Với những nhận thức như trên, chúng tôi chọn đề tài Đối chiếu khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt để nghiên cứu với hi vọng sẽ có thể đưa ra nhữ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP
TRƯỜNG NĂM 2020
ĐỐI CHIẾU KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA CÁC TỪ CHỈ MÀU SẮC CƠ
BẢN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: LÊ PHƯƠNG THẢO
Trang 2HÀ NỘI – 12/2020
CÁC THÀNH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 TS LÊ PHƯƠNG THẢO
2 TS LÊ THỊ MINH THẢO
3 Th.S LÊ THỊ VY
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 2
1.5 Đóng góp mới về khoa học của đề tài 3
1.6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 3
1.7 Kết cấu của đề tài 3
Chương 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
2.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh 5
2.1.2 Tình hình nghiên cứu về từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt 8
2.2 Cơ sở lí luận 11
2.2.1 Các quan điểm về từ 11
2.2.2 Nghĩa của từ 15
2.2.3 Màu sắc và từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt 19
2.2.4 Nghiên cứu đối chiếu từ vựng, ngữ nghĩa 27
2.3 Tiểu kết 30
Chương 3 KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA CÁC TỪ CHỈ MÀU SẮC CƠ BẢN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 31
3.1 Khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc cơ bản và ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh 31
3.1.1 Từ phái sinh (derived word) 32
3.1.2 Từ ghép (compound word) 33
Trang 43.2 Khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc cơ bản và ngữ nghĩa của
nhóm từ này trong tiếng Việt 37
3.2.1 Phương thức láy 38
3.2.2 Phương thức ghép 40
3.3 So sánh, đối chiếu khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 46
3.3.1 Những điểm tương đồng 49
3.3.2 Những điểm dị biệt 50
3.4 Tiểu kết 53
Chương 4 KẾT LUẬN 55
4.1 Các kết quả chính 55
4.2 Ý nghĩa ngầm ẩn của nghiên cứu 55
4.3 Những hạn chế của đề tài 56
4.4 Những hướng nghiên cứu tiếp theo 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU - HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Một số ứng dụng của Ngũ hành 24 Bảng 2.2 Từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 26 Bảng 3.1 Khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản theo các phương thức đã nêu 46 Bảng 3.2 Khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc cơ bản theo các phương thức khác 48
Hình 1 Phổ sóng điện từ 20 Hình 2 Bước sóng của các tia đơn sắc trong phổ ánh sáng mắt người có thể nhìn thấy 21
Sơ đồ: Tháp nghĩa hình học không gian 17
Trang 6Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nhận thấy rằng, trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tại khách quan, ngôn ngữ được coi như một công cụ để cấu trúc hóa, mô hình hóa thực tại khách quan Cùng một hiện tượng thiên nhiên như hệ quang phổ mặt trời, cùng một khả năng cảm thụ thị giác ở mỗi cộng đồng người, mỗi ngôn ngữ có một số lượng những từ chỉ màu sắc khác nhau Màu sắc là một trong những thuộc tính của vật thể tồn tại trong thế giới xung quanh chúng ta mà thị giác con người có thể nhận biết được Màu sắc tồn tại trong thế giới vật chất nhưng lại gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của con người, góp phần làm cho cuộc sống trở nên sinh động và tràn đầy sức sống Những màu sắc khác nhau với những ý nghĩa khác nhau đã mang lại những sắc màu phong phú cho cuộc sống Lớp từ chỉ màu sắc có số lượng không nhỏ và mang ý nghĩa phong phú, đa dạng và được thể hiện trong nhiều phong cách văn bản, đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ văn chương Vì thế, lớp từ chỉ màu sắc trở thành đối tượng được ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ, trên nhiều bình diện, nhất là về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, tính biểu trưng hay về đặc điểm tri nhận Với những nhận
thức như trên, chúng tôi chọn đề tài Đối chiếu khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt để nghiên cứu với hi vọng sẽ có
thể đưa ra những kiến giải có tính chất gợi mở, tìm hiểu kĩ về khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản và ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra những tương đồng và dị biệt về nhóm từ ngữ này trong quá trình nhận thức và biểu đạt các màu trong hai ngôn ngữ Việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần phục vụ cho thực tiễn giảng dạy tiếng Anh cho người Việt cũng
như trong công tác dịch thuật của các nhà biên phiên dịch
1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau về khả năng
kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt, góp phần
Trang 7vào công tác giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên và học viên, giúp cho công tác biên soạn từ điển màu sắc của các nhà khoa học
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi thực hiện
các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định cơ sở lí luận cho đề tài;
- Miêu tả khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản và phân tích ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt;
- So sánh, đối chiếu khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc cơ bản và ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những kết hợp
của từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khả năng kết hợp của
11 từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh, 9 từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt và ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt
1.4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp định tính: Phương pháp này liên quan đến việc nghiên cứu và
kiểm tra các cơ sở lý thuyết đã được nghiên cứu, quan sát, miêu tả những tư liệu, tài liệu phục vụ cho đề tài, khái quát chúng thành những cơ sở lý luận để làm thành khung
lý thuyết cho những hoạt động nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để miêu tả khả
năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Phương pháp này được sử dụng
nhằm phân tích khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản cũng như ngữ nghĩa của nhóm từ này trong các thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đây là một phương pháp được sử
dụng để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau về khả năng kết hợp của
Trang 8các từ chỉ màu sắc cơ bản và ngữ nghĩa của nhóm từ này trong hai ngôn ngữ
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Mục đích của phương pháp này nhằm thống
kê và phân loại các kết hợp của từ chỉ màu sắc cơ bản tiếng Anh và tiếng Việt làm tư liệu cho việc nghiên cứu
1.5 Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Đề tài hệ thống hóa và làm sáng tỏ lí luận về từ, nghĩa của từ, từ chỉ màu sắc
cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt Một số lý thuyết về đối chiếu ngôn ngữ cũng được đưa ra làm cơ sở lý luận cho đề tài
Trên cơ sở miêu tả, phân tích và đối chiếu khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc cơ bản và ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt, đề tài tìm ra các điểm giống và khác nhau về khả năng kết hợp và ngữ nghĩa của nhóm
từ này trong hai ngôn ngữ góp phần vào công tác giảng dạy ngoại ngữ, công tác biên phiên dịch Anh-Việt, Việt-Anh và công tác biên soạn từ điển của các học giả
1.6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lí luận: Đề tài đóng góp những cơ sở lí luận về việc nghiên cứu từ
chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về khả năng kết hợp 11 từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và 9 từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt và ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh
và tiếng Việt
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp cho công tác
nghiên cứu ngôn ngữ, công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của giáo viên
và học viên, đồng thời phục vụ cho công tác dịch thuật của các nhà biên, phiên dịch cũng như công tác biên soạn từ điển Anh - Việt, Việt - Anh
1.7 Kết cấu của đề tài
Đề tài được triển khai trong 4 chương
Chương 1 Mở đầu
Chương 1 đề cập đến tính cấp thiết của đề tài, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp chính về khoa học và
Trang 9ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Trong chương 2, đề tài tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về từ chỉ màu sắc để từ đó tìm ra các khoảng trống để đề tài tập trung nghiên cứu Một số quan điểm về từ, nghĩa của từ, khái niệm về màu sắc, từ chỉ màu sắc và lý thuyết về đối chiếu từ vựng, ngữ nghĩa cũng được tổng hợp và phân tích làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu trong chương 3
Chương 3 Khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
Đề tài tập trung nghiên cứu về khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản và ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời tìm
ra những điểm tương đồng và khác biệt về khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong hai ngôn ngữ Anh và Việt
Chương 4 Kết luận
Chương 4 của đề tài sẽ tóm lược các kết quả của nghiên cứu, những ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu, đồng thời đưa ra những điểm hạn chế của đề tài cũng như gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 10Chương 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong chương này, chúng tôi sẽ tổng hợp các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước về từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt để có được cái nhìn toàn diện về các khía cạnh và hướng nghiên cứu của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời tìm ra những khoảng trống, những điểm chưa được đề cập đến hoặc đi sâu để chúng tôi có thể tiếp tục nghiên cứu trong đề tài
2.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh
Lịch sử nghiên cứu về các từ chỉ màu sắc đã phát triển qua ba giai đoạn chính: giai đoạn đối đầu của hai trường phái Tương đối [Sapir-Whorf (1921-1956)] và Phổ niệm [Berlin & Kay (1969)]; giai đoạn hậu Berlin & Kay với những tranh luận phê phán Berlin & Kay và ủng hộ Berlin & Kay và giai đoạn hiện nay là những hướng nghiên cứu từ chỉ màu sắc theo tri nhận luận, kinh nghiệm luận và văn hóa luận Từ trước đến nay, các từ chỉ màu sắc được xem là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học như Vật lí học, Tâm lí học và
đặc biệt là Ngôn ngữ học
Các nghiên cứu về màu sắc trên phương diện Tâm lí học: Nội dung cơ bản
của các nghiên cứu về các từ chỉ màu sắc là đưa ra những giả thuyết tâm sinh lí học về sự khác biệt trong văn hóa qua việc nhìn thấy và gọi tên màu sắc và xem xét những khía cạnh phổ quát trong việc tìm hiểu việc mã hóa các màu sắc Hardin (2005) đã khảo sát một số nhóm minh chứng cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa các cơ chế cảm nhận màu sắc, các màu cơ bản theo cảm quan và việc đặt tên các màu cơ bản Tuy nhiên, những câu hỏi quan trọng vẫn tồn tại liên quan đến các thuộc tính chung của con người về nhận thức màu sắc và sự phát triển và cấu trúc của các loại màu cơ bản đa văn hóa
Nghiên cứu về màu sắc trên phương diện Vật lý học: Trong bài viết
Colour categories are not universal: Replications and new evidence from a stone-age culture, Roberson, Davies, and Davidoff (2000) đã tìm cách tái tạo và
Trang 11mở rộng công trình của Heider (1972) với việc so sánh người Papua New Guinea, những người nói tiếng Berinmo mà ngôn ngữ của họ chỉ có 5 thuật ngữ cơ bản chỉ màu Việc xác định tên và bộ nhớ cho các kích thích vật lí và phi vật lí với độ bão hòa thấp đã được khảo sát Họ đã tìm ra việc các màu đã bão hòa bị ảnh hưởng bởi nhóm từ vựng màu Các hiệu ứng nhận thức phân loại đối với cả tiếng Anh và Berinmo đã được tìm thấy, nhưng chỉ ở ranh giới của các thể loại ngôn ngữ hiện
có
Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Văn hóa học: Trong công trình đồ sộ
Dictionnaire des symboles: mythes, rêves, coutumes, gestes, formes, figures, couleurs, nombres (Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới), với phụ đề “Các huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số”,
Chevalier và Gheerbrant (1997) đã trình bày khá chi tiết về biểu tượng màu sắc của các nước trên thế giới Các từ chỉ màu sắc trong cuốn từ điển này đã được các tác giả miêu tả bao quát được nhiều khu vực văn hóa trên thế giới liên quan đến
các phương tiện Dân tộc học, Xã hội học, Tâm lí học, Thần thoại học, Tôn giáo học
Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Ngôn ngữ học: từ năm 1969, hai nhà
nghiên cứu Berlin & Kay của Trường đại học California ở Berkerly đã tiến hành nghiên cứu tổng kết toàn bộ tư liệu, kinh nghiệm về từ chỉ màu sắc của các dân
tộc khác nhau trên thế giới Berlin & Kay đã xác lập “phương pháp giai đoạn tiến hóa đối với sự xuất hiện những từ chỉ màu sắc” Gần như toàn bộ phương pháp này đã được trình bày vào năm 1969 với Basic Color Terms (Những thuật ngữ màu cơ sở) Trong công trình này, hai tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu từ
chỉ màu sắc trong 98 ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau trên thế giới Tác giả
đã kết hợp giữa tính khái niệm và tính thực tiễn, liên quan đến vấn đề mối quan
hệ giữa màu sắc và văn hóa Từ sự khái quát thực tế dựa trên các ngôn ngữ khác
nhau, Berlin & Kay đã kết luận: Mọi ngôn ngữ ít nhất cũng có 2 từ chỉ màu đen
và màu trắng, có 3 từ thì có thêm màu đỏ, có 4 từ thì có thêm màu xanh lá hoặc
vàng, có 5 từ thì thêm cả màu xanh lá và vàng, có 6 từ thì thêm màu xanh lam,
Trang 12có 7 từ thì có thêm màu nâu, có trên 7 từ thì có thêm màu tím, hồng, da cam, xám hoặc hỗn hợp những màu này Ở một mức độ nhất định, có thể coi đó là
chìa khóa mở ra nhiều công trình nghiên cứu và thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên cơ sở tư tưởng của Berlin và Kay Công trình của Lakoff
(1987) cũng ủng hộ quan điểm của Berlin & Kay với tiêu đề “Women, fire and dangerous things” (Đàn bà, lửa và những thứ nguy hiểm) Trong công trình này,
Lakoff đã chứng minh rằng các phạm trù chỉ màu sắc đều có các phần từ trung tâm, và vì vậy, có thể thực hiện việc so sánh các phạm trù chỉ màu sắc trong các ngôn ngữ khác nhau Cùng quan điểm với Berlin & Kay, trong nghiên cứu với
tựa đề “Metaphor of anger, pride and love” (Ẩn dụ chỉ sự giận dữ, niềm kiêu
hãnh và tình yêu) Kovecses (1986) đã khẳng định: Trong miền ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc có những điểm trung tâm hơn và các thuật ngữ chỉ các điểm
trung tâm này được gọi là các từ chỉ màu cơ sở Năm 1978, Kay và Chad đã đặt
vấn đề và nghiên cứu: Liệu ngôn ngữ có thêm khả năng tri nhận sắc thái về màu sắc của chúng ta hay không? Hay nó ảnh hưởng theo cách nào khác? Các tác giả này đã có những kết luận vô cùng thú vị: Quá trình nhận biết màu sắc bắt đầu từ phần não bên phải và truyền sang bên trái thông qua sự tiến triển của ngôn ngữ, đồng thời những nhận thức màu sắc của chúng ta được liên kết chặt chẽ với ngôn ngữ của chúng ta
Tiếp theo hướng này, tác giả Quinion (1996), trong bài viết The fugitive names of hues (Những tên gọi nhất thời của màu sắc) đăng trên trang English in the British viewpoint (Tiếng Anh theo quan điểm của người Anh) đã nghiên cứu
từ chỉ màu sắc tiếng Anh bằng phương pháp từ nguyên học Ông đã xác định
màu từ màu xanh lam (blue) bắt nguồn từ tiếng Pháp, xanh lá cây (green) có cùng gốc với “grow” và xuất xứ từ tiếng Đức, màu đỏ (red) được vay mượn từ tiếng Hy Lạp, màu hồng (pink) cùng gốc từ với tiếng Hà Lan,… Cách nghiên
cứu của tác giả đã mở ra thêm một hướng tiếp cận khác trong tiến trình nghiên cứu từ chỉ màu sắc trên thế giới nói chung và tiếng Anh nói riêng Có thể nói, ở một mức độ nhất định, Berlin & Kay (1969) là những người tiên phong trong
Trang 13việc nghiên cứu các từ chỉ màu sắc nói chung hay các từ chỉ màu cơ bản nói riêng để sau đó nhiều công trình khoa học đã lấy đối tượng nghiên cứu là từ chỉ màu sắc
Nghiên cứu của Soriano và Valenzuela (2009) trong bài báo Emotion and colour across languages (Cảm xúc và màu sắc qua các nền văn hóa) đã khám
phá ra các lí do tại sao các từ màu sắc và từ biểu đạt cảm xúc thường liên quan đến các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới Một trong số đó là sự chồng chéo giữa thuật ngữ chỉ màu sắc và thuật ngữ chỉ cảm xúc Một phương pháp thử nghiệm mới được sử dụng để khảo sát cấu trúc ẩn dụ của các thuật ngữ chỉ màu
cơ bản về phương diện ngữ nghĩa Các kết quả cho thấy một bản so sánh với các công trình trước đây, ngoại trừ giá trị của một số thuật ngữ chỉ màu Những điểm tương đồng và khác biệt đã được đưa ra để kiểm tra những ảnh hưởng của ngữ nghĩa đối với từ chỉ màu sắc và từ chỉ cảm xúc
Sau giai đoạn này, một số các công trình nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận hoặc liên ngành ngôn ngữ học tâm lí đã đưa ra các hướng giải quyết vấn đề về những đặc điểm chung trong việc gọi tên màu sắc như công trình của Kay và Regier (1997), hoặc những điểm phổ quát trong tri nhận màu sắc của Wierzbicka (1989), Lucy (1997), Lindsey, & Brown (2004) Trong tiếng Anh, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản và so sánh, đối chiếu khả năng kết hợp của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
2.1.2 Tình hình nghiên cứu về từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt
Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt chủ yếu tập trung trên
phương diện ngôn ngữ học Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc tập trung nhiều ở bình diện cấu trúc luận, chủ yếu tiếp cận về cấu trúc nghĩa, đặc điểm cấu tạo,
đặc điểm ngữ nghĩa của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt Đào Thản (1993) trong
bài “Hệ thống từ chỉ màu sắc tiếng Việt trong sự liên hệ với mấy điều phổ quát”,
đã viết về việc nhận thức về màu và phân chia dải màu trên cảm nhận thị giác và quan điểm truyền thống của từng cộng đồng người về màu sắc Trịnh Thị Thu
Trang 14Hiền (2015) với các bài viết “Một số đặc điểm của các đơn vị từ chỉ màu sắc cơ bản tiếng Việt”, “Một vài đặc điểm của các từ chỉ màu phụ trong tiếng Việt” và
“Đặc điểm của hai từ chỉ màu sắc xanh và đỏ trong tiếng Việt” bước đầu đã lần
lượt khảo sát, đưa ra một số đặc điểm của các từ chỉ màu sắc cơ bản và màu phụ
trong tiếng Việt và đi sâu khảo sát hai từ xanh và đỏ; Phạm Văn Tình (2004) với các bài viết: “Hai từ xanh và xanh xanh; phấn trắng, bảng đen, tóc trắng- hình tượng đẹp về người thầy”; Lê Thị Vy (2006) với “Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua các từ chỉ màu sắc” Các bài viết này đã đề cập đến một màu (hoặc nhiều màu) như biểu tượng của văn hóa hoặc nét đặc thù của dân tộc Tuy nhiên,
các tác giả chỉ điểm qua mà chưa đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn hóa đến cách sử dụng các từ chỉ màu sắc
Biện Minh Điền (2000) với bài viết Về tính từ chỉ màu sắc trong thơ Nguyễn Khuyến đã thống kê tỉ lệ từ chỉ màu sắc trong thơ và câu đối của Nguyễn
Khuyến và đã xác định tỉ lệ màu sắc tươi chiếm ưu thế, đặc biệt là cách dùng
màu xanh và tương tự, trong bài Màu xanh trong thơ Nguyễn Bính, Nguyễn Thị
Thành Thắng (2001) đã khái quát được sự đa dạng về nghĩa của cùng một màu xanh trong thơ Nguyễn Bính, từ đó, nêu bật vài điểm trong phong cách nghệ
thuật của Nguyễn Bính Trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 8 năm 2006, Hà Thị Thu Hoài viết: “Từ chỉ màu sắc để miêu tả thiên nhiên trong tác phẩm Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài” Qua khảo sát, tác giả bài viết đã phân tích nét đặc sắc sáng tạo trong việc tạo ra nhiều sắc độ của màu trắng, đỏ, vàng
trên những trang văn Tô Hoài
Cũng có một số công trình (các đề tài, luận văn thạc sĩ) đi sâu nghiên cứu kĩ hơn về về các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt như đề tài của Chu Bích Thu
(1996) với công trình “Những đặc trưng ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt hiện đại” Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa để phân tích các
nhóm tính từ trong đó có nhóm tính từ chỉ màu sắc Tuy nhiên, trong đề tài, khi
đề cập đến tính từ chỉ màu sắc, tác giả chỉ mới dừng lại ở chỗ phân tích cấu trúc
ngữ nghĩa của nhóm tính từ này
Trang 15Trong luận văn của Nguyễn Khánh Hà (1995) “Hệ thống từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt”, tác giả đã thống kê và lập một bảng từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt,
phân loại, sắp xếp nhóm từ này thành hệ thống và phân tích ý nghĩa từ vựng và ngữ cảnh sử dụng Luận văn đã hệ thống hóa các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt trên góc độ của sự liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, nêu ra những đặc điểm của các lớp
từ như lớp từ chỉ màu cơ sở, lớp từ chỉ màu thứ cấp, lớp từ chỉ màu đặc trưng và so sánh các lớp từ này để tìm ra mối quan hệ và kết cấu giữa các lớp từ này Tuy nhiên, luận văn mới chỉ đề cập đến các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt, các thành ngữ, tục ngữ và các ngữ có chứa từ chỉ màu sắc chưa được tác giả đề cập đến Luận văn chưa đi vào so sánh đối chiếu từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra sự giống nhau và khác nhau về đặc điểm, ngữ nghĩa của các lớp từ này Cũng bàn về từ chỉ màu sắc, Trịnh Thị Minh Hương (1999) đã tiến hành khảo sát và phân tích nghĩa biểu trưng của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt dựa trên ngữ liệu là các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương Luận văn
đã nghiên cứu phương thức tạo tính biểu trưng cho các từ chỉ màu sắc và đồng thời cũng giới thiệu một số thành ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh nhưng chưa đi sâu vào so sánh đối chiếu từ chỉ màu sắc trong hai ngôn ngữ Anh – Việt
Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc theo hướng tiếp cận so sánh, đối chiếu giữa hai ngôn ngữ, có thể kể đến một số công trình của các tác giả như: Hoàng Văn Hành (1982) với tiêu đề “Về cấu trúc nghĩa của tính từ tiếng Việt (trong sự
so sánh với tiếng Nga)” Trần Thị Thu Huyền (2001) với bài “Hoa cỏ và màu sắc trong thành ngữ- tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt” Bùi Thị Thùy Phương
(2004) đã nghiên cứu một số đặc điểm hình thức, cấu trúc nghĩa của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt nói chung cũng như tần số xuất hiện của chúng trong thơ ca
và thống kê, phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của lớp từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh
và tiếng Hán Trong các công trình kể trên, từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh đã được đề cập đến về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa với những phạm vi khác nhau cũng như tần số xuất hiện của chúng dựa vào ngữ liệu là những văn
Trang 16bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương Một số công trình chỉ đi vào hệ thống các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt, số khác chỉ nghiên cứu hai trong số các màu sắc cơ bản
Tóm lại, việc nghiên cứu khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc cơ bản cũng như việc so sánh đối chiếu khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt chưa được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu trước đây Tuy nhiên, những công trình trên là những tài liệu tham khảo quan trọng để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
2.2 Cơ sở lí luận
Trong mục tiếp theo, chúng tôi sẽ tập trung vào các vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài và cụ thể là các khái niệm về từ, nghĩa của từ, ý nghĩa biểu trưng, các quan điểm về từ chỉ màu sắc, về văn hóa, mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và văn hóa trong tiếng Anh và tiếng Việt Các khái niệm sẽ được tổng hợp, phân tích và chúng tôi sẽ đưa ra quan điểm của mình trong việc sử dụng khái niệm hoặc định nghĩa làm cơ sở cho đề tài
2.2.1 Các quan điểm về từ
2.2.1.1 Định nghĩa về từ
a Định nghĩa về từ trong tiếng Anh
“Từ” (word) xuất hiện như là một khái niệm đơn giản, nhưng để trả lời câu hỏi “Từ là gì?" lại không hề dễ, nhiều nhà ngôn ngữ đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về từ Hornby A S (2005) cho rằng “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ
có nghĩa và có thể được sử dụng để nói hoặc viết” Theo Saussure (1973), mặc
dù khó có thể đưa ra định nghĩa chính xác về từ nhưng ông khẳng định trong toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ, từ vẫn là một đơn vị trung tâm
b Định nghĩa về từ trong tiếng Việt
Hoàng Văn Hành (2008) đã vận dụng năm tiêu chuẩn để xác định từ Năm
tiêu chuẩn đó là: (i) Từ ngữ âm: Đó là những đơn vị được thống nhất với hiện
tượng ngữ âm nào đó Đối với Việt ngữ, hiện tượng âm đều đặt trên ngữ lưu có
Trang 17thể dùng làm tín hiệu phân giới chính là âm tiết; (ii) Từ chính tả: Đó là những
khoảng cách giữa hai chỗ trống trên chữ viết, tức là những đơn vị được viết liền
thành một khối; (iii) Từ hoàn chỉnh: Đó là những cấu trúc ổn định, không thể tách hoặc hoán vị các thành tố của chúng; (iv) Từ từ điển học: Đó là đơn vị mà căn cứ vào đặc điểm ý nghĩa của nó phải xếp riêng trong từ điển; (v) Từ biến tố:
Đó là những đơn vị luôn luôn gồm hai phần: một phần nhân từ, biểu hiện ý nghĩa đối tượng, còn một phần biến tố biểu thị mối liên hệ của từ đó với các từ khác trong câu Thực chất tiêu chuẩn này muốn nói đến đặc điểm ngữ pháp của
từ - Từ ngữ pháp
Đỗ Hữu Châu (2005) cho rằng: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt.”
Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010), “Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của các từ Chính tổng thể của các từ
là vật liệu xây dựng mà thiếu nó thì không thể hình dung được một ngôn ngữ Có thể chấp nhận một định nghĩa chung về từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức.”
Các nhà ngôn ngữ học người Anh và người Việt có các quan điểm khác nhau về định nghĩa của từ Tuy nhiên, trong tiếng Anh, chúng tôi sử dụng quan
điểm của Hornby A S (2005) làm cơ sở cho đề tài: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ có nghĩa và có thể được sử dụng để nói hoặc viết” Trong tiếng Việt, chúng tôi sử dụng quan điểm của Đỗ Hữu Châu (2005): “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt.”
2.2.1.2 Phương thức cấu tạo từ
Khi nghiên cứu đặc điểm cấu tạo tiếng Anh và tiếng Việt, một điểm đáng
Trang 18chú ý đó là tiếng Anh là một ngôn ngữ phi đơn lập còn tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập Sự khác biệt này đã khiến cho tiếng Anh và tiếng Việt có những cách cấu tạo từ không giống nhau Nói cách khác tiếng Anh có phương thức tạo từ mà tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập, không có, ngược lại tiếng Việt có một số cách cấu tạo từ mà tiếng Anh không thể nào có được
a Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh
Theo Sidney Greenbaum (1996), tiếng Anh có các phương thức tạo từ chính
đó là phương thức phụ tố (affixation), phương thức ghép (compound) và phương thức chuyển loại (conversion) Phương thức phụ tố bao gồm phương thức tiền tố (prefixation) và phương thức hậu tố (suffixation)
(i) Phương thức phụ tố (affixation)
Phương thức phụ tố là phương thức sử dụng phụ tố để bổ sung ý nghĩa từ vựng cho chính tố để tạo nên một từ mới Nó cũng có thể được sử dụng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp của từ Ví dụ, trong tiếng Anh, từ “happy” (hạnh phúc) có
thể thêm tiền tố un hoặc hậu tố ness để tạo nên các từ phái sinh (derived words) như unhappy, happiness
(ii) Phương thức ghép (compounding)
Bên cạnh phương thức sử dụng phụ tố, phương thức ghép (compound) cũng rất phổ biến trong tiếng Anh Trong hệ thống từ vựng tiếng Anh, các từ là những
từ đa tiết Vì vậy, các từ trong tiếng Anh khi đi cùng nhau để tạo thành từ ghép
có thể được đặt thành một từ như: schoolgirl; hai từ nối nhau bằng gạch ngang: record- player; hoặc hai từ riêng lẻ: flower garden… Từ ghép trong tiếng Anh
cũng được chia thành hai loại: Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ
Trên thực tế sử dụng, hầu hết các từ ghép trong tiếng Anh đều có quan hệ
chính - phụ Không giống tiếng Việt, yếu tố chính thường đứng trước: vườn hoa, trong tiếng Anh, yếu tố chính thường đứng sau flower garden Trật tự của từ ghép quyết định nội dung ý nghĩa của từ đó: schoolboy (nam sinh) khác với boyschool (trường dành cho con trai)
Những từ ghép cũng có thể quan hệ đẳng lập với nhau Ví dụ: secretary-
Trang 19driver (thư kí- lái xe); bitter - sweet (đắng - ngọt)… Những từ ghép này không
có yếu tố phụ thuộc vào yếu tố khác, và nghĩa của nó thường có nội dung của cả
hai từ: secretary - driver (thư kí và lái xe, để gọi một người có thể kiêm cả hai vị
trí chứ không phải đây là từ ghép để gọi tên một loại lái xe)
Ngoài 2 phương thức trên, theo Greenbaum (1996), tiếng Anh còn sử dụng
các phương thức khác như phương thức chuyển loại (conversion), phương thức kết hợp (combining form), phương thức rút gọn (clipping), phương thức viết tắt (shortening) Tiếng Anh cũng sử dụng phương thức láy âm (alliteration) như ping pong (bóng bàn) và phương thức láy vần (rhyme) như drain brain (chảy máu chất xám), hurry- scurry (hối hả, bận rộn)… nhưng để tạo nên các từ chỉ màu sắc, tiếng Anh chỉ sử dụng các 2 phương thức: phương thức phụ tố (tiền tố) và phương thức ghép nên đề tài chỉ miêu tả và phân tích các phương thức này làm cơ sở lí luận cho
đề tài
b Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa là hình vị Các hình vị được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt, hay dựa trên các phương thức tạo từ, ngôn ngữ tác động vào các hình vị để sản sinh ra các từ Theo Đỗ Hữu Châu (2005), tiếng Việt có ba phương thức cấu tạo
từ là từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị
Phương thức từ hóa hình vị là phương thức tác động trực tiếp vào hình vị để tạo cho nó các đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì vào hình thức của hình vị Phương thức ghép là phương thức kết hợp hai hoặc hơn hai hình vị có nghĩa để tạo ra một từ mới mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ Phương thức thứ ba là phương thức láy Phương thức này tác động vào một hình vị cơ sở để sinh ra một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh Cả hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một từ, hay có đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ
Khi nghiên cứu để phân loại từ đã có một số ý kiến khác nhau Phần lớn tác giả đều căn cứ vào số lượng hình vị để chia thành từ đơn và từ kép (từ phức
Trang 20hợp) Các từ phức hợp lại được chia thành từ láy và từ ghép Căn cứ vào quan hệ
cú pháp, từ ghép lại được chia thành ghép đẳng lập và ghép chính phụ
Khi phân loại các từ về mặt cấu tạo cần phải chú ý đến tất cả các nhân tố tham gia cấu tạo từ Phân loại từ không chỉ là để sắp xếp các từ thành loại mà còn để phát hiện ra cách thức cấu tạo, tạo điều kiện cho quá trình nhận thức từ…
Do vậy, nói một cách đơn giản, chúng ta có thể phân chia từ tiếng Việt về mặt cấu tạo thành từ đơn và từ phức, trong đó từ phức bao gồm từ láy và từ ghép Từ đơn được tạo thành từ phương thức từ hóa, từ láy từ phương thức láy và từ ghép
từ phương thức ghép Từ việc phân loại này, chúng ta có thể hình dung ra các phương thức để sản sinh từ mới từ từ đơn gốc trong tiếng Việt
Những quan điểm và định nghĩa trên về từ chính là những căn cứ để xác định cơ sở lý thuyết cho đề tài
2.2.2 Nghĩa của từ
2.2.2.1 Khái niệm về nghĩa từ vựng của từ
Theo Goddard và Wierzbicka (2014), ngữ nghĩa cũng được xem như một thành phần của ngôn ngữ học hơn là một quan điểm về ngôn ngữ và ngôn ngữ học Tuy nhiên, ý nghĩa chính là tất cả những gì ngôn ngữ diễn đạt Đối với hầu
hết người dùng ngôn ngữ, người nói và người nghe, nhà văn và người đọc - từ là
luôn luôn “sống”(alive) và "xanh" (green), trong khi các hình thức, biểu tượng
và các công thức trừu tượng có thể dần dần mất đi hoặc không được dùng nữa Các nhà ngôn ngữ học có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa của từ Tuy nhiên, có thể chia thành 3 nhóm như sau:
(i) Quan niệm thứ nhất coi nghĩa của từ là một bản thể nào đó “Nghĩa của từ
là sự vật, hành động, tính chất ngoài thực tế khách quan mà từ biểu thị”
(ii) Quan niệm thứ hai coi nghĩa của từ là một quan hệ nào đó Theo Saussure (1975), nghĩa, là quan hệ của cái biểu hiện (signifier) và cái được biểu hiện (signified), trong đó, cái biểu hiện không phải là bản thân tổ hợp ngữ âm cụ thể mà là hình ảnh tâm lý của nó và cái được biểu hiện là tư tưởng Nguyễn Thiện Giáp (2010)
cho rằng “Nghĩa của từ (cũng như ở các đơn vị ngôn ngữ khác) là quan hệ của từ với
Trang 21cái gì đó nằm ngoài bản thân đó Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy
có quan hệ với cái gì, tức là nó biểu thị cái gì Có thể thấy rõ khi quan sát cách người lớn và trẻ con nắm nghĩa của từ như thế nào Đối với người lớn, khi không hiểu nghĩa của một từ nào đó, người ta tra từ điển Nghĩa của từ chưa biết được phát hiện thông qua lời giải thích trong từ điển…Khi trẻ con nắm ngôn ngữ lần đầu tiên thì phải liên hệ âm thanh của từ với sự vật” Theo tác giả, cần phân biệt nghĩa của từ với sự hiểu biết vì trong nhận thức của con người không tồn tại bản thân nghĩa của
các từ mà chỉ có sự hiểu biết, nghĩa của từ tồn tại khách quan trong lời nói, còn trong nhận thức chỉ có sự phản ánh những nghĩa đó mà thôi
(iii) Quan niệm thứ ba coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu chính là người nghiên cứu tập trung nhất về nghĩa của từ Ông đã đưa ra hình tháp nghĩa hình học không gian thay thế tam giác hình học phẳng của Stern Khắc phục những thiếu sót của Stern trình bày trong tam giác
hình học, Đỗ Hữu Châu (2005) cho rằng: Ở đỉnh cao nhất của hình tháp là từ (trừu tượng) với hai phần hình thức và ý nghĩa (cũng trừu tượng) Hai phần này
quy định lẫn nhau và đều thuộc về từ Ở mỗi đỉnh của đáy là năm nhân tố góp phần làm thành ý nghĩa, lần lượt là: sự vật, hiện tượng; những hiểu biết của tư duy (khái niệm); nhân tố người sử dụng (nhân tố lịch sử - xã hội); chức năng tín hiệu học và cấu trúc ngôn ngữ Số lượng các đỉnh của đáy sẽ tăng lên tùy theo số lượng những nhân tố được phát hiện thêm Có thể nói, ưu điểm của hình tháp này là, một mặt tách được những thực thể đang xem xét (từ các nhân tố) ra khỏi nhau, đồng thời vạch ra được mối quan hệ giữa chúng
Trang 22Sơ đồ: Tháp nghĩa hình học không gian [Đỗ Hữu Châu (2005) tr 750]
Cùng quan điểm với Đỗ Hữu Châu, tác giả Đỗ Việt Hùng (2013) cũng
cho rằng: “Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần có quan hệ ổn định với hình thức từ”
Ở bình diện khái quát, thoát khỏi các ngôn ngữ cụ thể, có thể nhận thấy cách nhìn nhận về nghĩa là ngữ nghĩa học cấu trúc-chức năng luận quan hệ với ngữ nghĩa học tri nhận
Nhƣ vậy, từ nhiều quan niệm khác nhau, theo chúng tôi, có thể xác định cách
hiểu mang tính tổng quát về nghĩa của từ nhƣ sau: Nghĩa của từ là nội dung mà từ biểu hiện, là nội dung hiểu biết, tri nhận, tri thức đời thường của người nói, được bộc lộ trong quá trình tư duy - giao tiếp bằng ngôn ngữ, nghĩa được hình thành do
sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố Trong số đó, có những nhân tố nằm trong và ngoài ngôn ngữ (sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy người sử dụng) và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ (chức năng tín hiệu học, hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ), trong đó các nhân tố chính là người nói, văn cảnh, ngữ cảnh và chức năng tín hiệu học Nghĩa cũng bộc lộ đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ
a Nghĩa gốc (original meaning)
Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010) “Nghĩa gốc là nghĩa mà từ đó phái sinh ra các nghĩa khác” Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến (2001) cho
Trang 23rằng “Nghĩa gốc hay còn gọi là nghĩa cơ bản được hiểu là nghĩa đầu tiên, trên
cơ sở nghĩa đó, người ta xây dựng nên các nghĩa khác”
b Nghĩa chuyển (transferred meaning)
Nguyễn Thiện Giáp (2010) định nghĩa “Nghĩa chuyển tiếp bao giờ cũng có thể giải thích được qua nghĩa trực tiếp, còn nghĩa trực tiếp không giải thích được”
c Nghĩa biểu trưng
(i) Giới thuyết về biểu trưng
Khi tiếp xúc với thế giới xung quanh, con người hình thành cho mình một bức tranh về thế giới Ngoài khái niệm, con người còn tạo ra cho mình một thế giới khác nằm giữa thế giới khách quan (khách thể) và con người (chủ thể), gọi
là thế giới trung chuyển, gồm những cảm nhận và tưởng tượng về thế giới khách quan thông qua hình ảnh của chúng Để tạo ra thế giới trung chuyển, phải có
hành động biểu trưng hóa (symbolization) để chủ thể có được những thuộc tính
của khách thể và khách thể có được những thuộc tính của chủ thể (chẳng hạn, các vị thần, thánh, tiên … đều có hình hài giống như con người) Theo Trần Văn
Cơ (2007), nhờ biểu trưng hóa, con người tạo ra những biểu tượng (symbol) cụ
thể Trong tiếng Việt, để chỉ biểu tượng, người ta còn dùng các từ “biểu trưng”,
“tượng trưng”
Có nhiều công trình đã nghiên cứu về biểu trưng trong văn hóa và điển hình
là cuốn “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới” của Chevalier và Gheerbrant
(1997) Hai tác giả của công trình này đã thu thập, tổng hợp các biểu tượng ở các lĩnh vực và phạm vi rất đa dạng và phong phú như về các huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc và con số trên phạm vi thế
giới Các tác giả cho rằng: “Khởi nguyên, biểu tượng là một vật được cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ hay kim loại Hai người mỗi bên giữ một phần, chủ và khách, người cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài… Sau này, ráp hai mảnh lại với nhau, họ sẽ nhận ra mối thân tình xưa, món nợ cũ, tình bạn ngày trước Ở người Hy Lạp thời cổ đại, biểu tượng còn là những dấu hiệu
để cha mẹ nhận ra con cái bị lưu lạc Bằng lối loại suy, từ được mở rộng nghĩa,
Trang 24chỉ các tấm thẻ, cầm chúng thì có thể lĩnh lương, phụ cấp hay thực phẩm; chỉ mọi dấu hiệu tập hợp, chỉ các điềm triệu hay các quy ước Biểu tượng chia ra và kết hợp lại với nhau, nó chứa hai ý tưởng phân li và tái hợp; nó gợi lên ý một cộng đồng, đã bị chia cắt và có thể tái hình thành Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã bị vỡ ra”
Theo Fromm (2002), biểu trưng (tượng trưng) có hai loại: tượng trưng mang tính chất tập quán là ngôn ngữ sử dụng hàng ngày Giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của loại tượng trưng này không có mối quan hệ nội tại Tượng trưng mang tính chất ngẫu nhiên cũng thế Với tư cách là một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ cũng là những biểu trưng Chất liệu biểu trưng là cái nằm ngoài, vật chất mà
nó biểu trưng lại nằm sâu trong nội tâm Ngôn ngữ biểu trưng là ngôn ngữ dùng
để diễn đạt kinh nghiệm nội tại, nó hầu như là sự thể nghiệm cảm quan đó; nó là một vật nào đó do ảnh hưởng của thế giới vật lí tác động đến chúng ta
Các khái niệm về nghĩa của từ chính là khung lý thuyết làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu
2.2.3 Màu sắc và từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt
2.2.3.1 Khái niệm về màu sắc
Từ điển Bách khoa toàn thư Oxford Learner’s Advanced Encyclopedic định
nghĩa: Màu sắc là đặc tính có thể nhìn thấy của các sự vật được tạo ra bởi các tia
sáng hoặc các bước sóng khác nhau bị phản xạ lại Đào Thản (1993) coi: “Màu sắc là một thuộc tính của vật thể, tồn tại một cách khách quan trong thế giới vật chất, mà thị giác con người có thể nhận biết được”
Đỗ Tường Linh trong bài viết Bí mật của màu sắc,
(http://hufa.edu.vn/bi-mat-cua-mau-sac/) cho rằng dưới góc nhìn vật lí, không một màu nào tồn tại
khách quan trong tự nhiên Ánh sáng là một dạng năng lượng có tính nhị nguyên: vừa là hạt lại vừa là sóng điện từ với các bước sóng khác nhau Ánh sáng tự nó không có màu sắc Phổ sóng điện từ rất rộng, trải dài từ các sóng radio có bước sóng cỡ hàng trăm ngàn km, tới các sóng tia X, tia gamma với
Trang 25bước sóng ngắn hơn 1 phần ngàn tỉ meter (10-12 m, hay 1 phần ngàn nanometer, nm) Trong dải phổ sóng điện từ với những bước sóng dài đó, phần phổ của ánh sáng mắt người có thể nhìn thấy chỉ chiếm một phần không đáng kể, từ 780 nm
xuống tới 380 nm
Hình 1 Phổ sóng điện từ
Các vật trong tự nhiên tự chúng không có màu sắc, mà chỉ hấp thụ, truyền tải và phản xạ ánh sáng chiếu vào chúng Các tín hiệu về tỉ số giữa các vùng sóng và sáng - tối được truyền qua thần kinh thị giác lên não để được xử lý như các màu khác nhau trong phổ ánh sáng nhìn thấy được như sau (dẫn theo Đỗ
Tường Linh, Bí mật của màu sắc, http://hufa.edu.vn/bi-mat-cua-mau-sac/)
Trang 26Hình 2 Bước sóng của các tia đơn sắc trong phổ ánh sáng mắt người có thể
nhìn thấy 1
2.2.3.2 Từ và phân loại từ chỉ màu sắc
Sự nhận thức và phân biệt màu sắc hoàn toàn có tính chất chủ quan đối với từng cộng đồng người nhất định Trong các ngôn ngữ khác nhau, người ta phân chia dải màu và ghi nhận các sắc độ, sắc thái về màu sắc theo những cách riêng Vì thế, hệ thống tên gọi màu sắc của các ngôn ngữ cũng không giống nhau Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và có cả những nhà ngôn ngữ học Màu sắc được thể hiện bằng danh từ và tính từ trong hệ thống từ loại Trong đó, tính từ chỉ màu sắc được sử dụng rộng rãi hơn cả Qua khảo sát 98 ngôn ngữ, Berlin & Kay (1969) đã có nhận xét về các màu cơ bản (basic colours) một cách phổ quát như sau:
- Mọi ngôn ngữ đều có hai từ chỉ màu đen và màu trắng
1 Nguồn: Đỗ Tường Linh, Bí mật của màu sắc, http://hufa.edu.vn/bi-mat-cua-mau-sac/
Trang 27- Nếu có ba từ thì có thêm màu đỏ
- Nếu có bốn từ thì có thêm xanh lá cây hoặc vàng
- Nếu có năm từ thì có thêm cả xanh lá cây và vàng
- Nếu có sáu từ thì có thêm màu xanh lam
- Nếu có bảy từ thì có thêm màu nâu
- Nếu có trên bảy từ thì có thêm tím, hồng, cam, xám hoặc hỗn hợp những
màu này
Từ các kết luận trên, có thể thấy rằng trong sự ghi nhận màu sắc, vấn đề xác định màu cơ bản (màu chính) và màu phụ là một thực tế đặt ra đối với nhiều ngôn ngữ Tính hệ thống của các từ ngữ chỉ màu đòi hỏi phải chỉ ra được trong một ngôn ngữ những màu nào được coi là màu cơ bản, những màu nào là màu phụ và ứng với chúng là những từ ngữ nào Đồng thời, cũng có thể suy ra: Số lượng từ chỉ màu trong các ngôn ngữ nói chung không có sự tương đương nhau, do sự ghi nhận và gọi tên màu sắc không giống nhau Có ngôn ngữ chỉ biết có hai màu, lại có những ngôn ngữ lại phân biệt đến bảy màu Như vậy, chỉ có thể nói đến việc xác định màu
cơ bản ở từng ngôn ngữ cụ thể Hơn nữa, vấn đề này cũng quan trọng ở những ngôn ngữ có từ chỉ màu phong phú như tiếng Việt Sự nhận thức về màu và phân chia dải màu để gọi tên các màu ở các ngôn ngữ thường dựa trên cảm nhận thị giác
và quan điểm truyền thống của từng cộng đồng người Vì lẽ đó, một số màu được coi là cơ bản ở ngôn ngữ này lại có thể không phải là màu cơ bản ở ngôn ngữ khác
Chẳng hạn, thời xưa, ông cha ta không xem màu xanh lam, xanh lá cây và màu da cam là màu cơ bản trong tiếng Việt Trong khi đó, ở tiếng Anh, theo Berlin & Kay (1969), các màu cơ bản lại là: white (trắng), black (đen), red (đỏ), green (xanh lá cây), yellow (vàng), blue (xanh lam), brown (nâu), purple (tím), pink (hồng) , orange (cam), grey (xám)
Trong tài liệu phổ quát trên, bảy từ chỉ màu được đưa ra không nhất thiết là những từ chỉ màu sắc của riêng một ngôn ngữ nào; cũng không phải là những
màu của cầu vồng (đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím) Nói cách khác, bảy màu
cầu vồng không có sự liên quan với nhóm màu cơ bản của từng ngôn ngữ hay
Trang 28với bảy màu của tài liệu trên Nhưng có một điểm tương đồng giữa các ngôn ngữ là màu sắc được thể hiện bằng tính từ và danh từ trong hệ thống từ loại Các từ chỉ màu trong tiếng Anh và tiếng Việt có thể được phân loại dựa trên phương thức cấu tạo cũng như cấu trúc nghĩa Nói các khác, phân loại các từ chỉ màu trong hai ngôn ngữ này có thể dựa trên phương diện từ vựng và ngữ nghĩa
Áp dụng lí thuyết về các đơn vị từ vựng chỉ màu cơ bản của Berlin & Kay (1969) và kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Jameson và Alvarado (2003), chúng tôi cho rằng trong tiếng Anh và tiếng Việt có ba lớp từ chỉ màu chính đó
là: Lớp từ chỉ màu cơ bản, lớp từ chỉ màu phái sinh và lớp từ chỉ màu cụ thể
a Từ chỉ màu cơ bản
Theo Berlin & Kay (1969), “mỗi ngôn ngữ đều có một số lượng lớn các từ, ngữ biểu thị các sắc thái khác nhau của màu sắc” Theo hai ông, một cách lí
tưởng là mỗi từ chỉ màu sắc cơ bản đều có các đặc điểm
(i) Những từ gồm có một từ vị (monolexemic), tức là nghĩa của nó không thể đoán được từ các thành phần tạo nên từ đó
(ii) Nghĩa của nó không nằm trong nghĩa của một từ chỉ màu sắc khác Theo
tiêu chí này thì trong tiếng Việt, xanh lá cây, xanh lam không phải là từ chỉ màu sắc cơ bản vì nghĩa của chúng nằm trong nghĩa của từ xanh
(iii) Nghĩa của chúng không được áp dụng hạn chế cho một phạm vi hẹp Cũng theo tiêu chí này thì xanh rờn cũng không phải là từ chỉ màu cơ bản vì chỉ
được sử dụng cho cây cối ở một thời điểm phát triển nhất định
(iv) Phải nổi bật về mặt thông tin như xuất hiện đầu tiên trong danh mục, có tính ổn định về mặt thông tin và sử dụng
Qua nghiên cứu về từ chỉ màu sắc, hai tác giả Berlin & Kay trong cuốn
Basic colour terms đã đề cập đến khái niệm từ chỉ màu sắc cơ sở hay còn gọi là
từ chỉ màu sắc sơ cấp và đưa ra một số tiêu chí để xác định những từ chỉ màu
sắc cơ sở đó Qua việc quan sát 98 ngôn ngữ, hai ông đã xác định số lượng phạm trù màu sắc cơ sở khác nhau ở mỗi ngôn ngữ Hai ông đã đưa ra một hệ thống từ
chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh bao gồm 11 từ : white (trắng), black (đen), red
Trang 29(đỏ), green (xanh lá cây), yellow (vàng), blue (xanh lam), brown (nâu), purple (tím), pink (hồng), orange (cam), grey (xám)
Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ có hệ thống các từ chỉ màu tương đối
phong phú đa dạng, được chia thành 3 lớp từ chỉ màu sắc Lớp từ chỉ màu cơ bản; lớp từ chỉ màu phái sinh, và lớp từ chỉ màu cụ thể Các nhà nghiên cứu trong nước
tùy theo mục đích nghiên cứu của mình đã đưa ra những số lượng các từ chỉ màu sắc cơ bản khác nhau Và số lượng này cũng thay đổi tùy theo các ngành nghề có liên quan chặt chẽ đến màu sắc như họa sĩ, thợ ảnh, các nghệ nhân gốm, nhuộm… Theo Đào Thản (1993), sự nhận thức về màu và phân chia dải màu trên cảm nhận thị giác và quan điểm truyền thống của từng cộng đồng người nhiều hơn là dựa vào kết quả phân tích quang phổ Từ nhận xét trên, Đào Thản cũng đưa ra nhận xét về ảnh hưởng của thuyết ngũ hành đối với các từ chỉ màu cơ bản vì ngũ hành là 5 nguyên tố vật chất cấu tạo nên thế giới Ứng với 5 nguyên tố này sẽ có ngũ sắc, chính là 5 màu cơ bản nhất mà ông cha chúng ta đã từng quan niệm và
ghi nhận trong ngôn ngữ, đó là các màu xanh, đỏ, trắng, tím, vàng
Khi nghiên cứu về ngũ hành, Trần Ngọc Thêm (2000) đã khẳng định ngũ hành không phải là năm yếu tố mà là 5 loại vận động, quan hệ với tính khái quát rất cao Ngũ sắc nằm trong phạm vi ứng dụng rất rộng rãi của ngũ hành
Bảng 2.1 Một số ứng dụng của Ngũ hành [Nguồn: Trần Ngọc Thêm (2000)]
2 Hành được
Trang 306 Thời tiết
Khoảng giữa các mùa
Trong số những ý nghĩa trong bảng trên, về màu biểu thì hai màu đen – đỏ
mang tính đối lập âm – dương rõ rệt nhất nên ứng với hai hành Thủy - Hỏa, (hai
phương Bắc – Nam), hai màu xanh – trắng cũng đối lập âm dương nhưng kém
rõ rệt hơn, ứng với hai hành Mộc – Kim, màu vàng ứng với hành Thổ ở trung
ương
Tuy nhiên, ý kiến của Đào Thản (1993) với 7 màu cơ bản trong tiếng Việt là
trắng, đen, xanh, đỏ, tím, vàng, nâu cũng như 5 màu cơ bản theo ngũ hành là đen, đỏ, xanh, trắng, vàng theo chúng tôi là chưa đủ Trong tiếng Việt, theo chúng tôi, hợp lí nhất vẫn là số lượng 9 màu cơ bản gồm: trắng, đen, đỏ, vàng, xanh, nâu, tím, hồng, xám vì những màu này thỏa mãn các tiêu chí về từ chỉ màu
cơ bản của Berlin & Kay (1969) đã nêu ra, đồng thời mang những đặc trưng riêng của các từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Việt Các từ này cùng có chung đặc điểm:
(i) là những từ được phổ biến rộng rãi;
(ii) đơn giản về mặt hình thức (cả 9 từ đều là từ đơn);
(iii) về mặt ý nghĩa, cả 9 từ này đều có phạm vi biểu vật rộng lớn, được sử dụng cho một số lượng đa dạng các sự vật hiện tượng;
(iv) cả 9 từ này đều có khả năng tạo ra hàng loạt từ chỉ màu với phạm vi biểu vật hẹp hơn Như vậy, từ chỉ màu cơ bản trong hai ngôn ngữ Anh - Việt
Trang 31đƣợc thể hiện trong bảng sau
Bảng 2.2 Từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt (Berlin & Kay
tƣ duy, văn hóa… mà các yếu tố này cũng không đồng nhất Hơn nữa, thế giới màu sắc đã và đang biến đổi không ngừng và hệ thống từ chỉ màu sắc cũng biến
đổi theo Tuy nhiên, giả thuyết này cho thấy: “Đằng sau những cấu trúc có tính đặc ngữ của các từ chỉ màu sắc, trong từng ngôn ngữ vẫn tồn tại một cơ chế chung, cơ chế có tính phổ quát đối với mọi ngôn ngữ, cũng tức là phổ quát đối
Trang 32với tư duy của toàn nhân loại.”
b Từ chỉ màu phái sinh
Để tạo ra các từ chỉ màu phái sinh, tiếng Anh dùng phương thức ghép và phương thức thêm phụ tố Các phương thức này có tác dụng tạo ra các từ biểu hiện các sắc thái mới của màu cơ bản hay chuyên biệt hóa các sắc thái của
những màu này Ví dụ: yellowy brown (nâu hơi vàng); greenish (hơi xanh) Về
phương diện ngữ pháp, từ các từ chỉ màu cơ bản, tiếng Việt có thể tạo ra các từ
chỉ màu phái sinh bằng phương thức láy (ví dụ: xanh xanh) hoặc ghép (ví dụ: xanh thẫm, tím Huế)
như màu cá hồi trong tiếng Anh và màu nước dưa trong tiếng Việt
Các quan điểm về màu sắc được nêu trên cùng các phân loại từ chỉ màu sắc là nền tảng cho những kết quả nghiên cứu của đề tài
2.2.4 Nghiên cứu đối chiếu từ vựng, ngữ nghĩa
2.2.4.1 Khái niệm về ngôn ngữ học đối chiếu
Ngôn ngữ học đối chiếu là một trong những phân ngành ngôn ngữ học có tính ứng dụng cao nhất, thể hiện trên nhiều phương diện Nó vừa liên quan mật thiết đến những vấn đề lí thuyết quan trọng, vừa gắn chặt với những ứng dụng thực tiễn, rất gần gũi với đời sống hàng ngày Ngôn ngữ học đối chiếu giúp kiểm chứng và làm sáng tỏ các phổ niệm được quy nạp trên cứ liệu các ngôn ngữ được đối chiếu, phát hiện thêm những hiện tượng ngôn ngữ có ý nghĩa phổ quát, góp phần làm phong phú thêm lí luận ngôn ngữ mà những nghiên cứu trên cứ liệu của một hoặc một số ngôn ngữ không giải quyết được Do đó ngôn ngữ học
Trang 33đối chiếu góp phần điều chỉnh những nguyên lí của ngôn ngữ học đại cương, làm tăng thêm sức mạnh giải thích của lí luận ngôn ngữ nhờ mở rộng phạm vi bao quát của lí luận Về phương diện loại hình, ngôn ngữ học đối chiếu không chỉ giúp phân loại ngôn ngữ thành các loại hình, mà còn xác định các tiểu loại hình và tìm cách quy các ngôn ngữ vào từng tiểu loại hình thông qua việc đối chiếu các ngôn ngữ đó với từng khuôn mẫu tiêu biểu cho mỗi tiểu loại hình Vì thế, ngôn ngữ học đối chiếu cung cấp cho loại hình học nhiều tư liệu cụ thể về cấu trúc ngôn ngữ và về hoạt động của các ngôn ngữ cùng và khác loại hình, góp phần làm sáng rõ đặc trưng của từng loại hình ngôn ngữ, đồng thời bổ sung những hướng nghiên cứu mới cho từng loại hình ngôn ngữ Ngôn ngữ học đối chiếu sử dụng chất liệu ngôn ngữ ở trạng thái đồng đại để so sánh các ngôn ngữ với nhau Thông qua đối chiếu, nhiều đặc điểm quan trọng của các ngôn ngữ được phát hiện Nhờ đó nhà nghiên cứu xác định rõ hơn đặc điểm của từng ngôn ngữ được đối chiếu, những đặc điểm vốn không được chú ý khi nghiên cứu riêng biệt từng ngôn ngữ Như vậy, nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ có thể phát hiện các đặc điểm ngôn ngữ ở cả ba cấp độ: đặc điểm phổ quát, đặc điểm loại hình và đặc điểm riêng biệt của từng ngôn ngữ
2.2.4.2 Nguyên tắc đối chiếu
Theo Bùi Mạnh Hùng (2008), trong quá trình nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
(i) Đảm bảo các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải được miêu tả một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc trước khi tiến hành đối chiếu để tìm ra điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng
(ii) Việc nghiên cứu đối chiếu không thể chỉ chú ý đến các phương tiện ngôn ngữ một cách tách biệt mà phải đặt trong hệ thống
(iii) Phải xem xét các phương tiện đối chiếu không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ mà còn trong hoạt động giao tiếp
(iv) Phải đảm bảo tính nhất quán trong việc vận dụng các khái niệm và mô hình lí thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu
Trang 34(v) Phải tính đến mức độ gần gũi về loại hình giữa các ngôn ngữ cần đối chiếu vì nó cho phép người nghiên cứu có thể lựa chọn được cách tiếp cận thích hợp nhất đối với quá trình đối chiếu
là phạm vi đối chiếu bộ phận Lê Quang Thiêm (2004) phân biệt phạm vi đối chiếu theo phạm trù, đối chiếu cấu trúc hệ thống, đối chiếu chức năng và hoạt động, đối chiếu phong cách, đối chiếu lịch sử - phát triển Bùi Mạnh Hùng (2008) lại cho rằng sự phân biệt các phạm vi đối chiếu cần xác định trên cơ sở phân biệt các bình diện phân tích ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng
Một công trình nghiên cứu đối chiếu có thể chọn một trong hai cách tiếp cận chủ yếu sau: đối chiếu hai (hay nhiều) chiều và đối chiếu một chiều
Nghiên cứu đối chiếu từ vựng tập trung phân tích đối chiếu những điểm giống và khác nhau của thành phần từ vựng và quan hệ từ vựng trong các ngôn ngữ đối chiếu Trên thực tế khó có thể nghiên cứu đối chiếu toàn bộ hệ thống từ vựng của hai ngôn ngữ, vì từ vựng là một hệ thống mở có số lượng các đơn vị cực kì lớn R Lado (2003) đã nhận thấy khối từ vựng đầy đủ của một ngôn ngữ phát triển cũng vô cùng lớn và đòi hỏi phải nghiên cứu cả đời để so sánh từng mục từ một với một ngôn ngữ khác Vì vậy, ở cấp độ từ vựng, R Lado xác định
3 cấp độ đối chiếu từ: hình thức, ý nghĩa và sự phân bố
Để tiến hành đối chiếu hai ngôn ngữ, điều cần thiết là phải xác lập cơ sở đối chiếu và phạm vi đối chiếu Xác lập cơ sở đối chiếu là khâu đầu tiên trong lập kế