1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phân loại và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện tỉnh phú thọ

89 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trình bày tổng quan về quản lý chất thải y tế. Cơ sở khoa học về phân loại và xử lý chất thải rắn y tế. Đánh giá hiện trạng phân loại và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ. Đề xuất các giải pháp trong việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn cho Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN VIỆT HÀ

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Phú Th ọ, năm 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN VIỆT HÀ

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Qu ản lý môi trường

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Phú Th ọ, năm 2013

Gi ảng viên hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Thị Ánh Tuyết

Học viên thực hiện : Nguyễn Việt Hà

Lớp : 11AQLMT – VT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các Thầy giáo, Cô giáo, các bộ môn, các Phòng, Khoa của Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa học

Để hoàn thành Luận văn này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

PGS.TS Nguyễn Thị Ánh Tuyết – cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới:

Lãnh đạo Sở Tài Nguyên và Môi trường, Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi trường, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong toàn bộ khóa học

Ban Giám đốc, các Phòng, Khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên môi trường và công trình đô thị Phú Thọ đã giúp

đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, anh, chị, em, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khoá học

Phú Thọ, tháng 03 năm 2013

TÁC GIẢ

Ng uyễn Việt Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu của luận văn

Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Hà

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 7

CÁC TỪ VIẾT TẮT 8

GIỚI THIỆU CHUNG 9

1. TÍNHCẦNTHIẾTCỦAĐỀTÀI 9

2. MỤCTIÊUCỦAĐỀTÀI 10

3. NỘIDUNGĐỀTÀI 10

4. PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 10

5.ÝNGHĨATHỰCTIỄN 11

6.GIỚIHẠNNGHIÊNCỨUCỦAĐỀTÀI 11

CHƯƠNG 1 12

TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ 12

1.1.CHẤTTHẢIRẮNYTẾVÀNGUỒNPHÁTSINH 12

1.1.1.Một số khái niệm 12

1.1.2.Nguồn phát sinh 12

1.2.TỶLỆPHÁTSINHVÀTÁCHẠICỦACHẤTTHẢIRẮNYTẾTỚIMÔI TRƯỜNGVÀSỨCKHOẺCỘNGĐỒNG 13

1.2.1 Tỷ lệ chất thải rắn y tế phát sinh 13

1.2.2 Tác hại của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng 15

1.3.TÌNHHÌNHQUẢNLÝCHẤTTHẢIYTẾỞMỘTSỐNƯỚCTRÊNTHẾ GIỚI 17

1.3.1.Quản lý chất thải y tế tại Vương quốc Anh 17

1.3.2 Quản lý chất thải y tế tại Hồng Kông 19

1.3.3 Quản lý chất thải y tế tại Srilanka 20

1.4.HIỆNTRẠNGQUẢNLÝCHẤTTHẢIRẮNTẠICÁCBỆNHVIỆNỞVIỆT NAM 23

1.4.1 Tình hình chung 23

1.4.2 Phân loại, thu gom chất thải bệnh viện 24

1.4.3 Lưu trữ, vận chuyển chất thải y tế tới nơi tiêu huỷ 25

1.4.4 Nguồn lực cho công tác quản lý chất thải 26

CHƯƠNG 2 28

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÂN LOẠI VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 28

Trang 6

KHỐILƯỢNGCHẤTTHẢIRẮNYTẾ 28

2.1.1 Thành phần của chất thải rắn y tế 28

2.1.2.Phương pháp xác định khối lượng chất thải rắn y tế 29

2.2.PHÂNLOẠICHẤTTHẢIYTẾ 31

2.3.CÔNGNGHỆXỬLÝVÀTIÊUHUỶCHẤTTHẢIRẮNYTẾ 33

2.3.1 Công nghệ khử khuẩn 33

2.3.1.1 Công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm(Autolave): 34

2.3.1.2 Công nghệ sử dụng vi sóng 35

2.3.1.3 Khử khuẩn bằng dung dịch điện giải 36

2.3.1.4 Khử khuẩn bằng các dung dịch Javen,cloramin B 1-2% 36

2.3.2 Công nghệ đốt 37

2.3.3 Phương pháp tro hoá ( cố định và đông rắn) 39

2.3.4 Phương pháp chôn lấp an toàn 39

CHƯƠNG 3 41

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÂN LOẠI VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ 41

3.1.HIỆNTRẠNGQUẢNLÝCHẤTTHẢIRẮNCỦATỈNHPHÚTHỌ 41

3.1.1 Vài nét về ngành y tế của tỉnh 41

3.1.2 Thống kê về lượng chất thải y tế của tỉnh Phú Thọ 42

3.1.3 Tỷ lệ thu gom và phân loại 43

3.1.4 Xử lý và thải bỏ 43

3.1.5 Một số tồn tại trong công tác quản lý và xử lý CTYT tại tỉnh Phú Thọ 44

3.2.PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ 45

3.2.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 45

3.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 45

3.2.3 Phương pháp nghiên cứu 46

3.2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin tài liệu: kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có sẵn, thu thập phân tích qua báo cáo, đề tài nghiên cứu, các báo cáo đánh giá tác động môi trường 46

3.2.3.2 Phương pháp quan sát thực tế 46

Trang 7

3.2.3.3 Thiết kế câu hỏi, tiến hành điều tra hiện trạng quản lý Chất thải rắn y tế

tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh 46

3.2.3.4 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu 47

3.2.3.5 Kỹ thuật thu thập số liệu 47

3.2.3.6 Khống chế sai số trong nghiên cứu 48

3.2.4 Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế 48

3.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn của bệnh viên tỉnh Phú Thọ 48

3.3.1 Cơ cấu tổ chức và hoạt động chuyên môn 48

3.3.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện 52

3.3.3 Thực trạng phát sinh và phân loại chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 54

3.3.3.1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 54

3.3.3.2 Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 56

3.3.3.3 Thực trạng vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 57

3.3.3.4 Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 61

3.3.4 Một số yếu tố khác liên quan đến quản lý chất thải y tế 63

3.3.4.1 Hệ thống mô hình quản lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 64

3.3.4.2 Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 64

3.3.4.3 Thực trạng nhà lưu giữ chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 66

3.5.NHẬNXÉTTÌNHHÌNHPHÂNLOẠI 68

3.6 Đánh giá tổng thể công tác quản lý chất thải rắn ở các bệnh viện trên địa bàn tỉnh 69

CHƯƠNG 4 71

ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP TRONG VIỆC THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CHO BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ 71

Trang 8

4.1.PHÂNLOẠI,THUGOMVÀVẬNCHUYỂN 72

4.1.1 Tách - phân loại 72

4.1.2 Thu gom tại khoa phòng 74

4.1.3 Lưu chứa 74

4.2.CÁCBIỆNPHÁPVỀQUẢNLÝMÔITRƯỜNG 77

4.2.1 Các biện pháp về cơ chế quản lý, tổ chức quản lý môi trường bệnh viện 78

4.2.2 Các biện pháp về áp dụng hệ thống bảo vệ môi trường bệnh viện 78

4.3.CÁCGIẢIPHÁPNGĂNNGỪAÔNHIỄM 79

4.3.1 Quản lý nội vi 79

4.3.2 Một số biện pháp khả thi khác 79

4.3.3 Tổ chức các chương trình tuyên truyền nội bộ và đối với khu vực dân cư xung quanh bệnh viện về bảo vệ môi trường theo các hình thức 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Nguồn phát sinh chất thải rắn từ các hoạt động của bệnh viện [40] 13

Bảng 1.2: Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện [2] 14

Bảng 1.3: Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau 14

Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện [2] 14

Bảng 1.5: Phân loại nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế 15

Bảng 2.1: Thành phần rác thải rắn y tế trung bình tại Việt Nam [15] 29

Bảng 2.2: Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế tại các bệnh viện đa khoa ở Việt Nam [39] 31

Bảng 2.3: Các nhóm CTYT chia theo đặc tính và tính chất nguy hại [16] 32

Bảng 2.4: Các chất thải có thể và không nên đốt 37

Bảng 3.1 Tổng lượng chất thải rắn y tế và chất thải rắn y tế nguy hại [29] 42

Bảng 3.2 Tổng hợp tình hình xử lý chất thải rắn tại các bệnh viện, trung tâm 43

Bảng 3.3: Số lượng, cơ cấu giường bệnh [5] 50

Bảng 3.4: Số lượng khám chữa bệnh tối đa trong ngày [5] 52

Bảng 3.4 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện 54

Bảng 3.5 Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế 56

Bảng 3.6 Thực trạng vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế 57

Bảng 3.7 Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế 61

Bảng 3.8: Bảng quan trắc và phân tích khí thải bệnh viện tháng 11/2012 63

Bảng 3.9 Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn 65

Bảng 3.10 Thực trạng nhà lưu giữ chất thải rắn y tế 66

Bảng 4.1: Dự tính lượng chất thải y tế phát sinh tại tỉnh Phú Thọ đến năm 2015 [5] 71

Bảng 4.2: Yêu cầu màu sắc, đánh dấu nhãn thùng và túi đựng chất thải y tế [16] 73

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH Sơ đồ 2.1: Sơ đồ lò đốt chất thải y tế nguy hại 38

Sơ đồ 3.1 Quan hệ chức năng giữa các khối 51

Sơ đồ 3.2 Nguồn phát sinh rác thải y tế 53

Hình 3.1: Sơ đồ công nghệ lò đốt rác y tế 62

Hình 3.2 Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện 64

Trang 10

HBV : Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B)

HCV : Hepatitis C virus (Vi rút viêm gan C)

HIV : Human Immunodeficiency Virus (Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở

người)

PX : Phóng xạ

TB : Trung bình

TCCP : Tiêu chuẩn cho phép

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

UBND : Ủy ban nhân dân

URENCO : Urban Environment Company (Công ty môi trường đô thị)

WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 11

GIỚI THIỆU CHUNG

1 Tính cần thiết của đề tài

Tại tỉnh Phú Thọ hiện nay ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực với mức độ khác nhau trong đó có y tế Có thể nói ô nhiễm trong ngành y tế đang diễn

ra khá trầm trọng mà điểm nóng là ở các bệnh viện Mạng lưới y tế ngày càng phát triển đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân bên cạnh đó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đặt biệt là trong vấn đề quản lý rác thải y tế

Rác thải y tế bao gồm chất thải nguy hại như: kim tiêm, găng tay, cao su, bông, băng thấm dịch hoặc máu, các loại thuốc quá hạn, bệnh phẩm và rác thải phóng xạ Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp nhưng chất thải rắn y tế và bệnh phẩm lại có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và lây truyền dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân nếu không được xử lý đúng mức

Do chất thải bệnh viện ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ cộng đồng nên công tác thu gom và xử lý phải triệt để Nhưng, hiện nay khâu quản lý rác thải của các cơ sở y tế còn hết sức lỏng lẻo Hầu hết rác thải y tế, các bệnh phẩm chưa được phân loại theo đúng chuẩn loại, chưa được khử khuẩn trước khi thải bỏ, không có nhà lưu chứa hoặc

có nhưng không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng

Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ là bệnh viện lớn nhất của tỉnh với quy mô 700 giường bệnh kế hoạch và 1.000 giường bệnh thực kê và hơn một nghìn cán bộ công nhân viên đã và đang đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân

Trên cơ sở các số liệu điều tra thực tế lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, hiện trạng phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn y tế để đánh giá tải lượng và hiệu quả quản lý và xử lý đối với chất thải y tế phát sinh Từ đó tạo cơ sở cho việc đề xuất giải pháp cải thiện trong quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện được hiệu quả hơn góp phần giảm thiểu tới mức thấp nhất tác động của nó đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi được giao thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện

trạng và đề xuất giải pháp thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ”

Trang 12

2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài tập trung vào 2 mục tiêu chính:

− Đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ

− Đề xuất các biện pháp để thu gom và xử lý chất thải rắn bệnh viện phù hợp với điều kiện tỉnh

3 Nội dung đề tài

Để đạt được những mục tiêu trên, nội dung đề tài bao gồm:

− Mô tả thực trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ

− Xác định một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế

− Đề xuất một số biện pháp quản lý chất thải trên địa bàn tỉnh:

+ Phương án phân loại, thu gom, vận chuyển, tiêu huỷ chất thải

+ Phương án cải thiện hệ thống quản lý rác thải trên địa bàn tỉnh

+ Một số phương án khác

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập, kế thừa và tổng hợp các tài liệu liên quan đến bệnh viện trên địa bàn tỉnh (thu thập các tài liệu, kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có sẵn, thu thập phân tích qua các báo cáo,đề tài nghiên cứu, các báo cáo đánh giá tác động môi trường, số liệu quan trắc phân tích có liên quan đến nội dung đề tài từ bệnh viện,

Sở Y Tế, Sở Tài Nguyên và Môi Trường, Công ty Môi trường và dịch vụ đô thị, từ thầy cô, từ sách báo, thông tin trên mạng v.v Sau đó sẽ lựa chọn những thông tin cần

và giải quyết các vấn đề cần quan tâm)

- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia (của thầy cô, những người có liên quan, ý kiến đóng góp của một số nhân viên trong bệnh viện)

- Phương pháp so sánh

Trang 13

6 Giới hạn nghiên cứu của đề tài

Mạng lưới y tế của tỉnh bao gồm 15 bệnh viện huyện và hơn 200 phòng khám, tuy nhiên chỉ có 01 bệnh viện đa khoa là bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ Bệnh viện

đa khoa tỉnh Phú Thọ là bệnh viện trung tâm vùng của 6 tỉnh phía bắc với qui mô lớn

và trang thiết bị ngày càng hiện đại HIện nay bệnh viện là nơi khám chữa bệnh chủ yếu của nhân dân trong tỉnh và một số địa bàn lân cân Chính vì vậy nghiên cứu này

tập trung trình bày các kết quả khảo sát tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ

1.1 C hất thải rắn y tế và nguồn phát sinh

1.1.1 Một số khái niệm

Chất thải y tế (CTYT): Là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học

Theo qui chế về quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/ QĐ- BYT ngày 3/12/2007 của Bộ Y tế: Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí Chất thải y tế thường bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động đối với môi trường sức khoẻ giống như các chất thải thông thường khác

Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH): Là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan con người, động vật, bơm, kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế Do có các đặc tính và tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khoẻ mà các loại chất thải y tế nguy hại đòi hỏi phải được thu gom, phân lập và tiêu huỷ theo những qui trình đặc biệt và đảm bảo an toàn có áp dụng các công nghệ phức tạp và thường là tốn kém để tránh thoát thải ra môi trường bên ngoài Nếu những chất này không được huỷ sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khoẻ con người [16]

1.1.2.Nguồn phát sinh

Các loại chất thải rắn được tạo thành từ các hoạt động của bệnh viện bao gồm:

- Các chất thải rắn sinh hoạt

- Các cặn cống nạo vét từ hệ thống cống rãnh thoát nước

- Các phế thải trong quá trình phẫu thuật người (các bộ phận cơ thể và các tổ chức nội tạng)

- Các vật sắc nhọn và dễ gây có tiếp xúc với máu, mủ trong quá trình mổ xẻ, các chất lỏng sinh học hoặc giấy thấm đã được sử dụng trong y tế, nha khoa

- Các gạc bông băng có máu, mủ của bệnh nhân

- Các loại ống nghiệm nuôi cấy vi trùng trong các phòng xét nghiệm

- Cá chất thải trong quá trình thí nghiệm

- Cá loại thuốc quá hạn sử dụng

Trang 15

Bảng 1.1: Nguồn phát sinh chất thải rắn từ các hoạt động của bệnh viện [40]

Loại chất thải rắn Nguồn tạo thành

Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các loại bao

gói…

Chất thải chứa các vi trùng

bệnh viện

Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi

mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân…

Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các chất thải

1.2 Tỷ lệ phát sinh và tác hại của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khoẻ

c ộng đồng

1.2.1 T ỷ lệ chất thải rắn y tế phát sinh

Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế

Trang 16

Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng

Bảng 1.2: Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện [2]

Nguồn phát sinh Lượng chất thải theo từng bệnh viện

(kg/gb/ngày)

Bệnh viện đại học y dược 4,1 – 8,7

Bệnh viện tuyến huyện 0.5 – 1,8

Bảng 1.3: Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau

trong bệnh viện đa khoa [2]

Các bộ phận khác trong bệnh viện Lượng chất thải (kg/gb/ngày)

Bệnh phẩm chung toàn bệnh viện 0,2

Ở một số nước trên thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam là có bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải chất thải rắn y tế cũng dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ chất thải nguy hại

Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện [2]

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải y tế

Trang 17

1.2.2 Tác h ại của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng

Chất thải y tế là môi trường có khả năng chứa đựng các loại vi sinh vật gây bệnh, các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc tế bào, chất phóng xạ Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã chứng minh, các chất thải bệnh viện có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cán bộ, nhân viên y tế, cộng đồng dân cư nếu CTYT không được quản lý đúng cách Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các đường: Qua các vết da bị xây xước hoặc bị thương, qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa), tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường, hoặc tiếp xúc với các tác nhân trung gian như ruồi, muỗi, chuột Tất cả những người tiếp xúc với CTYT nguy hại đều là đối tượng có nguy cơ bị tác động bởi chất thải y tế, bao gồm: Cán bộ y tế và nhân viên vệ sinh bệnh viện; Những người thu gom phế liệu; Người bệnh, người nhà bệnh nhân; Người dân sống gần bệnh viện [14]

Các nguy cơ gây bệnh của CTYT là các bệnh về đường tiêu hoá do các vi khuẩn tả, lỵ, thương hàn, trứng giun; nhiễm khuẩn đường hô hấp do lao, do phế cầu khuẩn; tổn thương nghề nghiệp; nhiễm khuẩn da; bệnh than; AIDS; nhiễm khuẩn huyết; viêm gan A, B; thần kinh; gây độc, ăn mòn, cháy, nổ [14]

Bảng 1.5: Phân loại nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế

và phương thức lây truyền [4]

Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Dạng chất thải y tế

Nhiễm khuẩn tiêu hoá Nhóm enterobacteri: salmonella, shigella spp, vibrio cholerac, các loại giun sán Phân chất nôn hoặc Nhiễm khuẩn hô hấp Vk lao, virus sởi, streptococcus pneumoniac Các loại dịch tiết, đờm

mắt Nhiễm khuẩn sinh dục Neiserreria gonorrhoeac, virus herpes Dịch tiết sinh

dục

Bệnh than Bacillus antharacis

Chất tiết của

da (mồ hôi, chất nhờn) Viêm màng não Não mô cầu (neisseria meningitides) Dịch não tuỷ

tiết sinh dục

Trang 18

Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Dạng chất thải y tế

Sốt xuất huyết Các virus: junin, lassa, ebola, Marburg

Tất cả các sản phẩm máu và dịch tiết

Nhiễm khuẩn huyết do tụ

Nhiễm khuẩn huyết do

thể

* Trên thế giới: Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng

162 - 321 trường hợp nhiễm virus viêm gan B có phơi nhiễm với CTYT so với tổng số 300.000 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm Trong số những nhân viên tiếp xúc với chất thải bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp cao nhất Tỷ lệ tổn thương chung là 180/1000 người trong một năm, cao hơn hai lần

so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại [14]

Ở Nhật Bản, các nghiên cứu về chất thải y tế đã đưa ra các số liệu như sau:

+ Tháng 7 năm 1987 có 2 bác sĩ trẻ thực tập nội trú ở Khoa Nhi không may bị nhiễm virút từ các ống tiêm và đã bị chết bởi viêm gan B cấp tính Tại Nhật bản đã ghi nhận 570 trường hợp tương tự như vậy

+ Việc khảo sát của các nhà y tế cộng đồng năm 1986 cho thấy 67,3% những người thu gom rác trong các bệnh viện bị tổn thương do các vật sắc nhọn, 44,4% những người thu gom rác bên ngoài các bệnh viện bị tổn thương khi thu gom các chất thải bệnh viện

+ Shiro Shirato cũng đã nêu trong tài liệu khoa học của Nhật Bản, tổng số hơn

500 trường hợp bị lây nhiễm bệnh có liên quan tới chất thải bệnh viện, hơn

400 trường hợp bị tác hại sinh học từ các thuốc có độc tố tế bào

Những tai nạn nghiêm trọng bởi các chất thải bệnh viện bị nhiễm phóng xạ đã được ghi nhận bởi các cơ quan truyền thông quốc tế ở thành phố Brasilia năm 1989

Rác không được thu dọn kịp thời sẽ trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, chuột, gián, ô nhiễm môi trường không khí do phát sinh mùi hôi thối khó chịu Các trung gian

Trang 19

truyền bệnh này sẽ tạo ra một nguy cơ lan tràn bệnh dịch nhanh chóng từ các bệnh viện, từ CTYT không được xử lý đúng cách [34]

* Tại Việt Nam

- Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường:

Một số nghiên cứu đã cho thấy ô nhiễm môi trường chủ yếu là môi trường nước và không khí [23], [26],[33]

Kết quả nghiên cứu tại 8 bệnh viện cấp huyện tại 4 tỉnh năm 2006 cho thấy, 100% mẫu nước sinh hoạt tại các khoa không đạt tiêu chuẩn vi sinh vật, các chỉ số Coliform và Fecal coliform, BOD, COD đều cao so với tiêu chuẩn cho phép Các vi khuẩn có khả năng gây bệnh phân lập được từ nước sinh hoạt, nước thải, không khí và dụng cụ chuyên khoa tại các bệnh viện chủ yếu là vi khuẩn đường ruột

- Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khoẻ cộng đồng:

Các nghiên cứu ở Việt Nam đã có những đánh giá về tình hình thương tích của cán bộ nhân viên bệnh viện do các vật sắc nhọn gây ra qua phỏng vấn trực tiếp Một số nghiên cứu đã đề cập đến những ảnh hưởng của chất thải y tế đối với cộng đồng xung quanh bệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá thực trạng tác động của chất thải y tế đối với sức khoẻ ở những người tiếp xúc với chất thải y tế

1.3 Tình hình quản lý chất thải y tế ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới hiên nay có rất nhiều công nghệ xử lý và tiêu huỷ chất thải y tế khác nhau, từ các công nghệ còn lạc hậu đến những công nghệ tiên tiến, phát triển Sau đây tác giả xin trình bày tham khảo ba mô hình quản lý chất thải y tế tại ba quốc gia đại diện cho 3 nền kinh tế phát triển và sự quan tâm đến chất thải rắn y tế là khác nhau

1.3.1 Quản lý chất thải y tế tại Vương quốc Anh

Phân loại chất thải y tế

Định nghĩa chất thải y tế ở nước Anh dựa trên các quy định về rác thải có kiểm soát năm 2000 như sau:

Bất kỳ chất thải nào mà gồm toàn bộ hoặc một phần cơ thể người, mô động vật, máu hoặc các dịch cơ thể, chất bài tiết, biệt dược mà không an toàn có thể gây độc hại cho người khi tiếp xúc với nó

Các rác thải khác bắt nguồn từ y tế, chất thải mà gây ra truyền nhiễm cho người khi tiếp xúc với nó

Trang 20

Chất thải y tế nằm trong phạm vi định nghĩa này được chia thành 8 loại nhóm bao gồm: Mô người và chất truyền nhiễm; Các vật sắc nhọn; Mầm bệnh và các chất thải phòng thí nghiệm; Các chất thải biệt dược; Nước tiểu, phân và các sản phẩm vệ sinh; Các chất thải Cytotoxic; Các chất thải phóng xạ; Các biệt dược bị kiểm soát

Công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay

Tại Anh, các phân tách chất thải rắn y tế được thiết lập một cách hợp lý, điển hình trong các bệnh viện, phòng khám và các cơ sở y tế khác, các tổ chức y tế có quy định bắt buộc về pháp lý để quản lý chất thải Thiêu hủy tất cả chất thải y tế là hệ thống tiêu hủy phổ biến nhất, đôi khi kèm theo cả xử lý sơ bộ ban đầu cho các thành phành độc hại đặc biệt nhờ khử trùng tại bệnh viện Điển hình ở nước Anh các phương tiện thiêu hủy là Sector riêng và để đạt được tiết kiệm các hệ thống, được cấp cho từng khu vực Tuy nhiên, một số bệnh viện hiện đang hoạt động nhờ “Hospital trusts” cũng tiêu hủy chất thải rắn y tế bằng cách tự thiêu hủy hoặc họ kí hợp đồng với bên thứ 3 để thiêu hủy Trong thực tế, không phải tất cả rác thải được thiêu hủy Chôn lấp được sử dụng cho loại chất thải rắn y tế ít độc hại hơn (rác thải không gây bệnh truyền nhiễm) Lựa chọn phương pháp tiêu hủy cục bộ phải dựa trên điều kiện thực tế và khả năng tiêu hủy có sẵn Tuy vậy, cách thức tiêu hủy cục bộ hiện nay cũng ít được áp dụng Theo truyền thống, các lò đốt quy mô nhỏ được phép thực hiện các tiêu chuẩn môi trường thấp hơn, làm chúng có tính hiệu quả theo chi phí (vì chi phí làm sạch khí là 50-60%) Tuy nhiên, phương pháp này có vấn đề khi lượng khí thải nhỏ hơn, nhưng nồng độ cực đại tại mặt đất có thể cao hơn so với các lò đốt quy mô lớn, vì vậy mức độ rủi ro cho sức khỏe sinh ra từ lò đốt quy mô nhỏ và lò đốt quy mô lớn là như nhau Khi tiêu chuẩn giới hạn phát thải đối với các lò đốt quy mô nhỏ được thắt chặt hơn, thì nhiều lò đốt nhỏ tại các bệnh viện sẽ bị đóng cửa Khi đó bệnh viện phải ký hợp đồng thu gom và thiêu hủy với công ty dịch vụ

Chiến lược tiêu hủy chất thải

Tại Anh, chiến lược tối ưu cho tiêu hủy chất thải y tế là thiêu hủy ở nhiệt độ cao với thiết bị làm sạch khí thải hợp lý để thỏa mãn các tiêu chuẩn Châu Âu về kiểm soát chất phát thải Chiến lược này đã được áp dụng trong quá khứ và sẽ tiếp tục được áp dụng trong tương lai Khối lượng chất thải rắn y tế được chôn lấp sẽ giảm Trong khi

đó các biện pháp tiêu hủy thích hợp khác luôn luôn sẵn sàng đáp ứng đủ công suất theo yêu cầu Một phương pháp xử lý rác thải y tế là khử trùng bằng nhiệt đã được đề

Trang 21

xuất tại Anh và đã được cơ quan môi trường chấp thuận như là một giải pháp để giải quyết vấn đề này Bên cạnh đó biện pháp tiêu hủy “đồ sắc nhọn” tại nguồn (là tại các

bệnh viện và phòng khám tư) với chi phí thấp cũng được phát triển ở nước Anh

1.3.2 Quản lý chất thải y tế tại Hồng Kông

P hân loại chất thải y tế

Tại Hồng Kông phân loại chất thải y tế chia thành 7 nhóm bao gồm:

và tất cả các ống thuốc tiêm hoặc các bính chứa biệt dược Cytotoxic sau khi sử dụng

Nhóm 7 : Các chất thải biệt dược và chất thải hóa học

Công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay

Đầu tiên, năm 2000 các chất thải y tế được tiêu hủy nhờ kết hợp thiêu trong các

lò đốt nhỏ đặt trong các bệnh viện và tiêu hủy bằng cách chôn lấp Các lò đốt nhỏ không đạt được các tiêu chuẩn quốc tế về nnhiệt độ cao, thời gian lưu trữ dài và có thiết bị làm sạch khí thải Hơn nữa, các lò đốt nhỏ được lắp đặt tại các khu vực đông dân cư và gần các tòa nhà cao tầng Sự phát thải các chất độc hại từ các lò đốt chất thải

y tế vào khí quyển sẽ gây tác hại tới sức khỏe của người dân sống ở khu vực lân cận Trước sự gia tăng các vụ khiếu nại của công chúng và sự gia tăng số người hợp nhiễm bệnh Chính phủ Hồng Kông đã giao nhiệm vụ cho các nhà khoa học nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các giải pháp tiêu hủy chất thải y tế trong tương lai

Vào năm 2003, Tổ chức Y tế Hồng Kông (HKMA) đã giới thiệu hướng dẫn quản lý chất thải y tế nhằm đảm bảo cách thức phân loại thích hợp trong các bệnh viện

và cơ quan y tế và các hoạt động nha khoa Điều này càng được áp dụng hiệu quả hơn tại các bệnh viện, tại các cơ ở y tế nơi mà cán bộ có chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm, có trang thiết bị đầy đủ nhằm kiểm soát sự lan truyền ô nhiễm

Trang 22

Tuy vậy, cho đến nay vẫn có một số hạn chế liên quan đến cách thức tiêu hủy chất thải y tế Chất thải y tế được phân tách ngay tại nguồn nhờ sử dụng hệ thống mã màu cho các túi nhựa và các thùng chứa theo hướng dẫn của HKMA Tất cả các loại chất thải rắn y tế và chất thải sinh hoạt đã được tiêu hủy trong các bãi chôn lấp rác hợp

vệ sinh kỹ thuật cao ở Hồng Kông Các lò đốt quy mô nhỏ ở các bệnh viện đã bị đóng cửa do kiểm soát khí thải kém hiệu quả

Có 5 thành phần phát thải chủ yếu đang được xem xét cùng với kiểm soát chất thải rắn y tế ở Hồng Kông như sau:

Phân loại chất thải rắn y tế ra khỏi đồ phế thải

Phân loại các loại chất thải rắn y tế khác nhau thành từng loại

Kiểm soát chất thải rắn y tế từ các nguồn không phải từ bệnh viện

Quản lý chất thải rắn y tế sinh ra trong đảo Outlying

Tiêu hủy các xác chết động vật từ nguồn bệnh viện

Chiến lược tiêu hủy chất thải

Tại Hồng Kông, có một hệ thống kiểm soát hợp pháp để quản lý và tiêu hủy chất thải y tế Các hướng cụ thể của luật tiêu hủy chất thải hiện nay, đặc biệt luật về chất thải hóa học là phù hợp với chất thải y tế Tuy nhiên, các điều khoản này không thỏa mãn được các yêu cầu của các tiêu chuẩn quốc tế Để thỏa mãn các tiêu chuẩn tiêu hủy này, sơ đồ kiểm soát chất thải y tế đang được phát triển hoàn thiện để bảo đảm rằng tất cả các dạng và các kiểu chất thải y tế sinh ra được phân loại tại nguồn thải; đảm bảo an toàn trong quá trình lưu trữ, vận chuyển, thu gom, thiêu hủy và xử lý

Chiến lược tiêu hủy chất thải y tế tại Hồng Kông là phát triển các phương tiện tiêu hủy tập trung (CIF) đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế cao nhất về làm sạch khí thải

và các tiêu chí thiết kế khác Phương tiện này được xây dựng ở khu vực ngoại thành,

xa các khu vực nhạy cảm Đảm bảo an toàn về vệ sinh trong quá trình chuyên chở chất thải y tế từ các bệnh viện và các cơ sở y tế tới nơi tiêu hủy tập trung là một vấn đề chính cần quan tâm

1.3.3 Quản lý chất thải y tế tại Srilanka

Phân loại chất thải y tế

Tại Srilanka, việc phân loại chất thải y tế đang được quản lý ở Colombo, thủ

đô Srilanka Định nghĩa chung về chất thải y tế là bất kỳ chất thải nào mà gồm toàn bộ một phần cơ thể ngươi hoặc mô động vật, máu, dịch cơ thể, các chất bài tiết, thuốc,

Trang 23

dược phẩm … có thể phân thành 6 loại: Chất thải y tế thông thường, đồ vật sắc nhọn, biệt dược, thuốc và các dược phẩm, các vật gây mầm bệnh, nhau và mô bào thai, chất thải cytotoxic

Công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay

Ở Srilanka, chất thải y tế được tiêu hủy nhờ sự áp dụng tổ hợp phương pháp sau:

Đốt cháy trong các lò đốt sơ bộ: Chất thải y tế thường bị lẫn với rác thải sinh hoạt của bệnh viện, được đốt căn bản Phương pháp này đã gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý với độ ẩm của rác thải, dẫn tới hư hỏng trong bộ phận tự cấp nhiên liệu cháy Kết quả các khí tự nhiên cần được sử dụng làm nhiên liệu bổ sung, dẫn tới các chi phí vượt trội và không có bất kỳ hệ thống làm sạch khí hoặc kiểm soát phù hợp nào trên toàn bộ điều kiện đốt cháy

Đốt cháy trong lửa trên mặt đất hoặc trong hầm: Các loại chất thải rắn y tế đã được chọn lọc, đặc biệt các vật sắc và các dược phẩm, một số chất thải rắc y tế thông thường, được đốt cháy lộ thiên Lửa có thể được đốt cháy trên mặt đất hoặc trong hầm

mỏ mà sau đó được phủ đất lên Đốt cháy lộ thiên được tiến hành dưới sự giám sát

Chôn cất tại chỗ: Các loại rác bệnh viện đã được chọn lọc được chôn tại chỗ, đặc biệt là nhau và mầm bệnh Chôn lấp tại chỗ được thực hiện dưới sự giám sát

Đổ rác tại chỗ: Nơi bệnh viện có khu đất thích hợp, đổ rác tại chỗ xuất hiện trên mặt đất hoặc trong hầm rộng, và sau đó được phủ đất lên Các đống rác đôi khi được đốt cháy, đốt cháy rác nhằm bảo toàn khả năng thiêu hủy Đổ rác tại chỗ được thực hiện dưới sự giám sát

Thiêu hủy tại bãi chôn lấp rác đô thị: Chất thải rắn y tế thông dụng được thiêu hủy tại bãi chôn lấp rác đô thị Chất thải rắn y tế có thể đưộc chôn lẫn với rác thải sinh hoạt – loại rác thải sinh ra ở bệnh viện hoặc trong quá trình thu nhập hoặc trong giao thông Tại bãi chôn lấp rác đô thị, chất thải được tiêu hủy theo cách giống như rác thải sinh hoạt trong cộng đồng

Chiến lược tiêu hủy

Vào năm 2001, Chính phủ đề ra nhiệm vụ nghiên cứu khả thi để điều tra cách phân hủy chất thải rắn y tế ở Srilanka Trong quá trình nghiên cứu một số cách tiêu hủy để tiêu hủy chất thải y tế được xem xét Các kết quả nghiên cứu chỉ cho rằng, mặc

dù tính phức tạp cao và chi phí cao nhưng thiêu hủy rác được xem là phương pháp tin

Trang 24

cậy, đảm bảo và hiệu quả cao, loại bỏ được mọi nguy cơ truyền nhiễm từ tất cả các loại chất thải y tế Do đó phương pháp này được xem là cách tốt nhất để tiêu hủy chất thải rắn y tế trong tương lai ở Srilanka Yêu cầu về thời gian để có được phương tiện hoặc các phương tiện thiêu hủy chất lượng cao, đồng thời có thể được chấp nhận về mặt môi trường ở Srilanka thì chiến lược tiêu hủy tất cả chất thải y tế như sau:

- Trước mắt: Đổ rác có kiểm soát vào các đống rác trong đô thị, bằng các biện pháp kiểm soát quản lý đã tăng tiến độ đổ rác nhanh như khi nó được thiêu hủy

- Lâu dài: Quá trình thiêu hủy do một hoặc nhiều chuyên gia tiến hành, các phương tiện thiêu hủy được sử dụng Quá trình đốt cháy lộ thiên chất thải rắn y tế đã thực hiện ở Srilanka không được xem là cách thay thế có thế chấp nhận được cho quá trình thiêu hủy hiện đại

Các phương tiện thiêu hủy cục bộ được thiết kế cho nhóm hoạt động và được lắp đặt ở các vị trí khác nhau (có thể tại bệnh viện), không tính đến hiệu quả đối với chi phí nếu các phương tiện này được yêu cầu phải thực hiện như một mô hình trình diễn Tuy nhiên, nếu các phương tiện này được phép đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ít chặt chẽ hơn thì phát triển các lò đốt nhỏ hơn sẽ kinh tế hơn

- Tại Hồng Kông: là một nước thuộc địa lâu năm của Anh nên những chính sách về phát triển của nước này cũng ảnh hưởng ít nhiều từ Anh Điển hình là trong chiến lược tiêu huỷ chất thải tại Hồng Kông hiện nay cũng đang được áp dụng các mô hình tại Anh nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế cao nhất về làm sạch khí thải và các tiêu chí khác

- Tại Srilanka: việc quản lý CTYT đã được quan tâm nhưng chưa được đầu tư đúng mức Hiện nay nước này vẫn còn sử dụng nhiều công nghệ lạc hậu như đốt rác thải sinh hoạt với CTYT mà không phân loại, một số bệnh viên có khu đất rộng được tận dụng làm bãi đổ rác mà chỉ được xử lý sơ bộ, không triệt để Về lâu dài, Srilanka

Trang 25

đang có chiến lược thay thế các quá trình đốt lộ thiên bằng các quá trình thiêu huỷ hiện đại nhằm xử lý triệt để các loại CTYT

1.4 Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện ở Việt Nam

1.4.1 Tình hình chung

Hiện nay, Việt Nam có 1.024 bệnh viện công với 126 772 giường bệnh, được đầu tư nhiều trang thiết bị (TTB) hiện đại nhưng so với nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế thì hầu hết cơ sở vật chất, nhà cửa, điện nước, thiết bị thông dụng của các bệnh viện vẫn chưa đạt tiêu chuẩn tối thiểu Ở khu vực tư nhân, đến nay cả nước có 68 bệnh viện với hơn 4.000 giường bệnh, hơn 30.000 phòng khám, dịch vụ y tế tư nhân.Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đọan đất nước còn nghèo, lại mới trải qua chiến tranh, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên các bệnh viện đều không có hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nghiêm túc, đúng quy trình kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chất thải nguy hại còn bị thiếu thốn nghiêm trọng Bên cạnh đó, công tác quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lý triệt để Các cơ sở y tế chủ yếu nằm tại khu dân cư đông đúc nên nguy cơ lây nhiễm bệnh

ra cộng đồng dân cư sống quanh khu vực bệnh viện là rất cao Hầu hết các bệnh viện

từ tuyến Huyện trở lên đều có số giường vượt kế hoạch Sự quá tải của bệnh viện đãn đến tình trang lượng chất thải phát sinh lớn khó kiểm soát và thu gom triệt để, đôngg thời sơ sở vật chất của bệnh viện xuống cấp theo thời gian

Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế và các ngành hữu quan tỷ lệ phát sinh chất thải từ các cơ sở y tế cụ thể như sau

Nguồn: Báo cáo của Bộ Y tế 5/2002

Ghi chú: CTRYTNH: Chất thải rắn y tế nguy hại

CSYT: Cơ sở y tế

GB: Giường bệnh

Mặt khác, số lượng bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh rất lớn, lại thiếu kinh phí

để đầu tư trang thiết bị cho việc xử lý chất thải, nên số lượng bệnh viện bảo đảm các tiêu chuẩn môi trường còn rất ít Bảo vệ môi trường tại các bệnh viện không chỉ là vấn

đề của riêng các bệnh viện mà cần có sự quan tâm của Chính phủ và toàn xã hội

Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhân viên y tế, bệnh nhân

và người nhà bệnh nhân để thấy rõ trách nhiệm trong vấn đề thu gom, phân loại và xử

Trang 26

lý chất thải nhằm giảm thiểu những tác hại gây ra do chất thải y tế Tuy nhiên, nhận thức của cộng đồng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải y tế vẫn còn yếu

Chất thải y tế được các công ty Môi trường Đô thị thu gom, xử lý hoặc được xử

lý bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường hoặc được ngâm trong Formandehyt rồi tập trung chôn lấp tại các nghĩa trang, trong các khuân viên bệnh viện Rất nhiều loại chất thải lây nhiễm, độc hại được xả trực tiếp ra bãi chất thải, thải ra hệ thống thu gom nước thải thành phố mà không qua bất kỳ một khâu xử lý cần thiết nào

Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh của ngành, năm 1998 Bộ Y tế đã thành lập Ban chỉ đạo xử

lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng trong công tác chỉ đạo đi xây dựng quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnh viện trong phạm vi toàn quốc

Trên cơ sở đó, ngày 27/8/1999 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành “Quy chế quản lý chất thải y tế”, đến năm 2002 Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tiếp “Quy chế bảo vệ môi trường tại các cơ sở y tế” Trong thời gian qua nhiều chương trình nghiên cứu thí điểm các lò đốt, chương trình xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống các lò đốt trên toàn quốc đã và được triển khai

1.4.2 Phân loại, thu gom chất thải bệnh viện

Theo báo cáo của trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, đa số các bệnh viện (81,25%) đã thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên tham gia công tác này chưa được đào tạo đủ tới mức trở thành kỹ năng Việc phân loại còn chưa theo đúng quy cách như tách các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế, còn lẫn nhiều chất thải sinh hoạt vào chất thải y

tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đúng qui chế quản lý chất thải bệnh viện, còn tuỳ tiện, có gì sử dụng nấy [15]

Còn nhiều bệnh viện (45%) chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu huỷ chất thải Trong số các bệnh viện đã thực hành tách riêng vật sắc nhọn, có tới 11,4% bệnh viện tuy có tách vật sắc nhọn nhưng chưa thu gom vào các hộp đựng vật sắt nhọn theo đúng tiêu chuẩn quy định, đa số các bệnh viện (88,6%) thường đựng các vật sắc nhọn vào chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước hay vật dụng tự tạo [15]

Trang 27

Theo qui định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được hộ lý và y công thu gom hằng ngày tại khoa phòng Các đối tượng khác như bác sĩ, y tá còn chưa được giáo dục, huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào phân loại thu gom, vận chuyển và tiêu huỷ chất thải

1.4.3 Lưu trữ, vận chuyển chất thải y tế tới nơi tiêu huỷ

Chất thải rắn y tế được thu gom phân loại và vận chuyển về khu trung chuyển tại bệnh viện Thực tế trong quy hoạch xây dựng cũng chưa có những hướng dẫn cho việc xây dựng, các khu vực trung chuyển chất thải rắn bện viện Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn y tế được bố trí trên một khu đất bên trong khuôn viên bệnh viện thành một khu trung chuyển Các khu trung chuyển có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ dàng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung rác không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí lại gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có một số ít bệnh viện có nơi lưu trữ chất thải đạt tiêu chuẩn qui định

Chất thải rắn y tế được nhân viên của công ty Môi trường Đô thị đến thu gom các túi chất thải tại khu vực trung chuyển của bệnh viện, các nhân viên bệnh viện lẫn nhân viên của công ty Môi Trường Đô Thị đều chưa được đào tạo, hướng dẫn về những nguy cơ có liên quan đến việc thu gom, vận chuyển và tiêu huỷ chất thải rắn y

tế nguy hại Qua điều tra cho thấy đa số các nhân viên bệnh viện không biết nơi thiêu huỷ cuối cùng của bệnh viện ở đâu

Việc phối hợp liên ngành kém hiệu quả trong mọi công đoạn của quy trình quản

lý chất thải bệnh viện Mới có vài công ty bước đầu nghiên cứu sản xuất được phương tiện để thu gom, vận chuyển chất thải, tuy nhiên còn đang ở giai đoạn thí điểm chưa sản xuất đại trà Đối với các bệnh viện đã phân loại, tách chất thải y tế và chất thải sinh hoạt để xử lý riêng, nhưng ngay ở một số địa phương công ty Môi Trường Đô Thị do chưa có hệ thống thiết bị đốt, thiêu huỷ chất thải rắn y tế nguy hại nên đã từ chối vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế Chỉ có 18,75% trong tổng số các bệnh viện có chất thải được vận chuyển ra khỏi bệnh viện bằng xe chuyên dụng của Công Ty Môi Trường Đô Thị [2]

Trang 28

1.4.4 Ngu ồn lực cho công tác quản lý chất thải

* Về cơ sở pháp lý: Ở nước ta chất thải y tế đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật do quốc hội, Chính phủ ban hành và hàng loạt các văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện của Ngành Y tế Gồm một số văn bản sau:

- Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Điều

39, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy định về bảo vệ môi trường trong bệnh viện và các cơ sở y tế

- Thông tư số 12/2006/QĐ-TTg ngày 26/12/2006, hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép, hành nghề mã số quản lý chất thải nguy hại

- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại, quy định CTYT nằm trong danh mục CTNH có mã số 1301, phải đăng ký và quản lý theo quy định đối với CTNH

- Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tại quyết định này có 84 bệnh viện trên cả nước phải thực hiện biện pháp xử lý triệt để ô nhiễm môi trường, tỉnh Phú Thọ có 2 bệnh viên nằm trong danh sách đến năm 2007 phải xử lý triệt để ô nhiễm môi trường trong đó có Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ

- Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy định về quản lý, xử lý CTYT và thường xuyên điều chỉnh quy chế cho phù hợp với xu thế phát triển Từ năm 1996 đã ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định xử lý chất thải rắn trong bệnh viện, từ năm 1999, đã ban hành riêng quy chế quản lý chất thải y tế, đến 2007, quy chế này đã được điều chỉnh để phù hợp với tình hình cấp bách hiện nay về quản lý chất thải y tế (Quyết định

số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế)

Ngoài ra còn nhiều các văn bản quy định, hướng dẫn khác đối với công tác quản lý CTYT như: tiêu chuẩn khí thải lò đốt CTYT, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

* Về kinh phí và trang thiết bị xử lý chất thải: Việc đầu tư kinh phí cho xử lý chất thải tại các cơ sở y tế còn gặp rất nhiều khó khăn Các cơ sơ y tế phần lớn là các đơn vị sự nghiệp, không có khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các công trình xử ý chất thải

Trang 29

Kinh phí cho xử lý chất thải chưa được kết cấu vào chi phí đầu giường bệnh nên khó khăn trong việc duy trì hoạt động xử lý chất thải Việc khoán chi ở bệnh viện,

đã làm cho các bệnh viện phần lớn chỉ quan tâm đến việc đầu tư máy móc thiết bị, vật

tư chuyên môn, ít quan tâm đầu tư cho quản lý, xử lý chất thải Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến công tác quản lý, xử lý chất thải tại các bệnh viện còn nhiều hạn chế và bất cập Ở Tây Ninh có 7 lò đốt rác y tế nhưng cả 7 lò đều đang bị hỏng do không có chi phí bảo dưỡng và vận hành Theo tính toán, bình quân chi phí cho việc xử lý chất thải rắn và chất thải lỏng cho một giường bệnh dao động từ 5.000 tới 8.000đ/gb/ngày Nếu bệnh viện thuê trung tâm đốt CTYT sẽ mất vào 9.000đ/kg/ngày [19] Bên cạnh đó cũng còn có những vấn đề liên quan khác như: theo quyết định 43/2007/QĐ-BYT quy định về màu sắc thùng rác, bao bì, chất liệu nhưng chưa có nhà sản xuất nào đáp ứng đúng như quy định đề ra

Trang 30

Chương 2

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÂN LOẠI VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 2.1 Thành phần chất thải rắn y tế và phương pháp xác định khối lượng chất thải rắn y tế

2.1.1 Thành phần của chất thải rắn y tế

Thành phần vật lý của chất thải y tế bao gồm kim tiêm, bơm tiêm kèm kim tiêm, thiết bị giải phẫu, mô tế bào người hoặc động vật, xương nội tạng, bào thai hoặc các bộ phận của cơ thể, bình, túi hoặc ống dẫn chứa các chất lỏng từ cơ thể và các vật dụng và vật chất khác bị loại bỏ trong khuôn khổ quá trình thăm khám và điều trị chuyên khoa, trong thực tế nghiên cứu về răng miệng hoặc thú y, có nguy cơ tiềm tàng đối với sức khoẻ của con người khi tiếp xúc với chúng

Theo WHO (2005), thành phần điển hình của chất thải rắn y tế ở các nước đang phát triển như sau:

- 80% chất thải thông thường có thể xử lý như chất thải sinh hoạt;

- 15% là chất thải lây nhiễm và chất thải giải phẫu;

- 1% là chất thải sắc nhọn;

- 3% là chất thải dược, chất thải hoá học;

- < 1% là các chất thải khác: phóng xạ, chất gây độc tế bào, bình chứa áp suất, chất thải chứa kim loại nặng

* Thành phần vật lý:

- Đồ bông, vải sợi: gồm bông, gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau,vải trải

- Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh

- Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm

- Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu,túi đựng hàng

- Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng

- Bệnh phẩm,máu mủ dính ở băng gạc

- Chất thải rưởi, lá cây, đất đá,

* Thành phần hóa học:

- Những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất, thuốc thử

- Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa,

Nếu phân tích nguyên tố thì thấy những thành phần: C,H,O,N,S P, Cl, và một phần tro

Trang 31

Bảng 2.1: Thành phần rác thải rắn y tế trung bình tại Việt Nam [15]

(%)

Chất nguy hại (Có/ không)

2 Chai nhựa, ống nhựa, túi nhựa PE, PP, PVC 10,1 Có

5 Thủy tinh, chai lọ, xilanh, ống thuốc 2,3 Có

Khối lượng chất thải phát sinh là thông tin quan trọng để đưa ra phương án xử

lý phù hợp Trong thực tế, việc xác định chính xác khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hoạt động của các cơ sở y tế nói chung và từ hoạt động của các bệnh viện

là việc không dễ dàng Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh phụ thuộc vào qui mô bệnh viện, số cán bộ y tế và các phương pháp kỹ thuật áp dụng trong điều trị bệnh

Trang 32

- Số lượng giường bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế có giường bệnh từ tuyến huyện và tương đương trở lên bao gồm cả các bệnh viện do ngành y tế quản lý và do các ngành khác quản lý

- Lượng chất thải y tế phát thải mỗi ngày xác định theo giường bệnh (giường bệnh của cấp bệnh viện) mỗi ngày

- Tỷ lệ chất thải y tế nguy hại trên tổng chất thải y tế chung của giường bệnh (giường bệnh cấp bệnh viện) mỗi ngày

Trên cơ sở này, có thể áp dụng ước lượng khối lượng chất thải của bệnh viện cụ thể của khu vực, thậm chí có thể ước lượng khối lượng chất thải rắn cho phạm vi toàn quốc Các cơ sở y tế ở Việt Nam chủ yếu thuộc ngành y tế được tổ chức phân bố theo

4 cấp:

- Các cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y tế

- Các cơ sở y tế trực thuộc tỉnh

- Các cơ sở y tế tuyến huyện

- Các cơ sở y tế tuyến xã và tương đương

Trong đó, qui mô bệnh viện có từ tuyến huyện gọi là bệnh viện huyện, tuyến tỉnh gọi là bệnh viện tỉnh và tuyến sau cùng là các bệnh viện tuyến trung ương Đa số các bệnh viện của các tuyến là qui mô bệnh viện đa khoa, một số bệnh viện chuyên khoa Các bệnh viện nêu trên là các cơ sở y tế có giường bệnh, thường xuyên hoạt động khám chữa bệnh và cũng thường xuyên phát thải chất thải rắn y tế

Một số ngành khác cũng có cơ sở y tế từ tuyến cơ sở cho tới tuyến chuyên khoa như Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An có hẳn một hệ thống y tế từ tuyến Trung ương tới

cơ sở hoặc một số ngành có bệnh viện riêng như: Bưu Chính Viễn Thông, Giao Thông Vận Tải, Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn

Trong cách xác định trên đây còn chưa đánh giá được nguồn và số lượng thải tại các trạm y tế xã, phòng mạch tư nhân và các hoạt động từ các cơ sở đào tạo, nghiên cứu sinh học

Tuy nhiên, có thể ước tính sơ bộ khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện dựa vào tỷ lệ phát sinh được trình bày ở bảng 2.2

Trang 33

Bảng 2.2: Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế tại các bệnh viện đa khoa ở Việt Nam

[39]

Lượng phát sinh chất thải rắn y tế (kg/gb/ngày) 1,53

Lượng chất thải rắn nguy hại (kg/gb/ngày) 0,25

Tỷ trọng chất thải rắn y tế nguy hại (tấn/m3) 0,13

Tỷ lệ thành phần nguy hại/tổng lượng phát sinh (%) 16,2

2.2.Phân loại chất thải y tế

Việc phân loại và xác định chất thải y tế của đa số các nước trên thế giới, kể cả các nước trong khu vực cũng như hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO) khá nhất quán và nhìn chung đều bao gồm các loại chính như sau [50]:

a/ Nhóm chất thải lâm sàng (clinical waste): bao gồm 5 phân nhóm khác nhau

- Nhóm E: bệnh phẩm (pathological waste): nhóm này bao gồm các mô và cơ quan người, động vật, một phần chi thể bị cắt bỏ do các can thiệp phẫu thuật (cần lưu ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi chúng không chứa nguồn lây nhiễm nhưng cũng vẫn có khả năng gây ra tác động tâm lý rất mạnh)

b/ Nhóm chất phóng xạ

Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hoá trị liệu và nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ

c/ Nhóm chất thải hoá học

Chất thải hoá học bao gồm các hoá chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axít amin, một số loại muối v.v và hoá chất nguy hại như phóc-man-đê-hít, hoá chất quang học, các dung môi, hoá chất dùng để diệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong khử trùng, tẩy uế, thanh trùng v.v

Trang 34

d/ Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất

Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy, CO2 bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần, v.v đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu huỷ đúng qui cách

e/ Nhóm chất thải sinh hoạt

Nhóm chất thải này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường từ các hộ gia đình gồm giấy loại, vải loại, vật liệu đóng gói bao gói, thức ăn còn thừa, thực phẩm thải bỏ và chất thải ngoại cảnh như các loại lá cây, hoa quả rụng v.v

Theo quyết định số43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế; Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm được trình bày trong bảng 2.3 sau:

Bảng 2.3: Các nhóm CTYT chia theo đặc tính và tính chất nguy hại [16]

1 Chất thải lây nhiễm - Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra

các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ

và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

2 Chất thải hóa học

nguy hại - năng sử dụng Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả

- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế

- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu

- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

Trang 35

STT Tên , nhóm Các loại CTYT

lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất

- Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế

4 Bình chứa áp suất Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung

Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

2.3 Công nghệ xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn y tế

Chất thải rắn y tế có chứa nhiều thành phần rất khác nhau, trong đó chất thải lây nhiễm là nhóm chất thải rắn y tế nguy hại chiếm tỉ lệ cao nhất và phổ biến nhất Trên thế giới, nhiều công nghệ xử lý chất thải chất lây nhiễm đã ra đời với mục tiêu chính là loại bỏ các yếu tố lây nhiễm trong chất thải lây nhiễm

Hiện nay, không có một công nghệ nào xử lý được toàn bộ chất thải rắn y tế nguy hại, mầ cần phải kết hợp các giải pháp Việc lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm cả sự cân nhắc về khía cạnh kinh tế, sức khoẻ và môi trường

2.3.1 Công nghệ khử khuẩn

Khử trùng thường là công nghệ đầu tiên khi xử lý chất thải bệnh viện nhằm hạn chế tai nạn cho nhân viên thu gom, vận chuyển và xử lý rác Chất thải lâm sàng có nguy cơ nhiễm khuẩn cao, phải được xử lý an toàn bằng phương pháp khử trùng ở gần nơi chất thải phát sinh sau đó cho vào túi nilon màu vàng rồi vận chuyển tiêu huỷ

Trang 36

Ưu điểm của loại công nghệ này là xử lý tốt các chất thải rắn y tế lây nhiễm (trong thành phần chất thải rắn y tế nguy hại, chất thải lây nhiễm chiếm khoảng 85%); Chi phí vận hành thấp, không gây ô nhiễm môi trường thứ phát, thân thiện với môi trường; Các chất thải bằng nhựa như xy lanh Dây truyền dịch…sau khi tiệt khuẩn có thể tái chế

Nhược điểm: công nghệ khử trùng không làm giảm được khối lượng của các chất thải sau khi xử lý - chất thải y tế lây nhiễm sau khi xử lý bằng loại công nghệ này vẫn phải xử lý tiếp tục như đối với các chất thải rắn thông thường khác; Công nghệ này không xử lý được chất thải hoá học, chất thải phóng xạ

Dưới đây là một số công nghệ khử khuẩn điển hình:

2.3.1.1 Công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm(Autolave):

Bản chất của công nghệ là tạo ra môi trường hơi nước nóng với áp suất cao để khử tiệt khuẩn chất thải y tế Áp suất của hơi bão hoà thông thường từ 2 đến 3 bar và nhiệt độ tương ứng 121 và 1340C trong khoang khử khuẩn Chất thải y tế, gồm nhiều loại vật liệu có hình dạng và kích thước khác nhau, được đưa vào trong khoang khử khuẩn(thường có dung tích lớn) Chính vì vậy, nhiều bằng chứng khoa học đã cho thấy, công nghệ hấp ướt để đảm bảo hiệu suất tiêu diệt vi sinh vật đạt yêu cầu (>99,999%) cần thời gian khá lâu 2-4 h Đồng thời, công nghệ này đòi hỏi sử dụng nhiều năng lượng ( đôi khi cần dùng riêng hệ thống cấp hơi riêng biệt) và khá cồng kềnh

Ưu điểm: Khử trùng bằng lò hấp ướt là công nghệ thân thiện với môi trường do không sử dụng hoá chất và không gây ô nhiễm thứ cấp Mặt khác công nghệ này quen thuộc với các bệnh viện vì các nhân viên y tế thường dùng phương pháp hấp ướt để khử trùng cho các dụng cụ y tế; Giá thành đầu tư thiết bị và chi phí vận hành không cao; Công suất thiết bị càng lớn thì chi phí đầu tư/kg chất thải càng giảm; Các chất thải

y tế làm từ nhựa sau khử trùng có thể dễ dàng tái chế

Nhược điểm: Công nghệ nhiệt ướt không xử lý được các chất thải hoá học, chất thải phóng xạ, bình khí có áp suất; Công nhân vận hành cần được đào tạo; Chất thải sau khử khuẩn vẫn phải xử lý tiếp như nghiền và chôn lấp cùng chất thải thông thường; Công nghệ này thường phải sử dụng thêm hoá chất để đảm bảo hiệu quả khử tiệt khuẩn được ổn định, và do đó làm tăng hơn chi phí vận hành của hệ thống

Trang 37

Ứng dụng: Tại Việt Nam công nghệ hấp ướt được sử dụng tại bệnh viện Đaclak

và đang được các công ty URENCO nghiên cứu để xử lý các CTRYT lây nhiễm có khả năng tái chế như bơm kim tiêm, dây chuyền dịch,…

2.3.1.2 Công nghệ sử dụng vi sóng

Bản chất của vi sóng ( microwave) là làm cho các ion (+) và ion (-) có trong nước (kể cả tổ chức hữu cơ bất kỳ) dao động nhanh, va đập mạnh vào nhau sinh ra nhiệt để tiêu diệt các vi khuẩn kể cả nha bào Vì vậy, vi sóng sẽ giúp cho quá trình khử khuẩn đạt hiệu suất hơn, ngay cả những chất thải ở sâu trong ống

Có hai nhánh công nghệ dùng vi sóng đó là sử dụng vi sóng thuần tuý trong điều kiện áp suất bình thường và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hoà trong điều kiện nhiệt độ cao Sau khi xử lý khử khuẩn, máy nghiền cắt đều được khuyến khích sử dụng như thiết bị chọn lựa trong hệ thống

Vi sóng ở điều kiện áp suất thường

Tạo ra điều kiện khử khuẩn ở nhiệt độ khoảng 1000C với áp suất không khí thông thường Do vậy, hệ vận hành đơn giản hơn nhưng sẽ tốn nhiều thời gian xử lý cho mỗi mẻ, đồng thời hiệu quả khử tiệt khuẩn đạt mức 99,9% Công nghệ này cũng được áp dụng ở các nước đang phát triển và chia làm 2 loại: Thiết bị khử khuẩn ở áp suất thuờng có bổ sung nuớc/hơi nuớc và Thiết bị khử khuẩn ở áp suất thuờng không

bổ sung hơi nuớc/nuớc

Vi sóng ở điều kiện áp suất cao (vi sóng kết hợp hơi nước bão hoà)

Đây là loại công nghệ tiên tiến nhất hiện nay bởi hiệu quả khử tiệt khuẩn cao và thời gian xử lý nhanh, được áp dụng tại các nước công nghiệp phát triển và một số nước đang phát triển từ khoảng 10 năm trở lại đây

Loại này kết hợp giữa vi sóng và hấp ướt Khi có áp suất và nhiệt độ tăng dần cao lên( 1 bar, 2 bar, 3 bar tương ứng nhiệt độ trên 100, 121, và 1340C ), nhiệt từ bên ngoài bề mặt chất thải và nhiệt do vi sóng làm nóng từ bên trong chất thải sẽ phá vỡ cấu trúc và tiêu diệt hoàn toàn mọi vi khuẩn, đạt tỷ lệ 99,9999% và cao hơn, trong khoảng thời gian ngắn ( từ 10 – 20- 30 phút) Thông thường chu kỳ xử lý sẽ kéo dài khoảng 30 phút Trong quá trình xử lý có gian đoạn hút chân không để hút hết không khí từ chất thải trong khoang xử lý tạo điều kiện cho giai đoạn sau khi cấp hơi nước bão hoà, hơi bão hoà sẽ đi vào tất cả những chỗ rỗng của chất thải và làm ướt mọi bề mặt chất thải, trong lòng khối chất thải, kể cả các vật thể có cấu trúc “phức tạp” - nhỏ

Trang 38

dài và hẹp như kim tiêm Việc làm ẩm bề mặt này lại có tác dụng giúp năng lượng nhiệt do vi sóng tạo ra làm nóng chất thải từ bên trong ra, kết hợp với nhiệt độ và áp suất cao sẽ có tác dụng phá huỷ cấu trúc tế bào và tiêu diệt tất cả các loại mầm bệnh (vi khuẩn, virus, nha bào, kí sinh trùng…) có trong chất thải Nhờ đó sau khi được xử

lý, chất thải lây nhiễm trở thành chất thải thông thường mà không bị phá huỷ, rất thích hợp cho việc tận dụng để tái chế

Toàn bộ quy trình hoạt động của công nghệ vi sóng kết hợp hơi nước bão hoà đều không tạo ra khói bụi, không xả ra nước thải, cũng không sử dụng hoá chất khử tiệt trùng nên hoàn toàn thân thiện với môi trường

Ở Việt Nam, hiện công nghệ vi sóng kết hợp hơi nước bão hoà SINTION 1.1 đã được Trung tâm y tế Vietsovpetro Vũng Tàu nhập về từ năm 2003, đến nay làm việc vẫn tốt Thiết bị có 10 chương trình vận hành tự động Kết quả khử trùng được thông báo rõ ràng bằng máy đo ghi Bộ y tế mới đầu tư cho một số cơ sở y tế như: Bệnh viện Phong- Da liễu TW Quy Hoà, Bệnh vịên Phong- Da liễu TW Quỳnh Lập, Bệnh viện nhiệt đới TW, Bệnh viện Việt Nam- Thuỵ Điển Uông Bí

2.3.1.3 Khử khuẩn bằng dung dịch điện giải

Dung dịch điện giải được điều chế từ quá trình điện phân dung dịch NaCl 0,5- 1% Trong quá trình điện phân sẽ tạo ra các chất có khả năng diệt khuẩn như H2O2, O3, HClO trong dung dịch điện giải

Ưu điểm: khả năng diệt khuẩn và oxy hoá các hợp chất hữu cơ rất cao; Có khả năng tự phân huỷ hoàn toàn sau 3-5 ngày khi thải ra môi trường nên ít gây tác động tới môi trường; Chi phí không cao Các chất thải có khả năng tái chế sau khử khuẩn có thể đưa đi tái chế

Nhược điểm: chỉ áp dụng được với nhóm chất thải lây nhiễm

2.3.1.4 Khử khuẩn bằng các dung dịch Javen,cloramin B 1-2%

Phương pháp này được dùng phổ biến ở các cơ sở y tế để tiệt trùng cho các dụng cụ y tế, xử lý ban đầu các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao Chất thải có nguy

cơ lây nhiễm cao được ngâm trong dung dịch Javen hoặc Cloramin B trong thời gian khoảng 30 phút, các vi khuẩn gây bệnh sẽ bị tiêu diệt Sau đó chất thải sẽ được xử lý tiếp bằng các phương pháp đốt, vi sóng hoặc chôn lấp hợp vệ sinh

Ưu điểm: đã quen dùng với nhân viên y tế

Nhược điểm: hoá chất khử trùng gây mùi, độc

Trang 39

- Để khử độc cho chất thải nguy hiểm

- Giảm thể tích và lượng chất thải cần chôn lấp

- Thu hồi nhiệt để sử dụng cho các quá trình: lò hơi, hệ thống điện công suất nhỏ Thành phần chất thải có tiêu hủy

Chai nhựa đựng hóa chất, dịch truyền, ống truyền dịch, túi đựng máu, túi hóa chất

Bông băng, kim tiêm, ống tiêm, chai lọ thủy tinh, ống thuốc, các bệnh phẩm sau mổ

bệphmenh phẩm sau mổ

Khi phân tích thành phần chất thải và chất rắn nguy hiểm: C, H, O, S, W, tro nếu hàm lượng C, H lớn sẽ thích hợp cho sử dụng phương pháp đốt, ngược lại nếu ẩm và tro lớn nên dùng phương pháp khác

Bảng 2.4: Các chất thải có thể và không nên đốt

Chất thải có thể đốt được Chất thải không nên đốt

- Dung môi

- Dầu thải, bùn dầu

- Chất thải bệnh viện, dược phẩm quá hạn

- Thuốc trừ sâu, diệt cỏ

- PCBs

- Chất dẻo, cao su trơn, keo

- Gỗ, giấy, vải

- Chất thải dễ nổ

- Chất thải có điểm bắt cháy < 400 C

- Chất thải phóng xạ (trừ quần áo bảo hộ)

- Chất thải vô cơ

Trong lò đốt bã thải nếu:

- Nhiệt độ < 9000 C sẽ tạo ra dioxin, furan, VOC (chất hữu cơ bay hơi)

- Nhiệt độ > 9000C – 12000C các chất hữu cơ cháy hết

(tº)

Chất hữu cơ + O2

(Đủ hoặc dư)

Khói lò: CO2, CO, SO2, NOx, HCl, dioxin, furan, kim loại thăng hoa Tro, xỉ

Trang 40

- Nhiệt độ > 12000C các chất PCBs cháy hết

Để duy trì nhiệt độ cao > 12000C trong lò đốt nếu nhiệt trị của chất thải thấp

sẽ không đạt vì vậy phải bổ sung nhiên liệu phụ như than, dầu FO, dầu DO, khí thiên nhiên

Thời gian lưu của chất thải trong lò đốt đủ để chất cháy hết, đối với pha khí ít nhất là 2 giây còn với pha rắn phải một vài giờ tùy loại và kích thước chất thải phải đảm bảo tiếp xúc tốt giữa oxy không khí với chất thỉa bằng đảo trộn pha rắn và tăng tốc độ dòng khí

Sản phẩm của quá trình đốt là khói lò có chứa bụi, các oxit kim loại nặng, các khí axit vì vậy phải xử lý trước khi chất thải vào không khí

Xử lý bằng: Cyclon, lọc điện, lọc túi, tháp rửa

Xử lý khí bằng tháp hấp thụ: dùng các dung dịch kiềm của sữa vôi, sooda để hấp thụ hóa học

Tro của lò đốt đem chôn lấp

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ lò đốt chất thải y tế nguy hại

Lò đốt sơ cấp Lò đốt thứ cấp

Hệ thống

xử lý khói lò

Ngày đăng: 13/04/2021, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thanh Bái (2007), "Quản lý chất thải y tế - vấn đề đáng quan tâm", Tạp chí bảo vệ môi trường (9), Hà Nội, tr 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải y tế - vấn đề đáng quan tâm
Tác giả: Đỗ Thanh Bái
Năm: 2007
3. Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Thọ (2009), Báo cáo đánh giá tác động môi trường , Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động môi trường
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Thọ
Năm: 2009
4. Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Thọ (2008), Tài liệu hướng dẫn về quản lý chất thải rắn vệ sinh môi trường, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn về quản lý chất thải rắn vệ sinh môi trường
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Thọ
Năm: 2008
5. Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Thọ (2009), Quy hoạch tổng thể phát triển Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Thọ đến năm 2020
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Thọ
Năm: 2009
6. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (2001), Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Năm: 2001
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Chất thải rắn - Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất thải rắn - Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Tiêu chuẩn môi trường bắt buộc áp dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn môi trường bắt buộc áp dụng
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2005
9. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và Môi trường, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và Môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Niên
Năm: 2009
11. Bộ Xây dựng (2007), Bệnh viên đa khoa - Hướng dẫn thiết kế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viên đa khoa - Hướng dẫn thiết kế
Tác giả: Bộ Xây dựng
Năm: 2007
12. Bộ Y tế (2000), Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2000
13. Bộ Y tế (2003), Tài liệu hướng dẫn quy trình chống nhiễm khuẩn bệnh viện, tập 1, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn quy trình chống nhiễm khuẩn bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
14. Bộ Y tế (2006), Sức khỏe môi trường, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe môi trường
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
15. Bộ Y tế (2006), Báo cáo y tế Việt Nam năm 2006 , Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 81-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo y tế Việt Nam năm 2006
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
16. Bộ Y tế (2008), "Quy chế quản lý chất thải y tế" Quyết định số 43/2007/QĐ- BYT/BYT-KCB ngày 10/10/2008, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
17. Bộ Y tế (2008), "Kiểm tra tình hình thực hiện Quy chế quản lý chất thải y tế", Công văn số 6998/BYT-KCB ngày 10/10/2008, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra tình hình thực hiện Quy chế quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
18. Bộ Y tế (2008), "Tăng cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế" , Công văn số 7164/BYT-KCB ngày 20/10/2008, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
19. Bộ Y tế (2008), Báo cáo Hội nghị "Tổng kết ngành y tế năm 2008 và triển khai công tác y tế năm 2009", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết ngành y tế năm 2008 và triển khai công tác y tế năm 2009
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
20. Bộ Y tế (2009), "Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009 - 2015" Quyết định số 1783/QĐ-BYT ngày 28/5/2009, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009 - 2015
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
21. Bộ Y tế (2009), Vệ sinh môi trường Dịch tễ (tập I), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường Dịch tễ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
22. Cục thống kê tỉnh Phú Thọ (2012), Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ 2011, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2012), Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ 2011
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Phú Thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w