Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH HOÀNG VƯƠNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 3VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH HOÀNG VƯƠNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Thị Hồng Vân
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Minh Hoàng Vương
Trang 5MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN 10
1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và giải quyếttranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa 101.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 131.3 Những yếu tố ảnh hưởng hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bánhàng hóa của Tòa án nhân dân 19
1.4 Kinh nghiệm của một số nước về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bánhàng hóa bằng hệ thống Tòa án và bài học kinh nghiệm cho ViệtNam 26
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, TP.HCM 40
2.1 Các qui định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án 402.1 Thủ tục giải quyết 43
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN 71 3.1 Phương hướng hoàn thiện 71
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa 72
KẾT LUẬN CHUNG 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hiện nay, ở các quốc gia đang phát triển việc đưa đất nước ngày càng hộinhập và mở rộng cơ chế thị trường, làm ăn với đối tác trong và ngoài nước nênviệc phát sinh tranh chấp trong hoạt động mua bán, giao thương cũng ngày một
đa dạng và phức tạp
Mua bán hàng hóa được hiểu là hoạt động mang tính thương mại mà qua
đó bên bán có nghĩa vụ phải giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bênmua và nhận thanh toán, bên mua có trách nhiệm thanh toán cho bên bán, nhậnhàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận Bản chất của hợp đồng mua bánhàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứtcác quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán, đây là bản chất chung của hợpđồng Mục đích của các bên khi thiết lập hợp đồng mua bán hàng hóa là nhằmđạt được lợi ích mà các bên mong muốn và hợp đồng mua bán hàng hóa là mộttrong những loại hợp đồng đặc trưng và phổ biến nhất trong hoạt động kinhdoanh thương mại Hiện nay, cùng với sự phát triển của toàn cầu hóa, hoạtđộng mua bán hàng hóa không còn diễn ra ở phạm vi hẹp của một quốc gia màphạm vi kinh doanh lan rộng ra phạm vi thế giới Do đó, hợp đồng mua bán hànghóa đã trở thành công cụ hiệu quả nhất để các bên đạt được sự thỏa thuận và lợiích khi tiến hành các hoạt động mua bán hàng hóa Bên cạnh đó, những tranhchấp trong hoạt động thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hoá nóiriêng ngày một tăng về số lượng cũng như sự phức tạp của từng vụ việc đòi hỏiphải có một hệ thống pháp luật điều chỉnh toàn diện, cơ chế giải quyết nhanhgọn, mục đích để không gây ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và hoạtđộng kinh doanh của các bên
Pháp luật Việt Nam quy định các hình thức giải quyết tranh chấp trongkinh doanh thương mại nói chung và giải quyết tranh chấp đối với loại hợp đồngmua bán hàng hóa nói riêng gồm có các hình thức là: Thương lượng, hòa giải,
Trang 8Trọng tài và Tòa án Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán hàng hóa rấtphổ biến và cần phải lựa chọn một phương thức để giải quyết kịp thời, nhanhchóng Nhà nước khuyến khích các chủ thể thực hiện việc thương lượng, thỏathuận nhằm giải quyết mâu thuẫn trước tiên, nếu như không giải quyết được thìmới lựa chọn phương thức giải quyết bằng Trọng tài hoặc Tòa án, đây là phươngthức lựa chọn cuối cùng.
Các hình thức giải quyết tranh chấp đối với loại hợp đồng mua bán hànghoá theo pháp luật Việt Nam hiện nay gồm thương lượng, hoà giải, Trọng tài vàToà án Tuy nhiên, hiện nay việc giải quyết các tranh chấp Hợp đồng mua bánhàng hóa ở Việt Nam, các chủ thể thường chọn phương thức giải quyết bằng Tòa
án nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc giải quyết, thi hành án cũng như nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, Tòa án là công cụ bảo đảm cho cácbên thực hiện nghĩa vụ của mình thông qua biện pháp cưỡng chế thi hành án
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, việc giải quyết các tranh chấp hợp đồngmua bán thông qua Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng, điều đó không chỉ đảm bảoquyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia trong hợp đồng mà còn có ýnghĩa đối với sự phát triển kinh tế của thành phố Vì vậy nếu giải quyết tranhchấp tốt thì sẽ góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm môi trường kinh doanh antoàn, lành mạnh Thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp hợp đồngmua bán ở Tòa án nước ta nói chung và các Tòa án nhân dân cấp quận, huyệntrên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng còn một số vướng mắc vàkhó khăn cần phải nghiên cứu Việc hạn chế, khó khăn trong thực tiễn xét xửphần lớn là do pháp luật về giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại cònthiếu đồng bộ, chưa thống nhất, cũng như chưa phù hợp với xã hội hiện nay.Điều đó, sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dâncấp quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều bản án, quyết định
bị kháng cáo, kháng nghị có thể bị sửa án hoặc bị hủy án
Trang 9Từ thực tiễn giải quyết các tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hóa tạiTòa án nhân dân các quận, huyện của Thành phố Hồ Chí Minh khi các tranhchấp này trở nên đa dạng và phức tạp, việc nghiên cứu pháp luật về giải quyếttranh chấp Hợp đồng mua bán tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện tại Thànhphố Hồ Chí Minh sẽ phù hợp với thực tiễn xã hội, có ý nghĩa rất lớn về mặt lýluận.
Từ những phân tích trên, tác giả chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp hợpđồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1,Thành phố Hồ Chí Minh” để làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đối với các đề tài nghiên cứu liên quan đến tranh chấp hợp đồng mua bánhàng hóa đã được rất nhiều nhà khoa học lựa chọn và nghiên cứu ở nhiều góc độkhác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều chỉ nghiên cứu về lĩnh vực riêngcủa Hợp đồng mua bán hàng hóa và giải quyết tranh chấp mua bán hàng hóa màchưa đi cụ thể vào việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa
án nhân dân các quận, huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu các vấn đề liên quan về tranh chấp hợp đồng mua bán hànghóa đã có một số công trình của các tác giả như :
- “Tính đặc thù trong thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, lao động Những vấn đề lý luận và thực tiễn” - TS Nguyễn Văn Dũng (2001), Đề tài cấp
Bộ, Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao;
- “Những giải pháp nâng cao năng lực và chất lượng xét xử các tranh chấp thương mại tại Toà án nhân dân” – Cử nhân Đỗ Cao Thắng (2004), Đề tài
cấp bộ, Chánh tòa Tòa Kinh tế;
- “Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án ở Việt Nam” ,Th.S Trần Thị Thùy Trang;
- “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Tòa án và Trọng tài”, GS.TSKH Đào Trí Úc;
Trang 10- “Một số lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”, PGS.TS Nguyễn Như Phát, TS Lê Thị Thu Thủy;
- “Tranh chấp hợp đồng và phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng” và đề tài “Tăng cường vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế”,TS Phan Chí Hiếu;
- “Giải quyết tranh chấp thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh”, Th.S Trần Thị Như Mơ;
- “Lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án”, Th.S Nguyễn Văn Hợp;
- “Hoàn thiện thủ tục pháp lý về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án” ,Th.S Tăng Thị Nhớ;
- “Giai đoạn chuẩn bị xét xử trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại”, Th.S Võ Thị Ngọc Huyền.
Và rất nhiều đề tài của các nhà khoa học đã nghiên cứu pháp luật về giảiquyết tranh chấp hợp đồng mua bán nói chung và hợp đồng tín dụng, mua bánhàng hóa, cho thuê,… nói riêng Đồng thời, các đề tài nghiên cứu trên hầu hết đềunghiên cứu chung về lĩnh vực tranh chấp kinh doanh mua bán, tuy nhiên các bàiviết chủ yếu dừng lại trên phương diện lý thuyết, chưa khảo sát, đánh giá thực tiễnviệc áp dụng trong thực tế công tác giải quyết tranh chấp tại một địa phương cụthể, đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu, khảo sát về thực tiễn giải quyếttranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân Quận 1 Thành phố
Hồ Chí Minh Tuy nhiên, việc nghiên cứu cụ thể và chuyên sâu về giải quyếttranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng con đường Tòa án vẫn còn nhiềuhạn chế và mang tính thời sự, chưa giải quyết được triệt để các yêu cầu đặt ra củaloại hình tranh chấp này, bởi lẽ những vấn đề mâu thuẫn ngày càng đa dạng, phứctạp
Dựa trên cơ sở tiếp thu từ những đề tài đã nghiên cứu nêu trên, bản thânmuốn mô tả rõ hơn về việc giải quyết những tranh chấp phát sinh trong hợp đồngmua bán hàng hóa bằng con đường Tòa án cũng như việc áp dụng pháp luật
Trang 11trong giải quyết tranh chấp này tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ ChíMinh, với sự kết hợp từ thực tiễn và các hiểu biết trong học tập đưa ra giải phápnhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về thương mại và đặc biệt làcác tranh chấp về hợp đồng mua bán tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện củaThành phố Hồ Chí Minh nói chung và tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đã làm rõ ba vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về lĩnh vực tranh chấp
kinh doanh mua bán
Thứ hai, quy định pháp luật về việc giải quyết tranh chấp mua bán phát
sinh trong hợp đồng mua bán
Thứ ba, nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật về việc giải quyết tranh
chấp mua bán phát sinh trong hợp đồng mua bán
Kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên là cơ sở pháp lý, cơ sở lýluận để luận văn kế thừa và phát triển Những công trình trên đã tạo ra cơ sở líluận quan trọng về việc giải quyết tranh chấp mua bán phát sinh trong hợp đồngmua bán Tuy nhiên, luận văn này, tác giả khai thác vấn đề việc giải quyết tranhchấp mua bán phát sinh trong hợp đồng mua bán dưới góc độ Luật thương mại,thông qua việc nghiên cứu đánh giá việc giải quyết tranh chấp mua bán phát sinhtrong hợp đồng mua bán theo pháp luật hiện hành, thông qua việc nghiên cứuthực tiễn thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
từ thực tiễn xét xử sơ thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quảgiải quyết các tranh chấp về thương mại, về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa
án nhân dân cấp Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới
Với việc lựa chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh” tác giả mong muốn sẽ có những đóng góp tích cực vào tình
hình nghiên cứu giải quyết tranh chấp phát sinh trong hợp đồng mua bán theo
Trang 12Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được các mục đích nêu trên, đề tài của tác giả có những nhiệm
vụ sau đây:
- Phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề về mặt lý luận như: Khái niệm,đặc điểm, vai trò của Hợp đồng mua bán hàng hóa, và giải quyết tranh chấp hợpđồng mua bán hàng hóacác yếu tố tác động đến việc giải quyết tranh chấp hợpđồng mua bán
- Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam vềgiải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán ở Việt Nam hiện nay và đặc biệt là trênđịa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyếttranh chấp hợp đồng mua bán tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ ChíMinh, đồng thời nêu lên những thuận lợi, hạn chế và nguyên nhân trong việc giảiquyết tranh chấp đó
- Đưa ra những phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyếttranh chấp hợp đồng mua bán tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ ChíMinh
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 134.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng tập trung nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật ViệtNam và thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hợp đồng mua bánhàng hóa tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu và phân tích một số vấn đề lýluận và quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng muabán hàng hóa
Phạm vi về không gian nghiên cứu: Luận văn khảo sát, đánh giá thực tiễn
áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa
án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi về thời gian: Luận văn khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng phápluật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dânQuận 1, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2017 đến nay, thời điểm mà cả BLDS
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng các phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu khoa học nóichung và nghiên cứu về khoa học pháp lý nói riêng để thực hiện và hoàn thành luậnvăn, như:
- Phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích các khái niệm quy địnhpháp luật hiện hành về quyền của người sử dụng lao động và những điểm hạnchế, bất cập của pháp luật về quyền của người sử dụng lao động Đánh giá thực
Trang 14trạng áp dụng pháp luật về quyền của người sử dụng lao động tại Thành phố HồChí Minh;
- Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu để so sánh những quy địnhpháp luật hiện hành về quyền của người sử dụng lao động và các văn bản hướngdẫn thi hành, so sánh các quy định pháp luật về quyền của người sử dụng laođộng với thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó chỉ ra những mâuthuẫn và những khó khăn còn tồn tại trong thực tế;
- Phương pháp thống kê nhằm hệ thống thực trạng tồn tại trong việc thựcthi các quy định pháp luật về quyền của người sử dụng lao động, từ đó đề ra cácphương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của người sử dụng laođộng Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như:phân tích quy phạm pháp luật thực định, phương pháp dự báo pháp luật, để giảiquyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra trong luận văn
6. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Kết quả nghiên cứu về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóatại Tòa án góp phần giúp các chủ thể kinh tế hiểu rõ những vấn đề lý luận, cácquy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết Đồng thời giúp chúng ta tìm hiểuđược những vướng mắc, những bất cập về pháp luật, từ đó đưa ra các giải pháphiệu quả hơn để hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao đội ngũ cán bộ tốt hơn,giải đáp những vướng mắc của các chủ thể khi tham gia trong hoạt động kinhdoanh thương mại Từ đó, đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nângcao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn
- Đề tài đóng góp cơ sở lý luận trong việc thực hiện pháp luật về giải quyếttranh chấp Hợp đồng mua bán tại Tòa án
- Đề tài đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấpHợp đồng mua bán tại Tòa án Đồng thời, đánh giá thực trạng giải quyết tranhchấp Hợp đồng mua bán tại Tòa án Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15- Đề tài đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả ápdụng pháp luật về giải quyết tranh chấp Hợp đồng mua bán tại Tòa án Quận 1nói riêng và tại các quận, huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.
- Đề tài làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách pháp luật
về thương mại nói chung và pháp luật về giải quyết tranh chấp Hợp đồng muabán tại Tòa án nói riêng Đồng thời, luận văn cũng cung cấp nguồn tài liệu chosinh viên chuyên ngành luật và những người nghiên cứu lĩnh vực chuyên sâu vềLuật Thương mại và Luật Dân sự
7. Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn bao gồm: phần mở đầu, chương 1, chương 2, chương 3,phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục các bản án trích dẫn, trongđó:
Chương 1 Một số vấn đề chung về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân
Chương 2 Qui định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp về
hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án và thực tiễn xét xử sơ thẩm tại Tòa ánnhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Phương hướng và một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết các tranh chấp hợpđồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Hầu hết khi các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa đều muốnduy trì sự hợp tác lâu dài để đảm bảo sự đoàn kết và hợp tác ổn định với nhau.Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân mối quan hệ kinh tế giữa họ lại có sự bất đồngdẫn đến tranh chấp trong kinh tế thương mại, trong đó có tranh chấp phát sinh từhợp đồng mua bán hàng hóa
Để hiểu về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thì cần làm rõ các kháiniệm về tranh chấp, hợp đồng, hoạt động mua bán hàng hóa
1.1.1.1 Tranh chấpKhi các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế, không tránh khỏi những mâuthuẫn, bất đồng, nên tranh chấp thường phát sinh từ những mâu thuẫn, bất động
đó Theo quan điểm triết học Mac- Lê nin, mâu thuẫn được hình thành và pháttriển giữa các chủ thể được xem như là quy luật chung của xã hội, là nguồn gốc,
là động lực của mọi sự phát triển Mâu thuẫn tồn tại là yếu tố hình thành nên sựphát triển của xã hội và là điều tất yếu ở mọi nơi, trên mọi lĩnh vực
Như vậy, tranh chấp được hiểu là những xung đột thường phát sinh từnhững mâu thuẫn, bất đồng về những lợi ích của các bên tranh chấp muốn đạtđược
1.1.1.2. Hợp đồng
Ở các nước khác nhau trên thế giới thì những định nghĩa cũng khác nhau
về hợp đồng Nếu xét về khía cạnh bảo vệ quyền, lợi ích của các chủ thể khitham gia trong hoạt động kinh tế, thương mại các quốc gia và vùng lãnh thổ đều
đã đưa ra nhiều khái niệm về hợp đồng như: Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Trang 17Hoa Kỳ, Pháp, Ấn độ, Nauy, Anh…Trong khi Hoa Kỳ cho rằng: “Hợp đồng làtổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự “thỏa thuận” của các bên ” thì Bộluật của Trung Quốc quy định: “Hợp đồng theo quy định của luật này là sự thỏathuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủthể bình đẳng tự nhiên, các tổ chức khác ”.
Việt Nam có rất nhiều quan điểm khác nhau về Hợp đồng, bao gồm kháiniệm dân sự theo nghĩa rộng (gồm cả kinh doanh, thương mại, lao động) và theonghĩa hẹp là không bao gồm kinh doanh, thương mại, lao động
Đặc điểm cơ bản nhất của hợp đồng là thể hiện sự thỏa hiệp giữa các bênvới nhau Việc thỏa hiệp giữa các bên tuân theo nguyên tắc được gọi là nguyên tắchiệp ý, là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng Khi giao kết hợp đồng, các bên thamgia trong hợp đồng đều được tự do thỏa thuận, tự do quy định, bàn bạc về các nộidung trong hợp đồng và xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ cụ thể trong hợpđồng cho các bên Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối màphải là tự do theo qui định của pháp luật mà các bên áp dụng hoặc có thể áp dụng
Như vậy, có thể hiểu hợp đồng chính là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều
bên với nhau, nhằm mục đích xác lập quyền và nghĩa vụ, thay đổi quyền vànghĩa vụ, cũng như chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợpđồng Khi thực hiện giao kết một hợp đồng nào đó thì đây chính là một hành vipháp lý, thể hiện ý chí của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng để làm phátsinh các quyền và nghĩa vụ của các bên
1.1.1.3. Mua bán hàng hóa
Theo từ Điển Việt Nam, có thể hiểu mua có nghĩa là hành vi đổi tiền đểlấy hàng hóa đồ vật; Bán có nghĩa là hành vi đổi vật lấy tiền về hoặc chuyêncung cấp các mặt hàng (vật) để lấy tiền lời;
Hàng hóa, theo Từ điển Việt Nam định nghĩa là một trong những phạmtrù cơ bản của kinh tế chính trị Hàng hóa là sản phẩm của quá trình lao động củacon người, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua việc trao
Trang 18đổi hoặc buôn bán Hiểu theo nghĩa hẹp thì hàng hóa là một dạng vật chất tồn tại
có hình dạng xác định trong không gian và có thể dung để trao đổi, mua bánđược Còn về nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể đêm ra trao đổi, muabán được
Theo học thuyết về kinh tế chính trị của Mac-Lenin thì khái niệm hànghóa cũng được hiểu là sản phẩm của quá trình lao động thông qua việc trao đổi,mua bán Hàng hóa có thể ở dạng hữu hình như vàng bạc, cái bàn hay ở dạng vôhình như sức lao động
Mua bán hàng hóa theo pháp luật một số nước:
Theo luật Thương mại thống nhất Mỹ:
Mua: Có nghĩ là thực hiện bằng cách bán, cho thuê, chiết khấu, đàm phámthế chấp, bảo đảm, phát hành hoặc phát hành lại, quà tặng hoặc bất kỳ giao dịch
tự nguyện nào khác tạo ra sự quan tâm đến tài sản
Người bán: Nghĩa là một người kinh doanh các loại hàng hóa hoặc bằngcách khác bởi nghề nghiệp của anh ta tự coi là người có kiến thức hoặc kỹ năngđặc biệt đối với các thông lệ hoặc hàng hóa liên quan đến giao dịch hoặc người
mà kiến thức hoặc kỹ năng đó có thể được quy cho việc làm của anh ta một đại
lý hoặc người môi giới hoặc người trung gian khác, người mà nghề nghiệp củaanh ta tự cho mình là người có kiến thức hoặc kỹ năng như vậy
Hàng hóa: Nghĩa là tất cả mọi thứ bao gồm cả hàng hóa được sản xuất đặcbiệt) có thể di chuyển tại thời điểm xác định hợp đồng mua bán ngoài số tiềnphải trả, chứng khoán đầu tư (Điều 8) và những thứ đang hoạt động “ Hànghóa” cũng bao gồm những con non chưa sinh của động vật và trồng trọt vànhững thứ được xác định khác gắn liền với thực tế như được mô tả trong phần vềhàng hóa bị cắt đứt từ thực tế (mục 2- 107)
Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (sau đây gọi tắt là LTM
2005) quy định như sau: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và
Trang 19nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”.
Điều 24 của LTM 2005 quy định về hình thức của hợp đồng mua bánhàng hóa, theo đó, hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằngvăn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Còn trong trường hợp mà phápluật quy định hợp đồng mua bán hàng hóa loại đó phải được lập thành văn bảnthì phải tuân theo quy định đó
Luật Thương mại năm 2005 còn quy định về nguyên tắc khi giao kết hợpđồng thương mại như sau: Hợp đồng thương mại được thực hiện theo nguyên tắccủa các chủ thể tự nguyện, bình đẳng và trở thành phương tiện phục vụ cho mụcđích kinh doanh Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường thì đây là hình thức pháp
lý chủ yếu giúp các quan hệ giữa các chủ thể kinh tế thực hiện công việc củamình một cách ổn định hơn, an toàn hơn và bình ổn hơn
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về tranh chấp hợp đồngmua bán hàng hóa là những bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể tham gia tronghợp đồng về các quyền và nghĩa vụ mà ở đây chủ yếu là liên quan đến việc thựchiện hoặc không thực hiện quyền và nghĩa vụ tự nguyện thỏa thuận
1.1.2 Đặc điểm, nguyên nhân tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.2.1. Đặc điểm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
Theo từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp được hiểu là sự tranh giành mộtcách giằng co không rõ về bên nào Trong đời sống xã hội luôn luôn có nhữngtranh chấp xảy ra trong mọi lĩnh vực, để xã hội ổn định và phát triển cần giảiquyết những tranh chấp ấy
Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh từ nội dung của hợpđồng, giải thích hợp đồng, cũng như tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của cácbên trong hợp đồng và quy định pháp luật có liên quan đến hợp đồng Quá trìnhthực hiện hợp đồng, sửa đổi, bổ sung chấm dứt hợp đồng, cũng như qui định về
Trang 20trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng… Vi phạm hợp đồng làcăn cứ làm phát sinh tranh chấp giữa các chủ thể.
Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có các đặc điểm sau:
- Có sự vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
Vi phạm hợp đồng được xác định khi bên mua hoặc bên bán hoặc cả hai khôngthực hiện hay thực hiện không đầy đủ, không đúng những nội dung đã thỏathuận trong hợp đồng
- Có thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm
Thiệt hại về tài sản là căn cứ để bên bị vi phạm đòi hỏi bên vi phạm phải có tráchnhiệm bồi thường thiệt hại đó Việc chứng minh thiệt hại là của bên bị vi phạm,nếu bên bị vi phạm không chứng minh được mình bị thiệt hại về vật chất do viphạm hợp đồng thì không thể yêu cầu bên vi phạm bồi thường
- Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất xảyra
Điều này có nghĩa là hành vi vi phạm hợp đồng phải là nguyên nhân dẫn đếnviệc gây ra thiệt hại cho bên bị vi phạm
- Có lỗi của bên vi phạm
Đây là điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành động viphạm hợp đồng của bên vi phạm, nếu một bên vi phạm hợp đồng nhưng không
có lỗi thì không thể bị bắt buộc bồi thường thiệt hại Ví dụ như bên bán đang trênđường giao hàng cho bên mua thì gặp phải lũ lụt không thể giao đúng giờ thìviệc vi phạm hợp đồng nay không do lỗi bên bán, nên không chịu trách nhiệmbồi thường
Ở Việt Nam, khi xảy ra tranh chấp hợp đồng thì việc hòa giải là ưu tiên, được coitrọng Các bên phải ngồi lại với nhau để bàn bạc tự thương lượng để đi đến việchòa giải với nhau Nếu việc thương lượng, hòa giải không mang lại tiếng nóichung thì mới đem ra tòa án hoặc trọng tài để giải quyết Kể cả khi đã đưa ra tòa
án thì các bên vẫn có thể tiếp tục hòa giải với nhau, trung bình số lượng các vụtranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được giải quyết thông qua hòa giảichiếm khoảng 50% trên tổng số những vụ việc mà tòa án giải quyết
Trong điều kiện kinh tế thị trường, sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế kéo theo sự đa dạng về đối tượng chủ thể và lợi ích cần bảo vệ, sự xuất hiệncủa các phương thức kinh doanh, thị trường và các yếu tố sản xuất phi truyềnthống làm phát sinh nhiều dạng tranh chấp như: Tranh chấp giữa các thành viên
Trang 21công ty với công ty, tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau trong quátrình thành lập, hoạt động và giải thể công ty; tranh chấp mua bán các loại cổphiếu, trái phiếu; tranh chấp về liên danh, liên kết kinh tế;
1.1.2.2. Nguyên nhân tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Nguyên nhân mang tính chủ quan
+ Do sự chủ quan của các bên trong việc thiết lập hợp đồng mua bán hàng hóa.+ Do ý chí chủ quan của các chủ thể trong hợp đồng (cố tình không thực hiệncác giao kết trong hợp đồng dẫn tới bên bị vi phạm buộc phải khởi kiện tại tòa án
để bảo vệ quyền lợi)
+ Đối với các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì tranh chấp phátsinh ngoài những nguyên nhân trên còn do: năng lực của doanh nghiệp trongquan hệ thương mại quốc tế còn nhiều hạn chế; sự thiếu hiểu biết về pháp luật vàtập quán thương mại quốc tế
- Nguyên nhân mang tính khách quan
+ Sự biến động của những yếu tố như giá cả, tỷ giá, cung cầu của mỗi quốc gia
là khác nhau ở mỗi giai đoạn ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của các bên và có thểdẫn đến nguy cơ xảy ra tranh chấp
+ Các sự kiện bất khả kháng xảy ra ngẫu nhiên trong thực tế sau khi hai bên đã
ký kết hợp đồng mà không thuộc trường hợp đồng miễn trách nhiệm
+ Đối với các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, ngoài nhữngnguyên nhân khách quan trên còn có thể kể đến các nguyên nhân sau: Hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng liên quan đến ít nhất hai hệ thống phápluật của hai quốc gia; ngoài ra, còn có thể liên quan đến tập quán quốc tế điềuchỉnh các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên ký kết lại khôngtìm hiểu kỹ lưỡng trước khi ký kết hợp đồng dẫn đến việc ký kết hợp đồngkhông đúng, không đầy đủ, dẫn đến cách hiểu không thống nhất làm phát sinhtranh chấp giữa các bên; Sự thay đổi chính sách và pháp luật điều chỉnh quan hệthương mại quốc tế
Do vậy, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá có rất nhiều dạng như:tranh chấp về phương thức thanh toán, điều khoản giao nhận hàng hóa, số lượng,chất lượng, thời gian giao nhận, phương pháp bảo quản
1.1.3 Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 22Giải quyết tranh chấp chính là việc phân định đúng, sai cho các bên tranhchấp rõ ràng Khi các bên có tranh chấp xảy ra thì sẽ không tự thỏa thuận lựachọn được phương án giải quyết cũng như người đứng ra giải quyết tranhchấp Do đó theo quy định của phong tục, tập quán hay theo quy định củapháp luật sẽ đề ra người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, cơ chế giảiquyết tranh chấp để đảm bảo các bên tranh chấp đều chấp nhận kết quả giảiquyết tranh chấp cho dù kết quả đó không như mong muốn của họ Cơ quan
có thẩm quyền, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp được xác địnhtheo quy định của pháp luật như Tòa án, hay theo phong tục, tập quán như giàlàng, trưởng bản giải quyết tranh chấp chính là việc người có thẩm quyền,
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đưa ra phán quyết cho việc tranh chấp giữacác bên, buộc các bên tranh chấp có nghĩa vụ phải chấp hành phán quyết đó
Như vậy, giải quyết tranh hợp đồng mua bán hàng hóa là việc người cóthẩm quyền, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trongquá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2. Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng tòa án nhân dân
Có 04 phương thức cơ bản giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hànghóa chủ yếu hiện nay, bao gồm: Thương lượng, Hòa giải, Giải quyết tranh chấpthông qua Trọng tài thương mại (hoặc Trọng tài quốc tế gọi tắt chung là Trọngtài) vàGiải quyết tranh chấp thông qua tố tụng tại Tòa Án Tác giả lần lượt phântích từng phương thức cụ thể như sau
1.2.1. Phương thức thương lượng:
+ Khái niệm: Thương lượng có thể hiểu là việc các bên tranh chấp giải
quyết tranh chấp mua bán hàng hóa thông qua việc bàn bạc, dàn xếp, thỏa thuận,tháo gỡ các vướng mắc phát sinh cũng như hòa giải và tìm ra phương án giảiquyết ổn thỏa nhất giữa các bên Thương lượng là phương thức giải quyết của
Trang 23hai bên với nhau, không thông qua bất kỳ bên thứ ba nào hoặc cần có sự trợ giúphay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào.
+ Đặc điểm: Đặc điểm lớn nhất và đặc trưng nhất của phương thức này là
việc chính bản thân các bên tranh chấp tự giải quyết với nhau, không có sự tácđộng của bên thứ ba nên rất cần sự hợp tác, thiện chí giữa các bên
Quá trình thương lượng giữa các bên dựa trên sự thỏa thuận và thiện chí,
tư giác của các bên, được hình thành bởi cơ chế tự giải quyết của các bên nênkhông chịu sự ràng buộc của quy định pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết
Chính vì cơ chế tự giải quyết, tự thỏa thuận và không hề có sự trợ giúphay phán quyết của bên thứ ba, nên việc thực thi kết quả thỏa thuận phải tùythuộc vào sự tự nguyện, thiện chí của các bên mà không có bất kỳ cơ chế pháp lýnào bảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thươnglượng
1.2.2. Phương thức hòa giải:
+ Khái niệm: Hòa giải được hiểu là phương thức giải quyết tranh chấp
hợp đồng mua bán hàng hóa dựa trên việc thỏa thuận, thương lượng giữa các bênvới nhau để giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, khác với phương thức thươnglượng, hoa giải có sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ,thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp
Trang 24Giống phương thức thương lượng, kết quả hòa giải thành được thực thihoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất
kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm thi hành những cam kết của các bên trong quátrình hòa giải
1.2.3. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại:
Việc lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thông qua Tòa ánhoặc Trọng tài thương mại để đạt được kết quả tốt nhất luôn luôn là vấn đề không
hề đơn giản đối với các bên tranh chấp Những ưu điểm, khuyết điểm của phươngpháp giải quyết tranh chấp này để nắm rõ về đặc điểm của từng loại nhằm áp dụngchúng một cách linh hoạt, phù hợp cho từng vụ việc tranh chấp cụ thể
+ Khái niệm: Phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động mua bán
hang hóa bằng Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt độngcủa Trọng tài viên Trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba hoàn toàn độc lập vớibên mua và bên bán, sẽ đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thựchiện để giải quyết tranh chấp giữa các bên
+ Đặc điểm:
Được tiến hành khi có yêu cầu của các bên tranh chấp và tranh chấp đóphải thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài
Chủ thể giải quyết tranh chấp thương mại là các Trọng tài viên
Là phương thức đảm bảo quyền tự định đoạt cao nhất của các bên khi màcác bên tranh chấp có thể thống nhất, thỏa thuận lựa chọn trung tâm Trọng tài,Trọng tài viên, địa điểm giải quyết, luật áp dụng
Hoạt động giải quyết không được công khai, đảm bảo tính bí mật
Nếu như sau khi sử dụng phương thức thương lượng và hòa giải nhưngkhông mang lại hiệu quả, các bên tranh chấp cũng không tự thỏa thuận đưa vụtranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài thương mại thì mới sử dụng đến phươngthức giải quyết bằng Tòa án Các bên thường gặp nhiều khó khăn do nhiềunguyên nhân khác nhau khi tự giải quyết tranh chấp cho nên cần thiết phải có sựcan thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà phổ biến ở đây là Tòa án
Trang 25Ngoài ra thì khi giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài, quyết địnhtrọng tài không có tính cưỡng chế cao như quyết định của Tòa án dẫn đến việcthi hành quyết định trọng tài không phải lúc nào cũng thuận lợi, hiệu quả như thihành bản án của Tòa Việc thi hành quyết định trọng tài chủ yếu do các bên cóthiện chí và hợp tác giải quyết với nhau hay không Cho nên việc giải quyếttranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thông qua Tòa án là hình thức cuối cùng
mà các bên lựa chọn để giải quyết khi tranh chấp không còn lựa chọn nào khác
1.2.4. Phương thức giải quyết hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án nhân dân
Phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa cácbên với nhau bằng con đường Tòa án được hiểu là phương thức giải quyết tranhchấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước, được Tòa án thực hiệntheo một trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ theo qui định của pháp luật, có
cơ chế thi hành phán quyết và bắt buộc các bên đương sự phải tuân theo
tổ chức xã hội, công dân tôn trọng và chấp hành Chính vì vậy, đối với những vụ
án tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hóa các chủ thể kinh tế thường chọncon đường giải quyết này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 26Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sựnăm 2015 thì tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa Tòa án liên quan đến nhiều lĩnh vực của hoạt động kinh doanh, thương mại
để đảm bảo hiệu quả, chất lượng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấpkinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân cần có những điều kiện nhất định vàchỉ xảy ra khi một trong các bên khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết nhữngvấn đề ảnh hưởng đến lợi ích của họ hay quyền lợi của họ bị xâm phạm trong khigiao kết hợp đồng thì thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóatại Tòa án được bắt đầu
Thứ nhất, về trình tự thủ tục khi giải quyết tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án.
Các trình tự, thủ tục giải quyết đối với những vụ án này thường cũng tuânthủ theo đúng Bộ luật Tố tụng Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành màpháp luật Việt Nam quy định Thể hiện qua các cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm)đến các thủ tục xem xét lại bản án, quyết định (Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm)
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa
án luôn tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự.
Trong quan hệ kinh doanh, các chủ thể luôn muốn đảm bảo được quyền tự
do kinh doanh, tự do hợp đồng của các chủ thể kinh doanh, không muốn ai canthiệp vào hoạt động kinh doanh đúng pháp luật của họ, kể cả Nhà nước Các bêntranh chấp có quyền lựa chọn phương thức để giải quyết tranh chấp sao cho cólợi cho bản thân Tòa án giải quyết chỉ khi các đương sự yêu cầu hoặc trườnghợp thỏa thuận bằng Trọng tài vô hiệu Khi có tranh chấp xảy ra, đương sự cóquyền tự quyết dịnh việc có khởi kiện hay không, đưa ra các yêu cầu nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích cho bản thân, tùy thuộc vào phạm vi và mức độ khác nhau
Kể cả khi đưa vụ án ra giải quyết thì các đương sự vẫn có quyền thay đổi, bổsung hoặc thậm chí có thể rút yêu cầu khởi kiện
Trang 27Ngoài ra, trước khi khởi kiện, đương sự có quyền mời Luật sư hay ngườinào đó chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, phương án khởi kiện và có thể thay mặt đương
sự tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại Tòa án mà khôngcần trực tiếp phải có mặt tại Tòa án khi khởi kiện
Thứ ba, tính cưỡng chế khi giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án.
Sau khi được Tòa án ra Bản án hoặc Quyết định thì buộc các bên phảithực hiện đúng theo Bản án hoặc Quyết định đó Đồng thời, việc thi hành này sẽ
có biện pháp cưỡng chế nếu các bên không tự nguyện thi hành án Điểm này làmột ưu điểm so với các phương thức giải quyết khác trong tranh chấp thươngmại, lợi ích của bên bị xâm phạm vẫn được đảm bảo Trong khi các phương thứcgiải quyết khác như Trọng tài không có cơ quan cưỡng chế thi hành nên hiệu quảhoạt động của Trọng tài rất thấp Ở Việt Nam hiện nay, giải quyết tranh chấpkinh doanh, thương mại bằng con đường Tòa án đang là phương thức giải quyếtthông dụng và phổ biến nhất
Hiện nay, các nhà kinh doanh ở nước ta luôn tin tưởng vào phương thứcgiải quyết bằng Tòa án; đồng thời phương thức này luôn chiếm ưu thế chủ đạokhi trong quan hệ kinh tế có phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn; bởi ở đây luôn có
sự công bằng bình đẳng, giải quyết công việc một cách liêm chính và đặc biệt làchi phí tố tụng thấp hơn nhiều so với phương thức giải quyết tranh chấp bằngTrọng tài Bằng các Quyết định hoặc Bản án của Tòa án thì các bên có tranhchấp buộc phải thực hiện để khắc phục và chấm dứt tranh chấp, đảm bảo chohoạt động kinh doanh thương mại nói chung và việc giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa nói riêng trong nền kinh tế trật tự lập pháp Do đó, Tòa án luôn đóngvai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước cũng như nhu cầuphát triển của các chủ thể thương mại
Tuy nhiên, có khuyết điểm là khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thươngmại tại Tòa án thì cũng có một số điểm hạn chế nhất định Các thủ tục giải quyết
Trang 28tranh chấp thông qua Tòa án thường dài hơn so với giải quyết tranh chấp bằngTrọng tài, vì còn nhiều thủ tục cần phải xác minh thu thập chứng cứ theo đúngtrình tự Đồng thời, trong hoạt động kinh doanh thì việc xét xử công khai tại Tòa
án không phù hợp với hoạt động kinh doanh (có thể làm sút giảm uy tín của cácbên trên thương trường, ) Ngoài ra, Bản án xét xử xong chưa được thi hànhngay mà các bên có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị nên thời giankéo dài
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án nhân dân
Hoạt động xét xử của Toà án nhân dân nói chung và hoạt động giải quyếtcác tranh chấp về kinh doanh, mua bán tại Toà án nhân dân nói riêng là hoạtđộng áp dụng pháp luật Chủ thể có quyền áp dụng pháp luật tại các Tòa án nhândân bao gồm các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Hội đồng xét xử Bản án vàquyết định của Toà án là kết quả của quá trình áp dụng pháp luật Ở Việt Namhiện nay, giải quyết tranh chấp kinh doanh, mua bán bằng con đường Toà ánđang là phương thức giải quyết thông dụng và phổ biến nhất Theo quy định tạiĐiều 29 BLTTDS Việt Nam năm 2005 và Điều 30 BLTTDS năm 2015 thì tranhchấp về kinh doanh thương mại về mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền giảiquyết của Toà án liên quan đến nhiều lĩnh vực của hoạt động kinh doanh, muabán, để đảm bảo hiệu quả, chất lượng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranhchấp kinh doanh, mua bán hàng hóa tại Toà án nhân dân cần có những điều kiệnnhất định, trong khuôn khổ bài viết này, tác giả xin đưa ra một số yếu tố cơ bảnsau:
1.3.1. Yếu tố pháp lý:
Một yêu cầu quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
Xã hội Chủ nghĩa đó là sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật Khi áp dụng phápluật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, mua bán tại Toà án nhân dân, Thẩmphán, Hội đồng xét xử phải áp dụng các quy định của Hiến pháp, pháp luật Tố
Trang 29tụng Dân sự và hệ thống các văn bản pháp luật khác có liên quan như Bộ LuậtLao động, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,… nhằm đưa rabản án và quyết định dân sự chính xác, đúng pháp luật, có hiệu quả và hiệu lựccao Chính vì vậy, nếu hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt động áp dụngpháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, mua bán không hoàn thiện, thìchất lượng áp dụng pháp luật sẽ không cao, thậm chí không thực hiện được Vìvậy, để hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, muabán tại Toà án nhân dân đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải có sự đảm bảo về pháp lý,bao gồm sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định; sự hoàn thiện của cơchế thực hiện và áp dụng pháp luật; ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của cán
bộ, công chức Ngành Tòa án và nhân dân
Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định, nhất là các quy định vềLuật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật doanhnghiệp… được biểu thị ở những tiêu chuẩn như tính toàn diện, tính đồng bộ, tínhphù hợp, tính hiệu lực, hiệu quả và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống phápluật
Sự thay đổi của những yếu tố như giá cả, tỷ giá, cung cầu của mỗi quốcgia là không giống nhau ở mỗi giai đoạn tác động rất lớn đến lợi ích của các bên
và có thể dẫn đến nguy cơ xảy ra việc tranh chấp
Các sự kiện bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh xảy ra ngẫu nhiêntrong thực tế sau khi hai bên đã ký kết hợp đồng mà không thuộc trường hợpmiễn trách nhiệm thì cũng có thể gây ra tranh chấp
Đối với các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì ngoàinhững nguyên nhân khách quan trên còn có thể kể đến các nguyên nhân sau: hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng liên quan đến ít nhất hai hệ thốngpháp luật của hai quốc gia, ngoài ra còn có thể liên quan đến tập quán quốc tếđiều chỉnh các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên ký kết lạikhông tìm hiểu kỹ lưỡng trước khi ký kết hợp đồng dẫn đến việc ký kết hợp
Trang 30đồng không đúng, không đầy đủ, dẫn đến cách hiểu không thống nhất làm phátsinh tranh chấp giữa các bên; Sự thay đổi chính sách và pháp luật điều chỉnhquan hệ thương mại quốc tế.
Hoạt động truyền thông, phổ biến và giáo dục pháp luật trong xã hội; côngtác tổ chức và chất lượng hoạt động của các cơ quan áp dụng pháp luật; chuyênmôn, năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tham gia ápdụng pháp luật; chất lượng của các văn bản áp dụng pháp luật… Ý thức chấphành pháp luật và văn hoá pháp lý của cán bộ, công chức cũng như các tầng lớpnhân dân phụ thuộc không nhỏ vào hoạt động truyền thông và giáo dục pháp luậtcũng như chất lượng của pháp luật; chất lượng của hoạt động áp dụng pháp luật.Cho nên để nâng cao hoạt động áp dụng pháp luật thì cần phải hoàn thiện hệthống pháp luật tốt hơn
1.3.2. Yếu tố con người:
- Do các bên chủ quan không xem xét kỹ, thảo luận kỹ khi giao kết hợpđồng mua bán
- Do ý chí mang tính chủ quan của các chủ thể trong hợp đồng như mộtbên nào đó cố ý không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thỏa thuận tronghợp đồng dẫn đến thiệt hại cho bên còn lại, bắt buộc bên bị vi phạm phải khởikiện ra Tòa
- Đối với các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì tranhchấp phát sinh ngoài những nguyên nhân trên còn do: Năng lực của doanhnghiệp trong quan hệ mua bán quốc tế còn nhiều hạn chế; sự thiếu hiểu biết vềpháp luật và tập quán mua bán quốc tế
Qua thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật của Toà án cho thấy hiệu quảphụ thuộc vào nhiều điều kiện, yếu tố hoặc nguyên nhân khác nhau, có thể làtrực tiếp hay gián tiếp Trong đó yếu tố rất quan trọng tác động trực tiếp đến chấtlượng hoạt động áp dụng pháp luật của Toà án nói chung, trong giải quyết cáctranh chấp về kinh doanh, mua bán của Toà án nói riêng, đó là: Chất lượng nhân
Trang 31sự ngành Toà án, đầu tiên là trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạođức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán.
Đối với các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, là những người tham giavào việc xét xử những tranh chấp này, họ nhân danh quyền lực của Nhà nước đểbảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho những chủ thể thamgia hoạt động thương mại nói riêng và các đương sự nói chung Thế cho nên họcần có các tố chất nghề nghiệp nhất định, tại vì ngoài việc nhân danh quyền lựcNhà nước thì họ còn là những tấm gương đối với công dân Chính vì vậy, vớinhiệm vụ quan trọng như vậy nên yêu cầu bản thân những người tham gia xét xửphải được trang bị đầy đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ chính trị vàđạo đức tốt,… Chất lượng của các cán bộ tham gia xét xử là sự tổng hợp chấtlượng của từng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… tham gia xét xử, điều nàyđược đánh giá theo các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị,đạo đức; mức độ hoàn thanh công việc được giao theo qui định của pháp luật vàtheo qui định của ngành
Là người có vai trò rất quan trọng trong hoạt động xét xử tại Toà án, cácThẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải là người hiểu biết sâu rộng về pháp luật,
có trình độ chuyên môn cao và kỹ năng xét xử tốt Thẩm phán là người làmnhiệm vụ xét xử các vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền củaToà án, Thẩm phán được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại theo quy định của pháp luật.Công việc xét xử rất phức tạp, nó yêu cầu người làm công tác xét xử phải cótrình độ chuyên môn về pháp luật, tinh thần trách nhiệm trong công việc, có kỹnăng sống, có thể nắm bắt được diễn biến phức tạp của vấn đề Cho nên, cácThẩm phán, Hội thẩm nhân dân không những đáp ứng các điều kiện theo luậtđịnh mà còn có những kỹ năng đặc biệt mà thông qua quá trình công tác hìnhthành được Có thể kể đến một số kỹ năng cơ bản như:
Trang 32Hiểu rõ những quy định của pháp luật trong lĩnh vực được phân công đảmnhiệm; tiếp nhận và xử lý các thông tin nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn được phân công.
Có khả năng quan sát, phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, chính xác, cácvăn bản về tài liệu, chứng cứ để làm cơ sở cho việc ban hành các phán quyết phùhợp với thực tiễn
Có khả năng lập luận,phản biện, tranh luận, thu thập lời khai với nhữngngười tham gia tố tụng; kịp thời giải quyết các tình huống xảy ra bất ngờ ở phiêntoà phù hợp với các qui định của pháp luật
Không những đáp ứng các điều kiện về chuyên môn nghiệp vụ, họ cònphải có trình độ về lý luận chính trị, liên tục rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, xemđây là yếu tố quan trọng, tác động trực tiếp tới hoạt động xét xử của Toà án hiệnnay Ngoài ra, đây cũng là căn cứ quan trọng, mang tính pháp lý trong công táctuyển dụng, bổ nhiệm và đào tạo cán bộ, công chức ngành Tòa án Những giá trịđạo đức của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân được biểu hiện rõ nét nhất tronghoạt động nghề nghiệp và trong đời sống hàng ngày của họ
Trong hoạt động nghề nghiệp, họ phải đảm bảo được yếu tố công – minh– liêm - chính, có lý, có tình Sự công bằng, vô tư và khách quan là biểu hiện cácgiá trị của một nền tư pháp dân chủ Trong suốt quá trình xét xử họ phải kiênquyết tôn trọng nguyên tắc này, không bị ảnh hưởng bởi các tác động kháchquan để đưa ra quyết định, bản án đảm bảo tính khách quan, công bằng, vô tư,đúng qui định của pháp luật Trong quá trình xét xử đòi hỏi họ phải có lươngtâm, tinh thần cầu thị, sẵn sàng nhận và sửa chữa những sai sót xảy ra, luôn đặtniềm tin vào công lý
1.3.3 Yếu tố cơ sở vật chất:
Ngoài ra, cơ sở vật chất của Toà án, điều kiện môi trường làm việc và tiềnlương, chế độ đãi ngộ đối với những người làm trong ngành Toà án sẽ tác độngmột phần đến chất lượng xét xử nói chung, trong giải quyết các vấn đề về tranh
Trang 33chấp kinh doanh, mua bán tại Toà án nói riêng như: phòng ốc; phương tiện làmviệc, đi lại; đầy đủ, hiện đại thì sẽ góp phần trực tiếp vào việc thể hiện sự trangnghiêm của cơ quan tư pháp; cán bộ, công chức Toà án có đủ phương tiện làmviệc thì họ sẽ tập trung vào công việc tốt hơn.
Thêm nữa, nên chú trọng hơn các chính sách tiền lương, thu nhập đãi ngộ
để giải quyết vấn đề thiếu tập trung trong công việc, thiếu trách nhiệm, đạo đứcnghề nghiệp suy thoái vì lợi ích cá nhân Cần nâng cao chế độ chính sách từ chế
độ đề bạt, bổ nhiệm bố trí đến khen thưởng, tiền lương và kỷ luật nhằm tạo rađộng lực vươn lên, thúc đẩy cán bộ ngành Toà án hoàn thành tốt nhiệm vụ
Song song đó, cần phải luôn luôn đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự giámsát của Hội đồng nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân trong công tác xét
xử của Toà án Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt độngcủa Toà án và cán bộ, công chức của ngành Toà án, xây dựng hệ thống chính trịvững mạnh là những yếu tố hậu thuẫn tích cực, đảm bảo hiệu quả cao cho hoạtđộng áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân
Hiện nay, do tình hình kinh tế của một số nơi phát triển tập trung khôngđồng bộ nên dẫn đến việc áp dụng các chỉ tiêu thi đua đề ra có ảnh hưởng, đặcbiệt là ở những thành phố trung tâm như Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố
Hà Nội Thực tế cho thấy, lượng án ở hai Thành phố này là hiều nhất so với cảnước Trước tình hình tinh giản biên chế theo Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộchính trị ngày 02/06/2005, nhưng thực tế vụ việc giải quyết ngày càng tăng về
số lượng và nhiều vụ việc vô cùng phức tạp, khiến áp lực giải quyết các loại củamỗi Thẩm phán được giao là rất lớn
Trang 34Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 luận văn, tác giả đã làm rõ về các vấn đề lý luận về hoạtđộng mua bán hàng hóa cũng như hợp đồng mua bán hàng hóa, làm rõ các kháiniệm và phân tích về các phương thức mà các bên có thể lựa chọn khi giải quyếttranh chấp phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hóa
Trên thực tế, tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa được xuất phát từnhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, tuy nhiên, việc soạn thảo một hợpđồng có đầy đủ các nội dung cụ thể, chứa đựng các điều khoản cần thiết, dự liệuđược các tình huống xảy ra cũng như tình huống phát sinh khi có tranh chấp, cácphương thức giải quyết tranh chấp là rất cần thiết Bên cạnh đó, việc soạn thảohợp đồng mang tính hình thức, sơ sài, tối nghĩa, thiếu mất các điều khoản quantrọng, không dự liệu được các tình huống cấn thiết là nguyên nhân chủ yếu dẫntới các tranh chấp phát sinh
Giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa theo thủ tục sơ thẩmtại Tòa án là một trong những phương thức được các bên lựa chọn bởi tính pháp
lý ràng buộc của bản án, quyết định Thủ tục tố tụng tại Tòa án được đánh giá làchặt chẽ, hầu như tạo được sự tin cậy, công bằng cho các bên Với việc tăngthẩm quyền cho Tòa án cấp quận, thời gian gần đây, số lượng giải quyết các vụ
án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thànhphố Hồ Chí Minh tăng lên rất nhiều về số lượng và tính chất phức tạp Thẩmquyền giải quyết các vụ án liên quan đến tranh chấp kinh doanh thương mại nóichung và tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng được Tòa án nhândân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý theo qui định tại Khoản 1 Điều 30,điểm b Khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 35 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm
2015 Ngoài ra, có những chủ thể hoặc người liên quan là người nước ngoài Những tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa mà đương sự hoặc tài sản ở nướcngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nướcngoài Điều đó cho thấy những vụ án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 35mà Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là những vụ án
có tính chất phức tạp nhất định, thậm chí là rất phức tạp đòi hỏi đội ngũ cán bộThẩm phán, Thư ký Tòa án nhiệt tình, yêu nghề và có năng lực thực sự để đảmbảo giải quyết các vụ án một cách kịp thời, công bằng, hạn chế đến mức thấpnhất thời gian cũng như chi phí cho doanh nghiệp
Trang 36Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, TP HCM
2.1 Các qui định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
2.1.1 Nguyên tắc giải quyết
Cũng như việc giải quyết các loại tranh chấp khác, việc giải quyết cáctranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân tuân theo cácnguyên tắc của Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân Cụ thể, các nguyêntắc chung là: Nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc khi xét xửThẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắcxét xử tập thể, công khai và quyết định theo đa số, Tòa án đảm bảo cho nhân dânđược dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc nước mình trước tòa ; Đối với việcgiải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thì ngoài các nguyên tắctrên thì các nguyên tắc được xem là đặc thù gồm:
a) Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự:
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự được quy định khá đầy đủtrong Điều 5 BLTTDS năm 2015 Việc ghi nhận nguyên tắc này là một bảo đảmcho các đương sự có thể lựa chọn phương thức hiệu quả nhất trong việc bảo vệcác quyền và lợi ích của mình, bên cạnh đó, khẳng định quyền quyết định và địnhđoạt trong tố tụng dân sự bắt đầu từ quyền khởi kiện, quyền yêu cầu thông quahành vi gửi đơn đến TAND của đương sự và được thừa nhận trong suốt quá trình
tố tụng giải quyết vụ việc dân sự tại TAND Đây là điểm chung mà pháp luật tốtụng dân sự của các nước trên thế giới dù theo hệ thống pháp luật nào cũng thừanhận Đây là nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng muabán hàng hóa Trên cơ sở bảo hộ hợp đồng mua bán hàng hóa ổn định lâu dài,Nhà nước không can thiệp vào hoạt động sử dụng đất đúng pháp luật của các bên.Khi xảy ra tranh chấp hợp đồng, các đương sự có quyền tự giải quyết vớinhau, tự quyết định
Trang 37phương thức và nội dung giải quyết, Nhà nước chỉ tham gia giải quyết khi cácđương sự có yêu cầu.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên không những tuân thủ các quyđịnh của pháp luật mà họ còn có quyền được tự do thoả thuận ý chí trong việc xáclập hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp … Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp
về hợp đồng mua bán hàng hóa, một trong các bên hoặc các bên có quyền yêu cầuNhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ngược lại, họ cũng cóquyền rút đơn khởi kiện, đơn yêu cầu ở các thời điểm khác nhau của quá trình tốtụng dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Cơ quan tài phán không
tự đưa các tranh chấp về hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp của các bên raxét xử, giải quyết mà phải có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của một trong các bêntranh chấp Hơn nữa, pháp luật tố tụng cũng quy định rõ, Tòa án chỉ thụ lý, giảiquyết các vấn đề trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự, Tòa án khôngđược quyền ra quyết định đối với các vấn đề vượt quá yêu cầu của đương sự
- Quyền tự định đoạt còn được thể hiện đương sự có quyền quyết địnhmtrong việc thực hiện các hành vi tố tụng sau khi Toà án đã thụ lý vụ việc dân sựnhư: Đương sự có quyền đưa ra yêu cầu (nguyên đơn đưa ra yêu cầu khởi kiện, bịđơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa
ra yêu cầu độc lập), đồng thời đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu;đương sự có quyền thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự một cách
tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Tòa ánphải tôn trọng quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt tự nguyện, không vi phạm điềucấm của luật, không trái đạo đức xã hội của đương sự và công nhận sự thỏa thuận
đó của các đương sự và ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của cácđương sự Quyết định này có hiệu lực pháp luật và có giá trị như một bản án Quyđịnh này thể hiện sự minh bạch hơn, chính xác hơn, dễ hiểu và dễ áp dụng hơntrong thực tiễn
Việc thực hiện quyền năng này của đương sự không chỉ dừng lại ở việcgiải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn được thực hiện cả trongcác giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lựcpháp luật, đương sự có quyền quyết định việc kháng cáo hoặc không kháng cáo
Trang 38bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đồng thời có quyền thayđổi, bổ sung kháng cáo hoặc rút kháng cáo.
Ngoài ra, quyền tự định đoạt còn được thể hiện ở việc các bên có thể trựctiếp tham gia giải quyết hoặc uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tốtụng tại Tòa án Trong trường hợp được ủy quyền, người được uỷ quyền có quyền
tự quyết mọi vấn đề liên quan đến tranh chấp mà không cần sự có mặt của ngườikhởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án
b) Nguyên tắc hoà giải
Nguyên tắc trách nhiệm hoà giải của Toà án được quy định tại Điều 10BLTTDS năm 2015 Theo đó, Toà án có trách nhiệm tiến hành thủ tục hoà giải vàtạo điều kiện cho các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết cácvấn đề của vụ việc dân sự theo đúng quy định của pháp luật, trừ những vụ việckhông được hoà giải và những vụ việc không tiến hành hoà giải được Tòa án tôntrọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đedọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chícủa mình; Tòa án công nhận nội dung thoả thuận không vi phạm điều cấm củaluật, không trái đạo đức xã hội giữa các đương sự trong quá trình giải quyết các vụviệc dân sự
Bên cạnh quy định về nguyên tắc hoà giải, BLTTDS năm 2015 quy địnhchi tiết, cụ thể cách thức, thủ tục tiến hành phiên họp hoà giải, quyền hạn, nghĩa
vụ của Thẩm phán và các đương sự là điều rất quan trọng và cần thiết cho thựctiễn áp dụng, tránh được sự tuỳ tiện, đồng thời sẽ giúp quá trình hoà giải có hiệuquả, có chất lượng BLTTDS năm 2015 cũng quy định về thẩm quyền ban hànhquyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự Theo đó, nếu tại phiên hoàgiải các đương sự thoả thuận được tất cả các nội dung tranh chấp và Thẩm phánchủ trì phiên hoà giải (là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án) sẽ lập biênbản hoà giải thành Sau 07 ngày làm việc, tính từ ngày lập biên bản hòa giải thànhcông mà không có đương sự nào thông báo thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thìThẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc có thể một Thẩm phán khác được Chánh
án Tòa án phân công phải ra quyết định để công nhận sự thoả thuận của các đươngsự
Trang 39Việc quy định hoà giải là thủ tục bắt buộc khi giải quyết tranh chấp về hợpđồng tín dụng vay tài sản có thế chấp (trừ những tranh chấp không được hoà giảihoặc không tiến hành hoà giải được) có ý nghĩa hết sức quan trọng Việc ghi nhận
và bảo đảm thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa trong việc bảo đảm giải quyết các
vụ việc nhanh chóng, hiệu quả nhất thông qua phương thức hoà giải tại Toà án.
Thông qua hoà giải, nếu hoà giải thành sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấpgiảm bớt căng thẳng, tiết kiệm công sức và tiền của của các bên và Nhà nước,không phải thông qua thủ tục thi hành án hoặc thi hành án được dễ dàng hơn; pháthuy tinh thần hợp tác, đoàn kết và hạn chế được việc khiếu nại, khiếu kiện phứctạp và vụ án kéo dài
c) Nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ chứng minh:
Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự đượcquy định tại Điều 6 BLTTDS năm 2015 Việc ghi nhận và bảo đảm thực hiệnnguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn cho việc đương sự chứng minh cho yêu cầuchính đáng của mình trước Toà án, đồng thời bảo đảm cho Toà án giải quyết đúngđắn và nhanh chóng, khách quan các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóanói riêng và vụ án dân sự nói chung Nhiệm vụ của Toà án trong tố tụng dân sựnói chung, khi giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng làlàm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, làm sáng tỏ việc có hay không có, tồntại hay không các sự kiện, các tình tiết mà các bên nêu ra Chỉ khi nào các tình tiết,
sự kiện được làm sáng tỏ, được xác định chính xác thì Toà án mới có thể áp dụngpháp luật được chính xác để giải quyết vụ án Vì vậy, nguyên tắc này thể hiệnnhững nội dung cơ bản như:
Đương sự khi đưa ra yêu cầu (yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầuphản tố của bị đơn, yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầuđộc lập…) hay đưa ra ý kiến bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của người
khác thì đương sự có quyền, nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho
Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình hay ý kiến bác bỏ yêu cầu của ngườikhác là có căn cứ và hợp pháp Đây là điểm tiến bộ đáng kể trong nội dung của
nguyên tắc này, theo đó cần khẳng định: đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động
Trang 40thu thập chứng cứ, điều này khẳng định cơ hội, mức độ đương sự bảo vệ được lợi
ích của mình trong vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa hoàn toàn vàoviệc họ có thực hiện tốt nghĩa vụ thu thập chứng cứ hay không mà không phụ
thuộc vào vai trò của TAND; đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động giao nộp
chứng cứ đã thu thập được cho Tòa án để làm cơ sở cho việc xem xét giải quyếtyêu cầu của họ trong các vụ việc dân sự Nếu đương sự từ chối thực hiện quyền vànghĩa vụ này thì TAND có quyền giải quyết vụ tranh chấp hợp đồng mua bánhàng hóa theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc Với tinhthần chủ động của đương sự, Tòa án sẽ thuận lợi hơn trong việc giải quyết vụtranh chấp, đương sự không còn đùn đẩy nhau trong việc cung cấp chứng cứ Nhưvậy, để Toà án chấp nhận yêu cầu của mình, đương sự phải cung cấp chứng cứ vàchứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ Các bên đương sự cũng có quyềnđưa ra chứng cứ để phản đối, chứng minh yêu cầu của bên kia là không có căn cứ.Toà án sẽ không chấp nhận yêu cầu của các bên đương sự nếu yêu cầu đó không
có căn cứ
Toà án có trách nhiệm hỗ trợ giúp cho các đương sự trong việc thu thập
chứng cứ và Tòa án chỉ thực hiện việc thu thập, xác minh chứng cứ trong cáctrường hợp mà BLTTDS năm 2015 có quy định Điều này hoàn toàn logic với quyđịnh về việc đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ
đã phân tích trên đây Trách nhiệm hỗ trợ là trách nhiệm không mang tính chấtchủ động và không bắt buộc phải thực hiện Cơ sở để TAND thực hiện tráchnhiệm hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ là đề nghị của đương sự Tuy nhiênTAND có quyền xem xét lý do đương sự đưa ra để toàn quyền quyết định có hỗtrợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ hay không Quy định này đã thể hiện rõhơn vai trò của Tòa án trong việc bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự,nghĩa là việc đi tìm chứng cứ để chứng minh không còn giao hoàn toàn cho đương
sự mà có sự giúp đỡ rất hữu hiệu của Tòa án Đặc biệt đối với tranh chấp hợpđồng mua bán hàng hóa, quy định này có ý nghĩa rất quan trọng, bởi việc cácđương sự tự mình thu thập chứng cứ đôi khi rất khó khăn, do vậy, với sự giúp đỡcủa Tòa án thì các tài liệu, chứng cứ sẽ có thể thu thập một cách hữu hiệu hơn,góp phần giải quyết khách quan, toàn diện vụ tranh chấp
d) Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời