Trình bày cơ sở lý luận của việc xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng nghề trong kiểm tra đánh giá (KTĐG) kết quả học tập. Thực trạng KTĐG kỹ năng nghề điện công nghiệp tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ. Xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng nghề cho nghề điện công nghiệp tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ. Mô tả: Luận văn (Thạc sỹ khoa học) Ngành Sư phạm kỹ thuật điện
Trang 1XÂY DỰNG BỘ ĐỀ THI ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG NGHỀ
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Chuyên sâu: Sư phạm kỹ thuật điện
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- BÙI TRUNG HIẾU
LUẬN VĂN XÂY DỰNG BỘ ĐỀ THI ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG NGHỀ CHO
NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Chuyên sâu: Sư phạm kỹ thuật điện
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Phạm Hùng Phi
Hà Nội – Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “Xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng nghề cho nghề
Điện công nghiệp tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ” là công trình nghiên
cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ
tình hình thực tế của đơn vị
Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được
công bố ở các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Bùi Trung Hiếu
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Tên
1 KTĐG Kiểm tra – đánh giá
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
1.1 Các mức độ nắm vững kiến thức 31 1.2 Các mức độ hình thành kỹ năng 32
2.1 Cơ cấu trình độ đội ngũ giáo viên 44 2.2 Chương trình khung đào tạo nghề Điện công nghiệp 45 3.1 Các bài tập điều khiển động cơ không đồng bộ 3 pha 61 3.2 Phân bố điểm giữa các phần trong bộ đề 62 3.3 Tỷ lệ phân bố điểm giữa các phần trong bộ đề 63 3.4 Mức phân bố điểm cho bài thi 63 4.1 Bảng phân bố điểm module sửa chữa và vận hành máy điện 76 4.2 Bảng phân bố điểm module Trang bị điện 77 4.3 Bảng phân bố điểm module PLC cơ bản 78 4.4 Kết quả thi tốt nghiệp khóa 39 - Trường CĐN Cơ điện Phú Thọ 78 4.5 Kết quả thi tốt nghiệp khóa 40 - Khoa Điện - Phần thực hành 79 4.6 Bảng thống kê kết quả phỏng vấn đánh giá về bộ đề thi 79
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1.1 Vị trí của kiểm tra - đánh giá trong chương trình đào tạo 17 1.2 Lưu đồ quy trình kiểm tra - đánh giá 23 1.3 Các phương pháp kiểm tra - đánh giá người học 26 1.4 Cơ cấu các thành tố tri thức 34 1.5 Lưu đồ quy trình thiết kế bài kiểm tra 36 1.6 Hệ thống giáo dục và nghề nghiệp Việt Nam 38 3.1 Lưu đồ quy trình xây dựng bài thực hành kỹ năng 53 3.2 Các kỹ năng cơ bản nghề điện 55
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt 2
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BỘ ĐỀ THI
ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG NGHỀ TRONG KTĐG KẾT QUẢ HỌC TẬP 11
1.1 Khái quát chung về kiểm tra - đánh giá trong giáo dục 11 1.1.1 Khái niệm về kiểm tra - đánh giá 11
Trang 81.1.7 Phân loại kiểm tra - đánh giá 24 1.1.7.1 Về mặt hình thức 24 1.1.7.2 Về tính chất 25 1.1.8 Các phương pháp kiểm tra - đánh giá thường hay sử dụng 26 1.1.8.1 Phương pháp quan sát 27 1.1.8.2 Phương pháp vấn đáp 27 1.1.8.3 Phương pháp kiểm tra viết 28 1.2 Thiết kế bài kiểm tra - đánh giá kết quả học tập 29 1.2.1 Các nguyên tắc và căn cứ để thiết kế câu hỏi và bài kiểm tra 29 1.2.2 Các loại kiểm tra - đánh giá theo mục tiêu học tập 33 1.2.2.1 Kiểm tra đánh giá kiến thức 33 1.2.2.2 Kiểm tra đánh giá kỹ năng 33 1.2.2.3 Kiểm tra đánh giá thái độ 33 1.2.3 Phân tích mục tiêu dạy hoc và xây dựng bảng trọng số 33 1.2.4 Qui trình thiết kế bài kiểm tra 35 1.3 Kiểm tra - đánh giá trong dạy nghề 37 1.3.1 Khái niệm và thuật ngữ 37 1.3.2 Kiểm tra - đánh giá trong dạy nghề 38
Chương 2 THỰC TRẠNG KTĐG KỸ NĂNG NGHỀ NGHỀ
ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CĐN CƠ ĐIỆN PHÚ THỌ 43
2.1 Giới thiệu về Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ 43 2.2 Chương trình khung đào tạo nghề Điện công nghiệp - Trường CĐN
Cơ điện Phú Thọ - Trình độ Cao đẳng nghề 44 2.3 Thực trạng kiểm tra - đánh giá kỹ năng nghề nghề Điện công nghiệp
tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ 47
Trang 9Chương 3 XÂY DỰNG BỘ ĐỀ THI ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG NGHỀ
-NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG -NGHỀ
CƠ ĐIỆN PHÚ THỌ
52
3.1 Nguyên tắc xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng nghề 52 3.2 Các bước xây dựng bài KTĐG kỹ năng nghề 52 3.2.1 Phân tích chương trình đào tạo nghề Điện công nghiệp 54 3.2.2 Xác định các kỹ năng cơ bản nghề Điện 55 3.2.2.1 Các kỹ năng an toàn điện 55 3.2.2.2 Các kỹ năng nhận biết và sử dụng vật liệu điện cơ bản 56 3.2.2.3 Các kỹ năng sử dụng dụng cụ điện cơ bản 56 3.2.3 Xác định cấu trúc bộ đề thi và các kỹ năng trong từng phần 58 3.2.4 Xây dựng đề thi cho từng phần 60 3.3 Xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng nghề - Nghề Điện công nghiệp
tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ 62
4.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 75 4.2 Nội dung thực nghiệm 75 4.2.1 Thực nghiệm module Sửa chữa và vận hành máy điện 76 4.2.2 Thực nghiệm module Trang bị điện 77 4.2.3 Thực nghiệm module Điều khiển lập trình: 77 4.2.4 Sử dụng bộ đề thi trong quá trình ôn thi tốt nghiệp 78 4.3 Đánh giá - nhận xét 79
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mặc dù hiện nay giáo dục nước ta đã đạt được một số thành tựu nhất định như: xây dựng được một hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh bao gồm nhiều bậc học và cấp học khác nhau, quy mô giáo dục tăng nhanh, bước đầu đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội, chất lượng giáo dục có chuyển biến trên một số mặt…, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế như: “yếu kém về chất lượng, mất cân đối về cơ cấu, hiệu quả giáo dục chưa cao, giáo dục chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, đào tạo chưa gắn liền với sử dụng, đội ngũ giáo viên còn yếu,
cơ sở vật chất còn thiếu, chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục và công tác quản lý chậm đổi mới, một số hiện tượng tiêu cực, thiếu kỷ cương chậm được khắc phục” [1]
Giáo dục là một hệ thống cân bằng động gồm nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau dựa trên những quy luật nhất định Những nhân tố đó là môi trường xã hội, môi trường nhà trường, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, người dạy, người học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, công tác KTĐG… Đổi mới phương pháp dạy học nói chung cũng như đổi mới phương pháp KTĐG nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục Mục đích của quá trình đổi mới phương pháp dạy học là tích cực hoá hoạt động học tập của HS Dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh dựa trên nguyên tắc giáo viên giúp học sinh tự khám phá trên cơ sở tự giác và được tự do (tự suy nghĩ, tranh luận, đề xuất vấn đề đang giải quyết) Như vậy người GV đồng thời phải
là người tổ chức, chuẩn đoán, người hướng dẫn, HS trở thành người khám phá, người thực hiện và giải quyết vấn đề Các hình thức đánh giá kết quả học tập của
HS ảnh hưởng sâu sắc tới phương pháp dạy học Đánh giá và thi cử như thế nào sẽ
có lối dạy tương ứng như thế đó Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến KTĐG kết quả dạy học KTĐG có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo Kết quả của KTĐG là cơ sở để điều chỉnh hoạt động
Trang 11dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục Nếu KTĐG sai dẫn đến nhận định sai về mặt chất lượng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực Đổi mới KTĐG trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để không những kiểm tra được kiến thức của HS mà còn kiểm tra được các kỹ năng, năng lực hành động của HS trong môi trường gắn với thực tiễn cuộc sống xã hội Đây là một vấn đề đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà quản lí giáo dục, của cả thầy và trò trong nhà trường và của dư luận toàn
xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, từ nhiều năm qua Trường CĐN
Cơ điện Phú Thọ đã dành nhiều ưu tiên cho công tác KTĐG, đặc biệt là công tác KTĐG kỹ năng nghề Tuy nhiên, khi thực hiện việc KTĐG này vẫn chưa thật sự phát huy được hết hiệu quả của nó và vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục Chính vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng của công tác KTĐG đặc biệt là
KTĐG kỹ năng nghề, tác giả đã chọn đề tài: “Xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng
nghề cho nghề Điện công nghiệp tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ” là đề
tài nghiên cứu trong luận văn cao học của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quy trình, phương pháp xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng nghề cho nghề Điện công nghiệp tại trường CĐN Cơ điện Phú Thọ một cách hợp lý, hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượng quá trình KTĐG kết quả học tập của HS
3 Đối tượng nghiên cứu
- Chương trình đào tạo nghề Điện công nghiệp (trình độ Cao đẳng nghề) của trường CĐN Cơ điện Phú Thọ
- Công tác KTĐG kết quả học tập của HS tại trường CĐN Cơ điện Phú Thọ
- Quy trình xây dựng đề thi KTĐG kết quả học tập của học sinh
Trang 12
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một bộ đề thi đánh giá kỹ năng nghề phù hợp với mục tiêu dạy học và nội dung kiến thức của chương trình học có thể đánh giá được chính xác, khách quan kết quả học tập của HS
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề chung về KTĐG, KTĐG kỹ năng nghề
- Tìm hiểu về chương trình và yêu cầu đào tạo của nghề Điện công nghiệp tại trường CĐN Cơ điện Phú Thọ
- Nghiên cứu thực trạng KTĐG kỹ năng nghề của nghề Điện công nghiệp tại trường CĐN Cơ điện Phú Thọ
- Xây dựng bộ đề thi KTĐG kỹ năng nghề cho nghề Điện công nghiệp tại trường CĐN Cơ điện Phú Thọ phù hợp các yêu cầu của KTĐG cũng như thực tiễn tại
cơ sở đào tạo
6 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết (sách, tài liệu) với nghiên cứu thực nghiệm (phiếu phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm) để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm bốn chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng nghề trong kiểm tra – đánh giá kết quả học tập
Chương 2: Thực trạng kiểm tra đánh giá kỹ năng nghề nghề Điện công nghiệp tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ
Chương 3: Xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng nghề cho nghề Điện công nghiệp tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13học tập của người học Trong quá trình dạy học, KTĐG kết quả học tập là một
khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, thái độ của người học KTĐG có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau Việc xây dựng bộ đề thi KTĐG kỹ năng nghề cần phải dựa trên những cơ sở lý luận về KTĐG kết quả học tập của HS/SV
1.1 Khá i quát chung về kiểm tra - đánh giá trong giáo dục
1.1.1 Khái niệm về kiểm tra - đánh giá
1.1.1.1 Kiểm tra
Theo từ điển tiếng Việt thuật ngữ kiểm tra được định nghĩa như sau: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét ” [25]
Theo Từ điển Giáo dục học thì thuật ngữ kiểm tra được định nghĩa như sau: “Là
bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học”
Như vậy trong lĩnh vực giáo dục, kiểm tra là một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để có được những phán đoán, xác định xem mỗi người học sau khi học đã nắm được gì (kiến thức), làm được gì (kỹ năng) và bộc lộ thái độ ứng xử ra sao, qua đó có được những thông tin phản hồi để hoàn thiện quá trình dạy học.[3]
Trang 14Như vậy, kiểm tra không chỉ dừng lại ở việc cho điểm số, xếp loại hay bình bầu
mà nó còn là cơ sở quan trọng để xác định đúng phương hướng, mục tiêu hay điều chỉnh kế hoạch học tập Kiểm tra là tiền đề, cung cấp thông tin cho công tác đánh giá
1.1.1.2 Đo lường
Theo Hoàng Phê, “Đo lường” được định nghĩa là: “xác định độ lớn của một đại lượng bằng cách so sánh với một đại lượng cùng loại được chọn làm đơn vị”.[25]
Đo lường trong tiếng Anh (Measurement) là một khái niệm chuyên dùng để chỉ
sự so sánh một vật hay hiện tượng với một thước đo hay chuẩn mực, có khả năng trình bày kết quả về mặt định lượng Nói cách khác đo lường là một cách lượng giá với mục đích gán con số hoặc thứ bậc cho đối tượng đo (nghiên cứu) theo một hệ thống quy tắc hay chuẩn mực nào đó
Đo lường là sử dụng mọi hình thức, phương tiện để tìm hiểu về một (hay nhiều) khía cạnh nào đó của một (hay nhiều) người Có nghĩa là đo lường cũng đề cập đến các phương thức, công cụ để đưa ra những căn cứ, cơ sở cho đánh giá [20]
Trong lĩnh vực giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau về đo lường:
- Theo K.D.Hopkins và J.C.Stalay: Đo lường là quá trình mà với nó, sự việc được phân biệt
- Theo Q Stodola và K.Stordahl : Đo lường trong giáo dục là phương tiện để thu thập, phân tích dữ liệu về đặc tính, hành vi con người một cách có hệ thống làm
cơ sở cho những hành động thích hợp
- Theo Lê Đức Ngọc: Đo lường là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng (số đo về các đai lượng đặc trưng của đào tạo năng lực (nhận thức, tư duy, kỹ năng và phẩm chất nhân văn) trong quá trình giáo dục [12]
Như vậy, khái niệm đo lường cũng gần giống với khái niệm kiểm tra Tuy nhiên, khái niệm đo lường rộng hơn khái niệm kiểm tra Kiểm tra chủ yếu đề cập đến các
Trang 15hình thức kiểm tra để cung cấp các dữ liệu, thông tin còn đo lường không những đề cập đến các hình thức mà cả các phương tiện nữa
1.1.1.3 Đánh giá
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng cần đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các thang đo hoặc các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay chuẩn mực Đánh giá có thể là đánh giá định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (qualitative) dựa vào các ý kiến và giá trị
Theo GS Trần Bá Hoành “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán
đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” Theo các nhà nghiên cứu Erwin (1999), Cizek (1997), Lambert and Lines (2000) thì đánh giá là “Quá trình xác định, lựa chọn, thiết kế, thu thập, phân tích, diễn dịch
và sử dụng thông tin để tăng chất lượng học tập của người học, và để người học
phát triển kiến thức và kỹ năng”
Theo GS.TSKH Lâm Quang Thiệp, đánh giá là căn cứ vào các số đo và các tiêu chí xác định năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo để nhận định, phán đoán
và đề xuất các quyết định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo [19] Theo quan điểm của Yoloye (1998), hiểu về quá trình đưa ra quyết định đánh giá
là rất cần thiết đối với giáo dục đại học Bất luận một người sử dụng định nghĩa về đánh giá như thế nào, song chắc chắn quá trình đánh giá phải có 3 yếu tố cấu thành sau đây:
“Một thực thể được đánh giá có thể là một sản phẩm, một quá trình hoặc một sự hoàn thiện
Phép đo về một thực thể hướng tới một kết quả bằng điểm số, bằng cấp độ hay các thể hiện về mặt lượng khác
Trang 16Đánh giá định lượng bằng cách gán vào đó một giá trị Giá trị có thể cho ở các dạng khác nhau như đạt/trượt hoặc loại 1/loại 2/loại 3 đạt/trượt.”
Trong nhà trường, việc đánh giá HS được thực hiện chủ yếu thông qua các bài kiểm tra Các bài kiểm tra được tiến hành thường xuyên Đó là một công cụ để đánh giá Công cụ đánh giá có hiệu quả phải giúp xác định được kết quả học tập của người học ở mọi cấp độ, từ đó đưa ra những nhận định chính xác về năng lực người học
Có thể nói thuật ngữ đánh giá là thuật ngữ có tính tổng quát nhất trong các thuật ngữ về lĩnh vực đánh giá trong giáo dục Nó không chỉ dừng lại ở chỗ cho biết người học đã đạt được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ đến mức độ nào sau một quá trình học tập mà còn đưa ra những nhận định, phán xét theo một thang đo nhất định cho người học, từ đó ra quyết định có liên quan đến người học Đồng thời đánh giá có tác động đến người đánh giá và người được đánh giá: Cung cấp thông tin phản hồi để từ đó đưa đến sự điều chỉnh Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá nhưng chúng ta có thể thấy điểm chung giữa những định nghĩa này đó là: Đều nhận thấy đánh giá là một quá trình chứ không phải là một cái gì đó riêng lẻ và đối tượng của hoạt động đánh giá là quá trình học tập của người học và quá trình đánh giá đều tìm các thông tin, cơ sở để đưa ra những đánh giá dựa vào các mục tiêu đã đề ra của môn học
Theo Allan C.Ornstein và Thomas J.Lasley thì đánh giá có thể được chia làm bốn kiểu đánh giá : Đánh giá xếp loại, đánh giá sát hạch, đánh giá theo dõi, đánh giá kết quả Cụ thể như sau:
- Đánh giá xếp loại: Là đánh giá giúp cho việc phân loại học sinh trước khóa
học, tiến hành vào đầu học kỳ
- Đánh giá sát hạch: Là một phương tiện tìm hiểu và theo dõi những khó khăn
trong việc học tập, việc kiểm tra đánh giá này có thể cung cấp những thông tin có thể tạo điều kiện cho SV vượt qua những thất bại Trong nhiều trường hợp, đánh giá sát hạch và đánh giá theo dõi mang tính chồng chéo, kiểm tra theo dõi chủ yếu liên
Trang 17quan đến sự tiến bộ của học sinh, nhưng việc thiếu tiến bộ có thể cho thấy một vấn
đề nào đó mà phải dùng kiểu đánh giá sát hạch để tìm ra
- Đánh giá theo dõi: Dùng để theo dõi sự tiến bộ trong suốt quá trình học, giáo
viên phải cho học sinh kiểm tra thường xuyên trong suốt một khóa học hay học kỳ, trong suốt quá trình đó còn phải có những cải tiến phù hợp Việc dạy học có thể được cải tiến dựa trên những phản hồi mà việc kiểm tra đánh giá theo dõi cung cấp Benjamin Bloom và các cộng sự của ông đã mô tả việc kiểm tra đánh giá theo dõi như là một công cụ dạy học chính Đánh giá theo dõi rất quan trọng đối với kết quả học tập của học sinh Các nghiên cứu cho thấy rằng những bài kiểm tra đánh giá theo dõi nâng cao mang lại kết quả học tập đáng kể và rất có ý nghĩa đối với học sinh Nếu giáo viên chấm bài thi theo cách cho học sinh thấy được họ có thể cải thiện việc làm bài như thế nào thì việc học tập của học sinh tỏ ra thực sự và đáng khích lệ
- Đánh giá kết quả: Là đánh giá cho biết kết quả của việc dạy và học vào cuối
mỗi học phần hay học kỳ Nó được thiết kế để xác định xem mục đích dạy học đã được học sinh lĩnh hội ở mức độ nào và nó được sử dụng chủ yếu để chứng nhận bằng cấp hay cho điểm HS Trong khi đánh giá theo dõi cung cấp những nhận xét
có tính chưa quyết định về việc học tập đã diễn ra và việc học tập cần thực hiện, đánh giá kết quả lại diễn ra khi việc dạy và học đã xong và là sự đánh giá cuối cùng Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở đo lường, kiểm tra, bao giờ cũng đi liền với kiểm tra Trong đánh giá, ngoài sự đo lường một cách khách quan dựa trên kiểm tra (hay trắc nghiệm), còn có ý kiến bình luận, nhận xét, phê phán mang tính chủ quan
để tiến tới sự phán xét Thuật ngữ đánh giá kết quả học tập được định nghĩa như sau: “Xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra”
Trong giáo dục có các loại đánh giá chính sau:
- Đánh giá kết quả học tập
- Đánh giá chương trình đào tạo
- Đánh giá giáo viên, giảng viên
Trang 18- Đánh giá khoá học
- Đánh giá nhà trường (xếp hạng hoặc kiểm định công nhận cơ sở đào tạo)
Có nhiều định nghĩa khác nhau về kết quả học tập như “Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công của HS/SV về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục” (James Madison University, 2003; James O Nichols, 2002) hay “Kết quả học tập của SV bao gồm các kiến thức, kĩ năng và thái
độ mà họ có được” Trường Cabrillo quan niệm về kết quả học tập của SV “là kiến thức, kỹ năng và thái độ SV đạt được và phát triển trong suốt khóa học” Nhìn một cách khái quát thì các khái niệm về kết quả học tập chủ yếu bao gồm các kiến thức,
kỹ năng, thái độ của SV đạt được trong quá trình học tập
Tùy theo mục đích của việc đánh giá mà khái niệm đánh giá kết quả học tập có thể được hiểu theo hai cách sau đây: Đánh giá kết quả học tập được xem là xác định mức độ thành công trong học tập của học sinh khi xem xét trong mối quan hệ với mục tiêu đã xác định, các chuẩn kiến thức và kỹ năng đạt được so với công sức và thời gian mà người học bỏ ra Theo định nghĩa này thì đánh giá kết quả học tập là xác định mức độ thực hiện theo tiêu chí Đánh giá kết quả học tập được xem là xác định mức độ thành tích đạt được của một học sinh so với các bạn cùng học Theo định nghĩa này thì đánh giá kết quả học tập là xác định mức độ đạt chuẩn
Một thuật ngữ hay dùng trong đánh giá là lượng giá (Assesment) bao gồm các
việc phán xét HS theo các hệ thống quy tắc hoặc tiêu chuẩn nào đó và thường trên
cơ sở các bằng chứng, các chỉ số định lượng cao Lượng giá có thể thực hiện đầu quá trình giảng dạy để giúp tìm hiểu và chẩn đoán (diagnostic) về đối tượng giảng dạy,có thể triển khai trong tiến trình (formative) giảng dạy để tạo những thông tin phản hồi giúp điều chỉnh quá trình dạy và học, cũng có thể thực hiện lúc kết thúc (summmative) để tổng kết Trong giảng dạy ở nhà trường, các lượng giá trong tiến trình thường gắn chặt với người dạy, tuy nhiên các lượng giá kết thúc thường bám sát vào mục tiêu dạy học đã được đề ra, và có thể tách khỏi người dạy [2]
Trang 191.1.2 Vị trí, vai trò của kiểm tra - đánh giá trong giáo dục
Trong quá trình dạy học nói riêng hay giáo dục và đào tạo nói chung, KTĐG là một trong những bộ phận chủ yếu và hợp thành một chỉnh thể thống nhất trong qui trình đào tạo Việc KTĐG không chỉ đơn thuần chú trọng vào kết quả học tập của học sinh, mà còn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy động cơ, thái độ tích cực của người học, hoàn thiện quá trình dạy học, kiểm định chất lượng, hiệu quả dạy học và trình độ nghề nghiệp của người dạy
Theo Guibert (1981) thì KTĐG là một trong các khâu của chương trình đào tạo
Hình 1.1 Vị trí của kiểm tra - đánh giá trong chương trình đào tạo [17] Dựa trên sơ đồ ta có thể thấy, KTĐG là khâu quan trọng nhất bởi nó không chỉ cho ta biết quá trình đào tạo có đạt được mục tiêu hay không, mà còn cung cấp các thông tin hữu ích để điều chỉnh toàn bộ hoạt động sao cho phù hợp với nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo
Bản chất của KTĐG là xác định xem mục tiêu của chương trình đào tạo, của môn học có đạt được hay không Nó thông tin về tình trạng thực tế của người học, của việc dạy học, của nội dung học tập và hơn thế đó là tính hiệu quả của phương pháp giảng dạy, cũng như đánh giá hiệu quả của các phương tiện dạy học Kiểm tra có
Phương pháp dạy học Phương tiện dạy học
Người học
Mục tiêu
Nội dung chương trình
Kiểm tra Đánh giá
Trang 20khách quan, chính xác thì đánh giá mới xác thực Do vậy, KTĐG có mối quan hệ mật thiết với nhau và có vai trò quan trọng đối với giáo viên, học sinh mà còn đối với cả công tác quản lý giáo dục
1.1.2.1 Đối với giáo viên
- Việc KTĐG cung cấp cho giáo viên thông tin phản hồi từ người học Từ đó, giáo viên có thể điều chỉnh quá trình dạy học phù hợp hơn, đảm bảo sự thống nhất nguyện vọng giữa ba đối tượng: người học, người dạy và xã hội
- KTĐG kết hợp theo dõi thường xuyên người học sẽ tạo điều kiện cho GV nắm chính xác được năng lực trí tuệ của HS Từ đó, GV có thể điều chỉnh phương pháp hay tổ chức bồi dưỡng kịp thời để quá trình học tập đi đúng tiến độ
- Thông qua KTĐG, giáo viên có thể xem xét lại hiệu quả giáo dục của mình từ đó rút ra những kinh nghiệm cũng như có những điều chỉnh kịp thời trong công tác giảng dạy
1.1.2.2 Đối với học sinh
- KTĐG sẽ cung cấp cho học sinh trước hết là điểm số hay kết quả học tập của mình Trên cơ sở đó, người học tự đánh giá sự tiến bộ của mình, thúc đẩy quá trình
tự học
- Ngoài ra, với kết quả thu được HS sẽ tự điều chỉnh quá trình tiếp thu kiến thức của mình, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập
- Kết quả học tập giúp cho HS tự tin vào kiến thức của bản thân
- Tiến hành KTĐG thường xuyên góp phần làm tăng hoạt động: ghi nhớ, tái hiện, khái quát hoá…của học sinh, từ đó phát huy năng lực tư duy sáng tạo, vận dụng linh hoạt các kiến thức vào trong điều kiện thực tế của người học
1.1.2.3 Đối với công tác quản lý giáo dục
- Công tác KTĐG sẽ cung cấp thông tin về thực trạng việc dạy và học trong một
cơ sở giáo dục Từ đó có những biện pháp chỉ đạo kịp thời, nhằm đảm bảo thực hiện
tốt mục tiêu, chương trình cũng như kế hoạch đào tạo
- Trên cơ sở kết quả học tập thu được, các đơn vị đào tạo tiến hành phân loại và xác nhận kết quả học tập cho người học Ngoài ra, đây còn là cơ sở đánh giá được
Trang 21sự tiến bộ của người học, đồng thời là cơ sở để nhận xét và lưu hồ sơ cho người học
1.1.3 Mục đích của việc kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học
*Xác định kiến thức, kỹ năng và thái độ hiện có ở mỗi người học trước, trong và khi kết thúc một giai đoạn học tập học
Nhờ KTĐG, GV biết được trình độ người học, những điểm yếu của người trước khi vào học Điều này rất quan trọng đối với các khoá học ngắn hạn, bồi dưỡng nâng cao vì nó giúp giáo viên xác định được nhu cầu của người học để có thể đề ra mục tiêu học tập sát hợp Kết quả đánh giá quá trình cho phép theo dõi, đánh giá sự tiến bộ (hoặc hạn chế) của người học Kết quả đánh giá cuối khoá cho phép đo sự gia tăng (kiến thức, kỹ năng, năng lực) của người học sau khoá đào tạo
* Thúc đẩy người học học tập, thông báo kịp thời cho ngưòi học biết tiến bộ của
họ trong quá trình dạy học
- Trước hết là có tác dụng thúc đẩy người học và quá trình học tập Không có kiểm tra, thì chắc là nhiều người học “không học” thật sự
- Động viên, khích lệ người học học nhiều hơn, tốt hơn
- Chỉ cho người học thấy họ học tốt nội dung nào chưa tốt, nội dung nào cần học thêm, học lại.v.v
* Cải tiến, hoàn thiện quá trình dạy học
Giáo viên cần biết rõ là nội dung đã được dạy và học đủ chưa, cần bổ sung cái gì, phương pháp dạy học đã phù hợp chưa, cần hỗ trợ thêm cho ngưòi học nào, cần được giúp thêm ở nội dung nào? Muốn biết rõ những điều đó và để có những quyết định phù hợp, giáo viên phải căn cứ vào kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
* Xác nhận hoặc chứng nhận trình độ, năng lực của ngưòi học
KTĐG nhằm khẳng định năng lực của người học có tương xứng với bằng cấp, chứng chỉ, đặc biệt là với chức năng, nhiệm vụ mà người học tốt nghiệp sẽ phải đảm nhận hay không
Trang 22Để chứng nhận trình độ, năng lực của người tốt nghiệp, trong KTĐG theo lối truyền thống lâu nay, người ta thường chú trọng KTĐG bằng một kỳ thi cuối khoá Làm như vậy cho kết quả không chính xác Điều quan trọng là phải xác định được một hệ thống KTĐG phù hợp bao gồm từ quy chế thi và kiểm tra, tiêu chí KTĐG, hình thức, phương pháp KTĐG, loại công cụ, câu hỏi thích hợp, số lượng câu hỏi, cách xác định điểm đạt, mức đạt v.v
1.1.4 Chức năng của kiểm tra - đánh giá
KTĐG có một số chức năng cơ bản sau:
1.1.4.1 Chức năng đo lường
Chức năng này thể hiện ở chỗ, KTĐG sẽ xác định được mức độ hiểu biết về kiến thức, kỹ năng…của người học
1.1.4.2 Chức năng chọn lọc và phân loại
- Thông qua kết quả của KTĐG sẽ phân loại được học sinh theo những tiêu chuẩn định sẵn mà trực tiếp nhất vẫn là điểm số
- Nắm được những kiến thức mà HS nắm vững, những kiến thức cần bổ sung hoặc điều chỉnh
1.1.4.3 Chức năng kiểm soát và phát hiện
Kiểm soát và phát hiện là chức năng xác định thực chất hiệu quả của hoạt động dạy học, kiểm soát đúng sẽ phát hiện ra các mặt ưu, khuyết điểm của từng người học Từ đó, giúp GV làm tốt công tác quản lý và điều khiển lớp học theo đúng định hướng
1.1.4.4 Chức năng động viên phê phán
KTĐG thường xuyên là cơ sở để nắm được đầy đủ những thông tin về người học Mọi ý kiến giáo dục, động viên, phê phán đều xuất phát từ kết quả của kiểm tra Khi được kiểm tra, giáo viên cũng như học sinh chắc chắn phải nỗ lực hơn trong công việc cũng như trong học tập để khắc phục những mặt hạn chế của bản thân và đáp ứng được yêu cầu của hoạt động giáo dục
Trang 231.1.4.5 Chức năng thu thập thông tin
Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá Đánh giá có thể đo lường được cũng có thể không Nhưng xét đến cùng thì đánh giá nhằm mục đích xác định hiệu quả của lao động sư phạm, xác định phẩm chất của thầy và năng lực của trò Chỉ có kiểm tra mới có những thông tin đáng tin cậy Thông qua đó mà giáo viên tác động kịp thời vào quá trình dạy học, điều chỉnh phương pháp, nội dung, mục tiêu cho hợp lý
1.1.5 Các yêu cầu của việc kiểm tra - đánh giá
Mục đích cuối cùng của bất cứ sự đánh giá nào cũng đều là thu thập những thông tin có giá trị nhất định, có độ tin cậy và tiết kiệm để đưa ra những quyết định phù hợp Sự xác đáng, tính hiệu lực, độ tin cậy và khía cạnh kinh tế là những yêu cầu hoặc những tiêu chuẩn mong đợi nhất hiện nay đối với bất kỳ sự KTĐG nào Để phát huy được tốt vai trò của mình thì công tác KTĐG phải thoả mãn một số yêu cầu:
- KTĐG là một bộ phận cấu thành nội dung của quá trình đào tạo nói chung và bài giảng nói riêng
- KTĐG được thực hiện liên tục thường xuyên trước, trong và kết thúc quá trình dạy học hay bài giảng
- KTĐG mang tính tự thực hiện việc KTĐG và tự điều chỉnh quá trình học tập của người học
- KTĐG hướng tới việc khuyến khích và giúp người học củng cố, nắm vững nội dung học tập, tự đánh giá kết quả học tập
- KTĐG mang tính đơn mục tiêu Mỗi một trắc nghiệm KTĐG chỉ nhằm xác định được mức độ nhận thức (kiến thức) hoặc mức độ hình thành kỹ năng với một nội dung cụ thể
- KTĐG phải có khả năng đo đếm, lượng giá, quan sát hoặc mô tả được (định tính và định lượng)
- KTĐG là nguồn thông tin phản hồi để đánh giá, nhận xét, điều chỉnh, hoàn
Trang 24- Bảo đảm khách quan, quy chuẩn, giá trị, toàn diện và phát triển:
+) Đảm bảo tính khách quan
Việc KTĐG phải đảm bảo tính khách quan và chính xác tới mức tối đa để tạo điều kiện cho mỗi người học bộc lộ thực chất khả năng của mình; ngăn chặn những biểu hiện thiếu trung thực khi tiến hành kiểm tra Việc đánh giá phải sát với điều kiện cụ thể, tránh những nhận định chủ quan, áp đặt không căn cứ Nội dung KTĐG phải phù hợp với mục tiêu cũng như yêu cầu của quá trình giáo dục Các nội dung này phải thống nhất, có tiêu chí đo lường cụ thể thì càng tốt Khi tiến hành kiểm tra phải nghiêm túc, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy chế
+) Đảm bảo tính quy chuẩn
Đánh giá dù theo bất kỳ hình thức nào, cùng nhằm mục tiêu phát triển hoạt động dạy và học, đồng thời phải đảm bảo lợi ích cho người được đánh giá và phát triển được Vì vậy, đánh giá cần tuân theo những chuẩn mực nhất định Những chuẩn này được ghi dõ trong văn bản quy định hoạt động đánh giá phải được công khai với người được đánh giá Những quy định cần được ghi chi tiết, đầy đủ, rõ ràng về mọi lĩnh vực, từ việc xác định mục tiêu, nội dung và phương thức đánh giá đến thời điểm đánh giá cụ thể
+) Đảm bảo tính xác nhận và tính phát triển
Tính xác nhận là việc đánh giá phải khẳng định được hiện trạng của nội dung môn học được đánh giá so với mục tiêu đánh giá (về mặt định tính và định lượng) và nguyên nhân của hiện trạng đó, dựa trên những tư liệu khoa học chính xác và lập luận xác đáng Tuy nhiên trong giáo dục có bản chất nhân đạo và phát triển, nên việc đánh giá cũng phải mang tinh nhân đạo và phát triển Tức là phải đảm bảo chức năng phát triển của đánh giá Giúp cho người được đánh giá không chỉ nhận ra hiện trạng cái mình đã đạt được (chức năng xác nhận), mà còn có niềm tin vào khả năng của mình trong việc tiếp tục phat triển hoặc khắc phuc những điểm không phú hợp
do đó khi đánh giá phải biết trân trọng sự cố gắng của HS/SV, đánh giá cao nhưng tiến bộ trong học tập của HS/SV
Trang 25+) Đảm bảo tính toàn diện
Trong toàn bộ công tác kiểm tra phải đánh giá được toàn diện mọi mặt của người học Mỗi bài kiểm tra có thể đánh giá một tiêu chí Có thể kết hợp giữa kiểm tra và quan sát thực tế học tập hàng ngày để đánh giá người học Tuy nhiên, với các bài kiểm tra cuối kỳ thì nội dung thi nên bao trùm toàn bộ chương trình môn học qua đó đánh giá được tổng quát kiến thức người học thu được sau khi kết thúc môn học +) Đảm bảo tính hệ thống
KTĐG được tiến hành có kế hoạch, có hệ thống Đánh giá trước, trong và sau khi học xong một nội dung, một phần hay một môn là việc làm hết sức cần thiết Số lần kiểm tra đủ để đánh giá chính xác kết quả học tập của người học Trên cơ sở đó có những điều chỉnh kịp thời cả hoạt động dạy và học
1.1.6 Quy trình kiểm tra - đánh giá
Quá trình đánh giá thường được tiến hành qua nhiều giai đoạn: lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra lại kết quả Trong mỗi giai đoạn lại gồm nhiều bước nhỏ, ta có thể thấy qua lưu đồ dưới đây:
Thông tin cho học viên
Tổ chức đánh giá
Thu nhận chứng cứ Quyết định
Thử nghiệm quá trình đánh giá
Kiểm tra lại quy trình đánh giá
Kiểm tra kết quả đánh giá
Đề xuất
thay đổi
Trang 261.1.7 Phân loại kiểm tra- đánh giá
và được dùng chung thành cặp đối lập với thuật ngữ ‘summative assessment’ để chỉ hai chức năng cơ bản của KTĐG như sau:
- Đánh giá kết thúc (Summative Assessment - SA) thực hiện chức năng đánh giá
để phục vụ quản lý
Mục tiêu chính của SA là xác định mức độ đạt thành tích của HS (và thông qua đó
là của GV cũng như nhà trường) sau thời gian học tập, nhưng không quan tâm đến việc thành tích đó đã đạt được ra sao Do thành tích của mỗi HS được xác định trong mối tương quan với những HS khác trong cùng nhóm đối tượng, nên kết quả của cách đánh giá này luôn là một điểm số để có thể dễ dàng so sánh và tổng kết khi cần thiết
- Đánh giá quá trình (Formative Assessment - FA), ngược lại, thực hiện chức năng đánh giá để phục vụ quá trình dạy học Với mục đích lấy thông tin phản hồi cho HS
và GV, mối quan tâm của FA là hiệu quả của hoạt động giảng dạy trong việc phát triển khả năng của người học mà chứ không phải là việc chứng minh HS đã đạt được một mức thành tích nào đó Với chức năng này, FA bao gồm bất kỳ dạng hoạt động nào có khả năng giúp GV và HS đánh giá được hiệu quả của các hoạt động giảng dạy cũng như kết quả tiếp thu của các em, nhằm chỉ ra những bước tiếp theo
Trang 27cần thực hiện để phát triển năng lực của HS theo mục tiêu đã đề ra Nói cách khác,
FA không chú trọng xác định thành tích của HS mà chú trọng giúp HS và GV hiểu được những điểm mạnh, điểm yếu và những lỗ hổng kiến thức của từng em để có kế hoạch kịp thời phát huy hoặc khắc phục chúng
b Đánh giá thực tiễn (Authentic Assessment): Đây là một trong những thuật ngữ mới xuất hiện trong cuộc cách mạng về KTĐG trong vài thập niên vừa qua, và được dùng trong mối quan hệ đối lập với thuật ngữ ‘đánh giá truyền thống’ vốn được dùng để chỉ các hình thức KTĐG trên giấy vốn đã rất quen thuộc đối với mọi nền giáo dục trên thế giới là bài tự luận (essay), câu hỏi trả lời ngắn (short answer question), hoặc các dạng câu hỏi TNKQ (objective test question), Một cách ngắn gọn, ‘đánh giá thực tiễn’ bao gồm mọi hình thức và phương pháp KTĐG được thực hiện với mục đích kiểm tra các năng lực cần có trong cuộc sống hàng ngày và được thực hiện trong bối cảnh thực tế Từ ‘thực tiễn’ trong thuật ngữ này nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ của cách đánh giá này với những yêu cầu của cuộc sống thực
c Đánh giá sáng tạo: có những điểm khác biệt so với cách những cách đánh giá truyền thống chỉ sử dụng các bài kiểm tra chính thức Cách đánh giá này cung cấp nhiều mẫu đại diện về việc học của HS để nâng cao tối đa hình ảnh và tiếng nói của
HS thông qua những hoạt động và thành tích đa dạng của chúng Đánh giá sáng tạo thường được sử dụng nhằm tạo động cơ cho HS giúp chúng có trách nhiệm hơn đối với việc học của chính mình, làm cho KTĐG trở thành một bộ phận thường trực của kinh nghiệm học tập, và gắn chặt nó trong những hoạt động thực tiễn cho phép nhận dạng và kích thích khả năng sáng tạo và ứng dụng rộng rãi kiến thức của HS, hơn là chỉ đòi hỏi HS đơn thuần ghi nhớ kiến thức hoặc phát triển kỹ năng cơ bản
1.1.7.2 Về tính chất , có hai loại KTĐG:
- KTĐG đối chiếu hay theo chuẩn tương đối (Norm Referenced Assessment) Đây
là loại kiểm tra đánh giá có tính chất tương đối, chủ yếu là so sánh kết quả học tập giữa các ngưòi học với nhau Loại này phù hợp với việc thi tuyển, lựa chọn một số lượng nhất định những người tốt nhất trong số người học dự thi
Trang 28- KTĐG theo tiêu chí (Criterion Referenced Assessment) Đây là loại kiểm tra đánh giá có tính chất tuyệt đối, đánh giá kết quả học tập của từng người học đạt được thực tế so với các tiêu chí đã đề ra Dù người học chỉ không đạt được một tiêu chí nào đó thôi thì người học vẫn phải học lại bài đó, MĐ đó để thi, kiểm tra lại
1.1.8 Các phương pháp kiểm tra - đánh giá thường hay sử dụng
Hiện nay, để tiến hành KTĐG kết quả người học có rất nhiều phương pháp nhưng thông dụng nhất vẫn là ba phương pháp là: phương pháp kiểm tra viết, phương pháp quan sát và phương pháp vấn đáp Ngoài ra, các hình thức tự đánh giá cũng như đánh giá giữa người học này với người học khác cũng hết sức quan trọng Hình 1.3
mô tả các phương pháp KTĐG thường được sử dụng trong dạy học
Cung cấp thông tin Tiểu luận
Nhiều lựa chọn Đúng sai
Trả lời ngắn Điền khuyết
Ghép đôi
Trang 291.1.8.1 Phương pháp quan sát
Thông qua việc quan sát GV có thể kiểm tra các hành động, lời nói, thái độ… của
HS, SV và ghi chép để lấy số liệu đánh giá Phương pháp quan sát bao gồm các dạng sau:
- Quan sát thường xuyên: GV quan sát, theo dõi quá trình học tập, hoạt động của HS/SV trong một giai đoạn nhất định Mọi thông tin được ghi vào nhật ký hoặc phiếu (bảng) kê để lấy tư liệu đánh giá
- Quan sát sự trình diễn của HS, SV: GV quan sát, theo dõi HS/SV trình diễn về một chủ đề nhất định trong khoảng thời gian ngắn nhất định Các thông tin có thể ghi vào bảng kê hoặc được GV ghi nhớ và sử lý ngay trong quá trình quan sát Sau
đó, GV tổng hợp các thông tin và đưa ra quyết định để đánh giá
Phương pháp quan sát giúp giáo viên không những kiểm tra kiến thức mà còn xác định các kỹ năng thực hành, một số kỹ năng về nhận thức và thái độ của học sinh Đặc biệt là kỹ năng vận dụng trong hiện thực và giải quyết vấn đề thực tế với sự hỗ trợ của công cụ và số liệu cụ thể
Với ưu điểm của phương pháp KTĐG này đó là tính khách quan cao vì tự thân người học phải giải quyết ngay vấn đề được yêu cầu và kết quả có thể được đánh giá khách quan Tuy nhiên phương pháp này cần tốn nhiều thời gian và phải có đủ thiết bị, phương tiện và cơ sở thực tập
Để phương pháp này đạt hiệu quả cao cần phải:
+ Hoàn tất kiến thức lý thuyết trước khi vào thực hành
+ Sửa soạn chu đáo phương tiện thiết bị trước tránh thời gian chết do khâu
chuẩn bị kém
1.1.8.2 Phương pháp vấn đáp
Trong việc kiểm tra vấn đáp, HS/SV trả lời câu hỏi của GV theo phương pháp kiểm tra miệng Thông qua quá trình hỏi đáp, GV có thể đánh giá khả năng ghi nhớ, lập luận, diễn đạt, trình độ tư duy của HS/SV
Phương pháp vấn đáp sẽ KTĐG được một số mặt về người học như :
+ Kiến thức mà HS thu nhận được trong quá trình học tập
Trang 30+ Thái độ học tập của HS
+ Sự nhạy bén nắm bắt vấn đề của HS
+ Khả năng ứng đối của sinh viên trong mức độ kiến thức nhận được
Với ưu điểm là:
+ Trực tiếp đối thoại với SV
+ Tính khách quan tương đối cao nếu có nhiều thầy hỏi
+ Ðặt được nhiều câu hỏi để lượng giá nhiều mặt như mức độ suy luận, khả năng ứng đối, có nhanh trí hay không
Phương pháp này có hạn chế là mỗi lần chỉ kiểm tra được một HS/SV nên khó áp dụng với các lớp nhiều HS/SV; ít thời gian cho sinh viên suy nghĩ; mất thời gian nếu tính chủ động và sự tích cực trong học tập của học sinh kém
Chính vì vậy, để phương pháp này đạt hiệu quả cao thì cần phải lưu ý một số vần đề:
+ Ðặt vấn đề cần chính xác và cách giải quyết phải khách quan, không nên áp đặt ý kiến chủ quan của người hỏi
+ Có thời gian cho người trả lời suy nghĩ
+ Nên cho càng nhiều thầy hỏi càng tốt
1.1.8.3 Phương pháp kiểm tra viết
HS/SV thể hiện trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trên bài viết theo những vấn
đề do GV đưa ra Thực hiện bài làm trên dưới sự giám sát của GV trong khoảng thời gian nhất định hoặc làm ở nhà với khoảng thời gian nhất định
Với phương pháp này, GV sẽ biết được:
+ Kiến thức của người học thu nhận được
+ Sự chuyên cần của người học
+ Khả năng phân tích - tổng hợp và lập luận của HS
Phương pháp này có rất nhiều hình thức từ tự luận, trắc nghiệm tự luận đến trắc nghiệm khách quan Thực tế hiện nay, thi viết tự luận vẫn là hình thức chủ yếu Hình thức TNKQ với rất nhiêu ưu điểm, khắc phục được hạn chế của các phương
Trang 31pháp khác nên nó cũng đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi Một số ưu điểm của phương pháp kiểm tra viết:
+ Kiểm tra được trình độ, sự lĩnh hội kiến thức được cung cấp của HS
+ Kiểm tra được khả năng diễn đạt, trình bày nội dung, lập luận giải quyết vấn
đề của HS
Hạn chế của phương pháp này đó là:
+ Tính khách quan không cao, vì phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt, cách giải bài và cách hành văn của HS
+ Tính vô tư và sáng suốt của GV chấm bài không đảm bảo
+ Mất nhiều thời gian chấm bài
+ Thường chỉ kiểm tra được sự lĩnh hội kiến thức của người học
Để phương pháp này vận dụng đạt kết quả cao cần phải lưu ý những vấn đề sau: + Ðặt vấn đề cần chính xác và cách giải quyết phải khách quan
+ Phải phù hợp mục tiêu đã đề ra
+ Vấn đề cần giải quyết vừa có tính phân tích và tổng hợp
+ Ðề bài yêu cầu người trả lời phải suy luận
+ Ðặt câu hỏi có kiểm tra sự tự học của người học
+ Ðặt câu hỏi có kiểm tra có liên quan đến chi tiết giảng dạy trong lớp học mà không có trong giáo trình để kiểm tra sự có mặt của người học trong giờ giảng
1.2 Thiết kế bài kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
1.2.1 Các nguyên tắc và căn cứ để thiết kế câu hỏi và bài kiểm tra
Để thiết kế câu hỏi và bài KTĐG, cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
+) Việc lựa chọn kiểu, loại dạng bài kiểm tra và độ khó của cầu hỏi, bài kiểm tra phụ thuộc vào mục đích kiểm tra, mục tiêu học tập (mục tiêu thực hiện) của từng bài học, phần học; vào quỹ thời gian để đánh giá; vào tính chất, đặc điểm nội dung học tập; vào trình độ và năng lực của chính GV và HS Theo B.S Bloom người Mỹ, mục tiêu dạy học được phân thành ba lĩnh vực: Nhận thức, cảm xúc và vận động - tâm lý
Trang 32Khả năng nhận thức của HS, SV được B Bloom quy thành 6 mức:
Mức 1 Biết:
Khả năng ghi nhớ và nhắc lại những gì đã ghi nhớ được, mức này bao gồm:
- Biết những dữ kiện: Hệ thống thuật ngữ, sự kiện
- Biết phương tiện sử dụng những dữ liệu, quy ước, chuỗi các thao tác, xếp loại, nhận dạng, lựa chọn……
Mức 2 Thông hiểu:
Ở mức này có chú trọng hơn đến các hoạt động trí tuệ Cụ thể:
- Giải thích trình bày vấn đề bằng cách khác, ngôn ngữ khác
- Diễn đạt: Cấu trúc lại tài liệu bằng vật liệu khác, theo một quan điểm mới, cách diễn đạt mới, xác định được nguyên nhân, lấy ví dụ minh hoạ
- Ngoại suy: Suy luận từ dạng này sang dạng khác
- Hoàn thành một công việc mới
- Xây dựng một kế hoạch hành động
- Rút ra các mối tương quan trừu tượng
Mức 6: Đánh giá
Khả năng phê phán, đánh giá, lập luận thuận và nghịch, khả năng phê bình trên
cơ sở dựa vào những tiêu chí bên trong và bên ngoài
Trang 33+) Thiết kế bài kiểm tra để đánh giá xác định (đo) mức độ đạt được của người học
về kiến thức, kỹ năng và thái độ có thể theo thang phân loại trong bảng dưới đây:
1 Biết Nhắc lại các sự kiện,
khái niệm, tri thức
-Có thể nhắc lại một định luật, nói lại, mô tả các thuộc tính, tính chất của một sự vật, hiện tượng
2 Hiểu Nắm được bản chất;
đặc tính; nguyên lý, quy luật
- Có thể so sánh, đối chiếu, thực hiện các tính toán theo công thức
3.Vận dụng thể hiện khả năng sử
dụng hiểu biết, tri thức vào các tình huống cụ thể
- Tính toán theo công thức
- Phân tích mạch, phân tích các đặc tính của một loại vật liệu
- Hệ thống hoá và phân loại vật liệu
5 Đánh giá Vận dụng tri thức vào
thực tế một cách sâu sắc, làm chủ tri thức
- Đánh giá chất lượng vật liệu, sản phẩm
- Đánh giá tính hợp lý của các hoạt động, quy trình
6.Sáng tạo Phát triển hệ thống tri
thức trong các điều kiện và hoàn cảnh mới Bảng 1.1 Các mức độ nắm vững kiến thức [3]
Trang 34Trình độ Đặc trưng Khả năng thực hiện Ghi
- Thụ động, kém tự tin 2.Làm được
(kỹ năng
cơ bản
bước đầu)
Quan sát và có khả năng thực hiện công việc độc lập như chậm., cần có sự hỗ trợ
- Tự chủ, tự tin khi thao tác, thực hiện các kỹ năng
- Thực hiện được các kỹ năng cơ bản, không phức tạp
- Chưa tạo được mói liên hệ, phối hợp giữa các kỹ năng
3 Làm chính xác
(kỹ năng thực
hiện độc lập)
Quan sát và có khả năng thực hiện công việc độc lập chính xác
- Thao, động tác chuẩn mực, chính xác
- Tạo được sự liên tục khi thực hiện công việc
4.Làm biến hoá
(kỹ xảo tổng hợp)
Quan sát và có khả năng thực hiện công việc độc lập nhanh và chính xác
- Bảo đảm tốc độ làm việc
- Thao tác và động tác chuẩn mực
- Xử lý linh hoạt tìmh huống -Kết hợp nhiều loại kỹ năng 5.Làm thuần thục
tự động hoá
(kỹ xảo bậc cao)
- Thực hiện công việc không cần
sự kiểm soát thường xuyên của ý thức ( tự động hoá )
- Mang tính sáng tạo Bảng 1.2 Các mức độ hình thành kỹ năng [3]
Trang 351.2.2 Các loại kiểm tra đánh giá theo mục tiêu học tập
1.2.2.1 Kiểm tra đánh giá kiến thức
Mục đích KTĐG kiến thức là xác định xem HS đã biết gì, ở mức độ nào trong các nội dung đã học Tuỳ theo mục tiêu học tập mà có những mức độ yêu cầu khác nhau
từ đơn giản nhất là tái hiện được (kể được, mô tả được, trình bày được), đến áp dụng được, so sánh, phân tích, giải thích…Trong thực tế nghiên cứu xã hội nói chung và nghiên cứu giáo dục nói riêng còn có nhiều nội dung cần đo lường và đánh giá như đo lường, đánh giá năng lực trí tuệ, trí thông minh (IQ )…
1.2.2.2 Kiểm tra đánh giá kỹ năng
Mục đích KTĐG kỹ năng là xác định xem người học đã làm được gì ở mức độ nào trong các nội dung đã học Mức độ yêu cầu người học làm được cũng từ đơn giản nhất là bắt chước được đến làm đúng, chuẩn xác rồi đến làm nhanh và thành thạo, tự động hoá (kỹ xảo)
1.2.2.3 Kiểm tra đánh giá thái độ
KTĐG thái độ nhằn xem xét ngưòi học có cách ứng xử, cách biểu lộ tình cảm, hứng thú, cách bộc lộ những phẩm chất nhân cách như thế nào trước một sự kiện, hiện tượng, trước công việc, trước đồng nghiệp KTĐG thái độ là khó nhất vì điều
mà GV biết được chỉ là “phần nổi của tảng băng” Còn “giá trị thực” của người học thì được xác định một cách chính xác không thể qua vài lần KTĐG mà phải qua cả quá trình tương đối lâu dài Vì vậy, giáo viên cần kết hợp giữa việc theo dõi, giám sát thường xuyên với kết quả của những đợt KTĐG định kỳ hay cuối khoá
1.2.3 Phân tích mục tiêu dạy hoc và xây dựng bảng trọng số
Trên cơ sở xãc định rõ các mục tiêu dạy học (chương, mục, bài) cần phân tích mục tiêu dạy - học (kiến thức, kỹ năng, thái độ) Hệ thống tri thức bao gồm các thành tố cơ bản sau:
- Tri lý: các tri thức lý thuyết (khái niệm, nguyên lý, định luật)
- Tri sự: các hiểu biết về sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội
Trang 36- Tri hành: Các tri thức hướng dẫn hành động như quy trình, hướng dẫn Kiến thức ở trong đầu, có hiểu biết chỉ có giá trị khi được hành động Quy trình chính là sự thể hiện, chỉ dẫn trong hành động
- Tri nhân: Hiểu biết về con ngưòi, quan hệ xã hội, hệ thống giá trị
Tri lý Tri sự
Tri hành Tri nhân
Hình 1 4 Cơ cấu các thành tố tri thức [4]
Hệ thống các kỹ năng bao gồm:
- Các kỹ năng tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, dự đoán…
- Các kỹ năng tổ chức quản lý: lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, phối hợp, KTĐG
- Các kỹ năng giao tiếp: sử dụng ngôn ngữ, tiếp xúc, hướng dẫn, trình bày…
- Các kỹ năng thông tin: thu thập, lựa chọn, xử lý thông tin…
- Các kỹ năng thực hành & tác nghiệp: thiết kế, vận hành, sửa chữa…
- Các kỹ năng hành chính
Các kỹ năng trên được hình thành và phát triển thông qua quá trình đào tạo và hành nghề thực tế Trong quá trình đào tạo, học tập là một quá trình nhận thức và hành động của người học nhằm thu nhận kiến thức mới, hình thành và phát triển các
kỹ năng trí tuệ và hành động trong một lĩnh vực cụ thể góp phần hình thành và phát triển nhân cách, tạo ra thái độ và giá trị đúng đắn trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp của mỗi cá nhân trong xã hội Khi vận dụng thang đo B Bloom cần xây dựng bảng trọng số (ma trận hai chiều) để xác định và cân đối các mức độ đo đối
CƠ CẤU CÁC THÀNH TỐ TRI THỨC
Trang 37với từng mục (chủ đề, bài giảng) trong nội dung dạy học và phù hợp với mục tiêu
- Vai trò, vị trí và tầm quan trọng của chủ đề /chương
- Kế hoạch, thời lượng dành cho giảng dạy và học tập từng chủ đề
- Mục tiêu dạy học của từng chủ đề
- Tính chất , nội dung dạy học
1.2.4 Qui trình thiết kế bài kiểm tra
Để đảm bảo bài kiểm tra đảm bảo được đầy đủ các yêu cầu của việc KTĐG kết quả học tập của học sinh, thì quá trình xây dựng các câu hỏi cần đảm bảo theo quy trình như lưu đồ 1.5 dưới đây
Trang 38Hình 1.5 Lưu đồ quy trình thiết kế bài kiểm tra [3]
Căn cứ vào quy trình trên, khi xây dựng một kiểm tra đánh giá, việc đầu tiên GV phải xác định được đối tượng, mục đích, yêu cầu cũng như mức độ KTĐG Trên cơ
sở đó, căn cứ vào nội dung chương trình, GV lập bảng trọng số với các mức độ kiến thức cho từng mục, từng bài hay từng chương trong môn học Trên cơ sở bảng trọng
số, GV sẽ xác định được bài kiểm tra gồm mấy câu, ở những phần nào, và phân bổ được thang điểm cũng như của bài thi Sau khi thiết kế xong một bài KTĐG, GV phải chỉnh sửa để bài KTĐG được hoàn thiện, không mắc sai sót gì trước khi đem vào áp dụng
- Thiết kế cấu trúc và nội dung bài kiểm tra
- Xác định và phân bổ thang điểm đánh giá, thời gian kiểm tra
Lập bảng trọng số
Xác định đối tượng, mục đích, yêu cầu và
mức độ kiểm tra - đánh giá
Chỉnh sửa, phản biện, hoàn thiện
Sử dụng trong thực tế kiểm tra - đánh giá
Trang 391.3 Kiểm tra - đánh giá trong dạy nghề
1.3.1 Khái niệm và thuật ngữ
Có rất nhiều định nghĩa về nghề được đưa ra song chưa có sự thống nhất Một vài định nghĩa được nhiều người sử dụng như:
- Nghề: công việc chuyên môn làm theo sự phân công của lao động xã hội
- Nghề (occupation) là một phạm vi các công việc bao gồm hai hoặc nhiều hơn các việc làm có liên quan hoặc có trình độ
- Nghề: Những chuỗi nhiệm vụ và trách nhiệm liên quan đến những hoạt động được thực hiện do một cá nhân để hoàn thành mục tiêu và/hay nhằm thù lao tài chính (Carter V.Good: Dictionary of Education, 1974)
- Nghề là tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi
do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội [4]
Luật giáo dục 2005 quy định hệ thống giáo dục nghề nghiệp gồm có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học Dạy nghề có ba cấp: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề
Phân tích nghề là quá trình xác định nội dung các hoạt động của người lao động trong quá trình hành nghề thực tế tại các vị trí lao động đặc trưng và điển hình của nghề Kết quả phân tích nghề có thể được dụng vào nhiều mục đích khác nhau như phát triển chương trình đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng, xác định các định mức lao động… Như vậy, để thực hiện tốt công tác KTĐG kỹ năng của một nghề nào đó, trước hết cần phải căn cứ vào việc xác định nghề đó là nghề gì? Yêu cầu kỹ năng ra sao?…, từ đó lựa chọn cách thức KTĐG cho phù hợp
Trang 40Hình 1.6 Hệ thống giáo dục và nghề nghiệp Việt Nam [22]
1.3.2 Kiểm tra- đánh giá trong dạy nghề
KTĐG trong giáo dục có một vị trí vô cùng quan trọng trong giáo dục, nhưng không có phương pháp KTĐG nào là vạn năng có thể thay thế hoàn toàn tất cả các phương pháp còn lại Chúng phải hỗ trợ cho nhau Mỗi phương pháp kiểm tra cần
có phương pháp giảng dạy tương ứng và thích hợp mới đạt kết quả cao, khắc phục
được nhược điểm tồn tại trong nó KTĐG trong dạy nghề phải đảm bảo làm sao
đánh giá được chính xác năng lực nghề nghiệp của học viên Chính vì vậy, việc tổ chức hoạt động đào tạo cũng nên được tổ chức theo phương pháp đào tạo theo NLTH Đào tạo theo NLTH dựa chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định cho một nghề và đào tạo theo các tiêu chuẩn đó chứ không dựa vào thời gian Đánh giá