

- The West Bank is not a bank

- The Sun might not be a sun [119, tr.116][111, tr 208]

Ví dụ trên cho thấy hầu hết các tên riêng đều sử dụng các kí hiệu có sẵn của tên chung Do đó, sự khác nhau cơ bản giữa tên riêng và tên chung không nằm ở mặt hình thức mà thể hiện ở nội dung, tức là cái được biểu hiện thông

qua các kí hiệu ngôn ngữ Đó chính là lí do tại sao Bank lại không phải là bank (ngân hàng), hay Sun lại không phải là sun (mặt trời)

Có thể thấy rằng, các nhà ngôn ngữ học của Anh và Việt Nam đều đã phân

Trang 29

chung nhất giữa tên riêng và tên chung ở tiếng Anh và tiếng Việt đó là tên riêng

để gọi tên những cá thể đơn nhất, còn tên chung để gọi tên cho một nhóm, một tập thể; tên riêng thường đứng độc lập và ít khi kết hợp với các thành phần

khác, ví dụ: mạo từ, số từ (a/an/the/two,…trong tiếng Anh, hay các/những

…trong tiếng Việt)

1.2.1.3 Vấn đề nghĩa của tên riêng

Tên có nghĩa hay không có nghĩa, đó là chủ đề hấp dẫn thu hút được các

ý kiến đa chiều của các nhà khoa học Có những ý kiến cho rằng tên có nghĩa, đối lập với quan điểm này lại có những ý kiến cho rằng tên không có nghĩa Vấn đề nghĩa của tên riêng gắn liền với bản chất của tên

Đi đầu trong quan điểm tên riêng không có nghĩa đó là Mill (1843) – một triết gia người Anh Ông cho rằng: tên riêng không có nghĩa hàm chỉ (connotative meaning) Theo ông, tên riêng chỉ ra những cá nhân mà được gọi bằng chính cái tên đó, nhưng không bao hàm ý nghĩa biểu niệm của từ dùng để

đặt tên Ông chứng minh quan điểm của mình bằng ví dụ với cái tên George của một người bình thường và King George III (Vua George III) Ông chỉ ra rằng ở ví dụ này, tên George không đưa ra được ý nghĩa gì về thứ bậc cũng như thông tin giữa hai con người (một người được đặt tên là George và ông vua George III của Anh) [197, tr33-34] Cũng theo trường phái này có Kripke, ông

cho rằng tên riêng chỉ gọi tên một sự vật một cách cứng nhắc và không có nghĩa hàm chỉ Nếu tên riêng có nghĩa thì dường như nghĩa biểu vật của tên riêng sẽ thay đổi trong các thế giới khác nhau [152]

Đối lập với quan điểm này, Frege – nhà toán học, triết học nổi tiếng ở Đức lại cho rằng tên riêng có nghĩa Frege cho rằng “nếu thay đổi nội dung của những tên cùng tham chiếu thì sẽ thấy tên riêng có nghĩa Ông chứng minh cho quan điểm của mình bằng ví dụ nếu X (sao Mai) và Y (sao Hôm) là tên của cùng một loại sự vật S (ngôi sao), khi đó nếu coi khái niệm chung là S = S (ngôi sao là ngôi sao) thì có nghĩa X = Y, tức là sao Mai (sao mọc vào buổi sáng) và sao Hôm (sao mọc buổi tối) giống nhau là hoàn toàn sai [trích theo 188, tr.25-28] Như vậy, cùng giá trị tham chiếu là ngôi sao, nhưng mỗi sao lại có một cái

Trang 30

tên riêng Ý nghĩa của tên riêng đó là để phân biệt ngôi sao này với ngôi sao khác

Việt ngữ học cũng tồn tại hai trường phái khác nhau về vấn đề nghĩa của tên riêng Hoàng Phê theo trường phái tên riêng không có nghĩa Ông cho rằng tên riêng là những kí hiệu thuần túy không có nghĩa Có những tên riêng vốn

có nghĩa thì cái nghĩa đó thường cũng không ai nghĩ đến, nó trở thành vô nghĩa [50] Trái ngược với trường phái này có Hoàng Tuệ, ông cho rằng tên riêng không phải là một con số, một cái nhãn chỉ có tác dụng để phân biệt, mà là một biểu trưng [82] Cùng lập trường quan điểm tên riêng có nghĩa, Bình Long cho rằng “ngoài các mặt cấu tạo, chính tả, phát âm và cách dùng khi xưng hô, tên riêng của các nước, các dân tộc còn đáng được tìm hiểu về mặt nghĩa” [46]

Để đưa ra quan điểm về vấn đề này, chúng tôi xem xét tên riêng trong trường hợp cụ thể - đó là tên người Tên người dùng để gọi tên cho từng cá thể riêng biệt và là phương tiện quan trọng trong giao tiếp để phân biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác Như vậy, tên người có nghĩa hay không?

Về ý nghĩa của tên người (tên chính danh), Phạm Tất Thắng (1996) cho rằng tên người là một đơn vị có nghĩa, nó mang chức năng biểu đạt (giúp ta nhận biết được đối tượng) và là loại nghĩa hàm chỉ [59, tr.79] Dựa theo đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa của từ, tên riêng người Việt có các loại (các trường) nghĩa hàm chỉ sau: sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội, con người, trạng thái tâm sinh lí của con người

Dương Kỳ Đức quan niệm nghĩa của tên riêng chỉ người (nhân danh) là một loại nghĩa văn hàm, phản ánh văn hóa của một cộng đồng người Cụ thể, theo ông, tên riêng có nghĩa, nhưng đấy không phải là nghĩa khái niệm như ở thực từ, mà là nghĩa văn hàm Khác với nghĩa ngữ hiệu là cái biểu đạt khái niệm, cái phản ánh các đặc trưng chung của đối tượng được con người nhận thức qua thực tiễn xã hội, nghĩa hàm văn là một hàm tố văn hóa của từ, chứa đựng động hình văn hóa, tức là chứa đựng cái cách riêng trong việc tạo ra đối tượng hoặc thao tác với nó hay trong cảm nhận của nó bởi một cộng đồng ngôn ngữ Với quan niệm đó, nghĩa của tên riêng không phải chỉ là sự hàm chỉ, mà

Trang 31

cảm nhận đầy bản sắc của một cộng đồng người Chẳng hạn, tên người Việt

hàm tích tín ngưỡng phồn thực (Bòi, Hĩm,…), tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (Mây, Nguyệt, Tuyết, Thu, Xuân,…), đề cao nông nghiệp (Lúa, Bưởi, Chanh, Lụa, Lượt,…), sùng bái người đã chết (kiêng đặt tên trùng với tên tổ tiên), tâm

lí dung hợp, hòa điệu (Thảo, Thủy, Ngọc, Nôen, Lêna,…) [4]

Sau khi phân tích quan điểm về nghĩa trong tên người của các nhà khoa

học trong và ngoài nước, chúng tôi cho rằng tên người có nghĩa Nghĩa ở đây

không phải hiểu theo cách là tổng hợp các đặc trưng ngữ nghĩa khái quát hóa

và phản ánh một cách có chọn lọc một tập hợp các sự vật đồng nhất (như thường thấy ở các thực từ), mà là thông tin có tính chất lịch sử - văn hóa hoặc có tính chất xã hội, thường gắn liền với một thời đại nhất định, một cộng đồng xã hội nhất định (họ tộc, tầng lớp, cư dân địa phương,…) và phản ánh thị hiếu cũng như tập tục, thói quen và các sắc thái tình cảm, cảm xúc Từ một khía cạnh khác, nếu quan niệm nghĩa của từ là một hình thức tồn tại của ý thức xã hội, phản ánh sự tri nhận theo cách riêng của mỗi cộng đồng người là chủ thể của ngôn ngữ, thì nghĩa của tên người không phải là nghĩa ngữ hiệu (biểu đạt khái niệm, phản ánh các đặc trưng chung của loạt đối tượng giống nhau được cộng đồng người tri nhận) mà là nghĩa văn hàm (chứa đựng các cách riêng trong việc tri nhận một con người riêng biệt, như một cá nhân biệt lập, cụ thể)

Như vậy, nghĩa của tên nữ giới được phân tích trong đề tài không phải

là nghĩa của thực từ mà là nghĩa biểu trưng theo cách phân tầng nghĩa của Lê

Quang Thiêm Ông cho rằng “Khởi nguyên nội dung tên riêng không nói gì về cái được gọi tên Một bộ phận tên riêng thể hiện ước muốn, hi vọng có tính văn hóa – xã hội được gửi gắm của chủ đặt tên trở thành nội dung nghĩa” [76, tr.125] Ý nghĩa này do người đặt tên lựa chọn và mang trong đó một ước vọng

của người đặt tên Khi một người có tên là Rosy (tên nữ giới người Anh) hay Hồng (tên nữ giới người Việt) không có nghĩa người được đặt tên đó là một

bông hồng mà cái tên đó gợi lên ý nghĩa về một loài hoa đẹp, có thể mang trong tên đó là ước vọng, mong muốn của ông bà, cha mẹ về một người con gái đẹp tựa như hoa Quan điểm này có nhiều nét tương đồng với Nguyễn Văn Khang

“Nghĩa của tên riêng không hoàn toàn độc lập với nghĩa từ vựng của những từ

Trang 32

ngữ dùng làm tên riêng mà nghĩa của tên riêng được xây dựng trên cơ sở nghĩa hay là được gợi ra từ nghĩa của từ” [39, tr.40]

Cũng về vấn đề này nhưng dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, Trần Văn Cơ cho rằng nghĩa biểu trưng là kết quả của quá trình con người sử dụng ngôn ngữ để biểu tượng hóa Trong quá trình tri nhận thế giới khách quan, ngoài khái niệm là trung tâm của bức tranh khoa học về thế giới, con người còn tạo ra một thế giới nữa, nằm giữa thế giới khách quan và con người, đó là thế giới trung chuyển Thế giới này bao gồm những cảm nhận và tưởng tượng của con người Để tạo ra thế giới trung chuyển này, con người phải thực hiện việc biểu trưng hóa, làm cho khách thể trong thế giới khách quan có được những thuộc tính của chủ thể, còn chủ thể có được những thuộc tính của khách thể [7,

tr 112-119] Chẳng hạn các vị thần thánh như Ngọc Hoàng, Bồ Tát, ông Địa,

cô tiên, mụ phù thủy,… đều có hình hài như con người và họ cũng vui buồn, nổi giận,…như con người Còn những người con gái thì cũng mảnh mai, yếu đuối như cây liễu, cây đào (phận liễu yếu đào tơ) và họ cười tươi tắn như bông hoa nở, ăn nói nhỏ nhẹ như tiếng ngọc va nhau (hoa cười ngọc thốt đoan trang) Trong lĩnh vực tên riêng ở Việt Nam, để biểu trưng hóa cho ước vọng về con

cái mình, muốn chúng sau này có đức tính tốt, họ đặt tên con là Hạnh, Thảo,…, muốn con mang vẻ cao quý, cao sang, họ đặt tên Châu, Ngọc,…, muốn chúng

có dung nhan khả ái, họ đặt tên Lệ, Mỹ, Diễm,…

1.2.2 Vấn đề giới trong ngôn ngữ học

Tên nữ giới là đối tượng của ngôn ngữ học và được nghiên cứu trong một chuyên ngành riêng biệt đó là môn tên riêng hay Nhân danh học (Anthroponomastics) Tên nữ giới chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống tên riêng, chính vì thế trong “Từ loại danh từ trong Tiếng Việt hiện đại”, Nguyễn Tài Cẩn (1975) đã xem tên người (trong đó có tên nữ giới) là “…mảng quan trọng nhất” trong tên riêng Việt Nam [2] Như vậy, về tổng thể, tên nữ giới là một bộ phận của Nhân danh học Tên nữ giới trong hệ thống tên riêng của mỗi ngôn ngữ không chỉ thể hiện đặc trưng của ngôn ngữ đó mà còn thể hiện những khía cạnh văn hoá xã hội được phản ánh thông qua nó

Trang 33

Tên nữ giới thuộc loại tên riêng, là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ học Tên nữ giới thuộc hệ thống tên người, do đó

tên nữ giới cũng gồm các bộ phận như âm, hình, nghĩa mà các bộ phận này

đều có liên quan tới ngữ âm học, từ vựng học, ngữ nghĩa học, phương ngôn học,

tu từ học thuộc phạm vi của ngành ngôn ngữ học Khi nghiên cứu nhân danh học, các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu được những vấn đề liên quan như lịch

sử, kết cấu, quá trình phát triển hay diễn biến của ngôn ngữ, thực tiễn của ngôn ngữ những vấn đề được nêu trên đều là những vấn đề đang được nghiên cứu trong phạm vi ngôn ngữ học

Trong hệ thống ngôn ngữ, tên nữ giới thuộc lớp từ vựng tên riêng Trong tên riêng chỉ người (thuộc bộ môn nhân danh học) có nhiều loại tên khác nhau như pháp danh, hiệu danh, nghệ danh, biệt danh, bút danh, bí danh, tên hiệu, tên

tự, tên thụy, tên tục, tên chính…Những tên gọi khác nhau này không chỉ mang theo nhiều ý nghĩa lịch sử, truyền thống, văn hóa của cả cộng đồng nói chung

mà nó còn phản ánh đặc điểm tâm lý, tính thẩm mỹ của mỗi cá nhân Các loại tên này giúp ta xác định tương đối rạch ròi các giai đoạn lịch sử khác nhau, thành phần xã hội khác nhau, tôn giáo khác nhau…

Nếu xét ngôn ngữ học là một chỉnh thể thì tên nữ giới là một bộ phận, nhưng bộ phận không hoàn toàn nằm trong chỉnh thể vì bộ phận đó còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác như lịch sử, truyền thống văn hóa, xã hội Do đó, khi nghiên cứu về tên nữ giới, không chỉ nghiên cứu về phương diện từ vựng nói chung mà cần phải đặt trong mối quan hệ với các ngành khoa học xã hội khác Điều này có thể thấy khi nghiên cứu về cấu tạo của tên nữ giới, tuy không phải là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của ngôn ngữ học xã hội hay sử học nhưng những thay đổi trong cấu tạo của tên nữ giới trong những giai đoạn lịch sử và

xã hội khác nhau lại phản ánh những đặc trưng văn hóa, lịch sử, xã hội ở những giai đoạn đó Ví dụ, ở Việt Nam vào thế kỷ 18, 19 khi tiếng Hán có những ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội, có nhiều văn tự chính thức viết bằng chữ Hán nên

đa phần tên nữ giới thời kỳ đó xuất phát là những từ Hán – Việt Đến cuối thể

kỷ 19, chữ quốc ngữ xuất hiện, tên thuần Việt được sử dụng nhiều hơn Hay trước năm 1975, người Việt có xu thế đặt tên có phân biệt giới tính rõ ràng qua

Trang 34

cách đặt tên đệm cho nam là Văn và nữ là Thị Theo Dương Xuân Đống (2002)

hai chữ này được sử dụng rộng rãi trong việc làm tên đệm trong tên người Việt

Nam qua nhiều thế kỷ Văn nghĩa là người có học, nhà nho Thị có nghĩa là đàn

bà [11, tr.23] Tuy nhiên, cách phân biệt giới tính thông qua tên gọi này không

còn được người thời nay ưa chuộng lắm Do đó, người Việt nay có khuynh hướng chọn những tên đệm khác mang tính thẩm mỹ cao hơn và có sự kết hợp

ý nghĩa sâu sắc hơn với tên họ và tên cá nhân

Còn ở Anh, tỉ lệ đổi tên họ theo họ chồng sau khi kết hôn của phụ nữ Anh cũng thay đổi theo xu hướng ngày càng giảm đi do phong trào nữ quyền đòi hỏi quyền bình đẳng cho phụ nữ nổi lên mạnh mẽ ở các nước châu Âu Như vậy, khi nghiên cứu về tên người không chỉ nghiên cứu về mặt ngôn ngữ học mà phải đặt đối tượng nghiên cứu trong tương quan với các ngành khoa học khác

1.2.2.1 Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và giới

Tác giả Nguyễn Văn Khang (1996) đã phân biệt hai góc độ chính để nhìn vấn đề giới trong giao tiếp ngôn ngữ, đó là: Ngôn ngữ nói về mỗi giới và ngôn ngữ của mỗi giới Tuy nhiên, phần ngôn ngữ về mỗi giới, tác giả mới chỉ dừng lại ở một nhận xét duy nhất là những từ nhất định chỉ dùng cho giới này hoặc giới kia mà thôi Ở phần ngôn ngữ của mỗi giới thì tác giả đã chỉ ra rằng: “sự diễn đạt, cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau của hai giới để biểu thị cùng một vấn đề, cùng một nội dung giao tiếp” [34]

Tác giả Nguyễn Văn Khang cũng đã đề cập đến những vấn đề ngôn ngữ

có liên quan đến giới, đặc biệt tác giả nhấn mạnh về “sự phân biệt đối xử về giới tính thể hiện trong ngôn ngữ” Theo tác giả thì 04 biểu hiện của sự phân biệt đối xử về giới đó là:

- Sự biểu hiện ở mặt cấu tạo từ: hàng loạt từ được cấu tạo có yếu tố “man/ đàn ông” đã phản ánh vị thế xã hội nam quyền trong tiếng Anh

- Dùng đại từ he/his để thay cho she/her trong tiếng Anh

- Sự phân biệt đối xử về giới thể hiện trong sự giao tiếp ngôn ngữ: như việc sử dụng thiếu cân xứng các danh hiệu như Mr, Mrs, Miss, quan niệm không cân bằng về những tập hợp từ như unwed mother (mẹ ngoài giá

Trang 35

- Việc đánh giá về lời nói của từng giới: cách nhìn nhận khác nhau về lời nói của từng giới [35]

Như vậy, giữa ngôn ngữ và giới có sự quan hệ mật thiết với nhau Xã hội

đã phân ra giới nam và giới nữ Ngôn ngữ cũng như vậy, cũng phân định rõ ngôn ngữ dành cho nam giới và ngôn ngữ dành cho nữ giới Tên người là một

bộ phận của ngôn ngữ Dù không có những qui định nghiêm ngặt nhưng phần lớn rất dễ nhận biết đâu là tên của nam giới và đâu là tên của nữ giới trừ một

số trường hợp đặc biệt

1.2.2.2 Tên nữ giới trong ngôn ngữ học xã hội

Xã hội học là ngành khoa học đề cập tới các chủ thể xã hội, các quá trình

xã hội Trong đó, ngôn ngữ cũng là một hiện tượng xã hội Sự biến đổi của ngôn ngữ chịu sự ảnh hưởng của các nguyên nhân về kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như những ảnh hưởng của tôn giáo, phong tục, tập quán của xã hội đó So với tên chung thì tên riêng và đặc biệt là tên nữ giới có lẽ phản ánh một cách khá rõ

nét những biến động của các yếu tố xã hội

Việc đặt tên người cũng giống các hiện tượng ngôn ngữ học khác đều chịu

những ảnh hưởng không nhỏ của đặc trưng giai cấp Trong cuốn Ngôn ngữ học

xã hội – Những vấn đề cơ bản, Nguyễn Văn Khang đã chỉ ra rằng: “…bản thân

ngôn ngữ không có tính giai cấp, nhưng những giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau có ảnh hưởng tới việc sử dụng ngôn ngữ và làm cho ngôn ngữ trong sử dụng vừa phản ánh vừa mang tính đặc thù giai cấp hoặc đặc thù của tầng lớp xã hội nào đó Đây chính là nguyên nhân nảy sinh ra sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ…”[35] Như vậy, tên người mà cụ thể ở đây là tên nữ giới đều chịu những ảnh hưởng của các yếu tố xã hội như nghề nghiệp, trình độ văn hóa, kinh tế, môi trường sống Theo khảo sát của Vũ Thị Kim Thoa (2005), tên đệm

Thị trong cấu trúc tên của nữ nông dân chiếm 97,75 %, trong đó tên đệm này

chỉ chiếm 77% ở nữ công nhân và giảm xuống còn 53 % ở tên của nữ trí thức Đối với tên cá nhân, số lượng tên đơn của nữ nông dân chiếm 99,6 %, nữ công nhân chiếm 89,2% và nữ trí thức chiếm 62,9 % [79, tr.66]

Trang 36

1.2.2.3 Tên nữ giới và vấn đề giới

Trong hệ thống tên riêng chính danh của các ngôn ngữ, tên riêng của nữ giới cũng đóng vai trò rất quan trọng Theo tác giả Nguyễn Văn Khang “Phương ngữ giới tính là một biểu hiện của sự phân chia hai nửa đàn ông và đàn bà trong

xã hội Là công cụ quan trọng bậc nhất của con người, ngôn ngữ không chỉ có chức năng phản ánh thực tại xã hội mà còn có chức năng củng cố và duy trì tồn tại xã hội” [38, tr.245] Do đó, việc nghiên cứu tên nữ giới góp phần làm phong phú thêm khía cạnh nào đó trong ngôn ngữ học xã hội về giới

Trần Xuân Điệp đã cho rằng: “Ngoài chức năng đánh dấu giới, tên riêng của con trai và con gái thường phản ánh những đặc điểm rập khuôn về tính nam

và tính nữ phổ biến trong một nền văn hóa hay một xã hội nhất định Chẳng hạn những em trai thường được đặt những tên có nghĩa liên tưởng tới những khái niệm như: sức mạnh, quyền lực, lòng can đảm… trong khi đó tên của các em gái thường phản ánh sự uyển chuyển, sắc đẹp (đặc điểm cơ thể, loài hoa đẹp, đồ trang sức), tính kiên nhẫn, niềm hy vọng, sự phục tùng (đức tính)” [9, tr.91] Như vậy, tên của nam giới thường gắn với những từ có nghĩa biểu trưng cho sự

mạnh mẽ, thành công như: Hùng, Cường, Dũng, Thắng, Chiến…Trong khi đó,

tên của nữ giới thường gắn với những từ có nghĩa biểu trưng cho sắc đẹp, sự

tao nhã như Hiền, Hoa, Hạnh, Dung, Lan, Tuyết Tuy nhiên, ngoài những từ

ngữ miêu tả vẻ đẹp để dùng đặt tên cho nữ thì cũng có những từ ngữ biểu thị sự

yếu ớt, kém cỏi như Mẹt, Thị Mẹt, Tẹt, Đĩ,…

Một nét tiêu biểu trong việc phân biệt giới tính trong tên người Việt Nam

đó là tên đệm Văn dùng cho nam giới và tên đệm Thị dùng cho nữ giới Theo Huard & Durand (1992), Thị vốn được dùng để đặt tên nữ giới vì đó là lời ước nguyện mong có đông con nhiều cháu, còn Văn được dùng cho nam giới diễn tả

mong ước đỗ đạt cao [148] Về vấn đề tên đệm cho từng giới, Trần Xuân Điệp

cho rằng: Văn và Thị có thể được xem là dấu hiệu về tính kì thị giới tính trong tên truyền thống của người Việt (…) Sở dĩ Văn và Thị có ý nghĩa kỳ thị giới là

do xã hội truyền thống của Việt Nam vốn mang nặng tính phụ hệ nên quan niệm phụ nữ chỉ có bổn phận sinh con đẻ cái, còn quyền được học hành đỗ đạt cao

Trang 37

1.2.2.4 Chức năng của tên nữ giới

Cũng như tên riêng của nam giới, tên riêng của nữ giới cũng mang đầy đủ những chức năng của tên riêng chỉ người

Tác giả Đỗ Hữu Châu (1981) cho rằng tên riêng có chức năng xưng hô [5] Tác giả Đào Tiến Thi thì cho rằng tên riêng có chức năng duy trì bản sắc văn hóa [72, tr.21-23]

Còn theo Trần Ngọc Thêm, họ và tên người Việt Nam có 5 chức năng: (1) Chức năng phân biệt: đây là chức năng chính, chủ đạo Bởi vì tên gọi nói chung xuất hiện là do nhu cầu phân biệt

(2) Chức năng phân biệt giới (phân biệt nam, nữ): Sự phân biệt này mạnh hay yếu tùy thuộc vào những đặc trưng về ngôn ngữ, tập quán của mỗi dân tộc (3) Chức năng thẩm mỹ: là chức năng tồn tại trong tên gọi của mọi dân tộc Việc đặt tên người cũng thể hiện những thị hiếu riêng

(4) Chức năng bảo vệ: chọn tên để tránh những tai họa hay để được thần linh phù hộ

(5) Chức năng xã hội: trong xã hội cũ giữa các tầng lớp vua quan với dân thường có sự phân biệt rõ rệt [68, tr.12-13]

Trong khi đó, Lê Trung Hoa (2002) thì cho rằng tên riêng chỉ có 2 chức năng đó là: chức năng phân biệt và chức năng thẩm mỹ

(1) Chức năng phân biệt để phân biệt người này với người khác Riêng tên chính và tên đệm có chức năng phân biệt giới tính

(2) Chức năng thẩm mỹ: tên đệm, tên chính, bút danh, nghệ danh, pháp danh…có chức năng thẩm mỹ rất rõ vì thường được lựa chọn rất kỹ về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa [27, tr.19]

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng trong năm chức năng của tên người theo cách phân tích của Trần Ngọc Thêm thì chức năng phân biệt (1) và chức năng phân biệt giới (2) có phần trùng lặp, không cần thiết phải tách riêng Xét ở khía cạnh nào đó thì chức năng xã hội (5) đã bao hàm chức năng bảo vệ (4) Còn theo cách phân tích của Lê Trung Hoa chỉ có 2 chức năng, theo chúng tôi việc phân tích hai chức năng như vậy chưa đủ khái quát hết các chức năng của tên riêng chỉ người nói chung và tên riêng nữ giới nói riêng

Trang 38

Do đó, chúng tôi cho rằng tên nữ giới có 3 chức năng như sau:

i Chức năng phân biệt: để phân biệt người nữ này với người nữ khác, ví dụ: Sam, Louisa, Anne,… (trong tiếng Anh) hay Hà, Phương, Thu,… (trong tiếng

Việt); hay phân biệt giới tính nam và nữ ở tên đệm và tên cá nhân ở tên người

Việt là tên đệm Văn dành cho nam giới và tên đệm Thị dành cho nữ giới Ngoài tên đệm Thị, qua khảo sát, chúng tôi thấy còn những tên đệm khác cũng dành riêng cho nữ như Thùy, Thúy, Diễm…

ii Chức năng thẩm mỹ: khi đặt tên con gái, bố mẹ thường chọn những từ

hay, mang nghĩa biểu trưng thể hiện sự đẹp đẽ, tốt lành hay đức tính tốt đẹp với

mong ước con gái lớn lên có cái tên hay, tên đẹp gắn suốt cuộc đời như: Lily, Rosy, Julie,…(trong tiếng Anh) và Hoa, Tuyết, Diễm,… (trong tiếng Việt)

iii Chức năng xã hội: mỗi giai đoạn lịch sử xã hội khác nhau có những

cách đặt tên khác nhau mang theo những định kiến xã hội khác nhau, ví dụ: trong xã hội phong kiến, tên nữ chịu ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh

nữ nên có tên xấu như Hĩm, Đẹt, Mẹt…; Chức năng xã hội còn thể hiện ở tên

của những tầng lớp, giai cấp xã hội và vùng miền khác nhau như tên nữ ở vùng nông thôn, con của nông dân ít học thì thường dùng từ thuần Việt đặt tên như

Lúa, Dâu, Mì, Bưởi…, còn ở những gia đình có học ở thành thị thì thường dùng những từ Hán Việt mang ý nghĩa tượng trưng cho cái đẹp như: Nguyễn Xuân Lan, Phan Thu Thủy, Lê Bạch Tuyết…; Chức năng xã hội còn thể hiện ở xu

hướng đặt tên, chọn tên cho hợp tuổi, hợp số mệnh với hi vọng cái tên mang lại những điều tốt đẹp cho tương lai

Trang 39

CHƯƠNG 2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ Ý NGHĨA TRONG TÊN

NỮ GIỚI NGƯỜI ANH VÀ NGƯỜI VIỆT

Đặc điểm cấu tạo của tên nữ giới người Anh và người Việt

1.1.1 Đặc điểm cấu tạo của tên nữ giới người Anh

Tên nữ giới trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng như nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới nằm trong phạm vi của hệ thống từ vựng Tên nữ giới cũng như từ

và các đơn vị tương đương với từ được xem là đơn vị định danh Tuy nhiên, tên

nữ giới có cấu tạo phức tạp hơn nhiều so với các phương thức cấu tạo từ và các đơn vị tương đương với từ trong hệ thống từ vựng Tên nữ giới người Anh và người Việt do các thành phần định danh riêng biệt (tên họ, tên đệm, tên chính danh) kết hợp với nhau tạo thành một tổ hợp để gọi tên cho nữ giới Tổ hợp này

được chúng tôi xác định là tổ hợp định danh, tổ hợp gồm ba thành phần định danh Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, ba thành phần này được gọi bằng các

tên khác nhau, ví dụ: tên họ được gọi bằng surname hay last name trong tiếng Anh hay tên họ, họ trong tiếng Việt; tên đệm được gọi bằng middle name trong tiếng Anh hay tên lót, chữ lót, tên đệm, đệm trong tiếng Việt; tên cá nhân được gọi bằng given name, first name trong tiếng Anh hay tên chính, tên cá nhân

trong tiếng Việt Đề tài thống nhất sử dụng tên cá nhân, tên đệm và tên họ cho

ba thành phần định danh của tổ hợp định danh nữ giới người Anh và người Việt

Hình 2.1: Sơ đồ cấu tạo tổ hợp định danh nữ giới người Anh và người Việt

Trang 40

Ở chương 2, đề tài tiến hành miêu tả lần lượt đặc điểm cấu tạo của tổ hợp định danh nữ giới người Anh và người Việt thông qua việc mô hình hóa cấu tạo

và phân tích cấu trúc của tên nữ giới người Anh và tên nữ giới người Việt

2.1.1.1.Mô hình chung tên nữ giới người Anh

Tên nữ giới người Anh nằm trong hệ thống tên người Anh và có cấu trúc như

sau: [Tên cá nhân - Tên đệm - Tên họ]

Từ cấu trúc như trên, chúng tôi đưa ra mô hình khái quát cho tổ hợp định danh nữ giới người Anh như sau:

Bảng 2.1 Mô hình khái quát tổ hợp định danh nữ giới người Anh

Tổ hợp định danh nữ giới người Anh Tên cá nhân (A)

Given name / First

(A2)

Zero (B1)

Đơn (B2)

Phức (B3)

Đơn (C1)

Phức (C2)

Các thành phần cấu tạo tên nữ giới người Anh

Để phân tích đặc điểm cấu tạo tên nữ giới người Anh, đề tài phân tích lần lượt từng thành phần trong mô hình tổ hợp định danh nêu trên Các thành phần định danh có cấu tạo và chức năng riêng Mỗi thành phần là một đơn vị định danh độc lập Chúng có thể tách rời trong cấu trúc tổ hợp định danh và hoạt động một cách độc lập trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định

Thành phần định danh

Tổ hợp định danh

Tên cá nhânTên đệm

Tên họ

Ngày đăng: 13/04/2021, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w