1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án về tín dụng ngân hàng từ thực tiễn thực hiện tại quận long biên

71 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kê Biên, Xử Lý Tài Sản Trong Thi Hành Án Về Tín Dụng Ngân Hàng Từ Thực Tiễn Thực Hiện Tại Quận Long Biên
Tác giả Nguyễn Thùy Linh
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Anh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 747,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh các kết quả đạt được, việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản thi hành án dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng từ thực tiễn Quận Long Biên vẫn còn những khó khăn vướng mắc, b

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN VỀ TÍN DỤNG NGÂN

HÀNG TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI QUẬN LONG BIÊN

NGUYỄN THÙY LINH Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Anh Tuấn

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ theo quy định Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thùy Linh

Trang 3

Cảm ơn các bạn học viên trong lớp Cao học Luật - Chuyên ngành Luật Kinh

tế (khóa học 2018-2020), Khoa Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Mở Hà Nội

đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến đồng nghiệp và gia đình đã nhiệt tình hỗ trợ, động viên, tạo điều kiện trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thiện luận văn này

Do thời gian có hạn, kiến thức và kinh nghiệm còn nhiều thiếu sót, hạn chế, tôi kính mong các Quý thầy, cô giáo, nhà khoa học, chuyên gia và độc giả quan tâm tham gia đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thùy Linh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 10

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 10

7 Cơ cấu của luận văn 11

CHƯƠNG 1 12

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 12

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng 12

1.2 Phân loại kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng 17 1.3 Nội dung của pháp luật về kê biên tài sản thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng 30

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng 39

CHƯƠNG 2 43

THỰC TIỄN KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI QUẬN LONG BIÊN VÀ KIẾN NGHỊ 43

2.1 Thực tiễn kê biên tài sản thi hành án về tín dụng ngân hàng 43

2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật trong thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 56

2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về kê biên tài sản thi hành án về tín dụng ngân hàng 56

2.2.1 Kiến nghị thực hiện các quy định của pháp luật về kê biên tài sản thi hành án về tín dụng ngân hàng 56

KẾT LUẬN CHUNG 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật

Vì vậy, việc thi hành các Bản án, quyết định của Tòa án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi Điều

này đã được ghi nhận cụ thể tại Điều 106, Hiếp pháp năm 2013: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”

Thi hành án dân sự là một hoạt động đã, đang và sẽ là “vấn đề nóng” của

xã hội, do đó đòi hỏi các ngành, các cấp cần phải có sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời

để tìm ra giải pháp đúng đắn cho lĩnh vực còn nhiều tồn tại và khó khăn, vướng mắc này Tầm quan trọng của hoạt động thi hành án còn được thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược Cải cách tư

pháp đến năm 2020 như sau: “Xây dựng cơ chế đảm bảo mọi bản án của Tòa án

có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử

lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành” Vấn đề nóng của

ngành THADS hiện nay là số việc phải thi hành tồn đọng rất lớn, đặc biêt là các bản án, quyết định về tín dụng ngân hàng Kết quả 06 tháng đầu năm 2018, tổng

số việc thụ lý thi hành các vụ án tín dụng ngân hàng là: Về việc: 21.508 việc, tương ứng với số tiền: 94.928 tỷ 672 triệu 164 nghìn đồng (chiếm tỷ lệ 3,38% việc và 58,25% tiền toàn quốc) Trong đó: Tổng số việc có điều kiện là 17.003 việc (chiếm

tỷ lệ 79,05% tổng số việc án tín dụng ngân hàng và chiếm 2,69% tổng số vụ việc phải thi hành của toàn quốc); Tổng số tiền có điều kiện là 70.517 tỷ 068 triệu 919 nghìn đồng (chiếm tỷ lệ 74,28% về tiền thi hành án tín dụng, ngân hàng và chiếm

Trang 7

44,48% về tiền so với tổng số tiền phải thi hành của toàn quốc) So với cùng kỳ năm 2017, số thụ lý tăng 2.670 việc và tăng 18.914 tỷ 721 triệu 057 nghìn đồng Kết quả: Thi hành xong 1.676 việc, thu được số tiền là 6.443 tỷ 442 triệu 565 nghìn đồng, đạt tỷ lệ 7,79% về việc và 11,28% về tiền (tăng 22 việc và 184 tỷ 183 triệu 767 nghìn đồng và về tỷ lệ tăng 1,33% về việc và 1,75% về tiền so với cùng

kỳ năm 2017)1 Có thể nói, số lượng các bản án, quyết định về tín dụng ngân hàng

so với số lượng các bản án, quyết định khác là không nhiều, chiếm tỉ trọng nhỏ, tuy nhiên, các bản án, quyết định về tín dụng ngân hàng lại có số tiền phải thi hành

án lớn, chiếm tỉ trọng cao, do vậy tại các chi cục THADS không đạt chỉ tiêu về tiền đa phần rơi vào trường hợp Chi cục có số lượng án tín dụng ngân hàng bị tồn đọng do khó thi hành án lớn Số việc, số tiền phải thi hành lớn tập trung ở các tổ chức tín dụng có vốn Nhà nước chi phối như: Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank): 3.892 việc tương ứng với số tiền phải thi hành trên 15.044 tỷ đồng; Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam (Vietinbank): 1.236 việc tương ứng với số tiền phải thi hành trên 6.858 tỷ đồng; Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV): 1.684 việc tương ứng với số tiền phải thi hành trên 7.619 tỷ đồng; Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam (Techcombank): 1.415 việc tương ứng trên 7.708 tỷ đồng; Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank): 591 việc tương ứng trên 5.228 tỷ đồng; Khoảng trên 60 tổ chức tín dụng khác có số việc, số tiền phải thi hành án tương đối lớn đang được các cơ quan THADS tổ chức thi hành

Trong các biện pháp cưỡng chế mà Luật thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì biện pháp kê biên tài sản, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng là phức tạp và thường gặp khó khăn nhất khi áp dụng Việc ban

1 Tổng cục THADS,(2018), Báo cáo sơ kết công tác chỉ đạo giải quyết các vụ việc THADS liên quan

đến hoạt động tín dụng, ngân hàng 06 tháng đầu năm 2018, Hà Nội

Trang 8

hành Luật thi hành án dân sự - Một văn bản chuyên ngành có giá trị pháp lý cao

là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng, thể hiện tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật Tuy nhiên, việc nghiên cứu cho thấy các quy định của pháp luật về biện pháp kê biên tài sản khi áp dụng trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng đã bộc lộ những hạn chế nhất định Bên cạnh các kết quả đạt được, việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản thi hành án dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng từ thực tiễn Quận Long Biên vẫn còn những khó khăn vướng mắc, bất cập nhất định, như nhiều bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng chậm tổ chức thi hành; việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản còn nhiều vướng mắc, hiệu quả chưa cao, công tác phối hợp kê biên tài sản trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng còn chưa được chính quyền địa phương chú trọng; điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành thi hành án dân sự chưa được quan tâm tốt Thực tiễn này đòi hỏi phải thực hiện một nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ những hạn chế của pháp luật; những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành

kê biên tài sản thi hành án dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng từ thực tiễn Quận Long Biên, từ đó xác định nguyên nhân và để xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng

Vì những lý do trên việc chọn lựa đề tài “Kê biên, xử lý tài sản trong thi hành

án về tín dụng ngân hàng từ thực tiễn thực hiện tại quận Long Biên” để làm luận

văn Thạc sĩ Luật kinh tế của mình là cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Các biện pháp cưỡng chế THADS trong đó có biện pháp kê biên tài sản, nội dung của luận văn có liên quan đến nhiều công trình nghiên cứu, nhưng cần quan tâm chú trọng đến các công trình, bài viết sau:

- Luận văn Thạc sỹ luật học: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành

nghĩa vụ trả tiền” của Nguyễn Thanh Mai năm 2013

Trang 9

- Luận án tiến sỹ Luật học: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế Thi hành án dân sự ở Việt Nam, của Lê Anh Tuấn, năm 2017 Luận án đã

đưa ra được nhiều vấn đề mà pháp luật hiện nay vẫn chưa có hướng giải quyết, gây khó khăn cho công tác cưỡng chế Thi hành án trên thực tiễn

- Luận án tiến sĩ Luật học: "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay", của Nguyễn Thanh Thủy, năm 2008, trong luận văn tác giả

đã đưa ra nhiều định hướng để hoàn thiện quy định, nhiều định hướng cũng đã được cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn về công tác thi hành án dân sự ban hành sau đó;

- Luận văn thạc sỹ luật học: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa

vụ trả tiền”, Nguyễn Thanh Mai, năm 2013 Trong luận văn tác giả đã làm rõ các

quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về biện pháp thi hành nghĩa vụ trả tiền, những bất cập và hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp trả tiền trên thực tế

- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Hoạt động của thừa phát lại trong Thi hành án dân sự ", của Nguyễn Thị Thảo, năm 2017 Luận văn đã đưa ra những

vấn đề còn đang hiện hữu trong hoạt động của thừa phát lại, những bất cập, và hạn chế Đưa ra những ưu điểm khi tiến hành xã hội hóa công tác thi hành án dân

sự từ đó đề xuất nhiều giải pháp để hoàn thiện những quy định của pháp luật, góp phần nâng cao hiểu quả hoạt động của Thừa phát lại

- Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của trường Đại

học Luật Hà Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật; một số bài viết đăng trên các tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…

Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về THADS nói chung, kê biên thi hành án nói riêng nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ lý luận và thực tiễn về kê biên tài sản

Trang 10

trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng gắn với địa bàn Quận Long Biên Vì vậy, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên, việc nghiên cứu chuyên sâu về áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng từ thực tiễn Quận Long Biên là cần thiết, không trùng lặp với các công trình đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những cơ sở lý luận về thi hành án và kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng

- Phân tích về pháp luật kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng, thực tiễn thi hành án dân sự và tìm ra nguyên nhân của thực trạng

đó

- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học, luận văn tập trung nguyên cứu

cở sở lý luận và thực tiễn về kê biên tài sản thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng, từ đó rút ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về kê biên tài sản thi hành

án dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tại Quận Long Biên

Trang 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các quy định hiện hành về

kê biên tài sản thi hành án dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng và thực tiễn về những vụ việc mà Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp kê biên tài sản dựa vào Luật thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), và văn bản hướng dẫn thi hành tại quận Long Biên

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận:

Dựa trên nền tảng phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối của Đảng, luật pháp của Nhà nước, vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành và luận văn triệt

để vận dụng phương pháp nghiên cứu kê biên tài sản thi hành án dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp liệt

kê, thống kê, sử dụng các trang web để tìm kiếm tài liệu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận:

Luận văn đã nghiên cứu những thực tiễn đã và đang xảy ra trong việc thi hành các bản án, quyết định về tín dụng ngân hàng, đặt ra và luận giải một số quan điểm cơ bản về khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án tín dụng ngân hàng, tìm hiểu đặc điểm, bản chất của việc kê biên tài sản, góp phần bổ sung làm phong phú thêm cho hoạt động nghiên cứu khoa học về pháp luật thi hành án dân sự quận Long Biên

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Từ việc đánh giá thực trạng pháp luật kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, tác giả đã chỉ ra được những bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ

Trang 12

thống pháp luật thi hành án dân sự

Từ việc đánh giá thực tiễn kê biên tài sản thi hành án dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, tác giả đã phân tích những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng từ thực tiễn quận Long Biên

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu, luận văn này có kết cấu 02 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng

Chương 2: Thực tiễn kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng tại quận Long Biên và kiến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của kê biên tài sản trong thi hành án

dân sự về tín dụng ngân hàng

* Khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng

Theo từ điển bách khoa toàn thư thì kê biên là cưỡng chế của Nhà nước

đối với tài sản của người vi phạm pháp luật Kê biên tài sản trong thi hành án

là một trong những biện pháp cưỡng chế và Chấp hành viên (Viết tắt là CHV)

có quyền áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện

thi hành

Ở góc độ luật học thì kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án dân sự về tín

dụng ngân hàng là một biện pháp cưỡng chế thi hành án do cơ quan thi hành án

áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ thanh toán tiền theo bản án, quyết

định của Tòa án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều

kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do CHV ấn định hoặc

trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án chuyển dịch tài sản cho

người khác tẩu tán, hủy hoại tài sản Nghĩa vụ thanh toán nợ được quyết định

trong bản án, quyết định của Tòa án xuất phát từ việc người phải thi hành án có

nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng, tổ chức tín dụng từ hợp đồng tín dụng đã

ký kết

Trong luận văn này, việc nghiên cứu kê biên tài sản thi hành án về tín dụng

ngân hàng ở góc độ là một biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền (xuất

phát từ hợp đồng tín dụng, thường là có tài sản bảo đảm), trên cơ sở đó sẽ phân

tích, đánh giá để tìm hiểu rõ hơn về biện pháp cưỡng chế bằng hình thức kê biên

tài sản trong thi hành án dân sự theo những quy định của pháp luật hiện hành

Trang 14

*Đặc điểm của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng

Đối với mỗi một biện pháp cưỡng chế sẽ có một đặc điểm riêng để nhận biết cũng như để cho các CHV dễ dàng áp dụng đối với từng vụ việc cụ thể Theo

Lê nin: “Pháp luật sẽ không còn là gì nữa nếu không có một bộ máy có đủ sức cưỡng bức người ta tuân theo những tiêu chuẩn của pháp quyền thì pháp quyền

có cũng như không” Những quy tắc đạo đức, phong tục được con người tuân

theo đó là nhờ vào sự tự giác, lòng tin, trình độ hiểu biết, tác động của xã hội, còn quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thi hành Nếu công dân, các tổ chức, người có quyền và nghĩa vụ liên quan không chấp hành thì Nhà nước sẽ cưỡng chế để đảm bảo pháp luật được thực thi Là một trong số các biện pháp phổ biến để đảm bảo thực thi các bản án, quyết định của Tòa án về tín dụng ngân hàng, biện pháp cưỡng chế kê biên có những đặc điểm chung cơ bản của biện pháp cưỡng chế kê biên nói chung và đặc điểm riêng biệt do gắn với chủ thể riêng biệt là tổ chức tín dụng – Ngân hàng

Thứ nhất, đối với đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên khác

nhau, cách thức và thời gian thực hiện cũng sẽ khác nhau Kê biên là giai đoạn đầu của một trong sáu biện pháp cưỡng chế THADS Với mục đích bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án là cá nhân, tổ chức, cơ quan và lợi ích của Nhà nước thì CHV sẽ quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp đối với người phải THA, trong đó có biện pháp cưỡng chế kê biên và xử lý tài sản Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên được thực hiện trong từng trường hợp khác nhau là khác nhau Điều đó phụ thuộc vào khả năng thanh toán của người phải thi hành án, giá trị của tài sản bảo đảm, mức độ tổn hao của tài sản, tâm sinh lý của người phải thi hành án và các điều kiện khách quan khác Nhưng căn cứ chung để áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên theo Luật Thi hành

án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) ( Viết tắt là Luật THADS)

Trang 15

là khi người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án trong khoảng thời gian

do luật định thì sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế là kê biên và xử lý tài sản để thi hành án Căn cứ này áp dụng chung cho việc thi hành tất cả các bản án, quyết định của tòa án

Thứ hai, Tài sản bảo đảm để áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên trong các

bản án, quyết định của tòa án về tín dụng ngân hàng thường có giá trị lớn Nguyên nhân do số tiền vay nhiều, nên tài sản có giá trị lớn phổ biến là quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất Các Ngân hàng thường nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là tài sản bảo đảm do nó có tính ổn định, không thể tẩu tán được, không bị khấu hao như các tài sản khác Ngoài ra, quyền sử dụng đất có tính thanh khoản dễ hơn các tài sản khác do dễ chuyển nhượng trên thị trường

Thứ ba, về thời gian để áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của

các bản án, quyết định của Tòa án về tín dụng ngân hàng thường kéo dài trong

nhiều tháng hoặc nhiều năm Các nguyên nhân chính là: Thứ nhất, xuất phát từ

ý thức chấp hành pháp luật của người phải THA Do tài sản đảm bảo có giá trị lớn, nên người phải THA thường chống đối, chây ỳ nhằm hi vọng có nguồn tiền khác để trả dần cho ngân hàng để tránh bị kê biên tài sản đảm bảo Ngoài ra, họ cũng muốn đợi thị trường bất động sản sôi động để có thể bán đất được giá, nhờ

đó có thể dôi dư một khoản tiền sau khi thanh toán cho ngân hàng Đối với việc

xử lý tài sản thế chấp của bên thứ ba thì càng khó khăn hơn, do bên thứ ba thường

ít được sử dụng vốn vay nên họ sẽ chống đối quyết liệt để bảo vệ quyền lợi của

mình do họ không vay trực tiếp tiền của Ngân hàng Thứ hai, nhiều trường hợp

người phải THA là các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, trụ sở đi thuê đã đóng cửa, trả lại văn phòng cho chủ nhà, người đại diện theo pháp luật thay đổi liên tục hoặc không hợp tác, che giấu tài khoản giao dịch tại ngân hàng, liên kết với các doanh nghiệp khác (do người thân thành lập) để chuyển nhượng tài sản của mình nhằm tránh bị kê biên, gây khó khăn cho Chấp hành viên; nhiều trường hợp

Trang 16

tài sản bảo đảm là động sản, đến giai đoạn THA thì không xác định được tài sản

đang ở đâu hoặc đã bị cố tình tẩu tán Thứ ba, các quy phạm pháp luật liên quan

đến việc xử lý tài sản đang có sự xung đột Trong quá trình áp dụng, vẫn còn nhiều quy định mới ban hành gặp không ít khó khăn, vướng mắc trong đó có cả

các quy định pháp luật trong lĩnh vực THA dân sự Thứ tư, công tác phối hợp

giữa cơ quan THADS và các cơ quan hữu quan chưa thật sự hiệu quả Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tổ chức THA chưa hiệu quả là tại một số địa phương, công tác phối hợp giữa cơ quan THADS và Viện Kiểm sát, Tòa án, Công an, Ủy ban nhân dân (UBND) chưa tốt Phần lớn các vụ việc THA cho các

tổ chức tín dụng, ngân hàng đều phải thực hiện biện pháp cưỡng chế THA, trong

đó có nhiều vụ việc phải tổ chức cưỡng chế có huy động lực lượng, cần có sự tham gia của lực lượng công an và UBND các cấp, nên dẫn đến kéo dài thời gian

tổ chức THA

Thứ tư, chủ thể áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản trong hoạt động

thi hành án dân sự (Viết tắt là THADS) là cơ quan thi hành án dân sự Do việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên thể hiện tính cưỡng chế của nhà nước, thế nên

cơ quan thực thi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên là cơ quan nhà nước chuyên trách Đây là chủ thể chính được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, khi thi hành nhiệm vụ, chỉ tuân theo pháp luật và được pháp luật bảo vệ Vì vậy chủ thể áp dụng biện pháp kê biên tài sản là CHV cơ quan THADS

Vai trò của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng Thứ nhất, việc kê biên tài sản đảm bảo thi hành án thể hiện tính nghiêm

minh của pháp luật và khôi phục lại những quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ Trong quá trình giải quyết một vụ án, việc thi hành án chỉ kết thúc khi bản án quyết định của Tòa án được thi hành đúng kịp thời đầy đủ theo quy định của Toà

án Nếu công tác thi hành án dân sự không được các bên quan tâm và không có

Trang 17

hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hoạt động của Cơ quan Điều tra công an; Truy tố của Viện kiểm sát; Xét xử của Toà án, trật tự kỷ cương xã hội quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Thứ hai, góp phần cho người dân nâng cao nhận thức về pháp luật Thi

hành án dân sự góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân đặc thù của thi hành án dân sự là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của cán bộ Công chức, Chấp hành viên, Cơ quan thi hành án dân sự, quan tâm chỉ đạo của chính quyền địa phương, sự phối hợp các cơ quan tổ chức

có liên quan và sự nhất trí cao đồng tình của quần chúng, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng dân tộc Trong hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ riêng của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên mà còn là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, và đoàn thể xã hội và mọi thành viên trong cộng đồng dân tộc Thông qua công tác thi hành án, ý thức pháp luật được tuyên truyền rộng ra ngoài nhân dân và đồng thời nâng cao nhận thức của mọi người, nhân dân và xã hội với pháp luật

Thứ ba, là thước đo của quá trình xét xử nhân danh toà án Thi hành án là

thước đo hiệu quả hoạt động xét xử nhân danh của Tòa án và hoạt động tư pháp khác Hoạt động điều tra, truy tố và xét xử diễn ra rất phức tạp, kéo dài và tốn kém của nhà nước, song những hoạt động đó có thể chỉ là con số không nếu như bản

án, quyết định của Tòa án không được đưa ra thi hành trên thực tế một cách nghiêm minh đúng quy định Với ý nghĩa đó, thi hành án dân sự là một hoạt động không thể thiếu được trong quá trình bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của đương sự

nh ng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thông qua công tác thi hành án, kết quả của công tác xét xử được củng cố, hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa án được đảm bảo theo quy định Mặt khác, thi hành án dân sự còn là giai đoạn kiểm nghiệm qua thực tiễn những phán quyết của Thẩm phán Tòa án, phản ánh, trung

Trang 18

thực chất lượng chính xác và hiệu quả của hoạt động xét xử Thực tế có nhiều vụ việc cho thấy đương sự không tự nguyện thi hành hoặc gửi đơn khiếu nại, tố cáo

đi nhiều nơi, tố cáo vượt cấp đến Trung Ương không phải vì cơ quan thi hành án làm sai mà vì không đồng tình không đồng ý hết toàn bộ nội dung bản hoặc một phần nào đó với bản án quyết định của Tòa án nên cố tình trì hoãn kéo dài việc thi hành án

Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động thực thi phán quyết của Tòa án liên quan đến các vấn đề về tài sản và nhân thân, trong các bản án hình sự, kinh tế, lao động, dân sự, hành chính, tín dụng ngân hàng, hôn nhân và gia đình, có thể nói hoạt động thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng Để bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trên thực tế được nghiêm túc, đi vào đời sống dân sự một cách hiệu quả nhất thì công tác thi hành án dân sự đóng vai trò vô cùng quan trọng

1.2 Phân loại kê biên tài sản trong thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng

Việc kê biên tài sản của người phải THA tương ứng với nghĩa vụ THA và các chi phí cần thiết Đó là các chi phí do người phải THA chịu theo quy định tại Điều 73 luật THADS2 Vì vậy khi kê biên tài sản của người phải THA, CHV phải tạm tính giá trị các tài sản định kê biên và các chi phí để kê biên tương ứng với mức vừa đủ để THA CHV có thể dựa vào giá thị trường của tài sản tại thời điểm

2 Điều 73 Chi phí cưỡng chế thi hành án1 Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:a)

Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án;b) Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo

vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;c) Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản; chi phí định giá lại tài sản, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này;

d) Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công

và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ;e) Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án

Điều này được hướng dẫn bởi Điều 45 Nghị định 62/2015/NĐ-CP

Trang 19

tiến hành việc kê biên, hay có thể tham khảo ý kiến của các cơ quan chức năng

có liên quan và của cả các bên đương sự để tạm tính giá trị tài sản kê biên.[12]

Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên để đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của tòa án về tín dụng ngân hàng sẽ tác động trực tiếp đến các chủ thể sau: Người được THA, người phải THA, người có quyền và nghĩa vụ liên quan Người phải thi hành án có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức Khi kê biên phải đảm bảo được nguyên tắc tài sản kê biên tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành và các chi phí có liên quan, trừ trường hợp đặc biệt là tài sản này lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành (theo NĐ 62/2015/NĐ-CP) Tuy nhiên không phải tất cả các loại tài sản đều có thể bị kê biên, có những loại tài sản do tính chất đặc thù của chính

nó quy định hoặc do ý thức chủ quan của con người quy định mà nó sẽ không phải là đối tượng bị kê biên

1.2.1 Các loại tài sản bị cưỡng chế kê biên phổ biến trong các bản án, quyết định của Tòa án về tín dụng ngân hàng

 Tài sản bị cưỡng chế kê biên theo bản án, quyết định của Tòa án về tín dụng ngân hàng là động sản

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đối với mỗi loại tài sản bảo đảm khác nhau thì sẽ khác nhau Đối với tài sản bảo đảm là động sản (ô tô, máy công trình ), do có đặc điểm có kết cấu máy móc kỹ thuật (có số khung, số máy, năm sản xuất, loại động cơ ), có thể di chuyển được, nên khi thực hiện kê biên các tài sản này, nếu cần đề phòng đương sự tẩu tán tài sản, CHV cần áp dụng biện pháp bảo đảm là phong toả tài sản nơi gửi giữ và tạm giữ tài sản của đương

sự Sau đó, CHV tiến hành kê biên tài sản đã bị phong toả, tạm giữ Do có đặc tính

kỹ thuật, nên CHV cần bổ sung vào thành phần tham gia đại diện các cơ quan chuyên môn về đăng kiểm, chuyên viên kỹ thuật kiểm định để tránh sai sót trong quá trình thực hiện kê biên (kê biên thiếu bộ phận của tài sản, kê biên nhầm tài sản) Sau khi kê biên động sản xong, CHV tiến hành gửi giữ tài sản đã bị kê biên

Trang 20

tại kho, bãi có chức năng trông giữ tài sản đó để thực hiện các thủ tục tiếp theo

Sau khi CHV áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án là tạm giữ tài sản của người phải THA, trong thời hạn 10 ngày, kể từ khi có căn cứ tài sản thuộc sở hữu của người phải THA, CHV ra quyết định kê biên tài sản để tiếp tục xử lý theo quy định

 Tài sản bị cưỡng chế kê biên theo bản án, quyết định của Tòa án về tín dụng ngân hàng là bất động sản và quyền đối với bất động sản

Đối với tài sản bảo đảm là bất động sản (nhà ở, nhà xưởng ) và quyền đối với bất động sản (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở ), CHV sẽ tiến hành xác minh đầy đủ các số đo về mốc giới, diện tích, tài sản trên đất, loại nhà ở trước khi

kê biên Khi thực hiện kê biên tại hiện trường, CHV chỉ kê biên quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất, không kê biên các tài sản khác bên trong như đồ dùng sinh hoạt gia đình Kết thúc việc cưỡng chế kê biên, CHV tạm giao diện tích đất, nhà cho người phải thi hành án, hoặc người đang quản lý khai thác sử dụng (Điều

112 Luật THADS) tiếp tục bảo quản và sử dung cho đến khi có quyết định khác của cơ quan THADS Sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản, CHV

sẽ thông báo cho các bên về quyền thỏa thuận với nhau về giá tài sản đã kê biên, lực chọn tổ chức thẩm định giám Nếu các bên không thỏa thuận được, CHV có quyền ký với một công ty thẩm định giá độc lập để thẩm định giá tài sản bị kê biên Sau khi có giá của tài sản, CHV phải thông báo cho các bên liên quan về giá của tài sản và quyền yêu cầu thẩm định giá lại (Điều 99 luật THADS)3 Nếu các bên đương sự muốn định giá lại phải nộp ngay chi phí tạm ứng tiền thẩm định giá lại Trong thời 05 ngày làm việc kể từ ngày định giá, các bên có quyền thỏa thuận với nhau về việc lựa chọn tổ chức bán đấu giá tài sản Nếu không thỏa thuận được,

3 Điều 99: 1 Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:a) Chấp hành viên có

vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; 3 Giá thẩm định lại được lấy làm giá khởi điểm để bán đấu giá theo quy định

Trang 21

CHV có quyền ký kết với công ty bán đấu giá có đủ năng lực bán đấu giá theo quy định để thực hiện các thủ tục về bán đấu giá tài sản đã bị kê biên Trước ngày bán đấu giá 01 ngày, bên phải THA có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ số tiền phải THA cho Ngân hàng, chi phí cưỡng chế THA và các chi phí liên quan khác (Điều

101 luật THADS)

Thủ tục kê biên án tín dụng Ngân hàng cũng tương tự như thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên của các loại án khác Tuy nhiên, đối với án tín dụng ngân hàng có đặc điểm là thời gian từ thời điểm thế chấp Ngân hàng đến khi CHV thực hiện việc kê biên kéo dài nhiều tháng, thậm chí là nhiều năm, nên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất dễ có biến động phát sinh (hiện trạng công trình trên đất thay đổi, người thứ ba xây dựng nhà trên đất…) Để xử lý những tình huống phát sinh đó, Luật THADSđã có những quy định điều chỉnh cụ thể tại điều

113 Luật THADS“Xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên” Trường hợp thứ nhất,

tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của người khác Nếu tài sản gắn liền với đất

có trước khi người phải THA nhận được quyết định THA thì CHV sẽ yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển Trường hợp người có tài sản không tự nguyện di chuyển, CHV hướng dẫn người phải THA và người có tài sản lập biên bản về phương thức giải quyết tài sản Trong thời hạn 15 ngày, nếu họ không thỏa thuận được thì CHV sẽ tiến hành xử lý tài sản đó cùng với quyền sử đụng đất để bảo đảm quyền lợi của người phải THA, người có tài sản gắn liền với đất Sau khi

xử lý tài sản, CHV sẽ trả lại số tiền tương ứng với tài sản gắn liền với đất cho người có tài sản Người có tài sản phải chịu các chi phí cưỡng chế, bán đấu giá tài sản Nếu tài sản gắn liền với đất có sau khi người phải THA được thông báo hợp

lệ quyết định THA thì CHV yêu cầu người có tài sản gắn liền với đất tự chuyển dọn tài sản, sau 15 ngày kể từ ngày yêu cầu mà người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì CHV xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất Đối với tài sản có sau khi kê biên CHV tổ chức việc tháo dỡ

Trang 22

tài sản trừ trường hợp người nhận quyền sử dụng đất hoặc người mua trúng đấu giá quyền sử dụng đất đồng ý mua tài sản Trường hợp thứ hai, tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của người phải THA thì CHV khi kê biên quyền sử dụng đất sẽ

kê biên luôn tài sản gắn liền với đất

Đối với biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang được thế chấp tại Ngân hàng khác Các tài sản được thế chấp được quy định cụ thể tại Điều 90 Luật THADS Đối với trường hợp tài sản được cầm cố, thế chấp trước khi bản án, quyết

định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thì: “Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, CHV

có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án” Việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp trong trong trường hợp này được

CHV tiến hành khi có đủ hai điều kiện: Thứ nhất, tài sản cầm cố thế chấp lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án; thứ hai, người phải thi hành án không còn tài sản nào khác Như vậy Luật thi hành án quy định CHV được kê biên tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố thế chấp tại Ngân hàng khác nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn tổng nghĩa vụ người thi hành án phải thực hiện; Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2.3 công văn 2233/CV-TCTHADS-NV1 ngày 15/8/2017 hướng dẫn các quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14 như

sau:“ Về việc kê biên tài sản bảo đảm của bên phải thi hành án (Điều 11) Từ ngày 15/8/2017, cơ quan THADS chỉ kê biên tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự khi thuộc một trong các trường hợp sau: (i)để thi hành bản án, quyết định của Tòa án về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; (ii) có sự đồng ý kê biên bằng văn bản của tổ chức tín dụng Đối với trường hợp cơ quan THADS đã thực hiện việc kê biên theo quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự trước ngày 15/8/2017 thì vẫn tiếp tục tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” Như vậy nếu tài

Trang 23

sản của người phải THA đang cầm cố, thế chấp bị xét vào nợ xấu thì việc kê biên của CHV đối với tài sản đó chỉ được tiến hành khi đáp ứng được các quy định trên

Khi xác định tài sản của người phải thi hành án đang được cầm cố thế chấp,

sẽ có hai trường hợp xảy ra Trường hợp thứ nhất, tài sản đang được cầm cố thế

chấp hợp pháp Tại thời điểm xác minh, CHV nhận thấy tài sản có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng nghĩa vụ phải thanh toán theo Hợp đồng thế chấp thì CHV sẽ có văn bản để thông báo cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải THA và yêu cầu thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm

cố, thế chấp phải thông báo cho cơ quan THADS biết Cơ quan THADS kê biên tài sản sau khi đã được giải chấp hoặc thu phần tiền còn lại sau khi xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán cho Ngân hàng Nếu người nhận cầm cố, thế chấp không thông báo, hoặc chậm thông báo dẫn đến việc đương sự tẩu tán tài sản thì phải bồi thường theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP Khi xử lý xong tài sản đang được cầm cố, thế chấp, CHV sẽ ưu tiên thanh toán cho người nhận đang nhận cầm cố thế chấp, số tiền còn lại sẽ thanh toán theo thứ tự quy định tại điều 47 Luật THADS trừ các trường hợp được quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14 Trường hợp CHV đã kê biên tài sản của người phải THA đang cầm cố thế chấp mà tài sản đó chưa bán được, hoặc sau khi đã hạ giá theo quy định mà giá trị tài sản đó bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ THA theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 48 Luật THADSthì Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định hoãn THA Đồng thời ra quyết định thu hồi quyết định cưỡng chế kê

biên, xử lý tài sản theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 37 luật THADS Trường

hợp thứ hai, tài sản đang được cầm cố, thế chấp là bất hợp pháp Cụ thể, theo

khoản 1 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP: “Kể từ thời điểm bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật, nếu người phải THA chuyển nhượng, tặng cho, mua bán, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được

Trang 24

để THA và không còn tài sản nào khác hoặc tài sản khác không đủ để bảo đảm nghĩa vụ THA, từ trường hợp pháp luật có quy định khác thì tài sản đó vẫn bị kê biên , xử lý để THA” Nếu người khác có tranh chấp trong trường hợp này thì CHV

thông báo cho đương sự thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 75 luật THADS

Đối với áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản là tài sản chung Việc

kê biên tài sản là tài sản chung được quy định tại Điều 74 luật THADS, Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, Điều 2 Điều 7 Thông tư 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC Theo đó, điều kiện để kê biên tài sản chung gồm: Thứ nhất, khi tài sản khác của người phải THA không đủ để thi hành án, thứ hai, việc

kê biên sẽ được tiến hành khi có đề nghị của đương sự theo quy định tại khoàn 4 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP Việc xác định phần tài sản của người phải THA trong khối tài sản chung rất quan trọng, đây là căn cứ để CHV có thể hướng

dẫn đương sự tiến hành các thủ tục tiếp theo cụ thể: Trường hợp thứ nhất, tài sản

đã xác định được phần sở hữu, sử dụng Đối với trường hợp này, nếu tài sản xác định có thể phân chia được, CHV sẽ tiến hành kê biên phần tài sản, quyền tài sản của người phải THA để thực hiện việc THA, nếu tài sản không thể phân chia được, hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị tài sản, thì CHV có thể kê biên toàn

bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc

quyền sở hữu của họ Trường hợp thứ hai, tài sản chưa xác định được phần sở

hữu, sử dụng Đối với trường hợp này, CHV tiến hành thông báo cho người phải THA trong khối tài sản chung để THA để những người có quyền lợi đối với khối tài sản chung này tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu tòa

án giải quyết theo thủ tục tố tụng Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận, không thỏa thuận được, việc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 Luật THADShoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì CHV có quyền hướng dẫn người được THA yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu, sử dụng tài sản Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông

Trang 25

báo mà người được THA không yêu cầu Tòa án phân định tài sản thì CHV yêu cầu Tòa án giải quyết Tuy nhiên đối với trường hợp này, việc yêu cầu phân chia xảy ra khá ít trong thực tế Số lượng các hồ sơ tiến hành thủ tục xử lý tài sản chung của người phải THA với những người khác xảy ra rất ít nhưng không phải là không

có Trường hợp thứ ba, đối với tài sản thuộc sở hữu chung vợ chồng Để xác định

được tài sản chung vợ chồng, CHV sẽ căn cứ vào quy định tại Điều 29, Điều 59 luật Hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 4 điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/1/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của luật Hôn nhân gia đình năm 2014, theo đó về nguyên tắc, tài sản chung

vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố khác Trường hợp thứ tư,

đối với tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình Đối với loại tài sản này, CHV

sẽ xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất Nếu các thành viên trong hộ gia đình không chấp nhận cách xác định, phân chia của CHV thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ Hết thời hạn nêu trên mà các thành viên trong hộ gia đình không khởi kiện thì CHV kê biên tài sản chung và trả lại cho các thành viên hộ gia đình phần giá trị tương ứng với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ Như vậy, việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản của các thành viên

là rất quan trọng Thứ nhất, việc xác định sẽ bảo đảm quyền lợi cho các đồng sở hữu còn lại, thứ hai, bảo đảm quyền ưu tiên mua của các đồng sở hữu Qua phân tích trên ta có thể thấy, thẩm phán có vai trò rất quan trọng trong việc xác định tài sản chung riêng, tuy nhiên hiện nay, Luật THADSmới chỉ dừng lại ở việc xác định vai trò, nhiệm vụ của CHV, của thừa phát lại nhưng không xác định vai trò quan trọng của thẩm phán trong công tác THADS, do vậy, theo tác giả, cần sớm bổ sung

Trang 26

vai trò của thẩm phán chuyên trách, chuyên nghiệp theo dõi, đôn đốc và xử lý các vấn đề nảy sinh trong công tác cưỡng chế THADS

Đối với việc kê biên xử lý tài sản cầm cố thế chấp của người phải thi hành

án là doanh nghiệp nhà nước, CHV sẽ xác minh các tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước Để làm rõ được điều này, CHV sẽ xác minh thông qua biên bản giao nhận tài sản góp vốn để nhận định rõ, đâu là tài sản của doanh nghiệp, đâu là tài sản của Nhà nước, làm rõ tài sản nào CHV được quyền kê biên phát mại, tài sản nào thì không, đặc biệt đối với trường hợp thuê đất hàng năm trên cơ sở quy định tại Điều

110, 111 Luật THADS, Điều 173 Luật đất đai năm 2013 Mặt khác, CHV chỉ tiến hành kê biên phát mại tài sản của doanh nghiệp sau khi đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác như khấu trừ tiền trong tài khoản, xử lý vàng bạc, đá quý, giấy tờ

có giá…mà doanh nghiệp đang nắm giữ, đang do doanh nghiệp quản lý hoặc đang

do người thứ 3 nắm giữ mà vẫn không đủ để thi hành án Việc quy định như vậy nhằm bảo vệ tối đa doanh nghiệp, kích thích khả năng hồi phục của doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm quyền lợi của phía Ngân hàng

Đối với trường hợp kê biên, phát mại tài sản thế chấp của bên thứ ba, CHV

có sự nhận định rõ ràng về việc sẽ tiến hành kê biên tài sản của người phải thi hành

án trước hay tài sản của bên thứ ba trước, để xác định được điều đó, CHV sẽ đánh giá thật kỹ nội dung tuyên án của Tòa án Ví dụ: Trong phần quyết định của bản

án có tuyên: “Công ty cổ phần đầu tư phát triển xây dựng và thương mại phải thanh

toán cho Ngân hàng TMCP A tính đến ngày 05/12/2016 số tiền: 1.000.138.041 đồng (

Trong đó nợ gốc là 772.585.859 đồng, nợ lãi trong hạn tính đến ngày 06/12/2016là: 168.521.426 đồng, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 06/12/2016 là 59.030.756 đồng).Trong trường hợp Công ty cổ phần đầu tư phát triển xây dựng và thương mại X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghía vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP A thì Ngân hàng TMCP A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là: Quyền

sử dụng đất và quyền sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền với đất, địa chỉ thửa đất tại: Số 06

Trang 27

nhà A1B, khi tập thể quân đội K212 xã K, huyện Z, TP Hà Nội diện tích: 42,52 m 2 theo giấy chứng nhân quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 012119880400545, hồ

sơ gốc số 09/2231/QĐ-UBND/441/2008 do UBND huyện Z cấp ngày 06/06/2008, đứng tên chủ sở hữu là ông Nguyễn Ngọc M theo Hợp đồng thế chấp số 2213/TC ngày 03/11/2012 tại Phòng Công chứng số v, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/11/2012 tại văn phòng đăng ký đất và nhà huyện Z” Trong trường hợp này, Tòa án tuyên nếu

Công ty cổ phần đầu tư phát triển xây dựng và thương mại X không có khả năng thanh toán nợ gốc + lãi thì mới được xử lý tài sản thế chấp, do vậy CHV sẽ tiến hành xác minh khả năng thanh toán của công ty, nếu công ty không còn hoạt động, không còn khả năng thanh toán thì CHV sẽ tiến hành xử lý tài sản bảo đảm của người thứ 3

 Tài sản bị cưỡng chế kê biên theo bản án, quyết định của Tòa án về tín dụng ngân hàng là quyền sở hữu trí tuệ ( Viết tắt là SHTT)

Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản đặc biệt bởi nó không phải là tài sản hữu hình mà là tài sản vô hình, tài sản do trí tuệ của con người tạo ra Quyền

sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ bao gồm:

“Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp

và quyền đối với giống cây trồng” (khoản 1 điều 4 Luật SHTT)

Trường hợp người phải THA là chủ sở hữu quyền SHTT chuyển quyền sử dụng quyền SHTT cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền SHTT vẫn bị kê biên Theo quy định tại BLDS năm 2005 thì quyền sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản Do đó, khi người phải THA chỉ chuyển quyền sử dụng cho đối tượng khác thì tài sản đó vẫn bị kê biên vì chủ

sở hữu chỉ chuyển quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản nhưng vẫn còn quyền chiếm hữu và quyền định đoạt tài sản

Tuy nhiên, đối với trường hợp nhằm đảm bảo mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích nhà nước, xã hội mà Nhà nước quy định chủ SHTT phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong

Trang 28

thời gian nhất định thì CHV không được kê biên quyền SHTT của người phải THA trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao

 Tài sản bị cưỡng chế kê biên theo bản án, quyết định của Tòa án về tín dụng ngân hàng là vốn góp

Luật THADS đã quy định vốn góp cũng là tài sản có thể bị kê biên để THA Thật vậy, vốn góp là một loại tài sản có giá trị rất lớn, khả năng đảm bảo THA của loại tài sản này được đánh giá cao trong thời điểm hiện nay

Khi đó, CHV có quyền yêu cầu “cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải THA có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải THA”

để kê biên phần vốn góp đó, để CHV dễ dàng tiến hành kê biên Cần phải quy định thêm trường hợp những cá nhân, cơ quan, tổ chức này phải chịu trách nhiệm khi không cung cấp thông tin hoặc cố tình cung cấp thông tin sai sự thật để người phải THA có cơ hội tẩu tán tài sản bằng những giao dịch khác; Trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải THA để THA

Tiếp tục phát huy nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, trong trường hợp đương sự không tin tưởng vào kết quả xác định về giá trị phần vốn góp của CHV thì pháp luật cho phép đương sự được quyền yêu cầu Tòa án xác định theo khoản

2 điều 92 Luật THADS

1.2.2 Tài sản không được kê biên để đảm bảo thi hành các bản án quyết định về tín dụng ngân hàng

Hiện nay, Luật THADS đã quy định thêm trường hợp tài sản không

được kê biên theo khoản 1 điều 87 như sau: “Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức” Quy định bổ sung này là hoàn toàn hợp lý vì

nếu chấp nhận cho kê biên những tài sản không hợp pháp như hàng lậu thì vô tình pháp luật lại thừa nhận những tài sản đó là hợp pháp Khi đó, kê biên và

Trang 29

bán đấu giá tài sản sẽ trở thành giai đoạn hợp pháp hóa tài sản phi pháp Như thế, sẽ gây khó khăn cho người phải THA bởi có được pháp luật bảo vệ nhưng quyền lợi thực sự của họ vẫn chưa được khôi phục trên thực tế Bên cạnh đó, với mục tiêu lợi ích quốc gia là hàng đầu, Luật THADS không cho phép CHV

kê biên đối với nhữ n g tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng Bởi những tài sản này tuy thuộc sở hữu của người phải THA nhưng nó lại có tác dụng rất lớn đến an ninh quốc gia và lợi ích công cộng Do đó, khi kê biên những loại tài sản này không chỉ tác động đến bản thân người phải THA mà còn ảnh hưởng rất lớn đến Đất nước và những người xung quanh Bởi thế, trong mọi trường hợp không được tiến hành kê biên những loại tài sản này mặc dù nó thuộc sở hữu của người phải THA Mặt khác cũng không thể tiến hành kê biên đối với tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức

Vì những tài sản này về cơ bản không thuộc sở hữu của cơ quan, tổ chức, đồng thời việc cấp những tài sản này là nhằm mục đích phục vụ lợi ích chung Cho nên, Luật THADS đã không cho phép kê biên đối với những tài sản loại này Mặc dù loại tài sản này ít xuất hiện trong việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về tín dụng ngân hàng, tuy nhiên đây cũng là một lưu ý đối với các CHV trong việc tiếp cận tài sản bị tuyên kê biên để đảm bảo thi hành án

Ngoài ra, với mục đích nhân đạo và đảm bảo cuộc sống sinh hoạt bình thường của công dân, pháp luật không cho phép kê biên toàn bộ tài sản của người phải THA Cần có sự hạn chế nhất định để đảm bảo cho người phải THA và những người sống nhờ vào người đó có khả năng tiếp tục sinh sống theo nghề nghiệp của họ Tùy theo mức sống chung và loại phương tiện lao động ở địa phương, CHV đánh giá đúng mức độ thế nào là cần thiết tối thiểu, cụ thể như nếu người phải THA là cá nhân thì trước hết không được kê biên những tài sản liên quan mật thiết đến cuộc sống của người phải THA và gia đình đó là lương thực và thuốc men để phòng chữa bệnh Pháp luật đặt ra là để răn đe, giáo dục,

Trang 30

bù đắp những thiệt hại, mất mát đã xảy ra chứ không phải đặt ra để dồn con người đến đường cùng, do đó việc quy định không kê biên đối với 2 loại tài sản này là cần thiết và hợp lý, vì có như vậy mới phù hợp với đạo lý, giúp người dân càng tin tưởng hơn vào pháp luật Song song đó, Luật THADS còn quy định thêm một

số trường hợp khác không được kê biên tài sản như: vật dụng cần thiết cho người tàn tật hay vật dụng để chăm sóc người ốm Đây là một quy định mới so với Luật THADS, bởi thực tế cho thấy những tài sản này thường có giá trị không cao hoặc giả nếu có giá trị lớn nhưng nó cũng chỉ cần thiết cho một số người như Luật đã quy định Mặt khác trong hoàn cảnh toàn xã hội đều ra sức giúp đỡ những người tàn tật, đau bệnh thì không lý do gì những tài sản loại này phải bị kê biên để thực hiện một nghĩa vụ nào đó Về mặt pháp luật, bản án có hiệu lực thi hành phải được thi hành nhưng thi hành như thế nào để có kỷ cương, phép nước được nghiêm minh và đạo lý xã hội trong mỗi người dân luôn được duy trì và tôn tạo

Nhằm tôn trọng tự do tín ngưỡng cũng như truyền thống uống nước nhớ nguồn, thờ cúng tổ tiên của nhân dân ta, Luật THADS không cho phép kê biên đối với những đồ thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương Đồ thờ cúng thông thường là đồ dùng chỉ được sử dụng vào mục đích thờ cúng Cần phải khẳng định rằng phải theo tập quán ở địa phương thì mới không bị kê biên, còn nếu như đồ thờ cúng có giá trị lớn mà do gia đình tự tín ngưỡng thì vẫn bị đem

ra kê biên để THA

Bên cạnh đó, nhằm duy trì cuộc sống hiện tại và tương lai của họ, CHV cũng không nên kê biên công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt cần thiết của người phải THA và gia đình Còn những đồ dùng có giá trị lớn như: tủ lạnh, ti vi, thì vẫn bị kê biên để THA

Trang 31

1.3 Nội dung của pháp luật về kê biên tài sản thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng

1.3.1 Nguyên tắc kê biên tài sản thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng

Thứ nhất, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực thi hành

án dân sự Nguyên tắc pháp chế là một trong những nguyên tắc cơ bản trong

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đối với thực hiện pháp luật thi hành án nói chung, kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

2013 quy định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”; Điều 4 luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ

sung năm 2014 quy định “Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án” Như vậy, việc thực hiện pháp luật thi hành án dân sự không những bảo đảm

tính nghiêm minh của pháp luật, mà còn tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thứ hai, không có sự phân biệt đối xử Nguyên tắc tất cả mọi người đều

có quyền bình đẳng và được đối xử bình đẳng trước pháp luật là một nguyên tắc mang tính nền tảng của pháp luật nước ta nói chung và pháp luật kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Nguyên tắc này thể hiện là bất kỳ là ai, cơ quan, tổ chức các nhân nào (cho dù cá nhân đó có gi vị trí lãnh đạo nào ) nếu có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án liên quan đến kê biên tài sản mà

cơ quan có thẩm quyền đã tuyên thì phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án bình đẳng như nhau

Thứ ba, cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên là chủ thể đặc biệt khi

tiến hành kê biên tài tài sản trong thi hành án dân sự Những phán quyết của Tòa

Trang 32

án nhân danh nhà nước được chấp hành viên bảo đảm thực thi trên thực tế, không phải vì lợi ích của chính bản thân Chấp hành viên, mà vì lợi ích mà pháp luật bảo

vệ, vì bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các đương

sự nghiêm chỉnh chấp hành, các tổ chức, cá nhân tôn trọng Trường hợp một bên

là chủ thể của quan hệ pháp luật thi hành án dân sự cố ý không tôn trọng bản án, quyết định của Tòa án, không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình mà có biểu hiện coi thường pháp luật mặc dù đã được chấp hành viên cơ quan thi hành án phân tích, giải thích, thì chấp hành viên phải áp dụng biện pháp kê biên, buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ theo phán quyết mà Tòa án đã tuyên án có hiệu lực pháp lí Trường hợp áp dụng biện pháp kê biên thi hành án không những thể hiện quyền lực nhà nước, mà còn thể hiện bản chất dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trong quan hệ pháp luật thi hành án dân sự luôn tồn tại ba chủ thể với địa

vị pháp lý khác nhau, đó là cơ quan thi hành án, chấp hành viên với người phải thi hành án và người được thi hành án Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn trật tự, kỷ cương trong thi hành án dân sự là trách nhiệm của Nhà nước Cơ quan thi hành án, chấp hành viên tham gia quan hệ pháp luật kê biên tài sản không phải vì lợi ích của chính mình, mà nhân danh cơ quan nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện trên thực tế những phán quyết về dân

sự, hành chính của Tòa án, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Thẩm quyền, thời hạn áp dụng và định giá tài sản kê biên thi hành án

Trang 33

dụng biện pháp cưỡng chế” Như vậy, áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài

sản thuộc thẩm quyền của CHV phụ trách hồ sơ về vụ việc phải THA Khoản 1

điều 41 Luật THADS 2004 quy định: “CHV có quyền kê biên tài sản nếu có căn

cứ cho rằng tài sản đó là của người phải THA” Quy định này cho phép vận dụng

nguyên tắc suy đoán nhằm tạo khả năng vận dụng linh hoạt cho CHV, kịp thời ngăn ngừa việc người phải THA tẩu tán tài sản trong khi vẫn đảm bảo quyền bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người phải THA và người khác, bởi nếu

có tranh chấp về tài sản kê biên, người phải THA và người khác vẫn có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự Tuy nhiên, cần phải quy định thêm “căn cứ” này phải hợp lý, phải có giấy tờ chứng minh rõ ràng để tránh trường hợp lạm quyền của CHV Thiết nghĩa, quy định của Luật THADS về vấn đề này nên được sửa đổi cho phù hợp hơn

Một vụ việc khi đã được Tòa án giải quyết xong và đã ra bản án, quyết định thì sẽ được đưa ra thi hành theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan THADS Nếu đương sự không tự nguyện thi hành thì sau 10 ngày sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế

Trước khi ra quyết định kê biên tài sản, CHV yêu cầu cơ quan đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản cung cấp thông tin về quyền sở hữu, Quyền sử dụng tài sản của người phải THA, yêu cầu cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm cung cấp thông tin về tài sản dự định kê biên có đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người phải THA đối với người có quyền hay không hoặc tài sản do người phải THA quản lý, sử dụng có phải là tài sản thuê mua tài chính hay không Các cơ quan có trách nhiệm trả lời thông tin trên một cách nhanh chóng và chính xác, nếu cố tình cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện THA của người phải THA thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

Kế thừa những quy định của Luật THADS năm 2004, nhằm nâng cao hơn hiệu quả công tác THA, Luật THADS đã quy định rõ ràng, chặt chẽ, đầy đủ thủ

Trang 34

tục thông báo THA, trong đó có thông báo về kê biên tài sản CHV phải thông báo trước, trực tiếp bằng văn bản cho người phải THA, người được THA, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản kê biên, các cơ quan, tổ chức theo đúng quy định tại các điều 39, 40, 41, 42 Luật THADS

và Nghị Định số 62/2015/NĐ-CP, trừ trường hợp kê biên nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản Xuất phát từ thực tế, hiện nay nhiều CHV khi kê biên tài sản mà không hề biết các tài sản đó đã được dùng để cầm cố, thế chấp,

do vậy việc gửi thông báo về kê biên tài sản có ý nghĩa hết sức quan trọng Bên cạnh giá trị pháp lý đối với người thứ 3 thì trong trường hợp các tài sản đã bị

kê biên phải đăng ký, nhưng không đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm khi CHV gửi thông báo việc kê biên các tài sản đó thì người được THA sẽ có quyền ưu tiên thanh toán trước

Thời hạn áp dụng kê biên trong việc thi hành án về tín dụng ngân hàng

Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 THADS được sửa đổi bổ sung năm

2014 thì: “Người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế THA” Thời hạn tự nguyện THA là 10 ngày, kể từ ngày người

phải THA nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA (khoản 1 Điều 45) Quyết định THA có hai loại: Một là, quyết định do Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định tại khoản 1 điều 36 Luật THADSđược sửa đổi bổ sung năm 2014; Hai

là, do Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định thi hành khi có đơn yêu cầu

THA Nếu như Luật THADS 2004 quy định thời hạn tự nguyện THA là “không quá 30 ngày kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA” thì Luật

THADS được sửa đổi bổ sung năm 2014 đã giảm thời hạn tự nguyện THA còn 10 ngày kể từ ngày người phải THA nhận được hoặc được thông báo hợp

lệ quyết định THA Thực tiễn THA cho thấy để giải quyết được lượng án tồn đọng đồng thời bảo vệ quyền lợi của người được THA thì việc giảm thời hạn

Trang 35

tự nguyện THA còn 10 ngày là rất hợp lý, vì có nhiều trường hợp người được THA bị rơi vào hoàn cảnh rất khó khăn do phải trải qua một thời gian khá dài để theo đuổi vụ kiện Bởi thế không thể để cho lợi ích của người được THA bị tiếp

tục xâm phạm trong khi họ là người thắng kiện Mặt khác quy định “được thông báo hợp lệ quyết định THA” là một quy định tiến bộ giúp cho công tác THA diễn

ra thuận lợi hơn, tránh được việc người phải THA lợi dụng kẽ hở này để cố tình trốn tránh không nhận quyết định THA làm cản trở công tác cưỡng chế tài sản

và gây thiệt hại cho người được THA

1.3.3 Trình tự, thủ tục kê biên tài sản thi hành án dân sự về tín dụng ngân hàng

Về nguyên tắc khi một người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên thì CHV phải kê biên tài sản thuộc sở hữu riêng của người này trước, khi không đủ mới tiến hành kê biên tài sản thuộc sở hữu của người này trong khối tài sản chung với người khác Nhằm cụ thể hóa quy định của BLDS về tài sản chung và để giải quyết vướng mắc trong các trường hợp xác định đương sự có tài sản chung nhưng tài sản chung không xác định được hoặc các bên không thỏa thuận được về phần

sở hữu của người phải THA, Điều 74 Luật THADSđược sửa đổi bổ sung năm

2014 quy định: “Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết

để họ tự thoả thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất

Ngày đăng: 13/04/2021, 22:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Bằng (2011), "Một số ý kiến về việc áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án dân sự", Nghề Luật, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về việc áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án dân sự
Tác giả: Phạm Bằng
Năm: 2011
2. Bộ Công an (2008), Quyết định số: 1501/2008/QĐ-BCA(C11) ngày 10/9 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành quy trình hỗ trợ cưỡng chế thi hành án dân sựcủa lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 1501/2008/QĐ-BCA(C11) ngày 10/9 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành quy trình hỗ trợ cưỡng chế thi hành án dân sựcủa lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2008
3. Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp (1997), Thông tư liên tịch số 119/TTLT-BTC-BTP ngày 04/6 hướng dẫn kê biên tài sản của doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 119/TTLT-BTC-BTP ngày 04/6 hướng dẫn kê biên tài sản của doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp
Năm: 1997
4. Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp (2011), Thông tư liên tịch số 184/2011/TTLT-BTC- BTP ngày 19/12 Hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 184/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 19/12 Hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự
Tác giả: Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp
Năm: 2011
5. Bộ Tư pháp (2005), Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02 hướng dẫn một số vấn đề nghiệp vụ thi hành án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02 hướng dẫn một số vấn đề nghiệp vụ thi hành án
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2005
6. Bộ Tư pháp (2009), "Chuyên đề 6 - Quy định về cưỡng chế thi hành án", Tài liệu tập huấn nghiệp vụ thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề 6 - Quy định về cưỡng chế thi hành án
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2009
7. Bộ Tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao (2010), Thông tư liên tịch số 14/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26/7 hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 14/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26/7 hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự
Tác giả: Bộ Tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2010
8. Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm (2017), Hồ sơ thi hành án số 123/TĐ ngày 17/10/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ thi hành án số 123/TĐ ngày 17/10/2017
Tác giả: Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm
Năm: 2017
9. Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm (2018), Hồ sơ thi hành án số 36/TĐ ngày 16/1/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ thi hành án số 36/TĐ ngày 16/1/2018
Tác giả: Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm
Năm: 2018
10. Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm (2018), Hồ sơ thi hành án số 15/ngày 27/12/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ thi hành án số 15/ngày 27/12/2018
Tác giả: Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm
Năm: 2018
11. Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm (2017), Hồ sơ thi hành án số 474/TĐ ngày 21/12/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ thi hành án số 474/TĐ ngày 21/12/2017
Tác giả: Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm
Năm: 2017
13. Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, (2016) Quyết định số 14/2016/QĐST- KDTM ngày 25/11/2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 14/2016/QĐST-KDTM ngày 25/11/2016
14. Chính phủ (2006), Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
15. Chính phủ (2015), Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
16. Chính phủ (2013), Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, Thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, Hợp tác xã, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, Thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, Hợp tác xã
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
18. Chính phủ (2009), Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
19. Chính phủ (2010), Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 4/3 về bán đấu giá tài sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 4/3 về bán đấu giá tài sản
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
20. Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội (2010), Tài liệu Hội nghị triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2010
Tác giả: Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội
Năm: 2010
21. Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội (2011), Tài liệu Hội nghị triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2011
Tác giả: Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội
Năm: 2011
22. Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội (2011), Tài liệu Hội nghị tổng kết công tác năm 2011 và sơ kết hai năm thực hiện Luật thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị tổng kết công tác năm 2011 và sơ kết hai năm thực hiện Luật thi hành án dân sự
Tác giả: Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w