1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tu lieu su 9 bai 910 Nhat Ban va cac nuoc Tay Au

11 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 17,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+Với vai trò của nhà nước NB đã được đánh giá là “ trái tim của sự thành công NB” làm cho nền công nghiệp NB đủ sức phát triển và bán hàng với giá rẻ hơn trên các thị trường nước ngoài, [r]

Trang 1

Tuần 11- Tiết 11

Bài 9(1 tiết): NHẬT BẢN

I TÌNH HÌNH NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH.

H1: Tình hình Nhật Bản sau chiến tranh thế giới II?

* Khó khăn: - Thất nghiệp 13 triệu người.

- Kinh tế bị tàn phá nặng nề (khó khăn lớn nhất sau ch/tr)

+ Sản lượng lúa (1945): chỉ bằng 2/3 (trung bình các năm trước)

+ Sản lượng công nghiệp (8/1945): Chỉ còn 10% (so với trước ch/tr)

- Lạm phát với tốc độ phi mã: Nếu lấy chỉ số tiêu dùng năm 1945 là 100 thì tăng hàng năm như sau:

→ Tổng cộng tăng xấp xỉ 8.000%

- 34% máy móc, 25% công trình, 80% tàu biển bị phá huý

* Em hiểu chế độ quân quản là như thế nào? (SGV 41):

Lần đầu tiên trong lịch sử của mình, Nhật Bản bị quân đội nước ngoài (Mĩ)

vào chiếm đóng : Quân quản: quân Mĩ không cai trị trực tiếp mà thông qua bộ máy

chính quyền Nhật Bản, vẫn duy trì ngôi vua của Thiên Hoàng Điều đáng lưu ý là chính quyền chiếm đóng Mĩ đã tiến hành một loạt các cải cách dân chủ Nhờ đó, nước Nhật đã có một chuyển biến to lớn và sâu sắc: Từ chế độ chuyên chế sang chế độ dân chủ Chính điều này trở thành một nhân tố quan trọng tạo nên sự phát triển “thần kì” về kinh tế của Nhật Bản sau chiến tranh (1952-1973)

Hình 17 – Lược đồ Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai (KH-189)

Nhật Bản là một quốc gia gồm 4 đảo chính: đảo Hốc-cai-đô, đảo Hôn-xiu, đảo Xi-cô-cư và đảo Kiu-xiu, với tổng diện tích 377.801 km2; trong đó, chỉ có 14,6% đất nông nghiệp, núi chiếm 71,4% Nhật Bản thường xuyên phải chịu các

Trang 2

trận động đất và núi lửa Người ta ước tính mỗi ngày Nhật Bản có khoảng 1000 trận động đất lớn nhỏ khác nhau và hiện có tới 67 ngọn núi lửa đang hoạt động.

Nhìn chung, Nhật Bản là một nước rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên, thường xuyên phải nhập nguyên vật liệu từ bên ngoài về để phục vụ cho phát triển kinh tế trong nước

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản là nước thua trận, bị mất hết thuộc địa (diện tích thuộc địa trước chiến tranh bằng 44% nước Nhật, lại có nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú), nền kinh tế bị tàn phá hết nặng nề với những khó khăn lớn bao trùm cả đất nước Theo điều tra của cơ quan ổn định kinh tế sau chiến tranh thì 80% tàu biển, 34% máy móc, 25% công trình xây dựng bị phá huỷ, 21% nhà cửa và tài sản riêng của gia đình bị thiệt hai Tổng thiệt hại về vật chât lên tới 64,3 tỉ yên, bằng hai lần tổng thu nhập quốc dân năm tài chính 1948 – 1949 Như vậy toàn bộ của cải tích luỹ được trong vòng 10 năm (1935 – 1945) đã bị tiêu huỷ hoàn toàn Sau chiến tranh, Nhật Bản lại bị quân đội Mĩ kéo vào chiếm đóng theo chế độ quân quản

Trong bối cảnh ấy, Nhật bản vừa phải dựa vào “viện trợ” kinh tế của Mĩ và nước ngoài dưới hình thức cho vay nợ để phục hồi kinh tế (trong những năm 1946 – 1950, Nhật Bản nhận viện trợ của Mĩ và nước ngoài lên tới 14 tỉ đô la) vừa tiến hành những cải cách dân chủ (ban hành Hiến pháp năm 1946, cải cách ruộng đất từ năm 1946 – 1949, trừng trị tội phạm chiến tranh,…) Những khoản viện trợ từ Mĩ,

nước ngoài và các chính sách cải cách dân chủ sau chiến tranh được ví như những luồng khí mới thổi vào nước Nhật, giúp cho nền kinh tế Nhật Bản phát

triển

Nhờ vậy, từ năm 1946 nền kinh tế Nhật Bản đã đạt được mức trước chiến tranh Năm 1951, tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản đã đạt trở lại mức của những năm 1934 – 1936

Sau khi hoàn thành việc phục hồi kinh tế, Nhật Bản tiếp tục bước vào quá

trình phát triển, và từ những năm 50 đến những năm 60, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế lớn của thế giới, là đối thủ cạnh tranh gay gắt của Mĩ và Tây Âu

Trang 3

II NHẬT BẢN KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SAU CHIẾN TRANH

* Bước sang những năm 60, kinh tế Nhật phát triển “thần kì” nhờ những đơn đặt hàng béo bở của Mĩ:

- Mĩ tiến hành chiến tranh xâm lược Triều Tiên (6/1950) – được coi là “ngọn gió thần” đối với nền kinh tế Nhật Bản

- Bước sang những năm 60, Mĩ gây ch.tr xâm lược Việt Nam – Kinh tế Nhật lại có những cơ hội mới để đạt được sự tăng trưởng “thần kì”

* Thành tựu về kinh tế của Nhật Bản sau chiến tranh (sgk- 37):

Bước sang những năm 60, khi Mĩ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,nền kinh tế Nhật lại có cơ hội mới để đạt được sự tăng trưởng “thần kì”, vượt qua các nước Tây Âu, vươn lên đứng thứ 2 trong thế giới tư bản chủ nghĩa (sau Mĩ)

- Tổng sản phẩm quốc dân : năm 1950 là 20 tỉ USD đến năm 1968 là 183 tỉ USD

- Trong công nghiệp: những năm 1950,1960 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 15%

- Nông nghiệp: nhờ áp dụng thành tựu KH-KT hiện đại đã cung cấp hơn 80% nhu

cầu lương thực trong nước, 2/3 nhu cầu thịt sữa, nghề đánh cá rất phát triển (Đứng

thứ 2/thế giới)

- Từ những năm 70 trở đi, Nhật Bản trở thành 1 trong 3 trung tâm kinh tế tài chính trên thế giới.

♣ Đường xe lửa ngầm nối liền hai đảo lớn của Nhật Bản, xây dựng năm 1988

(SGK cũ tr 77 + KH cũ):

Đường xe lửa này ngầm sâu dưới nước biển khoảng 5000m, độ dài khoảng 20km Đường ngầm này càng vào phía trong càng thấp dần xuống rồi lại lên dần ở phía đầu kia Đường ngầm này chỉ dành riêng cho xe lửa nhưng có tác dụng vô cùng to lớn cho giao thông giữa 2 đảo lớn → Thuận lợi cho sự phát triển lưu thông hàng hoá trong kinh tế và nhiều lĩnh vực khác Đó là công trình đầy tính sáng tạo và chứng tỏ khả năng kì diệu của con người nói chung và nhân dân Nhật Bản nói

riêng → Điều đó chứng minh sự phát triển khoa học kĩ thuật của loài người.

Trang 4

Hình 18 – Tàu chạy trên đệm từ của Nhật Bản đã đạt tốc độ 400 km/giờ

(KH-191) Đây là hình ảnh tàu chạy trên đệm từ của Nhật Bản có tốc độ 400 km/giờ, nó

thể hiện thành tựu kì diệu về lĩnh vực khoa học – kĩ thuật mà Nhật Bản đã đạt được trong những năm cuối thế kỉ XX

Các em hãy tưởng tượng, nếu chúng ta ngồi trên đoàn tàu này, chỉ cần một giờ có thể đi du lịch ở một thành phố cách điểm xuất phát 400 km, nhanh hơn cả máy bay Vì vậy, người ta gọi đây là “đoàn tàu biết bay”.

Tàu chạy bằng đệm từ lợi dụng từ lực làm cho thân tàu lướt trên đường ray, không những tốc độ nhanh hơn, mà do thân tàu nổi, nên độ lắc và tiếng ồn giảm đến mức thấp nhất, không “ồn ào” và “náo động” như các con tàu khác mà chúng

ta đã từng thấy Loại tàu này chạy bằng đệm từ IR, do các chuyên gia Nhật Bản nghiên cứu từ năm 1960 Đến nay, các chuyên gia đã hoàn thành việc thí nghiệm vận chuyển siêu cao tốc một cách thành công trên tuyến đường thực nghiệm và đang tiến tới sử dụng để chạy tàu trong thế kỉ XXI

Nhìn vào bức ảnh các em thấy, tạo hình của tàu chạy bằng đệm từ

MLUOOX2 xinh đẹp như máy bay phản lực chở khách Trong toa tàu, hành khách ngồi thoải mái, rộng rãi Ngoài ra, trên tàu còn có ti vi, điện thoại, hành khách có thể sử dụng điện thoại di động, máy tính cá nhân, soạn thảo văn bản như đang ngồi trong phòng làm việc của mình… Nói chung, khi ngồi trên con tàu này, hành khách cảm thấy rất thoải mái và thuận tiện

♣ TL Lịch sử thế giới hiện đại -297:

- Đầu những năm 70, Nhật Bản đứng đầu thế giới tư bản về sản lượng tàu biển (Trên 50%) xe máy, máy khâu, máy ảnh, Ra-đi-ô, vô tuyến truyền hình… và đứng thứ 2/thế giới về thép (1970: 93 triệu tấn)

- Chế tạo những loại động cơ, thiết bị điện dùng hết sức tiết kiệm năng lượng- Từ 1975- 1985, Nhà nước tài trợ cho chương trình nghiên cứu năng lượng mang tên

“Ánh sáng mặt trời” (Tăng cường sử dụng năng lượng mặt trời thay thế dầu mỏ) –

Ví dụ: Ô tô chạy bằng năng lượng mặt trời (được quảng cáo trên báo từ những

năm 90: Trên nóc xe có 1 thiết bị hình Parapon của đài truyền hình có chức năng thu năng lượng mặt trời dự trữ ở đó…

Trang 5

- Phát triển công nghiệp trí tuệ (vi tính, điện tử) Trên thế giới có 20 hãng lớn nhất,

thì có 10 hãng là của Nhật bản như: Hi-ta-chi, To-si-ba,Nec, So-ny, San-y-o, Mit-su-bi-si…)

- Từ 1970 -1987, năng suất lao động tư bản tăng 3.7% /năm (Mĩ đạt 0.7% /năm).

- Tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người : (Vượt Mĩ và đứng thứ 2/TG- Sau

Thuỵ Sĩ)

+1987, của Nhật Bản là: 27.000 USD (Mĩ là: 22.000 USD)

+ 1968, Nhật chỉ bằng 30% của Mĩ (Sau 20 năm đã bằng 120% của Mĩ)

- 6/1988, tài sản của nước ngoài : + của Nhật bản chiếm 36% toàn TG

+ của Mĩ chỉ có 14%

►Đến 1986, Nhật bản là chủ nợ lớn nhất thế giới (Mĩ là chủ nợ trong 2 thập niên đầu sau ch/tr)

Hình 19 – Trồng trọt theo phương pháp sinh học: nhiệt độ, độ ẩm và

ánh sáng đều do máy tính kiểm soát (KH-193)

Đây là bức ảnh chụp góc nhỏ của một phòng trồng trọt khép kín ở Nhật Bản theo phương pháp trồng trọt mới, có áp dụng những thành tựu của khoa học – kĩ thuật hiện đại

Nếu như cây trồng bình thường ở ngoài thiên nhiên như thời tiết, đất đai…

mà con người khó kiểm soát được, thì cách trồng trọt trong phòng kín này lại khác Con người có thể điều chỉnh ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, các chất dinh dưỡng phù

hợp với từng loại cây trồng Đây cũng là biện pháp mà con người áp dụng để trồng rau sạch quanh năm, không phải phụ thuộc theo mùa như trồng cây ngoài trời phụ

thuộc vào điều kiện tự nhiên Đây là phương pháp trồng cây nhân tạo theo hình thức nuôi cấy mô trong phòng (lấy lá cây, dùng phương pháp nhân giống tế bào thành nhiều tế bào và nhiều cây)

Ở Nhật bản, do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, tài nguyên thiên nhiên không cho phép Nhật Bản có thể có những khu vườn rộng và đất đai tốt để trồng trọt Do vậy, cách trồng trọt trong phòng kín này sẽ giúp cho Nhật Bản khắc phục nhiều khó khăn, góp phần đảm bảo cung cấp lương thực, rau sạch cho nhân dân, vì phòng kín có thể xây dựng dưới lòng đất hoặc trên tầng cao của những ngôi nhà cao tầng Trong ảnh là những nhân viên mặc trang phục màu trắng đang chăm sóc những

Trang 6

vườn rau sạch trong phòng kín Phía trên sàn của phòng kín là những chiếc bóng đèn điện được thiết kế và treo theo phương pháp hiện đại, toả sáng đều nhằm phục

vụ cho trồng trọt, thay thế cho ánh sáng mặt trời Nhìn những vườn rau xanh mơn mởn này, chúng ta thấy phương pháp trồng rau ở Nhật Bản rất đạt hiệu quả, góp phần quan trọng khắc phục sự thiếu hụt lương thực của nhân dân

Hình 20 – Cầu Sê-tô Ô-ha-si nối liền các đảo chính Hôn-xiu và Xi-cô-cư

(KH-194)

Nhật Bản không phải là quốc gia được thiên nhiên ưu đãi giống như nhiều nước khác trên thế giới Tuy nhiên, với sự nỗ lực của bản thân, người dân Nhật Bản đã vươn lên và trở thành một trong ba trung tâm kinh tế lớn của thế giới (Mĩ – Tây Âu – Nhật Bản)

Nhật Bản rất chú trọng việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong tất cả các lĩnh vực Và, cầu Sê-tô Ô-ha-si là một trong những biểu hiện về sự phát triển trong giao thông vận tải của nước này

Cầu Sê-tô Ô-ha-si là một cây cầu lớn của Nhật Bản vượt biển Sê-tô, dài 9,4

km Lòng cầu đôi, dành cho đường ô tô cao tốc và đường xe lửa Tuyến đường này

có 4 làn đường cho ô tô và một đường ray xe lửa

Cầu Sê-tô Ô-ha-si được biết đến với sự thán phục hâm mộ của nhân dân thế giới Một loạt tuyến đường cao tốc và đường rây được kết nối với nhau và chạy qua cây cầu nổi tiếng nối hai đảo chính Sê-tô và Ô-ha-si Cây cầu có một tầng cao dành cho tuyến đường cao tốc và tầng thấp hơn dành cho đường ray xe lửa Được thiết kế dành cho tương lai – cấu trúc xây dựng cây cầu này có đủ khả năng để hợp nhất mọi tuyến đường

* Sơ kết II:

+Với vai trò của nhà nước NB đã được đánh giá là “ trái tim của sự thành công NB” làm cho nền công nghiệp NB đủ sức phát triển và bán hàng với giá rẻ hơn trên các thị trường nước ngoài, giành được những thị phần quốc tế và bảo đảm chiến thắng

+ Con người NB được hình thành với những giá trị truyền thống được đề cao là: cần cù lao động, có tình yêu với thiên nhiên Biết tìm ra cái hay của người khác để học hỏi và vận dụng nó đề phục vụ mình Có tính kỉ luật và có ý thức rõ ràng về

Trang 7

nghĩa vụ và bổn phận, trung thành với bậc quyền uy và luôn giữ trọn chữ tín Biết chịu đựng và giữ phép lịch sự, biết tiết kiệm và biết lo xa

Chính vì những điều kiện chủ quan và yếu tố khách quan đó đã làm cho kinh tế

NB phát triển nhanh chóng.

4 Luyện tập, củng cố:

1- Chọn câu trả lời đúng nhất: Nguyên nhân dẫn đến sự phát triển “thần kì” của kinh tế Nhật Bản là:

A- Hệ thống quản lí có hiệu quả của các xí nghiệp, công ty Nhật Bản

B- Vai trò của Nhà nước trong việc đề ra các chiến lược kinh tế

C- Tận dụng những thành tựu khoa học – kĩ thuật để phát triển

(x)D- Cả 3 ý trên

2- Trong các câu sau đây, câu nào đúng, câu nào sai?

1/ Nhật Bản được gọi là “Đế quốc kinh tế” vì dùng sức mạnh kinh

tế để xâm nhập các thị trường toàn thế giới

X

2/ Từ những năm 70 của thế kỉ XX, Nhật Bản trở thành một trong

ba trung tâm kinh tế tài chính thế giới

X

3/ Tốc độ phát triển nhanh chóng về kinh tế của Nhật Bản, nên

nhiều người gọi đó là sự “thần kì Nhật Bản”

X

Trang 8

Tuần 12-tiết 12

Bài 10(1 tiết):

CÁC NƯỚC TÂY ÂU

I TÌNH HÌNH CHUNG

* Liên minh Bắc Đại tây dương: NATO : Khối liêm minh quân sự, chính trị của các nước tư bản đế quốc do Mĩ cầm đầu, được thành lập theo Hiệp ước liên minh Bắc Đại tây dương kí ngày 4/4/1949 tại Oasinh tơn (Mĩ) Lúc đầu NATO có 12 nước, sau sau thêm Hi Lạp, Thổ Nhĩ Kì, CHLB Đức → năm 2000 có 19 thành viên

Vào những năm 50- 80 của TKXX, NATO đối đầu với khối Hiệp ước Vác-sa-va của các nước XHCN, do Liên Xô đứng đầu Sau khi Hiệp ước Vác-Vác-sa-va tan

vỡ, NATO tìm cách bành trướng thế lực và thu hút các nước Đông Âu gia nhập và tiến hành vũ trang can thiệp vào công việc nội bộ các nước khác, như trường hợp NATO tấn công quân sự Nam Tư trong vụ Côxôvô năm 1999…

II SỰ LIÊN KẾT KHU VỰC.

H5: Vì sao có xu hướng liên kết khu vực? (sgk- 42):

* Nguyên nhân của sự liên kết các nước Tây Âu (sgk-42):

- Nhằm hình thành một thị trường chung châu Âu để dần dần xóa bỏ hàng rào thuế quan

- Để có chính sách thống nhất trong nhiều lĩnh vực

- Để mở rộng thị trường

- Muốn thoát khỏi sự lệ thuộc vào Mĩ

Hình 21 – Lược đồ các nước trong Liên minh châu Âu (năm 2004) (KH-195)

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là từ năm 1950 khi nền kinh tế ở các nước Tây Âu được phục hồi, một xu hướng ngày càng nổi bật là sự liên kết kinh tế giữa các nước trong khu vực để cùng nhau hợp tác và phát triển

Liên minh châu Âu là cụm từ viết tắt của tiếng Anh (European Union-EU)

lúc đầu mang tên gọi là “Cộng đồng châu Âu” (EC) (7/1967) Đó là sự sáp nhập

Trang 9

của ba cộng đồng: Cộng đồng than thép châu Âu (thành lập 4/1951): gồm 6 nước:

Pháp, Đức, I-ta-li-a, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-pua Sau đó 6 nước trên lại cùng thành lập: Cộng đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu (3/1957) và Cộng đồng kinh tế

châu Âu (EEC): (3/1957)→ Đến 1993, Cộng đồng kinh tế châu Âu có tên gọi mới

là Liên minh Châu Âu.

Liên Minh châu Âu bao gồm 15 nước thành viên (1/1/1995): Pháp, Đức,

I-ta-li-a, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua, Anh, Ai-len, Đan Mạch, Hi Lạp, Tây Ban Nha,

Bồ Đào Nha, Áo, Thuỵ Điển và Phần Lan Trụ sở của Liên minh Châu Âu được đặt tại Bruc-xen (Bỉ)

Liên minh châu Âu được thành lập nhằm mục đích:

Thứ nhất, xây dựng một thị trường nội địa châu Âu với một liên minh kinh

tế và tiền tệ châu Âu chung nhất, sử dụng một loại đồng tiền chung cho tất cả các nước tham gia liên minh này (đã phát hành đồng Ơ-rô ngày 1/1/1999)

Thứ hai, xây dựng một liên minh chính trị, mở rộng sang liên kết về chính sách đối ngoại và an ninh, tiến tới một nhà nước chung châu Âu, tạo thành thế mạnh để cạnh tranh với các nước ngoài khu vực và ảnh hưởng của Mĩ

Liên minh châu Âu kể từ khi thành lập đến nay đã có quan hệ với nhiều

nước trên thế giới, ngày càng mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình Năm 1990, Việt Nam và Liên minh châu Âu chính thức đặt quan hệ ngoại giao.

Như vậy, từ “Cộng đồng châu Âu” (EC) ban đầu chỉ là một liên minh thuần tuý về kinh tế, chính trị lớn nhất và chặt chẽ nhất thế giới Hiện nay, EU đã tiến hành xây dựng “một châu Âu không biên giới” và sử dụng đồng tiền chung châu Âu

* Mốc hình thành đồng ơ rô (EURO): SGV (48-49)

- Năm 1950, Giắc Ruy-phơ – một chuyên gia tiền tệ của Pháp, đề xuất ý tưởng thống nhất một loại tiền tệ ở châu Âu và cách thực hiện ý tưởng này

- Tháng 3/1979, hệ thống tiền tệ châu Âu ra đời với mục đích bảo vệ hệ thống tiền

tệ các nước châu Âu khỏi sự thay đổi lớn về tỉ giá hối đoái Thành viên gồm: CHLB Đức, Pháp, I-ta-li-a, Đan Mạch, Hà Lan và Lúc-xăm-pua Đồng êcu ra đời, dao động ở đồng tiền trên được giới hạn + 2.259% so với tỉ giá chỉ đạo

Trang 10

- Tháng 12/1991 và tháng 1/1992, tại hội nghị thượng đỉnh EC ở Ma-a-xtơ-rích, 12 nước thành viên lí kết hiệp ước Ma-a-xtơ-rích tạo cơ sở cho việc thành lập một liên minh kinh tế và tiền tệ với một đồng tiền chung, một ngân hàng Trung ương châu Âu

- Tháng 12/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh Ma-đơ-rít, đồng tiền chung được đặt tên

là đồng ơ rô (EURO) thay cho đồng êcu, quyết định thời điểm bắt đầu sử dụng đồng ơ rô là ngày 1/1/1999

- Tháng 6/1997, các nguyên thủ quốc gia của 15 nước thành viên EU thông qua Hiệp định ổn định ổn định Liên minh Tiền tệ châu Âu (EM) và đưa ra những qui định chặt chẽ đối với các nước tham gia Liên minh tiền tệ như: thâm hụt ngân sách

ko được quá 3% GDP, mức lạm phát ko vượt quá 1.5% so với mức trung bình của

3 nước thành viên có giá cả ổn định nhất

- Tháng 2/1998, 11 nước thành viên EU gồm Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Ai-len, I-ta-li-a, Lúc-xăm-pua, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha được xác định đã hội

tụ những điều kiện cơ bản để tham gia qui chế đồng tiền chung châu Âu (ơ rô)

- Tháng 1/1999, đồng ơrô trở thành đồng tiền chung trong 11 nước, bắt đầu được giao dịch tại các thị trường tiền tệ

- Tháng đầu năm 2000, Hi Lạp gia nhập khối các nước đồng tiền chung châu Âu

- Tháng 1/2000, đồng ơrô được lưu hành trong 12 nước thành viên EU; chậm nhất đến cuối 2000 (Bỉ, Hà Lan) các đồng tiền nội tệ cũ chấm dứt lưu hành

H10: Bước tiến của quá trình liên kết? (SGV-48):

+ Cộng đồng than thép châu Âu (thành lập 4/1951) → Cộng đồng kinh tế châu Âu 3/1957: gồm 6 nước: Pháp, Đức, I-ta-li-a, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-pua.

+ 1/1973, EU có thêm 3 thành viên mới là: Anh, Ai-len, Đan Mạch

+ 1/1978, EU có thêm Hi Lạp

+ 1/1986, EU có thêm Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha

+ 1/1995, EU có thêm 3 thành viên mới: Áo, Thuỵ Điển và Phần Lan → Tổng số thành viên EU lên 15 nước.

Ngày đăng: 13/04/2021, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w