Với các em, tôi đã rất băn khoăn trăn trở để tìm ra những cách khác nhau, trong đầu tôiluôn đặt câu hỏi cho mình : Phải làm thế nào để giúp các em nắm được và thựchành tốt được những kĩ
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Môn Ngữ văn là môn học cực kì quan trọng trong hệ thống Giáo dục vàĐào tạo nước ta Bởi vì dạy Văn là dạy cách ứng xử, dạy cách làm người Ngữvăn là công cụ đắc lực trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Đối tượng học sinh ở bậc phổ thông nói chung và học sinh ở Trung học cơ
sở nói riêng rất hồn nhiên, trong sáng Các em như vùng đất phù sa màu mỡ phìnhiêu Người giáo viên cùng toàn xã hội phải có trách nhiệm gieo trồng nhữnghạt giống tốt để thu hoạch những hoa thơm, trái ngọt cả về tri thức và đạo đức.Với môn Ngữ văn, hạt giống tốt về kiến thức văn học không chỉ riêng nội dung ýnghĩa sâu sắc từ mỗi bài học hay một khái niệm Tiếng Việt nào đó, mà học sinhcần phải có được những kĩ năng cần thiết để làm văn một cách thành thạo Mặtkhác, Văn học từ lâu đã là một bộ môn khoa học xã hội hay, song lại là một mônhọc khiến nhiều học sinh ngại học, ngại viết Vậy đối với giáo viên giảng dạy bộmôn Ngữ văn, ngoài việc cung cấp nội dung bài dạy theo hướng dẫn của sáchgiáo khoa, sách giáo viên, chúng tôi còn phải rất quan tâm đến phương pháp rèn
kĩ năng làm văn cho học sinh
I Lí do chọn đề tài :
Đã từ lâu, tôi rất quan tâm đến kiểu bài Nghị luận trong chương trình Ngữvăn Đây là một kiểu bài khó trong chương trình Tập làm Văn của cấp Trung học
cơ sở Tôi đã để tâm nghiên cứu và đưa vào thực nghiệm rèn cho học sinh một số
kĩ năng để các em làm tốt hơn một bài văn nghị luận Đặc biệt, trong năm họcnày, tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy môn Ngữ văn lớp 7, năm học đầu tiên họcsinh được làm quen với kiểu bài nghị luận Với học sinh lớp 7, tư duy lô-gic, tưduy trừu tượng của các em còn non nớt, không muốn nói là còn hạn chế thì việchọc và làm văn nghị luận đối với các em là một việc vô cùng khó khăn Với các
em, tôi đã rất băn khoăn trăn trở để tìm ra những cách khác nhau, trong đầu tôiluôn đặt câu hỏi cho mình : Phải làm thế nào để giúp các em nắm được và thựchành tốt được những kĩ năng của kiểu bài nghị luận, để các em có thể viết đượcnhững bài văn nghị luận đạt yêu cầu ?
1.Cơ sở lí luận:
Con người muốn tồn tại trong tự nhiên và trong xã hội bao giờ cũng có yêucầu và cũng cần nhận thức về thế giới Để nhận thức thế giới, con người khôngchỉ dựa vào những hiểu biết do giác quan mang lại Là động vật có tư duy, conngười còn biết các tri thức do giác quan mang lại mà phán đoán và suy luận đểnhận thức sâu hơn về thế giới Dựa trên những phán đoán và suy luận chính xác,con người đã phát hiện ra rất nhiều quy luật của tự nhiên và xã hội Càng ngày
Trang 2con người càng nắm chắc quy luật đó để làm chủ thế giới và cải tạo thế giới Phánđoán, suy luận – thao tác của tư duy nhận thức con người – là yêu cầu thườngxuyên và liên tục của tư duy nhận thức con người Nhưng tư duy con người baogiờ cũng gắn chặt với ngôn ngữ và tiến hành trên cơ sở ngôn ngữ Do đó, vănnghị luận cũng ra đời và phát triển theo yêu cầu nhận thức của con người.
Văn nghị luận có thể được xem là phương tiện giúp con người nhận thứcthế giới, nhận thức bằng tư duy lí tính, bằng trừu tượng hóa, khái quát hóa Nhậnthức con người ngày càng phát triển phong phú thì văn nghị luận cũng phát triểnphong phú và đa dạng
Chúng ta thấy văn nghị luận trong những văn bản triết học xa xưa như
“Luận ngữ, Mạnh Tử” (Trung Quốc), trong những luận văn triết học của clit, A-ri-xtôt (Hi Lạp), chúng ta còn thấy văn nghị luận dưới dạng những tácphẩm văn học như “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn), “Bình Ngô đại cáo”(Nguyễn Trãi)… Và chúng ta còn thấy văn nghị luận trong xã luận, bình luận trênbáo chí, trong các công trình nghiên cứu, phê bình văn học
Hê-ra-Như vậy, văn nghị luận đã hình thành cách chúng ta một khoảng thời giankhá xa và phát triển cùng với sự phát triển của tư tưởng văn hóa nhân loại Đếnngày nay, văn nghị luận càng phát triển đến một tầm cao mới Nó chính là mộtthứ vũ khí khoa học, vũ khí tư tưởng vô cùng sắc bén có thể giúp con người nhậnthức đúng đắn mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng giúp một phần không nhỏthúc đẩy mọi hoạt động thực tiễn của con người
Chính vì vậy, văn nghị luận là một loại văn đã được đưa vào giảng dạy vàcũng trở thành một nội dung quan trọng trong việc dạy – học văn trong nhàtrường Văn nghị luận đặt ra những vấn đề tư tưởng, quan điểm về học thuật đòihỏi người học sinh phải tìm ra những hướng giải quyết và từ đó giúp cho các emvận dụng tổng hợp các tri thức đã học được từ tự nhiên đến xã hội, rèn các kĩnăng diễn đạt bằng ngôn ngữ, khả năng tư duy lô-gic khoa học, nghĩa là cóphương pháp tư duy đúng để tìm hiểu đúng vấn đề và có thái độ đúng trước các
sự việc xảy ra trong cuộc sống Từ đó, các em được phát triển tư duy và hoànthiện nhân cách một cách toàn diện Vì vậy, văn nghị luận ngày càng quan trọng
và chiếm một vai trò không nhỏ trong cuộc sống của con người
Vậy nên hiểu về văn nghị luận như thế nào?
Văn nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống
xã hội con người Vì nó giúp cho con người rèn luyện năng lực tư duy biểu đạtnhững quan điểm những tư tưởng sâu sắc trong đời sống Văn nghị luận thựcchất là văn bản lí thuyết, văn bản nói lí lẽ, nhằm phát biểu những nhận định, tư
Trang 3tưởng, suy nghĩ, thái độ trước một vấn đề đặt ra Do đó, muốn làm văn nghị luậnphải có một khái niệm về một vấn đề, có quan điểm, chủ kiến, biết vận dụng kháiniệm, đồng thời biết tư duy lô-gic, biết vận dụng những thao tác phân tích, tổnghợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, tư duy trừu tượng, có năng lực nghị luận là mộtđiều kiện để con người có thể thành công trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
2 Cơ sở thực tiễn
a Trong văn học trung đại :
- Có văn nghị luận cổ: được nhà vua Lí Thái Tổ sử dụng để ban “Chiếu dời đô”(Thiên đô chiếu) với mục đích nêu lên một tư tưởng, một quan điểm lớn là chọnnơi đóng đô để mưu toan nghiệp lớn, xây dựng một quốc gia độc lập, hùngcường, tìm kế phát triển lâu bền cho nhân dân, xã tắc
- Tiếp đó là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn viết bài văn nghị luận “Hịchtướng sĩ” đúng lúc Tổ quốc bị lâm nguy trước nạn ngoại xâm của đế chế MôngNguyên vào thế kỉ XIII để khích lệ lòng yêu nước, lòng căm thù giặc; để cáctướng sĩ đồng tâm hiệp lực đứng dậy đánh đuổi giặc ngoại xâm
- Rồi nữa, đến thế kỉ XV, sau khi Lê Lợi quét sạch không còn bóng dáng một têngiặc Minh nào trên đất nước ta thì Nguyễn Trãi đã thay mặt ông viết bài văn nghịluận “Bình Ngô đại cáo” (Cáo Bình Ngô) để tổng kết toàn bộ thắng lợi ấy vàtuyên bố nền độc lập tự cường của dân tộc Đại Việt – một dân tộc có chủ quyền
b Trong văn học hiện đại :
- Sau khi cuộc cách mạng tháng Tám – năm 1945 thành công, Hồ Chí Minh viếtvăn bản nghị luận “Tuyên ngôn độc lập” để khai sinh ra nước Việt Nam dân chủcộng hòa
- Khi nói về truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh viếtvăn bản nghị luận “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” (Ngữ văn 7 – tập II)
- Khi muốn bàn về sự giàu đẹp và trong sáng của tiếng Việt ta, nhà phê bình vănhọc Đặng Thai Mai đã tôn vinh vẻ đẹp của tiếng Việt bằng văn bản nghị luận “Sựgiàu đẹp của tiếng Việt” (Ngữ văn 7, tập II)
- Khi muốn bàn về sự vô giá của sách và tầm quan trọng của việc đọc sách đốivới đời sống con người và các phương pháp đọc sách để tích lũy kiến thức đểnâng cao tầm hiểu biết, nhà mĩ học, lí luận văn học Trung Quốc – Chu QuangTiềm đã dùng văn bản nghị luận “Bàn về đọc sách” (Ngữ văn 9 – tập II)
- Ngoài ra, trong cuộc sống, còn vô cùng nhiều những văn bản khác được viếtbằng phương thức nghị luận với mục đích trình bày những tư tưởng, quan điểm tưduy trước thực tiễn cuộc sống xã hội của con người Cho nên văn nghị luận làmột kiểu văn bản có một vị trí vô cùng quan trọng trong thực tế đời sống xã hội
Trang 4con người.
- Vì vậy, sách Ngữ văn lớp 7 đã đưa vào chương trình giảng dạy phần nội dungtìm hiểu chung về văn nghị luận với hai phương pháp lập luận chứng minh vàgiải thích để tiến hành lập luận trong bài văn nghị luận Tuy nhiên, phần bài tậptìm hiểu và bài tập rèn kĩ năng mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận biết, còn phầnluyện tập thì chưa nhiều
3 Về tính cấp thiết
- Vậy, làm thế nào để học sinh lớp 7 có thể nắm vững kĩ năng tạo lập văn bảnnghị luận là một vấn đề đặt ra ngay trước mắt ? Với đối tượng học sinh lớp 7, họcvăn nghị luận là một việc làm khá khó khăn Để trả lời câu hỏi đó, theo tôi họcsinh cần phải được luyện tập thêm hệ thống bài tập để nắm vững đặc trưng củaphương thức nghị luận, phương pháp làm bài văn nghị luận, các bước tạo lập vănbản nghị luận; cần phải có thêm thời gian Và hơn hết, học sinh cần có lòng yêuthích bộ môn Ngữ văn thì mới có được những bài văn nghị luận hay, đặc sắc, cósức lay động lòng người
- Trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi đã tích lũy cho mình một vàikinh nghiệm – mà theo tôi nghĩ, đã giúp ích rất nhiều trong việc làm văn nghị
luận, tôi mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình trong đề tài: “Một vài phương pháp rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh khá, giỏi lớp 7 – Trung học cơ sở”
II Thời gian và đối tượng nghiên cứu, khảo sát, thực nghiệm:
- Đề tài được áp dụng trong năm học 2014 - 2015 Tôi bắt đầu có ý tưởng nàynghiên cứu đề tài này từ những năm học trước Và năm nay được nhà trườngphân công dạy môn Ngữ văn khối 7 nên tôi đã bắt tay vào thực hiện nghiên cứu
đề tài này ngay từ khi lên kế hoạch dạy học tháng 9 năm 2014, đến cuối tháng 4năm 2015 đề tài của tôi đã kết thúc
- Tôi nghĩ rằng việc rèn kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh lớp 7, trướchết là áp dụng đối với học sinh có lực học khá, giỏi của khối Sau khi thu đượcnhững kết quả khả quan, tôi sẽ tiến hành thực hiện đối với học sinh ở những lớpđại trà và thực hiện tiếp tục ở các năm học sau này Tuỳ cơ ứng biến, tôi còn cóthể sử dụng kinh nghiệm này một cách tỉ mỉ, kiên trì cho đối tượng là những họcsinh ngại học văn, chưa có tình cảm với thể loại văn nghị luận
- Đối với lớp học sinh khá, giỏi, nội dung đề tài sẽ được lồng ghép trongnhững chuyên đề bồi dưỡng học sinh khá, giỏi và những giờ dạy, học theo phânphối chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, những giờ học bồi dưỡngngoài giờ học chính khóa Ngay cả những tiết học ngoại khóa cũng có thể áp
Trang 5dụng được Bên cạnh đó, tôi còn áp dụng bằng cách đưa bài tập về nhà để các emluyện tập thêm, sau đó sẽ thu lại và chấm chữa cho các em nhận ra ưu, nhượcđiểm để làm những bài sau được tốt hơn.
III Nhiệm vụ của sáng kiến :
Từ những đối tượng đưa ra ở trên, giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn 7 sẽ phảithật linh hoạt trong việc rèn kĩ năng cho học sinh Sau đây là những nhiệm vụ củasáng kiến kinh nghiệm này:
+ Giúp học sinh biết cách tìm hiểu đề bài để xác định đúng yêu cầu của đề bài,định hướng làm bài cho đúng với yêu cầu
+ Hướng dẫn học sinh cách tìm ý cho bài văn nghị luận nói chung và cả hai loạinhỏ: chứng minh và giải thích
+ Hướng dẫn học sinh cách lập dàn bài, xây dựng các dàn bài đại cương và cảdàn bài chi tiết
+ Rèn kĩ năng dựng đoạn trong văn nghị luận
+ Rèn kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận cho học sinh
+ Luyện lời văn chuyển đoạn, liên kết đoạn cho bài văn nghị luận
+ Luyện viết mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận; luyện viết những đoạn vănnhỏ trong phần thân bài
+ Giao viết bài hoàn chỉnh từ những dàn ý có sẵn
IV Phương pháp nghiên cứu.
1 Trực tiếp giảng dạy, đọc và sưu tầm tài liệu tham khảo
2 Khảo sát đối tượng học sinh qua trực tiếp giảng dạy bằng những bài kiểm tratrắc nghiệm, bài kiểm tra thường xuyên hoặc định kì, bài viết Tập làm Văn
3 Tham khảo ý kiến đồng nghiệp
4 Điều tra, dự giờ, thực nghiệm
5 Đàm thoại, kiểm tra, đối chiếu trước và sau khi áp dụng đề tài sáng kiến kinhnghiệm
6 Viết đề cương, từ đó áp dụng vào để viết sáng kiến kinh nghiệm
B NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀPhần I Thực trạng vấn đề qua khảo sát thực tế :
Năm học 2014 – 2015, tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy môn Ngữ văncủa khối 7 Trong đó có một lớp có đại đa số học sinh có lực học khá, giỏi ; hailớp còn lại số học sinh khá, giỏi rất ít, đại đa số là học sinh có học lực trung bình,một số ít học sinh có lực học yếu kém Ở học kì I, các em học tiếp về tự sự, vănmiêu tả và văn biểu cảm (các kiểu bài mà các em đã học ngay từ lớp 2 của bậcTiểu học) Đến học kì II của lớp 7, các em được làm quen với kiểu bài nghị luận,
Trang 6một kiểu bài rất mới mẻ đối với các em Những tiết đầu tiên học văn nghị luận,ngay cả lớp có nhiều học sinh khá, giỏi, có năng lực nhận thức nhanh nhạy cũngnghe giảng như vịt nghe sấm ; hầu như tôi đều phải nói đi nói lại nhiều lần để các
em có thể nhận dạng được sự khác nhau của kiểu bài nghị luận với các kiểu bàicác em đã học Tôi nhìn thấy rất rõ sự lo lắng vì không hiểu bài của học sinh Tôicũng trực tiếp được nghe các em bày tỏ những băn khoăn, những khó khăn khitiếp nhận kiểu bài này Rồi đến khi làm bài tập thực hành, và nhất là khi làm bàiviết thì tôi nhận thấy rất rõ sự lo âu ấy hiện lên trên nét mặt các em Các em thực
sự thấy lúng túng với văn nghị luận vì nó khác xa so với những kiểu bài mà các
em đã học
Qua quá trình giảng dạy một số giờ, tôi nhận thấy khả năng diễn đạt, dùng
từ, đặt câu, của các em còn chưa đạt yêu cầu; các em không tự làm được dàn ý
và đặc biệt là không biết dựng một đoạn văn nghị luận theo các cách trình bày nộidung thông thường Tôi đã từng gặp nhiều khó khăn trong việc rèn kĩ năng diễnđạt cho học sinh qua các giờ dạy vì quỹ thời gian trên lớp không có để thực hiện
và tổ chức cho học sinh luyện tập nhiều Mặt khác, do một bộ phận học sinh cònchậm chạp, khả năng nhận thức cũng như khả năng tư duy còn nhiều hạn chế; các
em học tập còn thụ động, chưa tích cực, việc chuẩn bị bài chưa tốt, các kĩ năngTập làm văn chưa thuần thục
Trước khi thực hiện đề tài này, tôi tiến hành khảo sát học sinh bằng cáchgiao cho học sinh một số bài tập về nhà làm :
Đề số 1 : Viết một đoạn văn khoảng 10 đến 15 câu chứng minh lợi ích của việc đọc sách đối với con người
Đề số 2 : Viết một đoạn văn giải thích nghĩa của câu tục ngữ “Lá lành đùm lá
Trang 7sinh, tôi thấy rõ: Các kĩ năng làm văn của các em còn nhiều hạn chế, nhiều em tỏ
ra rất lúng túng, vụng về trong khi dùng từ, đặt câu và diễn đạt, Các em rất ítvốn từ, từ ngữ còn thô, gần với lời nói hàng ngày, ít chất văn, chứ chưa nói gì đếntính khả năng diễn đạt trôi chảy và dùng lời văn trau chuốt, có sự liên kết chặtchẽ Vì vậy, tôi chọn đề tài này để rèn luyện cho học sinh kết hợp trong các tiếthọc chính khóa, các buổi học bồi dưỡng chiều để củng cố, nâng cao kiến thức,rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận
Phần II Những nội dung lí luận và giải pháp thực hiện
I Khái quát chung về văn nghị luận:
1 Căn cứ vào nội dung, người ta chia văn nghị luận thành hai loại:
a Nghị luận xã hội:
- Là nghị luận về một vấn đề xã hội Khái niệm xã hội được hiểu theo nghĩa rộngbao gồm những vấn đề thuộc mọi quan hệ, hoạt động của con người trong mọilĩnh vực đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, giáo dục đạo đức, dân số, môitrường
b Nghị luận văn học:
- Là nghị luận về một vấn đề văn học, về một tác phẩm, một tác giả, một giaiđoạn, một trào lưu, một quan điểm văn học nào đó
2 Căn cứ vào cách thức, người ta chia văn nghị luận thành các kiểu:
a Kiểu bài chứng minh:
- Là kiểu bài mà người viết dùng dẫn chứng, lí lẽ để nêu bật sự đúng đắn của vấn
đề được nêu ra
- Nghị luận chứng minh là làm cho người đọc thấy đúng mà tin
b Kiểu bài giải thích:
- Là kiểu bài trong đó người viết dùng lí lẽ và có dẫn chứng làm cho người đọc,người nghe hiểu rõ, tin vào sự đúng đắn của vấn đề đưa ra nghị luận
Trên đây là hai kiểu bài chính mà học sinh được học ở lớp 7, 8 Ngoài ra, còn cócác kiểu bài khác như: bình luận, phân tích, bình giảng, hỗn hợp
Tuy nhiên chứng minh, giải thích là những phương pháp dùng khi nghị luận Tùytheo những yêu cầu cụ thể mà chúng ta sử dụng phương pháp nào là chủ yếu Mộtbài văn nghị luận không phải chỉ sự dụng một phương pháp nghị luận, mà thường
có sự kết hợp nhiều phương pháp Nghĩa là trong chứng minh có giải thích, tronggiải thích có chứng minh, và có cả phân tích, bình luận nữa Ngoài ra còn sử dụng
cả miêu tả, tự sự, biểu cảm trong nghị luận Để bài văn nghị luận cụ thể, rõ ràng,sinh động, hấp dẫn và có sức thuyết phục cao thì chúng ta phải lựa chọn phươngpháp nghị luận cho hợp lí nhất
Trang 83 Dạng đề:
Văn nghị luận có nhiều dạng đề khác nhau Trong thực tế, cách ra đề vănnghị luận cũng khá đa dạng và linh hoạt Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung, hìnhthức cấu tạo đề, ta có thể xếp đề văn nghị luận theo hai dạng sau:
a Dạng đề nổi: là dạng đề mà các yêu cầu về nội dung, hình thức, cách thức,
phương hướng, phạm vi, mức độ nghị luận được nêu rõ ràng, trực tiếp
- Dạng đề này có 3 phần:
Lời dẫn dắt, giới thiệu đề
Nêu nội dung vấn đề nghị luận: ý kiến, nhận định, đoạn văn, đoạn thơ,…
Lời chỉ dẫn cách thức, phương hướng, phạm vi, mức độ nghị luận
b Dạng đề chìm: là dạng đề khó có dữ liệu rõ, đầy đủ (các yêu vầu về nội dung,
cách thức, phạm vi nghị luận), có khi chỉ xuất hiện một bộ phận thông báo nộidung nghị luận
4 Kết cấu bài văn nghị luận:
b Thân bài – Giải quyết vấn đề:
- Nhiệm vụ triển khai đầy đủ ý lớn (luận điểm chính), ý nhỏ (luận điểm phụ) đểgiải quyết triệt để yêu cầu của đề bài
- Tùy theo yêu cầu của đề bài, phần này sẽ diễn ra một số thao tác như: chứngminh, giải thích, phân tích, bình luận… để làm rõ vấn đề
- Thân bài thường gồm nhiều đoạn văn, mỗi đoạn văn tuy được trình bày táchbạch, độc lập với nhau nhưng phải thể hiện được sự nối tiếp, liên kết với nhauchặt chẽ theo các trình tự cụ thể để làm sáng tỏ luận đề
c Kết bài – Kết thúc vấn đề:
- Nhiệm vụ đóng lại bài, kết thúc vấn đề đặt ra ở mở bài và phần thân bài
- Thường gồm một đoạn văn, nêu ý khái quát
- Nếu mở bài có nhiệm vụ giới thiệu ý khái quát thì phần kết bài có nhiệm vụ rút
ra kết luận chung, đánh giá chung vấn đề, nêu những liên hệ vận dụng trong đờisống
5 Các yếu tố chủ yếu tạo nên bài văn nghị luận:
Ý: Văn nghị luận là loại văn của tư duy lô-gic, tư duy trừu tượng Nó bao
gồm những ý kiến thể hiện, những phán đoán suy luận, gọi tắt là ý Tùy
Trang 9theo mức độ, vai trò, vị trí đối với bài văn nghị luận, những ý được gọi là:luận đề, luận điểm, luận cứ.
a Luận đề: là vấn đề nghị luận Đó là ý kiến được nêu ra trong đề, yêu cầu giải
quyết
b Luận điểm: là những ý chính hàm chứa trong luận đề Luận đề có thể có một
luận điểm hoặc nhiều luận điểm Trong từng luận điểm lại phân chia thành nhữngluận điểm nhỏ hơn Các luận điểm lớn, nhỏ đó tương đối độc lập với nhau nhưngcùng quy về luận đề để thuyết minh, làm sáng tỏ luận đề
c Luận cứ: là các cứ liệu để thuyết minh cho luận điểm Có hai loại luận cứ: lí lẽ
(các nguyên lí, chân lí, ý kiến đã được công nhận) và thực tế (đời sống hoặc vănhọc dùng làm dẫn chứng) Luận cứ là những lí lẽ, dẫn chứng hình thành nên luậnđiểm, thuyết minh soi sáng luận điểm
d Tổ chức liên kết ý:
- Có luận điểm, luận cứ rồi phải biết tổ chức, phối hợp trình bày theo những quan
hệ nhất định sao cho luận cứ nói lên được luận điểm, luận điểm thuyết minh đượcluận đề một cách mạnh mẽ, nổi bật, đầy sức thuyết phục
- Việc tổ chức liên kết ý gọi là lập luận Cách đưa luận điểm, luận cứ vào quỹ đạolô-gic trong quá trình trình bày để tạo nên sức thuyết phục mạnh mẽ cho việc giảiquyết luận đề và biện pháp thực hiện
6 Các thao tác nghị luận:
a Khái niệm: Thao tác nghị luận là thao tác tìm, xác lập hệ thống luận đề, luận
điểm, luận cứ và thao tác làm cho hệ thống này đến người đọc và thuyết phụcđược người đọc (người nghe)
- Để tìm luận đề, luận điểm, luận cứ, người viết phải sử dụng các thao tác lô-gic
mà nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, đối tượng Các thao tác này đồng thời làcách thức trình bày các ý của bài văn Để luận đề, luận điểm, luận cứ đến đượcvới người đọc, chúng ta phải vận dụng các thao tác nghị luận thực sự
- Thuộc loại thao tác nghị luận (đồng thời là cách thức trình bày ý) là các cặp thaotác: phân tích, tổng hợp; quy nạp, diễn dịch Thuộc loại thao tác nghị luận thực sự
là giải thích, bình luận (thao tác chứng minh đồng thời cũng là thao tác lô-gic)
b Các thao tác nghị luận thuộc thao tác lô-gic:
- Phân tích và tổng hợp:
+ Phân tích: là đem một ý kiến, một vấn đề lớn chia ra thành những ý kiến, nhữngvấn đề nhỏ để xem xét từng khía cạnh của vấn đề Có phân tích thì mới mở rộngđược vấn đề, làm cho bài văn nghị luận được sâu sắc, phong phú
+ Tổng hợp: là đem ý kiến nhỏ, vấn đề nhỏ, vấn đề riêng quy lại thành một ý kiến
Trang 10lớn, vấn đề lớn mang tính chung nhất Đó không phải là sự gộp lại đơn giản, màtheo nguyên tắc: chỉ tổng hợp những cái chung, cái đồng thời nhất trong từng bộphận và tổng hợp theo cấp bậc.
Phân tích và tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau.Phân tích mà không có tổng hợp thì phân tích sẽ lan man, tản mạn, xa đề Tổnghợp mà không có phân tích thì sẽ không mở được vấn đề, sẽ không có sức thuyếtphục, bài văn nghị luận sẽ hời hợt, không sâu sắc
Ví dụ:
(1)Trong hoàn cảnh “trăm dâu đổ đầu tằm”, ta càng thấy chị Dậu thật là một phụ nữ đảm đang, tháo vát (2)Một mình chị phải giải quyết khó khăn đột xuất
của gia đình, phải đương đầu với thế lực tàn bạo: quan lại, cường hào, địa chủ
và tay sai của chúng (3)Chị có khóc lóc, có kêu trời, nhưng chị không nhắm mắt khoanh tay, mà tích cực tìm cách cứu được chồng ra khỏi cơn hoạn nạn (4)
Hình ảnh chị Dậu hiện lên vững chãi như một chỗ dựa chắc chắn cho cả gia đình.
(Theo Nguyễn Đăng Mạnh)Đoạn văn trên có bốn câu:
o Câu 1 (tổng): Hoàn cảnh của chị Dậu và ca ngợi phẩm chất của chịDậu
o Hai câu 2 và 3 (phân): Chứng minh những khó khăn mà chị Dậu phảiđối mặt, phải vượt qua, để cứu chồng ra khỏi cơn hoạn nạn
o Câu 4 (hợp): Khái quát những vấn đề đã phân tích, chứng minh bằngmột nhận định có tính tổng quát về chị Dậu
- Diễn dịch và quy nạp:
+ Diễn dịch: là thao tác tư duy đi từ cái chung đến cái riêng, từ cái toàn thể đếncái bộ phận, từ cái khái quát đến cái đơn nhất, từ chân lí đã có tìm ra chân límới…
Ví dụ:
(1) Nghệ thuật trong “Nhật kí trong tù” rất phong phú (2)Có lời phát biểu trực tiếp, đọc hiểu ngay (3)Có bài lại dùng lối ngụ ngôn thâm thúy (4)Có bài tự sự (5)Có bài trữ tình hay vừa tự sự vừa trữ tình (6)Lại có bài châm biếm (7)Nghệ thuật châm biếm cũng nhiều vẻ (8)Khi là tiếng cười mỉa mai (9)Khi là tiếng cười phẫn nộ (10)Cũng có khi đằng sau tiếng cười ấy là nước mắt.
Đoạn văn trên gồm 10 câu Câu 1 là câu chủ đề, là câu mở đoạn, câu mang ýnghĩa chính của đoạn 9 câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủđề
Trang 11+ Quy nạp: là thao tác tư duy đi từ cái riêng đến cái chung, từ cái bộ phận đến cáitoàn thể, từ cái đơn nhất đến cái khái quát
Ví dụ:
(1) Cùng một tư tưởng rèn luyện như trên, bài thơ này lại tạo ra một hình tượng đau đớn của việc giã gạo và sự trong trắng của hạt gạo khi đã giã xong rồi (2) Bài thơ không che giấu sự đau khổ của quá trình rèn luyện và chỉ ra sự thành công qua những bước gian nan (3) Đó là những câu thơ rất “Hồ Chí Minh” (4) Vì không những Bác đã tự khuyên mình mà đã thực hiện được trung thành những lời tự khuyên đó (5)“Thơ suy nghĩ của Bác” chính là “thơ hành động”.
Đoạn văn trên được trình bày theo cách quy nạp Gồm 5 câu: 4 câu đầu
triển khai phân tích ý nghĩa tư tưởng rèn luyện của bài thơ “Nghe tiếng giã gạo”
rồi từ đó khái quát vấn đề trong câu cuối – câu chủ đề, diễn đạt ý chính của đoạn:nhận định chung về thơ Bác
c Các thao tác nghị luận thực sự:
- Giải thích: hiểu theo nghĩa chung là làm cho người đọc hiểu ý kiến, luận đề,luận điểm
- Chứng minh: là làm sáng tỏ vấn đề bằng các dẫn chứng và lí lẽ đã được khẳngđịnh trong thực tiễn Khi chứng minh, ta có thể dùng dẫn chứng (con số, sự việc,
- Tìm hiểu tốt sẽ tránh được tình trạng lạc đề, xa đề, thừa hoặc thiếu ý
2.Công việc cần làm: Xác định
- Cách thức nghị luận:
+ Là phải xác định được dạng đề xem yêu cầu nghị luận theo cách nào: chứng
Trang 12minh, giải thích hay kết hợp cả chứng minh và giải thích.
+ Để xác định được yêu cầu về phương diện này ta căn cứ vào phần chỉ dẫn của
đề bài
+ Tuy nhiên không phải bao giờ đề bài cũng chỉ dẫn rõ cách thức nghị luận Dạng
đề này cần căn cứ cấu trúc ngữ pháp của đề mà suy ra yêu cầu, cách thức nghịluận
-Nội dung nghị luận: Để xác định yêu cầu này, ta thường tự đặt ra câu hỏi:
+ Đề bài yêu cầu nghị luận về vấn đề gì? Đây là câu hỏi để xác định luận đề.+ Nghị luận đến đâu? Câu hỏi này xác định phạm vi, mức độ nghị luận và tư liệudẫn chứng
+ Nghị luận để làm gì? Câu hỏi này xác định mục đích của vấn đề nghị luận.+ Viết cho ai? Đây là câu hỏi xác định đối tượng giao tiếp
*Bước 2: Lập dàn ý:
1.Tầm quan trọng:
- Lập dàn ý là phác thảo những nội dung cơ bản dự định triển khai Nhờ lập làm ý
mà người viết có thể bao quát, xây dựng luận điểm, luận cứ, tư liệu, dẫn chứng… tránh được sót ý, lặp ý hoặc không cân đối giữa các luận điểm, tránh lộn xộn,thiếu mạch lạc
2 Các bước tiến hành:
a Tìm ý – lập ý: Tức là tìm ý và xác lập ý lớn, ý chính; từ đó lập ý nhỏ, ý phụ.
Nói cách khác, xác lập luận điểm lớn, luận điểm nhỏ và các luận cứ để giải quyếtvấn đề
Phương pháp đặt câu hỏi:
Ví dụ: Đối với bài chứng minh, giải thích: cần nêu hệ thống câu hỏi:
- Vấn đề có mấy luận điểm chính?
- Đó là những luận điểm nào?
- Mỗi luận điểm đó có thể triển khai thành mấy luận điểm nhỏ?
- Ý nghĩa (nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa rộng) của vấn đề là gì?
- Do đâu? Vì sao lại khẳng định như thế?
- Vấn đề có ý nghĩa, tác dụng như thế nào?
- Thực tế nào đã chứng minh được những luận điểm ấy?
b Sắp xếp ý – xác định mức độ trình bày các ý:
* Sắp xếp ý: là trình bày các ý, tìm, lập được theo một hệ thống, một trật tự hợp
lí Có nhiều cách sắp xếp, nhưng dù sử dụng cách nào cũng cần phải chú ý tính hệthống của lập luận tâm lí, tiếp nhận của người đọc Các trật tự sắp xếp theo mộtthứ tự bắt buộc theo yêu cầu của đề bài hoặc theo yêu cầu của lô-gic hệ thống Có
Trang 13trường hợp sắp xếp lựa chọn trật tự thuận lợi cho việc trình bày lí luận:
- Xây dựng dàn ý sơ lược: gồm các ý chính
- Xây dựng dàn ý chi tiết: gồm các ý lớn, nhỏ được triển khai nhằm cụ thể hóahướng giải quyết vấn đề
Ví dụ: GV giao bài tập luyện tập cho học sinh:
Bài tập 1: Lập ý cho đề văn nghị luận sau: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu
nước Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã chứng tỏ tinh thần ấy Bằnghiểu biết về lịch sử các cuộc kháng chiến đó của dân tộc ta, em hãy trình bày ýkiến về vấn đề trên”
Gợi ý phần trả lời cho học sinh:
Bài tập yêu cầu dựa vào đề bài phác ra trình tự luận điểm, luận cứ để trìnhbày ý kiến về tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc ta từ xưa tới nay
Có thể xây dựng hệ thống dàn ý sau:
- Tinh thần yêu nước của nhân dân ta giai đoạn nghìn năm Bắc thuộc:
+ Khởi nghĩa Hai Bà Trưng
- Tinh thần yêu nước của nhân dân ta giai đoạn phong kiến tự chủ:
+ Kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên
+ Kháng chiến chống quân xâm lược Minh
- Tinh thần yêu nước của nhân dân ta ngày nay:
+ Kháng chiến chống thực dân Pháp
+ Kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Trước khi đưa dàn ý, giáo viên hướng dẫn học sinh để học sinh đưa ý kiến củamình, phương hướng để giải quyết yêu cầu của bài tập
Bài tập 2:
a Tập đặt câu hỏi để tìm luận cứ cho luận điểm: “Nhân dân quê em hăng háihưởng ứng Tết trồng cây”
b Từ một câu hỏi, em hãy viết một đoạn văn nghị luận hoàn chỉnh
Gợi ý phần trả lời cho học sinh:
a Hệ thống câu hỏi đó có thể là:
+ Vì sao phải trồng cây ?
Trang 14+ Việc trồng cây bao gồm những nhiệm vụ cụ thể nào ? Chúng hỗ trợ cho nhau rasao?
+ Phong trào trồng cây đã đem lại những lợi ích gì ?
+ Là học sinh, em phải thực hiện lời dạy của Bác như thế nào?
b Đoạn văn tham khảo:
Từ câu hỏi: Phong trào trồng cây đã đem lại những lợi ích gì ?
Có thể viết thành đoạn văn nghị luận như sau:
Việc trồng cây và hưởng ứng Tết trồng cây như lời dạy của Bác có lợi ích rất lớn trong việc gìn giữ môi trường sống Cây quang hợp cho chúng ta không khí trong lành; Ở những nơi đầu nguồn và ven biển, cây có thể ngăn bão lũ, ngăn mặn xâm nhập vào đất liền; cây giữ gìn độ màu mỡ, phì nhiêu của đất; cây cho
ta những khoảng râm mát trong những ngày hè oi bức… Hãy tưởng tượng nếu như đất nước ta được phủ bởi một màu xanh ngát của cây cối thì sẽ tuyệt vời biết bao ! Khi đó, chẳng những cảnh vật trở nên tươi đẹp mà không khí cũng trong lành rất có lợi cho sức khỏe của mỗi người Mọi người mạnh khỏe, yêu đời, sẽ có động lực để lao động, sản xuất phục vụ Tổ quốc Mặt khác, như chúng ta đều biết, cây xanh cũng mang đến rất nhiều nguồn lợi về kinh tế : gỗ, hoa quả, du lịch sinh thái,…
(Bài làm của học sinh Nguyễn Thị Trâm – lớp 7B)
* Bước 3: Triển khai thành văn bản và kĩ năng xây dựng đoạn văn – dùng dẫn chứng trong văn nghị luận.
1 Khái niệm: bài văn là một thể thống nhất hoàn chỉnh được tạo nên bởi các
phần, các đoạn, các câu Do đó giữa các phần, các đoạn, các câu cần có sự liênkết Nhờ liên kết mà chuỗi câu thành đoạn, chuỗi đoạn thành bài văn
a Các vị trí cần liên kết: Việc liên kết phải được thực hiện giữa các vị trí: Mở bài
– thân bài – kết bài, giữa các đoạn trong phần thân bài
Trang 15+ Nối các đoạn có quan hệ nhân quả: ta dùng các từ ngữ như: bởi vậy, cho nên,
- Cách 2: Dùng câu để liên kết: đó là những câu nối thường đứng ở đầu, hoặc
đứng ở cuối đoạn văn nhằm mục đích liên kết đoạn có chứa nó với đoạn khác
2 Cách dùng dẫn chứng:
a Vị trí – vai trò của dẫn chứng:
- Dẫn chứng là những số liệu, tư liệu (sự vật, sự việc, danh ngôn, câu thơ, câu vănhay một hình tượng nghệ thuật…)lấy từ thực tế cuộc sống hoặc văn học để đưavào bài văn nhằm thuyết trình cho một luận điểm, một vấn đề để chứng minh
- Dẫn chứng là tổng hợp kiến thức người viết: vốn sống, vốn kiến thức về vănhọc, kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học tự nhiên,… Trong quá trình nghị luận,người viết cần huy động xử lí vốn kiến thức này Vốn kiến thức càng nhiều thì bàivăn càng phong phú, càng làm cho luận cứ có sức sống, lập luận trở nên sắc sảo,
có sức thuyết phục
b Các sử dụng dẫn chứng: Muốn đạt hiệu quả trong sử dụng dẫn chứng cần nắm
được những nguyên tắc sau:
- Chọn dẫn chứng phải đạt yêu cầu:
+ Về lượng: phải đầy đủ, toàn diện
Ví dụ: Để chứng minh lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân Việt Nam, trong bài
“Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”, cách chọn dẫn chứng của Hồ Chí Minhthực sự bao quát, toàn diện:
o Thời gian: xưa – nay
o Không gian: miền xuôi – miền ngược
o Thành phần xã hội: nông dân – trí thức
o Lứa tuổi: già – trẻ
o Lĩnh vực: chiến đấu – sản xuất
+ Về chất: Dẫn chứng phải chính xác, tiêu biểu, đúng nguyên văn, tác giả, tácphẩm, thời đại…
-Sắp xếp dẫn chứng: phải theo nguyên tắc và một trình tự nhất định:
+ Trình tự thời gian, không gian, thành phần, khía cạnh, tâm lí,…
-Cách đưa dẫn chứng: theo trình tự sau:
+ Giới thiệu dẫn chứng
Trang 16+ Trích nguyên văn dẫn chứng.
+ Phân tích ý nghĩa của dẫn chứng để làm nổi bật giá trị của dẫn chứng
III Cách làm một bài văn nghị luận cụ thể:
III.1 Kiểu bài chứng minh:
1 Đặc điểm:
- Là kiểu bài có nội dung làm sáng tỏ một vấn đề đã được thừa nhận với mục đíchlàm cho người đọc công nhận sự đúng đắn của vấn đề một cách vững chắc hơn
- Là kiểu bài dùng nhiều dẫn chứng trong thực tế đời sống hoặc trong văn học
để thuyết phục người đọc Tuy nhiên bên cạnh dẫn chứng thực tế cũng cần có lí lẽ
để giải thích vấn đề, phân tích dẫn chứng để bàn bạc, mở rộng, nâng cao vấn đềcần chứng minh Như vậy, bài văn nghị luận chứng minh, bên cạnh thao tácchứng minh thì chủ yếu còn cần có thao tác giải thích, phân tích, bàn luận, tạochiều sâu cho bài văn
2.Yêu cầu:
- Hệ thống dẫn chứng phải sát hợp, tiêu biểu, toàn diện, cảm xúc; phải được sắpxếp theo một trình tự hợp lí; phải được dẫn dắt, phân tích, bàn luận đề gắn vớivấn đề chứng minh
- Lí lẽ giải thích, phân tích, bàn luận phải rõ ràng, dễ hiểu, lí luận phải chặt chẽ.Đồng thời phải biết kết hợp cả lí và tình để tăng thêm sức thuyết phục cho bàivăn
3 Phương pháp làm bài:
a Phần mở bài – Đặt vấn đề: thường làm theo hai cách:
- Trực tiếp: có thể dùng thao tác diễn dịch hoặc quy nạp hoặc so sánh
Ví dụ:
+ Giới thiệu xuất xứ của vấn đề nghị luận
+ Nêu hoàn cảnh lịch sử, xã hội có liên quan đến vấn đề nghị luận.ư
+ Nêu tầm quan trọng (vai trò, ý nghĩa xã hội) của vấn đề nghị luận
b Thân bài – Giải quyết vấn đề:
Giải thích ngắn gọn luận đề (Nếu thấy cần thiết)
Chứng minh luận đề: có thể tiến hành theo mô hình sau:
Trang 17- Mỗi luận điểm lớn không nhất thiết phải có nhiều luận điểm nhỏ.
- Mỗi luận điểm nhỏ có thể trích nhiều dẫn chứng và có thể trình bày thành mộtđoạn văn ngắn
- Mượn ý kiến của dân gian, danh nhân, sách vở để thay cho lời kết của mình
Giáo viên giao bài tập cho HS về nhà làm:
Lập dàn ý và viết thành bài cho đề bài sau: Tục ngữ có câu: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” Em thấy nhận xét trên có đúng không? Hãy chứng minh.
- GV chữa bài sau khi kiểm tra phần bài tập làm ở nhà của HS:
a Mở bài:
- Nêu quan điểm cần chứng minh: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn nhưng
điều đó chỉ đúng với những người có ý thức học tập
- Còn với những người không có ý thức học tập thì chẳng có sàng khôn nào, dẫu
có đi đến mấy ngày đàng đi chăng nữa.
b Thân bài:
* Giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ:
- Đi một ngày đàng (ngày đường): dùng thời gian để chỉ quãng đường đi được coi
là tương đối xa và khác lạ so với nơi mình ở quanh năm, suốt tháng, quẩn quanhhằng ngày…
- Học một sàng khôn: học được nhiều điều hay, biết được nhiều điều mới lạ,…
* Vì sao Đi một ngày đàng lại học được một sàng khôn?
- Lí lẽ:
+ Đi nhiều, giao hòa với đời sống sẽ học hỏi được nhiều điều bổ ích, tích lũy
Trang 18được nhiều tri thức để trưởng thành
+ Đi nhiều, giao hòa với đời sống là dịp để kiểm nghiệm, ứng dụng những trithức tiếp thu qua sách vở, trong nhà trường và nhờ vậy mà mau chóng trưởngthành
- Dẫn chứng 1:
- Dẫn chứng 2:
…
* Có phải cứ đi một ngày đàng là học được một sàng khôn không?
- Lí lẽ: Quan hệ giữa đi và khôn không phải tăng tiến theo tỉ lệ thuận Có khi đi nhiều mà chẳng khôn được mấy Cái khôn do đi không thể thay thế cái khôn do
học theo sách vở, trong nhà trường
- Dẫn chứng 1:
- Dẫn chứng 2:
…
c Kết bài:
- Khẳng định lại quan điểm về tính biện chứng kết hợp giữa đi và ý thức học hỏi.
- Liên hệ: học sinh sẽ cố gắng thu thập sàng khôn như thế nào?
HS sau khi có dàn ý sẽ về nhà viết thành bài văn hoàn chỉnh Bài viết của
HS được thu và chấm chữa cụ thể, rõ ràng
III.2 Kiểu bài giải thích:
2 Yêu cầu:
- Hệ thống giải thích phải chính xác, thỏa đáng, đầy đủ, rõ ràng Trong quá trìnhgiải thích, bình luận được trình bày bằng lời văn giản dị, dễ hiểu
- Lập luận chặt chẽ, mạch lạc làm nổi bật cái lí, cơ sở chân lí của luận đề
- Vừa phải biết bàn luận vấn đề, liên hệ vận dụng lí lẽ, vừa phải nhận thức vàohoàn cảnh cụ thể, thời đại, đất nước, lứa tuổi, bản thân
3 Phương hướng làm bài:
a Đặt vấn đề: Nêu ra được vấn đề cần giải thích.
b Giải quyết vấn đề:
- Giải nghĩa từ ngữ, khái niệm then chốt…và tiến hành giải nghĩa toàn bộ luận đề