Nhờ đó ở nước ta trong thời gian qua, công tác đấu thầu nói chung, đấu thầu xây dựng các công trình giao thông nói riêng đã được triển khai khá thuận lợi và đem lại những thành tựu đáng
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan toàn bộ Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Hà Nội, ngày … tháng năm 2017
TÁC GIẢ
Đoàn Vũ Mai Anh
Trang 2hiện luận văn này
Với thời gian và trình độ còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của bạn bè đồng nghiệp và các quý vị quan tâm
Luận văn được hoàn thành tại Khoa Công trình, Trường Đại học Thủy lợi
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
THỐNG KÊ CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 3
1.1 Các khái niệm, thuật ngữ liên quan 3
1.1.1 Đấu thầu xây dựng 3
1.1.2 Đặc điểm của đấu thầu xây dựng 6
1.2 Giới thiệu sơ bộ về đấu thầu qua mạng 7
1.2.1 Khái niệm về đấu thầu qua mạng 7
1.2.2 Đặc điểm, vai trò của đấu thầu qua mạng 7
1.2.3 Đối tượng tham gia trong hệ thống đấu thầu qua mạng 9
1.2.4 Thành phần trong hệ thống đấu thầu qua mạng 9
1.2.5 Mô hình chức năng của hệ thống đấu thầu qua mạng 10
1.3 Phân tích thực trạng đấu thầu dự án giao thông ở Việt Nam 12
1.3.1 Thực trạng đấu thầu các dự án giao thông ở Việt Nam trong thời gian qua 12
1.3.2 Phân tích, đánh giá chất lượng đấu thầu các dự án giao thông ở Việt Nam trong thời gian qua 17
1.3.3 Phân tích thực trạng đấu thầu các dự án giao thông ở Việt Nam 22
1.4 Kinh nghiệm đấu thầu qua mạng ở một số nước trên thế giới 29
1.4.1 Singapore 29
1.4.2 Malaysia 29
1.4.3 Liên bang Nga 30
Trang 41.4.5 Trung Quốc 31
1.4.6 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của Ngân hàng Thế giới (WB) 32
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG VÀ ĐẤU THẦU QUA MẠNG 35
2.1 Các quy định liên quan đến đấu thầu và đấu thầu qua mạng 35
2.1.1 Luật: 35
2.1.2 Nghị định: 35
2.1.3 Thông tư tham khảo 35
2.1.4 Mẫu hồ sơ 36
2.2 Các hình thức, phương thức, quy trình lựa chọn nhà thầu 36
2.2.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu 36
2.2.2 Các phương thức lựa chọn nhà thầu 39
2.2.3 Quy trình đấu thầu xây dựng 41
2.3 Lựa chọn nhà thầu qua mạng 44
2.3.1 Quy trình thực hiện lựa chọn nhà thầu qua mạng 44
2.3.2 Phân tích đánh giá hiệu quả lựa chọn nhà thầu qua mạng 46
2.4 Vai trò trách nhiệm của chủ đầu tư trong tổ chức đấu thầu 55
2.4.1 Trách nhiệm của bên mời thầu tham gia hệ thống mạng đấu thầu quốc gia 55
2.4.2 Nguyên tắc lập kế hoạch đấu thầu 56
2.4.3 Nguyên tắc lập các chỉ tiêu tiêu chí mời thầu 57
2.4.4 Đặc điểm kỹ thuật của gói thầu xây lắp công trình giao thông và các yêu cầu đối với nhà thầu thực hiện 60
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LỰA CHỌN NHÀ THẦU BẰNG CÁCH ĐẤU THẦU QUA MẠNG ỨNG DỤNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH ĐOẠN NĂM CĂN – ĐẤT MŨI 63
3.1 Giới thiệu Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh 63
3.1.1 Cơ cấu tổ chức 63
3.1.2 Quy trình thực hiện công tác đấu thầu tại Ban 65
Trang 53.2 Dự án đường Hồ Chí Minh đoạn Năm Căn – Đất Mũi tỉnh Cà Mau 77
3.2.1 Mục tiêu đầu tư xây dựng dự án 77
3.2.2 Nội dung và quy mô đầu tư xây dựng 78
3.3 Thực trạng công tác đấu thầu tại dự án đường Hồ Chí Minh đoạn Năm Căn - Đất Mũi 79
3.3.1 Tình hình đấu thầu chung của toàn dự án 79
3.3.2 Tình hình đấu thầu của gói thầu số 11 dự án Năm Căn – Đất Mũi 84
3.4 Ứng dụng đấu thầu qua mạng đối với gói thầu số 11 thuộc dự án đường Hồ Chí Minh đoạn Năm Căn – Đất Mũi 93
3.4.1 Quy trình thực hiện đấu thầu qua mạng đối với gói thầu số 11 93
3.4.2 Tính toán tiết kiệm khi ứng dụng đấu thầu qua mạng vào gói thầu số 11 của dự án 98
3.4.3 Những hạn chế tồn tại khi ứng dụng đấu thầu qua mạng tại Ban 102
3.4.4 Một số giải pháp khi ứng dụng đấu thầu qua mạng 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 6THỐNG KÊ CÁC HÌNH VẼ
Hình 1 - 1: Số lượng gói thầu qua các năm 16
Hình 1 - 2: Giá trị trung bình một gói thầu qua các năm 16
Hình 3 - 1: Cơ cấu tổ chức Ban QLDA đường Hồ Chí Minh 63
THỐNG KÊ CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1 - 1: Tổng hợp kết quả đấu thầu các dự án sử dụng vốn Nhà nước tại Bộ Giao thông vận tải 15
Bảng 1 - 2: Số liệu năm 2016 theo lĩnh vực đấu thầu 17
Bảng 1 - 3: Theo hình thức lực chọn nhà thầu (số liệu năm 2016) 19
Bảng 1 - 4: Tổng hợp bảng đánh giá các tiêu chí của Việt Nam 26
Bảng 2 - 1: Thời gian tiết giảm được khi đấu thầu qua mạng 49
Bảng 2 - 2: Tổng nguồn vốn năm 2016 Bộ Giao thông vận tải 50
Bảng 2 - 3: Những ưu điểm của đấu thầu qua mạng 52
Hình 3 - 1: Cơ cấu tổ chức Ban QLDA đường Hồ Chí Minh 63
Bảng 3 - 1: Tổng hợp tình hình đấu thầu dự án 77
Bảng 3 - 2: Tổng hợp kế hoạch đấu thầu toàn dự án Năm Căn – Đất Mũi 80
Bảng 3 - 3: Nội dung chính của gói thầu được phê duyệt trong kế hoạch đấu thầu 85
Bảng 3 - 4: Tóm tắt quá trình đấu thầu: 86
Bảng 3 - 5: Kết quả đánh giá sơ bộ 88
Bảng 3 - 6: Kết quả chuyển đổi giá dự thầu 91
Bảng 3 - 7: Tổng hợp kết quả đánh giá HSDT 91
Bảng 3 - 8: Tổng hợp chi phí tiết kiệm do đấu thầu qua mạng 100
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
TMĐT : Thương mại điện tử
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
BOT : Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
BT : Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
EPC : Hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước chúng ta hiện nay đang trên đà phát triển, chính vì vậy mà nhu cầu về cơ sở
hạ tầng đang được Đảng và nhà nước ta rất coi trọng Bất cứ một ngành, một lĩnh vực nào để có thể đi vào hoạt động đều phải thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, tài sản thì mới
có thể phát triển một cách hoàn thiện nhất, vì thế xây dựng cơ sở hạ tầng chính là nền móng quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước và là tiền đề để thu hút đầu tư
từ nước ngoài đến thị trường Việt Nam
Một hoạt động không thể thiếu trong công cuộc tạo dựng cơ sở hạ tầng vững chắc là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là lĩnh vực quan
trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong những năm qua, hoạt động xây dựng đã có sự phát triển mạnh
mẽ cả về số lượng và chất lượng, nhiều công trình lớn đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đem lại những hiệu quả kình tế - xã hội to lớn góp phần vào thành tựu đổi mới chung của đất nước trong những năm qua và góp phần thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước nhà từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước ta đã ban hành nhiều Văn bản pháp luât, Nghị định, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế nói chung và cho công tác đấu thầu nói riêng Nhờ
đó ở nước ta trong thời gian qua, công tác đấu thầu nói chung, đấu thầu xây dựng các công trình giao thông nói riêng đã được triển khai khá thuận lợi và đem lại những thành tựu đáng khích lệ cho nền kinh tế nước nhà
Tuy nhiên, thực trạng công tác đấu thầu ở nước ta thời gian qua vẫn còn nhiều vướng mắc; chất lượng đấu thầu còn chưa cao, hiệu quả mang lại còn chưa ngang tầm yêu cầu và đòi hỏi của đất nước Bởi vây, tác giả mong muốn đầu tư công sức nghiên cứu, tìm hiểu, tổng kết thực tiễn về chất lượng công tác đấu thầu xây dựng các công trình giao thông ở Việt Nam Trên cơ sở những nhận định và đánh giá khách quan, khoa
Trang 10học, luận án sẽ ứng dụng đấu thầu qua mạng nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác này trong lĩnh vực xây dựng giao thông
2 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu, tìm hiểu, tổng kết thực tiễn về chất lượng công tác đấu thầu xây dựng các công trình giao thông ở Việt Nam Ứng dụng đấu thầu qua mạng nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác này trong lĩnh vực xây dựng giao thông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu công tác đấu thầu đối với các
dự án giao thông ở Việt Nam nói chung và một số gói thầu thuộc dự án thành phần do Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh (đại diện chủ đầu tư) quản lý
b) Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tiến hành nghiên cứu các mặt hoạt động có liên quan đến công tác đấu thầu đối với các dự án giao thông ở Việt Nam
4 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã dựa trên cách tiếp cận cơ sở lý luận về khoa học quản lý dự án và các quy định hiện hành của hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực nghiên cứu, thu thập tài liệu về công tác đấu thầu truyền thống của một số gói thầu thuộc dự án đường Hồ Chí Minh đoạn Năm Căn – Đất Mũi làm cơ sở
so sánh với phương pháp đấu thầu qua mạng đã được đề cập ở trên Đồng thời luận văn cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài trong điều kiện thực tế tại Việt Nam hiện nay, đó là:
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế;
- Phương pháp thống kê;
Một số phương pháp kết hợp khác để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề được đặt ra
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
1.1 Các khái niệm, thuật ngữ liên quan
1.1.1 Đấu thầu xây dựng
1.1.1.1 Tổng quan về đấu thầu xây dựng
Trong những năm qua nền kinh tế nước ta đang chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng
Xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế thị trường xuất hiện nhiều thành phần kinh tế tham gia, lĩnh vực đầu tư xây dựng có nhiều vấn đề mới nảy sinh cần được nghiên cứu giải quyết Theo cơ chế quản lý cũ, trong xây dựng cơ bản chủ yếu quản lý bằng phương pháp giao thầu, nhận thầu theo kế hoạch nên khó tránh khỏi việc thất thoát hàng ngàn tỷ đồng và chất lượng công trình cũng không được đảm bảo Trong bối cảnh đó việc đổi mới phương thức quản lý đầu tư và xây dựng là điều rất cần thiết và đấu thầu xuất hiện là một tất yếu Đấu thầu là một phương thức kinh doanh dựa vào tính chất cạnh tranh trên thị trường Kinh nghiệm cho thấy đấu thầu nếu được thực hiện đúng, có thể tiết kiệm hay làm lợi đáng kể một số kinh phí so với các phương pháp đã thực hiện trước đây Đấu thầu có nhiều hình thức khác nhau nhưng trong đó đấu thầu rộng rãi là loại hoàn chỉnh nhất vì nó mang lại nhiều hiệu quả cho các công trình xây dựng Hình thức này đang rất phổ biến và Việt Nam đang áp dụng nó trong hầu hết các công trình xây dựng cơ bản Tuy nhiên việc thực hiện công tác đấu thầu trong những năm qua là quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm để hoàn thiện, nên còn bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc và những bất cập
Thuật ngữ “Đấu thầu” đã xuất hiện trong thực tế xã hội từ xa xưa Đấu thầu được giải thích là việc “đọ công khai, ai nhận làm, ai nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng (một phương thức giao công trình hoặc mua hàng) Như vậy bản chất của đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như một sự ganh đua (cạnh tranh) để thực hiện một việc gì đó, một yêu cầu nào đó Trên thực tế đã tồn tại một số
Trang 12định nghĩa về thuật ngữ đấu thầu trong các văn bản khác nhau Tuy nhiên bản chất của thuật ngữ đấu thầu dù dưới dạng Quy chế hay Luật định cũng đều sử dụng một thuật ngữ có xuất sứ từ tiếng Anh là “Procurement” (nghĩa là mua sắm) Như vậy Quy chế đấu thầu hoặc Luật đấu thầu đồng nghĩa với Quy chế mua sắm (Procurement Regulation) hoặc Luật mua sắm (Law on Procurement)
1.1.1.2 Sự ra đời và phát triển của hoạt động đấu thầu
Đấu thầu là một trong những phương thức mua sắm hàng hoá, dịch vụ trong đời sống
xã hội loài người Nó ra đời và phát triển cùng với phương thức sản xuất phát triển dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, sự cạnh tranh gay gắt và các cuộc khủng hoảng đã dẫn đến sự ra đời của Chủ nghĩa tư bản độc quyền và Chủ nghĩa tư bản nhà nước vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ
20 Độc quyền ra đời từ tự do cạnh tranh, sau đó đối lập với tự do cạnh tranh, nhưng không thủ tiêu tự do cạnh tranh mà làm cho cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Nhà nước tư bản vừa là người đại diện, người bảo vệ cho giai cấp tư sản và vừa là người điều tiết quá trình sản xuất, vừa là người cung cấp vốn để nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu Khoa học – kỹ thuật Nhà nước điều tiết các chương trình, các mục tiêu phát triển kinh tế thông qua hệ thống luật pháp, các chính sách kinh tế… Ngoài ra, nhà nước còn bỏ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng, phát triển
các ngành kinh tế cần thiết cho xã hội, nhưng lại có hiệu quả kinh tế thấp, lâu hoàn vốn…, những mua sắm chi tiêu của Chính phủ đã trở thành mục tiêu cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chứ kinh tế tài chính Do vậy, để điều chỉnh hoạt động nói trên ở hầu hết các nước tư bản đều có những luật mua sắm công dưới nhiều hình thức khác nhau Hoạt động đấu thầu đã xuất hiện rất sớm nhưng luật lệ liên quan đến đấu thầu
ra đời muộn hơn và đã xuất hiện đầu tiên ở Anh Khi Hiệp hội kỹ sư tư vấn quốc tế (FIDIC) thành lập thì quy trình đấu thầu ngày càng được hoàn thiện dần Ngày nay chúng ta có thể tìm thấy các quy định về đấu thầu ở các tổ chức quốc tế và ở các quốc gia khắp trên thế giới
Riêng ở Việt Nam thì sự hình thành của quy chế đấu thầu như sau:
Trang 13- 12/2/1990 có quy chế đấu thầu trong xây dựng do Bộ xây dựng ban hành
- 13/11/1992 có quy định về quản lý nhập khẩu máy móc thiết bị bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
- 3/1994 Bộ xây dựng ban hành quy chế đấu thầu xây lắp
16/4/1994 Quy chế đấu thầu đầu tiên của Việt Nam đã được ban hành (tư vấn, công trình xây lắp, máy móc thiết bị, đấu thầu dự án)
- 7/1996 quy chế này được sửa đổi, bổ sung (đấu thầu mua sắm máy móc thiết bị thành đấu thầu mua sắm hàng hoá, đấu thầu dự án thành đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án)
- 01/9/1999 quy chế được sửa đổi lần 2 và Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định
số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 về việc Ban hành Quy chế Đấu thầu
- 29/11/2005 Luật đấu thầu đầu tiên được thông qua bởi Quốc hội, cụ thể hóa bằng văn bản luật các quy chế đấu thầu đã công bố trước đây
- 26/11/2013 Luật đấu thầu mới đã được Quốc hội thông qua để thay thế cho Luật đấu thầu cũ năm 2005 và hiện đang có hiệu lực Tương ứng với Luật đấu thầu này thì ngày 26/6/2014 Chính phủ ban hành Nghị định Quy định chi tiết thi hành luật đấu thầu
1.1.1.3 Khái niệm đấu thầu
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án theo quy định của luật đấu thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế Công tác đấu thầu đảm bảo sự cạnh tranh công khai, lành mạnh và bình đẳng giữa các nhà thầu nhằm tạo cơ hội nhận hợp đồng trên cơ sở đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư trong hồ sơ mời thầu
Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo luật xây dựng định nghĩa như sau: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của Bên mời thầu Ở đây bên mua còn gọi là Bên mời thầu, bên bán còn
Trang 14gọi là các nhà thầu Bên mua sẽ cung cấp cho bên bán những yêu cầu (trong HSMT) Sau một thời gian cụ thể, bên bán phải trả lời người mua, bên bán phải nộp cho người mua bản chào hàng Tất cả những điều đó được thể hiện trong HSDT hay là đề xuất
dự thầu
Theo Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 thì Đấu thầu được định nghĩa
là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử
dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế
1.1.2 Đặc điểm của đấu thầu xây dựng
Đấu thầu là một hoạt động thương mại Trong đó bên dự thầu là các thương nhân có
đủ điều kiện và mục tiêu mà bên dự thầu hướng tới là lợi nhuận, còn bên mời thầu là xác lập được hợp đồng mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ với các điều kiện tốt nhất cho họ
Đấu thầu là một giai đoạn tiền hợp đồng Hoạt động đấu thầu luôn gắn với quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Trong nền kinh tế đấu thầu không diễn ra như một hoạt động độc lập, nó chỉ xuất hiện khi con người có nhu cầu mua sắm hàng hóa
và sử dụng dịch vụ Mục đích cuối cùng của đấu thầu là là giúp bên mời thầu tìm ra chủ thể có khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ với chất lượng và giá cả tốt nhất Sau khi quá trình đấu thầu hoàn tất, người trúng thầu sẽ cùng với người tổ chức đấu thầu đàm phán, để kí hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hay xây lắp công trình
Chủ thể tham gia quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ Theo Luật thương mại, trong hoạt động đấu thầu có thể xuất hiện bên thứ ba như các công ty tư vấn giúp lập hồ sơ mời thầu, chuyên gia giúp đỡ, đánh giá hồ sơ dự thầu Tuy nhiên đây là hoạt động không qua trung gian, không có thương nhân làm dịch vụ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân khác nhận thù lao Trong khi đó, Luật đấu thầu 2013 đã quy định
Trang 15được thành lập và chức năng thực hiện đấu thầu chuyên nghiệp.Việc thành lập và hoạt động của đại lí đấu thầu thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp Quan hệ đấu thầu luôn được xác lập giữa 1 bên mời thầu và nhiều bên dự thầu Nhưng vẫn có trường hợp ngoại lệ như trong trường hợp chỉ định đầu tư
1.2 Giới thiệu sơ bộ về đấu thầu qua mạng
1.2.1 Khái niệm về đấu thầu qua mạng
Đấu thầu qua mạng là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình đấu thầu bởi Chính phủ (Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia) nhằm kiểm soát những mối quan hệ
về đấu thầu với các nhà cung cấp và nhà thầu trong việc đấu thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ tư vấn Đấu thầu qua mạng sẽ dỡ bỏ khoảng cách địa lý về không gian và thời gian, cho phép cung cấp một luồng thông tin minh bạch và hiệu quả cùng quá trình thực hiện rộng rãi hơn
Các bên tham gia đấu thầu qua mạng phải thực hiện khai báo, đăng tải nội dung HSMT, nộp HSDT, thông báo kết quả đấu thầu… theo các mẫu được lập trình sẵn Việc sử dụng chữ ký điện tử có sự quản lý chặt chẽ của một cơ quan quản lý chung là điều bắt buộc trong quy trình thực hiện
1.2.2 Đặc điểm, vai trò của đấu thầu qua mạng
1.2.2.1 Đặc điểm
Hệ thống đấu thầu qua mạng với các chức năng quản lý hệ thống thông tin đấu thầu,
dự liệu thông tin nhà thầu, tổ chức thẩm định phê duyệt kế hoạch đấu thầu, HSMT, kết quả đấu thầu trực tuyến; quản lý việc thông báo mời thầu cùng hệ thống báo cáo thống kê tự động trên mạng giúp cho qua trình đấu thầu diễn ra công khai, đúng thủ tục quy trình trong luật đấu thầu, bảo mật an toàn thông tin, tiến từng bước đến áp dụng tác nghiệp đấu thầu qua mạng, góp phần giảm gánh nặng quản lý và chi phí trong công tác đấu thầu
Hệ thống đấu thầu qua mạng được phát triển trên nền wed thiết kế với giao diện thân thiện, hỗ trợ tính năng đa ngữ Với tiêu chí mang đến cho người dùng các tiện ích của
Trang 16mạng máy tính, mạng internet với một cách tiếp cận tự nhiên nhất, giúp họ có một phong cách làm việc hiện đại, hiệu quả, chuyên nghiệp Về mặt công nghệ, hệ thống đấu thầu qua mạng được xây dựng trên nền công nghệ Portal mã nguồn mở, kỹ thuật xây dựng portlet theo đúng chuẩn quốc tế JSR 168, có khả năng tương thích, mở rộng cao Về mặt kiến trúc hệ thống, toàn bộ phần mềm được thiết kế theo mô hình phân tầng (3-tiers) và triết lý MVC (Model View Controller) Về quy trình phát triển, hệ thống đấu thầu qua mạng là kết quả của việc áp dụng linh hoạt quy trình, đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của sản phẩm Về tính ứng dụng, hệ thống đấu thầu qua mạng cơ bản số hóa được quy trình nghiệp vụ đấu thầu, đảm bảo tính tin cậy và an toàn trong suốt quá trình thực hiện đầu thầu Về vấn đề bảo mật hệ thống được đảm bảo bởi các cơ chế xác nhận và chứng thực JAAS (Java Authentication and Authorization Service), đồng bộ hóa LDAP (Lightweight Directory Access Protocol)
và tích hợp cơ chế chứng thực JA-SIG (Out-of- the box Single Sign-On JA-SIG Central Authentication Service) do Portal mang lại Về an toàn truyền tin, tính tin cậy các thông tin được đảm bảo với chữ kí điện tử (digital signature) và giải pháp SSL VPN
Trang 171.2.3 Đối tượng tham gia trong hệ thống đấu thầu qua mạng
Trong một hệ thống đấu thầu qua mạng có 4 chủ thể tham gia và tương tác qua lại lẫn nhau là:
- Chủ đầu tư: Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ sở hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án Ở đây chủ đầu tư là bên đi mua, là đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước để mua sắm công (hoặc đối tượng bên ngoài áp dụng hình thức quản lý mua sắm bằng luật đấu thầu của Nhà nước)
- Nhà thầu: Nhà thầu là tổ chức, cá nhân có đủ tư cách hợp lệ theo quy định tại Điều
5 của Luật đấu thầu Ở đây nhà thầu là bên bán sản phẩm, dịch vụ, công nghệ đáp ứng các yêu cầu đưa ra của chủ đầu tư
- Cấp thẩm định: Cấp thẩm định là đơn vị quản lý Nhà nước về thực thi luật đấu thầu, thẩm định các thông tin trong hồ sơ đấu thầu
- Cấp phê duyệt: Cấp phê duyệt là cấp có thẩm quyền phê duyệt HSMT, kết quả đấu thầu
1.2.4 Thành phần trong hệ thống đấu thầu qua mạng
Một hệ thống đấu thầu qua mạng tiêu biểu bao gồm các thành phần:
- Thành phần đăng ký tài khoản người dùng và quản lý chứng thực cho toàn bộ người dùng
- Thành phần công bố thông tin đấu thầu: Bao gồm việc chuẩn bị kế hoạch đấu thầu, mời thầu, khả năng đưa và lấy dữ liệu đấu thầu về
- Thành phần tìm kiếm thông tin đấu thầu
Trang 181.2.5 Mô hình chức năng của hệ thống đấu thầu qua mạng
Hệ thống đấu thấu qua mạng bao gồm bốn thành phần chính, đấy là:
- Hệ thống đấu thầu điện tử (e-Tendering)
- Hệ thống mua bán trên mạng (e-Purchasing)
- Hệ thống quản lý hợp đồng điện tử (e-Contracting)
- Hệ thống thanh toán điện tử (e-Payment)
Các thành phần này là thành phần lõi trong hệ thống đấu thầu qua mạng, các thành phần tương tác với nhau theo chu trình khép kín từ đấu thầu điện tử rồi đến quản lý hợp đồng điện tử, tiếp đến là hệ thống mua bán trên mạng và cuối cùng là thành toán điện tử
Các đối tượng tương tác với hệ thống đấu thầu qua mạng là:
- Bên bán là các nhà thầu hay nhà cung cấp
- Bên mua là các đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước trong mua sắm công (đối tượng này có thể được mở rộng cho các đối tượng không sử dụng ngân sách Nhà nước nhưng muốn quản lý quá trình mua sắm theo luật đấu thầu mua sắm háng hóa)
- Bộ phận vận hành hệ thống: là bộ phận thuộc Bộ KHĐT trực tiếp quản lý vận hành
hệ thống mua sắm điện tử
Liên kết với hệ thống là các cơ quan Nhà nước quản lý các vấn đề về cấp chứng chỉ
số, quản lý cơ sở hạ tầng CNTT, quản lý mua sắm hàng hóa tập trung, giám sát hoạt động của hệ thống tương ứng với các cơ quan: Trung tâm chứng thực số quốc gia (thành lập trong năm 2008), Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Tài chính
Hệ thống mua sắm điện tử phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu chức năng như trong chu trình mua sắm như trên Mô hình sau mô tả các thành phần chính của hệ thống mua sắm điện tử cùng với các mối tương quan với các bộ phận chức năng khác
Trang 19Hệ thống đấu thầu điện tử:
Đăng ký người dùng và phát hành chứng chỉ chữ ký số: Cho phép đăng ký sử dụng
hệ thống, cấp phát định danh, mật khẩu và phát hành chứng chỉ chữ ký số cho tất cả người dùng trong hệ thống
- Chức năng chuẩn bị đấu thầu qua mạng: Cho phép chuẩn bị HSMT, thư mời thầu, công bố thông tin mời thầu
- Chức năng nộp HSDT qua mạng: Cho phép chuẩn bị và nộp HSDT qua mạng
- Chức năng mở thầu qua mạng: Cho phép mở các HSDT qua mạng
- Chức năng đánh giá HSDT qua mạng: Cho phép đánh giá HSDT, xếp hạng và lựa chọn nhà thầu trúng thầu qua mạng
- Chức năng công bố kết quả đấu thầu qua mạng: Cho phép công bố kết quả đấu thầu qua mạng
- Chức năng tìm kiếm qua mạng: Tìm kiếm các thông tin liên quan đến đấu thầu qua mạng
- Chức năng quản lý nhà thầu: Thiết lập cơ sở dữ liệu nhà thầu và quản lý năng lực các nhà thầu
Hệ thống quản lý hợp đồng điện tử:
- Chức năng soạn thảo hợp đồng: Cho phép lựa chọn mẫu hợp đồng, soạn thảo nội
dung hợp đồng để ký hợp đồng thông qua môi trường mạng
- Chức năng xem xét hợp đồng: Cho phép các bên xem xét lại các điều khoản của hợp đồng, chỉnh sửa nội dung trong hợp đồng để thống nhất hợp đồng thông qua môi trường mạng
- Chức năng ký kết hợp đồng: Cho phép kiểm tra các điều khoản bảo đảm thực hiện hợp đồng và ký kết hợp đồng thông qua môi trường mạng
- Quản lý thực hiện hợp đồng: Cho phép kiểm tra giám sát quá trình thực hiện hợp đồng qua môi trường mạng
Hệ thống mua sắm qua mạng (e-Purchasing - áp dụng cho mua sắm công)
Trang 20- Chức năng tìm kiếm hàng hóa qua mạng: Cho phép các đơn vị thực hiện mua sắm công tìm kiếm chủng loại hàng hóa, giá cả và các thông tin chi tiết về hàng hóa
- Chức năng đăng ký hàng hóa: Chức năng đăng ký, xóa, duyệt danh mục các loại hàng hóa cần mua qua mạng
- Chức năng đăng tải hình ảnh, tài liệu đính kèm và các thông tin cần thiết cho các sản phẩm (e-Catalogue)
- Chức năng duyệt mua các sản phẩm đăng ký
- Chức năng yêu cầu gửi hàng: Các đơn vị thực hiện mua sắm công lựa chọn nhà cung cấp, đăng ký số lượng và yêu cầu gửi hàng
- Chức năng quản lý gửi hàng: Quản lý các hàng hóa được gửi
Hệ thống thanh toán qua mạng:
- Chức năng quản lý nhận/kiểm tra: Chức năng cho phép kiểm tra tiến độ thực hiện Hợp đồng/Đơn hàng như đã thực hiện hay chưa, đang thực hiện hay đã hoàn thành
- Chức năng quản lý thanh toán trong quá trình thực hiện hoặc sau khi hoàn thành thực hiện hợp đồng/đơn hàng
- Quản lý yêu cầu thanh toán
- Quản lý hóa đơn thanh toán trong quá trình thực hiện hoặc sau khi hoàn thành thực hiện hợp đồng/đơn hàng
- Tích hợp với các hệ thống thông tin tài chính, kiểm tra các loại thuế liên quan
- Quản lý việc hoàn tiền: Quản lý việc hoàn trả tiền trong trường hợp giá thực hiện hợp đồng/đơn hàng thay đổi
1.3 P hân tích thực trạng đấu thầu dự án giao thông ở Việt Nam
1.3.1 Thực trạng đấu thầu các dự án giao thông ở Việt Nam trong thời gian qua
Trong “thời bao cấp”, trước 1986, xây dựng giao thông nước ta được thực hiện theo
Kế hoạch Nhà nước Toàn bộ kinh phí đầu tư xây dựng giao thông đều do Ngân sách Nhà nước đảm bảo Việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng các công trình giao thông cũng gần như chỉ có khu vực Kinh tế Quốc doanh Trong thời kỳ đó, hoạt động xây
Trang 21dựng giao thông được tiến hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung với sự cấp phát
gần như 100% của Nhà nước được gọi là “cơ chế xin cho”
Đến thời kỳ “mở cửa”, thực sự bắt đầu từ sau năm 1990, hoạt động đầu tư xây dựng
giao thông đã có sự thay đổi đáng kể Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng và đầu tư rất lớn cho phát triển năng lực giao thông Tổng số vốn đầu tư xây dựng của Ngân sách Nhà nước cho ngành giao thông vận tải đã tăng Trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến 1998 vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản giao thông là 18.030,2 tỷ đồng Trong đó, đầu tư cho xây dựng cơ bản giao thông đường bộ là 14.272,7 tỷ đổng, bằng gần 80% ngân sách Nhà nước giành cho xây dựng cơ bản ngành giao thông vận tải
Trong khoảng thời gian 15 năm từ 1991 - 2006, hàng trăm cây cầu đã được xây dựng như: Tại Nam Định đã xây dựng cây cầu Tân Đệ (1999-2002); Tại Nghệ An đã xây dựng các cây cầu Sông Hiếu (1994-1996), Đô Lương (1996-1998), cầu Dinh (2001-2003); tại Quảng Bình đã xây dựng các cầu Trường Hà, Cầu Quán (1996-2000), cảng
cá sông Gianh (1998-2000), cầu Sảo Phong (1999-2001); tại Quảng Trị đã xây dựng các cây cầu Hiền Lương (1995-1998), Thạch Hãn, Sư Lỗ, Lăng Cô, Tam Kỳ, Đakrông (1999-2001) Trong số đó điển hình là cây cầu Mỹ Thuận (cầu dây văng đầu tiên của nước ta dài 1.535 m, rộng 24 m, có nhịp lớn nhất 350 m) và đã được khánh thành, đưa vào sử dụng từ tháng 5 năm 2000
Bên cạnh vốn đầu tư của Ngân sách Nhà nước cho phát triển hệ thống giao thông, Nhà nước ta còn cho phép và huy động các nguổn vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức viện trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp (FDI) và hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) vào cải tạo, nâng cấp và phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Vốn tài trợ cho xây dựng giao thông trong những năm này, tuy không lớn, nhưng cũng góp phần quan trọng vào viêc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giao thông trên cả nước mà tiêu biểu là dự án xây dựng cầu Mỹ Thuận, vốn tài trợ của Australia, đã được xây dựng và khánh thành vào tháng 5 năm 2000 là một minh chứng
Trang 22Bộ Giao thông vận tải được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới đã triển khai hai dự án Giao thông nông thôn GTNT1 (còn gọi là WB1) và GTNT2 (còn gọi là WB2) Dự
án GTNT1 (1997-2000) đã cải tạo và nâng cấp được 4.771 km đường (gổm 4.422 km đường huyện, 349 km đường xã), 9.694 m cầu, với kinh phí 55,7 triệu USD (tương đương 760 tỷ VNĐ) và Dự án GTNT2 (2000-2004) sẽ cải tạo, nâng cấp 13.000 km đường và 5.000 m cầu với kinh phí 145,3 triệu USD
Riêng trong giai đoạn 2009-2011 đã hoàn thành xây dựng, nâng cấp cải tạo các quốc
lộ 22, QL70, QL6, QL2, QL4A, QL4B, QL4C, cầu Rạch Miễu, cầu Đồng Nai; hoàn thành xây dựng và đưa vào khai thác cao tốc HCM – Trung Lương, đại lộ Thăng Long, cầu Cần Thơ, cầu Thanh Trì, cầu Pá Uôn, cầu Hàm Luông, cầu Phùng; cao tốc Giẽ - Ninh Bình, đường Nam Sông Hậu, cầu Ngọc Tháp, hợp long cầu Đầm Cùng, thông xe các cầu trên QL1 đoạn Cần Thơ – Năm Căn,
Hệ thống giao thông đường sắt từng bước được cải tạo nâng cấp nâng cao an toàn và rút ngắn thời gian chạy tàu (42h xuống còn 29h trên tuyến Thống Nhất, 10h xuống còn 8h trên tuyến Hà Nội – Lào Cai); triển khai dự án đường sắt Yên Viên – Phả Lại – Hạ Long – Cái Lân, nâng cấp một số cầu yếu
Đã hoàn thành nâng cấp 2 tuyến đường thủy phía Nam (thành phố Hồ Chí Minh – Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh – Kiên Lương), vận tải thủy phục vụ thủy điện Sơn La, tuyến vận tải thủy Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên; các tuyến sông chính yếu khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và Đồng bằng Sông Hồng cũng từng bước được cải tạo, tăng cường quản lý bảo trì đáp ứng tốt nhu cầu chạy tàu
Tóm lại, xây dựng giao thông Việt Nam trong những năm vừa qua diễn ra hết sức sôi động Trong quá trình đó, có rất nhiều nhân tố mới như sự gia tăng của đầu tư trực tiếp của nước ngoài, sự hỗ trợ giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế Điều đó vừa tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung, cho xây dựng phát triển giao thông nói riêng Nó đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải nâng cao năng lực, nâng cao hiểu biết quốc tế mới ngày càng lợi dụng cơ hội và thách thức đó Ngay đối
Trang 23với hoạt động đấu thầu, nhân tố mới này đã buộc chúng ta phải nhanh chóng chuyển
đổi cơ chế quản lý từ cơ chế cũ “cơ chế xin cho” sang cơ chế “đấu thầu”.
Với tìnhhình đầu tư phát triển giao thông ở Việt Nam, hoạt động đấu thầu nói chung, đấu thầu xây dựng các công trình giao thông ở Việt Nam cũng diễn ra hết sức rộng rãi và trở thành một hoạt động xã hội phổ biến
Bảng 1 - 1: Tổng hợp kết quả đấu thầu các dự án sử dụng vốn
Nhà nước tại Bộ Giao thông vận tải Năm Tổng số Tổng giá trị gói thầu (tỷ đồng) Giá trị trung bình một gói thầu (tỷ đồng)
Trang 24Hình 1 - 1 : Số lượng gói thầu qua các năm
Hình 1 - 2 : Giá trị trung bình một gói thầu qua các năm
Trang 25Bảng 1 - 2: Số liệu năm 2016 theo lĩnh vực đấu thầu
Chi phí gói thầu Tổng số Tổng giá gói thầu số gói Tổng
thầu
Tổng giá gói thầu
Tổng
số gói thầu
Tổng giá gói thầu gói thầu Tổng số Tổng giá gói thầu
Hoạt động đấu thầu nói chung, đấu thầu xây dựng các công trình giao thông ở nước
ta đã đạt được một số thành tích nhất định Trước hết, có thể nói rằng chất lượng đấu thầu xây dựng giao thông ở Việt Nam thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Theo đánh giá tổng quát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong báo cáo tổng kết đánh giá hoạt động đấu thầu:
- Hệ thống pháp lý về đấu thầu đã được hình thành và luôn được hoàn chỉnh cho phù hợp
- Hiệu quả đạt được trong đấu thầu là rõ rệt
- Năng lực cán bộ, nhà thầu Việt Nam được nâng cao
- Công tác đấu thầu đã được toàn xã hội quan tâm”
Đến nay, sau một số năm thực hiện Quy chế đấu thầu, chúng ta đã có một sự trưởng thành đáng kể Chúng ta đã đủ sức để tự xây dựng các văn bản quy định về đấu thầu
Trang 26(như Nghị định, Pháp lệnh về đấu thầu) Một số Bộ, Tổng công ty đã tự xây dựng các quy trình đấu thầu, mẫu biểu để áp dụng thống nhất trong phạm vi của mình
Đội ngũ Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án măc dù còn những tồn tại, song so với trước đây đã trưởng thành nhiều trong việc tổ chức các cuộc đấu thầu, đánh giá lựa chọn nhà thầu ký hợp đồng
Đặc biệt các nhà thầu Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng kể Từ chỗ nhà thầu Việt Nam chỉ làm thầu phụ cho nhà thầu nước ngoài, sau đó tham gia liên danh với tỷ lệ nhỏ nay trong phần lớn các cuộc đấu thầu Quốc tế công trình xây lắp, nhà thầu Việt Nam đã giành thắng lợi trúng thầu một cách độc lập
Sự trưởng thành của Nhà thầu Việt Nam còn vượt ra ngoài phạm vi quốc gia Nhà thầu Việt Nam đã trúng thầu ở Lào, Campuchia, Philipines Một số nhà thầu đủ sức đảm đương chức nặng là tổng thầu EPC (làm cả các công việc thuộc lĩnh vực tư vấn, cung cấp hàng hoá và xây lắp
Chất lượng các công trình xây dựng giao thông, tiến độ thực hiện các gói thầu chưa đảm bảo, kinh phí thực tế cao hơn giá trúng thầu ở nhiều dự án, nhiều gói thầu
Để thắng thầu, bên mời thầu đã chú trọng đến việc đảm bảo tính khả thi của các dự
án, công trình xây dựng sau khi đấu thầu Chính vì vây nhiều bên mời thầu đã chú trọng đến việc rà soát năng lực của các nhà thầu tham dự thầu Hơn thế nữa, nhiều chủ đầu tư, bên mời thầu đã rất xem trọng đến khả năng thực hiện công trình, dự án của các nhà thầu cả trên sổ sách, hồ sơ và trên thực địa Chính vì vây, tính khả thi của nhiều hồ sơ dự thầu đã được đảm bảo Do đó, có nhiều nhà thầu đã đảm bảo thực hiện gói thầu như đã cam kết
Tuy nhiên, chất lượng nhiều công trình giao thông sau khi thực hiện còn thấp Nhiều công trình sau khi xây dựng xong, chưa kịp bàn giao đã có biểu hiện kém chất lượng như lún, sụt, đứt gẫy nền đường, mặt cầu Tiến độ thực hiện nhiều dự án còn chậm, trong đó có dự án chậm 20 - 30 tháng Kinh phí thực hiện nhiều công trình giao thông
Trang 27Qua báo cáo giám sát quá trình thực hiện một số gói thầu xây dựng giao thông đã được tổ chức công khai trong thời gian qua, có những hiện tượng chậm tiến độ, thực chi vượt so với giá trúng thầu khá cao Có trường hợp phải điều chỉnh nhiều lần mới hoàn thành được công trình Đó có thể là do khi đấu thầu, phương án do một số nhà thầu đưa ra chưa được thực sự khả thi Khi xét thầu, bên mời thầu đã chưa xem xét
kỹ dẫn đến hiện tượng bỏ sót chưa đánh giá đúng thực lực hoàn thành công trình của nhà thầu, đã trao cho họ quyền thực thi gói thầu Đến khi triển khai, việc chậm tiến
độ, chi quá mức dự kiến ban đầu không thể khắc phục được Trước tình hình đó, cách tốt nhất là Chủ đầu tư phải xuất thêm vốn để thực hiện gói thầu Có trường hợp sau một thời gian thực hiện nhà thầu không thể thực hiện công trình đã đề nghị chủ đầu
tư cho phép rút khỏi công trình
Những năm qua, đấu thầu xây dựng các công trình giao thông ở Việt Nam áp dụng phổ biến các hình thức đấu thầu không phải là đấu thầu rộng rãi đã hạn chế chất lượng đấu thầu
Bảng 1 - 3: Theo hình thức lực chọn nhà thầu (số liệu năm 2016)
Trang 28Theo tài liệu năm 2016, 22.27% là đấu thầu dưới hình thức đấu thầu rộng rãi, 77.72%
là các hình thức đấu thầu còn lại như đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh và mua sắm trực tiếp Đây là một phần nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng tiêu cực
Hoạt động đấu thầu, đấu thầu xây dựng các công trình giao thông thời gian qua đã tiết kiệm vốn của ngân sách Nhà nước, tuy nhiên chiều hướng tiết kiệm giảm đi và có
một số khiếm khuyết cần khắc phục
Xem xét tỷ lệ và mức tiết kiệm trong đấu thầu sử dụng các nguồn vốn ngân sách Nhà nước theo các hình thức đấu thầu ta thấy rằng chỉ có hình thức đấu thầu rộng rãi là
có tỷ lệ tiết kiệm và mức tiết kiệm là lớn nhất Các hình thức đấu thầu khác như đấu
thầu hạn chế, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh và tự thực hiện đều có tỷ lệ tiết kiệm và mức tiết kiệm rất thấp Nói cách khác, đấu thầu càng rộng rãi, mức độ cạnh tranh càng cao, và do đó hiệu quả cũng sẽ nâng lên
Trong quá trình đấu thầu nhiều năm qua, nhiều nhà thầu vi phạm luật pháp trong đấu thầu đã bị phát hiện và bị xử lý Tình trạng vi phạm trong đấu thầu của các nhà thầu cũng xảy ra nhiều và bị bên mời thầu phát hiện trong quá trình đấu thầu Với những trường hợp sai phạm rõ ràng như sao chép hồ sơ dự thầu, sửa chữa hồ sơ dự thầu của một số nhà thầu nên hồ sơ dự thầu khi đem ra đánh giá thấy rất giống nhau, thậm chí sai cả dấu chính tả, và sai số học giống nhau Điều đó được các bên mời thầu đánh giá rằng họ có biểu hiện thông đồng rõ ràng phải bị đình chỉ tham dự đấu thầu các gói thầu do Bộ Giao thông vận tải tổ chức
Theo danh sách do Bộ GTVT công bố vào đầu năm 2016, trong tổng số 480 nhà thầu xây lắp được đánh giá có tới 26 nhà thầu nằm trong danh sách “chưa đáp ứng yêu
cầu”, 48 nhà thầu ở mức độ “trung bình” và 406 nhà thầu nằm trong nhóm “đáp ứng yêu cầu”
Trang 29Đáng chú ý, 26 nhà thầu xây lắp nằm trong “danh sách đen” của Bộ GTVT, ngoài
những cái tên khá lạ, có 4 công ty Hàn Quốc gồm Keangnam Enterprises, Samwhan Corporation, Kukdong và Halla Corporation
Một loạt tổng công ty xây dựng có tên tuổi cũng bị đưa vào danh sách này như: Tổng công ty Xây dựng đường thủy (Vinawaco); Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 (Cienco8); Tổng công ty Xây dựng Sông Hồng; Tổng công ty Xây dựng
Bạch Đằng; Tổng công ty Đầu tư phát triển Đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam (Idico)
Bộ GTVT công bố danh sách kể trên căn cứ trên cơ sở tổng hợp của nhà đầu tư, đánh giá tình hình thực hiện của nhà thầu xây lắp trong năm 2015 Các tiêu chí đánh giá
dựa trên những diễn biến thực tiễn trên hiện trường như: Công tác huy động tài chính, máy móc; khả năng đáp ứng yêu cầu về tiến độ, chất lượng công trình; an toàn lao động; giải quyết các thủ tục thanh toán, nghiệm thu và việc thực hiện trách nhiệm
bảo hành công trình
Hiện tượng vi phạm quy chế đấu thầu tại các địa phương khi tham dự đấu thầu các gói thầu xây dựng giao thông trong thời gian qua cũng có diễn biến phức tạp và khó phát hiện Công tác thanh tra, kiểm tra chưa được chú trọng Nhiều địa phương đã phát hiện và có những quyết định đình chỉ tham dự thầu các gói thầu xây dựng giao thông, nhưng chưa được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Nhưng, trên trang Web của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong nhiều năm qua đã không phản ánh hoặc có nêu cũng chỉ nêu tên quyết định xử phạt, người ký quyết định xử phạt, nhưng lại không nêu tên nhà thầu vi phạm Gần đây, trang này đã ghi rõ tên nhà thầu vi phạm và mức độ xử lý
Mặc dù chất lượng đấu thầu xây dựng các công trình giao thông ở nước ta thời gian qua đã có những bước tiến đáng kể nhưng đánh giá chung chất lượng đấu thầu xây dựng các công trình giao thông ở nước ta còn thấp Đấu thầu xây dựng các công trình xây dựng giao thông trong thời gian qua còn mắc phải nhiều thiếu sót phổ biến như:
Trang 30ngược lại các hình thức lựa chọn nhà thầu khác như chỉ định thầu, đấu thầu hạn chế lại được coi là chủ yếu; chất lượng các công trình xây dựng giao thông sau đấu thầu chưa đảm bảo Tiến độ thực hiện các công trình giao thông chậm so với cam kết khi đấu thầu Giá trúng thầu đảm bảo các yêu cầu khi xét chọn, tức là giá dự thầu ở cùng một mặt bằng là thấp nhất và thấp hơn giá gói thầu nhưng khi thực hiện lại cao hơn nhiều so với giá gói thầu
1.3.3 Phân tích thực trạng đấu thầu các dự án giao thông ở Việt Nam
1.3.3.1 Thực trạng các yếu tố sẵn có phục vụ cho việc triển khai đấu thầu qua mạng
ở Việt Nam
Thực trạng các yếu tố sẵn có ở Việt Nam phục vụ cho việc triển khai đấu thầu qua mạng sẽ được đánh giá theo các mức độ từ 1 đến 4 (tùy hiện trạng của mỗi yếu tố) với các dấu hiệu, bằng chứng, chứng minh cụ thể Trong đó, nếu:
- Ở mức độ 1: Không có yếu tố được đề cập đến hay không được biểu hiện, thực hiện
- Ở mức độ 4: Có đầy đủ các dấu hiệu thể hiện được yêu cầu đề ra và nhận biết được đầy đủ, hoàn toàn, sẵn sàng để triển khai ngay đấu thầu qua mạng
* Về quyết tâm thực hiện của Chính phủ:
Các nghiên cứu về sự thành công triển khai đấu thầu qua mạng của các nước đều chỉ
ra nhân tố sự quyết tâm của Chính phủ với vai trò cung cấp ngân sách, tài nguyên, kế hoạch và quản lý, hỗ trợ thực hiện để tạo ra một môi trường cho một phương thức
Trang 31đấu thầu mới hoạt động hiệu quả là rất quan trọng Sự quyết tâm của Chính phủ Việt Nam được thể hiện qua các điểm sau:
- Quyết định số 1402/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch tổng thể và lộ trình áp dụng đấu thầu qua mạng giai đoạn 2016 – 2025
- Các kế hoạch xây dựng các luật, chính sách, nghị định liên quan, chuẩn hóa các tài liệu và quy trình đấu thầu đang tiếp tục thực hiện hoàn thiện theo thời gian
- Đã có Cục chuyên trách về quản lý đấu thầu trực thuộc Bộ KHĐT thực hiện các công việc có liên quan đến quản lý Nhà nước về đấu thầu
- Công tác đào tạo về Luật và các nghị định về đấu thầu được thực hiện rộng khắp cho các đối tượng có nhu cầu tham gia
- Đánh giá mức độ sẵn sàng ở mức 3
* Về công tác xây dựng đội ngũ nhân lực đấu thầu:
- Cục Quản lý đấu thầu – Bộ KHĐT đã kết hợp với các Viện nghiên cứu, các Công
ty, các tổ chức có đủ điều kiện đào tạo và đưa ra một chương trình chuyên biệt về đấu thầu - khóa học 3 ngày – đáp ứng nhu cầu của các tổ chức Đây là yếu tố tích cực khi chuyển đổi sang mô hình mới cần có các khóa đào tạo về các kỹ năng đấu thầu mới
- Đánh giá mức độ sẵn sàng ở mức 3
* Về kế hoạch và lộ trình xây dựng đấu thầu qua mạng:
- Chỉ mới đề cập đến nhưng chưa có một chiến lược tổng thể, lộ trình áp dụng, các tiêu chuẩn áp dụng, phạm vi áp dụng cho hệ thống đấu thầu được ban hành và thể chế bằng các văn bản pháp luật
- Đánh giá về mức độ sẵn sàng ở mức 2
* Về chính sách:
Trang 32- Đã có các kế hoạch phát triển định hướng cho TMĐT, Chính phủ điện tử Tuy nhiên các kế hoạch này đều ở dạng rời rạc, chưa có sự tích hợp và thống nhất về một định hướng chung giữa hệ thống đấu thầu qua mạng với Chính phủ điện tử
- Đánh giá về mặt chính sách, mức độ sẵn sàng chỉ ở mức 2
* Về luật pháp và các nguyên tắc cơ bản trong đấu thầu:
- Về hoạt động đấu thầu qua mạng Luật Đấu thầu hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc quy định đăng tải thông tin mà chưa có quy định cụ thể về đấu thầu qua mạng Khi xây dựng luật đấu thầu với mục tiêu đảm bảo các nguyên tắc cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên cần có các dữ liệu cập nhật đầy đủ và thông tin đánh giá các tiêu chí trên, từ đó sẽ giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước đưa các chính sách và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn Đồng thời cần có các thông tin chỉ báo đánh giá sự tuân thủ luật pháp khi thực thi theo đúng các điều luật đã đề ra
- Về các Luật điều chỉnh giao dịch TMĐT hiện nay So sánh với bộ khung luật về TMĐT, hiện nay chúng ta còn thiếu các luật liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong TMĐT, bảo vệ người tiêu dùng trong TMĐT, xử lý các tranh chấp trong TMĐT
- Bộ Kế hoạch đầu tư và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 08/09/2015 quy định chi tiết việc cung cấp đăng tải thông tin về đầu thầu và lựa chọn nhà thầu qua mạng
- Đánh giá mức độ sẵn sàng ở mức 3
* Về hiện trạng của trang web đấu thầu Việt Nam
- Theo đánh giá thì hiện tại mức độ đáp ứng chỉ dừng lại mức 2
- Hiện tại chưa quản lý hết được thông tin nhà thầu, thông tin chủ đầu tư
- Một vài Bộ ban ngành đăng tải thêm thông tin đấu thầu trên hệ thống riêng của đơn
Trang 33- Các nhà thầu bắt đầu có một kênh tiếp cận thông tin đấu thầu thông qua trang web đấu thầu của Bộ KHĐT và tờ báo Đấu thầu quốc gia Tuy nhiên do nhiều yếu tố liên quan đến quyền lợi của các bên, việc tuân thủ chưa được thực hiện một cách nghiêm ngặt
- Trang web chuyên về đấu thầu www.dauthau.mpi.gov.vn là chính là tiền đề cho quá trình thực hiện và triển khai đấu thầu qua mạng sau này
* Các yếu tố liên quan khác
- Các tiêu chuẩn nền tảng được ban hành đảm bảo cho hệ thống hoạt động: Một tiêu chí quan trọng nhất khi xây dựng hệ thống đấu thầu qua mạng chính là khả năng tương thích và truy cập rộng rãi hay chính là hệ thống được xây dựng trên các chuẩn
mở Một hệ thống TMĐT chung hay hệ thống đấu thầu qua mạng riêng biệt đều có phân vùng tiêu chuẩn áp dụng để làm nền tảng hoạt động: chuẩn về Luật pháp; chuẩn
về danh mục hàng hóa; chuẩn về hệ thống mở; chuẩn về xác thực và bảo mật Về chuẩn luật pháp đã được đề cập ở mục trên; đối với danh mục hàng hóa, lựa chọn một tiêu chuẩn đảm bảo các yếu tố như chi phí duy trì; chuẩn quốc tế công nhận và mục đích sử dụng để phân tích thống kê chính là nhân tố quyết định Chuẩn trong hệ thống mở đảm bảo các nguyên tắc quy trình nào sẽ tích hợp trong hệ thống, phạm vi hoạt động ứng dụng của hệ thống, khả năng của công nghệ thực hiện, yêu cầu hoạt động Đánh giá mức độ đang ở mức 2
- Đánh giá về mức độ đáp ứng của nhà cung cấp chứng thực số (Certificate Authority
- CA) tại Việt Nam cho TMĐT hay đấu thầu qua mạng chỉ ở mức sẵn sàng 2
- Một yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của dự án là sự tham gia của nhà thầu nhà cung cấp hàng hóa với vai trò là một thành phần trong hệ thống đấu thầu mới Do đó cần xây dựng một kế hoạch lôi kéo, thu hút sự tham gia tích cực của các nhà thầu, dựa trên sự tin cậy vào các quy trình đấu thầu mới với các tiêu chí cạnh tranh, công bằng minh bạch Đánh giá yếu tố tham gia của các nhà thầu chỉ ở mức 1
Trang 34Bảng 1 - 4: Tổng hợp bảng đánh giá các tiêu chí của Việt Nam
2 Công tác xây dựng đội ngũ nhân lực đấu thầu 3
3 Kế hoạch và lộ trình xây dựng đấu thầu qua mạng 2
5 Về luật pháp và các nguyên tắc cơ bản trong đấu thầu 3
7 Về hiện trạng của trang web đấu thầu Việt Nam 2
8 Các tiêu chuẩn áp dụng để làm nền tảng hoạt động 2
9 Nhà cung cấp chứng thực số (Certificate Authority - CA) 2
1.3.3.2 Hiện trạng ứng dụng TMĐT trong công tác đấu thầu
Ứng dụng CNTT trong mua sắm công ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc trao đổi thư điện tử giữa MPI và các nhà thầu đăng thông tin trên trang web công bố thông tin đấu thầu của MPI (www.dauthau.mpi.gov.vn), và một số trang web khác Các trang web này chỉ đơn giản là tập trung thông tin đấu thầu trên toàn quốc vào một nơi
để tạo thuận lợi cho các nhà thầu trong việc tìm kiếm thông tin với chi phí rẻ hơn, chưa có ứng dụng TMĐT thực sự trong việc đấu thầu ở Việt Nam hiện nay
Thực tế khảo sát các ứng dụng này cho thấy các đặc điểm chung như sau:
Các trang web đấu thầu hiện tại mới chỉ dừng lại ở mức đăng tải thông tin gói thầu, thông tin mời thầu, và công bố thông tin nhà thầu trúng thầu Nó chỉ thực hiện được một số chức năng rất nhỏ trong quy trình đấu thầu nêu trên
Trang 35Hoàn toàn thiếu các module căn bản của một hệ thống đấu thầu điện tử như module quản lý người dùng, module chuẩn bị thông tin mời thầu, module chuẩn bị thông tin
dự thầu và nộp hồ sơ thầu (e-Tender), module quản lý catalogue (e-Catalogue) module đấu giá (e-Auction), module thanh toán trực tuyến (e-Pay), module đánh giá thầu
Ngoài việc thiếu các chức năng như đã nêu trên, các ứng dụng này thường hoạt động không ổn định, chậm, ít được cập nhật thông tin, giao diện kém, tính an ninh bảo mật rất thấp
Trên cơ sở khảo sát hiện trạng trên, việc đầu tư xây dựng một hệ thống đấu thầu qua mạng hiên nay là một việc làm cấp thiết Nó đáp ứng được xu thế phát triển Chính phủ điện tử và TMĐT và hỗ trợ cho quá trình cải cách hành chính của đất nước Từ
đó góp phần nâng cao năng lực quản lý và điều hành đất nước, đảm bảo quá trình mua sắm công đươc công khai, minh bạch và hiệu quả
* Một ví dụ điển hình về gói thầu thành công áp dụng đấu thầu qua mạng
Công ty Điện lực Bà Rịa - Vũng Tàu (bên mời thầu - BMT) vừa công bố kết quả lựa chọn nhà thầu (LCNT) Gói thầu số 5: Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị công trình thuộc Công trình “Xây dựng Cáp ngầm trung thế lộ ra 22KV Trạm biến áp 110/22KV - 63MVA Thắng Tam máy 2
Áp dụng đấu thầu qua mạng với sự tham gia của nhiều nhà thầu đã giúp Gói thầu Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị công trình có tính cạnh tranh cao, đạt tỷ lệ tiết kiệm lớn
Đáng chú ý, với việc LCNT theo hình thức đấu thầu qua mạng (ĐTQM) với 9 nhà thầu tham gia gói thầu xây lắp trị giá hơn 15 tỷ đồng này đã tiết kiệm được gần 4 tỷ đồng (đạt tỷ lệ gần 26%) Gói thầu nêu trên được BMT tổ chức LCNT theo hình thức đấu thầu rộng rãi trong nước trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
Trang 36Tính đến thời điểm đóng, mở thầu, đã có 9 nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu điện tử HSDT) tham gia Gói thầu Cụ thể là Liên danh Công ty TNHH Điện Kỹ nghệ Đại Việt - Sông Bé Electric (Liên danh Đại Việt - Sông Bé); Công ty CP Điện Cơ (nhà thầu Điện Cơ); Công ty TNHH Xây lắp điện Hưng Thịnh Phát (nhà thầu Hưng Thịnh Phát); Công ty Xây dựng Thương mại Trường Hải (nhà thầu Trường Hải); Công ty
(e-CP Dịch vụ Xây lắp Hạ tầng (nhà thầu Xây lắp Hạ tầng); Công ty TNHH Tâm Tiến (nhà thầu Tâm Tiến); Công ty TNHH Kỹ thuật điện Hùng Việt (nhà thầu Hùng Việt); Liên danh Công ty CP Sản xuất Thương mại và Xây dựng điện Miền Đông - Công ty TNHH Xây dựng điện - Thương mại Phương Đông (liên danh Miền Đông - Phương Đông); Liên danh Công ty CP Bê tông ly tâm Nha Trang - Công ty TNHH Thành Phát (liên danh Nha Trang - Thành Phát)
Theo đánh giá của Tổ chuyên gia, qua quá trình kiểm tra và đánh giá tính hợp lệ của e-HSDT, có 2 nhà thầu là Tâm Tiến và Hùng Việt có e-HSDT không hợp lệ Nhà thầu Tâm Tiến không có đơn dự thầu đính kèm e-HSDT Nhà thầu Hùng Việt không
có e-HSDT Khi đánh giá về năng lực, kinh nghiệm, cả 3 nhà thầu (Hưng Thịnh Phát, Xây lắp Hạ tầng, liên danh Nha Trang - Thành Phát) đều không đạt do không có hợp đồng tương tự đáp ứng yêu cầu
Kết quả đánh giá về tài chính cho thấy, chỉ còn 4 nhà thầu (Liên danh Đại Việt - Sông Bé; nhà thầu Điện Cơ; nhà thầu Trường Hải; Liên danh Miền Đông - Phương Đông) cạnh tranh về tài chính Tổ chuyên gia kết luận: giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch, không tính dự phòng của liên danh Miền Đông - Phương Đông được xếp hạng 1 do có giá thấp nhất (10.64 tỷ đồng) Như vậy, cùng với giá dự phòng Liên danh này đã trúng thầu Gói thầu số 5 với giá dự thầu 11.172 tỷ đồng, đạt tỷ lệ tiết kiệm gần 26%, một tỷ lệ tiết kiệm khá lớn đối với gói thầu xây lắp
Ông Nguyễn Văn Hùng, cán bộ Phòng Quản lý đầu tư thuộc Công ty Điện lực Bà Rịa
- Vũng Tàu cho biết, quá trình LCNT bằng hình thức ĐTQM đã mang lại nhiều lợi ích cho bên mời thầu, nhà thầu Sự tham gia của nhiều nhà thầu sẽ giúp gói thầu có tính cạnh tranh cao hơn, các bên không tiếp xúc với nhau trong quá trình tổ chức đấu
Trang 37thầu dẫn đến sự minh bạch cũng lớn hơn Ngay cả với những trường hợp chỉ có 1-2 nhà thầu tham dự, theo cán bộ này, thì vẫn đảm bảo sự minh bạch, bởi trước thời điểm đóng, mở thầu, cả bên mời thầu và nhà thầu đều không dự đoán được có bao nhiêu nhà thầu tham gia, mọi việc đều rất khách quan “Có những gói thầu khi lần đầu tiên chúng tôi tổ chức LCNT thì không có nhà thầu tham dự do có thể thời điểm
đó các nhà thầu không biết, tuy nhiên, sau đó chúng tôi lại tổ chức LCNT qua mạng chính gói thầu đó lần 2 thì lại có rất nhiều nhà thầu quan tâm tham gia” - ông Hùng thông tin thêm
1.4 Kinh nghiệm đấu thầu qua mạng ở một số nước trên thế giới
am hiểu và nắm chắc luật đấu thầu Bên cạnh đó, các nhà thầu xây dựng của Singapore cũng tương đối mạnh Họ được trang bị phương tiện kỹ thuật tốt, tin học hoá trong quản lý và hiện đại hoá, cơ giới hoá trong xây dựng
Một vấn đề khác trong sự thành công của công tác đấu thầu Singapore là phương thức tổ chức đấu thầu Hầu hết các cuộc đấu thầu xây dựng được tổ chức dưới hình thức đấu thầu rộng rãi, tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà thầu và mang lại hiệu quả kinh tế cao như: tiết kiệm nguồn vốn, chất lượng thi công công trình được nâng cao, tiến độ công trình được cải thiện
1.4.2 Malaysia
So sánh giữa hai nước Singapore và Malaysia (cùng nhóm các nước ASEAN) thì ta
Trang 38quản lý công tác đấu thầu khá hoàn thiện Những nguyên nhân thành công của Malaysia
- Malaysia có chiến lược phát triển phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước và luôn nỗ lực điều chỉnh chính sách trong từng giai đoạn
- Trên cơ sở rút ra những bài học kinh nghiệm trong nước, Malaysia cố gắng được sự giúp đỡ của WB, ADB đáo tạo các chuyên gia, cũng như học hỏi kinh nghiệm Đồng thời Malaysia luôn kêu gọi các tổ chức quốc tế viện trợ kinh phí để hoàn thiện công tác đấu thầu
- Khi nền kinh tế thế giới bị suy giảm vào giai đoạn đầu những năm 90 thì kinh tế Malaysia không hề bị ảnh hưởng và có mức tăng GDP cao 8,4%, năm 1994 đứng đầu khối ASEAN, thu nhập bình quân GDP/đầu người là 3280 USD năm 1993, đứng thứ hai khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Singapore
1.4.3 Liên bang Nga
Ở Nga, để quản lý hoạt động đấu thầu, Tổng thống Nga ban hành Nghị định kèm theo quy chế đấu thầu về mua sắm hàng hoá, xây lắp công trình, dịch vụ cho các nhu cầu quốc gia Một trong những kinh nghiệm tổng quan chi phí hoạt động đấu thầu của nước Nga là sự phù hợp cao của quy chế đấu thầu quốc tế Nó đảm bảo cho các hoạt động đấu thầu quốc tế diễn ra ở nước Nga không phải tốn nhiều công sức vào việc nghiên cứu tìm hiểu các quy định của các tổt chức quốc tế trước khi tiến hành chúng Do vậy, đây là một trong những căn cứ quan trọng góp phần thực hiện một trong những yêu cầu của nâng cao chất lượng đấu thầu là tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của chủ đầu tư và tạo sự dễ dàng cho quá trình thực hiện
Cơ chế quản lý, giám sát, xử phạt nghiêm minh các hành vi tiêu cực trong các hoạt động đấu thầu ở nước Nga đảm bảo chấm dứt tình trạng lạm dụng quyền lực của các quan chức chính phủ trong việc đấu thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp và dịch vụ cho các nhu cầu quốc gia Đây là một kinh nghiệm quý báu chúng ta có thể nghiên cứu học tập để nâng cao chất lượng đấu thầu xây dựng nói chung và các công trình giao thông nói riêng
Trang 391.4.4 Campuchia
Campuchia là một nước có diện tích nhỏ, ở cạnh nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc trong thời gian qua Hơn nữa, Campuchia vừa mới gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), do vậy nghiên cứu Quy chế đấu thầu của Campuchia cũng có ý nghĩa đối với Việt Nam Cũng dễ nhận thấy rằng, Quy chế quản lý đấu thầu Nhà nước của Campuchia khá đơn giản, ngắn gọn Nó chỉ bao gồm 9 điều với độ dài không quá 10 trang khổ giấy A4, quy chế này quy định một cách khái quát các hình thức đấu thầu, quy trình đấu thầu tổng quát và quản lý, giám sát hoạt động đấu thầu Việc tổ chức đấu thầu ở Campuchia được tiến hành một cách tập trung thông qua một Hội đồng Có thể nói rằng, tính đơn giản, gọn nhẹ và tập trung là điểm nổi bật trong Quy chế Đấu thầu xây dựng ở Campuchia Điều này giải thích tại sao, các quy chế quản lý của Campuchia mặc dù rất đơn giản nhưng hiệu lực rất cao
Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì soạn thảo các văn bản hướng dẫn mua sắm thường xuyên đối với các cơ quan hành chính sự nghiệp trong phạm vi toàn quốc
Bộ Hợp tác kinh tế và ngoại thương quản lý đấu thầu mua sắm thiết bị điện và điện
tử, quản lý xuất nhập khẩu, thẩm định các kết quả đấu thầu các gói thầu mua sắm theo phân cấp
Bộ Xây dựng chủ trì các cuộc đấu thầu các công trình giao thông
Ủy ban Thương mại và Kinh tế Nhà nước quản lý đấu thầu dự án thuộc doanh nghiệp
Trang 40Các địa phương căn cứ vào Luật đấu thầu và văn bản hướng dẫn của các Bộ chuyên ngành để hướng dẫn thực hiện công tác đấu thầu tại địa phương
Tính hợp lệ của nhà thầu doanh nghiệp Nhà nước:
Ở Trung Quốc khi thực hiện cải cách doanh nghiệp Nhà nước thì các doanh nghiệp được hoạt động độc lập, tách khỏi sự quản lý của các Bộ ngành, phù hợp với cơ chế thị trường nên học có đủ tư cách hợp lệ khi tham gia đấu thầu đối với các gói thầu sử dụng nguồn tài trợ quốc tế Đây là một kinh nghiệm quý báu trong việc tạo ra tính hợp lệ của nhà thầu để đảm bảo theo đúng yêu cầu của nhà tài trợ
Công khai trong đấu thầu:
Ở Trung Quốc đã hình thành mạng lưới website trên mạng với mục đích đăng tải các thông tin về đấu thầu cũng như thông báo mời thầu trong phạm vi toàn quốc Các nhà thầu không chỉ được tiếp cận với nguồn thông tin đầy đủ và cập nhật mà còn có thể trực tiếp nêu thắc mắc và kiến nghị qua hệ thống thông tin trực tuyến này
1.4.6 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của Ngân hàng Thế giới (WB)
Ngân hàng Thế giới là một tổ chức tài trợ quốc tế, hiện có 185 nước thành viên trong
đó có Việt Nam Việc sử dụng các khoản vay mà WB dành cho các nước thành viên thực hiện dự án phải tuân theo một quy định mua sắm chung Những đặc điểm chính trong quy định đấu thầu của tổ chức này là bài học tham khảo trong việc hình thành
và hoàn thiện quy trình đấu thầu của mỗi nước thành viên, đó là:
Tạo sự cạnh tranh tối đa: Đấu thầu cạnh tranh quốc tế (International Competitive
Bidding - ICB) là hình thức được áp dụng chủ yếu, mọi nhà thầu thuộc một quốc gia thành viên đều có đủ tư cách hợp lệ để tham gia các cuộc thầu sử dụng tiền tài trợ từ
WB Các hình thức khác như đấu thầu hạn chế, chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp chỉ được sử dụng khi có lý do chính đáng thỏa mãn các điều kiện nêu trong Hướng dẫn mua sắm của WB