Thực hiện nhiệm vụ quản lí chỉ đạo dạy học, nhất là trong thời gian vừa dạyhọc vừa phòng chống dịch bệnh covid-19, học sinh học ôn tập trực tuyến, để địnhhướng phần kiến thức trọng tâm,
Trang 1Tên đề tài:
NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN MÔN NGỮ
VĂN 9 CHO HỌC SINH ÔN TẬP THI VÀO 10 THPT
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông chú ý đến việc hình thành vàphát triển các năng lực cốt lõi, trong đó có năng lực đọc hiểu Mục tiêu dạy họcNgữ văn trong nhà trường đặt ra vấn đề đọc hiểu và phương pháp dạy đọc hiểucho học sinh với các mức độ và yêu cầu khác nhau Phát triển năng lực đọc hiểu
để học sinh có được một công cụ thiết yếu, phục vụ tốt việc tiếp nhận tri thức mônhọc qua học tập, ôn tập, kiểm tra và thi cử, nhất là kì thi quan trọng vào 10 THPT.Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới học và thi môn Ngữvăn
Đổi mới thi vào lớp 10 THPT là áp lực không nhỏ đối với giáo viên và họcsinh trong nhà trường Ôn tập môn Ngữ văn như thế nào để học sinh thành thạo kĩnăng khi làm bài thi, tự tin và có thể đạt kết quả cao trong kì thi luôn là vấn đềquan tâm của thầy và trò trước thềm của kì thi chuyển cấp
Cùng với thơ ca, truyện là một trong hai mảng văn học trọng tâm củachương trình Ngữ văn 9, cũng là các phần quan trọng trong cấu trúc đề thi vào 10THPT Truyện chứa đựng những yếu tố nghệ thuật và chiều sâu tư tưởng của tácgiả đòi hỏi học sinh phải có vốn hiểu biết, năng lực khám phá, phân tích, đánh giá
và khái quát vấn đề sâu sắc, toàn diện
Giáo viên trong việc xây dựng thiết kế bài dạy ôn tập và lựa chọn phươngpháp ôn tập thi vào 10 phần đọc hiểu văn bản truyện còn khó khăn Việc lựa chọnđưa ra các ngữ liệu, câu hỏi, bài tập dưới dạng đề thi theo hướng đổi mới chưaphong phú, đa dạng Phương pháp, kĩ năng đọc hiểu kiểu bài ôn tập, giải quyết cáccâu hỏi, bài tập đọc hiểu dạng đề thi của học sinh còn nhiều hạn chế, thiếu tínhsáng tạo; nhất là việc lí giải, cắt nghĩa ngôn ngữ; cảm nhận hình tượng nghệ thuật,nội dung ý nghĩa; so sánh, đối chiếu vấn đề trong văn bản truyện
Thực hiện nhiệm vụ quản lí chỉ đạo dạy học, nhất là trong thời gian vừa dạyhọc vừa phòng chống dịch bệnh covid-19, học sinh học ôn tập trực tuyến, để địnhhướng phần kiến thức trọng tâm, hướng dẫn giáo viên và học sinh phương phápđọc hiểu văn bản truyện trong dạy học kiểu bài ôn tập thi vào 10 môn Ngữ văn vàthông qua câu hỏi, bài tập rèn luyện kĩ năng sẽ giúp thầy cô và học sinh nắm bắtyêu cầu và phương pháp làm bài, làm quen với các dạng đề thi, đáp ứng yêu cầuđổi mới nâng cao chất lượng dạy học
Với những lí do trên, tôi đã thực hiện chuyên đề: “Nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản truyện môn Ngữ văn 9 cho học sinh ôn tập thi vào lớp 10 THPT”.
Trang 2III MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
Chuyên đề nhằm định hướng, bồi dưỡng chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệmgiúp giáo viên yên tâm trong việc lựa chọn phương pháp dạy kiểu bài ôn tập thivào 10 Tiếp tục đổi mới, sáng tạo trong dạy học ôn tập thi Nâng cao chất lượngthi vào 10 môn Ngữ văn
Giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện các kĩ năng và nâng caophương pháp đọc hiểu các ngữ liệu văn bản truyện; tự tin bước vào kì thi Nắmvững các dạng câu hỏi, bài tập đọc hiểu; giải quyết câu hỏi đặt ra trong các đề thi;đạt kết quả cao trong làm bài Nắm được những chìa khóa để mở bất cứ một tìnhhuống đề ra cụ thể nào…
Bên cạnh đó phát huy tính tích cực, tự học, năng lực tích hợp, có kĩ năng làmtốt phần câu hỏi, bài tập tiếng Việt như từ vựng, ngữ pháp, biện pháp tu từ… vàtập làm văn như viết đoạn văn, cảm nhận đoạn/tác phẩm thơ (văn)
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN THỰC HIỆN.
- Phạm vi: Đề tài được thực hiện trong chương trình d¹y ôn tập thi vào 10 THPT gồm 2 phần: hướng dẫn phương pháp, các yêu cầu, kĩ năng đọc hiểu văn bảntruyện môn Ngữ văn 9 Đồng thời xây dựng hệ thống dạng câu hỏi, bài tập với cácmức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng…(theo hướng đổi mới đề thi hiện nay)
- Đối tượng: Tổ chức chuyên đề cho giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn nói chung
và giáo viên trực tiếp ôn tập thi vào 10 môn Ngữ văn Học sinh lớp 9 ôn tập thivào lớp 10 THPT
- Thời gian: Năm học 2019-2020 - thực hiện trong qu¸ tr×nh dạy ôn tập thi vµo10THPT cho học sinh
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Đề tài được vận dụng phối kết hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra nắm bắt năng lực đọc hiểu văn bản Ngữvăn của học sinh qua thực tế dạy học và kết quả bài kiểm tra khảo sát bằng hìnhthức dạy học trực tiếp và trực tuyến trên Internet
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê các văn bản trong chương trình lớp 9
Trang 31 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghịquyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo khẳng
định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực…Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”, “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn”.
2 Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ giáo dục và Đào tạo đã
nêu quan điểm: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tập trung dạy cách học và rèn luyện năng lực tự học, tạo cơ sở để học tập suốt đời, tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực;(…); vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể của mỗi cơ sở giáo dục phổ thông”.
Những đổi mới nhằm phát triển năng lực người học, góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế của đất nước
3 Dạy đọc hiểu văn bản là một trong những yêu cầu hết sức quan trọng củachương trình giáo dục phổ thông Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA)
đã coi đọc hiểu văn bản là một năng lực thiết yếu cần có đối với mọi học sinh saukhi kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản (9 năm) Đọc hiểu được coi là một năng lựccông cụ giúp mỗi người đi tiếp, học tiếp suốt đời và được coi là một trong nhữngnăng lực cốt lõi cần có của người học
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, kháiquát, biện luận đúng - sai về lôgic, nghĩa là kết hợp với năng lực tư duy và biểuđạt
II THỰC TRẠNG DẠY HỌC ÔN TẬP THI TRONG NHÀ TRƯỜNG.
1 Thuận lợi
Đổi mới, sáng tạo trong dạy học, đổi mới phương pháp, phát huy năng lựchọc sinh trong suốt quá trình dạy học, ôn tập thi, trang bị cho học sinh có hànhtrang tri thức, kĩ năng học tập đã được giáo viên trong nhà trường tích cực thựchiện có hiệu quả
Giáo viên thường xuyên sinh hoạt chuyên môn chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi,thảo luận các vấn đề mới, khó trong các bài giảng đã góp phần nâng cao chấtlượng môn học Tổ, nhóm chuyên môn chủ động xây dựng và triển khai nhiều
Trang 4chuyên đề dạy học, chuyên đề ôn tập thi vào 10 đối với các môn thi, trong đó cócác chuyên đề môn Ngữ văn.
Quá trình dạy học, giáo viên đã chú ý phát triển phẩm chất, phát huy năng lực,tính tích cực chủ động trong lĩnh hội và tìm kiếm thông tin tri thức cần thiết cho họcsinh Tích hợp liên môn và gắn với thực tiễn được quan tâm Bên cạnh đó chú ý đếnđặc trưng thể loại văn học để đọc hiểu và cảm nhận đúng giá trị văn bản
Một bộ phận học sinh có năng lực đọc hiểu và phương pháp, kĩ năng ôn tập thimôn Ngữ văn khá tốt Kết quả thi vào 10 THPT năm học 2019-2020 môn Ngữ văntrung bình đạt 6,75 điểm
2 Khó khăn:
Đối với giáo viên: từ thực tiễn của quá trình ôn tập thi nhiều năm cho thấyviệc nâng cao năng lực đọc hiểu cho học sinh, tập trung rèn luyện kĩ năng, khảnăng khám phá, phân tích hệ thống ngôn ngữ, chi tiết, hình tượng nghệ thuật chưađược quan tâm đúng mức
Việc ra hệ thống câu hỏi, bài tập và giúp học sinh làm quen, giải quyết vấn
đề qua các ngữ liệu chưa nhiều, thậm chí thấy ngại xây dựng bài tập dưới dạng đềthi với các mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng Nhiều phần kiến thức tácphẩm văn học chưa được đề cập đầy đủ, toàn diện
Đối với học sinh: Năng lực cảm thụ văn học, cảm thụ thẩm mĩ còn hạn chếnhiều Gặp những câu hỏi, bài tập dạng yêu cầu ở mức độ thông hiểu, vận dụngnhư: hiểu và giải thích, cắt nghĩa từ ngữ; hình ảnh dưới dạng câu hỏi vì sao? Tạisao? Hiểu như thế nào? nhận xét cách thức diễn đạt câu văn (thơ)?… học sinhthiếu năng lực hiểu biết, thiếu kĩ năng, trả lời dài dòng mà không đúng ý, trúng ýdẫn đến mất điểm, điểm thấp ngay ở những câu hỏi đọc hiểu Kết quả thi vào 10THPT nhiều năm ở một bộ phận học sinh còn thấp
3 Khảo sát thực tế
Khi thực hiện đề tài, tôi tiến hành khảo sát học sinh lớp 9A1 và 9A3 thôngqua bài tập sau:
Cho đoạn trích sau:
“ – Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất.”
(Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long)
1 Nhân vật “cháu” đã nói về điều gì? Nói với ai? Em hiểu gì về nhân vật có suynghĩ đó?
Trang 52 Câu “Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được” được dùng với mục đích gì? Tại sao nhân vật không xưng “cháu” mà lại xưng
“ta”?
3 Em hiểu từ “đôi” có nghĩa là gì? Chép lại một câu thơ ở chương trình Ngữ văn
9
cũng xuất hiện từ ngữ có ý nghĩa tương tự
4 Nêu suy nghĩ của em về trách nhiệm của thanh niên Việt Nam hiện nay (khoảng
10 dòng)
Với bài tập trên, 4 câu hỏi đều là đọc – hiểu
Qua bài khảo sát, kết quả năng lực đọc hiểu của học sinh như sau:
Lớp Số
HS
Kết quả
Giỏi(%)
Khá(%)
Trung bình(%)
Yếu(%)
Kém(%)9A1 45 13 = 28,9% 20 = 44,4% 12 = 26,7% 0 09A3 40 2 =5% 10 = 25,0% 17 = 42,5% 11 =27,5%
III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu cấu trúc phần đọc hiểu trong đề thi vào 10 môn Ngữ văn.
Những năm thi vào 10 THPT trước đây, đề thi môn Ngữ Văn của Sở GD&ĐT
Hà Nội có phần thi đọc hiểu chiếm 5/10 điểm toàn bài thi nằm ở cả 2 phần trongcấu trúc đề với 2 đoạn trích dẫn (đề đưa ra ngữ liệu bằng một trích đoạn văn xuôi
và thơ hoặc trích phần văn bản văn học và văn bản nhật dụng, …) và 5 câu hỏi đọchiểu theo các mức độ nhận thức từ thấp đến cao: nhận biết -> thông hiểu -> vậndụng nhằm phát huy năng lực tự cảm thụ, tìm hiểu, khám phá văn bản Ở mức độvận dụng cao, ở mỗi phần của đề thi gồm câu hỏi viết đoạn văn có tích hợp vớitiếng Việt và câu hỏi yêu cầu nghị luận xã hội gắn với các vấn đề đặt ra trong đờisống thực tiễn Đề thi năm học 2019-2020 gồm 2 phần: Phần I: trích dẫn một đoạnthơ (7 điểm) với 3 câu hỏi đọc hiểu ( 3,5điểm) và 1 câu tạo lập văn bản dưới dạngmột đoạn văn, có tích hợp với tiếng Việt Phần II (3 điểm) trích dẫn một đoạn nghịluận xã hội với 2 câu hỏi đọc hiểu (1 điểm) và 1 câu nghị luận xã hội
Theo tài liệu ôn tập thi tuyển sinh vào 10 môn Ngữ văn từ năm học 2019-20202020-2021 của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, đề hướng dẫn ôn tập thi cócấu trúc 2 phần: phần đọc hiểu (thơ hoặc truyện) và phần tập làm văn (1 câuNLXH và 1 câu NLVH dưới dạng viết đoạn văn hoặc 1 câu NLVH viết bài văn,hoặc 1câu NLVH và 1 câu NLXH viết bài văn)
Phần đọc hiểu, đề có cấu trúc như sau:
Trang 6Cấu trúc 1: Ngữ liệu 1 văn bản văn học (trong sách Ngữ văn 9) và 1 văn bản nhật
dụng (ngoài sách Ngữ văn 9)
Câu hỏi: theo hình thức tự luận, yêu cầu học sinh tìm hiểu về hình thức và nộidung của văn bản, có tích hợp với tiếng việt, được sắp xếp theo các mức độ nhậnbiết (1 câu), thông hiểu (2 câu), vận dụng (1 câu)
Cấu trúc 2: Ngữ liệu: 01 văn bản nhật dụng (ngoài sách Ngữ văn 9).
Câu hỏi: theo hình thức tự luận, yêu cầu học sinh tìm hiểu về hình thức và nộidung của văn bản, có tích hợp với tiếng việt, được sắp xếp theo các mức độ nhậnbiết (1 câu), thông hiểu (2 câu), vận dụng (1 câu)
+ Câu hỏi nhận biết thường đưa ra yêu cầu thí sinh xác định tên tác giả, hoàn cảnh
ra đời tác phẩm, chép đoạn thơ; ngôi kể, nhân vật, sự vật được nói tới; chỉ ra cácphương thức biểu đạt, biện pháp tu từ, giải thích từ ngữ, nêu cảm nhận… trongvăn bản
+ Câu hỏi thông hiểu thường yêu cầu thí sinh xác định nội dung chính của văn bảnhay một câu, một đoạn trong văn bản, ý nghĩa hình ảnh, câu thơ (văn) ,
+ Câu hỏi vận dụng thường yêu cầu nêu tác dụng của các phép tu từ hay việc sửdụng kết hợp các phương thức biểu đạt, sử dụng từ ngữ, cảm nhận nhân vật, hìnhtượng sự vật … trong văn bản
+ Câu hỏi vận dụng cao thường là dạng câu hỏi bày tỏ quan điểm thái độ hoặc liên
hệ thực tế đời sống (liên hệ hiện tượng nào và đưa ra giải pháp)
Câu hỏi vận dụng thường là dạng câu hỏi bày tỏ quan điểm, thái độ, nêu suynghĩ hoặc liên hệ thực tế đời sống (liên hệ hiện tượng nào và đưa ra giải pháp)
2 Các bước đọc hiểu văn bản
Bước 1: Đọc - hiểu ngôn từ: Hiểu được các từ khó, từ lạ, các điển cố, các phép tu
từ, hình ảnh… (đối với thơ) Đối với tác phẩm truyện phải nắm được cốt truyện vàcác chi tiết từ mở đầu đến kết thúc
Khi đọc văn bản cần hiểu được cách diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt
từ câu trước đến câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác, đặc biệt phát hiện ra mạchngầm – mạch hàm ẩn, từ đó mới phát hiện ra chất văn Bởi thế, cần đọc kĩ mớiphát hiện ra những đặc điểm khác thường, thú vị
Trang 7Bước 2: Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật: Hình tượng trong văn bản văn học hàm
chứa nhiều ý nghĩa Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật của văn bản văn học đòi hỏingười đọc phải biết tưởng tượng, biết “cụ thể hóa” các tình cảnh để hiểu nhữngđiều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát
Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật còn đòi hỏi phát hiện ra những mâu thuẫntiềm ẩn trong đó và hiểu được sự lôgic bên trong của chúng
Bước 3: Đọc - hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học: Phải
phát hiện được tư tưởng, tình cảm của nhà văn ẩn chứa trong văn bản Tuy nhiên
tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản Văn học thường không trực tiếp nói
ra bằng lời Chúng thường được thể hiện ở giữa lời, ngoài lời, vì thế đọc - hiểu tưtưởng tác phẩm bằng cách kết hợp ngôn từ và phương thức biểu hiện hình tượng
Bước 4: Đọc - hiểu và thưởng thức văn học: Thưởng thức văn học là trạng thái
tinh thần vừa bừng sáng với sự phát hiện chân lí đời sống trong tác phẩm, vừarung động với sự biểu hiện tài nghệ của nhà văn, vừa hưởng thụ ấn tượng sâu đậmđối với các chi tiết đặc sắc của tác phẩm Đó là đỉnh cao của đọc - hiểu văn bảnVăn học Khi đó người đọc mới đạt đến tầm cao của hưởng thụ nghệ thuật
3 Kĩ năng đọc - hiểu văn bản truyện
Truyện là một trong những thể loại quan trọng của văn học Văn bản truyệntrong chương trình Ngữ văn lớp 9 gồm các tác phẩm truyện trung đại; truyện hiệnđại Việt Nam sau năm 1945 và một số văn bản truyện nước ngoài
Truyện trung đại: “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ;
Hồi 14 tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí; Giới thiệu Truyện Kiều của Nguyễn
Du và 3 trích đoạn: “Chị em Thúy Kiều”; “Cảnh ngày xuân” “Kiều ở lầu Ngưng Bích”; đoạn trích “Lục vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” trích tác phẩm “Truyện Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu.
Truyện hiện đại Việt Nam (sau 1945) gồm: “Làng” của Kim Lân; “Lặng lẽ SaPa” của Nguyễn Thành Long; “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng;
“Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê…
* Những nét khái quát chung:
- Truyện trung đại:
Truyện trung đại tồn tại và phát triển trong môi trường văn học trung đại có
quy luật Văn- Sử bất phân; Văn - Triết bất phân; do đó trong truyện vẫn thường có
sự đan xen giữa yếu tố Văn và yếu tố Sử, yếu tố Triết, sự đan xen giữa hai kiểu tưduy hình tượng và tư duy luận lí Truyện vẫn thường pha tính chất kí và thườngmang tính chất giáo huấn Kết cấu cốt truyện theo trình tự thời gian Tính cáchnhân vật hiện lên chủ yếu là qua lời kể của người dẫn chuyện và qua hành động,ngôn ngữ đối thoại của nhân vật Sự phân tích thế giới nội tâm, ngôn ngữ độcthoại của nhân vật nhìn chung còn hiếm Chi tiết nghệ thuật bên cạnh loại chi tiếtchân thực lấy từ cuộc sống, truyện trung đại thường hay sử dụng loại chi tiết li kỳ,
Trang 8hoang đường với sự hư cấu, tưởng tưởng trong nghệ thuật viết truyện Đó lànhững đặc trưng và cách viết truyện trung đại
- Phần truyện hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 9 tất cả đều là truyệnngắn, được sáng tác sau năm 1945 Quá trình đọc hiểu cần chú ý đến cốt truyện(nhận ra sự sáng tao, tính độc đáo và sức hấp dẫn của cốt truyện trong tác phẩm
đó, đồng thời chỉ ra ý nghĩa, tác dụng của cốt truyện trong việc phản ánh đời sống
và thể hiện nhân vật); tình huống truyện giống như một tứ thơ, có sự độc đáo, sángtạo nhưng lại phải giữ được sự tự nhiên, không giả tạo, gò ép; kết cấu tổ chức hệthống nhân vật và tổ chức không gian, thời gian; nhân vật (là những con ngườimới của cách mạng và xây dựng đất nước với tình yêu nước mãnh liệt và lý tưởngsống cao đẹp, tinh thần dung cảm, gắn bó với cuộc sống, nêu gương và vì lợi íchcộng đồng…), nghệ thuật trần thuật: ngôi kể và giọng điệu (ngôi thứ nhất và ngôithứ ba nhưng ở nhiều chỗ người trần thuật nhập vào điểm nhìn, giọng điệu, suynghĩ bên trong của nhân vật); ngôn ngữ và giọng điệu (giọng điệu gắn liền với vai
kể và điểm nhìn trần thuật, bộc lộ thái độ, cái nhìn, sự đánh giá về đối tượng trầnthuật, đồng thời tác động đến nhận thức và tình cảm, cảm xúc của người đọc) Dù
số lượng không nhiều (chỉ có 5 truyện ngắn), nhưng các tác phẩm truyện hiện đạiViệt Nam cũng đã phản ánh được cuộc sống của đất nước và con người ViệtNam trong một thời kì lịch sử đầy biến động, nhiều gian lao, hi sinh, nhưng cũnghết sức hào hùng Đặc biệt, các tác phẩm đã tập trung thể hiện hình ảnh con ngườiViệt Nam thuộc các thế hệ, tầng lớp khác nhau, với cuộc sống, tình cảm, tư tưởngkhá phong phú, vừa thống nhất lại vừa đa dạng
Bước đầu học sinh cần nắm rõ hoàn cảnh ra đời của tác phẩm (hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh tác giả); phương thức biểu đạt; xác định đề tài, nêu trúng chủ đề
truyện và căn cứ các yếu tố đặc trưng thể loại để đọc – hiểu văn bản Cụ thể:
3.1 Xác định chính xác thể loại và ý nghĩa của việc sử dụng thể loại Mỗi thể
loại văn học ứng với một loại nội dung nhất định, là một loại hình thức nhất định.Trong mỗi thể loại có sự thống nhất, quy định lẫn nhau giữa các yếu tố đề tài, chủ
đề, tư tưởng, cảm hứng và hình thức nhân vật, hình thức kết cấu, hình thức lời văn.Tác phẩm truyện trung đại được sáng tác dưới nhiều hình thức thể loại phong
phú: thể truyền kỳ: “Truyền kì mạn lục” và tiểu thuyết chương hồi “Hoàng Lê nhất thống chí” viết bằng chữ Hán, truyện thơ Nôm “Truyện Kiều”, “Truyện Lục Vân Tiên”
Truyền kỳ là những truyện thần kỳ với các yếu tố thần tiên, ma quỷ vốn được
lưu truyền rộng rãi trong dân gian Mạn lục: ghi chép tản mạn Truyền kỳ còn làmột thể loại viết bằng chữ Hán (văn xuôi tự sự) hình thành sớm ở Trung Quốc,được các nhà văn Việt Nam tiếp nhận dựa trên những chuyện có thật về những conngười thật, mang đậm giá trị nhân bản, thể hiện ước mơ khát vọng của nhân dân
về một xã hội tốt đẹp
Trang 9Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ được coi là đỉnh cao của thể loại này, tácphẩm được xem là một “áng thiên cổ kỳ bút” Tác phẩm gồm 20 truyện với đề tàiphong phú, giàu giá trị hiện thực và nhân đạo Truyện có nhiều yếu tố mang tínhchất quy phạm như: tính chất hoang đường, ngôn ngữ chưa thành ngôn ngữ nhânvật, dựa vào tác phẩm nước ngoài, dùng lại truyện cổ tích dân gian xưa nhưng có
sự sáng tạo trong nghệ thuật kể chuyện và xây dựng nhân vật
“Chuyện người con gái Nam Xương” tính chất truyền kỳ được thể hiện ở sự
sáng tạo phần hai tác phẩm với các yếu tố kỳ ảo, hoang đường giống mô típ truyện
cổ tích nhưng sáng tạo nên kết thúc truyện không sáo mòn, để lại nhiều dư âm
Những chi tiết kì ảo: Vũ Nương gặp Phan Lang dưới thuỷ cung, cảnh sống dưới thuỷ cung và cảnh Vũ Nương hiện về trên bến sông cùng những lời nói của nàng khi kết thúc câu chuyện có ý nghĩa sâu sắc làm tăng yếu tố li kì - một đặc trưng
của thể truyền kỳ, hoàn chỉnh nhân cách Vũ Nương, tạo một kết thúc phần nào cóhậu cho câu chuyện khi oan của nàng Vũ được giải, danh dự nhân phẩm được trả
lại, thể hiện ước mơ về lẽ công bằng ở đời ‘‘Thác là thể phách còn là tinh anh, làn nước nhất thời có thể nhấn chìm thể phách Vũ Nương xuống tận đáy gầm nước âm u, nhưng rồi khói hương lại nâng cao tinh anh nương tử lên tót vời ánh dương ngưỡng vọng” Tuy nhiên tính bi kịch của câu chuyện vẫn thể hiện rõ khi
Vũ Nương không thể trở về nhân gian được nữa.Ý nghĩa tố cáo hiện thực xã hộisâu sắc được toát lên từ đó
Thể tiểu thuyết lịch sử chương hồi chịu ảnh hưởng của lối viết tiểu thuyết
chương hồi của Trung Quốc Ghi chép sự kiện lịch sử xã hội có thực, nhân vậtthực, địa điểm thực Tính chất tiểu thuyết được thể hiện ở việc khắc hoạ nhân vậtvới những hành động, tính cách phi thường.Tác phẩm tiêu biểu viết theo thể loại
này là Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm tác giả Ngô gia văn phái.
Truyện thơ Nôm: được viết bằng chữ Nôm - thứ chữ dân tộc do ông cha ta
sáng tạo ra dựa trên cơ sở chữ Hán Hình thức sử dụng thể thơ lục bát – Thể thơcủa dân gian: ca dao dân ca Tính chất của truyện thơ là để kể hoặc ngâm Truyệnthơ Nôm là thể loại đầu tiên được các nhà văn cổ điển nước ta vận dụng sáng tác
văn học Đỉnh cao của thể loại này là Truyện Kiều của Nguyễn Du và Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu.
Dù được viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm các tác phẩm văn học thời kỳ nàyvẫn sâu sắc đậm đà tính dân tộc Các tác phẩm đã được các tác giả dựa trên cái
“gốc” “cái sườn” nhất định mà dàn dựng các cốt truyện, xây dựng các tính cách,
có khi sáng tạo một số tình tiết, có khi từ một tư tưởng chính mà triển khai sựkiện
Các văn bản truyện hiện đại thuộc thể loại truyện ngắn (phân biệt với tiểuthuyết, truyện vừa) có đặc điểm ngắn gọn về dung lượng và cô đọng, súc tíchtrong miêu tả Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một vài biến cố, mặt nào đó
Trang 10của đời sống, các sự kiện tập trung trong một không gian, thời gian nhất định,
“Truyện ngắn thường chỉ phản ánh một khoảnh khắc, một mẩu nhỏ nào đó của cuộc sống”.
3.2 Xác định người kể chuyện, ngôi kể và điểm nhìn trần thuật (câu hỏi: Ai là
người kể chuyện? Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Tác dụng của ngôi kể? )
Tác giả kể chuyện hay một nhân vật (chính hoặc phụ) trong truyện đứng ra
kể chuyện và có tác dụng khác nhau Ví dụ: Truyện “Những ngôi sao xa xôi” được
kể theo ngôi thứ nhất Phương Định - nhân vật chính kể chuyện Đó là điểm nhìn lítưởng, phù hợp để miêu tả hiện thực cuộc chiến đấu ở một trọng điểm trên tuyếnđường Trường Sơn một cách chân thực “Chiếc lược ngà” lựa chọn nhân vật kểchuyện thích hợp: bác Ba - người bạn thân của ông Sáu kể chuyện, là người chứngkiến khách quan và kể lại, bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với các nhân vật, đưa ra ýkiến bình luận, suy nghĩ Đồng thời qua những ý nghĩ, cảm xúc của nhân vật kểchuyện, các chi tiết, sự việc, nhân vật khác trong truyện bộc lộ rõ hơn, ý nghĩa tưtưởng của truyện thêm sức thuyết phục Truyện ngắn “Làng” tuy được kể ở ngôithứ ba nhưng lại được trần thuật từ điểm nhìn nhân vật ông Hai “Lặng lẽ SaPa”chọn điểm nhìn trần thuật từ nhân vật ông họa sĩ để dễ dàng quan sát, miêu tả cácnhân vật khác và bộc lộ những nhận xét, suy nghĩ qua độc thoại nội tâm
3.3 Nắm được cốt truyện và xác định, phân tích tình huống truyện.
* Cốt truyện: là hệ thống sự kiện (biến cố) được nhà văn tổ chức theo yêu
cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định Cốt truyện là phương tiện vừa có khả năngbộc lộ tính cách nhân vật vừa phản ánh những xung đột xã hội Vì vậy nắm vữngcốt truyện sẽ giúp đọc hiểu đúng nội dung tác phẩm Yếu tố thắt nút, mở nút trongcốt truyện tạo bước ngoặt, sự thay đổi, đặt nhân vật trước sự lựa chọn; từ đó bộc lộtính cách, phẩm chất nhân vật; nhà văn thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm
Các thành phần chính của cốt truyện: Trình bày hay mở đầu (có nhiệm vụgiới thiệu hoàn cảnh xã hội, nguyên nhân xảy ra xung đột; tình hình, lai lịch sơ bộcủa các nhân vật); thắt nút (được đánh dấu bằng một sự kiện, hay một hành độngkhởi đầu của xung đột); phát triển (là toàn bộ các sự kiện thể hiện sự triển khai,vận động của các quan hệ và mâu thuẫn đã xảy ra); đỉnh điểm (cao trào, bộc lộđỉnh cao của xung đột); mở nút (trình bày kết quả của xung đột, xóa bỏ xung đột).Học sinh xác định được các thành phần của cốt truyện sẽ dễ dàng tóm tắt và nhớđược cốt truyện
* Tình huống truyện: là hoàn cảnh chứa xung đột được nhà văn tạo lập để
triển khai cốt truyện Tình huống truyện xét đến cùng là những sự kiện đặc biệtcủa đời sống trong đó chứa đựng những diễn biến, mâu thuẫn được nhà văn triệt
để khai thác làm bật lên ý đồ nghệ thuật của mình Đọc hiểu tình huống truyện làchìa khóa quan trọng nhất để mở vào thế giới bí ẩn của truyện
Trang 11Các loại tình huống: tình huống hành động (hướng tới hành động có tínhchất bước ngoặt của nhân vật); tình huống tâm lí (chủ yếu tác động đến tâm tư,tình cảm nhân vật hơn là đẩy họ vào tình thế phải lựa chọn hay quyết định nhữnghành động thích ứng); tình huống nhận thức (mang đến nhận thức cho nhân vật,chủ yếu cắt nghĩa giây phút giác ngộ chân lí của nhân vật)
Tình huống truyện là cơ sở để cốt truyện phát triển một cách tự nhiên, hợplí; góp phần thể hiện tư tưởng, tính cách của nhân vật, thể hiện chủ đề của tácphẩm
Để phân tích tình huống truyện cần tóm tắt tình huống, phân tích diễn biếncủa tình huống hoặc tính chất của tình huống, rút ra ý nghĩa của tình huống
Truyện ngắn “Làng” tác giả đã đặt nhân vật ông Hai vào một tình huống đốinghịch với tình cảm, niềm tự hào: Một con người vốn yêu làng và luôn hãnh diện
về nó thì bỗng nghe tin làng lập tề theo giặc Tình huống bất ngờ ấy đã bộc lộ sâusắc, mạnh mẽ tình yêu làng, yêu nước và tinh thần kháng chiến của ông Hai
Văn bản “Chiếc lược ngà” xây dựng tình huống éo le, giàu kịch tính Tìnhhuống thứ nhất là cuộc gặp gỡ của hai cha con ông Sáu sau tám năm xa cách,nhưng thật trớ trêu bé Thu không nhận cha Và bất ngờ khi em nhận cha thì cũng
là lúc ông Sáu phải ra đi Đây là tình huống cơ bản, tạo ra sự bất ngờ, trớ trêu đốivới người cha Qua tình huống này thái độ, tình cảm, diễn biến tâm lí của nhân vật
bé Thu cũng được bộc lộ một cách quyết liệt và đi đến một kết thúc đầy cảm động
Tình huống thứ hai: ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả nỗi nhớ, tình yêuthương đứa con bé bỏng vào làm một chiếc lược ngà, nhưng ông đã hi sinh chưakịp trao món quà ấy cho con đã bộc lộ sâu nặng, thiêng liêng, bất tử tình cảm chacon mà không súng đạn nào có thể chia cắt
“Lặng lẽ Sa Pa” tình huống truyện không bất ngờ, độc đáo, mới lạ mà rấtnhẹ nhàng, sâu sắc, tự nhiên Qua đó tác giả đã làm nổi bật chủ đề tác phẩm:Trong cái lặng lẽ, vắng vẻ của núi cao Sa Pa, nơi nghe tên người ta chỉ nghĩ đến sựnghỉ ngơi, vẫn có bao người đang ngày đêm làm việc miệt mài, say mê cống hiếntuổi trẻ cho quê hương, đất nước
3.4 Xác định nhân vật và phân tích đặc điểm của nhân vật.
Nhân vật là yếu tố hàng đầu của thể loại truyện Qua nhân vật nhà vănthường thể hiện những tư tưởng, tình cảm, quan niệm về cuộc đời Khi đọc hiểutruyện cần xác định loại nhân vật; phân tích đặc điểm nhân vật
Nhân vật truyện thường được khắc họa sinh động từ chân dung ngoại hìnhđến nội tâm, cử chỉ, lời nói, hành động, qua đó bộc lộ tính cách nhân vật Có nhânvật được miêu tả qua điểm nhìn của nhân vật khác Đó là những căn cứ để kháiquát bản chất, tính cách nhân vật
Trang 12Ngoại hình: không chỉ hình dung dáng vẻ bề ngoài của nhân vật mà còn thể
hiện một phần tính cách và cả những biến cố, những đổi thay trong cuộc đời nhânvật ấy
Ngôn ngữ nhân vật: Ngôn ngữ nhân vật có 2 loại là đối thoại và độc thoại.
thường được nhà văn cá thể hóa bằng nhiều cách: ghép từ, đặt câu, lặp đi lặp lạinhững từ, những câu nói
Hành động: là những việc làm của nhân vật, có giá trị trực tiếp bộc lộ bản
chất, tính cách hoặc đánh dấu sự thay đổi tính cách nhân vật
Nội tâm: quá trình diễn biến tâm lí… Đây là yếu tố có khả năng bộc lộ chiều
sâu tâm hồn nhân vật, thể hiện sự thấu hiểu con người và tài nghệ của nhà văn
* Truyện ngắn hiện đại thường tập trung đi sâu miêu tả thế giới nội tâm vớidiễn biến tâm lý, tính cách đậm nét; tâm lí phù hợp với cá tính, lứa tuổi, giớitính…Tâm lí nhân vật được miêu tả qua bút pháp ngoại hiện (miêu tả qua hành vi,biểu hiện bên ngoài, qua đối thoại); bút pháp trực tiếp (diễn tả, phân tích tâm línhân vật bằng trần thuật theo điểm nhìn của nhân vật, sử dụng thủ pháp độc thoạinội tâm…); đặc biệt đặt nhân vật vào những hoàn cảnh thử thách, tình huống éo lecủa cuộc sống để giúp nhân vật bộc lộ tính cách, phẩm chất
Phân tích nhân vật ông Hai trong văn bản “Làng” cần làm nổi bật các đặcđiểm về hành động, cử chỉ, ngôn ngữ, nội tâm với diễn biến tâm lý ddwwocj miêu
tả cụ thể, tinh tế qua những cảm giác, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩa, qua ngôn ngữđối thoại và độc thoại Tự hào, hãnh diện vui vẻ khoe làng mình, đến khi nghe tin
dữ về làng theo tây ông trải qua rất nhiều sắc thái, cung bậc cảm xúc: đau đớn, tủi
hổ đến ám ảnh, lo lắng, day dắt -> hoang mang, hoảng sợ -> nội tâm xung đột gaygắt, và khi làng được cải chính tâm trạng ông lại phấn chấn, phấn khởi như xưaDiễn biến tâm lý của nhân vật được gắn với hoàn cảnh, tình huống cụ thể, đầy thửthách (Giáo viên yêu cầu HS đưa ra được các dẫn chứng, ngữ liệu trong văn bản
để làm rõ những đặc điểm của nhân vật; xác định những câu văn miêu tả xung đột
nội tâm Đặc biệt câu độc thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật như: Hà, nắng gớm, về nào Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu” Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhữ thế này.…và những lời tâm sự với đứa con Từ diễn biến tâm lí khái
quát đánh giá về nhân vật ông Hai: tình yêu làng yêu nước sâu sắc, bền chặt, cảmđộng Đó chính là phẩm chất của người nông dân Việt Nam trong cuộc khángchiến chống thực dân Pháp
Nghệ thuật trần thuật, lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn trần thuật; cách gọi tênnhân vật, đặt nhân vật vào mối quan hệ với các nhân vật khác và hoàn cảnh sốngcũng có tác dụng bộc lộ tính cách
Trang 13Tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa”, qua cuộc gặp gỡ tình cờ và câu chuyện giữa các
nhân vật và cách gọi tên từ nhân vật chính đến các nhân vật phụ đều không có tênriêng, chỉ được gọi tên qua đặc điểm giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác (anh thanhniên, bác lái xe, ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ, ông kĩ sư, anh cán bộ…); nhân vậtchính được nhìn từ điểm nhìn của các nhân vật khác, tác giả đã khắc họa chândung nhân vật chính – anh thanh niên cùng những nhận xét, suy nghĩ của các nhânvật đã cho thấy thế giới những con người âm thầm, lặng lẽ, say mê công hiến
* Trong tryện trung đại, khi xây dựng nhân vật các nhà văn thể hiện quan niệmcủa mình về con người như: Con người công dân (Hình ảnh vua Quang Trung
trong Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô gia văn phái), con người gắn bó trách nhiệm với vận mệnh của dân tộc; con người đạo đức (Truyện Lục Vân Tiên của
Nguyễn Đình Chiểu); quan niệm về con người đấng bậc trong tác phẩm TruyệnKiều của nguyễn Du Trong quan niệm của ông, những con người như Kim Trọng,Thuý Kiều, Từ Hải là những “đấng”, những “bậc” đáng kính trọng Đạm Tiên làđấng tài hoa, Kim Trọng là bậc tài danh, Thuý Kiều là bậc bố kinh, Từ Hải là đấnganh hùng Còn đối với những kẻ Tú Bà, Mã Giám Sinh là bọn vô loài, tuồng vôlại Trong giai đoạn nhà nước phong kiến trượt dài trên cái dốc suy thoái, conngười cá nhân với ý thức cá tính, tài năng với nhu cầu tự khẳng định và khát vọngmãnh liệt về tự do, tình yêu và hạnh phúc là hình tượng trung tâm của các tácphẩm chứa đựng tinh thần nhân văn cao cả (nhân vật nữ)
* Nghệ thuật khắc họa nhân vật của truyện trung đại:
- Sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng để khắc hoạ vẻ đẹp chân dung nhân vật:
Văn chương cổ đa số là ước lệ, ít tả thực Bút pháp ước lệ tượng trưng được
sử dụng để miêu tả các nhân vật chính diện, lý tưởng như thiếu nữ, thư sinh nhonhã, anh hùng, quân tử Chẳng hạn khi khắc hoạ vẻ đẹp toàn thiện hoàn mĩ trongcốt cách và trong phẩm cách hai chị em Thuý Kiều, Nguyễn Du sử dụng nhữnghình tượng nghệ thuật ước lệ với những ẩn dụ, so sánh, nhân cách hoá hình tượng
thiên nhiên: Mai cốt cách, tuyết tinh thần, khuôn trăng, nét ngài, hoa cười, ngọc thốt, mây thua, tuyết nhường, làn thu thuỷ, nét xuân sơn, hoa ghen, liễu hờn kém xanh”
Những hình tượng thiên nhiên có vẻ đẹp đặc biệt trong sáng, rực rỡ, vữngbền như tuyết - mai, trăng - hoa, mây - tuyết, thu thuỷ - xuân sơn, hoa - liễu, thểhiện bút pháp cực tả tuyệt đối hoá, lí tưởng hoá nhan sắc, cốt cách hai chị emThuý Kiều
Ngoài mô típ hình tượng khuôn mẫu quen thuộc, công thức, những hình tháingôn ngữ có tính chất sáng tạo với từ ngữ nôm na, đa nghĩa, “nhãn tự”, “thần cú”
đã khắc hoạ sinh động chân dung nhân vật, đồng thời thể hiện khuynh hướng tâm
lí hoá ngoại hình, thân phận hoá phẩm cách nhân vật Con người toàn thiện hoàn
Trang 14mĩ như Kiều “ mười phân vẹn mười” “hoa ghen, liễu hờn” nhưng dự báo số phận
đầy bi kịch, gặp mọi tai họa, biến cố:“Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”.
- Sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để miêu tả nội tâm nhân vật:
Tả cảnh ngụ tình là biện pháp nghệ thuật mượn cảnh vật để gửi gắm tâm trạng Cảnh không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng Cảnh là phương tiện miêu tả còn tâm trạng là mục đích miêu tả « Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Văn học trung đại, thiên nhiên là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việcbiểu lộ tình cảm, ý chí con người Cảnh vật làm nền để tâm trạng con người đượcbiểu lộ Chẳng hạn đoạn thơ miêu tả tâm trạng Kiều trước lầu Ngưng Bích,nổi bật trên bức tranh toàn cảnh biển trong buổi chiều hôm là bức tranh tâm trạngđầy bi kịch của Kiều khi nghĩ đến cảnh ngộ hiện tại bế tắc và tương lai mờ mịt củađời mình
Như vậy, khi miêu tả con người cá nhân thì tâm lí với các diễn biến nội tâmphong phú, tinh vi mới hiện lên sâu sắc trên các trang văn thơ
- Ngôn ngữ, hàng động nhân vật : Nhân vật sử dụng loại ngôn ngữ đối thoại, độc
thoại, độc thoại nội tâm Như đoạn miêu tả tâm trạng Kiều khi nhớ người yêu, nhớ
cha mẹ bằng ngôn ngữ độc thoại Chuyện người con gái Nam Xương thông qua lời
đối thoại giữa các nhân vật, đặc biệt lời thoại của Vũ Nương với chồng, với mẹchồng, với đứa con thơ, lời tử biệt, lời than với trời… Qua đó ta thấy tâm trạngđau khổ, tuyệt vọng và những phẩm chất tốt đẹp hiếu thảo, thuỷ chung, giàu tìnhyêu thương, đức hạnh nhưng số phận oan nghiệt của Vũ Nương
Nhân vật có khi được đặt trong các mối quan hệ xã hội, những mâu thuẫn, xungđột, thử thách và qua hành động, ngôn ngữ để bộc lộ tính cách, phẩm chất
Có thể thấy rằng trong truyện trung đại việc miêu tả chân dung ngoại hình,ngôn ngữ, hành động nhân vật nhằm làm nổi bật đặc điểm, tính cách nhân vậtđồng thời thể hiện thái độ nhiệt tình ngợi ca hay phê phán của tác giả
3.5 Xác định, cắt nghĩa/giải thích và đánh giá tác dụng của việc sử dụng chi tiết, hình ảnh.
Chi tiết (nghệ thuật) là những tiểu tiết của tác phẩm có thể là về hoàn cảnh(phong cảnh, môi trường), về nhân vật (chân dung, cử chỉ, phản ứng nội tâm, hành
vi, lời nói); về cốt truyện…Chi tiết mang giá trị tạo hình, làm tiền đề cho cốttruyện phát triển, mang sức khái quát lớn tô đậm tính cách nhân vật, thể hiện tưtưởng, chủ đề, điểm nhìn, nghệ thuật kể chuyện của tác giả… tạo ra những tầngnghĩa sâu xa cho tác phẩm Chi tiết cô đúc là bởi đây là những yếu tố nhỏ trong tácphẩm nhưng lại mang sức chứa lớn về tư tưởng và cảm xúc Chi tiết nghệ thuật có
ý nghĩa quan trọng bậc nhất “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”.