1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn kĩ năng đọc diễn cảm các bài văn xuôi cho học sinh lớp 4

18 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 46,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh là một việc làm không đơn giản và dễ dàng, đòi hỏi người giáo viên phải có những biện pháp cụ thể để áp dụng thì mới nâng cao chất lượ

Trang 1

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 1

I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ 1

1 Cơ sở lí luận 1

2 Cơ sở thực tiễn 1

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ ÁP DỤNG 2

1 Đối tượng nghiên cứu 2

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Thời gian thực hiện đề tài 2

B QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 3

I KHẢO SÁT THỰC TẾ 3

III NHỮNG GIẢI PHÁP KHOA HỌC TIẾN HÀNH 4

1 Đọc mẫu 4

2 Rèn cho học sinh kĩ năng đọc đúng 4

2.1 Hướng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần, dấu thanh 4

2.1.1 Đọc đúng các âm dễ lẫn 4

2.1.2 Đọc đúng các vần 5

2.1.3 Đọc đúng dấu thanh 5

2.2 Rèn tốc độ đọc 6

2.3 Rèn kĩ năng đọc diễn cảm 7

2.3.1 Nhấn giọng các từ ngữ quan trọng trong câu 7

2.3.2 Biết thể hiện ngữ điệu (sự thay đổi về tốc độ, cao độ, cường độ, trường độ) phù hợp với từng loại câu (câu hỏi, câu kể, câu cảm, câu cầu khiến…) 7

2.3.3 Biết đọc phân biệt lời kể của tác giả với lời của nhân vật: 8

2.3.4 Phân tích cách ngắt nghỉ hơi 9

2.3.5 Hướng dẫn học sinh đọc hiểu 10

2.4 Sử dụng linh hoạt các hình thức học tập 12

2.5 Tổ chức trò chơi học tập 12

IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 14

1 So sánh đối chứng kết quả ban đầu 14

2 Kết luận khoa học 14

3 Khuyến nghị 15

Trang 2

A Đ T V N Đ ẶT VẤN ĐỀ ẤN ĐỀ Ề

I C S KHOA H C C A V N Đ Ơ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ Ở KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ ỌC CỦA VẤN ĐỀ ỦA VẤN ĐỀ ẤN ĐỀ Ề

1 C s lí lu n ơ sở lí luận ở lí luận ận

Tiểu học là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa Mặt khác, giáo dục tiểu học là nền móng đầu tiên giúp con người tồn tại và phát triển, trong đó môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt quan trọng vì nó hình thành và phát triển cho học sinh khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ, giúp trẻ tiếp thu các môn học khác

Trong việc dạy tiếng Việt cho học sinh đọc và hiểu được nội dung bài thì phân môn Tập đọc có vai trò thật quan trọng Phân môn Tập đọc giúp các

em có kĩ năng nghe tốt, đọc thông, viết thạo, đọc đúng còn giúp các em hiểu được nội dung văn bản Đọc diễn cảm giúp các em cảm thụ được những cái hay, cái đẹp của nghệ thuật văn chương Ngoài ra phân môn Tập đọc còn có tác dụng rất to lớn trong việc giáo dục tình cảm cho học sinh của lứa tuổi tiểu học Tuy nhiên do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của các em chưa thể cảm nhận hết hoặc có cảm nhận cũng không thể diễn đạt tốt vì vốn ngôn ngữ của các em còn quá đơn giản, ít ỏi và chưa phong phú Quá trình dạy Tập đọc, để các em đọc đúng đã là khó, để các em đọc diễn cảm được văn bản còn khó khăn gấp nhiều lần

Như vậy, để đạt được các yêu cầu trên và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh đòi hỏi mỗi giáo viên cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học sao cho “nhẹ nhàng, chất lượng, hiệu quả”

2 C s th c ti n ơ sở lí luận ở lí luận ực tiễn ễn

Theo chương trình đổi mới sách giáo khoa, phân môn Tập đọc lớp 4 gồm 62 bài tập đọc thuộc các loại hình văn bản nghệ thuật, trong đó có 45 bài văn xuôi, 1 vở kịch, 17 bài thơ Phân môn Tập đọc tiếp tục củng cố, nâng cao

kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành, phát triển từ các lớp dưới

1/15

Trang 3

đồng thời rèn một kĩ năng mới là đọc diễn cảm (nghĩa là đọc phải thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với sự việc, hình ảnh, cảm xúc, tính cách của nhân vật trong bài)

Như vậy, việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh là một việc làm không đơn giản và dễ dàng, đòi hỏi người giáo viên phải có những biện pháp

cụ thể để áp dụng thì mới nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy Tập đọc

Khi vào thực tế giảng dạy thì phần lớn học sinh còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn Hầu như các em chỉ đọc đúng, tức là dùng cơ quan thị giác

để chuyển các kí hiệu chữ viết trong văn bản thành dòng âm thanh ngôn ngữ

Số em đọc diễn cảm đạt yêu cầu còn có phần hạn chế Mà đọc diễn cảm hạn chế tức là hạn chế năng lực cảm thụ văn học của các em Điều này làm tôi trăn trở, lo lắng

Xuất phát từ thực tiễn và kết hợp với suy nghĩ “làm thế nào để các em đọc diễn cảm được tốt, giúp các em say mê, phấn khởi học tốt phân môn Tập đọc (cũng như các phân môn khác của môn Tiếng Việt) và các môn học

khác”, tôi đã quyết định chọn đề tài “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm các bài văn xuôi cho học sinh lớp 4” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn dùng tri thức

đã học và kinh nghiệm giảng dạy của bản thân để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập đọc

II M C ĐÍCH NGHIÊN C U C A SÁNG KI N KINH NGHI M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ỨU CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ỦA VẤN ĐỀ ẾN KINH NGHIỆM ỆM

Nghiên cứu đề tài nhằm giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng đọc diễn cảm đối với các loại hình văn bản nghệ thuật, các bài văn xuôi giúp học sinh có khả năng hiểu - cảm nhận nội dung và giá trị của bài Tập đọc một cách sâu hơn Mặt khác, tạo cơ sở để các em học tốt hơn ở các lớp trên và tạo điều kiện thuận lợi để các em có thể vận dụng vào thực tế cuộc sống

III Đ I T ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ ÁP ƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ ÁP NG NGHIÊN C U, PH M VI NGHIÊN C U VÀ ÁP ỨU CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ ÁP ỨU CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

D NG ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Đ i t ối tượng nghiên cứu ượng nghiên cứu ng nghiên c u ứu

“Rèn kĩ năng đọc diễn cảm các bài văn xuôi cho học sinh lớp 4”

2 Ph m vi nghiên c u ạm vi nghiên cứu ứu

Học sinh lớp 4- Trường Tiểu học

3 Th i gian th c hi n đ tài ời gian thực hiện đề tài ực tiễn ện đề tài ề tài

Năm học 2019 - 2020

Trang 5

B QUÁ TRÌNH TH C HI N Đ TÀI ỰC HIỆN ĐỀ TÀI ỆM Ề

I KH O SÁT TH C T ẢO SÁT THỰC TẾ ỰC HIỆN ĐỀ TÀI ẾN KINH NGHIỆM

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: Kĩ năng đọc diễn cảm của học sinh còn yếu Có những em đọc đúng còn chưa chuẩn, biểu hiện: Phát

âm ngọng, lẫn lộn các phụ âm (r/d/gi, s/x, ch/tr) hoặc vần (ưu/iu, ươu/iêu); đọc sai dấu thanh (~/’/?/.) Hầu hết học sinh (kể cả học sinh khá, giỏi) đều đọc ngọng những tiếng có phụ âm đầu l/n Với những tiếng khó đọc, các em đọc còn nhát gừng, ngắc ngứ Mặt khác học sinh chưa biết nghỉ hơi sau dấu câu, học sinh còn đọc theo bản năng, đọc tự do, thích nghỉ lúc nào thì nghỉ Hoặc

là khi đọc các câu dài, các em không biết ngắt nghỉ giữa các cụm từ Vì vậy, khi đọc lên sẽ làm cho người nghe hiểu lầm, hiểu sai nghĩa của câu văn, ý thơ

Với những học sinh đọc đúng tốt thì các em chưa có kĩ năng thể hiện giọng điệu và biểu lộ cảm xúc khi đọc bài, tức là chưa biết đọc diễn cảm (đọc hay)

Số liệu điều tra trước khi thực hiện:

- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc bài Người ăn xin (tập I)

- Kết quả thu được như sau:

Tổng số học sinh Đọc diễn cảm Đọc đúng Đọc chưa lưu loát

42 em 9 em = 21,4% 23 em = 54,8% 10 em = 23,8% Trước thực trạng như vậy đòi hỏi người giáo viên phải có những biện pháp tích cực giúp học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm tốt, có hứng thú khi đọc phân môn Tập đọc

II NGUYÊN NHÂN

Khi có kết quả khảo sát, tôi đi sâu vào phân tích và tìm hiểu được nguyên nhân dẫn đến chất lượng đọc diễn cảm của học sinh còn hạn chế, đó là:

- Học sinh chưa làm chủ được ngữ điệu, nghĩa là chưa có kĩ năng phối hợp các yếu tố âm thanh, cường độ, ngữ điệu để biểu thị ý nghĩa, phạm trù ngữ pháp cũng như sắc thái cảm xúc biểu cảm

Trang 6

- Do vốn từ ngữ còn hạn chế, các em chưa hiểu rõ các từ ngữ trong văn bản dẫn đến ngắt nghỉ hơi không đúng văn bản và hiểu sai ý câu văn, nhất là những câu văn có cấu trúc ngữ pháp phức tạp

- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên còn ít chú ý tới khâu luyện đọc cho học sinh mà chủ yếu đi sâu vào bài giảng Hoặc cũng có những giáo viên

đã chú ý đến khâu luyện đọc cho học sinh nhưng mới dừng lại ở mức độ luyện đọc trôi chảy, đọc đúng mà chưa chú ý đến luyện đọc diễn cảm

III NH NG GI I PHÁP KHOA H C TI N HÀNH ỮNG GIẢI PHÁP KHOA HỌC TIẾN HÀNH ẢO SÁT THỰC TẾ ỌC CỦA VẤN ĐỀ ẾN KINH NGHIỆM

1 Đ c m u ọc mẫu ẫu

Việc đọc mẫu của giáo viên có ảnh hưởng lớn đối với học sinh, sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn những khía cạnh tinh tế, những thái độ, tình cảm của tác giả đối với các nhân vật trong tác phẩm Đọc mẫu là biện pháp không thể thiếu để hình thành cách đọc diễn cảm cho học sinh Theo tôi, giọng đọc của giáo viên là hết sức quan trọng Giáo viên đọc diễn cảm toàn bài giúp học sinh định hướng được cách đọc Không những thế còn lôi cuốn, hấp dẫn, gây hứng thú học tập cho học sinh Tôi thấy, khi giáo viên đọc mẫu, các em rất chăm chú lắng nghe, coi giọng đọc của cô lúc dó như là “thần tượng” để các

em bắt chước theo, học tập theo Muốn đọc mẫu được hay, giọng đọc truyền cảm, giáo viên phải chuẩn bị bài chu đáo trước khi lên lớp Giáo viên phải tự luyện đọc và sửa giọng sao cho phù hợp với bài đọc

2 Rèn cho h c sinh kĩ năng đ c đúng ọc mẫu ọc mẫu

Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi; không đọc thừa, không đọc sót Đọc đúng phải thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn, nghĩa là đọc đúng chính âm

Ngay từ đầu năm học, tôi nhận thấy rằng việc rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh là một điều không thể thiếu Điều đó cũng giống như để thực hiện đúng phép tính nhân (x), chia (:) trong toán học thì học sinh phải thuộc bảng cửu chương vậy Nên bắt đầu từ khi nhận lớp, tôi đã dặn các em về nhà đọc trước những bài văn, bài thơ trong sách Tiếng Việt 4 (vì qua 3 tháng nghỉ hè, việc luyện đọc của các em nhìn chung còn hạn chế) Giờ truy bài, các bàn trưởng, tổ trưởng có nhiệm vụ kiểm tra các bạn trong bàn mình Tôi hướng dẫn học sinh đọc tốt hơn kèm cặp, giúp đỡ những học sinh đọc yếu Nếu học sinh nào đọc chưa tốt (đọc ngắc ngứ, đọc sai) thì các tổ trưởng ghi tên các bạn

đó và báo cáo với giáo viên chủ nhiệm để giáo kịp thời có biện pháp giúp đỡ

Trong giờ Tập đọc, tôi thường xuyên chú trọng rèn luyện cho học sinh

kĩ năng đọc đúng ở phần luyện đọc, cụ thể là:

5/15

Trang 7

2.1 H ướng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần, dấu thanh ng d n h c sinh đ c đúng âm, v n, d u thanh ẫu ọc mẫu ọc mẫu ần, dấu thanh ấu thanh.

2.1.1 Đ c đúng các âm d l n ọc mẫu ễn ẫu

Đọc đúng là phát âm đúng hệ thống ngữ âm chuẩn Nói cách khác là phải đọc đúng chính âm (không đọc theo cách phát âm của địa phương, mà cách phát âm có sự sai lệch so với âm chuẩn) Phát âm đúng tiếng Việt là yêu cầu cần thiết Đọc đúng đòi hỏi thể hiện chính xác âm vị Để học sinh đọc đúng, trong quá trình giảng dạy tôi đã cho các em phát hiện, so sánh, phân biệt để từ đó các em phát âm đúng hay đọc đúng hay đọc đúng các âm đầu trong các bài đọc và trong giao tiếp

Khi học sinh đọc bài, giáo viên nghe thật tinh xem học sinh đó đọc có chính xác không? Còn sai ở tiếng nào? Từ nào? Sau đó giáo viên ghi các từ các em dễ đọc sai lên bảng cho học sinh đọc lại nhiều lần Với những tiếng có cặp phụ âm l/n thì việc rèn cho học sinh cần tỉ mỉ hơn vì đa phần các em đều phát âm sai do ảnh hưởng của tiếng địa phương

- Trước hết, tôi cho các em thấy tác hại của việc phát âm sai Việc phát

âm sai dẫn đến người nghe hiểu lệch ý nghĩa của tiếng, của từ trong câu và dẫn đến hiểu sai ý của văn bản

+ Ví dụ: Khi dạy bài Dế Mèn bênh vực kẻ yếu (tập I) có câu:

“Năm trước, gặp khi trời làm đói kém, mẹ em phải vay lương ăn của bọn Nhện” thì phải đọc là vay “lương” ăn chứ không đọc là vay “nương” ăn

vì “lương” ở đây là “lương thực”, “lương tháng” khác “nương rẫy” hay

“làm nương”

Như vậy, chúng ta cần chỉ rõ cho học sinh khi nào phát âm là “l”, khi nào phát âm đọc là “n” trên cơ sở học sinh hiểu nghĩa của từ

Ngoài ra, tôi chú trọng rèn phát âm đúng hai phụ âm đầu l/n trong các

tiết Luyện phát âm của buổi học thứ hai, trong tất cả các tiết học, môn học

khác

2.1.2 Đ c đúng các v n ọc mẫu ần, dấu thanh.

Không những yêu cầu học sinh đọc đúng phụ âm đầu (l/n) như trên mà cần rèn cho các em đọc đúng cả những vần khó, tiếng khó, vần có nguyên âm đôi mà các em hay phát âm sai, tôi đã hướng dẫn cụ thể như sau:

- Khi các em đọc bài, giáo viên cùng học sinh theo dõi Nếu học sinh đọc sai, giáo viên ghi lên bảng và sửa cho học sinh: “con hươu” (vần “ươu”) không đọc là con “hiêu” (vần iêu), “về hưu” không đọc là “về hiu”, “uống rượu” không đọc là “uống riệu” hoặc cho học sinh phát hiện các tiếng có vần

Trang 8

khó như “tuyết, khuyết, khúc khuỷu, đêm khuya, ngoằn ngoèo ” Giáo viên gọi học sinh đọc lại những từ, tiếng có vần khó rồi giáo viên uốn nắn sửa luôn cho học sinh

2.1.3 Đ c đúng d u thanh ọc mẫu ấu thanh.

Bên cạnh hướng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần như trên tôi còn luyện cho học sinh đọc đúng dấu thanh

Học sinh tiểu học vẫn còn có em chưa phát âm đúng, đọc đúng dấu thanh Các em còn phát âm sai ở dấu thanh như: thanh ngã (~) phát thành thanh sắc (') như tiếng “mỡ” thành “mớ” là sai nghĩa của câu Chính vì thế cần rèn cho các em đọc đúng dấu thanh trong các bài tập đọc như sau:

Giáo viên đưa ra các tiếng mà có dấu thanh hay lẫn Giáo viên gọi một

số học sinh đọc Học sinh khác nhận xét bạn đọc đúng dấu thanh chưa Nếu vẫn còn học sinh đọc chưa đúng thì giáo viên đọc mẫu và phân tích cho học sinh

+ Ví dụ: Khi dạy bài Chị em tôi (tập I)

Trong bài các một số từ, chẳng hạn như: “tặc lưỡi” không đọc là “tặc lưới”, “giận dữ” không đọc là “giận dứ”, “dũng cảm” không đọc là “dúng cảm”

2.2 Rèn t c đ đ c ối tượng nghiên cứu ộ đọc ọc mẫu

Trên cơ sở học sinh đã làm được yêu cầu phát âm đúng, giáo viên sẽ chuyển sang yêu cầu đọc đúng tốc độ, tức là với một khoảng thời gian nhất định cần phải đạt được một dung lượng theo quy định Giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc với tốc độ vừa phải, dễ nghe và phù hợp với nội dung của văn bản Để giúp học sinh đọc đúng tốc độ, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh:

Biết ngồi đọc với tư thế thoải mái cũng như biết giữ khoảng cách trung bình giữa mắt và sách theo đúng quy định chung của việc đọc (khoảng 25 - 30 cm) Trước khi đọc được thành tiếng, học sinh cần đọc thầm tất cả các câu chữ trong bài cần đọc

Việc điều chỉnh tốc độ đọc là cần thiết Với những em đọc quá tốc độ bình thường, giáo viên nên đọc mẫu để các em có thể ước lượng và điều chỉnh tốc độ đọc Cũng có thể cho các em đọc nối tiếp nhau: em có tốc độ đọc nhanh sẽ được đọc tiếp nối với các em có tốc độ trung bình Với những em

7/15

Trang 9

đọc chậm so với tốc độ bình thường, giáo viên cũng có thể đọc mẫu để các em

tự điều chỉnh tăng tốc độ lên hoặc cho các em đọc chậm đọc tiếp nối với những em có tốc độ đọc vừa phải Cách tiến hành như vậy có thể giúp các em

tự điều chỉnh được tốc độ đọc của mình

Tùy từng văn bản, tùy từng bài mà cần có tốc độ đọc cho phù hợp Nhưng giáo viên cần định hướng cách đọc chung, đó là không đọc liến thoắng, đọc nhanh quá Vì đọc như thế sẽ dễ bỏ sót từ hoặc sẽ vấp (đọc ngắc ngứ) khi gặp những tiếng có vần khó đọc

2.3 Rèn kĩ năng đ c di n c m ọc mẫu ễn ảm

Kĩ năng đọc diễn cảm ở các văn bản nghệ thuật được luyện tập sau khi học sinh đã đạt được những yêu cầu tối thiểu về đọc đúng, đọc rõ ràng, mạch lạc; sau khi học sinh đã tìm hiểu và nắm được nội dung, ý nghĩa của bài đọc Muốn đọc diễn cảm một văn bản, phải lựa chọn được giọng điệu, ngữ điệu phù hợp với tình huống miêu tả, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật hay tình cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật và nội dung miêu tả

Để có kĩ năng đọc diễn cảm, giáo viên cần hướng dẫn các em luyện tập

để đạt được các yêu cầu trên theo mức độ từ thấp đến cao; cụ thể là:

2.3.1 Nh n gi ng các t ng quan tr ng trong câu ấu thanh ọc mẫu ừ ngữ quan trọng trong câu ữ quan trọng trong câu ọc mẫu

Các từ cần nhấn giọng đó là các từ ngữ gợi tả, gợi cảm, từ ngữ “chìa khóa” làm nổi bật ý chính Các từ loại như: từ láy, từ tượng hình, tượng thanh thường được sử dụng nhiều, đặc biệt là trong văn miêu tả

Sau khi phát hiện ra giọng đọc của từng đoạn, toàn bài, giáo viên yêu cầu học sinh tự tìm các từ ngữ mà các em cần đọc nhấn giọng và giáo viên nhận xét, bổ sung, học sinh gạch chân các từ ngữ đó

+ Ví dụ: Bài Ông Trạng thả diều (tập I)

Khi đọc đoạn văn ca ngợi tính ham học và chịu khó của Nguyễn Hiền, cần nhấn giọng các từ ngữ:

“Đã học thì cũng phải đèn sách như ai nhưng sách của chú là lưng trâu, nền cát, bút và ngón tay hay mảnh gạch vỡ, còn đèn là vỏ trứng thả đom đóm vào trong”.

Trang 10

2.3.2 Bi t th hi n ng đi u (s thay đ i v t c đ , cao đ , ết thể hiện ngữ điệu (sự thay đổi về tốc độ, cao độ, ể hiện ngữ điệu (sự thay đổi về tốc độ, cao độ, ện đề tài ữ quan trọng trong câu ện đề tài ực tiễn ổi về tốc độ, cao độ, ề tài ối tượng nghiên cứu ộ đọc ộ đọc

c ười gian thực hiện đề tài ng đ , tr ộ đọc ười gian thực hiện đề tài ng đ ) phù h p v i t ng lo i câu (câu h i, câu k , ộ đọc ợng nghiên cứu ớng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần, dấu thanh ừ ngữ quan trọng trong câu ạm vi nghiên cứu ỏi, câu kể, ể hiện ngữ điệu (sự thay đổi về tốc độ, cao độ, câu c m, câu c u khi n…) ảm ần, dấu thanh ết thể hiện ngữ điệu (sự thay đổi về tốc độ, cao độ,

Trong một tác phẩm, để thể hiện nội dung được sinh động, hình ảnh hấp dẫn, chân thật thì tác giả phải sử dụng linh hoạt nhiều kiểu câu Mỗi kiểu câu lại phải được thể hiện ngữ điệu theo một cách khác nhau Nếu cứ đọc đều đều, câu nào cũng giống nhau thì bài văn mất đi cái hay và nét đặc sắc của nó

Vì thế giáo viên giúp học sinh nhận ra cách thể hiện ngữ điệu

+ Ví dụ: đọc bài Người ăn xin ( tập I) có câu:

“Đôi môi tái nhợt, quần áo tả tơi thảm hại…” thì đọc nghỉ hơi dài sau

chỗ có dấu chấm lửng thể hiện sự ngậm ngùi, xót thương

“Chao ôi! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!” thì đọc như một lời than.

“Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.”- đọc như

một lời cảm ơn chân thành, xúc động

Để thực hiện được biện pháp này đòi hỏi giáo viên phải làm thường xuyên đối với văn bản thể hiện các kiểu câu như trên

2.3.3 Bi t đ c phân bi t l i k c a tác gi v i l i c a nhân ết thể hiện ngữ điệu (sự thay đổi về tốc độ, cao độ, ọc mẫu ện đề tài ời gian thực hiện đề tài ể hiện ngữ điệu (sự thay đổi về tốc độ, cao độ, ủa tác giả với lời của nhân ảm ớng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần, dấu thanh ời gian thực hiện đề tài ủa tác giả với lời của nhân

v t: ận

Biện pháp này nhằm giúp học sinh đọc thể hiện sự phân biệt giữa lời kể của tác giả với lời nhân vật trong tác phẩm Đọc giọng lời kể của tác giả chính

là giọng đọc chung của bài Còn tùy từng nhân vật mà thái độ thể hiện qua giọng đọc lại khác nhau

+ Ví dụ: Bài Những hạt thóc giống.

Giáo viên cần định hướng cho học sinh: đọc diễn cảm với giọng chậm rãi

\ Còn lời cậu bé Chôm tâu vua thì ngây thơ, lo lắng: “Tâu Bệ hạ! Con không làm sao cho thóc nảy mầm được”

\ Lời nhà vua:

* Khi thì ôn tồn: “Trước khi phát thóc giống, ta đã cho luộc kĩ rồi Lẽ nào thóc ấy còn mọc được? Những xe thóc đầy ắp kia đâu phải thu được từ thóc giống của ta!”.

9/15

Ngày đăng: 13/04/2021, 08:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w