1. Tên sáng kiến: “Tạo thói quen nghiên cứu khoa học cho học sinh từ hoạt động dạy học môn Sinh học theo hướng nghiên cứu bài học.” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chương trình Sinh học THCS gồm các lớp 6, 7, 8, 9. 3. Đối tượng nghiên cứu: Tạo thói quen nghiên cứu khoa học cho học sinh THCS từ hoạt động dạy học môn Sinh học theo hướng nghiên cứu bài học.
Trang 1IỆM
PHÒNG GD – ĐT … TRƯỜNG THCS …
BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“TẠO THÓI QUEN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO HỌC SINH TỪ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN SINH HỌC THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC”
Tác giả: … Trình độ chuyên môn: ĐHSP Hóa Chức vụ: Giáo viên – Tổ phó Tổ KHTN Nơi công tác: Trường …
…, ngày 20 tháng 5 năm 2018
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến:
“Tạo thói quen nghiên cứu khoa học cho học sinh từ hoạt động
dạy học môn Sinh học theo hướng nghiên cứu bài học.”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Chương trình Sinh học THCS gồm các lớp 6, 7, 8, 9
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Tạo thói quen nghiên cứu khoa học cho học sinh THCS từ hoạt động dạy họcmôn Sinh học theo hướng nghiên cứu bài học
4 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Trang 3BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
“ Ý nghĩa của cuộc đời bạn không phải là bạn kiếm ra bao nhiêu tiền mà ýnghĩa của cuộc đời bạn là làm thay đổi bao nhiêu người, bao nhiêu người vì bạn
mà họ có cuộc sống tốt đẹp hơn” – (Theo Tổng thống Barack Obama)
Nghề giáo viên là nghề duy nhất có sẵn nhiệm vụ đó ngay từ tôn chỉ và mụctiêu giáo dục hàng ngày, hàng năm và lâu dài Trong sự nghiệp đổi mới đất nước,nền giáo dục quốc dân cần phải có những đổi mới phù hợp với sự phát triển củanền kinh tế – xã hội Nghị quyết trung ương Đảng lần thứ IV đã chỉ rõ “… giáodục và đào tạo là động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiệnmục tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước…” Để thực hiện quanđiểm trên, Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII vềviệc tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “ Đổi mới phươngpháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp tốt học với hành, học tậpvới lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường và xãhội, áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lựcsáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Do đó, đặt ra nhiệm vụ cho ngành giáo dụcphải đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo con người có đủ kĩ năng sống vàlàm việc theo yêu cầu của cuộc cách mạng lớn của thời đại: Cách mạng truyềnthông, công nghệ thông tin, cách mạng công nghệ Một trong những sự đổi mớigiáo dục là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học,trong việc tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức thì lấy học sinh làm trung tâm Theohướng này giáo viên đóng vai trò tổ chức và điều khiển học sinh chiếm lĩnh trithức, tự lực hoạt động tìm tòi để dành kiến thức mới
Trong sự đổi mới này không phải chúng ta loại bỏ phương pháp truyền thống
mà cần tìm ra những yếu tố tích cực, sáng tạo trong từng phương pháp để thừa kế
và phát triển những phương pháp đó cần sử dụng sáng tạo các phương pháp dạyhọc phù hợp, thuyết trình, nêu vấn đề, đàm thoại ơrixtic, trong dạy học Sinh họcTHCS việc tăng cường sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp với nhữngphương pháp dạy học tích cực khác như mảnh ghép - phòng tranh; hay kĩ thuật tia
Trang 4chớp cũng là phương hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cựchoá người học Để sử dụng sáng tạo các phương pháp này vấn đề đào tạo và bồidưỡng giáo viên là nhiệm vụ quan trọng, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôinhận thấy cần góp phần vào việc nâng cao phương pháp dạy học của bản thân vàđồng nghiệp
Dạy học theo hướng nghiên cứu bài học đòi hỏi giáo viên tập trung phân tíchcác vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học như thế nào? Học sinhđang gặp khó khăn gì trong học tập? Nội dung và phương pháp dạy học có phùhợp, có gây hứng thú cho học sinh không? Kết quả học tập của học sinh có đượccải thiện không? Cần điều chỉnh điều gì và điều chỉnh như thế nào? Tạo cơ hộitốt cho học sinh tham gia xây dựng nội dung bài học và học sinh thực sự là chủthể của hoạt động dạy học Qua quá trình giảng dạy của bản thân tại trường THCSNghĩa Lâm, tôi nhận thấy đây là một trong những phương hướng đổi mới manglại hiệu quả cao trong dạy học, đặc biệt là tăng sự thu hút của môn học đối vớihọc sinh và tăng lượng học sinh yêu thích môn Sinh học nên tôi quyết định chọn
đề tài nghiên cứu cho mình là:
“Tạo thói quen nghiên cứu khoa học cho học sinh từ hoạt động dạy học
môn Sinh học theo hướng nghiên cứu bài học”
II Mô tả giải pháp:
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Trước thực tiễn phát triển rất nhanh chóng và đa dạng của khoa học côngnghệ, đặc biệt là sự bùng nổ công nghệ thông tin và truyền thông, học sinhthường xuyên được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin tri thức phong phú và hiệnđại Trong xu thế internet bùng nổ mạnh mẽ như hiện nay việc xây dựng và sửdụng những công nghệ tiên tiến cần tăng cường khả năng tự học môn sinh họccủa học sinh bằng các công cụ trực tuyến trong giảng dạy là điều rất cần thiết Một lí do khác dẫn đến học sinh chưa thích học môn Sinh học xuất phát từphía giáo viên Sự kém đầu tư về thời gian, giáo án, phương pháp giảng dạy cũng
Trang 5chán trong mỗi tiết học Giáo viên chưa kích thích, hay chưa “gãi đúng chỗ ngứa” của các em nên giáo viên đang ở tư thế “đổ đầy” về kiến thức cho các em chứ chưa phải là người “thắp lửa” đam mê cho các em Nếu như để học sinh tự tìm
tòi, khám phá qua những thí nghiệm để đi đến những kiến thức cần lĩnh hội sẽgiúp các em học sinh có điều kiện, cơ hội tư duy sáng tạo với môn Sinh học Những lí do trên đã góp phần giải thích cho kết quả chưa cao của bộ môn, sựthiếu nhiệt tình, thiếu tích cực và tự giác từ phía học sinh trong mỗi giờ học
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân ái hữunghị trong giờ học sẽ tạo ra sự hứng thú cho cả thầy và trò Bởi vì, hạnh phúckhông phải là cảm giác tới đích mà chính trên từng chặng đường đi, hạnh phúckhông chỉ vì những lợi ích mà nó mang lại, mà hạnh phúc còn nằm ngay trongchính sự học Các trò được phát triển một cách toàn diện mà không có một áp lựcnào khiến các bạn ấy không vui Nơi đó các trò được làm bạn với các thầy cô,được tôn trọng và nói lên tiếng nói riêng của mình Hạnh phúc là thế, các trò được
tự mình tìm ra chân trời kiến thức Hạnh phúc của các trò chính là hạnh phúccủa cô
Vậy: Làm thế nào để có một giờ học tốt? Đánh giá một giờ học tốt như thế
nào cho chính xác, khách quan, công bằng? Chuẩn bị và thiết kế một giờ học làmột hoạt động cần có những kĩ thuật riêng
Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã xác định: Học là quá trình tự giác, tích cực,
tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên,chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thunhận kiến thức từ kho tàng văn hóa xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêngcho bản thân Như vậy, quá trình dạy học thành công sẽ đạt được 3 mục đích: Trídục, phát triển tư duy, giáo dục Để thực hiện mục đích chiếm lĩnh khoa học mộtcách tự giác tích cực thì người học cần có phương pháp lĩnh hội khoa học,phương pháp chiếm lĩnh khái niệm khoa học Các phương pháp đó là: Mô tả, giảithích và vận dụng khái niệm khoa học Hoạt động dạy là sự điều khiển tối ưu quátrình học sinh chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong quá trình điều khiển của
Trang 6mình phát triển và hình thành nhận thức của học sinh Như vậy, mục đích của củahoạt động dạy là điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học của họcsinh Để đạt được mục đích này hoạt động dạy có hai chức năng liên hệ chặt chẽ,thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau đó là truyền đạt thông tin học và điềukhiển hoạt động học, chức năng điều khiển hoạt động học được thực hiện thôngqua sự truyền đạt thông tin Hoạt động dạy và học là sự hoạt động cộng đồng –hợp tác giữa các chủ thể trong quá trình dạy học Sự cộng tác của các chủ thể nàylà: thầy với cá thể trò, trò với trò trong nhóm, thầy với nhóm trò… Sự tương táccộng đồng - hợp tác giữa dạy và học này sẽ là yếu tố duy trì và phát triển chấtlượng dạy học.
Nghiên cứu bài học là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp chogiáo viên Nghiên cứu bài học để đánh giá hoặc cung cấp cho giáo viên nhữngthông tin phản hồi về thực tiễn dạy học Giáo viên thực hiện nghiên cứu bài họcthì thu thập được những nhận xét, kết quả cho việc sử dụng các phương pháp củamình đến sự tư duy của học sinh Nghiên cứu bài học đặt trọng tâm vào học tậpcủa học sinh Thông qua quan sát và thảo luận về những gì đang xảy ra trong lớphọc, cách học sinh phản ứng với các tác động, giáo viên tham gia có nhận thứcđầy đủ hơn về cách học sinh học và suy nghĩ cũng như cách học sinh hiểu bài,đáp lại những cái giáo viên dạy Hơn nữa, tham gia nghiên cứu bài học giúp giáoviên học được cách quan sát, không phải là quan sát những cái bề ngoài hời hợt
mà là quan sát quá trình học sinh học những cái mà họ dạy Giáo viên học đượccách phân tích, rút ra kết luận, sửa đổi từ những số liệu quan sát được Ngoài ra, tham gia nghiên cứu bài học giúp giáo viên nâng cao kĩ năng thiết kế công cụ dạyhọc để làm cho học tập và tư duy của học sinh trở nên dễ hiểu đối với giáo viên
và có thể nhìn thấy được bao gồm các bước:
+ Lập kế hoạch giao nhiệm vụ nghiên cứu bài học cho học sinh
+ Thay đổi cách dạy học và quan sát các bài học nghiên cứu một cách linhđộng cho phù hợp
+ Đánh giá, nhận xét các bài học đã được dạy thử nghiệm trên một lớp
Trang 7+ Chỉnh sửa các bài học dựa trên thực tế dạy tiết học thử nghệm trên mộtlớp sau những gì thu thập được sau khi tiến hành bài học nghiên cứu.
+ Tiến hành dạy các lớp sau trên các tiết học đã được chỉnh sửa
+ Tiếp tục đánh giá, nhận xét kết quả sau khi đã dạy xong ở các lớp sautrong khối đó
+ Đưa vào ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học ở các bài học khác ởcác khối lớp khác
3 Hoạt động vận dụng sáng kiến trong dạy học của bản thân.
a Hướng dẫn học sinh nghiên cứu bài học trước khi đến lớp.
Để chuẩn bị cho bài 7 - “Đặc điểm chung và vai trò thực tiễn của
Động vật nguyên sinh” – Sinh học 7, giáo viên đã lập kế hoạch giao nhiệm vụ
nghiên cứu bài học cho học sinh gồm các thao tác:
a.1 Chia lớp thành 5 nhóm và từng học sinh được bốc thăm nhómcủa mình
a.2 Các nhóm bốc thăm nhận nhiệm vụ của nhóm mình sẽ nghiên cứu + Các nhóm trình bày trên Poster và tiết học sau sẽ chấm Poster vàphần trình bày của các nhóm theo phiếu đánh giá
+ Các tiêu chí, nội dung thuyết trình trên poster
Trang 8+ Giáo viên phát phiếu đánh giá poster, giấy A1, bút màu; kiểm tra lại xemcác nhóm đã rõ nhiệm vụ chưa, giới thiệu một số tài liệu khác HS có thể thamkhảo thêm như sách giáo khoa, internet
a.3 Tiêu chí chấm điểm ở giờ học sau (làm poster, nội dung thuyết trình, khảnăng thuyết trình lưu loát của bất kì học sinh nào trong nhóm khi nhận được
“lệnh” của giáo viên Giáo viên có thể cho học sinh suy nghĩ câu hỏi lửng sẽ đượcchính các con trả lời trong giờ học sau: “Theo các con, nếu bạn nào mà không trảlời được câu trả lời của cô thì sao?”
Đây sẽ bước để tạo ra động lực mạnh mẽ nhất cho học sinh, kích thích các
trò có sự phân công nhau làm nhiệm vụ rõ ràng, các trò sẽ phải “dạy nhau” các nội dung kiến thức của nhóm mình để “ăn điểm” Mặt khác, với tâm lí “Trả giá
càng đắt bao nhiêu thì động lực làm càng mạnh mẽ bấy nhiêu” nên khi các trò
được giao nhiệm vụ thì sẽ có động lực “cấp cao” để làm tốt khi đó các trò sẽ nghĩ
ra câu trả lời của thầy cô càng thú vị Học sinh tự đọc thông tin, tự lấy thông tin
thì sẽ nhớ lâu, nhớ kĩ vì “ai xử lí thì người đó nhớ”
Mức độ xử lí thông tin tỉ lệ thuận với hiệu quả ghi nhớ, khi các trò có thể tựmình thuyết trình trôi chảy trước lớp thì khi đó các em sẽ tăng tính tự tin và làmcho bài giảng của thầy càng độc đáo hơn, thu hút hơn Từ đó, học sinh nhớ đượccác thông tin, kiến thức nhiều hơn
- Giáo viên nêu rõ tiến trình của tiết học gồm các bước:
+ Bước 1 Học sinh đã hoàn thành ở tiết trước, đó là chia nhóm thuyết trình
và chuẩn bị về chủ đề của nhóm mình cho tiết học này
Trang 9+ Bước 2 Tiết này chúng ta sẽ thực hiện Đầu tiên, các trò sẽ dán postercủa nhóm mình lên vị trí được phân công trong sơ đồ của giáo viên Học sinh cóthời gian để phân công và dạy cho nhau về các nội dung của nhóm mình
Các nhóm sẽ được bốc thăm thứ tự trình bày của nhóm mình Khi các nhóm
trình bày thì các nhóm khác được “thăm quan” và ghi nhớ những kiến thức của nhóm bạn đã làm được để nhóm mình có thể bổ sung để “ăn điểm” khuyến
khích Khi học sinh trình bày được nội dung lớn, vai trò nào thì giáo viên ghi lênbảng nội dung đó để dành cho phần tổng kết ở cuối bài
Trong quá trình học sinh trình bày thì giáo viên có thể gọi bất kì một họcsinh nào đó để trả lời và thuyết trình nội dung nhỏ trên poster Hoặc giáo viênquan sát để gọi một học sinh nào đó “có vấn đề” để lên thuyết trình hoặc kiểm tralại một kiến thức trọng tâm nào đó mà các con đã có nhiệm vụ phải dạy nhau Khi
đó học sinh đã có câu trả lời cho câu hỏi lửng của giáo viên vào giờ học trước:
“Theo các con, nếu bạn nào mà không trả lời được câu trả lời của cô thì sao?”
+ Bước 3 Kết thúc vòng tròn trình bày, giáo viên đã có sẵn nội dung trênbảng và dựa vào các tiêu chí để cho điểm các nhóm cộng với điểm khuyến khíchcho học sinh Từ đó, giáo viên đặt ra câu hỏi lớn: “Con hãy tìm cho cô các đặcđiểm chung của Động vật nguyên sinh, bạn nào trả lời được càng nhiều càng tốt”.Khi học sinh dựa trên các đặc điểm để trả lời thì giáo viên dùng phấn màu đểđánh dấu Tùy thuộc vào khả năng của mình, học sinh có thể tìm được ít hơn hoặcnhiều hơn yêu cầu của giáo viên thì giáo viên vẫn động viên các trò đã có tinhthần tốt trong việc tự khai thác và tìm hiểu kiến thức
* Đánh giá, nhận xét sau tiết dạy:
- Giáo viên là “một chuyên gia” trong giờ học nhưng cần phải hạn chế việc “phun ra” để làm sao kích thích tối đa việc các con phải “động não”, kích
thích tìm ra càng nhiều câu trả lời, đáp án kiến thức càng tốt Điếu đó mới đẩyđược trách nhiệm tìm kiếm thông tin về phía học trò, giúp các con hứng thú vàsay mê hơn với việc nghiên cứu chân trời kiến thức và tạo ra động lực mạnh mẽnhất cho các con
- Câu lệnh phải rõ ràng, dứt khoát
Trang 10- Lượng chuẩn bị của giáo viên phải nhiều: hệ thống tư liệu, bài tập, phiếuhọc tập.
- Tìm cách thay đổi thú vị khi chuyển ý, chuyển nội dung kiến thức
Ví dụ 1: Khi dạy bài 47 - Đại não – Sinh học 8
Sau khi ổn định lớp học, giáo viên phân chia sơ đồ chỗ ngồi theo số thứ
tự trong sổ điểm được chiếu trên màn hình máy chiếu như sau:
Nhóm 1
1, 3, 5, 7, 9
Nhóm 2
2, 4, 6, 8, 10 Nhóm 3
11, 13, 15, 17, 19
Nhóm 4
12, 14, 16, 18, 20 Nhóm 5
+ Mỗi nhóm được phát 4 tờ tranh
+ Trong 2’ hãy thảo luận và ghi nhớ thật nhanh tất cả những hình ảnh vàthông tin có trong các hình ảnh
Trang 11+ Hết 2’ các nhóm báo cáo vòng tròn, nhóm sau không được trùng vớinhóm trước Mỗi đáp án trùng bị trừ 10 điểm và mất lượt.
- Giáo viên phát cho các nhóm các tờ tranh có hình vẽ như sau:
Trang 12
- Giáo viên hỏi lại học sinh về quy định của trò chơi:
“ Bạn hãy cho biết chúng ta sẽ được cung cấp cái gì?”
“Chúng ta có thời gian là bao nhiêu phút?”
“Chúng ta sẽ cần phải làm gì?”
“Muốn không bị trùng với nhóm trước chúng ta cần phải làm gì?
Hết thời gian, giáo viên yêu cầu tất cả các nhóm giơ tay và nộp hình ảnh vềcho giáo viên Sau đó, giáo viên bốc thăm một nhóm trả lời đầu tiên, mỗi lượt trảlời sẽ nêu hai đặc điểm và trả lời theo vòng tròn Các nhóm lần lượt liệt kê đếnđâu thì giáo viên ghi lên bảng và tính điểm đến đó
Qua hoạt động trò chơi khởi động giáo viên sẽ rèn được kĩ năng: hợp tácnhóm, nghe, nhìn, ghi nhớ, theo dõi để gạch chân đáp án mà nhóm trước đã đượctrả lời Đồng thời ngay từ đầu giờ các em đã được vừa chơi vừa học nên sẽ tạođược tâm lí thoải mái, gây hứng thú cho các em ở những nội dung kiến thức ở cácphần tiếp theo
Hứng thú là một thuộc tính tâm lí - nhân cách của con người Hứng thú cóvai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không
làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú M.Gorki từng nói: Thiên tài nảy nở từ
tình yêu đối với công việc Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận
thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồncủa sự sáng tạo Hứng thú là một thuộc tính tâm lí mang tính đặc thù cá nhân.Hứng thú có tính lựa chọn Đối tượng của hứng thú chỉ là những cái cần thiết, cógiá trị, có sức hấp dẫn với cá nhân Vậy vấn đề gì thu hút sự quan tâm, chú ý tìm
Trang 13hiểu của các em? Trả lời được câu hỏi này nghĩa là người giáo viên đã sống cùngvới đời sống tinh thần của các em, biến đổi những nhiệm vụ học tập khô khan phùhợp với những mong muốn, nhu cầu, sở thích, nguyện vọng (tất nhiên là phải tíchcực, chính đáng) của học sinh.
Giáo viên khen ngợi, động viên học sinh và dùng kết quả đó để chuyển ýgiới thiệu bài mới
Giáo viên giới thiệu qua các hình ảnh trong sách giáo khoa và công bốnhiệm vụ của các trò như sau:
*1 Các con có 7’ đề quan sát tranh H47.1 -> H47.4 và đọc toàn bộ thông tintrong sách giáo khoa cả hai mục I, II (trừ phần đóng khung màu hồng ở cuối bài)
và hoàn thành bài tập điền từ
*2 Lấy bút nhớ hoặc ghi ra giấy tất cả những thông tin quan trọng
*3 Gợi ý: Có thể phân chia nội dung cho các thành viên, đảm bảo mọi thôngtin đều chắc chắn để phục vụ phần thi sau
Mỗi học sinh có 1 bút ghi nhớ hoặc nháp, 1 sách giáo khoa để vừa tự đọc vàđánh dấu Sau khi đủ thời gian để đọc, giáo viên thông báo phần thi tiếp theo có
tên gọi: “Bộ não thiên tài”
Thể lệ trò chơi: “Bộ não thiên tài” như sau:
1, Hình thức: Trên màn hình sẽ xuất hiện các câu hỏi, mỗi câu hỏi có 15
giây để suy nghĩ và trả lời
2, Các đội chỉ trả lời vào bảng trả lời sau khi giáo viên kết thúc các câu hỏi
Hệ thống câu hỏi như sau:
Câu 1 Bộ não người, phần nào phát triển nhất?
Câu 2 Khi nhìn từ trên, đại não được chia thành mấy phần? Gọi tên?Câu 3 Rãnh và khe do đâu tạo thành? Có ý nghĩa gì đối với não?
Trang 14Câu 4 Cấu tạo của vỏ não?
Câu 5 Các rãnh đã chia mặt ngoài của bán cầu thành mấy thùy não?Câu 6 Rãnh đỉnh ngăn cách giữa hai thùy nào?
Câu 7 Ngăn cách thùy trán, thùy đỉnh với thùy thái dương là rãnh nào?Câu 8 Sự khác nhau căn bản nhất về cấu tạo giữa đại não và tủy sống?Câu 9 Các đường dẫn truyền trong chất trắng của đại não bắt chéo
ở đâu?
Câu 10 Một người bị tổn thương bán cầu não trái có thể để lại hậuquả gì?
Câu 11 Ở vỏ não có các vùng chức năng nào?
Câu 12 Vùng thính giác nằm ở thùy nào?
Câu 13 Thùy nào có vùng thị giác?
Câu 14 Trước rãnh đỉnh và sau rãnh đỉnh có những vùng chứcnăng nào?
Câu 15 Chúng ta cần làm gì để bảo vệ bộ não?
Câu 16 Não người có đặc điểm gì tiến hóa hơn so với não của động vậtthuộc lớp Thú?
Khi tổ chức trò chơi này thì giáo viên công bố trước là: Trong phần thi này
có 16 câu hỏi và các con phải dùng bộ não và khả năng ghi nhớ của mình để ghinhớ thông tin Nguồn thông tin cho các con là thông tin và hình vẽ trong sách
giáo khoa Mục tiêu là các con sẽ được tham gia trò chơi trí tuệ có tên “Bộ não
thiên tài”
Đặc biệt, giáo viên lưu ý học sinh: “Các con sẽ phải ghi nhớ thậm chí có thểghi lại những thông tin đó lại và có thể đọc đi đọc lại nhiều lần nếu còn thời gian
để ghi nhớ thật tốt”
Kết thúc trò chơi, giáo viên sẽ tổng kết số điểm cho các nhóm, nhóm nào cao
sẽ được cộng điểm khuyến khích và tặng danh hiệu “Bộ não thiên tài”, các nhóm khác có thể khen ngợi có “Bộ não suýt thiên tài” Để khuyến khích cả lớp liên tục
phấn đấu nâng cao thành tích học tập, giáo viên phải thực hiện không chỉ là trao
Trang 15huy hiệu cá nhân và phần thưởng như những động lực thúc đẩy Giáo viên có thể thiết lập một hệ thống khen thưởng toàn thể, nơi mọi người có thể ăn mừng
những thành tựu cá nhân và hợp tác Nếu một cá nhân hoặc một nhóm học sinh đạt đến một mức độ nhất định hoặc điểm tổng cộng, cả lớp cũng sẽ được thưởng một cơ số điểm Hệ thống khen thưởng trên diện rộng này không chỉ đánh dấu những thành tựu cá nhân, mà còn khuyến khích các học sinh trong lớp giúp đỡ lẫnnhau để cả lớp đều được khen thưởng Điều này thúc đẩy sự đoàn kết và cộng tác giữa các học sinh, khi các con thấy mình đang “đi chung một con thuyền”, đòi hỏichung sức để đạt đến đích
Hoạt động này sẽ kích thích học sinh phấn đấu có mục tiêu ngay từ đầu.Các con sẽ thấy được là các con đọc sách để làm gì tức là kiếm điểm cho nhómmình Các con sẽ vì màu cờ sắc áo của mình mà phấn đấu Từ đó, các con sẽ tập
trung vào tìm kiếm thông tin, các con sẽ đọc “ngấu nghiến” thậm chí các con sau
khi đọc xong mà chưa nhớ và chưa hết thời gian các con sẽ đọc lại hoặc ghi lại
cho “chắc ăn”
Qua đó, giáo viên rèn được kĩ năng nghiên cứu tài liệu đọc sâu, đọc kĩ, ghinhớ kiến thức, chắt lọc thông tin mà mình đọc được và gây được sự hấp dẫn đểkích thích các con có thói quen đọc nhiều hơn
Đồng thời, giúp cho giáo viên nâng cao kĩ năng quản lí lớp của mình Giáoviên là người chỉ huy dẫn dắt tổ chức và quản lí còn học sinh tự đi lấy thông tinthông qua tài liệu đã được giáo viên hướng dẫn Giáo viên hạn chế được việcgiảng dạy, giáo viên chỉ là người nghĩ ra các trò khác nhau cho học sinh học đượccách ghi nhớ
Giáo viên chỉ có vai trò của một người diễn viên một MC diễn tốt vai trò dẫndắt Giáo viên phải có ý thức được rằng mình chỉ là người “phụ trợ”, người tổchức Muốn làm được điều đó đòi hỏi giáo viên phải tư duy để nghĩ ra cáchchuyển đổi vai trò, những ý tưởng mới và các bước thực hiện nó Mặt khác, giáoviên là một “chuyên gia” nên phải kiềm chế tối đa việc “phun ra” trong quá trình
Trang 16tìm kiếm và phát hiện thông tin của các con thì hoạt động này mới mang lại hiệuquả cao.
**) Đánh giá nhận xét sau tiết dạy.
- Giáo viên phải có câu lệnh hoặc mệnh lệnh phải dứt khoát
- Khi chiếu lệnh trên màn hình, cho học sinh đọc thậm chí chép lại đểnhằm mục đích: Quân thì phải hiểu rõ là mình phải làm gì? Thời gian là mấyphút? Trong thời gian mấy phút đó thì mình phải làm gì?
Điều này chính là mặt truyền thông để giáo viên truyền tải ý đồ của mìnhcho học sinh và cách các con thực hiện nhiệm vụ
- Giáo dục là con đường muốn nhanh thì phải từ từ không thể làm caotốc được Tư tưởng giáo viên không được quan trọng việc nhồi nhét kiến thức màphải giúp học sinh hình thành được kĩ năng gì, năng lực gì vì thứ đó sẽ theo suốtcuộc đời của các con Thông qua các nội dung dạy học, giáo viên có thể nói vớihọc sinh những bài học gì trong cuộc sống, đây mới là phần quan trọng, nó sẽluôn động viên và khích lệ các con so sánh dọc Giáo viên truyền được cảmhứng cho học sinh, làm tăng lượng những học sinh quý giáo viên trong lớp Vìkhi học sinh đã quý giáo viên thì giáo viên không cần phải dạy nữa mà khi đó cáccon sẽ tự học
- Giáo viên là người khơi gợi cảm hứng hành động cho học sinh vì khi
đã khơi gợi được cảm hứng hành động của học sinh thì kết quả luôn luôn bất ngờ