Trong điều 30 mục 3 Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2019 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ Việt Nam tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 14 tháng
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ Tên đề tài:
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MỚI VÀO
“ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN” THƠ TRỮ TÌNH NGỮ VĂN 8
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Bước vào thế kỷ XXI - Một thế kỷ của nền khoa học và công nghệ, đểtiếp ứng với sự phát triển đồng đều của nhân loại, Trung ương Đảng đã có sựquan tâm đúng mức đến ngành giáo dục Bởi vì, để xã hội phồn vinh, hưngthịnh, con người văn minh phù hợp tương ứng với nền khoa học và công nghệ,tất cả chúng ta cần phải có văn hoá, có kiến thức Điều đó lại rất cần đến giáo
dục Trong điều 30 mục 3 Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2019 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ Việt Nam tại kỳ họp
thứ 7 Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2019 đã chỉ rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.” Và tại Kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí
thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hộinhập quốc tế đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp cho ngành giáo dục và đào tạo (mục
2.2): Đẩy mạnh công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, kiến thức pháp luật và ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ
Chính trị khóa XI về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân:“Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; trau dồi lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống tốt đẹp, giáo dục tình yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tích cực, lành mạnh, trách nhiệm và làm việc hiệu quả trong học sinh, sinh viên Đổi mới, nâng cao chất lượng việc giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá các môn lý luận chính trị, giáo dục công dân, giáo dục lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và văn hóa trong hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với từng cấp học…”
Đáp ứng yêu cầu này, ngành giáo dục mang một trọng trách lớn phải không
ngừng nâng cao chất lượng, đổi mới phương pháp dạy học, đào tạo những học
Trang 2sinh có kiến thức, có kĩ năng, biết vận dụng kiến thức vào thực tế Đây là mộtvấn đề hết sức lớn lao, có ý nghĩa cách mạng trong bối cảnh dạy học hiện đạingày nay.Trên tinh thần đó, việc dạy và học môn Ngữ văn trong nhà trườngTHCS đã có nhiều chuyển biến theo định hướng tích cực Với giờ dạy Ngữ văn,các thầy cô đã quan tâm hơn tới phát triển kĩ năng thực hành, kĩ năng viết và tạolập văn bản Bởi Ngữ văn là một phương tiện giao tiếp quan trọng trong xã hội,
là chất liệu của sáng tạo nghệ thuật - nghệ thuật ngôn từ Môn Ngữ văn cấpTrung học cơ sở được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp Lấy các kiểu văn bản
là nơi chứa đựng những giao điểm của Tiếng Việt, Lập làm văn để tiến hành dạyhọc thuận lợi và đúng đắn Trong quá trình dạy và học Văn theo sách giáo khoacủa Bộ giáo dục, phần “Đọc - Hiểu văn bản” đối với học sinh không chỉ là hoạtđộng chiếm lĩnh kiến thức môn Văn mà còn là đầu mối cho việc vận dụng vàliên thông kiến thức đối với các phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn Tuy nhiêntrong thực thế, việc dạy học giờ “Đọc - Hiểu văn bản” vẫn còn tồn tại một sốnhược điểm:
- Việc vận dụng dạy học theo định hướng tích cực hóa hoạt động của họcsinh chưa thường xuyên, đôi khi còn máy móc
- Chưa đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực họcsinh
Đứng trước thực tế đó, vấn đề đặt ra cho người giáo viên hiện hay là: khôngchỉ dạy cho học sinh kiến thức mà còn dạy cho học sinh phương pháp tự tìmlấy kiến thức cho mình Đặc biệt phần Văn trong mỗi bài dạy là phân môn đượcxếp ở vị trí mở đầu của một môn học thuộc nhóm kiến thức công cụ, có quan hệhữu cơ với các thành tố mục tiêu của bài học, các thành tố của một đơn vị kiếnthức bộ môn Vậy làm thế nào để có được điều đó? Đây là một vấn đề băn khoăntrăn trở cho những người trực tiếp giảng dạy như chúng tôi: “ Dạy thế nào? Học
ra sao?” để giờ học trên lớp thực sự có hiệu quả Đây chính là lý do duy nhất đểtôi đặt tên cho đề tài của mình, nhằm tháo gỡ đôi chút khó khăn trong quá trình
giảng dạy: “Vận dụng phương pháp dạy học mới vào phần “Đọc-Hiểu văn bản” thơ trữ tình Ngữ văn 8”.
II MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
Vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phươngpháp đặc trưng của môn Ngữ văn trong giảng dạy thơ trữ tình Ngữ văn 8.Từ đóhình thành cho học sinh các năng lực Đọc - Hiểu thơ văn, cảm nhận, rung độngtrước cái đẹp của ngôn từ nghệ thuật qua việc miêu tả con người và cảnh vậttrong cuộc sống quanh ta Giúp các em rung động trước cái hay, cái đẹp trongvăn chương cũng như trong cuộc sống Đồng thời thực hiện đổi mới mạnh mẽnội dung, phương pháp dạy học để không ngừng nâng cao chất lượng môn học
Trang 3III PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN.
- Phạm vi thực hiện: Tôi chỉ thực hiện ở một số phương pháp dạy phần “Đọc
- Hiểu văn bản” thơ trữ tình chứ không giải quyết toàn bộ kĩ năng cần có đốivới môn Ngữ văn
- Đối tượng: Học sinh lớp 8 - cấp THCS học bồi dưỡng nâng cao kiến thức,bồi dưỡng học sinh giỏi môn văn 8
-Thời gian thực hiện: Năm học 2019 - 2020.(với thời lượng 12 tiết).
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp giải thích, phân tích,liệt kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp giao tiếp
- Phương pháp trực quan, tư duy
- Phương pháp đọc và cảm thụ thơ văn
- Phương pháp thực nghiệm khoa học: Áp dụng trong các tiết học nâng caokiến thức, học bồi dưỡng học sinh giỏi
- Phương pháp dạy học theo sự phát triển năng lực của học sinh (6 năng lực).Chú trọng các năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn (Năng lực giao tiếpTiếng Việt và năng lực cảm thụ thẩm mĩ)
Trang 4B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÍ LUẬN:
1.1 Khái niệm: Đọc - hiểu văn bản văn học.
- “Đọc” là con đường tiếp thu thông tin Khái niệm đọc văn bản có thể đượchiểu đó là tâm lí giả mã văn bản: chuyển văn bản kí hiệu văn tự thành vănbản ngôn ngữ và giải mã để tìm nghĩa Đọc còn là hoạt động mang tính cá thểhóa cao độ, gắn với trình độ, cá tính, trí tuệ của người đọc Như vậy, đọc làquá trình người đọc kiến tạo nên ý nghĩa từ ngôn từ của văn bản
- “Hiểu” là sự cảm thông, hòa nhập, là ý thức của chủ thể tác động vào cuộcsống Như vậy, hiểu văn tức là hiểu người, hiểu đời, hiểu mình và phát triểnnhân cách
- “ Đọc - Hiểu văn bản văn học”: là sự rung cảm (cảm thấy hay dù chưa giảithích được), đồng cảm đến hiểu, thưởng thức thẩm mĩ và di dưỡng tinh thần Dạy Đọc - Hiểu tức là người giáo viên cung cấp phương pháp, kĩ năng đểhọc sinh ra trường sẽ đọc suốt đời, bởi đọc có phạm vi rộng đó là nhận biết,giao lưu, đối thoại , sáng tạo và tìm thấy bản thân
Dân gian nói: “ Cho cá không thích bằng nhận bộ cần câu” Từ sự so sánhtrên, ta thấy giảng văn là cho học sinh cá - cho kiến thức, còn dạy Đọc - Hiểu
là trao cho học sinh bộ cần câu - phương pháp và phương tiện Để tồn tại, conngười thích nhận cá, nhưng để phát triển con người cần phải có cần câu Vậydạy học văn ngày nay sẽ thay đổi theo hướng: học sinh cảm thụ sáng tạo, pháthiện sáng tạo còn người thầy trở thành người định hướng Mô hình tối ưu làgiáo viên chủ đạo, học sinh chủ động
1.2 Khái niệm thơ và thơ trữ tình:
1.2 a Thơ:
- Theo “Bách khoa toàn thư”, Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ,dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợpcủa chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất định tạo nên hìnhảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mĩ cho người đọc, người nghe
Nhưng cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thơ:
- Thơ là tiếng nói của tâm hồn, chí hướng, của tình cảm mãnh liệt
- Thơ là sản phẩm của sức tưởng tượng phong phú
- Thơ là nghệ thuật của ngôn từ
Như vậy, đọc thơ phải tìm hiểu ngôn từ thơ, đi vào thế giới tưởng tượng củathơ, hiểu được tâm hồn, chí hướng, chân lí của lòng người trong thơ
1.2 b Thơ trữ tình:
Thơ trữ tình là một thể loại thơ ca có đặc trưng là bày tỏ, nói nên tư tưởngtình cảm của tác giả, thông qua tư tưởng tình cảm phán ánh cuộc sống Vì
Trang 5vậy, thơ trữ tình không miêu tả quá trình sự kiện, không kể tình tiết đầy đủcâu chuyện, cũng không miêu tả nhân vật, cảnh vật cụ thể, mà mượn cảnh vật
để bày tỏ tình cảm (tả cảnh trữ tình)
- Thơ trữ tình dùng để chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó nhàthơ bộc lộ một cách trực tiếp những cảm xúc riêng tư về đời sống, thể hiện tưtưởng về con người, cuộc đời và thời đại nói chung Nội dung của thơ trữ tình
là biểu hiện tư tưởng, tình cảm làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiệnthực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư tâm trạng, nỗiniềm
1.2 c Phân biệt sự khác nhau giữa ca dao trữ tình và thơ trữ tình.
+ Ca dao trữ tình là sản phẩm trí tuệ của tập thể
+ Thơ trữ tình là sản phẩm của cá nhân
1.2 d Phân biệt hai khái niệm chủ thể trữ tình và nhân vật trữ tình.
+ Chủ thể trữ tình: Tác giả
+ Nhân vật trữ tình: Nhân vật trong tác phẩm
Có khi nhân vật trữ tình cũng chính là chủ thể trữ tình trong tác phẩm nhưngcũng có thể là hai đối tượng khác nhau
1.3 Hệ thống văn bản thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn 8:
( Thơ ca Việt Nam từ năm 1900 đến năm 1945)
Nói đến thơ văn trữ tình là nói đến phương thức biểu đạt đời sống tìnhcảm, cảm xúc của con người được thể hiện trong tác phẩm văn học Phươngthức trữ tình cũng tái hiện các hiện tượng đời sống, như trực tiếp miêu tảphong cảnh thiên nhiên hoặc thuật lại ít nhiều sự kiện tương đối liên tụcnhưng sự tái hiện này không mang mục đích tự thân mà tạo điều kiện để chủthể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình Trong tácphẩm trữ tình, cái tôi giữ một vị trí đặc biệt quan trọng vì nó là nguồn gốctrực tiếp duy nhất của nội dung tác phẩm Cái tôi trữ tình thường xuất hiệndưới dạng nhân vật trữ tình Từ khi có sự thay đổi chương trình và sách giáokhoa, các tác phẩm văn học được học đan xen lồng ghép với các giờ họcTiếng Việt và Tập làm văn Điều này rất hữu ích để các em học tập, trau dồivốn từ của mình thông qua việc học tập cách sử dụng từ ngữ của các nhà văn
có tên tuổi trong nền văn học nước nhà và thế giới Chương trình Văn lớp 8
phần thơ trữ tình các em được học 11tiết, gồm:
- Thơ ca yêu nước tiến bộ ra đời trong giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm1930: 4 tiết Đó là các tác phẩm: Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (PhanBội Châu), Đập đá ở Côn Lôn (Phan Châu Trinh, Muốn làm thằng Cuội (TảnĐà), Hai chữ nước nhà (Á Nam Trần Tuấn Khải)
- Thơ ca cách mạng: 3 tiết Đó là các tác phẩm: Tức cảnh Pác Bó, Ngắmtrăng, Đi đường (Hồ Chí Minh),Khi con tu hú (Tố Hữu)
Trang 6- Thơ mới: 4 tiết Tiêu biểu là các tác phẩm: Ông đồ (Vũ Đình Liên), Nhớrừng (Thế Lữ), Quê hương (Tế Hanh).
Thơ trữ tình, không phản ánh hiện thực đời sống thông qua toàn bộ tínhkhách quan của nó như trong tác phẩm tự sự mà phản ánh hiện thực đời sốngthông qua việc bộc lộ cảm xúc trực tiếp Khi giảng dạy văn bản thơ trữ tình,người thầy phải chú trọng cảm hứng sáng tác và một số yếu tố có tính chấtđặc trưng: vần, nhịp, tiết tấu, âm thanh, giọng điệu trong nghệ thuật tổ chứcngôn ngữ văn bản, đặc biệt là ngôn ngữ thơ, không chỉ mang chức năngthông báo, chứa đựng thông tin mà còn có chức năng truyền cảm trực tiếp.Mỗi thể loại lại có những đặc điểm riêng của nó
1.4 Đặc điểm thơ trữ tình:
1.4 a Trữ tình dân gian: (Ca dao , dân ca) Là chỉ các thể loại trữ tình dân
gian có sự kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người Thểloại này có một số đặc điểm tiêu biểu sau:
- Tính tập thể: là một biểu hiện khác của những phương thức sáng tác và
lưu truyền văn học dân gian Lúc đầu có thể là do một cá nhân sáng tác,nhưng trong khi lưu truyền qua những người khác nhau, tác phẩm văn họcluôn luôn có khả năng tiếp nhận những yếu tố sáng tác mới và trở thành sởhữu tập thể
- Tính truyền miệng: là phương thức sáng tác và lưu hành của văn học
dân gian từ khi dân tộc chưa có chữ viết
Tính dị bản: là những bản kể khác nhau Do tính tập thể và tính truyền
miệng nên văn học dân gian luôn biến đổi, khi hát hoặc kể lại theo sở thích,mục đích của mình và của người nghe nên có nhiều bản kể
- Tính nhân dân: Phản ánh cuộc sống lao động, do nhân dân lao động
sáng tác, biểu diễn và lưu hành Và có lẽ vậy, qua ca dao ta cảm nhận đượcsâu sắc nhịp trái tim yêu thương của người bình dân với tất cả sự ấm áp, ngọtngào cùng tình yêu thương, lòng lạc quan, nghị lực ý chí phi thường vượt lênmọi khổ cực của cuộc sống
Ngoài những đặc điểm đó, văn học trữ tình dân gian còn sử dụng:
-Thời gian và không gian nghệ thuật Thời gian và không gian là
những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thànhthế giới nghệ thuật trong tác phẩm
- Các biểu tượng phổ biến: Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao được
xây dựng bằng ngôn từ với những quy ước của cộng đồng về một ý niệmtượng trưng Biểu tượng không chỉ đơn thuần thay thế cái được biểu hiện màcòn chủ yếu tượng trưng cho những ý nghĩ, quan niệm, tư tưởng của conngười Hệ thống biểu tượng nghệ thuật mang những đặc trưng, biểu hiện sâu
Trang 7sắc tính địa phương, tính dân tộc Nó gồm một số biểu tượng phổ biếnnhư: biểu tượng con cò, biểu tượng hoa…
- Thể thơ cổ truyền lục bát :
Trong những tác phẩm thơ ca dân gian, ca dao được sáng tác ở nhiều hìnhthức thơ khác nhau: song thất, song thất lục bát, bốn chữ, hỗn hợp, tuy nhiênđược vận dụng phổ biến hơn cả là thể lục bát Điều này thật dễ hiểu vì thơ lục
bát là “những lời nói vần” gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, dễ nhớ,
dễ thuộc
1.4 b Trữ tình trung đại:
Thơ trữ tình trung đại Việt Nam bao gồm các tác phẩm thơ viết trong thời kìphong kiến, từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, bao gồm bộ phận văn học chữ Hán vàvăn học chữ Nôm Bộ phận văn học chữ Hán chịu ảnh hưởng sâu sắc của vănhọc Trung Quốc thời Đường Bộ phận văn học chữ Nôm ra đời sau (từ thế kỉXVIII đến nửa cuối thế kỉ XIX) nhìn chung vẫn còn ảnh hưởng bởi phongcách thơ Đường song đã có nhiều sáng tạo (sự phá cách) về kết cấu bố cục,niêm luật, ý thơ.Thơ trữ tình trung đại Việt Nam mang những nét đặc trưng
cơ bản sau: (giống đặc trưng cơ bản thơ Đường Trung Quốc)
- Về nội dung: gồm hai tầng nghĩa: nghĩa bề mặt (nghĩa phản ánh) và
nghĩa hàm ẩn (nghĩa biểu hiện), tương ứng với nó là bức tranh cảnh hoặc việc
và bức tranh tâm trạng, trong đó, tâm trạng con người là mục đích chính củabiểu cảm nghệ thuật
- Về hình thức thể hiện:
+ Thể thơ: lục bát, song thất lục bát, các thể thơ Đường, gồm: Thấtngôn tứ tuyệt (Bốn câu, mỗi câu bẩy chữ ), Ngũ ngôn tứ tuyệt (Bốn câu, mỗicâu năm chữ ), Thất ngôn bát cú (Bốn câu, mỗi câu tám chữ ) … Nhìn chung,thơ Đường thường gồm 2 loại chính là Ngũ ngôn (mỗi câu 5 chữ) và Thấtngôn (mỗi câu 7 chữ ) Các câu 1 ,2 , 4 hoặc chỉ có câu 2, 4 hiệp vần với nhau
ở chữ cuối Hai thể thơ chính của Thơ Đường là Cổ thể và Cận thể Thơ Cổthể thường linh hoạt về số câu, không gò bó về niêm luật, về cách gieo vần
…; Thơ Cận thể (còn gọi là thơ Đường luật ), tuy có gò bó về niêm luật songlại có cấu trúc cân đối hài hoà Khai thác thơ trung đại căn cứ vào thể thơ để
từ đó tìm hiểu cách biểu đạt đặc sắc của tác giả trong bố cục của bài
+ Nhịp thơ, âm điệu: trong thơ trữ tình, nhịp điệu có vai trò quan trọng Nógiúp nhà thơ nâng cao khả năng biểu cảm, cảm xúc
+ Vần thơ, thanh điệu: Hệ thống vần và thanh điệu là những yếu tố cơ bản tạonên tính nhạc của tiếng Việt nói chung và ngôn từ văn học nói riêng, cho nêncần chú ý đến yếu tố này khi phân tích thơ trữ tình Sự phối hợp các thanhbằng trắc cũng góp phần thể hiện nội dung tư tưởng của bài thơ
+Ngôn từ, chi tiết, hình ảnh thơ: ngôn từ có giá trị biểu cảm cao trong
Trang 8các bài thơ trữ tình, đặc biệt hệ thống các từ láy; với các bài thơ mang phongcách cổ điển thì càng cần chú ý đến hệ thống từ ngữ, những chữ được coi là
“nhãn tự” của bài thơ, làm nổi bật được cái thần của tác phẩm
+Phép tu từ: điệp từ, điệp ngữ, nhân hóa, đặc biệt phép đối là những biệnpháp nghệ thuật góp phần thể hiện nội dung văn bản một cách hiệu quả Phépđối trong thơ cổ điển thường đối cả ý, từ loại lẫn thanh điệu, điều đó khiếncho ý thơ vượt ra ngoài tác phẩm, “ý tại ngôn ngoại” Khai thác thơ trung đạicần căn cứ vào thể thơ để từ đó tìm hiểu cách biểu đạt đặc sắc của tác giảtrong bố cục của bài
1.4 c Trữ tình hiện đại:
Thơ trữ tình hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 8 là các tácphẩm thơ viết từ năm 1900 đến năm 1945, gồm:
- Thơ ca yêu nước tiến bộ ra đời trong giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm
1930 là các tác phẩm thơ của các nhà hoạt động cách mạng công khai (PhanBội Châu, Phan Châu Trinh) và của những nhà thơ yêu nước, có tư tưởng tiến
bộ, kín đáo bộc lộ tình cảm yêu nước thương nòi của mình bằng những vầnthơ đầy ngụ ý sâu xa (Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải) Về hình thức, bốnbài thơ đều sử dụng thể thơ cổ điển truyền thống quen thuộc (thơ thất ngônbát cú Đường luật và song thất lục bát) Với việc sử dụng triệt để ưu thế củacác thể thơ đó, các tác giả đều khéo léo gửi gắm vào tác phẩm của mìnhnhững tâm sự thiết tha, sôi nổi, những suy nghĩ thầm kín, sâu xa về bản lĩnh,nhân cách người cách mạng, về thời thế Việt Nam trong giai đoạn một cổ haitròng đau thương, tăm tối Đồng thời, qua đó, hình ảnh chân dung các tác giảvới những nét tính cách tiêu biểu, với những đặc điểm văn phong riêng biệtcũng được hiện lên rõ nét, chân thực
- Thơ ca cách mạng là những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả Hồ Chí Minh
và Tố Hữu- những người mà sự nghiệp cách mạng đã là lẽ sống, là hơi thở, là
lí tưởng cao đẹp mà suốt đời họ theo đuổi Chính vì vậy, các bài thơ đềumang đậm tinh thần lạc quan cách mạng, thể hiện những sắc thái tình cảmbình dị nhưng cũng vô cùng lớn lao của các chiến sĩ cách mạng ưu tú đồngthời là những bài thơ nổi tiếng Đó là tình yêu thiên nhiên, tình yêu quêhương đất nước thiết tha, sâu lắng Đó là tấm lòng sắt son với Đảng, với cáchmạng Đó là cốt cách thanh tao, là phong thái ung dung, đường hoàng củanhững người luôn làm chủ hoàn cảnh Ba bài thơ của Bác (Tức cảnh Pác Pó,Ngắm trăng, Đi đường) đều được Bác làm theo thể thơ tứ tuyệt Đường luật -một thể thơ mà các em đã được học trong chương trình Ngữ văn lớp 7 Mộtbài thơ tứ tuyệt gồm có bốn câu, mỗi câu có bảy chữ Thể thơ này ngắn gọn,hàm súc, ý ở ngoài lời nên cảm thụ được cái hay, cái đẹp của 28 chữ ấykhông phải là đơn giản Các em cần có một vốn hiểu biết nhất định và cần có
Trang 9sự say mê tìm hiểu, khám phá vẻ đẹp của một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt.
- Thơ mới (một phong trào thơ ca khởi lên từ năm 1932 và chính thức khéplại vào năm 1945) Đây là một phong trào thơ ca sáng tác theo khuynh hướnglãng mạn, được bắt đầu với quan niệm mới mẻ về thơ do ông Phan Khôi khởixướng: "đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần màkhông bó buộc bởi niêm luật gì hết” Đây là một quan niệm hoàn toàn tráingược với thơ cũ (thơ Đường luật) mà từ trước các nhà thơ đều theo.Nét nổibật của phong trào thơ ca này là sự giải phóng cái "Tôi" cá nhân (tức là cánhân tự ý thức, tự khẳng định mình).Thơ mới còn thể hiện tình yêu quêhương, đất nước một cách kín đáo của các thi nhân Tình yêu ấy được gửigắm trong tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu Tiếng Việt và các sáng tácviết bằng Tiếng Việt Tuy nhiên, ra đời trong hoàn cảnh nước mất nhà tan,Thơ mới mang một nỗi buồn sâu sắc Nỗi sầu nhân thế ấy lan tỏa trong hầuhết các bài thơ và trở thành một trong những cảm hứng chủ đạo Về mặt nghệthuật, Thơ mới đã tiến hành một cuộc cách tân thơ chưa từng có trước đó, tạonên "một thời đại trong thơ ca" (Hoài Thanh) Từ đây, thơ ca đã thoát khỏitính quy phạm chặt chẽ với những công thức gò bó, sáo mòn và hệ thống ước
lệ có tính phi ngã của thơ ca trung đại Thơ ca Việt Nam đã thực sự hòa nhịpcùng dòng phát triển của thơ ca thế giới Về phương diện nghệ thuật, Thơ mới
đã có đóng góp lớn quyết định sự thành công của công cuộc hiện đại hóa thơ
ca ở Việt Nam Nội dung ba bài thơ mới học ở lớp 8, (Nhớ rừng, Ông đồ, Quêhương) đều thể hiện những tâm sự thiết tha đầy hoài niệm của các nhà thơ vềquá khứ tươi đẹp, hào hùng, về phong tục văn hóa giàu ý nghĩa của quêhương, đất nước qua những hình ảnh thơ giàu sức gợi cảm, có giá trị biểutrưng cao, để qua đó diễn tả tình yêu nước, yêu quê hương của các nhà thơ.Tuy nhiên, do hoàn cảnh đất nước khi đó nên cách thể hiện tình cảm của cácnhà thơ thường kín đáo Các tác phẩm lại có nhiều cách tân về nghệ thuật nên
đã tạo được sự hấp dẫn đặc biệt; có những phá cách độc đáo trong việc thểhiện, phù hợp với việc bày tỏ những cảm xúc trữ tình của mình
Thơ trữ tình hiện đại Việt Nam mang những nét đặc trưng cơ bản sau:
- Nội dung: Phản ánh thế giới nội tâm chủ quan của nhà thơ Hiện thực kháchquan được phản ánh như là đối tượng để nhà thơ bày tỏ cảm xúc, tình cảm,tâm trạng, thái độ, tư tưởng của mình Thế giới khách quan ấy mang đậm cảmxúc, tình cảm của tác giả
- Kết cấu: Bài thơ trữ tình có một trục kết cấu chính là mạch cảm xúc và suy
tư của nhà thơ Đó là quá trình diễn biến, phát triển cảm xúc qua việc xâydựng bố cục của bài thơ Hình tượng chủ thể trữ tình và hình tượng khách thểtrữ tình đan xen vào trong nhau để thể hiện một chủ đề Nói cách khác, thơtrữ tình hiện đại có kết cấu tâm trạng và kết cấu hình ảnh
Trang 10- Ngôn ngữ: Lời thơ hàm súc, cô đúc, chứa đầy tư tưởng, tình cảm, giàu sứckhơi gợi trí tưởng tượng và cảm xúc ở người đọc Ngôn ngữ thơ được tổ chứcđặc biệt để tạo ra âm thanh, nhịp điệu và có sự kết hợp khác thường về ngôn từ
để nhằm tạo ra một ý nghĩ riêng Ở ngôn ngữ thơ, các biện pháp nghệ thuật vềngôn từ như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa … với mật độ cao và sáng tạo
1.4.d Thơ trữ tình trung đại Trung Quốc: chủ yếu là các bài thơ thời
Đường, đó là thành tựu tiêu biểu nhất của văn học đời Đường (từ thế kỷ VIIđến thế kỷX) Thơ Đường có những đặc trưng cơ bản như thơ trữ tình trung đạiViệt Nam, vì các nhà thơ trung đại Việt Nam có ảnh hưởng sâu sắc của thơĐường (Các đặc trưng cơ bản đã nói đầy đủ ở mục 4b.)
Xác định được các đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình để có phương pháp phùhợp khi hướng dẫn học sinh khai thác, cảm thụ tác phẩm thơ là điều hết sứcquan trọng đối với mỗi giáo viên Vì phạm vi của đề tài nên tôi không đi sâuthêm các đặc trưng cơ bản của từng loại
II THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ TRỮ TÌNH TRONG NHÀ TRƯỜNG
Khi chưa thực hiện đề tài này, tôi thấy việc giảng dạy Ngữ văn nói chung và giờ Đọc - Hiểu văn bản nói riêng vẫn còn một số hạn chế:
* Về phía giáo viên: Vẫn quen nhiều lối dạy học theo kiểu kiến thức một
chiều Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh, truyền cho các
em vốn hiểu biết của mình, chưa vận dụng tốt những giải pháp khoa học củaphương pháp mới vào việc dạy học Đặc biệt chưa đổi mới, kiểm tra, đánhgiá theo định hướng phát triển năng lực học sinh
* Về phía học sinh:
- Phần đông các em quen thói nghe ghi chép những điều giáo viên nói, chưachủ động tìm hiểu để tự mình tháo gỡ vấn đề, các em phụ thuộc nhiều vàosách “Để học tốt”, “Hướng dẫn giải bài tập”, “văn mẫu”… nên khi kiểm tranhiều em không hiểu vấn đề hoặc hiểu một cách chung chung
- Khả năng cảm thụ phân tích văn thơ của học sinh chưa sâu sắc, năng lực tưduy, khái quát, tổng hợp còn yếu khi đứng trước những câu hỏi, dạng đềmang tính chất khái quát, tổng hợp
- Học sinh chưa có ý thức vận dụng đặc trưng thơ trữ tình khi cảm thụ, phântích giá trị nội dug và nghệ thuật tác phẩm Dụng ý nghệ thuật của tác giả khilựa chọn, sắp xếp ngôn ngữ trong thơ các em cũng chưa phát hiện và cảmnhận được Chưa linh hoạt trong khi tích hợp kiến thức Văn học với TiếngViệt và Tập làm văn Chất lượng bài làm chưa đạt kết quả cao
Chính vì vậy, trong một giờ “ Đọc - Hiểu văn bản”, người giáo viên phải xácđịnh rõ đây là một giờ:
Trang 11“Học sinh tự khám phá ra kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của thầy”
Người thầy phải phối hợp nhịp nhàng các phương pháp và phát huy khả năng
tư duy của học sinh.Thầy - trò cùng giải quyết những tình huống có thể xảy ra.Qua quá trình giảng dạy, tôi có tiến hành kiểm tra khảo sát chất lượng kiếnthức phần "Đọc - Hiểu văn bản" bằng nhiều hình thức kiểm tra khác nhau (quacác bài tập trắc nghiệm và vở soạn văn, kiểm tra viết),tôi thấy kết quả học tậpcủa học sinh còn thấp
* Số liệu điều tra trước khi thực hiện:
Khi thực hiện đề tài này, tôi tiến hành khảo sát học sinh lớp mình phụ tráchthông qua bài kiểm tra khảo sát với dạng câu hỏi sau:
Câu 1: "ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN"
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn, Lừng lẫy làm cho lở núi non
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi, Mưa nắng càng bền dạ sắt son
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con !
(Phan Châu Trinh, Sách Ngữ văn 8, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)
Em hãy đọc kỹ văn bản trên rồi trả lời các câu hỏi sau:
a Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ?
b Em hình dung công việc đập đá của người tù ở Côn Đảo là một công việc nhưthế nào? (Không gian, điều kiện làm việc và tính chất công việc.)
c Nêu ý nghĩa của bài thơ
d Kể tên các bài thơ và tác giả đã học và đọc thêm trong sách Ngữ văn 8, tập một - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cùng chủ đề với bài thơ này
e Hãy phát biểu cảm nghĩ về tinh thần của các nhà chí sĩ yêu nước đầu thế kỉXX? Trình bày bằng đoạn văn có độ dài 5 câu?
Câu 2: Cho đoạn thơ sau :
'' Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chéo vội vã vượt trường giang Cánh buồn giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió'' (Sách Ngữ văn 8, tập 2)
Trang 12a Đoạn thơ trên trích ở bài thơ nào? Giới thiệu vài nét về tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ đó?
b Nếu viết:''Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng.'' tổ hợp từ trên đã thành
câu chưa? Vì sao?
c Tìm 2 từ cùng trường nghĩa với từ: ''Rướn'' trong câu thơ ''Rướn thân trắng
bao la thâu góp gió'' So sánh sắc thái nghĩa của từ '' Rướn'' với các từ đó?
d Trong đoạn thơ trên, tác giả đã sử dụng các biện pháp tu từ nào? Phân tích giá
trị biểu cảm của các biện pháp tu từ đó Trình bày bằng đoạn văn có độ dài 8-10
Nhìn vào bảng thống kê đó, tôi thấy kết quả chưa cao là do:
- Học sinh còn nhiều bỡ ngỡ trong các hoạt động học tập; chưa phát huy được
các năng lực hiện có (đặc biệt là các năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn)
- Học sinh đọc tác phẩm còn ít, chỉ lướt qua, chưa kĩ, chưa sâu, nắm tác phẩm
còn sơ sài; chưa phát huy tinh thần tự học
- Học sinh chưa biết học tập kết hợp giữa kiến thức Văn -Tiếng Việt - Tập làm
văn
Bên cạnh những nguyên nhân trên, bản thân giáo viên cũng có một phần trách
nhiệm Đó là do chưa vận dụng tốt những giải pháp khoa học của phương pháp
mới vào việc dạy học để học sinh học tập tốt hơn
Từ thực tế và nguyên nhân kể trên, là một giáo viên văn tôi thấy rất băn khoăn
Để hình thành và phát huy khả năng tư duy của học sinh thì trách nhiệm đầu
tiên thuộc về người thầy Vậy người thầy phải làm gì để phát huy khả năng tư
duy của học sinh khi đọc - hiểu văn bản? Tôi nghĩ:
- Người thầy dạy phải nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao
- Phải chuẩn bị kiến thức và bài dạy chu đáo
- Nghiên cứu kỹ phương pháp dạy học bộ môn theo phương pháp mới
- Nghiên cứu kỹ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách chuẩn kiến thức kĩ
năng, tài liệu tham khảo phụ trợ cho bài giảng
- Thường xuyên dự giờ đồng nghiệp
- Khuyến khích học sinh chăm học bằng cách thưởng điểm
Còn học sinh:
Trang 13- Phải nêu cao tinh thần tự học.
- Nắm chắc các tác phẩm được học và biết vận dụng vào thực tiễn, tích hợpvới kiến thức Tiếng Việt, Tập làm văn và các môn học khác (Lịch sử, Địa lí,Giáo dục công dân )
- Phát huy tốt các năng lực của bản thân như: năng lực sáng tạo, năng lựcgiao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự hoc
Vì vậy, tôi quyết định đưa ra một vài giải pháp vận dụng tiến hành vào phần
“Đọc- Hiểu văn bản” thơ trữ tình Ngữ văn 8 với phương châm thí điểm
III NH ỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN (Nội dung chính của đề tài)
1 Giải pháp thứ nhất: “Hướng dẫn học sinh Đọc - Hiểu văn bản (tác phẩm).
Khái niệm “Đọc - Hiểu văn bản” không nhằm diễn đạt hai hoạt động táchrời “Đọc” và “Hiểu” Đọc - Hiểu là một quy trình tiếp nhận nhằm khám phácấu trúc, thâm nhập nội dung và xác định ý nghĩa thông qua quá trình làmviệc với văn bản Khi đọc, người đọc huy động những kiến thức đã có cùngvới những gợi ý trong bài học để hiểu nghĩa văn bản một cách tường tận KhiĐọc - Hiểu văn bản ngữ văn, người thầy phải hướng dẫn trò nhiều cách đọckhác nhau: đọc nghiền ngẫm, suy tư, thậm chí cả cảm xúc, liên tưởng tưởngtượng Tức là đọc theo cách giám sát, luồn sâu vào văn bản để “giải mã” vănbản Nghĩa là xác lập các giá trị của văn bản theo cách cảm và hiểu của ngườiđọc Khả năng Đọc - Hiểu bao gồm cả cảm thụ một tác phẩm văn chương lệthuộc không ít vào việc có thể trả lời được hay không những câu hỏi đặt ra ởmức độ khác nhau
1.a Sử dụng những thông tin đã có ngay trong văn bản
Đó là trường hợp câu trả lời có sẵn trong bài
*Ví dụ minh họa:
Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu tiết 57 với văn bản " Vào nhà ngục QuảngĐông cảm tác” (Phan Bội Châu) và tiết 58 “Đập đá ở Côn Lôn” (Phan ChâuTrinh), sau khi đọc bao quát, học sinh cần nắm được:
- Tiết 57: Bài thơ “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác”
Tác giả bài thơ này là ai? Tên thật là gì? Quê quán ở đâu? Sống vào thời nào?Tại sao tác giả lại được gọi là “Ông già bến Ngự”?
- Tiết 58: Bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn”
Phan Châu Trinh sống vào thời kì nào? Quê hương ông ở đâu? Em hiểu gì vềnghĩa của từ “làm trai” Quan niệm của Phan Châu Trinh về kẻ làm trai có gìkhác với quan niệm xưa ?
Với những câu hỏi như trên, học sinh tự đọc phần chú thích * ở sách giáo
Trang 14khoa rồi trả lời.(Có thể các em trình bày kết quả cá nhân hoặc hoạt độngnhóm, khuyến khích các em tìm hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp thơ văncủa tác giả, tìm hiểu thêm về lịch sử - thời đại mà nhà thơ sống, rồi sau đóthuyết trình trước lớp.)
1.b Suy nghĩ và sử dụng những thông tin trong bài
Đó là trường hợp suy ra câu trả lời từ những đầu mối có trong văn bản.
*Ví dụ minh họa:
Trong văn bản “Đập đá ở Côn Lôn”, sau khi đọc, học sinh cần hiểu được: Câu hỏi 1: Bài thơ này được viết bằng thứ chữ gì? Thuộc thể thơ nào? Nhắclại đặc điểm của thể thể thơ? Nêu tên bài thơ đã học cùng sáng tác theo thểloại đó?
Câu hỏi 2: Bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” và “Vào nhà ngục Quảng Đông cảmtác” có điểm nào giống nhau và khác nhau về hoàn cảnh sáng tác, nội dung
và nghệ thuật ?
Học sinh trả lời được câu hỏi 1, đồng nghĩa với việc các em đã nắm được đặcđiểm của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật Sau đó, các em tiếp tục sosánh hai bài thơ như câu hỏi gợi ý ở câu hỏi 2
+Nội dung của hai bài thơ này đều khắc họa được hình ảnh lãng mạn hàohùng, tư thế oai phong, bất khuất, tinh thần lạc quan tin tưởng trong cảnhngục tù của hai chí sĩ yêu nước và tiếp tục khẳng định ý chí đấu tranh bền bỉsuốt đời theo đuổi lí tưởng cứu nước cứu dân của các tác giả
+ Nghệ thuật của hai bài thơ đều thuộc kiểu thơ nói chí tỏ lòng quen thuộccủa văn học trung đại Giọng thơ hào hùng, mạnh mẽ, sử dụng nhiều hình ảnhước lệ khoa trương phóng đại Phép đối ở hai cặp câu thực, luận được vậndụng rất chặt, rất chỉnh Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật được sử dụngkhá thành công
- Khác nhau:
+ Bài thơ "Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" xoay quanh tứ thơ từ mộtviệc hệ trọng, đáng nguy (vào tù) chỉ xem như một việc tự nhiên, bình thường
không có gì đáng kể bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu Giọng điệu chủ đạo của
bài thơ là giọng điệu hào hùng xen lẫn chút đùa vui
Trang 15+ Bài thơ "Đập đá ở Côn Lôn" có tứ thơ khác: từ một công việc lao dịch khổsai nặng nhọc (đập đá) tác giả khái quát nâng cao thành một hình ảnh đẹp đẽhiên ngang giữa đất trời của người anh hùng cứu nước Bài thơ có giọng điệuhào hùng, trang nghiêm, mạnh mẽ.
Để Đọc - Hiểu văn bản " Đập đá ở Côn Lôn", học sinh lần lượt trả lời các câuhỏi gợi dẫn sau:
+ Câu hỏi 1: Em có nhận xét gì về hình ảnh thơ và biện pháp nghệ thuật được sửdụng ở hai câu thơ đề? Những hình ảnh đó nói lên tư thế người tù như thế nào?
hình ảnh kì vĩ, vừa thực vừa tượng trưng.=>Khẳng định vai trò, vị trí của đấng nam nhi: đứng giữa biển rộng, non cao; đội trời đạp đất, tư thế hiên ngang sừng sững, kiêu hãnh, đường hoàng, làm chủ đất trời, giang sơn.
+ Câu hỏi 2: Công việc đập đá được gợi tả như thế nào ở hai câu thực? Em cónhận xét gì về giọng điệu và các biện pháp nghệ thuật được sử dụng ở đây?
Tác dụng?(Công việc: dùng tay cầm búa đập đá thành hòn, đống nặng nhọc với khối lượng lớn bằng phương pháp thủ công mà chỉ có người tù khổ sai phải làm Giọng thơ hào hùng, nghệ thuật khoa trương, phép đối tài tình Khí phách hiên ngang, hành động phi thường, sức mạnh thần kì.)Ý nghĩa sâu xa của câu thơ này là gì? thể hiện ý chí, tinh thần dám đương đầu, vượt lên chiến thắng, thử thách, gian khổ.
+ Câu hỏi 3: Em hiểu như thế nào là:“ thân sành sỏi”và “ dạ sắc son”? Phẩmchất cao quý nào của người tù được bộc lộ ở hai câu luận?
(Thân sành sỏi: thân dày dạn, phong trần, chấp nhận gian khổ.
Dạ sắc son: tinh thần cứng cỏi, trung kiên, bền vững, không sờn lòng đổi chí trước mọi gian lao thử thách)=>Ý chí kiên cường bền vững, lòng thuỷ chung với
lí tưởng yêu nước.
+Câu hỏi 4: Em có nhận xét gì về giọng điệu và hình ảnh thơ ở hai câu kết? Từ
đó toát lên tinh thần gì của người tù yêu nước? Giọng thơ ngang tàng; Hình ảnh đối lập tương phản, từ phiếm chỉ.=> Thể hiện tinh thần lạc quan bất khuất, coi thường hiểm nguy gian khổ.
? Qua bài thơ, em có cảm nhận như thế nào về hình ảnh người tù cách mạng?
Khí phách trước hoàn cảnh; Ý chí chiến đấu mạnh mẽ, niềm tin không đổi khi sa
cơ, lỡ bước Bài thơ khắc hoạ hình tượng người chí sĩ yêu nước cách mạng đầu thế kỉ XX, như một bức tượng đài hùng vĩ với khí phách hào hùng, tư thế hiên ngang, ý chí sắt đá và niềm tin vào sự nghiệp cao cả.
Đây là những câu hỏi đầu mối thâu tóm toàn bộ nội dung cốt lõi của văn bản.Với những dạng câu hỏi như trên, các em buộc phải suy nghĩ, trao đổi, thảoluận để có câu trả lời hợp lí