- Về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển DLCĐ và các điều kiện phát triển DLCĐ: Phân tích các công trình nghiên cứu về DLCĐ ở trong nước cho thấy có một số công trình đưa ra các điều
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH HÒA BÌNH
MÃ SỐ: MHM 2020 – 02.10
Nhóm nghiên cứu: ThS Trần Thu Phương
ThS Vũ An Dân
TS Vũ Hương Giang ThS Phạm Thị Thanh Hoan
HÀ NỘI, 2020
Trang 22
MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Tổng quan nghiên cứu 4
2 Tính cấp thiết của đề tài 11
3 Mục tiêu nghiên cứu 14
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu 15
6 Những đóng góp của nghiên cứu 15
7 Bố cục đề tài 16
B PHẦN NỘI DUNG 17
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 17
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 17
1.1 Khái quát về du lịch cộng đồng 17
1.2 Quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng 23
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH HÒA BÌNH, VIỆT NAM 36
2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng của một số địa phương cấp tỉnh 36
2.2 Khái quát về tỉnh Hòa Bình và tình hình phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Hoà Bình 47
2.3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Hoà Bình 54
Tiểu kết chương 2 68
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH HOÀ BÌNH 70
3.1 Định hướng và quan điểm về phát triển du lịch và du lịch cộng đồng tại tỉnh Hoà Bình 70
3.2 Quan điểm, mục tiêu và định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Hoà Bình 71
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Hoà Bình 73
Tiểu kết chương 3 82
C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
1 Các nội dung đã nghiên cứu 84
2 Ưu điểm, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 84
3 Một số khuyến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 33
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DLCĐ Du lịch cộng đồng KT-XH Kinh tế - xã hội
QLNN Quản lý nhà nước VHTTDL Văn hoá, Thể thao và Du lịch
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 - Các điểm du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 41 Bảng 2 2 - Số lượng nhà nghỉ du lịch cộng đồng so với tổng số cơ sở lưu trú toàn tỉnh Hoà Bình (Giai đoạn 2015 - 2019) 49 Bảng 2 3 - Số lượng lao động tại các cơ sở kinh doanh du lịch cộng đồng 51 Bảng 2 4 - Cơ cấu lao động theo giới tính tại các cơ sở kinh doanh du lịch cộng đồng
của tỉnh Hoà Bình (Giai đoạn 2015 - 2019) 51
Bảng 2 5 - Đóng góp của hoạt động kinh doanh du lịch cộng đồng của tỉnh Hoà Bình (Giai đoạn 2015-2019) 52 Bảng 2 6 - Tỷ lệ % tổng khách du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình 53 Bảng 2 7- Tổng số khách du lịch cộng đồng tỉnh Hòa Bình 53
Trang 44
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tổng quan nghiên cứu
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, DLCĐ bắt đầu phát triển ở Việt Nam vào cuối những năm 1980, tuy nhiên, những nghiên cứu về DLCĐ chỉ thực sự xuất hiện từ đầu những năm 2000, dưới dạng các cuốn sách, bài báo, và công trình khoa học
- Về khái niệm du lịch cộng đồng:
Phân tích các công trình nghiên cứu ở trong nước cho thấy các tác giả hầu hết chỉ tổng hợp các khái niệm, định nghĩa đã được đưa ra của các tác giả ở nước ngoài, và sử dụng một trong số các khái niệm đó trong nghiên cứu, cụ thể như: Nghiên cứu các mô hình
du lịch cộng đồng ở Việt Nam của Bùi Thanh Hương và Nguyễn Đức Hoa Cương (2007); Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững ở vùng Tây Bắc: Thực trạng và những giải pháp của Đỗ Thuý Mùi và các cộng sự (2016); Nghiên cứu về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người H’Mông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai của Đào Ngọc Anh (2016)… và nhiều luận văn cao học được thực hiện ở một số trường đại học trong nước
Một số ít tài liệu trong nước có đưa ra định nghĩa về DLCĐ như: Sổ tay du lịch cộng đồng Việt Nam: Phương pháp tiếp cận dựa vào thị trường của Dự án Chương trình phát triển năng lực Du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (ESRT); Sách “Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng” của tác giả Võ Quế (2006); Tài liệu “Du lịch cộng đồng”, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam của Bùi Thị Hải Yến (2012)… Tuy nhiên, những định nghĩa này hầu như không có sự khác biệt nhiều với các định nghĩa đã được các tác giả ở nước ngoài đưa ra
- Về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển DLCĐ và các điều kiện phát triển DLCĐ: Phân tích các công trình nghiên cứu về DLCĐ ở trong nước cho thấy có một số công trình đưa ra các điều kiện để phát triển DLCĐ, các yếu tố ảnh hưởng đến DLCĐ… Tuy nhiên, thiếu vắng những nghiên cứu sâu về từng yếu tố, điều kiện phát triển ở khu vực nghiên cứu cụ thể, đặc biệt thiếu vắng những nghiên cứu về đặc điểm của cộng đồng (văn hoá truyền thống, khả năng quản lý khi được trao quyền…) ở khu vực phát triển DLCĐ Do thiếu những nghiên cứu mang tính đặc thù của DLCĐ này, nhiều mô hình phát triển DLCD ở một số địa phương đã thất bại do áp dụng dập khuôn mô hình du lịch
từ địa điểm này sang phát triển ở địa điểm khác
Trang 55
- Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với du lịch:
Hướng nghiên cứu này đã được thực hiện ở nhiều công trình nghiên cứu khác nhau Phần lớn các công trình này liên quan đến quản lý nhà nước địa phương đối với du lịch,
ở dạng các luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹ
Với đối tượng nghiên cứu là QLNN đối với du lịch, luận án tiến sỹ của Trịnh Đăng Thanh (2004) lần đầu đã tổng hợp những vấn đề lý luận và sự cần thiết phải QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam trước yêu cầu mới Luận án tiến sĩ kinh
tế của Nguyễn Minh Đức (2007) đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm góp phần đổi mới và nâng cao trình độ QLNN về thương mại, du lịch ở tỉnh Sơn La Luận án tiến sỹ của Nguyễn Tấn Vinh (2008) cũng là một công trình nghiên cứu QLNN đối với ngành du lịch ở một địa phương cụ thể Luận án đã hệ thống hóa lý luận về du lịch, thị trường du lịch và phát triển du lịch địa phương; Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; Dự báo một số chỉ tiêu phát triển chủ yếu về phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020 và đề ra phương hướng, biện pháp hoàn thiện QLNN về
du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Luận án tiến sỹ của Nguyễn Hoàng Tứ (2016) đã làm rõ những vấn đề lý luận quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững và đề xuất các nhóm giải pháp quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển du lịch bền vững nói chung và tại một số tỉnh miền Trung nói riêng Ngô Nguyễn Hiệp Phước (2018)
đã bổ sung một số vấn đề mang tính chất lý luận của QLNN về du lịch cấp thành phố trực thuộc TW trong sự kết hợp giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên địa bàn thành phố trực thuộc TW
Bên cạnh các luận án tiến sỹ, một số luận văn thạc sỹ cũng nghiên cứu về chủ đề này Đinh thị Thuỳ Liên (2016) đã tổng quan những vấn đề lý luận QLNN về du lịch, bao gồm những nội dung chủ yếu của QLNN về du lịch; sự cần thiết và các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về du lịch, đồng thời đề xuất một số giải pháp hoàn thiện QLNN về
du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Thị Doan (2015) đã khái quát lý luận về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về du lịch, các nhân tố tác động tới quản lý, phát triển du lịch trên địa bàn thủ đô; những kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội; đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện QLNN về
du lịch trên địa bàn nghiên cứu Luận văn của Trần Như Đào (2017) cũng theo logic và
Trang 6- Nghiên cứu về QLNN đối với phát triển DLCĐ:
Nghiên cứu các tài liệu đã công bố đến thời điểm này cho thấy rất ít các công trình nghiên cứu độc lập (với đối tượng nghiên cứu là QLNN đối với phát triển DLCĐ) về vấn đề này Trần Nữ Ngọc Anh (2016) trong bài viết về Quản lý nhà nước đối với du lịch cộng đồng, Tạp chí Du lịch số 9/2016, đã nhấn mạnh QLNN đối với DLCĐ tại Việt Nam cần được quan tâm kịp thời để tạo điều kiện cho hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn nữa trong thực tế Bài báo cũng nêu 5 nội dung liên quan đến QLNN bao gồm: nâng cao nhận thức cộng đồng, bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên du lịch hợp lý, giải pháp về vốn, cơ chế chính sách, nguồn nhân lực Những cơ chế chính sách cần được cân nhắc
để có thể tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng như xây dựng một
mô hình du lịch cộng đồng: “Chính phủ chủ đạo + Cộng đồng là chủ thể + Doanh nghiệp kinh doanh + các tổ chức tư vấn, hỗ trợ… + Quy phạm pháp luật” Về nguồn nhân lực, cần có những giải pháp thiết thực để nâng cao năng lực các cán bộ các cấp như mở lớp tập huấn nghiệp vụ quản lý nhà nước về du lịch hoặc đưa cán bộ đi tham quan, trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý, xây dựng mô hình du lịch cộng đồng hiệu quả ở những địa phương khác trong và ngoài nước Tuy nhiên, những đề xuất trong bài báo còn chung chung và không đưa ra những luận cứ để chứng minh sự cần thiết của những đề xuất này Trần Quý Tấn (2018) trong luận văn thạc sỹ về QLNN đối với phát triển DLCĐ ở Quảng Nam đã tổng quan một số vấn đề lý luận QLNN về DLCĐ trên địa bàn tỉnh, bao gồm nội dung QLNN về DLCĐ, vai trò của QLNN về DLCĐ (vai trò định hướng, điều tiết, phối hợp, hỗ trợ và kiểm tra, giám sát), các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về DLCĐ (điều kiện tự nhiện, điều kiện kinh tế -xã hội, môi trường thể chế, khoa học công nghệ) Luận văn cũng phân tích thực trạng công tác QLNN và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về DLCĐ tỉnh Quảng Nam Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu, tác giả cũng nhấn mạnh vai trò và sự cần thiết của QLNN về DLCĐ trên địa bàn để đảm
Trang 77
bảo phát triển DLCĐ bền vững Mặc dù đã có những đóng góp nhất định, điểm hạn chế của công trình này là những vấn đề lý luận QLNN về DLCĐ chưa tổng quát được cho một đơn vị cấp tỉnh, chưa làm rõ các nội dung đặc thù của QLNN về DLCĐ Bên cạnh
đó, vai trò của QLNN đối với phát triển DLCĐ chưa được phân tích một cách đầy đủ, các nhân tố ảnh hưởng đưa ra chủ yếu là các nhân tố bên ngoài tác động đến QLNN đối với phát triển DLCĐ
Ngoài hai công trình trên, QLNN đối với phát triển DLCĐ thường được đề cập đến như là một số đề xuất hoặc kiến nghị khi nghiên cứu về DLCĐ Đào Ngọc Anh (2016) đã kiến nghị về sự cần thiết liên kết giữa các ngành trong phát triển DLCĐ và bảo tồn các giá trị văn hóa người dân địa phương, kiến nghị có chính sách đầu tư hợp lý
và xúc tiến quảng bá và hỗ trợ giải quyết xung đột lợi ích của các bên ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai Đây rõ ràng là vai trò của QLNN đối với phát triển DLCĐ, tuy nhiên, hỗ trợ các bên như thế nào cũng như chính sách cụ thể về xúc tiến, liên kết các ngành không được tác giả chỉ ra Đỗ Thuý Mùi và các cộng sự (2016) trong nghiên cứu của mình đưa ra một số giải pháp liên quan đến trách nhiệm QLNN đối với phát triển DLCĐ vùng Tây Bắc (về chính sách, về xúc tiến quảng bá…), tuy nhiên những giải pháp này chưa đầy đủ đối với QLNN và còn chung chung, khó thực hiện Cũng tương tự như công trình nghiên cứu này, các đề xuất liên quan đến một hoặc một số chức năng QLNN đối với phát triển DLCĐ trong các công trình nghiên cứu khác về DLCĐ ở Tây Bắc và các vùng khác của Việt Nam cũng thường chung chung và chưa đầy đủ
1.2 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước
- Về khái niệm du lịch cộng đồng:
Về khái niệm, mặc dù được giới thiệu vào những năm 1970, khái niệm về DLCĐ chỉ được phổ biến kể từ khi Murphy (1985) trình bày về phương pháp tiếp cận cộng đồng trong phát triển du lịch trong tài liệu“Du lịch- một cách tiếp cận cộng đồng” và sau đó được nghiên cứu bổ sung vào năm 2004 bởi cùng tác giả Sau đó, nhiều tác giả cũng đã đưa ra các định nghĩa hoặc cách hiểu khác nhau về DLCĐ Sean Jugmohan (2015) trong bản luận án tiến sỹ của mình đã tổng hợp được 20 định nghĩa khác nhau về DLCĐ, trong
đó có hai định nghĩa được trích dẫn khá nhiều là của Lukhele (2013) và của Potjana Suansri (2003) Nhiều định nghĩa khác về DLCĐ, mặc dù không giống nhau trong việc giải thích về DLCĐ, hầu hết đều đồng ý rằng sự tham gia của cộng đồng và trao quyền cho cộng đồng là điều cốt lõi của DLCĐ Tuy nhiên, nghiên cứu các tài liệu cũng cho
Trang 88
thấy, ở một số nước, nhiều khái niệm vẫn đang được coi là đồng nghĩa với DLCĐ như
du lịch sinh thái cộng đồng, du lịch nông thôn, hay homestay như ở Thái Lan, mặc dù chúng khác nhau về bản chất Bên cạnh đó, mặc dù DLCĐ được giới thiệu như là loại hình du lịch thay thế cho du lịch đại trà do những tác động không mong muốn của nó đến môi trường, nhiều nghiên cứu cho rằng DLCĐ nên được coi là một sự bổ sung, không phải là một sự thay thế, và là công cụ giúp giảm thiểu, hoặc ít nhất là giảm bớt, những tác động tiêu cực của sự kém phát triển.Vì lý do này, nhiều nghiên cứu phân tích việc thực hiện DLCĐ tại các khu vực nghèo nhất như Kenya, Namibia, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Canada và nhiều khu vực khác trên thế giới
- Về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển DLCĐ:
Những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của DLCĐ cũng là chủ đề của nhiều nghiên cứu Tổng quan các nghiên cứu ở khía cạnh này cho thấy, các yếu tố thành công của DLCĐ có thể khác nhau tùy theo địa điểm thực hiện và đặc điểm của cộng đồng Vajirakachorn (2011) trong nghiên cứu của về DLCĐ của Thái Lan đã xác định 10 tiêu chí quan trọng cho thành công của DLCĐ, bao gồm: sự tham gia của địa phương, phân phối lợi ích công bằng, bảo quản tài nguyên du lịch, có sự hỗ trợ từ bên trong và bên ngoài cộng đồng, quyền sở hữu của địa phương, có sự phối hợp tốt giữa các bên liên quan, quy mô phát triển du lịch và sự hài lòng của khách du lịch Ở Malaysia, Indonesia, các nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của DLCĐ là sự tham gia
và hỗ trợ tích cực của các thành viên cộng đồng, phân phối công bằng và bình đẳng các lợi ích thu được từ du lịch, quản lý tốt các hoạt động của dự án, đảm bảo sự hợp tác và
hỗ trợ giữa các bên liên quan Ở Zambia, yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của DLCĐ là hợp tác giữa các cơ sở du lịch, sự gần gũi với thị trường du lịch, lợi thế cạnh tranh, quản lý tài chính công bằng và minh bạch, sự hài lòng của khách du lịch, chất lượng của hàng hóa và dịch vụ du lịch Dựa trên một nghiên cứu rộng hơn, bao gồm một loạt các mô hình DLCĐ ở một số nước thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Hatton (1999) đã kết luận rằng kết quả của việc phát triển DLCĐ có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên, sự thành công của DLCĐ đều dựa trên những vấn đề chung về lợi ích kinh tế, lãnh đạo, trao quyền và việc làm cho cộng đồng
- Nghiên cứu về QLNN đối với phát triển DLCĐ:
Trong các nghiên cứu về QLNN đối với phát triển DLCĐ, nhà nước thường được xem
là một bên liên quan trong mô hình DLCĐ đa thành phần
Trang 99
Theo Lukhele (2013), Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong phát triển DLCĐ, giúp đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động du lịch và tạo ra một môi trường thuận lợi cho DLCĐ phát triển Theo Murphy (1983), vai trò của nhà nước trong phát triển DLCĐ được thể hiện qua các chính sách, điều phối sự tham gia của các bên liên quan, tăng cường nhận thức của cộng đồng George (2007) nhấn mạnh: DLCĐ không thể thực hiện thành công nếu không có sự tạo điều kiện liên tục và phối hợp của các cơ quan chính phủ khác nhau Nhà nước đóng một vai trò quan trọng, đảm bảo sự tham gia của các bên liên quan Vai trò của Nhà nước cũng rất cần thiết trong việc thiết lập khung pháp lý và chính sách, đảm bảo thực thi của chính sách, áp dụng các công cụ kinh tế phù hợp và giám sát chất lượng môi trường Chỉ nhà nước mới có thể cung cấp cơ sở để hoạch định chiến lược cho phát triển DLCĐ, cơ sở hạ tầng cốt lõi, tích hợp thông tin du lịch về các điểm DLCĐ vào mạng thông tin quốc gia, thiết lập các tiêu chuẩn liên quan đến DLCĐ và đảm bảo rằng chúng được thực thi
Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò thiết yếu của nhà nước trong phát triển DLCĐ như Sıla Karacaoglu (2017), Nick Kontogeorgopoulos (2014) Các tác giả này khi nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến sự thành công của DLCĐ, đã tổng hợp 4 yếu tố chính liên quan đến vai trò của nhà nước đối với phát triển DLCĐ từ các công trình nghiên cứu, bao gồm:
o Chính quyền địa phương cung cấp ngân sách bổ sung cho sự phát triển của khu vực
và cộng đồng; cung cấp tư vấn và hỗ trợ tài chính cho các thành viên cộng đồng để tăng năng lực và kỹ năng nghề nghiệp của họ;
o Có chính sách bảo tồn tài nguyên văn hóa và môi trường đảm bảo sự phát triển bền vững, trao quyền cho cộng đồng sở hữu các tài nguyên văn hóa và tự nhiên;
o Nhận thức của cộng đồng về các tác động tích cực và tiêu cực của du lịch trong khu vực họ sống;
o Hỗ trợ cộng đồng phát triển cơ sở hạ tầng, tiếp thị và quảng bá
Nyoman Rasmen Adil và các cộng sự (2017) đã sử dụng phương pháp định lượng
để nghiên cứu xác định ảnh hưởng của vai trò của nhà nước đối với DLCĐ và phát triển
du lịch bền vững tại một khu vực có hoạt động DLCĐ trên đảo Bali Kết quả nghiên cứu cho thấy nhà nước đóng vai trò quan trọng và có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến DLCĐ
và phát triển du lịch bền vững ở khu vực nghiên cứu Nhóm tác giả cũng khuyến nghị nhà nước thúc đẩy việc bảo tồn tài nguyên tự nhiên và cần hợp tác chặt chẽ với các tổ chức tư nhân trong phát triển DLCĐ
Trang 1010
Trong một nghiên cứu về DLCĐ, bằng việc đánh giá các mô hình phát triển ở nhiều khu vực và vai trò của các bên liên quan, Simpson (2008) đã khẳng định nhà nước đóng vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách và kiểm soát các hoạt động ảnh hưởng đến lợi ích của cộng đồng để đảm bảo phát triển bền vững Theo đó, đối với DLCĐ, nhà nước có vai trò trong lập kế hoạch sử dụng đất và quản lý đất đai, nội quy lao động và môi trường, đào tạo năng lực và kỹ năng; cung cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu, dịch vụ xã hội và môi trường; cung cấp năng lượng và nước, hỗ trợ thông qua tiếp thị, dịch vụ thông tin, giáo dục, tư vấn và thông qua hợp tác công-tư Tác giả cũng nhấn mạnh, phát triển DLCĐ nên được tích hợp vào chính sách ở tất cả các cấp (địa phương, khu vực và quốc gia) Nhà nước cần phải loại bỏ những hạn chế, tạo cơ hội và thúc đẩy việc ủng hộ phát triển DLCĐ của các cơ quan có liên quan Hơn nữa, chính sách và pháp luật cần được phát triển để cho phép người dân địa phương đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định lợi ích của mình từ du lịch
Một trong những chức năng quan trọng của nhà nước trong quản lý DLCĐ là ban hành khung chính sách và luật pháp Theo George (2007), chính sách về DLCĐ thay đổi theo từng quốc gia và thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, chính sách thường là cách tiếp cận tổng thể, quan trọng nhất trong việc giúp DLCĐ phát triển
Wirudchawong (2012) đã phân tích toàn bộ các chính sách hiện có của Thái Lan liên quan đến DLCĐ nhằm tìm ra những điểm còn hạn chế Tác giả đã phân tích vai trò của từng bộ phận/tổ chức quản lý du lịch ở Thái Lan trong quá trình phát triển chính sách du lịch, đặc biệt tập trung vào chính sách DLCĐ, đồng thời, tác giả cũng đề xuất
kỳ vọng trong tương lai của chính sách DLCĐ ở Thái Lan và khuyến nghị những cam kết mạnh mẽ hơn của Chính phủ trong phát triển DLCĐ Gilian Corless (1999) khi nghiên cứu về chính sách và quy hoạch phát triển DLCĐ tại vùng Baffin, Canada đã đề xuất điều chỉnh một số chính sách trên cơ sở phân tích các điều kiện kinh tế xã hội ở khu vực và đánh giá các chính sách hiện có liên quan đến DLCĐ
Giampiccoli (2015) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa những đặc điểm của DLCĐ
và các chính sách, chiến lược phát triển DLCĐ ở Jamaica Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại của các chính sách hiện có và những vấn đề mà nhà nước cần phải điều chỉnh để đem lại thành công cho các dự án phát triển DLCĐ Đây cũng là cơ sở để Bộ
Du lịch và Giải trí của Jamaica ban hành mới chính sách và chiến lược quốc gia về DLCĐ
Trang 1111
Nghiên cứu những tài liệu, công trình hiện có về QLNN đối với DLCĐ trên thế giới cho thấy thiếu vắng những nghiên cứu liên quan đến các phương pháp đánh giá mức độ, kết quả, hiệu quả của QLNN đối với phát triển DLCĐ Điều này cũng có thể được lý giải là các nghiên cứu quan tâm nhiều hơn đến phân tích thành công hay thất bại của các mô hình thực tế của DLCĐ hơn là hiệu quả, kết quả của các bên tham gia trong mô hình
2 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước Trên thế giới, du lịch hiện được xem là một trong những ngành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì những lợi ích to lớn về KT-XH mà nó đem lại Điều này càng thể hiện rõ hơn trước xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá Với sự tăng trưởng liên tục trong nhiều thập kỷ qua, du lịch đã khẳng định là một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh nhất và lớn nhất trên bình diện thế giới, góp phần vào
sự phát triển và thịnh vượng của các quốc gia Trải qua các biến cố, khủng hoảng toàn cầu, du lịch cũng được nhận định là ngành có khả năng phục hồi nhanh nhất
Ở Việt Nam, du lịch đã phát triển mạnh mẽ và đóng góp ngày càng nhiều vào phát triển KT-XH của đất nước Năm 2016, dù còn gặp nhiều khó khăn, du lịch Việt nam vẫn tăng trưởng ngoạn mục, lần đầu đón 10 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 62 triệu lượt khách nội địa, và tổng thu từ khách du lịch đạt 400 nghìn tỷ đồng Năm 2018, lượng khách quốc tế đạt xấp xỉ 15,6 triệu lươt và 82 triệu lượt khách du lịch nội địa, tổng thu
từ khách du lịch đạt hơn 620.000 tỷ đồng Năm 2019, lượng khách quốc tế đạt hơn 18 triệu lượt và 85 triệu lượt khách du lịch nội địa Với sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, mà thể hiện rõ nét nhất ở Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển
du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch Việt nam được kỳ vọng sẽ phát triển đột phá trong thời gian tới
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp to lớn về kinh tế, tốc độ tăng trưởng mạnh
mẽ của ngành du lịch toàn cầu cũng đã có những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và văn hoá ở nhiều nơi Những tác động không mong muốn này đã dẫn đến những
lo ngại ngày càng tăng về việc bảo tồn, giữ gìn tài nguyên để đảm bảo khả năng khai
Trang 1212
thác lâu dài Bởi vậy, từ những năm 1970 của thế kỷ trước, DLCĐ bắt đầu được giới thiệu như là kết quả của việc tìm kiếm loại hình du lịch thay thế cho du lịch đại trà do những tác động không mong muốn của nó đến môi trường, và đáp ứng xu hướng mới của khách du lịch muốn trải nghiệm các giá trị văn hoá bản địa Từ khi xuất hiện, DLCĐ
đã nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới do loại hình này không những mang lại cho du khách những trải nghiệm về giá trị văn hoá của cộng đồng mà còn góp phần nâng cao phúc lợi kinh tế, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hoá, hướng tới sự phát triển bền vững
Tại Việt Nam, DLCĐ cũng đã được phát triển cách đây nhiều năm và ngày càng được quan tâm, khuyến khích Hiện nay, những chính sách về phát triển DLCĐ của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và cụ thể hóa, thể hiện trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với chính sách ưu đãi đối với phát triển du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm và mới đây nhất là Luật Du lịch 2017 (có hiệu lực từ 1/1/2018) lần đầu tiên đưa vào nội dung quy định về phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng Đây được xem là điểm mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với loại hình du lịch này, tạo cơ hội thụ hưởng cho người dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa Theo đó, cá nhân, hộ gia đình nơi phát triển
du lịch cộng đồng được ưu đãi, khuyến khích cung cấp các dịch vụ phục vụ khách du lịch UBND cấp tỉnh có chính sách hỗ trợ về trang thiết bị cần thiết cho cá nhân, hộ gia đình tham gia cung cấp dịch vụ, hỗ trợ xúc tiến sản phẩm Những quy định mới này của Luật Du lịch 2017 nhằm thể hiện rõ hơn vai trò của nhà nước trong việc định hướng cũng như hỗ trợ cộng đồng, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa tham gia phát triển du lịch Rõ rang, đây là những chính sách rất cụ thể, tích cực và là cơ sở để thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng đúng nghĩa ở Việt Nam
Hòa Bình là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển loại hình DLCĐ Du lịch cộng đồng của tỉnh hình thành và phát triển khá sớm, đang mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao đời sống cho người dân địa phương Trong đó phải kể đến Bản Lác, xã Chiêng Châu, huyện Mai Châu là một trong những địa bàn phát triển loại hình du lịch cộng đồng sớm của tỉnh Với cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, nền văn hóa dân tộc Thái có từ lâu đời, bản Lác từ lâu đã được nhiều du khách trong và ngoài nước ghé thăm Không chỉ ở bản Lác, những năm gần đây, khai thác tiềm năng
du lịch sinh thái gắn với du lịch văn hóa, phát triển du lịch cộng đồng đã tạo điều kiện
Trang 1313
cho nhiều hộ dân, đặc biệt là người dân vùng sâu, xa có điều kiện phát triển kinh tế, và tăng thêm thu nhập Theo thống kê chưa đầy đủ, toàn tỉnh có khoảng 142 hộ làm du lịch theo hình thức homestay Nhiều điểm du lịch đã được du khách biết đến và được đánh giá cao như: Điểm du lịch cộng đồng xóm Lác đạt tiêu chuẩn có phòng cho khách du lịch thuê ASEAN, tiêu chuẩn được các nước thành viên trong khối xây dựng và công bố (năm 2016); Năm 2017, diễn đàn du lịch ASEAN trao giải thưởng du lịch dựa vào cộng đồng cho bản Pom Cọong, thị trấn Mai Châu; Homestay Mai Hịch cũng đạt giải thưởng Homestay ASEAN… Trên địa bàn tỉnh còn có nhiều điểm DLCĐ khác như: Xóm Ải,
xã Phong Phú (Tân Lạc) được biết đến là làng Mường cổ nhất của tỉnh còn lưu giữ nhiều phong tục, tập quán, nét đẹp văn hóa truyền thống độc đáo của đồng bào dân tộc Mường
và đã được nhiều khách quốc tế và trong nước tham quan, trải nghiệm…
Với những kết quả đã đạt được, và những lợi thế, tiềm năng vốn có của du lịch Hoà Bình thì việc phát triển loại hình DLCĐ đã và đang là hướng đi đúng, phù hợp với
xu thế phát triển du lịch trên thế giới, đáp ứng nhu cầu của du khách quốc tế muốn tìm hiểu văn hóa dân tộc đặc sắc Có thể khẳng định rằng việc phát triển DLCĐ ở Hoà Bình những năm qua đã có nhiều tác động tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm nguồn sinh kế mới và thu nhập cho người dân
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, phát triển DLCĐ ở Hoà Bình còn nhiều hạn chế, phát triển thiếu bền vững và không như kỳ vọng Nhiều điểm DLCĐ không còn giữ được bản sắc văn hóa, bê tông hóa, môi trường sinh thái xuống cấp, thiếu hoạt động trải nghiệm thực sự cuộc sống của người dân bản địa - một trong những yêu cầu cần phải có đối với du lịch cộng đồng v.v…
Nhận diện những hạn chế nêu trên cũng như nguyên nhân của nó không phải là vấn đề mới mà đã được nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội thảo, hội nghị đưa ra Những nguyên nhân đó có thể là thiếu chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nhận thức chưa đầy đủ về DLCĐ dẫn đến hoạch định sai về chính sách, thiếu nghiên cứu để phát hiện bản sắc văn hóa dân tộc đặc trưng của địa phương để xây dựng các sản phẩm du lịch cộng đồng, thiếu sự quan tâm bảo vệ tài nguyên du lịch – yếu tố quan trọng để hình thành sản phẩm du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng, thiếu sự cân bằng giữa phát triển các ngành kinh tế với du lịch, chưa có sự hỗ trợ thỏa đáng của Nhà nước trong việc tuyên truyền quảng bá, trong việc đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực trong hoạt động
Trang 14Từ những phân tích trên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về hoạt động QLNN đối với phát triển DLCĐ tại Hoà Bình Nghiên cứu sẽ tập trung làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn về QLNN đối với DLCĐ, phân tích thực trạng QLNN đối với DLCĐ, làm
rõ những tồn tại, hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện QLNN đối với phát triển DLCĐ ở Hoà Bình trong thời gian tới để DLCĐ tại đây phát triển bền vững, đúng với bản chất của nó, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng;
- Đánh giá thực trạng về QLNN đối với phát triển DLCĐ tại tỉnh Hoà Bình;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển DLCĐ tại tỉnh Hoà Bình
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến công tác QLNN đối với phát triển DLCĐ vận dụng vào điều kiện thực tế của tỉnh Hòa Bình
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về QLNN đối với phát triển DLCĐ tại tỉnh Hoà Bình, Việt Nam
Thời gian thực hiện nghiên cứu:
Nghiên cứu QLNN đối với phát triển DLCĐ tại tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn từ
2015 - 2019
Trang 1515
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp một số phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu như sau:
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Thu thập dữ liệu thứ cấp về DLCĐ và QLNN đối với phát triển DLCĐ, bao gồm cơ sở
lý thuyết từ các giáo trình, sách chuyên khảo, đề tài NCKH các cấp, bài báo có liên quan
ở trong và ngoài nước
Dữ liệu thứ cấp về thực trạng QLNN đối với phát triển DLCĐ trên địa bàn tỉnh Hoà Bình gồm các nguồn tài liệu như: Các báo cáo, các đề án, dự án, số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch, Bộ VHTTDL, Sở VHTTDL tỉnh Hoà Bình liên quan đến phát triển DLCĐ từ năm 2015-2019; Các văn bản, chính sách liên quan đến phát triển du lịch, DLCĐ ở tỉnh Hoà Bình
Phương pháp xử lý dữ liệu
Sau khi được thu thập, các tài liệu thứ cấp sẽ được phân loại, nghiên cứu, làm nền tảng
và căn cứ cho đề tài tiếp tục phân tích, tổng hợp, so sánh các nội dung liên quan đến QLNN, DLCĐ và QLNN đối với phát triển DLCĐ để đưa ra những đánh giá và rút ra kết luận về các nội dung liên quan đến đề tài
Phương pháp phân tích hệ thống
Được sử dụng để nghiên cứu quan hệ giữa cơ quan QLNN với cộng đồng, quan hệ giữa
cơ quan QLNN với doanh nghiệp kinh doanh DLCĐ và quan hệ giữa cơ quan QLNN với các tổ chức khác có liên quan
Phương pháp chuyên gia
Được sử dụng để lấy ý kiến chuyên gia thông qua phỏng vấn trực tiếp các nhà nghiên cứu, đại diện các hiệp hội du lịch, các chuyên gia thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch Mục đích nhằm thu thập thêm các nhận xét, đánh giá về hoạt động QLNN đối với phát triển DLCĐ ở tỉnh Hoà Bình và kiểm chứng kết quả nghiên cứu khác
6 Những đóng góp của nghiên cứu
Trang 1616
Về mặt thực tiễn:
Kết quả của nghiên cứu sau khi hoàn thành được chuyển giao cho Bộ môn Quản trị Du lịch, Khoa Du lịch, Trường Đại học Mở Hà Nội tham khảo và ứng dụng trong công tác dạy học Đồng thời, những đề xuất giải pháp quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Hoà Bình được chuyển giao Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Hoà Bình tham khảo trong hoạt động QLNN đối với phát triển DLCĐ tại địa phương
7 Bố cục đề tài
Bố cục của đề tài bao gồm các phần chính như sau:
Phần mở đầu
Phần nội dung
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Hòa Bình, Việt Nam
- Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Hoà Bình, Việt Nam
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
~~*~~
Trang 1717
B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.1 Khái quát về du lịch cộng đồng
1.1.1 Khái niệm du lịch
Cho đến nay, có khá nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về du lịch Khái niệm về du lịch được đưa ra đầu tiên ở Anh vào năm 1811: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trình với mục đích giải trí” Khái niệm này nhấn mạnh vào mục đích chính của du lịch là để giải trí, tuy nhiên không đề cập đến các mục đích khác cũng như độ dài của các cuộc hành trình là bao nhiêu thì được coi là hoạt động du lịch
Năm 1963, Hội nghị Liên hợp quốc tế về du lịch họp ở Roma, đã đưa ra định nghĩa:
“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Organnization - IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”
Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) năm 1995 đã đưa ra khái niệm du lịch liên quan đến bản chất của hoạt động du lịch xét từ phía người đi du lịch: “Du lịch là các hoạt động của con người liên quan đến việc dịch chuyển tạm thời của con người đến một điểm đến nào đó bên ngoài nơi mà họ sống và làm việc thường xuyên cho mục đích giải trí,và các mục đích khác”
Tương đồng với hai khái niệm được đưa ra bởi IUOTO và UNWTO, Luật Du lịch
số 09/2017/QH14, ngày 19/06/2017 đã nêu: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” Như vậy, khái niệm du lịch bao gồm hai nội dung chính liên quan đến việc dịch chuyển khỏi nơi cư trú thường
xuyên của con người và mục đích của sự dịch chuyển đó
Trang 1818
1.1.2 Khái niệm du lịch cộng đồng
DLCĐ bắt đầu được giới thiệu trong những năm 1970 như là kết quả của việc tìm kiếm loại hình du lịch thay thế cho du lịch đại trà do những tác động không mong muốn của nó đến môi trường [49, 61, 73] Mặc dù được giới thiệu vào những năm 1970 nhưng khái niệm về DLCĐ chỉ được phổ biến kể từ khi Murphy (1985) trình bày về phương pháp tiếp cận cộng đồng trong phát triển du lịch trong tài liệu “Du lịch- một cách tiếp cận cộng đồng” và sau đó được nghiên cứu bổ sung vào năm 2004 bởi cùng tác giả [62, 63]
Theo Lukhele (2013), DLCĐ là một công cụ để phát triển, khi được sử dụng đúng cách, có thể giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch trong khi tạo thu nhập, đa dạng hóa nền kinh tế, bảo tồn văn hóa, bảo tồn môi trường và cung cấp các cơ hội giáo dục [75] Timothy (2002) mô tả DLCĐ là một hình thức phát triển bền vững hơn so với du lịch đại chúng thông thường vì nó cho phép các cộng đồng bản địa thoát khỏi sự điều hành của các công ty lữ hành và chủ động trong việc sử dụng tài nguyên du lịch [40] Tolkach (2013) cho rằng đặc điểm chính của DLCĐ là sự tham gia của cộng đồng vào quá trình
ra quyết định và cách tiếp cận từ dưới lên (trái ngược với từ trên xuống) là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của loại hình du lịch này [41]
Cụ thể hơn, Potjana Suansri (2003) đưa ra khái niệm: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được quản lý và có bởi chính cộng đồng địa phương, hướng đến mục tiêu bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội Thông qua du lịch cộng đồng, du khách
có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương” [64] Khái niệm này tập trung vào vai trò của cộng đồng và nhấn mạnh mục tiêu của phát triển DLCĐ hướng đến môi trường, văn hoá, xã hội của địa phương và đem lại lợi ích cho du khách trên quan điểm phát triển bền vững
Khái niệm DLCĐ được đề xuất trong Bộ Công cụ quản lý và giám sát du lịch cộng đồng của SNV và Đại học Tổng hợp Hawaii (2007) khá chi tiết: “Du lịch cộng đồng là mội loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến du lịch cộng đồng nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến
du lịch cộng đồng còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương
Trang 19so với các khái niệm khác Khái niệm nhắc đến các bên liên quan chính của DLCĐ bao gồm du khách và cộng đồng địa phương, đồng thời nhấn mạnh lợi ích cũng như trách nhiệm của các bên liên quan Luật Du lịch 2017 của Việt Nam đã đưa ra khái niệm DLCĐ như sau: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi” Như vậy, các khái niệm về DLCĐ có thể khác nhau, tuy nhiên, hầu hết đều thống nhất về bản chất đó là loại hình du lịch do cộng đồng quản lý Đây là điểm khác biệt của DLCĐ so với các loại hình du lịch khác
1.1.3 Đặc điểm và nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng
1.1.3.1 Đặc điểm của du lịch cộng đồng
Từ khái niệm về DLCĐ, tuy có nhiều quan điểm chưa thống nhất nhưng có thể tổng kết một số đặc điểm nổi bật của DLCĐ như sau:
- Hoạt động du lịch có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương từ các khâu quản
lý, hoạt động kinh doanh du lịch, bảo vệ tài nguyên và môi trường… trong đó, cộng đồng địa phương giữ vai trò chính;
- Hoạt động du lịch phải thu hút cộng đồng địa phương và đem lại lợi ích cho họ, tạo cơ hội việc làm và cải thiện điều kiện sống của họ;
- Hoạt động du lịch gắn liền với bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội
1.1.3.2 Nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng
Một số nguyên tắc chủ yếu đối với phát triển DLCĐ bao gồm:
- Có sự đồng thuận của cộng đồng địa phương và các bên tham gia (bao gồm chính quyền địa phương, cơ quan quản lý khác, các doanh nghiệp du lịch, các nhà nghiên cứu, các tổ chức phi lợi nhuận và chính cộng đồng);
Trang 20- Phù hợp với khả năng của cộng đồng Bao gồm khả năng nhận thức về vai trò và vị trí của mình trong việc sử dụng tài nguyên, nhận thức được tiềm năng to lớn của du lịch cho sự phát triển của cộng đồng cũng như biết được các bất lợi từ hoạt động du lịch và khách du lịch đối với tài nguyên cộng đồng Các điều kiện, khả năng tài chính và nhân lực của cộng đồng để đáp ứng các yêu cầu phát triển du lịch;
- Chia sẻ lợi ích từ DLCĐ: Theo nguyên tắc này cộng đồng phải cùng được hưởng lợi như các thành phần khác khi tham gia vào hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch Lợi ích kinh tế từ phát triển du lịch sẽ được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia và một phần dành để tái đầu tư cho cộng đồng về cơ sở hạ tầng
và chăm sóc sức khỏe, giáo dục;
- Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa hướng tới sự phát triển bền vững
1.1.4 Điều kiện cần thiết để phát triển du lịch cộng đồng
DLCĐ được xem là một công cụ quan trọng để phát triển cộng đồng, tuy nhiên, những nghiên cứu về các yếu tố thành công cũng như thất bại của DLCĐ cho thấy, DLCĐ chỉ nên được bắt đầu khi có đủ các điều kiện cần thiết mặc dù việc đáp ứng đầy
đủ các yếu tố này không phải là sự đảm bảo cho thành công của DLCĐ Từ các quan điểm của các nhà nghiên cứu, phân tích các công trình nghiên cứu về các yếu tố quyết định thành công của DLCĐ, điều kiện tối thiểu để phát triển du lịch cộng đồng có thể được xem xét như sau:
a) Có tài nguyên du lịch
Trang 2121
Đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định, vì tài nguyên du lịch chính là tiền đề hay
cơ sở để tổ chức các hoạt động du lịch
Theo Luật Du lịch 2017, tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên
và tài nguyên du lịch văn hoá Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống,
lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch
Mức độ thu hút khách của một khu vực phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, chủng loại, tính độc đáo của nguồn tài nguyên Sự đa dạng của tài nguyên du lịch sẽ tạo nên
sự đa dạng của sản phẩm du lịch Các loại hình du lịch ra đời đều dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch DLCĐ muốn phát triển cũng không nằm ngoài quy luật này Đồng thời, khả năng duy trì và phát triển nguồn khách phụ thuộc vào vai trò của cộng đồng dân cư
ở địa phương trong việc bảo tồn, tôn tạo giá trị của tài nguyên trong vùng
b) Có cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng có vai trò đặc biệt đối với việc phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng Một nghiên cứu được thực hiện bởi Lukhele ở Swaziland, Châu Phi (2013) cho thấy các dự án DLCĐ nằm ở khu vực nông thôn hẻo lánh với những con đường ngoằn nghèo rất khó đón được khách du lịch, đặc biệt trong mùa mưa [75] Theo Johnson (2010), sự phát triển DLCĐ ở khu vực nông thôn bị hạn chế nhiều là do thiếu cơ sở hạ tầng [61] Cơ sở hạ tầng đối với phát triển DLCĐ bao gồm hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước…
Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi nhất định, bởi vậy, dù có tài nguyên du lịch hấp dẫn, song điểm đến vẫn khó khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông Thông tin liên lạc là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế Các công trình cung cấp điện, nước cũng là yếu tố hạ tầng thiết yếu đối với phát triển du lịch phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giải trí của khách
c) Sự sẵn sàng của cộng đồng dân cư
DLCĐ chỉ có thể phát triển được ở những nơi có cộng đồng dân cư địa phương sinh sống hoặc liền kề với khu vực phát triển du lịch Tuy nhiên, các hoạt động du lịch cộng đồng không thể phát triển nếu cộng đồng địa phương không sẵn sàng tham gia và
Trang 2222
hỗ trợ các hoạt động đó Cộng đồng dân cư đóng vai trò chủ thể trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch Họ là người quyết định sự tồn tại và phát triển của DLCĐ Họ vừa là chủ thể cung cấp dịch vụ du lịch vừa là người quản lý, họ cũng chính là người bảo vệ tài nguyên du lịch
Ngoài ra, cộng đồng phải đoàn kết, gắn bó, hợp tác với nhau để tổ chức các hoạt động du lịch Bên cạnh đó, đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng cần phải có đủ điều kiện để đầu tư cho hoạt động du lịch Chính vì vậy, đặc điểm, phong tục tập quán, lối sống, trình độ học vấn, quy mô cộng đồng, cơ cấu nghề nghiệp là những tham số cần được xác định rõ ràng khi phát triển DLCĐ
d) Có sự hỗ trợ của các bên liên quan
DLCĐ thường được phát triển ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Cộng đồng dân cư ở các khu vực này thường không thể tự phát triển du lịch nếu không có sự
hỗ trợ của nhiều bên Chính vì vậy, sự hỗ trợ của các bên liên quan như nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức hỗ trợ phát triển và các cơ quan liên quan khác là điều kiện hết sức cần thiết để phát triển DLCĐ Giampiccoli và Mtapuri (2017) đã chỉ ra sự hỗ trợ của các bên liên quan, đặc biệt là từ nhà nước, là một yếu tố thiết yếu của sự thành công trong phát triển DLCĐ [35] Vajirakachorn (2011) trong nghiên cứu về DLCĐ của Thái Lan
đã xác định 10 tiêu chí quan trọng để DLCĐ thành công mà một trong số đó là có sự hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng [78]
Trong phát triển DLCĐ, nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để tạo
ra một môi trường thuận lợi, hỗ trợ về hạ tầng, xúc tiến quảng bá… Bên cạnh đó, nhà nước có vai trò thúc đẩy, tạo ra một môi trường kinh doanh mà ở đó các bên liên quan
có thể tham gia, tiếp cận với thông tin, với thị trường, đầu tư một cách hiệu quả thông qua các khung pháp lý phù hợp
Các doanh nghiệp có thể tiếp cận với thị trường, am hiểu về khách hàng cũng như các kênh tiếp thị có lợi trực tiếp cho cộng đồng Doanh nghiệp cũng có thể đầu tư vốn vào sự phát triển du lịch tại nơi triển khai DLCĐ Doanh nghiệp không chỉ tham gia vào quá trình hoạt động mà còn có thể có mặt ở những giai đoạn sớm hơn như quá trình chuẩn bị và quy hoạch, nhằm thiết kế và phát triển sản phẩm du lịch có thể đáp ứng được nhu cầu của du khách – những người sẽ đóng góp về tài chính cho cộng đồng
Các tổ chức hỗ trợ phát triển có thể là các tổ chức phi chính phủ trong hoặc ngoài nước, hỗ trợ về mặt chuyên môn và có thể cả về mặt tài chính cho cộng đồng Các tổ
Trang 23Ngoài ra, khách du lịch sử dụng các dịch vụ du lịch của cộng đồng địa phương
là động cơ thúc đẩy nhận thức về du lịch của cộng đồng, tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia hoạt động du lịch tích cực hơn
1.2 Quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước
Thuật ngữ QLNN được sử dụng phổ biến ở Việt Nam với nhiều cách tiếp cận khác nhau và đã được đưa ra trong nhiều giáo trình về quản lý nhà nước Một trong những khái niệm chung nhất về QLNN được đưa ra bởi Nguyễn Hữu Hải (2012) như sau:
“QLNN là thuật ngữ chỉ sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước,
bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước” [11] Như vậy, QLNN được xem là một hoạt động chức
năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn
bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp Dưới góc độ kinh tế, theo Đỗ Hoàn Toàn và Mai Văn Bưu (2005) trong giáo
trình “Quản lý nhà nước về kinh tế”: “QLNN về kinh tế là tổng thể những phương thức
quản lý có chủ đích của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó để thực hiện các mục tiêu nhất định” [28]
1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch
Vận dụng những khái niệm về QLNN, QLNN về kinh tế và khái niệm, đặc điểm của hoạt động du lịch, nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về QLNN về du lịch nói chung
và QLNN địa phương về du lịch Theo Đinh Thị Thuỳ Liên (2016), “Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước (qua
hệ thống pháp luật) đối với các quá trình, hoạt động du lịch của con người để duy trì và
Trang 2424
phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch trong nước và quốc tế nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội đặt ra” [12] Còn theo Trần Như Đào (2017), “Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh liên tục bằng quyền lực công cộng chủ yếu thông qua pháp luật dựa trên nền tảng của thể chế chính trị nhất định đối với các quá trình, các hoạt động du lịch nhằm đạt được hiệu quả và mục tiêu kinh tế -
xã hội do nhà nước đặt ra” [8] Theo Ngô Nguyễn Hiệp Phước (2018), QLNN về du lịch cấp thành phố trực thuộc trung ương đó là sự tác động của chính quyền thành phố tới hoạt động du lịch theo phân cấp chức năng, nhiệm vụ quản lý tới hoạt động du lịch để đạt mục tiêu KT-XH của địa phương và quốc gia đề ra trong từng giai đoạn [19] Khái niệm này cũng có thể sử dụng được đối với QLNN về du lịch cấp tỉnh nói chung
1.2.3 Khái niệm quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng
Phát triển DLCĐ là phát triển một loại hình du lịch nên cũng là đối tượng QLNN về du lịch Từ khái niệm về DLCĐ cho thấy điểm khác biệt của DLCĐ so với các loại hình du lịch khác là DLCĐ do cộng đồng quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi DLCĐ không phải là một lĩnh vực hoạt động du lịch riêng biệt mà là hoạt động du lịch dưới sự quản lý của cộng đồng Như vậy, QLNN đối với phát triển DLCĐ chính là hoạt động QLNN về du lịch có gắn với các đặc trưng của DLCĐ và phát triển DLCĐ như đã nghiên cứu ở trên Với quan điểm này, QLNN đối với phát triển DLCĐ được hiểu là quá trình nhà nước sử dụng các công cụ quản lý của mình để tác động lên quá trình phát triển DLCĐ nhằm đạt được các mục tiêu phát triển du lịch đã đặt ra
Hoạt động QLNN đối với phát triển DLCĐ có các đặc trưng cơ bản sau:
- Có liên quan đến lợi ích và sự tham của nhiều chủ thể (các bộ ngành Trung ương, địa phương, các doanh nghiệp, các tổ chức phát triển), có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực (nông nghiệp và phát triển nông thôn, môi trường…);
- Chịu tác động của nhiều nhân tố: Chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ, đầu tư, an ninh, quốc phòng ;
- QLNN đối với phát triển DLCĐ mang tính tổng hợp, cần có sự phối hợp liên ngành, liên vùng Điều này xuất phát từ đặc điểm đặc trưng của ngành du lịch (là ngành kinh tế
có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao), liên quan đến lợi ích và sự tham gia của nhiều chủ thể Bên cạnh đó, hoạt động du lịch nói chung và hoạt động DLCĐ nói riêng
là một hoạt động phức tạp, gắn với sự hiện diện của du khách mà phần lớn đến từ địa
Trang 2525
phương khác, nước khác Bởi vậy, hoạt động quản lý ở đây phải mang tính tổng hợp để điều phối, và tạo sự phát triển hài hòa
1.2.4 Vai trò của quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng
DLCĐ có thể được coi là một công cụ góp phần xoá đói, giảm nghèo Phát triển DLCĐ đòi hỏi một cách tiếp cận lâu dài và hướng tới mục đích tối đa hóa lợi ích cho cộng đồng địa phương và hạn chế các tác động tiêu cực của du lịch đối với cộng đồng
và tài nguyên, môi trường của họ Chính vì vậy, phát triển DLCĐ không chỉ đòi hỏi nỗ lực của Nhà nước mà còn cần có sự tham gia của các chủ thể khác (cá nhân, tổ chức, cộng đồng) Tuy nhiên, Nhà nước phải giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển DLCĐ Nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước cũng đã chỉ ra vai trò quan trọng của Nhà nước đối với phát triển DLCĐ [1, 2, 36, 49, 50, 78, 87]
QLNN đối với phát triển DLCĐ là một yêu cầu cấp thiết, có tính khách quan, do phải đảm bảo nhiều yếu tố khi phát triển như: Nâng cao đời sống cộng đồng; Đảm bảo
an ninh quốc phòng; Bảo vệ tài nguyên và môi trường, đặc biệt là các giá trị văn hoá bản địa… Những nội dung này được thể hiện trên các phương diện sau:
Thứ nhất, Nhà nước với vai trò là chủ thể quản lý xã hội, có đủ nguồn lực, năng lực để tổ chức phát triển DLCĐ Thực tế, DLCĐ thường được phát triển ở các vùng sâu, vùng xa, nơi mà điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn Bởi vậy, mặc dù có nhiều chủ thể cùng tham gia phát triển DLCĐ, Nhà nước phải giữ vai trò chính trong việc hỗ trợ, đầu tư và điều tiết các hoạt động phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển DLCĐ nói riêng để đảm bảo các mục tiêu đề ra
Thứ hai, Nhà nước là chủ thể chính trong quá trình hoạch định, thực thi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật về phát triển du lịch nói chung và phát triển DLCĐ nói riêng Đây là vai trò gắn liền với chức năng thuộc về bản chất của nhà nước Chính sách, pháp luật của nhà nước, tạo dựng môi trường thuận lợi và an toàn để phát triển DLCĐ Ngoài ra, sự quản lý nhà nước còn tạo điều kiện cho DLCĐ phát triển như các vấn đề về hợp tác quốc tế; giải quyết, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các bên liên quan trong quá trình hoạt động Những điều này chỉ có nhà nước mới có thể đảm nhận
Thứ ba, QLNN đảm bảo phát triển DLCĐ theo đúng định hướng Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nếu buông lỏng QLNN để tự nó phát triển, hoạt động du lịch sẽ bị chệch hướng, thị trường bị lũng đoạn, tài nguyên du lịch bị khai
Trang 26cơ chế chính sách, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc phát triển DLCĐ
Thứ tư, QLNN đảm bảo hạn chế những yếu tố tiêu cực từ phát triển DLCĐ Quản
lý nhà nước giúp hạn chế những yếu tố tiêu cực có thể phát sinh từ hoạt động DLCĐ ở các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Quản lý nhà nước về phát triển DLCĐ sẽ giúp tối đa hoá các nguồn lực của địa phương, khai thác hiệu quả và bền vững các tài nguyên du lịch, định hướng cho các hoạt động DLCĐ phát triển theo hướng tích cực Quản lý nhà nước giúp kiểm tra, giám sát các chủ thể kinh doanh DLCĐ hoạt động trong khuôn khổ cho phép, góp phần xoá bỏ các hành vi tiêu cực như: cạnh tranh không lành mạnh, thiếu văn minh, vì lợi nhuận trước mắt mà huỷ hoại môi trường sinh thái, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực với xã hội
Vì những lý do trên, QLNN đối với phát triển DLCĐ là một yêu cầu tất yếu để duy trì, đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng
1.2.5 Nội dung quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng
Tại Việt Nam, nội dung QLNN về du lịch được quy định trong Luật Du lịch 2017 Theo đó, trách nhiệm QLNN về du lịch được nêu trong điều 73, 74 và 75 Theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là
cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch với nhiệm vụ và quyền hạn được nêu trong 10 điểm của khoản 2, điều 73 Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương (điều 75, Luật
Du lịch 2017) Trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch của Bộ, cơ quan ngang Bộ được quy định cụ thể tại điều 74
Nội dung QLNN đối với phát triển DLCĐ là cụ thể hoá nội dung QLNN về du lịch
đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của mỗi quốc gia, bao gồm các nội dung sau:
Trang 2727
1.2.5.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng
Công tác xây dựng và thực thi các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về phát triển
du lịch có ý nghĩa quan trọng, định hướng cho sự phát triển của du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng Trước hết, đó là sự thể hiện quan điểm mang tính tổng thể của Đảng
và Nhà nước về phát triển du lịch của đất nước, của từng vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn; trong đó, DLCĐ là một loại hình du lịch được đặt trong tổng thể phát triển du lịch, chịu ảnh hưởng từ các chiến lược, quy hoạch, và kế hoạch phát triển du lịch
- Chiến lược phát triển du lịch: Cho đến thời điểm hiện tại chưa có văn bản pháp lý quy định khái niệm chiến lược Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu: Chiến lược là tập hợp các quan điểm, mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó Dựa trên quan điểm này, chiến lược phát triển du lịch
có thể được hiểu là định hướng phát triển du lịch của một lãnh thổ, trong một thời kỳ tương đối dài với các mục tiêu tổng quát, cụ thể và hệ thống các giải pháp nhằm huy động tối đa các nguồn lực và tổ chức thực hiện trong thực tiễn để thực hiện các mục tiêu phát triển du lịch mà Nhà nước đã đặt ra
- Quy hoạch phát triển du lịch: Ở Việt Nam, Luật Du lịch 2017 không đưa ra khái niệm về quy hoạch du lịch mà chỉ đưa ra nguyên tắc và nội dung lập quy hoạch du lịch Theo Luật Quy hoạch 2017: Quy hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định Dựa trên khái niệm này và những quy định của Luật Du lịch 2017 có thể hiểu Quy hoạch phát triển du lịch là việc luận chứng, lựa chọn phương án phát triển, tổ chức không gian hoạt động du lịch, bố trí kết cấu hạ tầng du lịch trên phạm vi lãnh thổ, bố trí cơ sở vật chất - kỹ thuật
du lịch, trong thời gian nhất định, nhằm phát triển du lịch bền vững
Theo quy định hiện nay của Luật Quy hoạch 2017, hệ thống quy hoạch quốc gia bao gồm: Quy hoạch cấp quốc gia; Quy hoạch vùng; Quy hoạch tỉnh; Quy hoạch đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; Quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn Theo quy định này, chỉ có Quy hoạch phát triển du lịch cấp quốc gia mà không có quy hoạch du lịch cấp tỉnh (nội dung phát triển du lịch sẽ được tích hợp trong quy hoạch tỉnh)
Trang 2828
- Kế hoạch phát triển du lịch: Là các kế hoạch cụ thể nhằm chi tiết hóa các chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch Các kế hoạch phát triển du lịch bao gồm hai loại kế hoạch chủ yếu: kế hoạch trung hạn, kế hoạch hàng năm
Kế hoạch trung hạn: (Bao gồm các kế hoạch 3 năm, 5 năm) là phương tiện chủ yếu
để cụ thể hoá các mục tiêu và các giải pháp đã được lựa chọn trong chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch Kế hoạch trung hạn thường là các kế hoạch 5 năm, trong đó chỉ
rõ các mục tiêu và giải pháp cụ thể để triển khai chiến lược, và quy hoạch phát triển du lịch
Kế hoạch hàng năm là sự cụ thể hóa của kế hoạch trung hạn nhằm thực hiện nhiệm
vụ phát triển du lịch của kế hoạch trung hạn Kế hoạch hàng năm được xây dựng căn cứ vào mục tiêu, định hướng chiến lược, vào phương pháp, nhiệm vụ của kế hoạch trung hạn
Ở Việt Nam, đến thời điểm này, việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch mới chỉ thực hiện ở cấp quốc gia (Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam) và đã có hai bản chiến lược được xây dựng (năm 2001 và năm 2012) Trước thời điểm Luật Quy hoạch
2017 có hiệu lực, quy hoạch phát triển du lịch được thực hiện ở 3 cấp: quốc gia, vùng
và cấp tỉnh, trong đó quy hoạch phát triển du lịch quốc gia và vùng do Bộ VHTTDL lập,
và quy hoạch du lịch cấp tỉnh do địa phương lập Kế hoạch phát triển du lịch được thực hiện ở tất cả các cấp lãnh thổ
Nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển DLCĐ
ở cấp quốc gia hoặc thấp hơn [38, 44, 50, 58, 82] Tuy nhiên, Việt Nam, cho đến nay, chưa xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển DLCĐ ở tất cả các cấp lãnh thổ Các nội dung về phát triển DLCĐ được lồng ghép trong chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch Những năm gần đây, nhiều địa phương có xây dựng đề án phát triển DLCĐ với mục đích thúc đẩy phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng trên địa bàn Các đề
án này thường được UBND cấp tỉnh phê duyệt và giao Sở Du lịch/Sở VHTTDL triển khai thực hiện Nhìn chung, phát triển DLCĐ dù là một nội dung trong chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch chung hay được xây dựng trong đề án riêng thì việc định hướng phát triển nó phải có mục tiêu rõ ràng và đảm bảo theo các nguyên tắc của DLCĐ, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, từng cộng đồng, đồng thời cân đối đủ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu Bên cạnh đó, việc xây dựng chiến lược/quy hoạch phát triển DLCĐ cần có sự tham gia của các tổ chức liên quan và chính cộng đồng địa
Trang 2929
phương, nơi dự kiến phát triển DLCĐ MacIntyre (1995) (được trích dẫn trong [61]) đã chỉ ra một vấn đề cốt lõi cho việc lập quy hoạch phát triển DLCĐ là phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội địa phương, với đặc điểm và giá trị văn hoá cộng đồng địa phương và phù hợp với các xu hướng phát triển du lịch của quốc gia, quốc tế
Với những phân tích trên đây, việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển DLCĐ có thể được hiểu là việc xây dựng và tổ chức thực hiện các nội dung về phát triển DLCĐ trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
cá nhân kinh doanh du lịch; ưu tiên bố trí kinh phí cho các hoạt động như: Điều tra, đánh giá, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch; Lập quy hoạch về du lịch; Xúc tiến du lịch, xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia, địa phương; Xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch Bên cạnh đó, các hoạt động như sử dụng nhân lực du lịch tại địa phương; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch; ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại phục vụ quản lý và phát triển du lịch… được khuyến khích, hỗ trợ Trên cơ sở các quy định chung của nhà nước về phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng, các địa phương có thể cụ thể hoá các quy định này để phù hợp với đặc thù của từng địa phương trong quản lý phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng DLCĐ thường được phát triển ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện
hạ tầng thường hạn chế Hệ thống kết cấu hạ tầng là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng Vì vậy, để phát triển DLCĐ, Nhà nước cần có chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng như mở rộng đường giao thông, xây dựng hệ thống điện, cung cấp nước sạch, phát triển hệ thống thông tin liên lạc
Trang 3030
Chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư về du lịch, ngoài Luật Du lịch, liên quan đến nhiều nội dung và nằm trong hệ thống văn bản pháp quy hiện hành như Luật Đầu tư, Luật Đất đai… và các văn bản dưới luật Các chính sách này liên quan đến ưu đãi về đất đai, ưu đãi về hạ tầng kỹ thuật, vốn tín dụng… và các hỗ trợ khác Những chính sách này nhằm tạo điều kiện cho cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch tham gia đầu
tư phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng
Chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng bao gồm các nội dung như hỗ trợ đào tạo kiến thức kỹ năng làm du lịch, trang thiết bị cần thiết ban đầu cho cá nhân, hộ gia đình trong cộng đồng tham gia cung cấp dịch vụ du lịch; hỗ trợ xúc tiến sản phẩm
du lịch cộng đồng Đây là các nội dung hỗ trợ cần thiết bởi thực tế cộng đồng ở các khu vực phát triển DLCĐ thường có điều kiện kinh tế, dân trí thấp; nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức khác thì việc tham gia vào các hoạt động du lịch là rất khó khăn Ngoài các nội dung trên, việc hỗ trợ của nhà nước trong việc tôn tạo di tích văn hóa lịch sử, các công trình kiến trúc, cảnh quan du lịch cũng rất cần thiết để tăng cường khả năng thu hút khách du lịch nói chung thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động DLCĐ nói riêng
Ngoài các chính sách nêu trên, các chính sách liên quan khác như tạo điều kiện để người dân tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển, tạo điều kiện tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác… là hết sức cần thiết để hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng
- Các quy định về phát triển DLCĐ:
Các quy định liên quan đến phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng được thể hiện trong Luật Du lịch, các văn bản hướng dẫn thi hành luật và các văn bản pháp quy khác có liên quan như: bảo vệ môi trường du lịch, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch, cấp phép hoạt động kinh doanh lữ hành, cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch; công nhận khu, điểm du lịch và cấp phép các loại dịch vụ phục vụ khách du lịch như ăn uống, mua sắm, vui chơi giải trí, dịch vụ chăm sóc sức khỏe…
Các cơ sở lưu trú tại các điểm DLCĐ thường là nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay) Việt Nam hiện nay đã ban hành TCVN 7800:2017 qui định các yêu cầu cho nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, có thể được áp dụng khi thiết kế xây dựng mới, cải tạo nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê
Trang 3131
1.2.5.3 Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng
Để thực hiện mục tiêu của phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng, nhà nước cần xây dựng, củng cố và tăng cường sức mạnh của bộ máy quản lý nhà nước với nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức phù hợp Việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý phải tương thích với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Tổ chức bộ máy nhà nước quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch phụ thuộc vào tư duy, mô hình, phương thức quản lý nhà nước Với tư duy quản lý tập trung, nhà nước có thể thiết lập các cơ quan quản lý nhà nước để bao quát toàn diện các hoạt động du lịch, trong đó có DLCĐ
Trên góc độ khoa học hành chính, các nguyên tắc chung trong xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý là: i) có sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý với tính phức tạp của chức năng, nhiệm vụ quản lý, tính đa dạng của các mục tiêu quản lý, quy mô và
độ phức tạp của đối tượng quản lý với các điều kiện quản lý; ii) phạm vi quản lý hiệu quả, khả năng quản lý được; iii) sự tương xứng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm; iv)
sự linh hoạt và thích nghi, đáp ứng yêu cầu quản lý sự thay đổi
Trên cơ sở các nguyên tắc chung đó, bộ máy QLNN đối với các hoạt động du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng phải được tổ chức thành hệ thống các cơ quan nhà nước
từ Trung ương đến địa phương cơ sở, tạo thành một chỉnh thể đồng bộ để thực hiện chức năng quản lý nhà nước Du lịch là ngành kinh tế, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao Bên cạnh đó, phát triển DLCĐ liên quan đến trao quyền tự chủ cho cộng đồng,
do vậy việc tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng cần phải xem xét tính đặc thù của nó, cần lồng ghép thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo an sinh xã hội ở nông thôn, nơi phát triển các hoạt động DLCĐ
Hoạt động của bộ máy phải bảo đảm kết hợp hài hoà lợi ích giữa Trung ương và địa phương, giữa trước mắt và lâu dài, kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, phát huy sức mạnh tổng hợp trong quản lý, tăng cường vai trò và quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đang tiến hành sắp xếp lại các cơ quan QLNN, đổi mới thể chế và thủ tục hành chính Vì thế, bộ máy QLNN về du lịch ở các địa phương
có thể thay đổi theo hướng có cơ quan tham mưu riêng về quản lý du lịch (Sở Du lịch) hoặc cơ quan tham mưu đa ngành, trong đó có du lịch (Sở VHTTDL) cho UBND cấp
Trang 3232
tỉnh Do tính đặc thù của ngành du lịch, dù bộ máy QLNN được tổ chức ở dạng nào, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành du lịch cần phải được tăng cường đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ, tin học và đặc biệt kiến thức về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế nói chung và du lịch nói riêng
1.2.5.4 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong phát triển du lịch cộng đồng
Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm là một chức năng quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước, nhằm phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, những thiếu sót trong trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; qua đó áp dụng các biện pháp xử lý, khắc phục những thiếu sót nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng suy cho cùng mục đích của việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm là phát hiện hoặc phòng ngừa những vi phạm, góp phần thúc đẩy và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động quản lý nhà nước Trong phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng, có sự tham gia cộng đồng
và nhiều thành phần kinh tế Việc phát sinh các hành vi tiêu cực như khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch không lành mạnh, trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương đề có thể xảy ra Do đó, công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với hoạt động du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng nhằm phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra cần được thực hiện thường xuyên
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật trong phát triển
du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng được thực hiện nhằm các mục đích:
Thứ nhất, thông qua hoạt động này để đánh giá về hiệu lực, hiệu quả thể chế quản
lý nhà nước đối với phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng Kiểm tra, thanh tra, giám sát giúp các cơ quan quản lý nhà nước có thông tin về tính hợp lý, tính khả thi của các quy định pháp luật Sự phản hồi từ thực tiễn là cơ sở để hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra, giám sát phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật trong phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng như: các hoạt động kinh doanh
du lịch; việc thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch Cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát tạo ra áp lực đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng và các chủ
Trang 33- Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển DLCĐ
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ môi trường du lịch trong phát triển DLCĐ
- Xử lý các vi phạm về đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với phát triển DLCĐ
1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng
1.2.6.1 Các yếu tố khách quan
a) Các yếu tố về tự nhiên, văn hoá và kinh tế -xã hội
- Các yếu tố tự nhiên:
Các yếu tố tự nhiên như địa hình, khí hậu, đa dạng sinh học…có ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng Nếu các điều kiện trên thuận lợi, cơ quan QLNN sẽ nghiên cứu lập kế hoạch, quy hoạch để phát triển sản phẩm DLCĐ Tuy nhiên, ngoài việc xem xét phát triển các sản phẩm du lịch thích hợp, nếu điều kiện địa hình khó khăn, cơ quan QLNN phải tính toán các yếu tố về an toàn cho khách du lịch, phải tính toán bảo vệ tài nguyên nói chung và hệ sinh thái nói riêng nếu có yếu tố đa dạng sinh học, tính toán đến yếu tố an ninh quốc phòng đặc biệt đối với khu vực gần biên giới…
- Các yếu tố kinh tế -xã hội và văn hoá:
Mỗi địa phương, vùng miền có các đặc thù của nhóm dân cư, các tầng lớp trong
xã hội, điều kiện KT-XH khác nhau Do vậy, QLNN đối với phát triển DLCĐ cần căn
cứ trên thực tiễn này để đưa ra những quyết định phù hợp nhất Những khu vực mà cộng đồng có trình độ dân trí thấp thì việc tuyên truyền, hướng dẫn người dân trong công việc tham gia các dịch vụ phục vụ khách du lịch cần được tăng cường hơn những khu vực khác Những khu vực có hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc, dịch vụ, thương mại phát triển thì phát triển DLCĐ sẽ tập trung nhiều vào phát triển sản phẩm, đào tạo, xúc tiến… b) Bối cảnh và xu hướng phát triển du lịch trong nước và trên thế giới
Trang 3434
Bối cảnh và xu hướng phát triển du lịch trong nước và trên thế giới có ảnh hưởng đến phát triển DLCĐ nói chung và QLNN đối với phát triển DLCĐ Ở Việt Nam, du lịch đang trên đà phát triển mạnh, Nhà nước có chính sách huy động mọi nguồn lực cho phát triển du lịch để bảo đảm du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Bên cạnh đó, khu vực nông thôn sẽ được đẩy mạnh phát triển du lịch trong thời gian tới
để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp và thu nhập cho người dân nông thôn Đây được coi là một giải pháp để xây dựng nông thôn mới, không chỉ là một công cụ để xóa đói giảm nghèo, mà còn để đa dạng hóa thu nhập cho người dân nông thôn và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, cảnh quan môi trường sinh thái
1.2.6.2 Các yếu tố chủ quan
a) Về thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong QLNN đối với phát triển DLCĐ vì nó tạo hành lang pháp lý cho hoạt động này phát triển Nó là căn cứ để xác lập mức độ và phạm vi can thiệp của Nhà nước đối với hoạt động này Sự can thiệp của Nhà nước vào phát triển DLCĐ thể hiện qua những chương trình, chiến lược, kế hoạch quản
lý vĩ mô, qua hệ thống pháp luật Nghiên cứu, đánh giá tình hình phát triển DLCĐ, xây dựng mục tiêu, đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp, xác định các dự án để phát triển DLCĐ… Bên cạnh đó, du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành Bởi vậy, nếu các cơ quan QLNN có sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, chặt chẽ thì hiệu lực của QLNN về du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng sẽ cao hơn
b) Về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực
Bộ máy QLNN và nguồn nhân lực có thể coi là những vấn đề có cốt lõi cho phát triển du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng ở Việt Nam hiện nay Việc nghiên cứu kiện toàn tổ chức bộ máy QLNN về du lịch từ trung ương đến địa phương là hết sức cần thiết; một mặt, phải có sự nghiên cứu kiện toàn tổ chức đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2050 với cách nhìn nhận toàn diện có tính dự báo, bảo đảm sự phù hợp của tổ chức bộ máy ngành trong từng giai đoạn; mặt khác, trước mắt cần có sự nghiên cứu thấu đáo về các bất cập trong bộ máy QLNN đối với phát triển du lịch để từ đó xây dựng được mô hình một đơn vị quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, giải quyết cơ bản tình trạng bỏ sót, trùng chéo, phân định rõ trách nhiệm, chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn giữa ngành du lịch với các ngành khác
Trang 3535
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã tập hợp và hệ thống hoá các lý luận cơ bản liên quan đến du lịch cộng đồng bao gồm khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng cũng như các điều kiện để phát triển DLCĐ Bên cạnh đó, chương 1 đã làm rõ các nội dung lý thuyết liên quan đến nội dung quản lý nhà nước về du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước đối với phát triển DLCĐ gồm: xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển phát triển DLCĐ; xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển phát triển DLCĐ; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
và xử lý vi phạm trong hoạt động của phát triển DLCĐ; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với phát triển DLCĐ Đây là tiền đề quan trọng để chương 2 tiếp tục nghiên cứu về thực trạng QLNN đối với phát triển DLCĐ tại tỉnh Hoà Bình
~~*~~
Trang 3636
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU
LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH HÒA BÌNH, VIỆT NAM
2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng của một số địa phương cấp tỉnh
2.1.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng của tỉnh Mae Hong Son, Thái Lan – Sự tham gia của nhiều bên và vai trò điều phối của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch [43, 60, 83, 84, 87]
- Giới thiệu chung về tỉnh Mae Hong Son:
Mae Hong Son là một tỉnh miền núi ở phía Bắc của Thái Lan, cách Bangkok khoảng
924 km Diện tích của tỉnh khoảng 12.780 km2, là tỉnh lớn thứ ba của miền Bắc Thái Lan và là tỉnh lớn thứ tám của Thái Lan Về phía đông, Mae Hong Son giáp với tỉnh Chiang Mai - một trung tâmn du lịch lớn nhất khu vực miền bắc của Thái Lan Ở phía nam, Mae Hong Son giáp với tỉnh Tak Ở phía Tây và phía Bắc, tỉnh có đường biên giới với Cộng hòa Liên bang Myanmar
- Bộ máy tổ chức quản lý du lịch tỉnh Mae Hong Son:
Về quản lý nhà nước, Sở Du lịch và Thể thao tỉnh Mae Hong Son là cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm hoạch định chiến lược phát triển du lịch của tỉnh và giám sát việc thực hiện phát triển du lịch của tỉnh; điều phối quan hệ giữa khu vực công và tư nhân trong phát triển du lịch của tỉnh Bên cạnh Sở Du lịch và Thể thao, còn có Văn phòng đại diện của Tổng cục Du lịch Thái Lan tại Mae Hong Son chịu trách nhiệm trực tiếp việc quảng
bá và xúc tiến du lịch cho tỉnh Mae Hong Son Ngoài 2 tổ chức trên, còn có các tổ chức khác chịu trách nhiệm gián tiếp trong phát triển du lịch của Mae Hong Son như Sở Phát triển Cộng đồng, Sở Nội vụ và Thương mại, Sở Văn hóa, Sở Khuyến nông…
- Kế hoạch, chiến lược và ngân sách phát triển du lịch của tỉnh Mae Hong Son:
Du lịch luôn là một trong những lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của tỉnh Mae Hong Son, thể hiện qua tầm nhìn trong kế hoạch phát triển KT-XH của tỉnh: Mae Hong Son là một thành phố du lịch - Phát triển bền vững - Phát triển để nâng cao chất lượng cuộc sống - Phát triển dựa trên khái niệm nền kinh tế tự cung tự cấp Mae Hong Son xây dựng các kế hoạch phát triển du lịch 3 năm hoặc 5 năm trên cơ
Trang 37o Nâng cấp các điểm du lịch hiện có và phát triển các điểm du lịch mới
o Phát triển nguồn nhân lực
Mặc dù mang tên Kế hoạch phát triển du lịch của tỉnh, song về nội dung, các kế hoạch này chủ yếu tập trung cho phát triển DLCĐ Điều này cũng là phù hợp bởi người dân ở Mae Hong Son chủ yếu sống ở nông thôn
Tổng ngân sách phân bổ cho phát triển du lịch hàng năm của Mae Hong Son là khoảng 1 tỷ baht (tương đương 730 tỷ đồng), chiếm khoảng 10% ngân sách của tỉnh, trong đó, phát triển các điểm du lịch nói chung và du lịch cộng đồng chiếm khoảng 60%, phát triển nhân lực 10%, phát triển hạ tầng 5%, bảo vệ môi trường 2,5% Tuy nhiên,
số kinh phí này phân bổ cho cả cơ quan trực tiếp quản lý về du lịch và các cơ quan có liên quan phát triển du lịch của tỉnh Theo đó, Sở Du lịch và Thể thao chỉ nhận khoảng 95,4 triệu baht (tương đương khoảng 70 tỷ đồng)
- Phát triển DLCĐ của tỉnh Mae Hong Son:
Hoạt động du lịch cộng đồng ở Mae Hong Son được bắt đầu hình thành tự phát vào những năm 1970 khi một số công ty tư nhân tổ chức các tour du lịch dọc theo sông Pai (cưỡi voi, đi bè trên sông, leo núi) và ở lại qua đêm tại các làng của người Shan, Lisu, Karen hoặc làng Hmong Dân làng cũng cung cấp một loạt các dịch vụ khác cho khách
du lịch, mặc dù trên một quy mô nhỏ, ví dụ như hướng dẫn địa phương, khuân vác Mae Hong Son chính thức được đưa vào chương trình quảng bá và phát triển du lịch của Thái Lan vào năm 1987 với việc thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH quốc gia lần thứ
6 (1987-1991) Giai đoạn này, Mae Hong Son đã được quảng bá rầm rộ như một điểm đến du lịch mới, nhiều tiềm năng Chính vì vậy, lượng khách du lịch Thái Lan và nước ngoài đến Mae Hong Son ngày một tăng
Tuy nhiên, sự phát triển du lịch vào những năm 1990 ở Mae Hong Son đã gây ra những tác động tiêu cực Rừng phòng hộ, khu bảo tồn cũng đã bắt đầu bị xâm lấn, cây cối bị chặt để xây dựng bè và nhà ở cho khách du lịch Sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch cũng đã gây những tác động kinh tế-văn hóa - xã hội và môi trường đối
Trang 38(1997-Để tạo thuận lợi cho phát triển DLCĐ, Mae Hong Son đã đề nghị Chính phủ hỗ trợ phát triển hạ tầng đến trung tâm của tỉnh, huyện và tỉnh Mae Hong Son chủ động phát triển
hạ tầng đến các làng trong phạm vi toàn tỉnh Đến nay, đã có 5 tuyến đường giao thông
bộ được mở, chủ yếu từ Chiang Mai, 1 tuyến đường hàng không từ Chiang Mai đến Mae Hong Son Bên cạnh đó, Mae Hong Son chủ động tăng cường mối liên hệ với tỉnh Tak
để mở ra một con đường khác (ngoài các con đường từ Chiang Mai) đến Mae Hong Son qua Tak để phát triển du lịch cộng đồng tại khu vực phía nam Mae Hong Son
Để phát triển các điểm DLCĐ, Sở Du lịch và Thể thao đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, đào tạo nâng cao nhận thức, phát triển thể chế, thành lập các quy tắc cho các thành viên cộng đồng và du khách, các quy định về chia sẻ lợi ích Việc triển khai phát triển DLCĐ của tỉnh đã được thực hiện bởi cả khu vực nhà nước và tư nhân, trong đó, vai trò điều phối là Sở Du lịch và Thể thao Ngoài Sở Du lịch và Thể thao giữa vai trò chính và điều phối, các đơn vị cùng tham gia phát triển du lịch cộng đồng ở Mae Hong Son là:
o Khu vực công:
+ Văn phòng đại diện của Tổng cục Du lịch Thái Lan tại Mae Hong Son: Văn phòng này chịu trách nhiệm quảng bá về DLCĐ của tỉnh, thông qua nhiều bài viết trên tạp chí, trên radio và các chương trình truyền hình về du lịch Mae Hong Son Việc này đã tăng đáng kể nhận thức về phát triển DLCĐ ở Mae Hong Son cũng như giới thiệu về các điểm DLCĐ ở tỉnh đến với khách du lịch trong và ngoài nước
+ Sở Phát triển Cộng đồng: đây là cơ quan quản lý các chương trình mỗi làng một sản phẩm (OTOP) ở Mae Hong Son Sở này phối hợp với Sở Du lịch và Thể thao sẽ hỗ trợ cho các làng tạo ra các sản phẩm nông nghiệp phù hợp với nhu cầu của khách du lịch
Đã có nhiều làng đạt được chứng nhận OTOP, trong đó có một làng được công nhận là một trong 8 mô hình nổi bật của làng OTOP ở cấp quốc gia và các sản phẩm ở đây rất thu hút khách du lịch
Trang 39+ Trường Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Mae Hong Son
Trường Cao đẳng Cộng đồng Mae Hong Son có trách nhiệm đào tạo kỹ năng nghiệp vụ về DLCĐ cho người dân địa phương thông qua các khóa học ngắn hạn Bên cạnh việc đào tạo kỹ năng, Trường Cao đẳng Cộng đồng phối hợp với Viện Du lịch cộng đồng Thái Lan (CBT-I) để đào tạo các nhóm triển khai các dự án DLCĐ phù hợp với thực tế Mae Hong Son
+ Văn phòng đại diện của Bộ Năng lượng Thái Lan tại Mae Hong Son
Văn phòng này có trách nhiệm triển khai các hoạt động liên quan đến năng lượng như tạo ra năng lượng từ các nguồn tài nguyên khác (nước, gió, năng lượng mặt trời), sản xuất khí sinh học từ dự án chất thải động vật, bếp Biomass (trấu, lá, mùn cưa, siêu firepot đất sét), quản lý chất thải… Các hoạt động này nhằm hỗ trợ các hộ dân làm homstay và các điểm DLCĐ nhằm mục đích sử dụng năng lượng bền vững và quản lý tác động đến môi trường từ hoạt động du lịch
+ Trung tâm Phát triển Kỹ năng Mae Hong Son
Đây là một tổ chức phát triển kỹ năng cho người lao động và hoàn toàn miễn phí Đây cũng là một trung tâm đào tạo cho DLCĐ thông qua tổ chức các lớp tập huấn cho người dân địa phương bao gồm: Tiếng Anh (dành cho nhân viên lễ tân, thực phẩm và đồ uống); nấu ăn và thiết kế sản phẩm
- Khu vực tư nhân:
+ Viện Du lịch cộng đồng Thái Lan (CBT-I): Đây là Viện được thành lập trên cơ sở hợp tác giữa hai tổ chức phát triển du lịch cộng đồng tiên phong ở Thái Lan là Dự án Du lịch sinh thái có trách nhiệm xã hội (REST) và Cơ quan Nghiên cứu Cộng đồng thuộc Quỹ Nghiên cứu Thái Lan (TRF CBR) Mae Hong Son đã mời CBT-I khảo sát đánh giá tiềm năng phát triển DLCĐ của tỉnh, lựa chọn các địa điểm để phát triển DLCĐ trên tất
cả 7 huyện của tỉnh CBT-I có nhiều kinh nghiệm trong việc này và đã từng hỗ trợ nhiều tỉnh trên khắp Thái Lan về phát triển DLCĐ Sự trợ giúp này đã cho phép Mae Hong Son xác định các địa điểm phù hợp cho phát triển DLCĐ
Trang 4040
+ Quỹ nghiên cứu Thái Lan, trụ sở tại Mae Hong Son: Đây là tổ chức hỗ trợ và phát triển các nghiên cứu nói chung và nghiên cứu về cộng đồng nói riêng ở Thái Lan Tổ chức này tham gia phát triển DLCĐ với nhiệm vụ cung cấp các nghiên cứu đã có và hỗ trợ các nghiên cứu mới về đặc điểm của các cộng đồng cũng như nghiên cứu xác định
mô hình thích hợp nhất cho DLCĐ ở từng khu vực của Mae Hong Son
Ngoài hai tổ chức trên, còn có sự tham gia của Hiệp hội Du lịch Mae Hong Son, Liên Minh hợp tác xã tín dụng Mae Hong Son và nhiều tổ chức khác Liên Minh hợp tác xã tín dụng Mae Hong Son là tổ chức khá đặc biệt, được thành lập để hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp du lịch thành viên (là các doanh nghiệp hoặc hộ gia đình) và giúp các thành viên trong mùa du lịch thấp điểm (ví dụ cho các thành viên vay một khoản tiền nhất định trong mùa du lịch thấp điểm)
Với sự tham gia của cả hai khối công và tư, với sự điều phối của Sở Du lịch và Thể thao, DLCĐ ở Mae Hong Son đã phát triển khá tốt, đặc biệt là ở huyện Pai, nơi minh chứng cho sự thành công của DLCĐ Mặc dù không phải dự án nào cũng thành công, nhưng nhìn chung, sự phát triển DLCĐ ở Mae Hong Son đã có những đóng góp lớn vào thay đổi sinh kế người dân, giúp bảo vệ tài nguyên và môi trường
Đến nay, hàng năm, Mae Hong Son đón được khoảng 800 ngàn khách du lịch với tổng thu khoảng 3.500 triệu Baht (khoảng 2.540 tỷ đồng), trong đó DLCĐ đóng vai trò quan trọng
2.1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng của một số địa phương trong nước
2.1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng của tỉnh Quảng Nam [7, 8,
16, 27]
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung với nhiều tài nguyên du lịch nổi bật như di sản văn hóa thế giới Phố cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn, khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm và nhiều di sản vật thể, phi vật thể đặc sắc khác
Trong những năm gần đây, du dịch Quảng Nam phát triển với tốc độ khá cao Trong năm 2019, tổng lượt khách tham quan, lưu trú du lịch ước đạt trên 7,66 triệu lượt khách, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó khách quốc tế ước đạt trên 4,6 triệu lượt khách, tăng 20,50% so với cùng kỳ năm 2018; khách nội địa ước đạt trên 3 triệu lượt khách, tăng 13,57% so với cùng kỳ năm 2018 [7]