1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học kiểu văn bản nghị luận lớp 7

16 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 81,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình Tập làm văn cấp THCS nhằm cung cấp kiến thức cơ bản về đặc điểm và cách tạo lập các kiểu văn bản: Tự sự; miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và một số văn bản hành chí

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài.

Ngữ văn là một trong ba môn học (Ngữ văn, Toán và Ngoại ngữ) có số giờ học cao nhất ở nhà trường Phổ thông Nó vừa là môn học về khoa học xã hội nhân văn (cung cấp cho học sinh những kiến thức về Tiếng Việt, Văn học và Làm văn, đồng thời hình thành ở học sinh những năng lực sử dụng Tiếng Việt, năng lực tiếp nhận các tác phẩm văn học ), vừa là môn học công cụ (trang bị cho học sinh công cụ để học tập, sinh hoạt và nhận thức xã hội…) Nhiệm vụ

của môn Ngữ văn là hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực: nghe,

nói, đọc, viết tiếng Việt Những năng lực này ở học sinh được hình thành và phát

triển theo 3 bậc học: Tiểu học, THCS và THPT Ở bậc học THSC, môn Ngữ văn bao gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn Mỗi phân môn có một nhiệm vụ chức năng riêng và cùng hướng tới thực hiện nhiệm vụ chung của môn Ngữ văn Đối với phân môn Tập làm văn nhiệm vụ cơ bản bước đầu cung

cấp những kiến thức cơ bản về đặc điểm và kĩ năng tạo lập các loại văn bản Để

thực hiện được cả hai hoạt động này, quá trình dạy học cần tích hợp tri thức và

kĩ năng của cả ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn Đồng thời còn

cần huy động kiến thức của nhiều môn học khác nữa

Phân môn Làm văn cấp THCS có bản chất là dạy học sinh nói, viết một

văn bản hoàn chỉnh Tức là dùng hoạt động nói, viết để tạo ra văn bản Hoạt động này giữ vai trò là trung tâm, là trục chính của môn Ngữ văn Chương trình Tập làm văn cấp THCS nhằm cung cấp kiến thức cơ bản về đặc điểm và cách tạo lập các kiểu văn bản: Tự sự; miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và một số văn bản hành chính thông dụng

Nắm chắc kiến thức cơ bản về đặc điểm và có kĩ năng xây dựng các kiểu văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh là cả một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực của học sinh Nhưng tạo lập một văn bản nghị luận còn khó khăn hơn đối

với học sinh.Văn bản nghị luận sử dụng phương thức biểu đạt chính là nghị luận Nghị luận là việc tác giả nêu ra một quan điểm nào đó rồi nêu ra những sự

thực và vận dụng những phương thức tư duy lôgic như khái niệm, phán đoán, suy lí để bình luận nhằm đạt được mục đích khiến người ta tin theo

Tập làm văn là một trong ba phân môn của bộ môn Ngữ văn Mục tiêu của phân môn này không chỉ là cung cấp cho học sinh kiến thức về các kiểu văn bản, các phương thức biểu đạt, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em mà còn

có nhiệm vụ rèn các kĩ năng cho học trò Trong sáu kiểu văn bản học sinh được học ở trường THCS, kiểu bài nghị luận là kiểu bài học sinh được học nhiều nhất

Trang 2

và cũng là kiểu bài học sinh thấy khó nhất Thực tiễn đó đặt ra một vấn đề đối với ngưòi đứng lớp là làm thế nào để nâng cao hiệu quả dạy học kiểu bài này

II Mục đích nghiên cứu.

Nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học kiểu bài tập làm văn nghị luận lớp 7

III Đối tượng nghiện cứu.

Kiểu bài tập làm văn nghị luận lớp 7

IV Phương pháp nghiên cứu.

- Khảo sát thực tế

- Nghiên cứu tài liệu

- So sánh

- Phân tích

V Phạm vi nghiên cứu.

- Học sinh lớp 7 trường THCS

- Năm học: 2018 - 2019

2019 - 2020

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ.

1 Cơ sở lí luận.

Văn nghị luận chiếm một tỉ lệ rất lớn thời lượng học tập của học sinh ở trường THCS Bắt đầu từ học kỳ II lớp 7 học sinh đã học kiểu bài tập làm văn này Rồi đến học kỳ II lớp 8 và học kỳ II lớp 9 học sinh lại tíêp tục học về cách tạo lập văn bản nghị luận Chưa nói đến ở phần văn bản, ngay từ học kỳ II lớp 7 học sinh cũng đã được học một số văn bản nghị luận Vì vậy, việc hiểu đặc điểm của văn nghị luận sẽ giúp ích rất nhiều cho học sinh trong việc học văn bản Có thể nói kiểu bài tập làm văn nghị luận có một vị trí rất quan trọng trong bộ môn Ngữ văn

Lớp 7 là lớp đầu tiên của bậc THCS học sinh được học kiểu bài tập làm văn nghị luận Do vậy học tốt kiểu bài này ngay từ năm đầu tiên sẽ tạo ra một điều kiện rất thuận lợi cho học sinh những năm sau đó

Việc học tốt văn nghị luận có vai trò, ý nghĩa rất tích cực Học tốt văn nghị luận, học sinh được rèn khả năng tư duy lô gic, biết cách nói chuyện để thuyết phục người khác đồng tình với quan điểm của mình Học tốt văn nghị luận khi đang ngồi trên ghế nhà trường có vai trò vô cùng quan trọng

2 Cơ sở thực tiễn.

Nghị luận là một kiểu văn bản mà học sinh sau này rất cần sử dụng trong đời sống hàng ngày Có lẽ vì thế mà trong chương trình Ngữ văn ở trưòng THCS, kiểu bài này chiếm tỉ lệ thời gian khá lớn

Nhìn lại các đề thi học kỳ, thi tuyển sinh vào lớp 10 của học sinh, ta thấy không năm nào các em không phải viết các bài văn, đoạn văn nghị luận.Thế

Trang 3

nhưng một thực tế lại cho chúng ta thấy rằng học sinh của chúng ta rất ngại học văn, ngại viết văn, nhất là văn nghị luận Các em thường kêu khó Những bài làm của các em - cho dù là học sinh lớp 9, cũng có rất ít bài có tính thuyết phục Với riêng học sinh lớp 7 thì tình hình lại càng tồi tệ hơn nữa Có nhiều em chẳng hiểu văn nghị luận là gì Thực tế đó đòi hỏi những người cầm phấn như chúng ta cần phải suy nghĩ

Là một giáo viên đứng lớp được 23 năm, lại làm quản lý về chuyên môn, tôi được đi dự giờ của nhiều đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường Trước thực tiễn việc dạy và học phần tập làm văn lớp 7 ở trường THCS, tôi nhận thấy:

a Tình trạng khi chưa thực hiện.

Một thực tế chúng ta nhận thấy hiện nay ở các trường THCS là việc dạy -học kiểu bài tập làm văn nghị luận ở lơp 7 còn nhiều hạn chế Ngay ở trường THCS tôi đang công tác, hiệu quả của các giờ dạy tập làm văn nghị luận cũng còn nhiều điều phải xem xét Thực trạng đó được thể hiện cụ thể như sau:

- Về phía giáo viên: nhiều giáo viên chưa giúp học sinh hiểu được đặc

điểm của kiểu văn bản nghị luận, chưa giúp học sinh biết cách tìm hiểu đề, tìm ý

và viết được các đoạn văn nghị luận

- Về phía học sinh:

+ Còn nhiều học sinh chưa hiểu và nhớ được đặc điểm của văn nghị luận

Vì vậy, học sinh không nhận biết được văn bản nghị luận, không nhận biết được luận điểm, luận cứ và cách lập luận

+ Còn có học sinh không biết cách tìm hiểu đề, khi làm bài thì bị lạc đề

+ Nhiều học sinh không biết cách tìm ý, sắp xếp ý, xây dựng đoạn văn nghị luận Trong bài làm, ý bị thiếu, bị sắp xếp lộn xộn, lập luận thiếu chặt chẽ, diễn đạt lủng củng, tối nghĩa

Có thực trạng trên là do các nguyên nhân sau:

- Trước hết, tôi nhận thấy, nghị luận là một kiểu bài khó

- Nguyên nhân thứ hai, đó là nhiều giáo viên chưa trang bị cho mình một vốn kiến thức và phương pháp để dạy kiểu bài cho nên không giúp học sinh tạo lập tốt được kiểu văn bản này Trong thực tế để dạy một tiết văn bản hay là khó song để dạy một tiết Tập làm văn hay càng không dễ chút nào Có đồng chí giáo viên tuy đã hiểu vấn đề nhưng do không biết sử dụng phương pháp phù hợp nên cũng không mạng lại hiệu quả dạy học như mong muốn

- Một nguyên nhân nữa khiến việc dạy học kiểu bài tập làm văn Nghị luận chưa đạt kết quả cao còn là do giáo viên chưa chú ý rèn kỹ năng cho học sinh Chính vì vậy, học sinh thiếu đi các kỹ năng cần thiết khi tạo lập một văn bản

- Nguyên nhân thứ tư đó là còn nhiều học sinh lười học, mải chơi Chính

vì thế nên kết quả học tập không cao

b Số liệu điều tra trước khi thực hiện.

Với đề bài: Giải thích câu nói của Lê-nin: “Học, học nữa, học mãi”.

Trang 4

Năm học 2018 - 2019 tôi thu được kết quả như sau:

Lớp TS

Điểm 0->2,5

Điểm 3-> 4,5

Điểm 5->6,5

Điểm 7->8,5

Điểm 9->10

Trong các bài làm của học sinh, tôi nhận thấy, tỉ lệ học sinh không sử dụng đúng phương pháp lập luận chiếm tỉ lệ khá lớn (những bài được dưới điểm trung bình) Cá biệt có bài lạc đề, sai cả phương thức biểu đạt (nhầm sang tự sự hoặc không rõ một phương thức biểu đạt nào (bài bị điểm dươí 2,5) Nhiều em thiếu ý hoặc sắp xếp ý lộn xộn (Những bài đạt điểm trung bình và yếu) Nhiều bài lập luận chưa chặt chẽ, bài văn chưa có tính mạch lạc, diễn đạt chưa lưu loát, chưa có tính hình ảnh Số lượng bài được điểm khá giỏi chiếm tỉ lệ thấp

II BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.

1.Giải pháp 1: Giáo viên giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm của kiểu bài,

đề bài và cách làm bài.

1.1.Giáo viên cần nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu để nắm chắc kiến thức về kiểu bài.

1.1.1 Hiểu được đặc điểm của văn nghị luận.

Giáo viên cần cho học sinh hiểu và nhớ được đặc điểm của kiểu văn bản

Về đề văn nghị luận, cách làm bài văn nghị luận, tôi nhận thấy sách giáo khoa đã đưa ra vấn đề rất rõ ràng, sách giáo viên cũng định hướng các nội dung này rất cụ thể Song phần đặc điểm của văn nghị luận thì sách giáo viên lại chưa định hướng được một cách rõ ràng cho người dạy Và đây cũng là nội dung mà giáo viên mơ hồ nhất

Trong thực tế có không ít giáo viên chưa nắm chắc các đặc điểm của văn nghị luận chính vì thế không thể giúp học sinh hiểu được đặc điểm của kiểu văn

bản Qua nghiên cứu, tìm hiểu và suy luận, tôi nhận thấy văn nghị luận có những đặc điểm sau đây:

- Có vấn đề nghị luận Đó là đề tài mà bài văn đề cập đến Vấn đề nghị

luận nằm ở nhan đề bài văn và ở đề bài tập làm văn Ví dụ bài văn “Chống nạn

thất học” thì vấn đề nghị luận là nạn thất học; còn nếu đề bài là “Giải thích

câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” thì vấn đề nghị luận là câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” Vấn đề nghị luận trả lời cho câu hỏi

“Bài văn bàn về vấn đề gì?” Khi tìm hiểu một văn bản nghị luận nào cũng phải bắt đầu từ vấn đề nghị luận, từ đó mới tìm hiểu về luận điểm, luận cứ và lập luận Chỉ khi nào đã xác định được vấn đề nghị luận thì mới có thể tìm hoặc xây dựng luận điểm

Trang 5

- Luận điểm: Là ý kiến thể hiện quan điểm, tư tưởng của người viết về vấn

đề nghị luận

+ Về vai trò, tính chất, Luận điểm có quan hệ chặt chẽ với vấn đề nghị luận Luận điểm phải đúng và đủ để làm sáng rõ vấn đề nghị luận Luận điểm là

ý chính trong bài văn nghị luận Nói một cách hình ảnh thì nó là xương sống, là linh hồn của bài văn nghị luận Bài văn nghị luận thưòng có nhiều luận điểm

Có luận điểm chính và luận điểm phụ Luận điểm chính là luận điểm thể hiện

một cách bao quát nhất, trực tiếp nhất quan điểm của người viết về vấn đề nghị

luận Luận điểm phụ là luận điểm triển khai luận điểm chính hoặc là luận điểm

xuất phát làm cơ sở cho luận điểm chính

+ Về hình thức: luận điểm thường được diễn đạt rõ ràng cụ thể, trình bày trong một câu (là câu khẳng định hoặc câu phủ định), có cấu tạo ngữ pháp đầy

đủ Tuy nhiên, cũng có truờng hợp luận điểm được trình bày ở nhiều câu

+ Về vị trí, luận điểm thường đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn

- Luận cứ: Là lý lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm Lí lẽ là

những đạo lí, lẽ phải đã được thừa nhận, nêu ra là được đồng tình Dẫn chứng là

sự việc, số liệu, bằng chứng để xác nhận cho luận điểm Lý lẽ và dẫn chứng phải đúng đắn, phù hợp với luận điểm, ngoài ra dẫn chứng còn cần phải tiêu biểu, toàn diện mới tạo nên sức thuyết phục cho luận điểm

- Lập luận: Là cách nêu luận điểm và vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho

luận điểm được nổi bật và có sức thuyết phục Lập luận bao gồm các cách suy lí, quy nạp, diễn dịch, phân tích, so sánh, tổng hợp sao cho luận điểm đưa ra là hợp

lí, không thể bác bỏ Có thể nói lập luận có mặt ở khắp bài văn nghị luận Có lập luận mới đưa ra được kết luận của nó

Để lập luận có tính chặt chẽ, thì từ việc lựa chọn luận cứ cho tới việc sắp xếp luận cứ và trình bày luận cứ (Diễn đạt ý thành lời) đều phải tập trung hướng vào luận điểm và vấn đề nghị luận

Ví dụ, trong văn bản “Chống nạn thất học”, để đi đến luận điểm một Cần phải chống nạn thất học tác giả chọn các luận cứ sau:

- Khi xưa, Pháp cai trị nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân, chúng

mở nhà tù nhiều hơn trường học, 95% dân số nước ta mù chữ

- Nay, ta giành được độc lập rồi, phải xây dựng đất nước

- Muốn xây dựng đât nước phải có kiến thức

Các luận cứ này được sắp xếp theo trình tự suy luận theo thời gian (xưa-nay) và theo phép suy luận nhân - quả Trong mỗi luận cứ đều thể hiện sự lập

luận: Khi xưa, Pháp cai trị nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân, chúng

mở nhà tù nhiều hơn trường học (nhân) -> 95% dân số nước ta mù chữ.(quả)

Luận cứ hai cũng được lập luận theo quan hệ ấy Từ hai luận cứ, tác giả đưa ra kết luận (luận điểm): Vì vậy, một trong những công việc cấp tốc lúc này là phải

nâng cao dân trí Mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi của mình, bổn phận

Trang 6

của mình …là biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Lập luận như thế là chặt chẽ và thuyết phục

1.1.2 Hiểu được đặc điểm của đề văn nghị luận.

Ngoài việc nắm chắc đặc điểm của văn nghị luận, giáo viên cũng cần hiểu đặc điểm của đề văn nghị luận và cách làm bài văn nghị luận Sách giáo khoa

Ngữ văn 7, Tập hai, trong tiết học về “Đề văn nghị luận và cách làm bài văn nghị luận” đã chỉ rõ về đặc điểm của đề văn nghị luận: Nêu vấn đề nghị luận và đòi hỏi người viết bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề đó (SGK Ngữ văn 7 Tập hai trang 23) Tuy nhiên, giáo viên cần lưu ý thêm: ngoài việc nêu vấn đề nghị luận

và đòi hỏi người viết bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề đó, thì đề văn nghị luận

còn có giới hạn về phạm vi dẫn chứng mà người viết được sử dụng khi làm bài;

vấn đề nghị luận có thể là một vấn đề về xã hội, có thể là một vấn đề về văn học;

đề văn nghị luận có mệnh lệnh đề (cũng có đề không có mệnh lệnh); mệnh lệnh

đề chính là yêu cầu về phương pháp của đề, mệnh lệnh đề có vai trò định hưóng cho người viết về phương pháp làm bài Ví dụ, đề có mệnh lệnh là “chứng minh” (hoặc “làm sáng tỏ”) thì hưóng làm bài của người viết là lấy các dẫn chứng để khẳng định tư tưởng hoặc vấn đề mà đề bài đưa ra là đúng Đề có từ

“giải thích” thì hướng làm bài là giảng giải cho người ta hiểu nội dung, biểu hiện, vai trò, nguyên nhân,…của tư tưởng, vấn đề đó là gì Với các mệnh đề khác thì hướng làm bài cũng sẽ có khác Tuy nhiên ở lớp 7, do bắt đầu làm quen với văn nghị luận nên chủ yếu học sinh được làm bài tập làm văn với hai mệnh

lệnh đề là giải thích hoặc chứng minh, vì vậy tôi cũng chỉ đề cập đến hai mệnh lệnh đề này Còn đề có từ suy nghĩ hoặc cảm nhận hay không có mệnh lệnh tôi

xin được bàn trong một chuyên đề khác Nhiều giáo viên do không hiểu vai trò của các mệnh lệnh trong đề bài tập là văn nghị luận cho nên không cho học sinh hiểu được điều này, dẫn đến khi tìm ý (tức tìm luận điểm, luận cứ), đặc biệt là tìm ý chính (tìm luận điểm) rất lúng túng không tìm được hoặc tìm sai

1.1.3 Hiểu được cách làm văn nghị luận.

Các bước làm một bài văn nghị luận cũng được thực hiện như các bước làm các kiểu văn bản khác đó là tìm hiểu đề, tìm ý; lập dàn bài; viết bài và cuối cùng là kiểm tra văn bản

Khi tìm hiểu đề, cần tìm hiểu vấn đề nghị luận, mệnh lệnh đề và phạm vi dẫn chứng được sử dụng để không bị lạc đề, không bị sai phương pháp lập luận

Khi tìm ý cần chú ý tới mệnh lệnh đề để có hướng tìm ý cho đúng Đối với đề chứng minh, chúng ta sẽ tìm theo các lĩnh vực trong đời sống xã hội Rồi tìm trong văn học Cũng có thể luận điểm được tìm theo sự suy luận theo dòng thời gian Nếu đề bài nêu gián tiếp thì cần giải thích trước khi chứng minh Nếu

đề bài yêu cấu giải thích thì các ý thường là: trình bày khái niệm, nêu biểu hiện (nếu đề bài đưa ra trực tiếp tư tưởng nghị luận), giải thích từ ngữ để tìm ra tư tưởng (nếu đề bài đưa ra tư tưởng gián tiếp dưói hình thức một câu tục ngữ hoặc

Trang 7

một câu danh ngôn), sau đó chỉ ra nguyện nhân, ý nghĩa, liên hệ các tư tưởng trái ngược, những câu nói tưong đồng về ý nghĩa…và rút ra bài học cho bản thân

Sau khi có luận điểm rồi thì tìm luận cứ Đây cũng là công việc rất quan trọng, vì nếu không có luận cứ thì luận điểm cũng không có sức thuyết phục Luận cứ phải phù hợp với luận điểm, phải đúng đắn, nếu là dẫn chứng thì phải tiêu biểu, toàn diện

Về cách lập dàn bài, viết bài thì sách giáo khoa và sách giáo viên đã trình bày rất rõ ràng vì thế tôi xin không được trình bày ở đây

Nói tóm lại, hiểu rõ đặc điểm của văn nghị luận, nắm chắc đặc điểm của

đề văn và cách làm bài văn là yêu cầu cần thiết đối với giáo viên dạy Ngữ văn

Do vậy, nếu chúng ta còn chưa rõ ở nội dung nào thì cần tự học hỏi để nắm chắc vấn đề, có như vậy chúng ta mới có thể chủ động về kiến thức, mới có thể định hướng cho học sinh khi các em không biết là hoặc làm chưa đúng

1.2 Dự kiến phương pháp dạy học để giúp học sinh hiểu được nội dung kiến thức về kiểu bài.

Khi giáo viên đã làm chủ kiến thức thì việc tiếp theo sẽ là dự kiến được phương pháp dạy học Nếu biết sử dụng phương pháp dạy học phù hợp thì mang lại hiệu quả

Trong dạy - học tập làm văn, chúng ta có các phương pháp quy nạp, phân tích mẫu, diễn dịch, so sánh, thực hành…Tuy nhiên sử dụng phương pháp nào trong giờ dạy phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhât là kiểu bài và đối tượng học sinh Với các bài dạy hình thành lý thuyết chúng ta thường sử dụng phương pháp quy nạp, phương pháp phân tích mẫu, phương pháp so sánh Với các bài luyện tập thưòng sử dụng phương pháp thực hành

Phương pháp quy nạp và Phương pháp phân tích mẫu luôn kết hợp với nhau trong một tiết dạy lý thuyết kiểu bài tập làm văn Phương pháp so sánh có thể dùng khi dạy các kiến thức lý thuyết cũng có thể là dạy thực hành Ví dụ so sánh khi tìm luận điểm, khi tìm hiểu đề

Chẳng hạn, khi dạy bài “Đặc điểm của văn nghị luận”, có thể cho học sinh so sánh vị trí của luận điểm chính trong văn bản “Chống nạn thất học” và văn bản “Cần tạo thói quen tốt trong đời sống xã hội” để rút ra kết luận là: Luận

điểm chính có thể đứng ở đầu bài văn với tư cách là luận điểm xuất phát hoặc đứng ở cuối văn bản với tư cách là luận điểm kết luận Khi tìm hiểu đề văn nghị luận có thể cho học sinh so sánh hai hoặc ba đề bài để tìm ra điểm giống và điểm khác của mỗi đề từ đó rút ra kết luận

Để làm được điều này, giáo viên cần hiểu rõ đối tượng học sinh của mình, đọc kỹ mục tiêu cần đạt trong chuẩn kiến thức, kỹ năng từ đó biết được trong bài dạy cần giúp học sinh hiểu và nhớ được kiến thức nào, rèn được kỹ năng nào,

Trang 8

phát huy năng lực nào, bồi dưỡng thái độ nào để dự kiến các phương pháp cho phù hợp

Tôi lấy ví dụ, khi dạy bài “Đặc điểm của văn nghị luận”, ở mục I) Đặc

điểm của văn nghị luận, để giúp học sinh hiểu được luận điểm tôi thiết kế như sau.

Mục tiêu cần đạt Phương pháp, phương tiện Nội dung ghi bảng.

Học sinh hiểu được

đặc điểm của văn nghị

luận: + Luận điểm

+ Luận cứ

+ Lập luận

Hiểu được từng đặc

điểm đó về nội dung,

tính chất, vai trò

- Phát triển năng lực

tư duy, làm việc độc

lập

Chiếu toàn văn bản “Chống nạn thất học”.

? Vấn đề nghị luận của văn bản là gì? (Nạn thất học)

? Ý kiến thể hiện quan điểm của tác giả về vấn đề đó như thế nào?

? Ý kiến ấy được gọi là luận điểm Vậy luận điểm là gì?

? Nếu bài văn chỉ có một luận điểm này thì đã thuyết phục chưa? Tại sao?

- Bài văn còn một luận điểm nữa (Mọi người đều phải tham gia vào việc chống nạn thất học) Hai luận điểm này tập trung làm rõ cho vấn đề nghị luận, đáp ứng được yêu cầu của người đọc.Từ hai câu hỏi này học sinh đã hiểu được luận điểm là gì, luận điểm có đặc điểm nào Tiếp

đó giáo viên đưa câu hỏi đi đến kết luận về luận điểm chính, luận điểm phụ

Hãy chỉ ra vai trò của luận điểm

? Chỉ ra những câu văn chứa luận điểm Nhận xét về cấu tạo, cách diễn đạt và vị trí của các câu văn đó

- LĐ 1 được thể hiện ở nhan

đề, ở câu “Một trong những

…là nâng cao dân trí Mọi

I Đặc điêm của văn nghị luận.

1.VD: Văn bản “Chống

nạn thất học”

2 Nhận xét:

- Vấn đề nghị luận: nạn thất học

- Quan điểm của người viết về vấn đề nghị luận: cần chống nạn thất học

-> Luận điểm: là ý kiến thể hiện quan điểm tư tưỏng của ngưòi viết về vấn đề nghị luận

+ Luận điểm phải tập trung để làm rõ vấn đề nghị luận

+ Có luận điểm chính và luận điêm phụ

+ Luận điểm có tính đúng đắn, chính xác

+ Luận điểm là xương sống, là linh hồn của bài văn nghị luận

+ Luận điểm thường được diễn đạt thành câu,

rõ ràng, có thể đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn

Trang 9

người Việt Nam…biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ.”

- Luận điểm hai không được diễn đạt thành câu.(Được thể hiện trong nhiều câu ở nhiều đoạn văn)

Với kiến thức về luận cứ và lập luận chúng ta cũng làm tương tự theo cách

như vậy Điều lưu ý là giáo viên cần dự kiến các tình huống xảy ra trong giờ học

để có biện pháp xử lý cho phù hợp

Ví dụ hai, khi dạy bài “Đề văn nghị luận và cách làm bài văn nghị luận”, ở mục “Đề văn nghị luận”, giáo viên có thể thiết kế như sau:

Mục tiêu cần đạt Phương pháp, phương tiện Nội dung ghi bảng.

Học sinh hiểu được đặc

điểm của đề văn nghị

luận: có vấn đề nghị

luận, mệnh lệnh, phạm

vi, tính chất

- Ra được một đề văn

nghị luận

- Phát triển năng lực tư

duy, giao tiếp, sử dụng

ngôn ngữ

Chiếu các ví dụ lên máy chiếu.(Là các ví dụ trong sách giáo khoa ở bài học này

có bổ sung thêm một đề

“Bằng các bài ca dao được học trong chương trình Ngữ văn 7 hãy chứng minh ca dao là tiếng hát yêu thương tình nghĩa”.) Học sinh quan

sát

? Xác định yêu cầu của các

đề bài trên

- HS xác định yêu cầu của từng đề, giáo viên nhận xét, chữa bài

? Các đề bài trên có gì giống

và khác nhau?

- Học sinh thảo luận để rút ra nhận xét, giáo viện kết luận

I Đề văn nghị luận 1.Ví dụ.

SGK

2 Nhận xét:

- Mỗi đề đều nêu vấn đề nghị luận Vấn đề nghị luận có thể là một vấn

đề thuộc về hiện tượng đời sống xã hội (đề 1, 2), có thể thuộc một tư tưỏng đạo lý (đề 3, 4, … 11), có thể là một vấn

đề văn học.( đề bổ sung)

- Có đề có mệnh lệnh (Chứng minh, nên chăng, có mâu thuẫn nhau không,…), có đề không có mệnh lệnh

Trang 10

? Hãy ra một đề văn nghị luận

- HS ra đề

- GV nhận xét và chỉnh sửa nếu hs làm chưa đúng

- Có đề có phạm vi dẫn chứng (đề bỏ sung), có

đề không có phạm vi dẫn chứng (Các đề còn lại)

- Tính chất: có đề có tính chất ngợi ca, có đề

có tính khuyên nhủ, có

đề có tính bàn luận KL: Đề văn nghị luận nêu vấn đề nghị luận, thường có mệnh lệnh

đề, phạm vi và tính chất đề

Trên đây là hai ví dụ minh hoạ thể hiện việc lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học trong các tiết dạy lý thuyết kiểu bài tập làm văn nghị luận ở lớp 7 Với các nội dung còn lại mà tôi chưa lấy ví dụ, giáo viên có thể áp dụng cách làm này

2 Giải pháp 2: Rèn kỹ năng cho học sinh.

2.1.Rèn kỹ năng tìm hiểu đề.

Yêu cầu với việc tìm hiểu đề là học sinh phải xác định được vấn đề nghị luận, mệnh lệnh đề, phạm vi đề, từ đó để định hướng được phương pháp làm bài Muốn vậy, khi ra bài tập, giáo viên phải có sự lựa chọn các đề sao cho đạt hiệu quả rèn kỹ năng cao nhất

Tôi lấy vi dụ, để rèn kỹ năng phân biệt đề nghị luận với đề tự sự, miêu tả hoặc biểu cảm giáo viên có thể ra câu hỏi sau:

Chỉ ra yêu cầu của mỗi đề sau đây rồi cho biết đề nào là đề nghị luận?

Đề 1: Hãy kể một câu chuyện về lối sống giản dị của Bác.

Đề 2: Chứng minh Bác Hồ là người vô cùng giản dị.

Đề 3: Giản dị là một đức tính quý của con người Em hiểu thế nào là giản dị?

Từ bài tập này, học sinh phân biệt được đề văn nghị luận với đề văn tự sự Sau khi học sinh chỉ ra được đề hai và đề ba là đề nghị luận, giáo viên có

thể hỏi tiếp câu hỏi sau đây để rèn kỹ năng tìm hiểu yêu cầu của đề văn nghị luận: Vấn đề nghị luận và mệnh lệnh đề của hai đề nghị luận có gì khác nhau? Chỉ ra được sự khác nhau đó (Đề hai nêu vấn đề và luận điểm của bài văn: “Bác

Hồ là người vô cùng giản dị”, còn đề ba vấn đề nghị luận là tính giản dị, đề ba chưa có luận điểm Mệnh lệnh của đề hai là chứng minh, còn ở đề ba là em hiểu

Ngày đăng: 13/04/2021, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w