Pháp luật lao động về lao động nữ từ thực tiễn các khu công nghiệp tại Tỉnh Bình Phước.Pháp luật lao động về lao động nữ từ thực tiễn các khu công nghiệp tại Tỉnh Bình Phước.Pháp luật lao động về lao động nữ từ thực tiễn các khu công nghiệp tại Tỉnh Bình Phước.Pháp luật lao động về lao động nữ từ thực tiễn các khu công nghiệp tại Tỉnh Bình Phước.Pháp luật lao động về lao động nữ từ thực tiễn các khu công nghiệp tại Tỉnh Bình Phước.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ YẾN LOAN
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ LAO ĐỘNG NỮ TỪ THỰC TIỄN CÁC KHU CÔNG NGHỆP TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ YẾN LOAN
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ LAO ĐỘNG NỮ
TỪ THỰC TIỄNTẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn là công trình nghiên cứu của tôi, các kết quả được trình bày trong luận văn chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào Trong luận văn có dùng một số nhận xét cũng như đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác, tuy nhiên đều có thực hiện trích dẫn nguồn gốc.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
NGƯỜI CAM ĐOAN
LÊ THỊ YẾN LOAN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LAO ĐỘNG NỮ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY VỀ LAO ĐỘNG NỮ 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của lao động nữ 6
1.2. Khái niệm, nội dung pháp luật về lao động nữ 12
1.3. Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về lao động nữ 14
Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG NỮ Ở CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH PHƯỚC 26
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động nữ ở các doanh nghiệp tại Các khu công nghiệp tỉnh Bình Phước 26
2.2. Khái quát về tình hình sử dụng lao động nữ tại các doanh nghiệp trong các KCN tỉnh Bình Phước 30
2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động nữ tại các doanh nghiệp trong các kcn tỉnh Bình Phước 33
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG NỮ TỪ KINH NGHIỆM CỦA BÌNH PHƯỚC 51
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về lao động nữ ở Việt Nam hiện nay 511
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về lao động nữ 588
Trang 5Danh mục viết tắt
Trang 6MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
cơ cấu kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, số lao độngđang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp ngày càng tăng Trong đó,một số ngành như da giày, dệt may, chế biến thủy sản có doanh nghiệp tỉ lệ nữchiếm tới 80% đến 90% Trên nền tảng quy định của Hiến pháp về quyền phụ
nữ, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản luật, văn bản dưới luật nhằm cụ thểhóa các quyền cơ bản của phụ nữ, nhằm bảo vệ quyền phụ nữ tốt hơn, phát huyvai trò, vị trí của phụ nữ trong gia đình, cộng đồng và xã hội, hòa nhập chungvới hệ thống pháp luật khu vực và quốc tế, phù hợp với những cam kết về thúcđẩy bình đẳng giới và bảo đảm quyền của phụ nữ mà Việt Nam đã ký kết nhưLuật Bình đẳng giới năm 2006; Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007;Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đặc biệt là người lao động nữ như: Hiếnpháp Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 và mới đây nhất Bộ luật lao động
2019 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳhọp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019 thông qua; Luật bảo hiểm xãhội năm 2014
Hiện nay đời sống của đại bộ phận người lao động nữ vẫn còn nhiều khókhăn, một số vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân như về nhà ở tạicác khu công nghiệp, tiền lương và thu nhập, bảo hiểm xã hội, nơi sinh hoạt vănhoá, cơ sở nuôi dạy trẻ chưa được giải quyết kịp thời
Qua các đề tài nghiên cứu, khảo sát, báo cáo của các ban, đơn vị trựcthuộc Tổng Liên đoàn về đời sống, việc làm của người lao động nói chung vàlao động nữ nói riêng cho thấy thực trạng và những vấn đề cần quan tâm tới đờisống của lao động nữ trong các khu công nghiệp hiện nay cần được quan tâmnhiều hơn mặt dù nước ta đang đang dần hoàn thiện các cơ chế, chính sách
6
Trang 7nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ nói chung và lao động
nữ tại các khu công nghiệp nói riêng
Vì vậy, tác giả chọn đề tài luận văn nghiên cứu “Pháp luật lao động về lao động nữ từ thực tiễn các khu công nghiệp tại Tỉnh Bình Phước” đề cập
vấn đề đến quy định và các biện pháp của pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợiích của người lao động nữ như: quyền của lao động nữ vềcác việc đảm bảotuyển dụng, việc làm, đào tạo nghề, quyền bình đẳng trong việc đảm bảo điềukiện việc làm và cuộc sống sinh hoạt và các quyền đặc biệt đối với lao động nữtại các khu công nghiệp
2. Tinh hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện tại, nghiên cứu đề tài về pháp luật lao động đã có rất nhiều côngtrình luận văn, sách báo hoặc bài nghiên cứu để tham khảo xung quanh lao động
nữ như là lao động, việc làm, quyền bình đẳng, việc đảm bảo thiên chức làm mẹđược quan tâm trong thời gian qua Có những công trình, đề tài, dự án, sách báo,tạp chí đã nghiên cứu về vấn đề lao động nữ, như: Bộ Luật lao động của cácnước: Philippines, Nam Phi, Liên Bang Nga, Trung Quốc, Singapore, Malaysia,
Nhật Bản; Nguyễn Hữu Chí (2009), Pháp luật về lao động nữ- Thực trạng và phương pháp hoàn thiện, Tạp chí Luật học 09/2009, Tr.26-32;Vũ Ngọc Dương
(2010), “Quyền bình đẳng của lao động nữ theo pháp luật Philippines”; Ths
Trần Thúy Lâm (2005), Bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực kỷ luật lao động, Tạp
chí Luật học số đặc sản về bình đẳng giới/2005, Tr.25-29; Hoàng Thị Minh
(2012) , Phòng chống vi phạm pháp luật đối với lao động nữ, Tạp chí Luật học
số 05/2012, Tr.61-67; Ths.Nguyễn Thị Kim Phụng (2004), quyền của lao động
nữ theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế trong những công ước Việt Nam chưa phê chuẩn, Tạp chí Luật học số 03/2004, Tr.63-67; (2015), Pháp luật
về lao động nữ từ thực tiễn các doanh nghiệp tại thành phố Nam Định, Khóa
luận tốt nghiệp, Hà Nội; TS Phạm Thị Thúy Nga (2006), “Lao động phục vụ gia
đình”, Nhà nước và pháp luật, (2), Tr.50-57; Đặng Quang Điều (2011), Một số
Trang 8đề xuất, kiến nghị tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ, Lao động và xã hội, (415), Tr.7-9; Nguyễn Thanh Hòa (2009), Thực hiện hiệu quả mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động, Tạp chí cộng sản, (178); Lê Thị Hoài Thu (2008), Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam, Khoa học, (24), Tr.84-92 đã nêu lên
nhiều biện pháp bảo vệ người lao động Các nghiên cứu và tài liệu này đã đề cậpđến việc bảo vệ quyền lợi lao động ở mức độ tổng quát nhưng đã góp phầnkhông nhỏ vào việc bảo vệ quyền bình đẳng cho lao động nữ ở nhiều mặt khácnhau Và ở đây, với đề tài tác giả chọn sẽ trình bày nghiên cứu một cách tươngđối pháp luật lao động về lao động nữ ở tại các khu công nghiệp trong quan hệlàm công hưởng lương chứ không đề cập đến các vấn đề khác đối với người laođộng nữ nói chung
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Luận văn đề cập một số những vấn đề lý luận pháp luật lao động về laođộng nữ mà cụ thể là quyền của lao động nữ cùng với pháp luật bảo vệ quyềncủa họ trong việc về về giao kết, thực hiện, thay đổi, tạm hoãn, chấm dứt hợpđồng lao động đối với lao động nữ Đồng thời, luận văn định hướng đánh giátổng quan tương đối thực trạng việc bảo vệ quyền lao động nữ bằng pháp luật
về các điều kiện lao động với lao động nữ và đưa ra những hạn chế cũng nhưgiải pháp để hoàn thiện hơn, được bảo đảm tốt hơn nữa về quyền lao động nữtại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Phân tích, đánh giá tính phù hợp và chưa phù hợp của các quy định phápluật hiện hành ở Việt Nam hiện nay về lao động nữ
Phân tích, đánh giá và chỉ ra những thành tựu, các hạn chế, định hướnghoàn thiện pháp luật và các giải pháp hoàn thiện pháp luật; nâng cao hiệu quả tổchức thực hiện quy định pháp luật trong thực tiễn về lao động nữ ở các khu côngnghiệp tỉnh Bình Phước
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 9Đối tượng nghiên cứu: Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam
về pháp luật lao động về lao động nữ, bảo đảm quyền của lao động nữ
Phạm vi nghiên cứu: Do điều kiện kinh phí và thời gian có hạn nên luận
văn chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về lao động nữ làm việc trong nước vàviệc đánh giá thực tiễn thực hiện giới hạn tại một số khu công nghiệp trong tỉnhBình Phước
Luận văn nghiên cứu pháp luật về lao động nữ theo bốn nhóm nội dungsau: Quy định về tuyển dụng, việc làm, đào tạo nghề; Quy định về giao kết, thựchiện, thay đổi, tạm hoãn, chấm dứt HĐLĐ; Quy định về điều kiện lao động cholao động nữ; Quy định về bảo hiểm xã hội
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng chủ nghĩa Mác - Lênin theo phương pháp luậnduy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin
Bên cạnh đó luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cơbản như: Phương pháp phân tích - tổng hợp được tại các chương và mục, từ đó
đã phân tích rõ các luận điểm và đưa ra tổng kết luận nghiên cứu, phương phápthống kê được sử dụng chủ yếu trong chương 2 để làm rõ thực tiễn việc bảo đảmquyền của LĐN ở Việt Nam nói chung và hiện nay tại các khu công nghiệp tỉnhBình Phước nói riêng
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn làm nổi bật rõ các vấn đề liên quan pháp luật về lao động nữ, từ
đó ta có thể đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền của lao động nữ tạicác doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tỉnh Bình Phước
Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn đã nhận thấy một số hạn chếtrong pháp luật bảo đảm quyền của lao động nữ mà qua đó có những hướng đềxuất giải quyết để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền cho laođộng nữ
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1:Khái quát chung về lao động nữ và pháp luật Việt Nam về lao
Trang 10động nữ
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động nữ ở các doanh
nghiệp trong các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Phước
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả tổ chức
thực pháp luật về lao động nữ từ kinh nghiệm của Bình Phước
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LAO ĐỘNG NỮ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN NAY VỀ LAO ĐỘNG NỮ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của lao động nữ
1.1.1. Khái niệm về lao động nữ
Lao động là hoạt động sáng tạo nên các giá trị vật chất và tinh thần đểthoả mãn các nhu cầu của con người, có mục đích nhằm biến đổi các vật chất tựnhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình cũng tạo nên cácgiá trị, phẩm giá cho con người Lao động gắn chặt với việc làm, được thực hiệnthông qua việc làm - công việc theo ngành nghề, lĩnh vực chuyên môn nhất định
và có tính ổn định lâu dài Đây chính là điều kiện chủ yếu để xã hội loài ngườiđược tồn tại, là cơ sở của sự tiến bộ về văn hóa, kinh tế, văn hoá và xã hội
Người lao động nữ là người lao động thuộc giới nữ và khi tham gia quan hệlao động từ đủ 15 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vilao động, các quyền và nghĩa vụ của người lao động, đồng thời, được pháp luậtlao động dành cho những quy định áp dụng riêng
Ở các nước đều quy định hai loại độ tuổi: độ tuổi thứ nhất là tuổi lao độngtối thiểu nghĩa là có đầy đủ năng lực lao động; độ tuổi thứ hai (thấp hơn độ tuổithứ nhất) nếu được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật thì trẻ
em vẫn có thể tham gia ký kết các HĐLĐ,
Tuổi tối thiểu để tham gia lao động là do pháp luật lao động riêng nước
đó quy định tùy thuộc điều kiện cụ thể của đất nước đó Theo khoản 3 Điều 2Công ước số 138 của ILO1 về tuổi tối thiểu được tham gia vào thị trường laođộng năm 1973 quy định: Tuổi lao động tối thiểu trong bất kỳ trường hợp nàocũng không được dưới 15 tuổi Liên quan đến điều kiện về độ tuổi của NLĐ,chúng ta cần đề cập đến vấn đề lao động trẻ em Trình trang lao động nhỏ tuổi
1. ILO (1973), Công ước số 138 của ILO về Tuổi tối thiểu được đi làm việc.
Trang 12phải chịu nguy cơ bị bóc lột lao động và lạm dụng tình dục Trẻ em và thanh,thiếu niên làm việc ở khu vực kinh tế phi chính thức, trong môi trường lao độngkhông được quản lý và điều chỉnh.
Nước ta đã và đang xây dựng nền móng bền vững và hiệu quả để phòngchống lao động trẻ em Tháng 11/2000, Chính phủ đã phê duyệt Công ước số
182 về Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (năm 1999) và trong năm
2003, Chính phủ cũng đã phê duyệt Công ước 138 về Tuổi làm việc tốithiểu (năm 1973) Việc phê chuẩn các công ước của ILO đã cho cộng đồngquốc tế thấy được quyết tâm của nước ta trong việc khẩn trương thực hiện cácbiện pháp kịp thời nhằm xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất trêntoàn quốc Với sự hỗ trợ của Bộ Lao động Hoa Kỳ, ILO đang triển khai dự ánENHANCE (Hỗ trợ kỹ thuật tăng cường năng lực quốc gia Phòng ngừa vàGiảm thiểu Lao động trẻ em tại Việt Nam) nhằm hỗ trợ kỹ thuật để thúc đẩy cácgiải pháp quốc gia của Chính phủ trong giải quyết lao động trẻ em Xây dựng từnhững thành quả hiện tại, dự án đang nỗ lực giảm thiểu lao động trẻ em trongmột số lĩnh vực ưu tiên như may mặc, thủ công mỹ nghệ, nông nghiệp và đánhbắt thủy sản Với đối tác chính là Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã Hội, dự
án có sự tham gia của nhiều cơ quan liên quan, các đối tác xã hội và các tổ chứcdân sự trong quá trình thực hiện nhằm xây dựng và củng cố giải pháp toàn diện
và có hiệu quả với sự tham gia của nhiều bên liên quan để phòng ngừa và giảmthiểu lao động trẻ em tại Việt Nam
Giới nữ cũng có thể mạnh mẽ và quyết đoán, trở thành lãnh đạo, phicông, thợ máy Ngược lại nam giới có thể dịu dàng và kiên nhẫn, có thể làmđầu bếp, nhân viên đánh máy, thư ký Những đặc điểm có thể hoán đổi đó lànhững khái niệm, nếp nghĩ và tiêu chuẩn mang tính chất xã hội Chúng thay đổi
từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác trong một bối cảnh cụ thể của một xãhội, do các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định Vì vậy, địa vị củangười phụ nữ phương Tây khác với địa vị của người phụ nữ phương Đông, địa
vị xã hội của phụ nữ Việt Nam khác với địa vị xã hội của phụ nữ Hồi giáo, địa
Trang 13vị của phụ nữ nông thôn khác với địa vị của phụ nữ vùng thành thị.
1.1.2 Đặc điểm của lao động nữ
Lao động nữ khi tham gia vào quá trình lao động đều mang những đặcđiểm của người phụ nữ Việt Nam và của người lao động Qua đó đưa ra nhữngbiện pháp phòng ngừa lao động cho người lao động nữ, đưa ra những biện pháp,phòng chống, bảo vệ lao động nữ trong thời gian lao động Những điều này gắnliền ảnh hưởng trực tiếp đến những đặc tính của người lao động nữ
Ngoài những đặc điểm của người phụ nữ Việt Nam và của người laođộng Sự khác biệt về đặc điểm đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc làm, họcvấn, cơ hội thăng tiến, trách nhiệm của phụ nữ cả ở công việc lẫn gia đình.Trướctiền, cần khẳng định rằng LĐN mang những đặc điểm chung của người laođộng, họ đều là những người được nhận lương khi đi làm bằng sức lao động củamình Họ không tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến tổ chức lao độngsản xuất và quyền quyết định phụ thuộc vào NSDLĐ
Thứ nhất là về mặt sinh lý: bất kỳ một phụ nữ lao động nào cũng đượcban thiên chức làm mẹ Từ ngàn xưa đến nay và mãi mãi sau này, người phụ nữViệt Nam vẫn khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc đóng góp tolớn cho xã hội phát triển và thực hiện chức năng xây dựng gia đình hạnh phúc
Đó là vai trò không thể thay thế được bởi thiên chức cao quý của người phụ nữ
mà tạo hóa đã ban tặng, chỉ có phụ nữ mới thực hiện được chức năng này.Người phụ nữ có thiên chức cao quý là sinh đẻ để duy trì nòi giống và nuôi dạycon cái từ khi con cất tiếng chào đời đến khi con đã trưởng thành Có thể nóirằng, chỉ có giới tính nữ mới thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ, đó là việc làm mẹ
và việc thực hiện công việc tại một đơn vị nhất định Người lao động nữ luônluôn trong tâm thế phải hoàn thành hai nhiệm vụ này với trách nhiệm cao
Thứ hai là về sức khỏe, thể trạng của LĐN: nhìn chung, cấu tạo cơ thể vàsức khỏe của người LĐN đều yếu hơn so với nam giới, nhưng ngược lại, LĐN ởViệt Nam thời nào cũng vậy - Luôn mang trong mình những phẩm chất cao quí
Dù ở vị trí nào, , ở cương vị nào phụ nữ cũng phát huy được sự khéo léo, sức
Trang 14mạnh, của mình Người Vì vậy, họ rất thích hợp cho những công việc lao độngnhư, thủ công mỹ nghệ, may mặc, lắp ráp điện tử Không những vậy, ở cáclĩnh vực làm công nhân công trường, hầm mỏ cũng có sự tham gia của họ Điều này nói lên được khả năng chịu đựng áp lực của LĐN là rất cao và họ thực
sự rất nghiêm túc trong công việc Bên cạnh đó, nhiều lLĐN đã nỗ lực rất nhiềutrong học tập, lao động sáng tạo, không ngừng học hỏi, bồi dưỡng trí tuệ, tíchlũy tri thức để hoàn thiện chính mình Cùng với đó, yếu tố nền tảng quan trọng
để làm nên giá trị và nhân cách của người phụ nữ chân chính đó chính là lòngyêu nước; thực hiện tốt nghĩa vụ công dân và nhiệm vụ được giao
Thứ ba là mặt tâm lý: Quan niệm xưa cũ phương Đông về việc nữ giớiphải lo chuyện bếp núc, nội trợ, quán xuyến nhà cửa và chăm sóc gia đình đã tạo
ra không ít rào cản và thiệt thòi cho người phụ nữ nói chung và người LĐN nóiriêng Xã hội có những định kiến khắc nghiệt dành cho phụ nữ, họ đề cao vai tròcủa đàn ông hơn hẳn Trong khi người lao động nam dành phần lớn thời gian củamình vào công việc ngoài thị trường, cơ hội thăng tiến luôn dễ dàng thì LĐN thìhầu hết khối lượng công việc không được trả công do phụ nữ đảm nhận Các lĩnhvực liên quan đến công việc chăm sóc không được trả công bị nữ hóa cao, trongkhi đó các nhu cầu, mong muốn được lao động, học tập nâng cao, được chăm sóctrang bị thêm kiến thức của phụ nữ thường bị hạn chế Điều đó đã khiến ngườiphụ nữ bao giờ cũng thiệt thòi hơn đàn ông Điều này đã khiến họ trở nên rụt rè,
e ngại, không mạnh dạn, ít tự lập trong công việc, đó chính là tác nhân gây cảntrở hoạt động công việc của LĐN.Tuy nhiên ngày nay, do áp lực công việc đặt
ra đối với người lao động là như nhau, nên đòi hỏi xã hội phải nhìn nhận vấn đềkhách quan hơn, bình đẳng hơn, bao dung hơn để đảm bảo cho sức khỏe và khảnăng thực hiện công việc, khả năng lao động đối với LĐN Với những đặc thùcủa LĐN vừa nêu trên, đòi hỏi pháp luật phải có những quy định riêng giúp họvừa thực hiện nghĩa vụ lao động, lại vừa đảm nhiệm tốt chức năng làm mẹ vàchăm sóc gia đình; bảo đảm cho họ quyền bình đẳng của lao động nữ trong lĩnhvực lao động; đảm bảo các quyền, lợi ích liên quan đến chức năng mang thai,
Trang 15sinh con và nuôi con nhỏ của lao động nữ; đảm điều kiện về an toàn, vệ sinh nơilàm việc phù hợp với lao động nữ và bên cạnh đó, cần có các cơ chế, biện pháp
hỗ trợ, bảo vệ lao động nữ khi quyền và lợi ích trong lĩnh vực lao động bị xâmhại
Qua những đặc điểm đặc thù nêu trên, người lao động vốn là bên yếu thếtrong quan hệ lao động thì lao động nữ còn yếu thế hơn so với lao động nam
Họ vốn không có thể trạng và sức khỏe bằng nam giới, lao động nữ lại phảithực hiện thiên chức làm mẹ, điều đó mang lại trách nhiệm cho người sử dụnglao động, làm ảnh hưởng lợi ích của doanh nghiệp khi kỳ mang thai kéo dài 9tháng , nghỉ sinh con nhiều tháng liền và nuôi con nhỏ trong quá trình lao động
Vì vậy, pháp luật lao động cần có những quy định riêng cho lao động nữ sao chophù hợp
Hiện nay, lao động nữ ở nước ta chiếm khoảng 50,04% lực lượng laođộng xã hội và hoạt động ở mọi ngành, mọi lĩnh vực kinh tế
Chính vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho lao động nữ, pháp luật lao độngcần đảm bảo những yêu cầu về quyền bình đẳng của lao động nữ so với các laođộng nam, đảm bảo việc làm và điều kiện làm việc phù hợp với thể chất, tinhthần của lao động nữ và đồng thời phải đảm bảo các quyền, lợi ích cho lao động
nữ mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ
1.1.3 Vai trò của lao động nữ
Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước Việt Nam đã đạt được những thành tựulớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, chính trị và hội nhập kinh tế quốctế Với mục tiêu đến năm 2020 đưa đất nước cơ bản trở thành một nước côngnghiệp, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu hội nhập sâu rộng vào nềnkinh tế thế giới theo định hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh Trong sự nghiệp đó, Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng đếnviệc phát huy vai trò và nâng cao vị thế của người phụ nữ
Theo thống kê tỉ lệ và tầm quan trọng của lao động nữ trong trong doanhnghiệp, lĩnh vực khoa học - công nghệ, đội ngũ nữ trí thức Việt Nam đã có bước
Trang 16trưởng thành cả về số lượng và chất lượng với 36,64% trong khoa học tự nhiên;43,42% trong lĩnh vực khoa học nông - lâm - thủy sản; 33% trong khoa họccông nghệ; 38,27% trong khoa học xã hội và nhân văn Trong các cơ sở nghiêncứu, đã có 6,3% cán bộ phụ trách là nữ; 10% đề tài nghiên cứu khoa học cấpnhà nước do phụ nữ làm chủ nhiệm2 Nhiều đề tài nghiên cứu, sáng kiến khoahọc của họ đã làm lợi cho đất nước nhiều tỉ đồng
Trong xây dựng gia đình, phụ nữ luôn đứng vai trò có những đóng góp lớngóp phần giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội và gia đình, đảm đang gánhvác cả việc nước lẫn việc nhà, tiếp tục là lực lượng nòng cốt để bảo vệ tổ ấm giađình trong thời kỳ kinh tế thị trường Đáng chú ý là, chị em đã thể hiện vai trò
rõ nét trong xây dựng gia đình theo chuẩn mực no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnhphúc, phòng chống tệ nạn xã hội từ gia đình
Tất cả những thành tựu này khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ Việt Namtrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, góp phần khẳng định cácgiá trị của người phụ nữ hiện đại năng động, tự tin, ngày càng chứng tỏ được vịthế, vai trò quan trọng của mình trong gia đình và trong xã hội Đó là minhchứng cho sự nỗ lực không mệt mỏi, không ngừng nghỉ của phụ nữ Việt Namtrong việc hưởng ứng, thực hiện các chính sách đúng đắn của Đảng và Nhànước ta đối với phụ nữ, đưa vị thế xã hội của người phụ nữ lên một tầm caomới
Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phụ nữ cần tiếp tục nỗ lựcphấn đấu, vượt qua những khó khăn, cản trở như trình độ học vấn, chuyên môn,nghề nghiệp còn thấp; cơ hội có việc làm khó hơn so với nam giới; ở nhữngvùng khó khăn, điều kiện sống và làm việc của phụ nữ chưa được bảo đảm; tâm
lý tự ti vẫn còn ăn sâu trong một bộ phận phụ nữ vốn có thói quen sống an phận;
tư tưởng định kiến giới trong xã hội, gia đình vẫn còn tồn tại dai dẳng, trở thànhlực cản đối với sự tiến bộ của nữ giới Đây cũng là lý do khiến một số địaphương, đơn vị chưa thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước trong việctạo điều kiện cho nữ giới phát huy vai trò, năng lực của mình
Trang 17Trong xu thế phát triển của đất nước, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước vàtoàn xã hội đã và đang tạo điều kiện cho người phụ nữ ngày càng phát huy thếmạnh, tiềm năng của mình để cống hiến nhiều hơn và hiệu quả hơn cho sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sát cánh cùng toàn dân thực hiện mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Hơn nữa cácdoanh nghiệp có các vị trí lãnh đạo chủ chốt là nữ cũng không hiếm Ngoài ra
nữ giới còn phải chịu nhiều áp lực từ các vấn đề bức xúc khác khi lao động
Lực lượng lao động nữ ngày nay đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạocủa mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đóng góp xứng đáng vào sựnghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế Nâng cao vị thế của phụ nữtrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa là yêu cầu kháchquan của đất nước, vừa đòi hỏi sự vươn lên của bản thân phụ nữ Việt Nam.1.2. Khái niệm, nội dung pháp luật về lao động nữ
1.2.1. Khái niệm pháp luật về lao động nữ
Đây là một khái niệm chung rộng hơn pháp luật bảo đảm quyền của laođộng nữ hay pháp luật bảo vệ quyền quả lao động nữ Bảo đảm ghi nhận quyềncủa người lao động đó trong bao gồm : pháp luật; quy định về quyền và nghĩa vụcho các chủ thể đảm bảo thực hiện các quyền đó trên thực tế gồm nhà nước, các
cơ quan nhà nước, chủ thể trong quan hệ lao động, các tổ chức khác như côngđoàn, tổ chức về hội phụ nữ; các biện pháp bảo vệ khi quyền của người lao động
nữ bị xâm phạm, giải quyết tranh chấp như là khiếu nại, tố cáo (bảo vệ chỉ nằmtrong phạm vi giải quyết tranh chấp)
Đồng thời, pháp luật về lao động nữ là tiếp cận ở góc độ chung, không tiếpcận gốc độ quyền nghĩa là tiếp cận các quy định để điều chỉnh quyền và nghĩa vụcủa NLĐ nữ không phải cho tất cả người lao động mà điều chỉnh riêng cho ngườilao động nữ, do điều kiện làm luận văn còn hạn chế nên luận văn chỉ viết tiếp cận
ở những góc độ riêng cho lao động nữ từ việc đảm bảo quyền bình đẳng cho NLĐ
nữ trong mọi lĩnh vực trong quan hệ lao động, những quy định đặc thù cho laođộng nữ
Trang 18LĐN là người lao động mang giới tính nữ, cho nên pháp luật về người laođộng mang giới tính nữ, nó chính là pháp luật nói chung điều chỉnh về người laođộng, những cái chung cho tất cả người lao động,và những cái riêng cho ngườilao động nữ Trong luận văn này, chỉ nghiên cứu phần riêng điều chỉnh riêng cholao động nữ.
1.2.2. Nội dung pháp luật về lao động nữ
Pháp luật về LĐN là những quy tắc xử sự, mà do nhà nước quy định, nhànước thừa nhận điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của NLĐ nữ hay NLĐ mang giớitính nữ trong quan hệ lao động hay đó là PL quy định về giới tính nữ trong quan
hệ lao động Theo đó nội dung pháp luật về lao động nữ gồm: Các quy địnhnhằm đảm bảo các quyền, lợi ích cho lao động nữ mang thai, sinh con và nuôicon nhỏ (về việc làm, nghỉ thai sản, bảo hiểm, kỷ luật lao động); Các quy địnhnhằm đảm bảo điều kiện làm việc phù hợp với lao động nữ (về cơ sở vật chất tạinơi làm việc phù hợp với lao động nữ; chống quấy rối tình dục; quy định côngviệc cấm sử dụng lao động nữ); Các chính sách ưu đãi cho người sử dụng laođộng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của lao động nữ
Ở đây, nó không dừng ở quyền và nghĩa vụ của người lao động mà đó làquyền và nghĩa vụ của những chủ thể liên quan, bao gồm người lao động, người
sử dụng lao động, Công đoàn…
Việt Nam Là một nước có tỷ lệ lao động nữ cao Tuy nhiên, khác với namgiới, lao động nữ phải đảm nhiệm nhiều vai trò: Vừa là lao động, vừa là vợ, là
mẹ, có nghĩa vụ, bổn phận chăm sóc gia đình Do đó, pháp luật việt nam đã giànhnhững chính sách pháp luật áp dụng đối với phụ nữ quy định tập trung tại LuậtBảo hiểm xã hội năm 2014, Luật hôn nhân gia đình 2014, Bộ luật lao động 2012,Luật hôn nhân gia đình 2014
Lao động nữ có nhiều đặc thù, đòi hỏi pháp luật phải có những quy địnhriêng nhằm đảm bảo quyền làm việc và quyền bình đẳng giới của phụ nữ, tạođiều kiện cho lao động nữ thực hiện tốt chức năng lao động và chức năng làm
mẹ, chăm sóc và nuôi dạy thế hệ trẻ Chính sách đối với lao động nữ: Điều 153
Trang 19Bộ luật lao động năm 2012 và Điều 5 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP quy địnhviệc Nhà nước đảm bảo quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ.
Hiến pháp 2013 bảo vệ quyền của người dân cũng như quyền bình đẳngtrong việc lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc Khoản 2 điều 153
BLLĐ 2012 cũng nêu rõ: “Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện
để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà.” Như vậy, pháp luật lao động của nước ta cũng có những khuyến khích
riêng cho NSDLĐ để LĐN có được việc làm thường xuyên với thời gian linhhoạt để thực hiện những trách nhiệm riêng của mình
Theo Báo cáo điều tra lao động việc làm do Tổng cục thống kê công bố,tính đến quý III năm 2016, trong tổng lực lượng lao động cả nước có hơn 824,8nghìn lao động thiếu việc làm và thất nghiệp là 1,16 triệu người, trong đó sốngười thất nghiệp ở nông thôn là nữ chiếm nhiều hơn nam với tỷ lệ 53,2% Tỷ
lệ thiếu việc làm của LĐN ở quý III năm 2016 tăng so với quý II năm 2016 từ1,55% lên 1,88%, song tỷ lệ thất nghiệp ở LĐN đang có xu hướng giảm xuống(quý II năm 2016 là 2,36% đến quý III giảm xuống còn 2,27%)[1, tr 10]
Chế độ làm việc của lao động nữ: Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật laođộng năm 2012 và các văn bản bản hướng dẫn thi hành, người sử dụng lao độngkhông được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi côngtác xa trong trường hợp: lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7, hoặc đang nuôicon dưới 12 tháng tuổi
1.3. Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về lao động nữ
Về cơ bản Bộ luật Lao động 2012 đã bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới
Bộ LĐ-TBXH cho biết một số vấn đề mới về chính sách đối với lao động nữ vàthúc đẩy bình đẳng giới trong dự thảo Bộ luật Lao động như: Thu hẹp và tiến tớixóa bỏ khoảng cách về giới trong quy định tuổi nghỉ hưu giữa lao động nam vàlao động nữ; Người lao động bình đẳng về quyền nghỉ hưởng trợ cấp BHXH khithực hiện biện pháp tránh thai, khám thai, sinh con, nuôi con nuôi dưới 6 tháng
Trang 20tuổi, chăm sóc con dưới 7 tuổi ốm đau phù hợp với pháp luật BHXH; người laođộng có quyền tự quyết định lựa chọn làm các công việc có ảnh hưởng xấu đếnchức năng sinh sản và nuôi con nhỏ trên cơ sở được thông tin đầy đủ về cáccông việc đó và điều kiện bảo hộ lao động; Cộng đồng trách nhiệm giữa Nhànước và người sử dụng lao động trong việc tổ chức nhà trẻ, mẫu giáo cho concủa người lao động, thực hiện các biện pháp bảo đảm, thúc đẩy bình đẳng giới.Ngoài ra còn có chính sách dành riêng cho lao động nữ Pháp luật nước ta cócác cơ chế chính sách dành riêng cho lao động nữ và thúc đẩy bình đẳng giớikhi tham gia vào thị trường lao động, trong đó, có chính sách dành cho lao độngnữ.
Hiến pháp năm 2013 đã đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thốngpháp luật, đảm bảo sự tương thích với các Thay đổi cách tiếp cận từ “bảo vệlao động nữ” sang cách tiếp cận “thúc đẩy bình đẳng giới và đảm bảo quyền “đối với cả lao động nữ và lao động nam
Biểu đồ việc làm có yêu cầu về giới theo vị trí
Theo khoản 2, Điều 7 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP (quy định chi tiếtmột số điều của Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ), lao động
nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, tối thiểu là 3 ngàytrong một tháng Thời gian nghỉ cụ thể trong thời gian hành kinh của lao động
nữ sẽ do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động, để phù hợp vớiđiều kiện thực tế tại nơi làm việc và phù hợp với nhu cầu của lao động nữ, đảmbảo công việc đạt được hiệu quả tốt nhất Nghị định số 28/2020/NĐ-CP (quy
Trang 21định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưangười lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng) vừa có hiệulực từ ngày 15/4/2020, cũng quy định: Khi không cho lao động nữ nghỉ 30 phútmỗi ngày trong thời gian hành kinh, người sử dụng lao động phải trả tiền lươnglàm thêm giờ cho người lao động nữ.
Cần lưu ý rằng, trong trường hợp lao động nữ làm thêm giờ vào ban đêm,ngoài tiền lương làm thêm giờ nói trên, còn được hưởng thêm ít nhất bằng 30%tiền lương của ngày làm việc bình thường và hưởng thêm 20% tiền lương theocông việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường, hoặc của ngày nghỉhàng tuần, hoặc của ngày lễ, tết Nếu người lao động làm thêm giờ vào ngày lễ,tết trùng vào ngày nghỉ hàng tuần, thì được trả lương làm thêm giờ vào ngàynghỉ lễ, tết; nếu người lao động làm thêm giờ vào ngày nghỉ bù khi ngày lễ, tếttrùng vào ngày nghỉ hàng tuần, thì được
1.2.3.Quy định pháp luật về tuyển dụng, việc làm, đào tạo nghề, đối với lao động nữ
Doanh nghiệp có đủ một trong hai điều kiện sau đây là doanh nghiệp sửdụng nhiều lao động nữ: Doanh nghiệp sử dụng thường xuyên từ 10 đến 100 laođộng nữ và có số lao động nữ từ 50% trở lên so với tổng số lao động có mặtthường xuyên của doanh nghiệp; Doanh nghiệp sử dụng thường xuyên trên 100lao động nữ và có số lao động nữ từ 30% trở lên so với tổng số lao động có mặtthường xuyên của doanh nghiệp; Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ theokhoản 2, Điều 110 của Bộ luật Lao động được hưởng các chính sách ưu đãi vềvay vốn khi gặp khó khăn đặc biệt, khi khó khăn về tài chính, xét giảm thuế,Các tổ chức, đơn vị kinh doanh được sử dụng lao động nữ lao động trongnhóm danh mục những công việc không được sử dụng lao động nữ theo quyđịnh của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, phải lập kế hoạch điềuchuyển lao động nữ đến làm công việc khác theo quy định tại Điều 113 của Bộluật Lao động và khoản 4, Điều 6 của Nghị định này Trong thời gian nghiêncứu lập phương án nói trên, doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp : Đối
Trang 22với các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại phải rút ngắn thời gian làm việctrong ngày theo đúng quy định của pháp luật lao động, Tăng cường các biệnpháp cải thiện điều kiện làm việc; Bố trí thời gian làm việc thích hợp để laođộng nữ có điều kiện học thêm hoặc bồi dưỡng nghề mới.
Tổ chức thực hiện chính sách đối với lao động nữ theo Điều 118 của Bộluật Lao động: Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ phải phân công ngườitrong Ban quản lý điều hành doanh nghiệp làm nhiệm vụ theo dõi thực hiệnchính sách, chế độ đối với lao động nữ; tổng hợp và đề xuất với cơ quan quản lýNhà nước để sửa đổi hoặc bổ sung các chế độ, chính sách đối với lao động nữ;Doanh nghiệp sử dụng lao động nữ phải thực hiện chế độ báo cáo về tình hìnhthực hiện chế độ, chính sách đối với lao động nữ theo quy định của Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội; Doanh nghiệp đã có tổ chức công đoàn hoặc tổchức công đoàn lâm thời thì người đại diện cho lao động nữ là Ban nữ công
Áp dụng những tiêu chí tuyển dụng lao động ngang bằng nhau Việc quyđịnh quyền bình đẳng việc làm nhằm đảm bảo quyền lợi cho LĐN được bảo vệchặt chẽ, tránh bị phân biệt hoặc bóc lột sức lao động
Bảo vệ quyền việc làm cho LĐN là giúp LĐN ổn định việc làm, tạo ra thunhập để nuôi sống bản thân, quyền lợi chính đáng được bảo đảm, không bịNSDLĐ xâm hại dẫn tới tình trạng mất việc làm hoặc bị thay đổi việc làm mộtcách vô cớ
Theo Khuyến nghị số 191 của ILO thì: Người phụ nữ có quyền trở lạicương vị hoặc vị trí cũ với mức thù lao tương đương mà người đó nhận đượckhi nghỉ thai sản; Người phụ nữ trong thời gian mang thai hoặc chăm sóc trẻ sơsinh không được làm ca đêm nếu trong chứng nhận sức khỏe nêu rằng công việc
đó không phù hợp với việc mang thai hoặc thời gian chăm sóc trẻ sơ sinh
Trong lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng lao động: Quyền việc làm là quyền
cơ bản của mỗi con người, trong đó LĐN không phải là ngoại lệ, tạo việc làmcho LĐN cũng như tạo nguồn thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đượccoi là chính sách mà mọi quốc gia đều quan tâm Tuy nhiên, tình trạng bất công
Trang 23bằng trong vấn đề sử dụng lao động đối với LĐN diễn ra khá phổ biến trên thực
tế, ở đa số các quốc gia xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau: định kiến xãhội, phong tục tập quán Do đó, để hạn chế thấp nhất những tồn tại, đồng thờiđảm bảo quyền LĐN được thực thi tốt nhất, pháp luật quốc tế nói chung và phápluật từng quốc gia nói riêng đã có những quy định riêng biệt về vấn đề này.Trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi: Quy định về thời giờlàm việc, thời giờ nghỉ ngơi nhằm mục đích bảo hộ NLĐ, là căn cứ để bảo đảm
về sức khỏe của NLĐ, giúp họ có thời giờ nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe sau quátrình làm việc nặng nhọc, căng thẳng, nhất là đối với người LĐN thì chế địnhnày càng quan trọng hơn bởi LĐN có thể lực yếu hơn so với nam giới, do đónếu làm việc nghỉ ngơi hợp lý thì sức khỏe cũng như sức lao động được đảmbảo
1.3.2 Quy định pháp luật về giao kết, thực hiện, thay đổi, tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ
Bình đẳng về việc làm là LĐN có cơ hội để được NSDLĐ tuyển dụng vàđào tạo việc làm ngang như lao động nam Sự cần thiết đối với việc quy địnhquyền bình đẳng việc làm nhằm mục đích chính là đảm bảo quyền lợi cho LĐNtránh bị phân biệt đối xử bóc lột sức lao động của họ Tại Điều 5 trong BLLĐ(2012) quy định quyền “làm việc, tự do lựa chọn nghề nghiệp, học nghề, nângcao trình độ, không bị phân biệt đối xử” Vì vậy nhìn theo bối cảnh của LĐNnói riêng và NLĐ nói chung thì tùy vào sức khỏe hoàn cảnh lẫn trình độ chuyênmôn mà họ sẽ có quyền lựa chọn công việc hợp lý
Điều 8 Nghị định 85/2015/NĐ-CP quy định rằng trong thời gian học nghề
mà LĐN nữ có thai, nếu có chứng nhận từ cơ sở y tế có thẩm quyền rằng việcthực hiện hợp đồng học nghề có thể gây ảnh hưởng xấu đến thai nhi thì người
đó được đơn phương chấm dứt hợp đồng học nghề, được trả học phí đã đóngcủa thời gian học còn lại,được bảo lưu kết quả; điều này tạo thuận lợi cho LĐNvừa có thể yên tâm sinh con khỏe mạnh và vừa có thể tiếp tục đi học Trong việcđào tạo nghề cho LĐN, Điều 153 BLLĐ năm 2012 có quy định rằng cần
Trang 24“mở rộng nhiều loại hình đào tạo cho LĐN, phải có thêm nghề dự phòng phùhợp với LĐN” Nghề dự phòng là nghề khác so với nghề mà LĐN đang làmchính và được chuyển sang nghề dự phòng khi mà người LĐN không thể tiếptục công việc chính cho đến tuổi nghỉ hưu theo pháp luật Quy định đào tạonghề dự phòng đã tạo điều kiện thuận lợi cho LĐN khi họ không tiếp tục đượcvới công việc cũ nữa thì còn có nghề dự phòng đảm bảo thu nhập Ta nhận thấyrằng với quy định như vậy thì LĐN đã được đào tạo thêm nghề dự phòng taytrái giúp họ nâng cao trình độ chuyên môn lẫn tay nghề và mở rộng cơ hội việclàm giúp họ có được những công việc tốt hơn để đảm bảo đời sống của họ.Đồng thời, xác định công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho phụ nữ làmột nhiệm vụ trọng tâm và xuyên suốt, LĐN có thêm nhiều điều kiện học tậpnâng cao kiến thức khoa học kỹ thuật, kỹ năng áp dụng vào sản xuất, phát triểnkinh tế gia đình, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, giải quyết vấn đề thất nghiệpBình đẳng trong việc tạo công ăn việc làm cho cả lao động nam và nữđang làmục tiêu hướng đến của toàn thế gi ới Pháp luật Việt Nam cũng cónhững quy định về bất bình đẳng đối với lao động nam và LĐN trong lĩnh vựcviệc làm, nhất là trong việc tuyển dụng Điều 154 của BLLĐ năm 2012 nêu rõràng NSDLĐ phải “1 Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúcđẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời gian làm việc, thờigian nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác.” Bên cạnh đó, Điều 13 Luật bìnhđẳng giới 2006 đã quy định nội dung bình đẳng giới trong lĩnh vực lao độngnhư:cả hai giới phải được bình đẳng về yêu cầu khi tuyển dụng, hay đối xử nhưnhau tại nơi làm việc,các điều kiện đời sống lao động là như nhau, có quyềnđược bổ nhiệm chức danh như nhau Như vậy, pháp luật lao động Việt Nam đãchú trọng tới quyền bình đẳng của LĐN trên nhiều phương diện, bảo vệ LĐNkhỏi bị phân biệt đối xử, như tiêu chuẩn mà CEDAW đã nêu lên Với nhu cầutuyển dụng nguồn LĐN thì doanh nghiệp cũng phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu củapháp luật về vật chất dụ như xây dựng nhà tắm hoặc nhà trẻ và giúp đỡ mộtphần chi phí gửi trẻ cũng như đảm bảo chế độ nghỉ thai sản cho họ, điều nàykhá là phức tạp tốn kém so với tuyển dụng nam giới nên tuyển dụng lao độngnam vẫn được ưu tiên hơn LĐN Khoản 1, Điều 152 BLLĐ 2012 có nội dung
Trang 25là: NSDLĐ phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe quy định cho từng loại côngviệc để tuyển dụng và sắp xếp lao động, tuyển dụng họ vào những vị trí phù hợpcũng như sắp xếp các công việc đáp ứng được nhu cầu của cả hai bên Sức khỏecủa LĐN thường dễ bị bệnh và yếu mềm hơn nam giới vì thế không có khảnăng mang vát đồ quá nặng như NLĐ nam; hơn nữa cùng với thiên chức củamình, sức khỏe của họ cũng sẽ giảm đi khi họ mang thai và sinh con Việc tuyểndụng và sử dụng lao động đối với LĐN đã có những hướng tích cực nhiều hơndoanh nghiệp chú ý tuyển dụng và sử dụng LĐN, thậm chí LĐN chiếm phầnđông trong các KCN doanh nghiệp với lĩnh vực phù hợp đã tạo thêm nhiều việclàm cho LĐN.
Thời hạn báo trước để đơn phương chấm dứt, tạm hoãn thực hiện hợp đồnglao động theo thời hạn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.Trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn dongười lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động, nhưng tối thiểu phảibằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉTheo đó, việc tuyển dụng người lao động được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận
và tự định đoạt của các bên theo nguyên tắc của thị trường và pháp luật.Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức Dịch vụ việclàm, doanh nghiệp cho thuê lại lao động để tuyển người lao động; người laođộng có quyền trực tiếp thỏa thuận với người sử dụng lao động hoặc đăng ký tại
tổ chức Dịch vụ việc làm để tìm kiếm việc làm Ít nhất 5 ngày làm việc kể từngày nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động, người sử dụng lao động hoặc tổchức dịch vụ việc làm hoặc doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải thông báocông khai về nhu cầu tuyển lao động
Người lao động có thể giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụnglao động, làm bất cứ công việc mà pháp luật không cấm cũng như có quyền lựachọn nơi làm việc phù hợp với khả năng, nguyện vọng, trình độ chuyên mônnghiệp vụ, sức khỏe và học nghề phù hợp với yêu cầu về việc làm của mình.Với quy định này của Bộ luật Lao động, cho thấy quyền được đảm bảo việc làm
Trang 26của người lao động thể hiện rõ trong các quy định về trách nhiệm của người sửdụng lao động như: Đảm bảo việc làm cho người lao động trong các trường hợpđặc biệt như thay đổi cơ cấu tổ chức, công nghệ sản xuất, hợp nhất, chia táchdoanh nghiệp; đảm bảo việc làm đối với một số lao động đặc thù như lao động
nữ, lao động chưa thành niên, lao động khuyết tật
1.2.3. Quy định pháp luật về các điều kiện lao động với lao động nữ
Người sử dụng lao động phải đảm bảo môi trường làm việc đáp ứng cáctiêu chuẩn cần thiết, cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe cho ngườilao động, giảm thiểu các mối nguy hại có thể ảnh hưởng đến an toàn và sứckhỏe của người lao động Người sử dụng lao động phải có các nghĩa vụ: Bảođảm nơi làm việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng
xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, các yếu tố có hại khác được quy định tạicác quy chuẩn kỹ thuật liên quan và các yếu tố đó phải được định kỳ kiểm tra,
đo lường; Bảo đảm các điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động đối vớimáy, thiết bị, nhà xưởng đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn laođộng, vệ sinh lao động hoặc đạt các tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh laođộng tại nơi làm việc đã được công bố, áp dụng; Ngoài ra, việc bảo đảm antoàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người lao động bị tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liênquan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệsinh lao động được quy định tại Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015
Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động 2012 có các quy định để bảo vệ quyền củangười lao động về nghỉ ngơi Theo đó, Bộ luật Lao động có các quy định tạiChương VII về Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, cụ thể: Người lao độngđược nghỉ trong giờ làm việc theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Lao động 2012(nghỉ 30 phút nếu tính vào thời giờ làm việc liên tục 08 giờ hoặc 06 giờ, 45 phútnếu làm việc vào ban đêm ); nghỉ chuyển ca theo quy định tại Điều 109 Bộ luậtLao động 2012 (nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển sang ca làm việc khác);nghỉ hằng tuần theo quy định của Điều 110 Bộ luật Lao động 2012 (nghỉ ít nhất
Trang 2724 giờ liên tục mỗi tuần ); nghỉ hàng năm có lương theo theo quy định tại Điều
111, 112, 113 và 114 của Bộ luật Lao động 2012; nghỉ Lễ, Tết theo quy định tạiĐiều 115 Bộ luật Lao động 2012; Nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lươngtheo quy định tại Điều 116 Bộ luật Lao động 2012
Từ đây, có thể thấy quyền được thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động là một trong những quyềnquan trọng trong nguyên tắc bảo vệ người lao động được pháp luật thừa nhận
Để đảm bảo cơ hội, điều kiện cho phụ nữ phát triển, bảo đảm bình đẳnggiới thực chất giữa nam và nữ, nhiều quy định của pháp luật đã được ban hànhnhư: Chính sách về bảo hiểm xã hội, về lao động đã có những quy định để đảmbảo quyền của người phụ nữ như: phụ nữ được hưởng các chế độ bảo hiểm xãhội về chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tửtuất, thất nghiệp, mất sức lao động… Bộ luật lao động cũng đã quy định quyềnlợi mang tính đặc thù đối với người phụ nữ như: lao động nữ được hưởng cácchế độ khám thai (nghỉ việc có hưởng lương trợ cấp), nghỉ việc hưởng lương trợcấp sinh đẻ bằng 100% tiền lương, dưỡng sức sau khi sinh nếu sức khỏe yếu
Sa thải phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ sẽ bị phạt tiền hoặc phạt
tù đến 03 năm: Theo Điều 162 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm2017) quy định: Sa thải trái pháp luật đối với phụ nữ mang thai, người đangnuôi con dưới 12 tháng tuổi bị phạt tiền từ 100 triệu đồng - 200 triệu đồng hoặcphạt tù từ 01 năm - 03 năm
Theo đó, theo quy định tại Thông tư 26/2013/TT-BLĐTBXH thì người sửdụng lao động không được sử dụng lao động nữ có thai hoặc đang nuôi condưới 12 tháng tuổi làm các công việc: các công việc ở môi trường bị ô nhiễmbởi điện từ trường vượt mức quy chuẩn, tiêu chuẩn cho phép (như công việc ởcác đài phát sóng tần số radio, đài phát thanh, phát hình và trạm ra đa, trạm vệtinh viễn thông); Tiếp xúc trực tiếp với nguồn phóng xạ kín và nguồn phóng xạ
hở ; làm việc và tiếp xúc trực tiếp với chất phóng xạ trong các cơ sở hạt nhân;
cơ sở chế biến quặng phóng xạ; cơ sở xử lý và quản lý chất thải phóng xạ và
Trang 28nguồn phóng xạ đã qua sử dụng; cơ sở khai thác quặng có các sản phẩm trunggian hoặc chất thải phóng xạ trên mức miễn trừ; tiếp xúc trực tiếp với dược chấtphóng xạ tại các khoa y học hạt nhân hoặc các cơ sở y tế có sử dụng dược chấtphóng xạ trong điều trị và khám chữa bệnh; Trực tiếp tiếp xúc (bao gồm: Sảnxuất, vận chuyển, bảo quản, sử dụng) với các hóa chất trừ sâu, trừ cỏ, diệt mốimọt, diệt chuột, trừ muỗi có chứa Clo hữu cơ và một số hóa chất có khả nănggây biến đổi gen và ung thư
1.2.4. Quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ
Căn cứ Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về lao động nữ
đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con: Lao động nữ có thể đi làm trước khihết thời hạn nghỉ sinh con quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luậtnày khi có đủ các điều kiện: Sau khi đã nghỉ hưởng chế độ ít nhất được 04tháng; Phải báo trước và được người sử dụng lao động đồng ý
Khi người lao động nữ sinh con thì bạn sẽ được hưởng những quyền lợisau theo chế độ bảo hiểm y tế: Trợ cấp một lần khi sinh con: 02 lần mức lương
cơ sở đối với mỗi con tại tháng lao động nữ sinh con theo Điều 38 Luật Bảohiểm xã hội 2014; Tiền hưởng chế độ thai sản: Mức hưởng một tháng bằng100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trướckhi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 2014;Tiền dưỡng sức sau sinh: Trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sứckhỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến
10 ngày; Mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản mộtngày bằng 30% mức lương cơ sở
Hưởng chế độ bảo hiểm y tế:Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 21Luật Bảo hiểm y tế 2008 thì bảo hiểm y tế sẽ chi trả chi phí khi người tham giabảo hiểm sinh con Mức hưởng bảo hiểm y tế khi sinh con được quy định tạiĐiều 22 Luật Bảo hiểm y tế 2008 được sửa đổi bổ sung bởi Luật Bảo hiểm y tếsửa đổi 2014 như sau:
- 80% chi phí đối với trường hợp sinh con đúng tuyến hoặc trái tuyến huyện
Trang 29- 48% chi phí đối với trường hợp sinh con trái tuyến tại bệnh viện tuyến tỉnh
- 32% chi phí đối với trường hợp sinh con trái tuyến tại bệnh viện tuyến trung ương
Theo quy định của pháp luật đối với điều kiện đóng BHXH để đượchưởng chế độ thai sản là: Người lao động nữ sinh con, lao động nữ mang thai hộ
và người mẹ nhờ mang thai hộ phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trong thời gian
12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi.Cũng theo quy định của phápluật thì người lao động có thể nghỉ thai sản trước sinh nhưng không quá 2 thángtrước sinh Còn điều kiện để được hưởng chế độ thai sản đối với người lao độngnghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám chữa bệnh quy định tạikhoản 3 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2014
Như vậy, theo quy định trên thì người lao động nghỉ dưỡng thai theo chỉđịnh phải đóng đủ 3 tháng trong vòng 12 tháng trước sinh, nhưng trước đóngười lao động nghỉ dưỡng thai theo chỉ định trên trước đó đã tham gia BHXH
đủ 12 tháng trở lên Thì người đó mới được hưởng chế độ thai sản theo quy định
Trang 30Tiểu kết chương 1
1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đặc điểm và vai trò của người laođộng Lao động nữ là người lao động có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lựchành vi lao động và có giới tính nữ Trong phạm vi Luận văn này, do điều kiệnhạn chế về thời gian, tác giả không nghiên cứu về lao động nữ thuộc khu vựcphi chính thức và lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài, tác giả chỉ nghiên cứu
về lao động nữ là lao động làm công ăn lương trong khu vực chính thức
2. Theo nghĩa rộng, pháp luật về lao động nữ bao gồm tổng thể các quyphạm pháp luật quy định chung cho tất cả người lao động và các quy định riêngcho lao động nữ Theo đó nội dung pháp luật về lao động nữ gồm: Các quy địnhnhằm đảm bảo quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử của lao động nữ(trong lĩnh vực việc làm, đào tạo lao động; tuyển dụng, sử dụng lao động; tiềnlương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tuổi nghỉ hưu); Các quy định nhằmđảm bảo các quyền, lợi ích cho lao động nữ mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ(về việc làm, nghỉ thai sản, bảo hiểm, kỷ luật lao động); Các quy định nhằmđảm bảo điều kiện làm việc phù hợp với lao động nữ (về cơ sở vật chất tại nơilàm việc phù hợp với lao động nữ; chống quấy rối tình dục; quy định công việccấm sử dụng lao động nữ); Các chính sách ưu đãi cho người sử dụng lao độngnhằm đảm bảo quyền và lợi ích của lao động nữ
3. Do những đặc thù về sinh lý, thể trạng, sức khỏe và tâm lý của laođộng nữ, pháp luật lao động cần có những quy định riêng về lao động nữ nhằm:Đảm bảo các quyền, lợi ích cho lao động nữ mang thai, sinh con và nuôi connhỏ;Đảm bảo quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử; Đảm bảo việc làm vàđiều kiện làm việc phù hợp với thể chất, tinh thần của lao động nữ
Trang 31Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG NỮ Ở CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH
PHƯỚC
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động nữ ở các doanh nghiệp
Bình Phước là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, có 3 huyện biên giới
là Bù Gia Mập, Bù Đốp và Lộc Ninh với chiều dài đường biên 260,433km, tiếpgiáp với 3 tỉnh của nước bạn Campuchia (Mondulkiri, Kratié, Tabong Khmum).Hiện nay, tỉnh Bình Phước đang quản lý 4 cửa khẩu và một lối mở, trong đó cómột cửa khẩu quốc tế (Cửa khẩu Hoa Lư) Bình Phước có diện tích 6.876,6 km(số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2017) Nơi đây là nơi cư trú của 44 dântộc, trong đó dân tộc thiểu số chiếm một tỷ lệ lớn (trên 195.000 người - theo sốliệu của Ban Dân tộc tỉnh), chiếm hơn 19,6%, đa số là người S’Tiêng, một số ít
là người Hoa, Khmer, Nùng Toàn tỉnh Bình Phước có 994.679 nhân khẩu, trong
đó nam 501.473 người, chiếm 50,42% và nữ 493.206 người, chiếm 49,58% sovới năm 2009; có 273.399 hộ, tăng 25,07% số tổng điều tra dân số và nhà ởnăm 2009; mật độ dân số bình quân toàn tỉnh là 145 người/km2 (theo số liệucủa Ban Chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 tỉnh Bình Phước) Lựclượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả tỉnh năm 2018 đạt 590.329 người, laođộng từ 15 tuổi trở lên đang làm việc theo thành phần kinh tế năm 2018 đạt573.586 người Trải qua nhiều lần tách, nhập về hành chính, đến ngày01/01/1997, tỉnh Bình Phước được tái lập và đi vào hoạt động Hiện nay, tỉnhBình Phước có 11 huyện, thị xã, thành phố
Trong năm 2019, toàn tỉnh có 8 siêu thị, 3 trung tâm thương mại, hơn 30nhà phân phối và 6.500 cửa hàng kinh doanh tạp hóa, cửa hàng tiện lợi đã gópphần thay đổi bộ mặt đô thị, gia tăng hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh.Năm 2019, toàn tỉnh khoảng 912.270 lượt khách tham quan (khách nội địa879.860 lượt, khách quốc tế 32.410 lượt), doanh thu đạt khoảng 570,7 tỷ đồng
Trang 32(tăng 42% so với cùng kỳ 2018) Kim ngạch nhập khẩu năm 2019 ước thựchiện 2.370 triệu USD, nhập khẩu thực hiện 1.450 triệu USD.
Đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với trồng cây công nghiệp có giátrị kinh tế cao như cao su, điều, cà phê, hồ tiêuNăm 2019, toàn tỉnh hiện có423.970ha cây lâu năm (cây ăn quả các loại 11.795ha, cây công nghiệp lâu nămhiện có 411.611ha gồm: 137.368ha cây điều, 241.014ha cây cao su, 17.198hacây hồ tiêu, 15.031ha cây cà phê) Hướng tập trung vào phát triển cây côngnghiệp đã góp phần nâng cao hiệu quả nông nghiệp và đem lại thành công chocông cuộc xóa đói, giảm nghèo ở địa phương, đời sống người dân ngày càngđược cải thiện (năm 2017 thu nhập bình quân đầu người 40,8 triệuđồng/người/năm; năm 2018 là 43,3 triệu đồng/người/năm và đến năm 2019 đạt44,4 triệu đồng/người/năm)
Tình hình sản xuất công nghiệp của tỉnh năm 2019 đạt tốc độ tăng trưởngkhá cao(19,38%), góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh, côngnghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục xu hướng phát triển chiếm tỷ trọng cao trong
cơ cấu toàn ngành
Trong năm 2019, tỉnh đã cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanhdoanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 13.189 tỷ đồng; về thuhút FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài), toàn tỉnh đã thu hút được 43 dự án vớitổng vốn đăng ký là 304,7 triệu USD
Tính đến nay tỉnh Bình Phước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyhoạch 13 KCN nằm trên 04 huyện,thị xã gồm : thị xã Đồng Xoài, huyện ĐồngPhú, huyện Chơn Thành, huyện Hớn Quản với tổng diện tích là 4.686 ha, cụ thểnhư sau: KCN Đồng Xoài I: 163 ha; KCN Đồng Xoài II: 85 ha; KCN ĐồngXoài III: 121 ha; KCN Chơn Thành I: 125 ha; KCN Chơn Thành II: 76 ha; KCNMinh Hưng - Hàn Quốc: 193 ha; KCN Minh Hưng III: 292 ha; KCN MinhHưng - Sikico: 655 ha; KCN Tân Khai II: 160 ha; KCN Việt Kiều: 104 ha; KCNBắc Đồng Phú: 190 ha và KCN Nam Đồng Phú: 72; KCN Becamex BìnhPhước: 2.450 ha
Trang 33Đến nay, 13 KCN được giao cho 11 nhà đầu tư hạ tầng Trong đó có 10 nhàđầu tư hạ tầng được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký là7.929 tỷ đồng và 12,83 triệu USD Hiện nay, các KCN trên địa bàn tỉnh đã thuhút được 166 dự án đầu tư thứ cấp, trong đó có 106 dự án đầu tư nước ngoài, 60
dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1,08 tỷ USD và 3.344 tỷđồng
Với ngành nghề sản xuất chủ yếu trong các doanh nghiệp là may mặc,giày dép, dệt nhuôm vải… Khu Công nghiệp tỉnh Bình Phước nên lao động nữchiếm 70% tổng số lao động tại các Khu Công nghiệp, lao động nữ có vai tròquan trọng tạo ra các sản phẩm phục vụ cuộc sống cũng như thúc đẩy kinh tế,
xã hội của tỉnh phát triển Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng laođộng nữ của các Doanh nghiệp cụ thể:
- Trước nhất, Tỷ lệ LĐN đã kết hôn 55% và đã có con 62,1% Có 44,3%lao động nữ nhập cư chưa qua đào tạo Ngay cả đối với lao động đã qua đào tạo,
có tới 77% trong số họ phải đào tạo lại tại doanh nghiệp mới có thể đáp ứngcông việc Tỷ lệ lao động nữ nhập cư phải thuê nhà trọ hoặc ở nhờ nhà ngườithân có tỷ lệ cao, chiếm 70,8%, trong khi đó chỉ có 2% được ở nhà của doanhnghiệp và 28,8% ở nhà riêng
- Thứ hai, tiền lương, thu nhập của lao động nữ nhập cư không đủ trangtrải cho các chi phí tối thiểu cần thiết: Tiền lương, thu nhập thực tế của đa sốngười lao động, trong đó có lao động nữ nhập cư hiện nay còn thấp so với nhucầu cơ bản của cuộc sống, không đủ để trang trải cho các chi phí cần thiết chosinh hoạt hàng ngày Cụ thể, lao động nữ nhập cư có thu nhập dưới 4 triệuđồng/tháng chiếm tỷ lệ: 31,3%; từ 4-5 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 39,7%, và từ
6 - 7 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 28,6%; tỷ lệ có thu nhập trên 7 triệuđồng/tháng chỉ chiếm khoảng 2% Do đó cuộc sống của họ càng trở nên khókhăn và bấp bênh Kết quả là 88,8% lao động nữ nhập cư phải làm thêm giờ đểkiếm thêm thu nhập và cải thiện cuộc sống
Trang 34- Thứ ba, nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày có xu hướng tăng,với mức 5-7 triệu đồng/tháng (quy mô gia đình 3-4 người) như ăn ở, đi lại, chiphí khám chữa bệnh và nuôi con nhỏ thì rất khó khăn cho các lao động nữ.Trong đó chi cho thuê nhà trọ của chị em nhập cư trung bình 500-600 ngànđồng/tháng.
- Thứ tư, lao động nữ nhập cư có cuộc sống bấp bênh, không có tiết kiệmphòng tránh rủi ro: Với thu nhập thấp, không đủ để trang trải cho các chi phí cầnthiết cho sinh hoạt hàng ngày, trong khi đa phần lao động nhập cư phải thuê nhàtrọ để ở, đời sống của người lao động đặc biệt là lao động nữ nhập cư ở trongtình trạng bấp bênh, thiếu ổn định Kết quả khảo sát cho biết 56,5% gia đình chị
em nữ nhập cư không có tiền tiết kiệm đề phòng lúc gặp khó khăn và tránh rủi
ro Trong những người có tiết kiệm, số tiền cũng không nhiều, mức dưới 1 triệuđồng/tháng, chiếm 78,1% Thứ năm, lao động nữ nhập cư hầu như không cóthời gian và ngân sách dành cho đời sống văn hóa tinh thần: Quy hoạch và pháttriển các KCN, khu chế xuất thiếu đầu tư đúng mức vào các khu dân sinh ngoàiKCN, khu chế xuất, thiếu đồng bộ trong việc dành quỹ đất và hạn chế về kinhphí xây dựng cơ sở hạ tầng cho hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí chongười lao động Thu nhập thấp không đủ trang trải cuộc sống, khiến người laođộng trong đó có lao động nữ nhập cư hầu như không có thời gian và ngân sáchcho việc thụ hưởng các hoạt động vui chơi giải trí, văn hóa, thể dục, thể thao,chăm sóc sức khỏe để tái tạo sức lao động Kết quả nghiên cứu cho thấy xem 43
ti vi, nghe nhạc là loại hình giải trí phổ biến cho lao động nữ nhập cư (với tỷ lệ47,7%)
Chính những yếu tố trên dẫn đến Doanh nghiệp khó tuyển dụng lao động
nữ và một số ảnh hưởng cụ thể về thời gian, chế độ, điều kiện làm việc của laođộng nữ đã ảnh hưởng trực tiếp đến Doanh nghiệp trong việc sử dụng lao động
nữ trong các khu công nghiệp
Trang 352.2. Khái quát về tình hình sử dụng lao động nữ tại các doanh nghiệp trong các KCN tỉnh Bình Phước
Đóng góp vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế tỉnh bình Phước phải
kể đến hoạt động của các khu chế xuất và KCN Từ khi 13 cum khu côngnghiệp của tỉnh được thành lập và thu hút được nguồn vốn lớn đầu tư vào sảnxuất công nghiệp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các dịch vụ phục vụ sản xuất côngnghiệp; tạo kim ngạch xuất khẩu cho tỉnh; thực hiện có kết quả thu hút côngnghệ mới và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ nước ngoài; giải quyết việc làmcho người lao động trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận; đồng thời góp phầnthúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, góp phần tăng thu ngân sách
Cơ cấu đầu tư hiện nay trong các KCN cho thấy, các doanh nghiệp hoạt động đadạng về ngành nghề, quy mô và trình độ công nghệ Trong đó, các ngành nghềchiếm tỷ trọng cao: Dệt may (50%), Cơ khí (10,5%), Chế biến thực phẩm (5%),Giày da (28,5%) v.v Lực lượng lao động trong các KCN chủ yếu là lao động trẻ
có độ tuổi trung bình từ 18 đến 25, lao động nhập cư chiếm trên 60% và tỷ lệlao động nữ chiếm khoảng 65% tổng số lao động Tính đến ngày 31/12/2019,các KCN đã thu hút 49,300 người làm việc, trong đó lao động nữ là 39,200người (chiếm 79,5%) và có khoảng 42,000 người làm việc trong doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ 85,2% và khoảng 7,300 người trongdoanh nghiệp Việt Nam (tỷ lệ 14,8%) Lao động từ các tỉnh 29,800 người (tỷ lệ60,44%) Số lượng lao động đã qua đào tạo từ đại học, cao đẳng chỉ chiếm hơn6,7%, nếu tính số lao động có trình độ từ trung học nghề đến đại học chiếmchưa tới 15,6% Phần lớn lao động được tuyển dụng là học sinh trung học cơ sở
và trung học phổ thông chiếm tới khoảng 84%
Tuy nhiên, trong thực tế, lao động nữ nhận tiền lương và thu nhập thấphơn nam giới; Một số ngành sử dụng nhiều lao động nữ như: dệt may, giày da,lắp ráp điện tử, phần lớn là lao động ngoại tỉnh và chủ yếu là ký các hợp đồngngắn hạn Đối với số lao động này, người sử dụng lao động thường không đóngBHXH và bản thân người lao động cũng trốn tránh việc đóng BHXH bởi không
Trang 36muốn bị bớt xén vào đồng lương quá ít ỏi Báo cáo năm 2019 của Công đoàncác Khu công nghiệp tỉnh cho thấy, thu nhập bình quân của lao động nữ luônthấp hơn mức thu nhập chung ở mọi cấp so sánh Điều đó cũng có nghĩa là thunhập của lao động nữ luôn thấp hơn lao động nam Mức thu nhập bình quânchung của lao động nam hiện nay khoảng 7.5 triệu đồng/tháng (trong khu vựcdoanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) và mức thu nhập bình quânchung của lao động nữ là khoảng 6,2 triệu đồng/ tháng Như vậy, thu nhập bìnhquân chung của lao động nữ chỉ bằng 82,6% thu nhập của nam giới.
Xét về mặt chính sách, pháp luật không có sự phân biệt đối xử giữa nam
và nữ Tuy nhiên, trên thực tế sự khác biệt giới trong thực hiện chính sách bảohiểm xã hội (BHXH) vẫn tồn tại ở các mặt sau:
Theo quy định của pháp luật, lao động nữ khi sinh con được nghỉ từ 4-6tháng Tuy nhiên, một số lao động nữ chỉ nghỉ 2 hoặc 3 tháng, họ tự nguyện đilàm trước thời hạn Lý do chính là sợ bị mất việc làm, và muốn có thêm thunhập Mặt khác, các quy trình, thủ tục thực hiện chế độ BHXH hiện nay cònnhiều bất cập, rào cản, nhiêu khê;
Chính sách ưu tiên trong tuyển dụng lao động và đào tạo nghề dự phòngcho lao động nữ: Điều 110 của Bộ luật Lao động sửa đổi (năm 2002) quy định:Các doanh nghiệp phải thực hiện đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ ngoàinghề đang làm để việc sử dụng lao động nữ được dễ dàng, phù hợp với đặcđiểm tâm, sinh lý Nhưng trên thực tế tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnhBình Phước phần lớn chỉ có khoảng 5% số doanh nghiệp thực hiện đào tạonghề dự phòng cho lao động nữ, trong số đó chủ yếu là các doanh nghiệp nhànước Đào tạo nghề dự phòng là việc cần thiết cho cả lao động nữ và nam trongđiều kiện nền kinh tế có nhiều chuyển đổi về cơ cấu sản xuất, kinh doanh nhưhiện nay tuy nhiên để thực hiện và thực trạng hiện nay là chiếm số quá ít
Giờ làm việc và tình trạng làm thêm giờ: Lao động nữ chưa được đối xửbình đẳng trong tuyển dụng vì lý do phụ nữ có trách nhiệm lớn lao khi sinh đẻ
và nuôi con nhỏ Thậm chí, một số doanh nghiệp tại các khu công nghiệp đã